Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:57:55 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 2  (Đọc 421931 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
luuhuuphuoc
Thành viên
*
Bài viết: 89



« Trả lời #290 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2011, 01:41:27 pm »


Bản đồ 1

....
( còn tiếp )


Sao trong cái bản đồ này, phân định vùng cửa vịnh Bắc bộ của ta lại méo mó vậy nhỉ. Theo tôi biết thì đường phân định nằm giữa chứ như trong hình lại có vẻ như chia phần lớn hơn về phía Trung quốc. Không hiểu tác giả có ý đồ gì khi đưa ra cái hình này ko nhỉ?HuhHuh
[/quote]
Bản đồ này thể hiện vùng chồng lấn lảnh hải của các quốc gia có tranh chấp trên Biển Đông.

Trong đó Trung Quốc với bản đồ 9 điểm thể hiện rõ bản chất tham vọng và bành trướng trên vùng biển Đông.

Logged

Thà chết đứng còn hơn sống quỳ - Độc lập hay là chết
luuhuuphuoc
Thành viên
*
Bài viết: 89



« Trả lời #291 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2011, 01:51:54 pm »

Nhưng chúng ta luôn chắc tay súng...

...vững niềm tin...

thì không 1 kẻ thù nào có thể cướp 1 tấc đất nào của cha ông ta cả.
Logged

Thà chết đứng còn hơn sống quỳ - Độc lập hay là chết
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #292 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2011, 03:07:07 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

3.2 Các quốc gia khác trong khu vực

Các quốc gia khác đã có hay không (cũng trong thời kỳ đó) biểu lộ ý định thực thi chủ quyền?

Câu trả lời về vấn đề này sẽ nhanh chóng được đưa ra. Lúc đó, không có một quốc gia nào khác trong vùng đã đưa ra yêu sách. Ngày nay, không một quốc gia nào lại có ý đồ dựng lên những yêu sách dựa vào các hành vi xảy ra trong thế kỷ XIX, hay là trước đó.

Cần ghi nhận rằng năm 1898, Hiệp ước Paris giữa Tây Ban Nha và Mỹ nhằm chấm dứt chiến tranh giữa hai nước đã chuyển giao Philippin sang sự quản lý của Mỹ. Khi đó, các đảo ở Trường Sa đã không được nhắc tới một lời nào.

KẾT LUẬN CỦA CHƯƠNG NÀY LÀ:

- Khi có Hiệp ước của Pháp năm 1884, Việt Nam đã nắm giữ, không có cạnh tranh và trong khoảng gần hai thế kỷ, một quyền đối với các quần đảo, theo đúng chế độ luật pháp của thời kỳ đó.

- Quyền này được thực thi không có nghi ngờ gì đối với các đảo Hoàng Sa. Chỉ còn phải xác minh xem có đúng quyền đó đã được thi hành trên toàn bộ quần đảo hay không. Có những lý do để người ta nghĩ rằng sự quản lý của Việt Nam đã mở rộng cả tới các đảo Trường Sa. Nhưng không có gì nêu chính xác việc quản lý lúc ấy đã liên quan đến toàn bộ một quần đảo trải rộng tới 160.000km², hay là ít ra, đến một số đảo quan trọng và có liên quan đến các đảo khá quan trọng để đưa đến, nói rộng ra, để có quyền đối với toàn bộ quần đảo. Trong trường hợp này, đã có một “inchoate title” (danh nghĩa sơ khởi) nghĩa là một quyền mới hình thành mà các người chủ sau đó phải củng cố.

Về điểm này của sự phân tích và với những bảo lưu đã được nêu ra, người ta có thể nhắc lại những lời lẽ của Max Huber và nói rằng không có một sự biểu hiện nào đó về việc Trung Quốc hay một quốc gia khác thực thi quyền làm chủ đối với các đảo, một biểu hiện có tính chất có thể cân bằng hay làm mất đi các biểu hiện về chủ quyền của Việt Nam.

Đến đây đặt ra vấn đề củng cố danh nghĩa và nhất là việc duy trì danh nghĩa này liên quan tới xu hướng tiến triển của luật pháp quốc tế.

____________________________________________________________________________________

.....

Phần tiếp theo: Chương III: SỰ TIẾN TRIỂN TIẾP THEO CỦA DANH NGHĨA
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #293 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2011, 06:13:04 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

CHƯƠNG III
SỰ TIẾN TRIỂN TIẾP THEO
CỦA DANH NGHĨA

Thời điểm năm 1884 có tầm quan trọng đối với số phận các quần đảo này. Thời điểm này trùng hợp giữa việc mở ra thời kỳ đô hộ của Pháp ở Việt Nam và việc xác lập (sau Hội nghị Berlin) các quy tắc mới của luật quốc tế. Mới đầu chỉ có giá trị trong khuôn khổ nhất định của các cường quốc có mặt ở Berlin và chỉ liên quan đến các lãnh thổ thuộc Châu Ph i- là đối tượng của Hội nghị, do tác động của tập quán và bằng việc áp dụng trong xét xử, các quy tắc đó đã được mở rộng và cuối cùng đã có một tính chất phổ quát. Về sau nó được nối tiếp bằng những thay đổi cơ bản khác trong luật.

Nhưng thời kỳ mở ra như vậy tạo ra một mớ những việc cực kỳ phức tạp cả về phương diện tình hình chung trong cả hai nước liên quan chủ yếu (Việt Nam và Trung Quốc) và về việc quản lý và việc chiếm cứ hai quần đảo. Trong tình hình đó, liệu quyền về chủ quyền đối với các quần đảo được hình thành từ thế kỷ XIX có lợi cho Việt Nam có được củng cố và duy trì không, hay có thể đã mất đi do từ bỏ các lãnh thổ đó, hay do có một chủ quyền khác và trong những điều kiện nào?

Trước hết, cần bám sát xu thế tiến triển của luật pháp quốc tế từ năm 1884 (Đoạn I). Sau đó, tình hình trên các quần đảo sẽ được nghiên cứu căn cứ vào hai giai đoạn lịch sử chính: giai đoạn nhà nước thực dân Pháp thi hành quyền lực quốc tế đối với Việt nam cho đến các năm 1954 và 1956 (Đoạn II), rồi đến những năm nhân dân Việt Nam tái xuất hiện để phát biểu cho chính mình, nhưng với nhiều rắc rối và mâu thuẫn trong lịch sử đất nước Việt Nam kể từ sau cuộc chiến tranh thuộc địa (Đoạn III). Đoạn mở đầu của chương này sẽ phân tích một yếu tố, qua đó gạt bỏ một luận chứng thông qua việc xem xét Hiệp ước Pháp -Trung ngày 26-6-1887, một Hiệp ước không có hiệu lực đối với chủ quyền trên các quần đảo.

1.   HIỆP ƯỚC PHÁP-TRUNG ngày 26-6-1887

Về mặt thụ đắc chủ quyền, các danh nghĩa theo điều ước chiếm một vị trí quan trọng, mặc dầu không phải bắt buộc và có tính quyết định cho mọi trường hợp.

Đúng là các quan hệ giữa các nhà nước sẽ vững chắc hơn nếu chúng được dựa trên một văn bản mà mỗi từ ngữ đều có giá trị và các nước liên quan đều bị ràng buộc trên văn bản đó vì họ đã ký và phê chuẩn.

Các nước đã giành được những lãnh thổ thoạt đầu vô thừa nhận nhờ đã phát hiện, tiếp đó lại quản lý thực sự với ý đồ thực thi chủ quyền, như vậy theo truyền thống, đã tìm cách củng cố vững chắc các quyền của họ bằng cách làm cho các nước thứ ba, là những nước có thể tranh chấp, thừa nhận các quyền này bằng các hiệp ước thành văn.

Tuy nhiên, và bất chấp tính bền vững của các quyền đã được các điều ước thừa nhận, có nghĩa là tính bền vững xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng lời đã hứa (Pacta sunt servanda), điều ước chỉ có thể là bằng chứng và là sự đi kèm một việc quản lý thực sự. Điều ước tự nó không thể mang lại việc quy thuộc chủ quyền cho một quốc gia mà danh nghĩa không hoạt động của nó mâu thuẫn với một việc quản lý thực sự do một nhà nước khác tiến hành trên thực tế.

Đó là toàn bộ ý nghĩa của phán quyết ngày 4-4-1928 của trọng tài Max Huber đưa ra trong vụ đảo Palmas. Nhất là trong đó có những lời lẽ sau: “Vả lại dù nước đó (Tây Ban Nha) có thụ đắc một danh nghĩa mà nó không bao giờ có ý định từ bỏ, vẫn cần phải xem việc thi hành hòa bình và liên tục chủ quyền do một nước nào đó tiến hành vào một thời kỳ sau đó đã có thể bác bỏ các quyền cho dù là quyền theo điều ước hay không” (1).
___________________________________________________________________________________
1.    Max Huber: Phán quyết về đảo Palmas, ngày 4-4-1928, tr.176-177.
.....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #294 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2011, 09:25:27 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

Như vậy, điều cần tiến hành ở đây chính là nghiên cứu đồng thời về thực tế quản lý trên các đảo và về ý định thực thi việc quản lý đó với tư cách người có chủ quyền.

Đương nhiên, cũng không phải là vô ích nếu phát hiện quả đã có một sự cam kết bằng điều ước về các lãnh thổ đó.

Đối với các quần đảo ở biển Nam Trung Hoa, đã không có một điều nào như vậy được bên này hay bên kia nêu ra trong thời kỳ đã được xem xét ở chương trước. Ngược lại, vào thời kỳ thuộc địa, khi Pháp thể hiện mối quan tâm đối với các quần đảo Hoàng Sa, và khi Chính phủ Pháp tranh tụng với Trung Quốc mưu tính xây dựng yêu sách của họ trên cơ sở các luận cứ khác nhau. Một công hàm của phái đoàn ngoại giao Trung Hoa Dân Quốc gửi cho Chính phủ Pháp ngày 29-9-1932 đã dựa trên Công ước Pháp-Trung ngày 26-6-1887 về việc phân định biên giới giữa Trung Quốc và lãnh thổ Việt Nam khi đó thuộc quyền kiểm soát của Pháp (2). Chính phủ Trung Quốc vẫn khăng khăng bảo vệ quan điểm này cho tới tận ngày nay. Đó là trường hợp một ấn phẩm Trung Quốc in năm 1956 có nêu: “ở Quảng Đông, đã đồng ý là các điểm tranh chấp nằm ở phía Đông và Đông Bắc Móng Cái, phía bên kia đường biên giới như đã được ủy ban hoạch định ấn định, được quy thuộc cho Trung Quốc. Những hòn đảo nằm về phía Đông của kinh tuyến Paris 105°43’ Đông (3), nghĩa là đường thẳng Bắc-Nam đi qua mũi phía Đông của đảo Trà Cổ hay Ouanchan và tạo thành biên giới cũng thuộc về Trung Quốc. Các đảo Cô Tô và các đảo khác ở phía Tây kinh tuyến này thuộc về An Nam”.

Một tác giả Trung Quốc, Shao Xunzheng, đã viết dựa vào lời văn của công ước này để bảo vệ ý kiến, trong một bài trên Nhân dân Nhật báo Bắc Kinh số ra ngày 3-7- 1956, cho rằng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm về phía Đông đường phân định đó nên thuộc về Trung Quốc như chính lời văn của công ước đó thể hiện. Như vậy, phải chăng thực dân Pháp, ba năm sau khi mở rộng sự bảo hộ của mình đối với toàn bộ Việt Nam, đã từ bỏ hai quần đảo bằng một cách diễn đạt không nêu cả tên hai quần đáo đó không…Và ta lại thấy luận chứng này dưới ngòi bút của nhiều tác giả phương Tây viết tiếng Pháp hay tiếng Anh. (4)

Tuy vậy, có lý do để nghĩ rằng quan điểm đó là không xác đáng. Thực vậy, Công ước Viên ngày 29-6-1969 về pháp điển hóa các quy tắc giải thích các hiệp ước đã nhấn mạnh tới vai trò của tính trung thực (bonne foi) trong việc giải thích, và sự cần thiết phải giải thích văn bản theo nghĩa thông thường của từ ngữ dưới ánh sáng của đối tượng và mục tiêu của hiệp ước (điều 31). Cũng Công ước đó (điều 32) cho phép viện đến các công việc trù bị và các hoàn cảnh ký kết hiệp ước trong trường hợp xảy ra cách giải thích ban đầu còn có những nghi vấn hay dẫn đến những kết quả vô lý.

Đối tượng và mục tiêu của Công ước 1887 là hoạch định đường biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc (đó chính là tiêu đề của Công ước như các tác giả của nó đã đặt ra). Công ước này có liên quan đến các lãnh thổ đất liền. Nếu có những dấu hiệu là có một con đường vạch trên biển đã từng được đưa ra trong các công ước cổ như Công ước Pháp-Trung năm 1887 hay trong các công ước khác như Hiệp ước Pháp và Bồ Đào Nha năm 1886 (5), chúng chỉ có thể được sử dụng trong các cuộc đàm phán đương đại về phân định biển như các yếu tố chỉ dẫn cho việc xem xét lại căn cứ vào luật hiện nay về phân định biển (6). Lãnh thổ trên biển duy nhất mà các nước trước đây đòi quyền là lãnh hải. Khoảng cách thông thường của nó là ba hải lý (mỗi hải lý bằng 1,8 km). Đối với một số nước, chiều rộng kéo ra tới sáu hải lý. Khi đó không có vùng tiếp giáp, vùng đánh cá, cũng chẳng có thềm lục địa, vì tất cả những thể chế này là những sáng tạo sau chiến tranh thế giới lần thứ II.

Đường biên giới cần phân định khi đó là đường biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc. Đó là bộ phận của nước Việt Nam hiện nay mà trước đây nước Pháp gọi là Tonkin mà thôi.
_______________________________________________________________________________________
2.    Xem Công hàm này tại Phụ lục số 10.
3.   Tức kinh tuyến 108°03’13” Đông Greenwich
4.   Xem Jeannette Greensfield: Thực tiễn của Trung Quốc về luật biển, tr.155.
5.   Về vấn đề này, chúng ta có thể nhắc tới vụ khá tương tự đã xảy ra giữa Cộng hòa Guinee-Bissau (phán quyết trọng tài, ngày 14-2-1985). Hiệp ước ngày 12-5-1886 có liên quan đến vụ việc này. Hiệp ước đã vạch một chu vi trên biển để tách các đảo thuộc nước Pháp và các đảo thuộc Bồ Đào Nha. Nước Cộng Hòa Guinee cho rằng đường vạch đó có giá trị như một đường biên giới trên biển. Tòa án đã không đồng ý và cho rằng (đoạn 56 của phán quyết) đối tượng của Công ước 1886 chỉ là việc quy thuộc các lãnh thổ đất liền.
6.   Về Công ước 1887 và việc hoạch định biển giữa Trung Quốc và Việt Nam, xem J.R.V. Prescott, Các biên giới chính trị trên biển của thế giới, Methuen, London, New York, 1985, tr.224 và tiếp.
.....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #295 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2011, 07:59:57 am »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

Vì vậy, việc giải thích văn bản phải đưa đến việc nhận thấy ở văn bản một chỉ dẫn quy thuộc các đảo ven bờ của hai quốc gia. Công ước nhằm giải quyết số phần các vùng lãnh thổ lục địa, đối tượng phụ của nó là quyết định về các đảo gần bờ nhất. Vì muốn đơn giản và có hiệu quả, văn bản không kể tên tất cả các đảo. Có những đảo rất nhỏ do đó người ta có thể bỏ sót các đảo này hay đảo khác ra ngoài việc quy thuộc. Việc đưa kinh tuyến vào là để thực hiện cho rõ. Ngoài ra, nếu ngẫu nhiên hình thành một đảo mới nào đó do tích tụ cát hay do hiện tượng địa chất nào khác, đảo đó sẽ được giải quyết bằng cách áp dụng văn bản. Đó là ý nghĩa của công ước 1887 và không có gì khác hơn.

Để xác nhận cách giải thích này, điều rất quan trọng là con đường đã có nêu một điểm xuất phát cụ thể: “Đường Bắc-Nam chạy qua mũi phía Đông của đảo Tchá- Kou (Trà Cổ)”, nhưng nó không có điểm kết thúc. Đó không phải là một sự tình cờ và cũng không phải một sự bỏ quên. Đường này không cần phải kết thúc ở một điểm. Chiều dài  của đường này đã được xác định căn cứ vào sự có mặt của các đảo ven biển (7).

Làm sao người ta có thể nghĩ là người lập văn bản đã trù định giá trị pháp lý của đường đó cho đến khi đường đó gặp bờ biển Trung Kỳ? Nếu làm như vậy, tất cả các đảo ven biển Việt Nam trong khu vực ở phía Nam thành phố Huế sẽ là của Trung Quốc theo hiệu lực của văn bản đó…Thế mà đó lại chính là điều các tác giả Trung Quốc bảo vệ không một chút do dự nào, họ tìm thấy trong công ước này một cơ sở điều ước cho danh nghĩa của Trung Quốc đối với các quần đảo Trường Sa. Như vậy, sự công nhận các quyền của Trung Quốc có lẽ sẽ không có giới hạn ở phía Tây và Tây Nam. Người ta có thể tự hỏi một cách chính đáng, vậy thì tại sao lại chỉ đòi hỏi các quần đảo san hô này thôi? Khi đó các quyền mà nước Pháp nhượng cho Trung Quốc có thể được mở rộng lớn đến mức phi lý…, cho phép Trung Quốc đưa ra yêu sách một danh nghĩa điều ước đối với Philippin chẳng hạn. Chẳng phải đó là các đảo nằm ở phía Đông của đường kinh tuyến đã định đó hay sao?

Một khi cách giải thích đã nói là vô lý, ta phải theo các chỉ dẫn của Công ước Viên và kiểm tra lại xem có việc xác nhận hay bác bỏ nào có thể có từ các công việc trù bị hay không.

Các công việc trù bị đã minh hoạ rõ các mối quan tâm của hai bên và mục tiêu giải quyết trong mối quan hệ của họ vào thời kỳ đó. Cái giá mà mỗi bên đòi nằm trong cuộc đàm phán về thương mại. Đứng trước các đối thủ châu Âu trong lĩnh vực này, và bị chi phối bởi sự lo lắng giành lấy thị trường Đông Dương (một Đông Dương có các biên giới đất liền được phân định rõ ràng, do đó có thể kiểm soát được), nước Pháp đi tìm các điều kiện thuận lợi nhất để thâm nhập vào Trung Quốc. Với bên này hay bên kia không có vấn đề các quần đảo trong các cuộc đàm phán.

Những sự kiện tiếp theo sẽ chứng tỏ là những năm sau đó cả hai nước đều không quan tâm đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự thức tỉnh sẽ chỉ xảy ra về sau và do sự thúc đẩy của các thèm muốn khác. Chính khi đó, Trung Quốc đã mưu toan viện dẫn cách giải thích đặc biệt (ad hoc) đối với Công ước 1887. Nhưng nước Pháp, bên đồng ký kết công ước, đã kịch liệt chống lại sự giải thích đó: “Các điều khoản của công ước 1887…không có mục đích nào khác là ấn định đường biên giới biển giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ ở khu vực Móng Cái, sáp nhập vào Trung Quốc một số lãnh thổ và đảo nằm ở phía đông cửa sông Móng Cái mà trước đó vốn là của An Nam. Để đơn giản hoá, đườngkinh tuyến Paris 105 o 43’ đã được chọn như một con đường phân giới. Nhưng từ lời văn của thoả thuận thấy rõ là điều khoản này chỉ đặc biệt đến khu vực Móng Cái. Muốn áp dụng điều khoản đó cho quần đảo Hoàng Sa nằm cách khoảng 300 hải lý về phía Đông Nam sẽ dẫn tới việc nói rằng tất cả những gì nằm ở phía Đông của kinh tuyến 105 o 43’ là thuộc Trung Quốc; như vậy, Trung Quốc có thể yêu sách phần lớn các đảo ven bờ của Đông Dương, nhất là đảo Poulo Cecir. Các hậu quả vô lý của lập luận như vậy chứng tỏ rằng chỉ có thể cho điều khoản của công ước 1887 một giá trị khu vực”.(8 )

Trong thời gian đó, luật quốc tế về quy thuộc lãnh thổ đã phát triển. Nó đòi hỏi khe khắt hơn và kỹ thuật hơn.
_____________________________________________________________________________________________
7.   Đó đúng là nghĩa mà các nhà ngoại giao Pháp đưa ra cho các điều khoản của Công ước, đối với họ kinh tuyến đó “chỉ đánh dấu điểm mút ven biển của đường biên giới Trung Quốc-Bắc Kỳ” (Công hàm Ngoại giao ngày 20-7-1933).
8.   Công hàm Paris ngày 10-10-1937. Cũng theo cách hiểu này, xem bản ghi nhớ của ông Chargueraud – Hartmann gửi Phòng Châu Á ngày 16-8-1933.
.....
Phần tiếp theo: 2. LUẬT ÁP DỤNG TRONG THỜI KỲ SAU 1884
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #296 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2011, 10:36:30 am »

Một tàu cá bị tàu TQ thu tài sản tại Hoàng Sa

Ngày 25/5, Biên phòng Quảng Ngãi cho biết vừa tiếp nhận tin báo của ngư dân đi trên tàu QNG 90016 TS xã Bình Châu, huyện Bình Sơn về việc bị tàu Trung Quốc kiểm soát và lấy đi tài sản khi đang đánh bắt tại khu vực đảo Hoàng Sa.

 Theo lời của ông Phạm Hà, ngư dân đi trên tàu đánh cá trên thì trong khi đang hoạt động thì vào ngày 9/5, tàu bị tàu kiểm ngư Trung Quốc mang số hiệu 309 chạy đến và khống chế, bịt mắt 8 ngư dân trên tàu, sau đó thu giữ tài sản và cá… với tổng trị giá trên 200 triệu đồng.
 
Ngoài ra một số tàu cá khác của ngư dân Quảng Ngãi đang hành nghề trong khu vực trên cũng bị tàu kiểm ngư Trung Quốc đến khống chế và lấy tài  sản, ngư lưới cụ….

Hoàng Việt Thy
http://bee.net.vn/channel/1987/201105/Mot-tau-ca-bi-tau-TQ-thu-tai-san-tai-Hoang-Sa-1800203/
Thế mới hiểu biển trời nhà ta còn rộng trong khi đó hải quân nhà mình còn quá mỏng để bảo vệ ngư dân.
Logged
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #297 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2011, 12:08:42 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

2.   LUẬT ÁP DỤNG TRONG THỜI KỲ SAU 1884

Cuối thế kỷ XIX, một giai đoạn bùng nổ các quan hệ quốc tế, có nhiều sự tiến triển đã dần dần đổi mới luật quốc tế.

Việc đánh giá các quyền của các bên này hay các bên khác được căn cứ vào bốn khái niệm: Các đòi hỏi được nhắc lại trong luật quốc tế về củng cố và duy trì một danh nghĩa đối với một lãnh thổ (1884-1885); khái niệm về thừa kế nhà nước với việc cần thiết định rõ trong mỗi trường hợp nhà nước tiền nhiệm và nhà nước thừa kế, và việc kéo dài khái niệm đó trong các nguyên tắc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự quyết của các dân tộc; nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và thụ đắc lãnh thổ bằng phương pháp đó; cuối cùng, khái niệm về thời điểm kết tinh (9) trong việc xem xét các tranh chấp quốc tế, nhất là về lãnh thổ và sự cần thiết chọn thời điểm kết tinh tranh chấp; kể từ sau đó hành động của các nước không còn có thể được xét đến trong việc xây dựng một quyền vì chúng được thực hiện với ý đồ chứng minh chậm trễ.

2.1 Các quy tắc liên quan tới các quyền trên một lãnh thổ cuối thế kỷ XIX và sau đó

Tất nhiên, Định ước Berlin năm 1885 mà đối tượng là quy thuộc các lãnh thổ châu Phi, như tất cả các Hiệp ước khác, chỉ có một giá trị tương đối. Nó chỉ ràng buộc các nước thành viên và chỉ có giá trị đối với các lãnh thổ được bàn đến của cuộc thương lượng đó.

Nhưng vì nó là biểu thị sự đòi hỏi mới của xã hội nên nội dung của nó đã nhanh chóng có một tầm phổ quát.

Việc thụ đắc một danh nghĩa (trước đó có thể đạt được với những đòi hỏi ít khắt khe hơn) nay phải được củng cố theo các điều kiện mới chặt chẽ hơn. Và chỉ có việc thực hiện các điều kiện đó mới cho phép ghi nhận việc duy trì quyền này .Vậy muốn xem xét có hay không có quá trình thụ đắc chủ quyền được củng cố, người ta phải tìm kiếm xem đâu là những biểu hiện của nước có yêu sách, đồng thời cũng phải tìm hiểu đâu là những biểu hiện của các nước cạnh tranh có thể có.

Bên viện dẫn một danh nghĩa phải chứng minh là danh nghĩa đó đã được thực hiện bằng những hành vi đều đặn, có tính chất nhà nước, mở rộng ra đối với toàn bộ lãnh thổ có liên quan trong chừng mực mà các điều kiện tự nhiên cho phép, tương ứng với việc nắm quyền sở hữu không gián đoạn và thường xuyên với một sự quản lí hoà bình. Nếu không đảm bảo được điều kiện như thế, các toà án quốc tế sẽ cho rằng mới chỉ có các bằng chứng không đầy đủ về ý định của chính phủ muốn xử sự như người có chủ quyền vì khi đó “các hành vi đó không thể hiện một tính chất cho phép coi chúng như một biểu hiện của quyền lực nhà nước đối với các đảo nhỏ”(10)

Vậy cơ chế củng cố là rất quan trọng. “Phương pháp Toà tiến hành (đặc biệt trong vụ Minquiers và Ecréhous) là thừa nhận chủ quyền lãnh thổ của quốc gia nào có thể chứng minh một quá trình sử dụng lâu dài, thể hiện tổng thể các lợi ích hoặc các quan hệ gắn bó lãnh thổ này với quốc gia đó”(11).
_________________________________________________________________________________
9.   Về thuật ngữ “date critique”,trong các tài liệu pháp lý Việt Nam có sử dụng một số thuật ngữ khác như: thời điểm khởi kiện, thời điểm khủng hoảng, thời điểm kết tinh, thời điểm biến chuyển… tuy nhiên, trong số đó, thuật ngữ “thời điểm kết tinh” có thể là hợp lý, nó phản ánh được trạng thái của sự kiện pháp lý (N.D).
10.   Toà án quốc tế, Vụ đảo Minquiers và Ecréhous, tuyển tập, 1953, tr.71.
11.   Suzanne Bastid : Các vấn đề về lãnh thổ trong xét xử của toà án quốc tế, Tuyển tập các bài giảng của Viện luật quốc tế, 1962, II, quyển 107, tr. 441.
.....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #298 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2011, 03:16:38 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....
Việc củng cố và duy trì danh nghĩa qua các thế kỷ cần được gắn với sự đồng ý của các nước khác (12). Sự đồng ý có thể là tích cực cũng có thể là thụ động. “Sự củng cố có thể áp dụng với những lãnh thổ mà việc quy thuộc trước đó vào một nước khác không thể xác định được, sự củng cố đó có thể đạt được không chỉ bằng sự đồng ý rõ ràng, mà dễ dàng hơn cả là không có sự chống đối trong một khoảng thời gian đủ dài từ phía các nước hữu quan đối với việc chiếm hữu này” (13).

Như vậy, sự im lặng của các nước thứ ba có giá trị của nó trong trường hợp đó là một sự chiếm hữu nguyên thuỷ, khi một quốc gia là nước đầu tiên tiến hành quản lý một vùng đất mà lúc đó còn là vô chủ và quốc gia đó tiếp tục quản lý nhiều năm không có sự phản đối của các nước thứ ba.

Giá trị của im lặng còn cao hơn nữa khi các nước thứ ba cho rằng danh nghĩa nguyên thuỷ là không hợp thức vì lãnh thổ đó không phải là terra nullius (đất vô chủ), và rằng ở đó đã có các quyền của nước ngoài được xác lập trước đó. Khi đó, người chiếm cứ ở vào vị trí thụ đắc theo thời hiệu nếu họ có thể chứng minh được là trong một khoảng thời gian dài đã quản lý công khai, hoà bình và liên tục mà những người chiếm cứ trước không hề quan tâm. Trong trường hợp đó, các quan toà hay trọng tài sẽ xem xét hết sức thận trọng thái độ của những quốc gia cho rằng mình có danh nghĩa nguyên thủy thật sự. Sự im lặng của các nước đó có hàm ý là đồng ý, nhưng ngược lại, sự phản đối của các nước đó sẽ cho phép bảo vệ các quyền của họ vì “một chủ quyền bị thách thức phải phản ứng, nếu không sẽ mất hiệu lực”(14). Như vậy, việc không thừa nhận có thể gây trở ngại cho việc hợp thức hoá một tình trạng thực tế (15). Tuy nhiên, việc không thừa nhận còn phải được nêu lại theo định kỳ và thể hiện một ý chí thật sự chống lại tình trạng do các sự vịêc tạo ra. Như vậy nó đòi hỏi phải có một cường độ nào đó.

Đó là những quy tắc buộc phải được cụ thể hoá do các đòi hỏi của đời sống xã hội ngày càng cao, các vùng đất có thể được phát hiện ngày càng hiếm và cường độ tranh chấp chính trị giữa các nước ngày càng tăng cường. Nếu sự xoay vần của lịch sử không đưa ra thêm những khái niệm nào khác mà phạm vi pháp lý của chúng phải được xác định ở đây trước khi đi xa hơn, thì vấn đề còn lại chỉ là kiểm tra việc áp dụng các quy tắc này đối với tình hình của các quần đảo.
______________________________________________________________________________________________
12.   Jean Barale : Sự đồng ý trong án lệ quốc tế, Niên giám luật quốc tế của pháp, 1965, tr.389 và tếp.
13.   Suzane Bastid : Các vấn đề về lãnh thổ trong xét xử của toà án quốc tế, tuyển tập các bài giảng của viện luật quốc tế, 1962, II,q. 107, tr.44.
14.    Xem Jean Pirre Cot: Đại sự ký xét xử quốc tế. Vụ Đền Preach Vihear. Niên giám Luật quốc tế của Pháp, 1962, tr. 243
15.   Gérard-Cohen Ronathan: Quần đảo Falkland (Malonines. Niên giám Luật quốc tế của Pháp, 1972, tr. 240.
.....
Phần tiếp theo: 2.2 Khái niệm về thừa kế nhà nước hay chính phủ và các hậu quả của nó.
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #299 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2011, 05:46:39 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

2.2 Khái niệm về thừa kế nhà nước hay chính phủ và các hậu quả của nó

Hồ sơ quy chế quốc tế của các quần đảo ở biển Nam Trung Hoa bị phức tạp hoá nặng nề từ phía này hay phía khác do các vấn đề gọi là thừa kế nhà nước hay thừa kế chính phủ (16).

2.2.1 Trường hợp Việt Nam

Về phía Việt Nam, 120 năm đã trôi qua từ thời điểm một vương quốc An Nam trước khi có cuộc chinh phục thực dân (việc bắn phá cảng Đà Nẵng năm 1856 đánh dấu bước mở đầu của cuộc chinh phục đó) đến một nước Việt Nam có chủ quyền và thống nhất (1975).

Trong một thời kỳ đầu không xác định (cho đến khoảng thời gian Paul Doumer giữ chức toàn quyền, năm 1897), vương quốc An Nam vẫn giữ được một tư cách pháp nhân quốc tế nhất định qua cơ chế bảo hộ. Theo hiệp ước thứ nhất (15-3-1874), Hoàng đế vừa cam kết “thích nghi chính sách ngoại giao của mình với chính sách ngoại giao của nước Pháp và không thay đổi các quan hệ ngoại giao hiện nay của mình” (điều 3, khoản 1), nhưng cũng giữ quyền ký kết các hiệp ước với các điều kiện, đúng là có bị hạn chế vì bị đặt dưới quyền kiểm soát của Pháp.

Ngày 6-6-1884, có thêm một hiệp ước bảo hộ thứ hai có tên là hiệp ước Patenôtre, theo đó nước Pháp có các thẩm quyền thực chất hơn nhiều: “Nước Pháp sẽ đại diện nước An Nam trong mọi quan hệ đối ngoại của An Nam” (điều 1, khoản 2).

Chúng ta cũng nhận thấy trong các phân tích pháp lý làm cơ sở cho lập trường của Trung Quốc, lập luận rất ít khi liên hệ với các việc thừa kế Nhà nước. Nhất là Chu Kiện, trong: Các biên giới biển của Trung Quốc.

Tư cách pháp nhân của An Nam, mặc dù rất danh nghĩa nhưng vẫn được duy trì.

Việc chuyển sang liên bang Đông Dương bắt đầu với sắc lệnh ngày 17-10-1887. Việc sáp nhập vào Bộ thuộc địa có hiệu lực kể từ năm 1894.

Như vậy ở đây đã có hiện tượng thứ nhất về thừa kế nhà nước một khi ta hiểu đó là “sự việc diễn ra trên một lãnh thổ nhất định, vào một thời điểm nhất định, một chính quyền nhà nước thay thế một chính quyền nhà nước khác và giữ vị trí của chính quyền đó” (17).

Quy chế thuộc địa của pháp không cho phép tồn tại tư cách pháp nhân quốc tế như vậy, cho nên trong thực tế tư cách pháp nhân quốc tế của Pháp đã thay thế tư cách pháp nhân quốc tế của Vương quốc An Nam. Tất nhiên là hiệp ước Patenôtre không chính thức bị huỷ bỏ nhưng tình hình từ năm 1885 là một tình trạng thuộc địa trên thực tế (18).

Sự hồi của nước Việt Nam thống nhất vừa dài vừa đau đớn.

Và, nếu từ chế độ bảo hộ đến cuộc đảo chính của Nhật (9-3-1945) làm tan rã hệ thống quân sự của Pháp ở Đông Dương, thì tư cách pháp nhân quốc tế phần biển cho Việt Nam vẫn là nước Pháp thuộc địa, nhưng từ 1945 đến 1975 lại có nhiều tiếng nói.
__________________________________________________________________________________________
16.   Về các khó khăn nay xem bản ghi nhớ của Cố vấn pháp luật của Bộ Ngoại giao ngày 25-5-1950, Phụ lục 11.
17.   Xem, Humphrey Waldock, Niên giám của Ủy ban Luật quốc tế 1968, t.11, tr. 92 Michel Virally trích: Lời nói đầu của tác phẩm đã dẫn của Nguyễn Hữu Trụ.
18.   Nguyễn Hữu Trụ viết theo hướng đó, Sđd, tr. 44 và 50. Tác giả dựa vào một phần học thuyết và vào các án lệ hành chính của Pháp thừa nhận việc sáp nhập nước An Nam và nước Cao Miên vào một pháp nhân theo công ước Pháp.
.....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM