Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:35:03 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 2  (Đọc 421950 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #270 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2011, 12:17:18 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

Chương II
VIỆC THỤ ĐẮC DANH NGHĨA BAN ĐẦU

Các quy tắc của luật theo thời điểm (droit intertemporel) đã được nhắc lại trong Chương I, dẫn đến việc xác định quan hệ qua lại giữa các thời kỳ lớn của luật pháp quốc tế (và các quy phạm chi phối việc thụ đắc lãnh thổ của mỗi thời kỳ đó) và các sự kiện có liên quan đến các quần đảo này trong thời kỳ đó.

Chúng ta đã nói về cách thức mà một nhà nước cho đến nửa cuối thế kỷ XIX có thể thụ đắc chủ quyền trên một đất không có người ở bằng việc phát hiện ra vùng đất đó có kèm theo việc khẳng định chủ quyền của mình (1).

Đối với thời kỳ này, và dưới ánh sáng của quy phạm này sẽ được phân tích và nói rõ trước tiên (1), cần phải xem xét kiểm tra việc biết các quần đảo này trong giai đoạn đầu tiên đã diễn ra như thế nào, sự hiểu biết này không kéo theo một sự phát hiện có hiệu lực pháp lý (2). Sau đó cần phải nghiên cứu các hành vi chủ quyền thật sự được các quốc gia khác nhau đưa ra, bằng chứng liên quan và tính có trước của bằng chứng này so với bằng chứng khác (3).

Bằng việc so sánh yêu sách của các bên tranh chấp, sẽ có thể nói có hay không việc tạo thành một danh nghĩa ban đầu có lợi cho bên này hoặc bên kia giữa những bên đối kháng, nghĩa là một trong số các quốc gia có “Một danh nghĩa cao hơn danh nghĩa mà các quốc gia khác có thể đưa ra đối chọi với họ”(2).

Trong các phần (2) và (3), việc phân tích sẽ được tiến hành riêng biệt đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
____________________________________________________________________________________
1.   Xem Chương I;
2.   Max Huber, phán quyết vụ đảo Palmas, Tr.164.
....
Phần tiếp theo: 1.   CÁC QUY PHẠM CỦA LUẬT PHÁP QUỐC TẾ VỀ THỤ ĐẮC LÃNH THỔ CHO ĐẾN NỬA CUỐI CỦA THẾ KỶ XIX
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #271 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2011, 04:10:24 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

1.   CÁC QUY PHẠM CỦA LUẬT PHÁP QUỐC TẾ VỀ THỤ ĐẮC LÃNH THỔ CHO ĐẾN NỬA CUỐI CỦA THẾ KỶ XIX

Nội dung các quy tắc xem xét ở đây đã được rút ra từ tập quán quốc tế trong suốt nhiều thế kỷ, nhất là từ thời kỳ phát triển của hàng hải và các phát hiện lớn. Có bổ sung thêm một số kết luận của trọng tài hay công trình lý luận, nhưng cho đến khi diễn ra Hội nghị Berlin (1884), nội dung đó không có gì thay đổi lớn. Ở đây, các quy tắc được nêu lại đều là các quy tắc ngày nay được gọi là chung, xuất phát từ một quan niệm rất Châu Âu về các quan hệ quốc tế. Vì vậy, có nên xem xét đặc trưng phổ cập thật sự của chúng hay không, nghĩa là về các quy tắc hiện hành ở các thời điểm liên quan tại các bộ phận khác trên thế giới.

Trong khuôn khổ luật pháp quốc tế có nguồn gốc phương Tây, nếu đề câp đến vấn đề thụ đắc lãnh thổ, thì đó là nhằm vào hoặc một chủ quyền mới được khẳng định ở nơi chưa có một chủ quyền nào, hoặc một chủ quyền bị sửa đổi do sự thay đổi của người có danh nghĩa chủ quyền. Vụ tranh chấp quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa hiện nay hoặc từ nguồn gốc vẫn thuộc về phạm trù củng cố một chủ quyền mới. Đây chính là vấn đề cần được xem xét ở đây, còn vấn đề khả năng có thể xảy ra một sự thay đổi người có danh nghĩa này sẽ xem xét trong chương sau.

Người ta biết rằng quyền lực nhà nước (có chủ quyền) thường là kết quả của mối quan hệ tay ba giữa một chính phủ, một lãnh thổ và một cộng đồng dân cư. Trong các cuộc chinh phục thuộc địa (không kể trường hợp đặc biệt là chế độ bảo hộ), dân chúng bản địa đã không được đếm xỉa tới và lãnh thổ được biểu đạt một cách giả định là res nullius (vật vô chủ), thủ đoạn đó cho phép các cường quốc phương Tây tự đặt mình trong giả thuyết khẳng định một chủ quyền mới.

Nhưng trong các trường hợp khác, vấn đề cụ thể lại là terra nullius (vùng đất vô chủ) do trên thực tế không có dân chúng định cư (các cuộc lui tới của một số dân hoạt động theo mùa không mang lại tính chất một đất có người ở). Đây là những quy tắc có liên quan đến trường hợp này (hay loại trường hợp như thế này) cần phải được xác định rõ.

Ở đây, nguyên tắc chung hiện nay hay đúng hơn là trước đây, trong thời gian dài đã được nêu ra ở đây là đối với các lãnh thổ không có người ở và cho đến khi đó vẫn còn là lãnh thổ vô chủ, “một yêu sách về chủ quyền được xây dựng không phải dựa trên một chứng thư hay danh nghĩa riêng biệt nào, chẳng hạn như một hiệp ước chuyển nhượng, mà chỉ dựa trên việc thực thi quyền lực liên tục, bao hàm hai thành tố mà sự tồn tại của mỗi thành tố đó phải được chứng minh: ý định và ý chí hành động với tư cách nước có chủ quyền và một vài biểu hiện hay thực hiện thật sự quyền lực đó”(3).

Như vậy, sự tồn tại của hai yếu tố đó phải được chứng minh thì việc thụ đắc chủ quyền mới được chấp nhận theo luật quốc tế. Có những yếu tố cụ thể - vật chất (le corpus). Chúng là không đủ nếu không có một yếu tố thuộc chủ tâm (l’animus), nghĩa là ý chí thể hiện rõ ràng tư cách người chủ.

Thế kỷ XIX đã được đánh dấu bởi những quyết định trọng tài quan trọng, qua đó các trọng tài, hay học thuyết với các bình luận về quyết định này, đã làm cho yêu cầu nói trên trở thành tinh tế hơn. “Việc phát hiện kèm theo một sự khẳng định công khai về chủ quyền chỉ tạo ra một danh nghĩa sơ khởi (inchoate title) có khả năng gạt những người thứ ba ra khỏi vùng lãnh thổ mà ở đó danh nghĩa đã được áp dụng trong một khoảng thời gian cần thiết nhưng không phải là vô hạn để danh nghĩa đó được phát triển bằng việc chiếm hữu, vì khoảng thời gian đó đủ để người có danh nghĩa bổ sung nó bằng việc chiếm hữu thật sự, làm cho danh nghĩa đó không thể bị thay thế. Để hoàn thiện danh nghĩa, làm cho nó thành đầy đủ và chắc chắn, “phải có sự chiếm hữu thật sự kèm theo ý định chiếm lấy lãnh thổ đã được phát hiện, có nghĩa là cần phải đặt vùng đất đó thuộc quyền sử dụng của mình và tiến hành các công việc tạo thành một sự xác lập”(4).

Đó là học thuyết đã được đưa ra vào giữa thế kỷ trước và đã được xác nhận bằng các án lệ trọng tài và thực tiễn ngoại giao (5).

Cũng không thiếu những cách diễn đạt khác về việc phân tích này. Đây là một tóm tắt: “sự phát hiện vào thế kỷ XV được tiếp tục với việc khẳng định công khai chủ quyền trong thế kỷ XVII, đã cung cấp một danh nghĩa sơ khởi mà việc chiếm hữu thật sự hòn đảo, ở thế kỷ XIX, đã làm cho danh nghĩa đó trở nên hoàn thiện”(6).

Như là đã rút ra được hai loại yếu tố xen kẽ: một là yếu tố vật chất: việc phát hiện, sau đó là yếu tố chủ tâm, sự khẳng định công khai cần thiết về chủ quyền; và sau hết là sự tăng cường yếu tố vật chất.
_____________________________________________________________________________________________
3.   Tòa án quốc tế thường trực : Ý kiến tư vấn về Đông Groenland,Tuyển tập, 1933, Tr. 45 (lãnh thổ tranh chấp giữa Đan Mạch và Na uy)
4.   Engère Ortolan: Các phương pháp thụ đắc tài sản quốc tế, Paris, 1851, tr. 49.
5.   Vụ đảo Aves, Phán quyết ngày 30-6-1965 giữa Hà Lan và Venezuela. A.De la Pradelle et N. Politis, Note doctrinale, Rec. des arbitrages internationaux (ghi chép về học thuyết, Tuyển tập các vụ trọng tài quốc tế), T. II, Tr. 417, 418 . Xem thêm Beatrice Orent và Patricia Reinsch: Chủ quyền trên các đảo ở Thái Bình Dương. Tạp chí luật quốc tế Mỹ, 1941, tr. 443 và tiếp theo.
6.   Vụ đảo Pulama – Phán quyết ngày 21-4-1870 giữa Anh và Bồ Đào Nha.
.....
Phần tiếp theo: 1.1 Tính vật chất của các sự việc
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #272 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2011, 06:12:43 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

1.1 Tính vật chất của các sự việc

Như vậy, từ nhũng điều trích dẫn trên, các sự việc cụ thể có hai loại:

1.1.1 Sự hiểu biết đơn thuần về lãnh thổ

Cũng chẳng có gì nói nhiều về sự gặp gỡ đầu tiên giữa con người với mảnh đất chưa được biết đến. Nó đưa tới một loạt huyền thoại về terra incognita (Vùng đất lạ). Sự vật thường thô thiển hơn. Ta sẽ có dịp nói lại là tại sao sự lẫn lộn thường xảy ra (và có khi chỉ vì cần thiết cho một mục đích xấu xa) giữa việc biết một lãnh thổ và việc “phát hiện” lãnh thổ đó .

Một lãnh thổ, nhất là đảo hay quần đảo, có thể trong một thời gian rất lâu đã được các thủy thủ lui tới vùng này biết đến hay các nhà địa lý biết đến vì họ muốn mở rộng việc nghiên cứu tới tất cả khu vực bất kể chủ nhân của vùng đất đó là ai, trong khi đó lãnh thổ này không phải là đối tượng của một sự “phát hiện” nào có những hiệu lực pháp lý. Sự phát hiện có hiệu lực pháp lý này chỉ có thể sinh ra từ những sự việc có một bản chất nào đó xuất phát từ những quyền lực cụ thể.

Nhưng giả sử như điều kiện này vốn thuộc chủ tâm (sẽ được nói ở đoạn sau) được đáp ứng đầy đủ, thì cũng vấn đúng là giai đoạn đầu của sự phát hiện phải được tăng cường sau đó.

1.1.2 Khái niệm về việc chiếm hữu

Ở đây, không nên nhầm lẫn luật pháp của thời kỳ đang xem xét với luật pháp hiện hành từ sau Hội nghị Berlin. Không thể không biết rằng chỉ từ sau năm 1884-1885, đòi hỏi thật sự của việc chiếm cứ mới được đặt ra (điều 35, Định ước Berlin) và đòi hỏi đó không có hiệu lực hồi tố, nếu xem xét hiệu lực hồi tố thì sẽ là một sai lầm về luật. “Vì rằng đòi hỏi cho việc thủ đắc chủ quyền bằng chiếm hữu một sự chiếm hữu thật sự, không gián đoạn và thường xuyên có nghĩa là áp dụng cho các sự kiện từ thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX một nguyên tắc luật chỉ được công bố vào năm 1885 tại Hội nghị Berlin; trong khi các tuyên bố của Hội nghị này không thể có hiệu lực hồi tố” (7).

Tuy nhiên, trước Định ước Berlin, điều đã được yêu cầu và chấp nhận là việc chiếm cứ phải tương ứng một cách cụ thể với những cái không phải là các hành vi tượng trưng: “Chỉ phát hiện không thôi thì không bao giờ tạo được cơ sở đảm bảo cho một yêu sách đối với đất vô chủ (terra nullius)”….

Những lễ nghi tượng trưng thường được bổ sung bằng một số hoạt động thực thi quyền lực hành chính nào đó, chẳng hạn như qua việc cấp giấy phép hay bằng việc cho các công dân tư nhân sinh sống tại đó (8 ).

Còn có cả vấn đề quan hệ pháp lý giữa các quốc gia. Ở thế kỷ XIX, khi đại bộ phận các phần trên trái đất đã thuộc chủ quyền của các quốc gia thành viên của Cộng đồng các quốc gia, các lãnh thổ vô chủ đã trở nên tương đối hiếm, luật pháp quốc tế đề cao một xu hướng đã tồn tại và đặc biệt phát triển từ giữa thế kỷ XVIII và đã định ra nguyên tắc là việc chiếm hữu để có thể có quyền về chủ quyền lãnh thổ thì phải có hiệu lực, nghĩa là có một số bảo đảm cho các quốc gia khác và các công dân của họ(9).

Người ta nhận thấy:

- Một mặt, mức độ thật sự của việc chiếm hữu cần có trong thời kỳ này không có sự chặt chẽ và quy mô mà cơ chế Berlin sẽ đòi hỏi với sự chiếm hữu sau này: “Chủ quyền lãnh thổ đã có thể thụ đắc trong quá khứ với những điều kiện mà ngày nay không còn đầy đủ nữa”(10).

- Mặt khác, đối với mọi thời kỳ đều cần phải làm cho đòi hỏi về tính thật sự (bất kể trình độ pháp lý đã đạt được như thế nào) thích ứng với hoàn cảnh tại chỗ và với địa hình của lãnh thổ. “…Một yêu sách chủ quyền xây dựng trên việc thực thi quyền lực liên tục bao gồm hai thành tố mà sự tồn tại của mỗi thành tố đó phải được chứng minh: ý định và ý chí hành động với tư cách nước có chủ quyền và vài biểu hiện hay việc thực thi thật sự quyền lực đó”. Quả thật, Tòa án thường trực thừa nhận rằng, trong trường hợp các yêu sách chủ quyền trên các lãnh thổ nằm trong các miền thưa dân hoặc không có người ở, không phải lúc nào cũng cần thiết phải đòi “nhiều biểu hiện của việc thực thi các quyền chủ quyền khi không có một sự cạnh tranh nào”(11).
_________________________________________________________________________________________
7.   P.Fauchille:Cuộc xung đột về ranh giới giữa Braxin và Anh. Tạp chí tổng quan về công pháp quốc tế (RGDIP), Paris, 1905, tr.135.
8.   Bétrice Orent và Pauline Reinsch: Chủ quyền trên các đảo trong Thái Bình Dương, American Journal of International Law (Tạp chí luật quốc tế Mỹ), 1941, Tr.443 và tiếp theo.
9.   Max Huber: Phán quyết về vụ đảo Palmas. RGDIP, 1932, tr.172.
10.    Paul Reuter: Công pháp quốc tế, Paris, PUF, 1968, tr.117.
11.   Tòa án pháp lý quốc tế - Tư vấn pháp lý liên quan về vấn đề Sahara, Tuyển tập 1975, tr.42.
........
Phần tiếp theo: 1.2 Yếu tố chủ tâm
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #273 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2011, 07:53:20 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

1.2 Yếu tố chủ tâm

Như vậy, tiếp theo việc phát hiện đơn giản (trong hệ thống luật theo thời điểm nêu ra ở đây) phải là các hành vi chiếm hữu đáp ứng sự bắt buộc phải có sự chiếm hữu thật sự.

Các hành vi này chỉ có thể đưa lại sự thụ đắc các quyền có thể đối kháng với các quốc gia thứ ba, với điều kiện chúng đã được thực hiện với ý định của bên có chủ quyền (animus).

Trên cơ sở đó, các hành động do các tư nhân thực hiện và không có được một sự tiếp sức tức khắc của các nhà chức trách đã bị gạt ra ngoài lập luận này. Cuộc tranh luận về vấn đề này đã có từ lâu. Nó diễn ra giữa các bên trong vụ đảo Aves (Hà Lan chống lại Venezuela). Trọng tài đã kết luận “cho rằng nếu như đúng là các cư dân ở Saint – Eustache (đất thuộc Hà Lan), đến đánh bắt rùa và thu nhặt trứng ở đảo Aves, thì sự việc đó không thể coi là chỗ dựa cho quyền làm chủ ở đây, vì nó chỉ là một sự chiếm đóng hòn đảo nhất thời và hạn chế, vì đây không phải là một đặc quyền mà là hậu quả của việc từ bỏ không đánh bắt của các dân cư vùng lân cận hay của người chủ chính thức của đảo" (12).

Yếu tố chủ tâm nảy sinh từ chính ngay bản chất của một số sự việc hoặc từ tư cách của người làm các sự việc đó. Vấn đề này là trung tâm điểm trong vụ Minquiers và Écréhous giữa Pháp và Anh.

Trong vụ này, chẳng hạn tòa án đã xem xét đến việc các tòa án ở Jersey đã thực hiện tài phán hình sự đối với Écréhous như thế nào, thu các thuế địa phương của Jersey đối với các nhà hay túp lều đã được những người dân Jersey xây dựng trên các đảo écréhous, những dân chài sống và hành nghề ở Écréhous đã đăng ký tàu bè đánh cá ở cảng Jersey, các hợp đồng bán nhà trên các đảo nhỏ của Écréhous đã được chuyển sang Jersey và đăng ký vào sổ trước bạ của đảo này (13). Các sự kiện này đã góp phần chứng minh sự khẳng định về chủ quyền của Anh. Ngược lại, một số sự kiện mà Pháp đưa ra như đặt cọc tiêu xung quanh đá ngầm của nhóm đảo này “đã không thể được coi là chứng cứ đầy đủ về ý định của chính phủ này thực thi với tư cách người có chủ quyền trên các đảo nhỏ này”(14).

Như vậy, điều mà Tòa yêu cầu, đó là các hành vi có bản chất có thể xem chúng như các biểu hiện quyền lực nhà nước riêng biệt trên lãnh thổ liên quan.

Cuối cùng, yếu tố chủ quan “animus”, khác với các sự kiện vật chất, không tự mất đi do thiếu các sự kiện vật chất, đó là một yếu tố quan trọng của chế độ pháp lý có giá trị cho tới cuối thế kỷ XIX. Một lãnh thổ chỉ bị bỏ bởi người chủ của nó (và do đó không thể bị người khác yêu sách) đều thiếu cả hai yếu tố góp phần tạo nên chủ quyền. “Theo luật quốc tế, một lãnh thổ bị bỏ (derelictio) là kết quả của hai yếu tố: trên phương diện vật chất, đó là sự vắng mặt của một sự quản lý thật sự trên lãnh thổ này; và trên phương diện tâm lý, đó là ý định bỏ lãnh thổ đó” (15).

Quy tắc này đã cũ nhưng vẫn còn có hiệu lực. Người ta thấy nó được ghi và sử dụng trong nhiều vụ trọng tài. “Từ các tiền đề này có thể rút ra kết luận rằng đảo Clipperton đã thuộc nước Pháp một cách hợp pháp từ ngày 17-11-1858. Không có một lý do nào để cho rằng Pháp sau đó đã mất quyền của họ do đã bỏ (derelictio), bởi vì họ chưa bao giờ có ý định (animus) từ bỏ đảo và việc họ đã không thực thi chủ quyền của họ ở đây một cách tích cực không bao hàm việc từ bỏ một sự thụ đắc đã hoàn thiện dứt khoát” (16).

Hoặc là: Để chống lại các danh nghĩa thì việc này không thật sự chiếm hữu đảo không chứng minh gì cả, bởi vì để mất chủ quyền, việc bỏ sự hưởng thụ không đủ mà còn cần phải từ bỏ chủ tâm chiếm hữu (animus possidendi) (17).

Tình trạng luật pháp cho đến 1884 là như vậy. Danh nghĩa chủ quyền chỉ có thể sinh ra từ sự kết hợp mật thiết giữa việc phát hiện có chiếm hữu thật sự đi theo ý chí hành động với tư cách người có chủ quyền.

Do đó, hai yếu tố bổ sung cho quy phạm này là: Việc chiếm hữu thật sự phải được đánh giá tùy theo hiện trường; sự gián đoạn các biểu hiện vật chất tự nó không làm gián đoạn chủ quyền nếu như không có một sự từ bỏ chủ quyền rõ ràng nào.

Liệu tổng thể các quy phạm này vào thời kỳ đang xem xét ở đây (đến cuối thế kỷ XIX) có cùng một giá trị ở mọi nơi không? Có lẽ ở Châu Á, khái niệm trừu tượng về lãnh thổ của một quốc gia ít gắn bó với một sự xác định về không gian của các thẩm quyền hợp pháp hơn là với sự trung thành của các thần dân và sự tổ chức xã hội, những yếu tố không thể áp dụng đối với các lãnh thổ không người ở (18). Tính đặc thù này cần được tính đến trong phân tích.
___________________________________________________________________________________________
12.   A de la Pradelle và N.Politis: Tuyển tập các phán quyết trọng tài quốc tế, Paris, Pédone, t. II, 1923, tr.414.
13.   Xem: Tòa án pháp lý quốc tế, Tuyển tập, 1953, tr.65
14.   Sđd, tr.71;
15.   Gérard Cohen-Jonathan: Các đảo Falkland (Manduines), Niên giám luật quốc tế Pháp (AFDI), CNRS, Paris, 1972, tr. 238.
16.   Vụ đảo Clipperton, Phán quyết của vua Victor Emmanuel, Tạp chí khoa học hành chánh, Paris, T.VII, Tr. 1110 và 1111.
17.   Vụ đảo Aves, Hà Lan – Venezuela ngày 30-3-1865, Tuyển tập các phán quyết trọng tài, t.II, tr. 406.
18.   Xem Van Dyke và Bennett: Islands and the delimitation of ocean space in the South China Sea, (Các đảo và việc phân định biển trong biển Nam Trung Hoa) Phát biểu tại Hội nghị Bali (Indonesia) về vấn đề dầu khí ở biển Nam Trung Hoa ngày 13-3- 1989, in roneo tr.11.
.....
Phần tiếp theo: 2. HIỂU BIẾT HAY PHÁT HIỆN
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Năm, 2011, 08:08:33 pm gửi bởi thanhh63 » Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #274 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 06:15:36 am »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

2.   HIỂU BIẾT HAY PHÁT HIỆN

2.1 Tình hình hai quần đảo trước thế kỷ XVIII

Chúng ta sẽ xem xét, trước hết thời kỳ kéo dài đến thế kỷ XVIII và được đặc trưng bởi sự hiểu biết giản đơn các đảo, sau đó là thời kỳ xuất hiện sự khẳng định chủ quyền bắt đầu từ thế kỷ XVIII.

Như dân chài Việt Nam đều luôn hoạt động đánh cá tại đó. Vì các điều kiện khí hậu (nóng như thiêu đốt vào một số mùa và sự hoạt động của bão) đã không có dấu vết của việc chiếm hữu thường xuyên trước khi thiết lập các đồn binh gần đây nhờ có hậu cần quân đội.

Trước hết, việc xem xét tài liệu cho phép nhận xét rằng trong thời kỳ đầu và kéo dài, hai quần đảo không được vẽ riêng rẽ. Trung Quốc cũng như Việt Nam dường như cho rằng các chỉ dẫn thường liên quan đến toàn bộ các đảo.

Tuy nhiên, từ một số tư liệu của Việt Nam có thể phân biệt hai quần đảo khá chính xác. Về điểm này, các tham khảo do Trung Quốc đưa ra không thật chính xác.

Để hiểu được tình trạng lẫn lộn kéo dài này phải xét về mặt lịch sử. Các nhà hàng hải trong khu vực cũng như các nhà hàng hải đầu tiên của phương Tây (Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan) đều nghĩ rằng vùng biển này chỉ có một quần đảo. Người Châu Âu gọi nó là Paracel, người Việt Nam gọi là Hoàng Sa, người Trung Quốc đặt cho nó rất nhiều tên. Thật ra, đặc tính khắc nghiệt của vùng biển từng nổi tiếng nguy hiểm này đã không khuyến khích những cuộc khảo sát ở khu vực này.

Vào thế kỷ XVIII, đoàn thám hiểm Pháp của Kergariou-Locmaria (1787-1788) đã tiến hành một cuộc khảo sát chính xác hơn để phân biệt một quần đảo vẫn giữ tên là Paracels với “một số lớn các đảo chưa từng được ghi trên bất cứ bản đồ nào, dù cũ hay mới” (19). Do vậy, các bản đồ về sau đã chỉ rõ sự tồn tại của một quần đảo rất rộng nằm riêng biệt xa hơn về phía Nam tới 500km và gọi là Spratleys, người Việt Nam gọi là Trường Sa và sau này người Trung Quốc gọi là Nam Sa. Ở đây cũng cần phải nói thêm là trong hàng thế kỷ, dù biển Nam Trung Hoa đã được biết rõ, nhưng biển này nổi tiếng nguy hiểm do có nhiều đảo, bãi cạn và đá ngầm nằm rải rác khắp phần trung tâm khiến những người đi biển lúc nào cũng sử dụng tuyến đường hàng hải chạy dọc bở biển Việt Nam theo hướng đi Singapore hoặc đi vịnh Thái Lan. Kết quả là hiểu biết về Trường Sa kém Hoàng Sa và các quần đảo này đối với các thủy thủ Trung Quốc vẫn là “các cửa của nước Champa” (20).
________________________________________________________________________________________________
19.Đoạn trích từ bức thư ngày 28-4-1788 của chỉ huy tàu Kekgariou- Locmaria (Tầu Calypso). Lưu trữ quốc gia của Hải quân. B.4.278. Phụ lục7.
20.Marwyn, S.Samuels: Tranh chấp biển Nam Trung Hoa, Mathuen, New York, London, 1982, tr. 23-24.
.....
Phần tiếp theo: 2.2 Các tài liệu do người Trung Quốc đưa ra
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #275 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 07:35:44 am »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

2.2 Các tài liệu do người Trung Quốc đưa ra

Lập luận của Trung Quốc được thể hiện trong các tài liệu của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa công bố hoặc trong các ấn phẩm có nguồn gốc từ Chính phủ Trung Quốc như Tập bản tin Trung Quốc học hoặc từ các công trình khác của nhà nghiên cứu Trung Quốc. Có thể tìm thấy ở đây những lời khẳng định khá chung chung kiểu như: “Một số lớn các sách lịch sử và các tài liệu cũng như rất nhiều các di vật khảo cổ khai quật được đều chứng minh rõ rằng các đảo Tây Sa và Nam Sa từ lâu đời đã là lãnh thổ của Trung Quốc” (21).

Trong khi các lời khẳng định là chính xác hơn thì các luận cứ đi theo hướng của một sự hiểu biết mà các nhà hàng hải Trung Quốc dường như đã có được từ lâu đời về sự tồn tại của các quần đảo này lại bị pha trộn vào những lời quả quyết về chủ quyền của Trung Quốc (22).

2.2.1 Nhận biết địa lý

Trong vài tài liệu của Trung Quốc, các đoạn trích từ các sách địa lý được đem ra để làm điểm tựa cho danh nghĩa của Trung Quốc đối với các đảo. Đúng là các đảo này đã được ghi nhận và mô tả trong đó, nhưng đây lại là các tác phẩm mô tả về các nước nằm ngoài Trung Quốc. Do vậy, chúng không có một giá trị chứng thực.

Giống như tất cả các nhà địa lý thu thập các thông tin phổ biến, các nhà địa lý và nhà chép sử Trung Quốc đã quan tâm mô tả về các lãnh thổ nhưng việc mô tả đó không có hiệu lực để đặt chúng dưới chủ quyền của Trung Quốc.  Các tác phẩm đó chỉ được xếp vào số các tài liệu chứng minh sự hiểu biết chung các địa điểm chứ không có ích gì cho lập luật pháp lý:

- Nam Châu dị vật chí (Những vật lạ ở phương Nam) của Vạn Chấn (thời Tam Quốc, 220-265) viết dưới thời triều Hán Vũ Đế. Đó là cuốn sách hướng dẫn hàng hải trong biển Nam Trung Hoa. Chúng ta đọc thấy có đoạn mô tả nước thì nông và có nhiều “từ thạch”. Thuật ngữ thơ mộng này chắc chỉ là các đá và bãi cát, nhưng lại rất không chính xác để có thể dựa vào hình ảnh đó xác minh được quần đảo này và - hay quần đảo khác trong số hai quần đảo ngày nay đang bị tranh chấp. Vả lại chính người Trung Quốc cũng thừa nhận là các đảo này đã có “vô số tên gọi hình tượng và sinh động”. Từ đó có sự hoài nghi của các tác giả không phải là người Trung Quốc về việc cuốn sách đó lại có liên quan tới Paracels hay Spratley (23).

- Phù Nam truyện của Khang Thái viết cùng thời kỳ ghi trên nhận ra rằng người ta gặp trong Trướng Hải các đảo san hô, với nền là đá tảng, san hô mọc trên đó. Trong tạp chí Window số 9-1993 phát hành tại Hồng Kông có đăng một bài nghiên cứu của Phan Thạch Anh, chuyên gia của Hội Nghiên cứu quốc tế và chiến lược Bắc Kinh, có trích dẫn tài liệu rất chung chung này của Khang Thái có niên đại từ những thế kỷ đầu sau công nguyên. Tác giả cho rằng đấy là mô tả các đảo Spratlys, thế nhưng đoạn trích không đưa ra được một mức độ chính xác đủ để khẳng định việc xác minh này.
_______________________________________________________________________________________
21.   Bản tin Trung Quốc học, năm 1988, số 7, ngày 20-4-1988.
22.   Bản tin Trung Quốc học, năm 1988, số 8, đã đăng lại tài liệu của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày 30-1-1980 có tên: “Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc đối với các đảo Tây Sa và Nam Sa”.
23.   Xem Marwyn S.Samuels: Tranh chấp biển Nam Trung Hoa, Mathuen, New York, London, 1982, trang 10.
.....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #276 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 08:30:03 am »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

- Dị vật chí của Dương Phù (đời Đông Hán, 25-220 sau CN) nói về những “điều lạ” của các xứ nước ngoài.

- Lĩnh ngoại đại pháp của Chu Khứ Phi (đời Tống, 1178), Chư phiên chí (ghi chú về nước ngoài) của Triệu Nhữ Quát (đời Tống.1225). Đảo di chí lược (mô tả chung các đảo) của Vương Đại Uyên (đời Nguyên, 1349), Đông Tây dương khảo (ghi chép về các biển Đông và biển Tây) của Trương Nhiếp (1618). Vũ bị chí (về bảy chuyến đi của Trịnh Hòa), 1405-1433 trong các biển Nam và Ấn Độ Dương) của Mao Nguyên Nghi (1628), Hải ngoại quốc vãn kiến lục (các điều tai nghe mắt thấy về các nước hải ngoại) (viết dưới đời Thanh). Hải lục (ghi chép về các chuyến đi biển) của Vương Bình Nam cùng thời kỳ (1820), Hải quốc đồ chí (ghi chép về các nước ngoài và về hàng hải) của Ngụy Nguyên (1848) và Doanh hoàn chí lược (Tổng quan địa lý hoàn cầu) của Bành Ôn Chương (1848) tạo thành một tập hợp các tác phẩm liên quân đến các chuyến đi, các chuyến khảo địa lý, sách hàng hải liên quan tới các nước bên ngoài Trung Quốc. Một số là tác phẩm của chính những người đi biển hoặc các đại sứ Trung Quốc ở nước ngoài viết. Số khác như Đông Tây dương khảo kể lại những điều “văn kiến” (nghe và thấy), tác giả đã giải thích rằng ông đã áp dụng phương pháp hỏi những người từ phương xa trở về, thủy thủ hoặc các nhà thám hiểm, đôi khi chỉ gặp họ trên các bến cảng.

Phần lớn các sách ghi chép trên đều nói tới các đảo với rất nhiều tên gọi khác nhau, làm cho mọi xác minh không được chắc chắn. Đôi khi, cũng có một số chỉ dẫn về khoảng cách tính từ bờ biển. Chúng không phải lúc nào cũng được xác nhận đó đúng là các đảo Paracels, còn ít hơn nữa đối với các đảo Spratleys ở cách xa bờ biển Trung Quốc hơn rất nhiều.

Ví dụ, trong Đông Tây dương khảo nêu trên, có nói đến các đảo nằm cách huyện Văn Xương 100 dặm (50km), điều này không thể phù hợp về mặt địa lý với Paracels nằm cách đảo Hải Nam về phía Đông Nam tới 200km.

Tên của các đảo rất khác nhau tùy theo sự tưởng tượng. Cửu Nhũ Loa Châu, Vạn Lý Thạch Đường, Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường, Thất Châu Dương, Thất Châu Sơn. Thật khó có thể chấp nhận với các tác giả Trung Quốc khi họ khăng khăng cho rằng đó chính là Paracels hoặc có lẽ là Spratleys (đôi khi chính họ lại là cho rằng địa danh Vạn Lý Thạch Đường chỉ bốn quần đảo, có nghĩa là chỉ tất cả các đảo trong biển Nam Trung Hoa) hoặc khi họ rút ra từ đó kết luận về một danh nghĩa của Trung Quốc trong khi các tài liệu trên như cuốn Hải ngữ của Hoàng Trung, đời Minh (1536) lại ghi đó là các bãi cát nổi của các nước Man Di phía Tây-Nam, như vậy là nhấn mạnh tới tính chất ngoại quốc của các lãnh thổ này đối với Trung Quốc. Đôi khi, khẳng định theo đó có lẽ tài liệu đã nói về Spratleys lại không khỏi làm sửng sốt, khi đoạn văn này lại được minh họa thêm bởi chú thích đề cập tới Paracels và xác minh rõ chúng nằm ở vĩ độ 17°10’ Bắc. Đây đúng là một sự lẫn lộn nghiêm trọng (24), điều này tránh khỏi mọi sự mập mờ với Spratleys, nhưng chính nó đã đánh tan luận cứ này.
___________________________________________________________________________________________
24.   Chu Kiện: Các biên giới của Trung Quốc, Luận án Tiến sĩ trường Đại học Paris X, 1991, tr.330. Tác giả khẳng định “Năm 1873, Quách Tông Đào, đại sứ đầu tiên của Trung Quốc được cử sang Tây phương, trong các nhật ký hành trình của ông đã nhắc đến các đảo Nam Sa (Spratleys) thuộc về Trung Quốc”. Theo ghi chú số 18 thì đoạn trích trên nói về Paracels và có chỉ rõ vĩ độ của nó, điều này tránh khỏi mọi sự mập mờ với Spratleys, nhưng chính nó đã đánh tan luận cứ này.
.....
Phần tiếp theo: 2.2.2 Sự không chắc chắn về các ý muốn của Trung Quốc
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #277 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 09:31:08 am »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

2.2.2 Sự không chắc chắn về các ý muốn của Trung Quốc

Có một số tài liệu Trung Quốc hoặc các công trình của một số tác giả về vấn đề này đã đề cập tới một số tư liệu chính xác hơn (25).

Có những ví dụ mà người Trung Quốc đưa ra nhằm chứng minh cho một hành vi chủ quyền là việc họ khẳng định dưới thời Bắc Tống (thế kỷ X-XII), đã có các cuộc tuần tra quân sự được tổ chức xuất phát từ Quảng Đông đi tới tận Paracels. Vũ Kinh Tổng Yếu (Chương trình chung về quân sự có lời đề tựa của vua Tống Nhân Tông) có nói đến việc đi tuần tới các đảo đó. Nhưng đoạn trích được sử dụng kém chứng giải một khi nó được đặt trong bối cảnh của nó, vì hình như đó không phải là các cuộc tuần tra các vùng đất có thể là của Trung Quốc mà chỉ là một cuộc hành trình dò địa lý cho tới tận Ấn Độ Dương.

Như vậy, ở đây xác nhận Trung Quốc có biết đến quần đảo Paracels, nhưng không minh chứng một sự chiếm hữu nào.

Cũng như vậy, vào thế kỷ XIII, việc một Hoàng đế nhà Nguyên say mê thiên văn, đã ra lệnh cho một nhà thiên văn học nổi tiếng là Quách Từ Kính đo đạc thiên văn mà một số quan điểm quan trắc đã được thực hiện từ Paracels, cũng không phải là một việc làm có giá trị chứng minh. Các quan trắc đã được tiến hành một phần trên lãnh thổ Trung Quốc và phần khác ngoài lãnh thổ đó, việc một số quan trắc được thực hiện trên các đảo không đủ để cung cấp một bằng chứng về chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc đối với các đảo này.

Để chứng minh, các tác giả Trung Quốc còn dựa trên một sự kiện khác từ thế kỷ XIII (1293) và được ghi trong Nguyên sử, theo đó một cuộc viễn chinh do Sử Bật dẫn đầu đi đánh Gia Va. Đội quân khoảng 5000 người đi thuyền vượt biển nhằm phía Nam và đã đến đóng trại trên một số đảo. Nhưng tài liệu này không cho phép xác minh rõ đường đi, cũng như các đảo đã gặp. Hơn nữa, tài liệu không thật xác đáng về việc làm chủ các vùng lãnh thổ này vì nó không đưa ra được bằng chứng. Vả lại, các nhà bình luận vẫn còn tự hỏi liệu các đảo được nói đến này có phải là bãi ngầm Macclesfield (Trung Sa) không? (26).

Sự do dự về điểm này được biện minh rõ hơn khi chúng ta đặt nó vào bối cảnh lịch sử hàng hải của khu vực này của thế giới. Các hải trình được ưu tiên lựa chọn là các tuyến đường ven biển cho phép ghé nghỉ, buôn bán và giao tiếp, vì trong khoảng thời gian dài trước đây giao thông hàng hải chưa đủ đảm bảo an toàn để tránh các vụ đắm tàu trong các vùng bãi cạn nửa nổi nửa chìm nguy hiểm như trong các vùng biển của quần đảo này. Người Trung Quốc còn sử dụng một số các báo cáo khảo cổ để bảo vệ rằng có lẽ trên đảo Hoàng Sa đã từng có một ngôi miếu mà ngày nay đã bị phá hủy, vì thế họ không trực tiếp nhìn thấy nhưng nó đã có thể là một di tích của Trung Quốc. Không thể có một kiểm chứng khoa học nào về khẳng định này.
_________________________________________________________________________________________
25.    Xem Tao Cheng: The dispute over the South China sea Island (Tranh chấp các đảo ở Nam Trung Hoa), Texas International Law Journal, 1975, tr.232.
26.   Đây là quan điểm của Greennevelt, người dịch Sử Bật truyện, theo ông, từ Thất Châu (vùng biển có bảy đảo) là chỉ Paracels và Vạn Lý Thạch Đường để chỉ các bãi Macclesfield (Trung Sa). Nhưng Pierre Yves Manguin trong một cuốn sách do Viện Viễn Đông Bác Cổ xuất bản (Những người Bồ Đào Nha trên bờ biển Việt Nam và Champa, Paris, 1972) đã không chia sẽ với quan điểm của Greennevelt và nghĩ rằng Thất Châu chỉ là Taya và Vạn Lý Thạch Đường chỉ Paracels. Về sự không xác định được các đảo được nhắc đến trong các chuyện kể này thuộc giai đoạn từ thế kỷ XIII, xem M.S.Samuels: Tranh chấp biển nam Trung Hoa, tr.18 và 19 và ông kết luận: “Mặc dù, sự tiếp xúc với biển tăng đáng kể trong thế kỷ 14, và mặc dù hải quân nhà Nguyên có sức mạnh, các đảo trong biển Nam Trung Hoa rõ ràng không được nhập vào Thiên triều hoặc các nước chư hầu”, tr.20.
....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #278 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 10:54:56 am »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

Cuối cùng, các tư liệu Trung Quốc nói đến một cuộc tuần biển muộn hơn bởi vì nó diễn ra trong khoảng các năm 1710 và 1712 dưới triều Thanh, Ngô Thăng, Phó tướng thủy quân Quảng Đông đã chỉ huy chuyến đi tuần biển và hành trình này được nếu với một lời bình luận theo đó Thất Châu Dương (vùng biển bảy đảo) là nơi cuộc tuần biển đi qua tương ứng với các vùng biển Paracels. Tuy nhiên, nếu thử dõi theo hành trình này trên bản đồ, chúng ta không thể không nhận xét rằng đó là một con đường đi vòng quanh đảo Hải Nam chứ không phải là hành trình tới các biển xa. Đoạn văn nêu: “Từ Quỳnh Nhai, qua Đồng Cổ, Thất Châu Dương, Tứ Canh Sa, vòng quanh ba ngàn dặm”. Quỳnh Châu là thủ phủ của Bắc đảo Hải Nam, Đồng Cổ là một núi ở mũi Đông Bắc, Thất Châu Dương chỉ nhóm đảo Thất Châu và Tứ Canh Sa là một bãi cát ở phía Tây đảo Hải Nam.

Ở đây không có gì đi theo hướng nói rằng đã có một sự kiểm soát các quần đảo. Nó thiếu các dấu hiệu mà luật quốc tế thời đó đòi hỏi. Từ thế kỷ XVI và XVII đã có sự phân biệt giữa phát hiện thám sát (discover) và phát hiện chiếm hữu (to find), và năm 1523 (18-12) vua Charles V đã sử dụng phân biện này trong các chỉ thị mà ông đưa ra cho Đại sứ Juan de Zunigo, nhắc nhở ông này rằng một lãnh thổ mà các tàu thuyền của Quốc vương Bồ Đào Nha gặp trên đường đi của họ thì không thể được coi là đã mang lại cho họ một danh nghĩa trên lãnh thổ đó vì nó thiếu một hành vi chiếm hữu  (27).

Các tham vọng của Trung Quốc còn mâu thuẫn bởi chính các nguồn tư liệu khác của Trung Quốc. Thật vậy, có nhiều tài liệu địa lý cổ mô tả và phân định rõ lãnh thổ của đế chế Trung Hoa. Khá trùng hợp nhau, các mô tả này đều định rõ lãnh thổ Trung Hoa có điểm tận cùng ở phía Nam là đảo Hải Nam.

Theo hướng này, trong số các cuốn sách ở thế kỷ XII, rồi thế kỷ XVII và XVIII, trong đó các cuốn địa chí phủ Quỳnh Châu cũng như cuốn địa chí tỉnh Quảng Đông năm 1731, cuốn sách dâng nộp vua Thanh năm thứ 9 đời Văn Chính (1731). Bản đồ tình Quảng Đông không nói gì đến hai quần đảo.

Như vậy, qua việc xem xét kỹ lưỡng các tư liệu do người Trung Quốc nếu ra thì thấy rằng các tài liệu tham khảo này chứng minh sự hiểu biết từ lâu về sự hiện diện của nhiều đảo nhỏ nằm rải rác đó đây trong biển Nam Trung Hoa. Nhưng, chúng không cho phép đi xa hơn và không đủ làm cơ sở pháp lý để bảo vệ cho lập luận rằng Trung Quốc có lẽ là nước đầu tiên phát hiện, khai phá, khai thác và quản hạt hai quần đảo này (28).

Câu chuyện cũ năm 1754, các thủy thủ Việt Nam bị đắm thuyền gần quần đảo Hoàng Sa và trôi dạt tới bờ biển Trung Quốc, sau khi nhà chức trách Trung Quốc điều tra và đưa họ về quê hương mà không có sự phản kháng nào của Trung Quốc, dẫn tới ý nghĩ rằng lập luận này không có cơ sở (29).
_____________________________________________________________________________________
27.   Friedrich. A.F. Von Der Heydte: Phát hiện, sáp nhập tượng trưng và nguyên tắc thật sự trong luật pháp quốc tế, Tạp chí Luật quốc tế Mỹ, 1935, tr.449 và tiếp theo.
28.   Bản tin Trung Quốc học, năm 1988, số 8, tr.5.
29.   Lê Quý Đôn, Phủ Biên tạp lục, q.2.
.....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #279 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 08:29:08 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

Đúng là do những nguyên nhân liên quan tới việc bành trướng thương mại của mình, Trung Quốc đã tiến hành, qua các triều đại của Trung Quốc cho đến thế kỷ XV, một chính sách biển tương đối tích cực. Vì thế các sách Trung Quốc có thể đã nói tới các đảo cho dù chúng không đưa ra được các luận cứ có tính chất thuyết phục cho lời khẳng định một danh nghĩa chủ quyền của Trung Quốc.

Ngược lại, từ thế kỷ XV… “sự hiện diện của Trung Quốc và việc kiểm soát các tuyến đường hàng hải trên biển Nam Trung Hoa đã rơi vào ký ức”. Do vậy, có lý do để ngạc nhiên khi có rất nhiều tác giả từng viết về đề tài này trong các ấn phẩm khác nhau thường kết luận về tính vững vàng của danh nghĩa lịch sử từ rất lâu đời của Trung Quốc. Nhưng cũng có nhận xét rằng “phần lớn các nghiên cứu đều được tiến hành bởi các Hoa kiều hải ngoại, những người không nhất thiết thoát khỏi sự thiên vị khi lựa chọn các thông tin để xem xét; các luận cứ của Chính phủ Nam Việt Nam thường hay bị gạt bỏ mà không được xem xét thật kỹ càng” (30).

Một số tài liệu nghiên cứu tinh tế hơn đã đưa ra ý tưởng cho rằng qua các giai đoạn lịch sử này, Trung Quốc có lẽ mới chỉ đạt được một inchoate title (danh nghĩa sơ khởi) nghĩa là một danh nghĩa đang hình thành. Trong luật quốc tế, khái niệm này được chấp nhận. Còn phải dựa trên các cơ sở thực tế đầy đủ.

Vào thế kỷ XIX, khi Mehico yêu sách chống lại đòi hỏi của Pháp rằng đảo Clipperton đã thuộc họ từ trước khi Pháp thể hiện các quyền ở đó, trọng tài được chọn để giải quyết vụ án đã không tìm ra quyền nào có thể đã được hình thành trên đảo này bởi các nhà hàng hải Tây Ban Nha:“Nói rằng họ đã biết đến các đảo này trước khi nhật ký hàng hải của các tàu Pháp La Princesse và La Découverte năm 1711 xác định và mô tả hòn đảo, là một sự phỏng đoán ít nhiều có thể có, nhưng từ đó không thể rút ra bất kỳ luận cứ nào có tính quyết định”. Và trọng tài nói tiếp: “bằng chứng về một quyền lịch sử của Mehico không dựa vào bất kỳ một biểu hiện chủ quyền nào của họ đối với đảo này" (31) .

Đó là kết luận cho phép gạt bỏ những lời khẳng định rườm rà trong nhiều sách hay bài viết khi xem xét các yếu tố được đưa ra để ủng hộ một danh nghĩa lâu đời có lợi cho Trung Quốc.

Liệu trong giai đoạn đầu này (đang được xem xét cho tới thế kỷ XVIII) còn có những biểu hiện có thể có nào của các dân tộc khác quan tâm đến các quần đảo này hay không?
____________________________________________________________________________________________________

30.   Lỗ Chí Kiên: Lập trường của Trung Quốc về các lãnh thổ tranh chấp, trường hợp các đảo ở biển Nam Trung Hoa, London, Rontledge, 1989, tr.14.
31.   Quyết định Trọng tài về đảo Clipperton, Tuyển tập các quyết định trọng tài, t.VII, tr.1109.
....
Phần tiếp theo: 2.3 Các tài liệu do người Việt Nam đưa ra
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM