thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #300 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2011, 07:32:52 pm » |
|
CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________
( tiếp theo ) .... Vua Bảo Đại tuyên bố độc lập lần thứ nhất ngày 11-3 -1945. Nhưng ông thoái vị ngày 19-8-1945 vì lợi ích của chính phủ cách mạng của ông Hồ Chí Minh. Đây là chính phủ đã kiểm soát được Bắc Bộ và Trung Bộ (19) và đã tuyên bố độc lập, thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 2-9-1945 (20). Lúc này nước Pháp gặp phải mâu thuẫn sau: Một mặt, qua Hiệp định 6-3-1946, Pháp “thừa nhận Cộng hòa Việt Nam là một quốc gia tự do có chính phủ, quân đội và tài chính của mình, ở trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp” (điều 1); mặt khác, Pháp tìm cách khôi phục chủ quyền của mình đối với Đông Dương, và cụ thể hơn, đạt được việc rút quân đội Trung Quốc khỏi lãnh thổ Việt Nam. Vấn đề về năng lực quốc tế của Việt Nam Dân chủ cộng hòa là hòn đá ngáng trở và sẽ mở ra cuộc xung đột vũ trang thuộc địa. Khi đó nước Pháp tự xem như mình vẫn còn chủ quyền đối với Đông Dương trong khi Việt Nam muốn hưởng tư cách pháp nhân quốc tế đầy đủ. Như vậy, kể từ cuối năm 1946, có sự tranh đua giành quyền thực hiện các hành vi chủ quyền. Vậy thì, trong các điều kiện như vậy, từ 1946 đến 1949, ai là người đại diện có giá trị cho Việt Nam theo luật quốc tế? Thay đổi chiến lược và chơi trò chia rẽ, ngày 27-6-1947, Pháp dựng lên ở Sài Gòn một chính phủ trung ương lâm thời của nước Việt Nam và thừa nhận quyền độc lập của Việt Nam trong bản Tuyên bố Vịnh Hạ Long ngày 5-6-1948. Các hiệp định ngày 8-3-1949 nhằm thành lập một Quốc gia liên kết Việt Nam. Kể từ đó (và không phải đã hết một số dè dặt), với sự đồng ý của chính nước Pháp, Quốc gia liên kết Việt Nam có tư cách pháp nhân quốc tế (21). Qua một số mánh khóe pháp lý phức tạp, nước Pháp có lập trường sáp nhập Nam Bộ vào Quốc gia liên kết nói trên và quốc gia này được coi như người kế tục vương quốc An Nam trước kia dưới sự bảo hộ của Pháp. Thủ đoạn pháp lý này cũng không có tác dụng. Từ năm 1949 đến năm 1954, tính hiệu lực của chính phủ được chia ra, giữa một bên là quân đội viễn chinh Pháp vẫn còn hiện diện và những người chịu trách nhiệm về chính trị đi theo quân đội đó; và một bên là chính phủ của Việt Minh được một số nước công nhận từ năm 1950 và kiểm soát phần lớn Bắc Bộ và Trung Bộ, trong khi chính phủ Quốc gia liên kết chỉ kiểm soát được Nam Kỳ. Vậy ai là người có quyền tiến hành các hành vi quốc tế về các quần đảo? Các hành vi này có giá trị gì đối với các chính phủ các thời kỳ sau? Từ năm 1945 và theo các Hiệp định Genève, nước Pháp thừa nhận nền độc lập hoàn toàn và chủ quyền của Quốc gia Việt Nam. Nhưng đồng thời lại có Hiệp định đình chiến giữa hai Bộ Tổng tư lệnh. Bên quân sự Việt Nam tất nhiên đại diện cho Việt Nam Dân chủ cộng hòa, còn bên quân sự Pháp chỉ đại diện cho nước Pháp chứ không đại diện cho Quốc gia Việt Nam vì họ không thừa nhận các hiệp định. Kể từ thời điểm này mở ra một giai đoạn khác của lịch sử Việt Nam và cho đến trước thời điểm năm 1975 cùng tồn tại trong thực tế hai nhà nước đấu tranh với nhau, cả hai đều căn cứ vào các chỗ dựa về ngoại giao khác nhau, khẳng định mình đại diện cho dân tộc Việt Nam và trong thực tế bên này cũng như bên kia chỉ kiểm soát một bộ phận lãnh thổ và dân cư. Vậy sẽ phải đánh giá thế nào các hành động do bên này hoặc bên kia tiến hành về vấn đề các quần đảo trong thời kỳ này? _______________________________________________________________________________________________ 19. Nhưng chính phủ cách mạng không có thời gian và phương tiện để áp đặt quyền lực lên Nam Kỳ. 20. Xem Niên đại các sự kiện ở trên, tr. 50. 21. Xem Nguyễn Hữu Trụ, Sđd, tr. 72 và tiếp. ..... Phần tiếp theo: 2.2.2 Trường hợp Trung Quốc
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #301 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2011, 07:30:27 am » |
|
CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________
( tiếp theo ) .... 2.2.2 Trường hợp Trung QuốcTrường hợp Trung Quốc, mặc dù không phức tạp như vậy, nhưng về phương diện thừa kế nhà nước vẫn đặt ra vài khó khăn thực sự. Khó khăn thứ nhất là vì một số văn kiện do Trung Quốc đưa ra về các quần đảo (đặc biệt vào năm 1921) là của một chính quyền địa phương không được cả chính quyền trung ương của Trung Quốc và các cường quốc Châu âu thừa nhận. Vậy, ở chừng mực nào chính quyền trung ương có thể dựa vào các văn kiện đó? Và liệu có thể giải thích được các quan hệ quyền lực tại Trung Quốc và nhất là các quy tắc phân cấp thẩm quyền quốc tế theo các tiêu chuẩn đã được nền văn hóa, chính trị và pháp lý phương Tây rèn rũa hay không? Từ năm 1949 câu hỏi thứ hai về mặt thừa kế nhà nước đã được đặt ra: ai có quyền thừa kế các yêu sách trước đây do Trung Quốc đưa ra về các quần đảo, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa hay Trung Hoa Dân quốc? Luật quốc tế về việc thừa nhận nhà nước còn chưa được xây dựng đầy đủ và chỉ đưa lại những giải pháp không chắc chắn. Luật đó không nói rõ các phương pháp để xác định một cách chính xác nhà nước (hay các chính phủ) kế tục về tiền nhiệm khi có nhiều nhà nước tranh chấp nhau. Vấn đề này được giải quyết song phương thông qua thủ tục công nhận. Mỗi nhà nước thành viên của cộng đồng quốc tế được tự do thừa nhận nhà nước hay chính phủ theo sự lựa chọn của mình khi có nhiều nhà nước tranh chấp. Tuy nhiên, vẫn có một tiêu chuẩn có trọng lượng thông thường được chấp nhận, đó là tiêu chuẩn về tính thật sự. 2.2.3 Nội dung các quy tắc thừa kế nhà nướcNội dung này bản thân nó là không chắc chắn, thực tiễn còn rất khác biệt nhau (22). Tuy nhiên, luật quốc tế hiện đại đã nêu ra và cụ thể hóa vài nguyên tắc mới đây cần cho việc giải quyết tranh chấp về các quần đảo. Trước hết, về mặt luật quốc tế, người ta cho rằng các quy chế lãnh thổ có một tính chất khách quan. Vì vậy, chúng không chỉ có giá trị đối với các nước ký vào hiệp ước (khi các quy chế đó xuất phát từ một hiệp ước), hay những nước trực tiếp hữu quan, mà chúng có tính bó buộc đối với mọi nước. Sau đó, phải nhấn mạnh đến việc bảo vệ chủ quyền của các dân tộc trong luật quốc tế hiện đại. Quyền này được ghi trong các mục đích của Hiến chương Liên hợp quốc tại khoản 2, điều 1 và đã được nhắc lại trong nhiều văn bản về sau là những văn bản chú ý đến việc phát triển tất cả các kết quả của việc bảo vệ quyền của các dân tộc. Như Nghị quyết 15-14 năm 1960 về bản Tuyên bố trao quyền độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa, đã viết như sau: “Sẽ phải chấm dứt mọi hành động vũ trang và mọi biện pháp đàn áp, bất kể thuộc loại nào, chống lại các dân tộc phụ thuộc, để các dân tộc đó có thể thực hiện quyền của họ về độc lập hoàn toàn trong hòa bình và tự do, và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của họ sẽ được tôn trọng” (khoản 4); và cũng như vậy: “Mọi mưu toan nhằm phá hủy một phần hay hoàn toàn sự thống nhất quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của một nước là không phù hợp với các mục đích và các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc” (đoạn 6). Cũng theo hướng đó, Nghị quyết 26-25 năm 1970 với tên gọi là Tuyên bố về các nguyên tắc của luật quốc tế liên quan đến các quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia theo đúng Hiến chương Liên hợp quốc, sau khi nhắc lại nguyên tắc về quyền tự quyết của các dân tộc, văn bản viết: “Lãnh thổ một thuộc địa hay một lãnh thổ không tự trị khác, căn cứ vào Hiến chương, có một quy chế riêng và khác quy chế lãnh thổ của nước quản lý lãnh thổ đó; quy chế riêng và khác đó, căn cứ vào Hiến chương, tồn tại lâu chừng nào khi mà nhân dân thuộc địa hay lãnh thổ không tự trị vẫn không thực hiện quyền dân tộc tự quyết của họ theo đúng Hiến chương và nhất là theo các mục đích và nguyên tắc của nó”, và tiếp tục: “Tất cả các quốc gia không được có hành động nào nhằm phá hủy một phần hay hoàn toàn sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia hay một nước khác”.Các văn bản đó đều chứng tỏ rằng luật quốc tế hiện đại, luật phi thực hóa dân hóa đã phát triển những nguyên tắc bảo vệ nhằm ngăn cản không để cho các dân tộc được phi thực dân hóa, khi ra khỏi một thời kỳ thuộc địa kéo dài, lại rơi vào tình trạng lãnh thổ của họ bị cắt xén do sự thờ ơ hay do các tính toán của thực dân. Như vậy, nếu do chính sách của thực dân dẫn đến sự suy yếu tính thật sự trong việc quản lý một lãnh thổ, thì trong trường hợp này không thể đưa đến một tình trạng res derelicta (lãnh thổ bị từ bỏ). ___________________________________________________________________________________________ 22. Có hai Công ước Viên, một công ước về sự kế thừa giữa các nhà nước về vấn đề điều ước (1978), và một về sự thừa kế giữa các nhà nước về các vấn đề khác không phải là điều ước (1983), nhưng cả hai chưa có hiệu lực vì chưa hội đủ số nước phê chuẩn. ..... (còn tiếp)
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Năm, 2011, 01:42:37 pm gửi bởi thanhh63 »
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #302 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2011, 11:05:15 am » |
|
CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________
( tiếp theo ) .... 2.3 Nguyên tắc cấm thụ đắc lãnh thổ bằng vũ lựcLuật pháp quốc tế cổ điển thừa nhận chinh phục là một thuộc tính của chủ quyền. Đúng là tuy không phải không có một vài khía cạnh tinh vi, vì người ta đã đưa vào từ đầu các suy ngẫm về chủ quyền, sự phân biệt chiến tranh chính nghĩa và … các cuộc chiến tranh khác. Sau cú sốc của cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, Hiến ước Hội quốc liên đã cấm các cuộc chiến tranh xâm lược, sau đó, ngày 26-8-1928, Hiệp ước Briand-Kellog toan tính đặt chiến tranh ra ngoài vòng Pháp luật bằng sự từ bỏ tự nguyện các quốc gia ký kết. Việc cấm sử dụng vũ lực nêu trong điều 2, khoản 4 của Hiến chương Liên hợp quốc có giá trị như một nguyên tắc pháp lý áp dụng cho tất cả các quốc gia. Nguyên tắc nêu ra năm 1945 đã được phát triển và tăng cường trong Nghị quyết 26-25 năm 1970, “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một cuộc chiếm đóng quân sự do sử dụng vũ lực trái với các quy định của Hiến chương. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm hữu của một quốc gia khác sau khi dùng đe dọa hay sử dụng vũ lực. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào đạt được bằng đe dọa hay sử dụng vũ lực sẽ không được thừa nhận là hợp pháp”. Văn bản đó cũng quy định: “Các quốc gia có bổn phận không dùng đe dọa hay sử dụng vũ lực để vi phạm các biên giới quốc tế hiện có của một quốc gia khác hay như biện Pháp giải quyết tranh chấp quốc tế, kể cả các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề liên quan đến các biên giới của các quốc gia”. Như vậy, chính sách pháo thuyền không còn có hiệu lực pháp lý. Sử dụng vũ lực không thể là cơ sở của một quyền. 2.4 Khái niệm thời điểm kết tinh tranh chấpCác tranh chấp quốc tế về lãnh thổ thường dàn trải rất lâu. Khái niệm thời điểm kết tinh tranh chấp được đưa vào trong các cuộc tranh luận để làm rõ chúng. Tuy thế không thể chờ đợi ở khái niệm này nhiều hơn cái mà nó có thể đem lại. Cả học thuyết lẫn áp lệ đều đã không thực sự định nghĩa xem cần phải hiểu thời điểm kết tinh là gì và tác dụng thực sự của nó ra sao. Nếu nhiều tác giả đồng ý coi đây là thời điểm mà sau đó các hành vi do các nước thực hiện không thể thay đổi các quyền tương ứng của các nước đó (23), thì sự lẫn lộn lại nảy sinh với ý tưởng về sự kết tinh tranh chấp. Sự kết tinh có thể là kết quả của một tình hình bị bế tắc, vì các bên đã từ bỏ việc thương lượng, phản đối hay tìm cách thuyết phục nhau. Khái niệm này đã được tương đối hóa do cả án lệ lẫn các tác giả. Trong vụ đảo Miquiers và Ecréhous, sự bất đồng giữa Pháp và Anh về thời điểm kết tinh tranh chấp cách nhau tới trên một thế kỷ (đối với nước Pháp là năm 1939, còn đối với nước Anh là năm 1956). Toàn án chấp nhận ý kiến rằng khi có một sự kết tinh tranh chấp thì bằng chứng được tạo ra sau đó không còn có giá trị. Thời điểm kết tinh được xác định vào thời điểm có một yêu sách chính thức được đưa ra. Nhưng Tòa cũng không khước từ xem xét các sự việc xảy ra sau thời điểm đó, và coi đó như là biểu hiện của sự phát triển liên tục và với điều kiện “không kể các biện pháp có thể đã được sử dụng nhằm cải thiện vị thế về quyền của bên hữu quan” (24). Trong vụ Đông Groenland, Tòa đã chọn thời điểm kết tinh là ngày 10-7-1931, thời điểm Na Uy chiếm đóng lãnh thổ tranh chấp. Đan Mạch cho rằng vào thời điểm này họ đã có một danh nghĩa được xác định từ lâu, phải chứng minh giá trị của danh nghĩa vào thời điểm đó (25). Do đó, quan điểm do A.G. Roche đưa ra vào năm 1959 (26) phải chăng bao giờ cũng có giá trị và sẽ vẫn như thế mãi: “Tóm lại, Tòa cho rằng mình có quyền rộng rãi đối với tất cả những vụ việc xảy ra trong tương lai vì các quy tắc được áp dụng chỉ là những quy tắc prima facie (khởi đầu). Các quy tắc này có thể bị các bên thay thế và dù sao chúng cũng không đủ ăn sâu vào thủ tục tài phán để có thể thực sự ràng buộc Tòa; Do đó không thể dự kiến thái độ chính xác của Tòa sẽ là thế nào đối với các vụ việc trong tương lai”. Thực ra, về phương diện này mỗi vụ tranh chấp là một unicum (thể thống nhất), vì các vụ phát triển rất tuần tự. Một số vụ khác lại nổi lên theo từng thời kỳ rồi sau nguội lạnh và đôi khi lại có những đột biến có tính quyết định. Một số tác giả đã thử đưa ra ý kiến về thời điểm kết tinh tranh chấp của cuộc tranh chấp các quần đảo của biển Nam Trung Hoa. __________________________________________________________________________________________________ 23. Xem J.P. Ferrier: Tranh chấp các quần đảo Hoàng Sa và vấn đề chủ quyền trên các đảo không người ở. Niên giám của Pháp về luật quốc tế, 1960, tr. 187 và tiếp theo. 24. Toàn án quốc tế, Tuyển tập, 1953, tr. 53. 25. Vụ Đông Groenland, Tòa án pháp lý quốc tế thường trực, ngày 5-4-1933, Tuyển tập Serie A-B, tr. 45. 26. A.G. Roche: Vụ Minquiers và Ecréchous, Luận án số 115, Genève 1959, tr. 104. ..... (còn tiếp)
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #303 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2011, 03:32:18 pm » |
|
CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________
( tiếp theo ) .... Choon Ho Park cho rằng thời điểm bắt đầu tranh chấp này là những năm 1880, theo ông, là thời điểm bắt đầu có một cuộc tranh chấp thật sự để giành việc kiểm soát các đảo. Và ông kể ra Công ước hoạch định biên giới năm 1887 như thời điểm có sự tăng cường tranh chấp (27). Thật khó có thể chấp nhận quan điểm của ông ta trong việc phân tích này. Công ước Pháp-Thanh năm 1887 không xử lý các quần đảo và do đó không thể có các hậu quả pháp lý, dù là gián tiếp, đối với quy chế của chúng. Nếu cho rằng những năm 1880 là quan trọng trong cuộc tranh chấp này thì đó đứng trên một cơ sở khác như được trình bày. Khi đó, danh nghĩa của Việt Nam là đã có và thật sự. Danh nghĩa đó không bị Trung Quốc tranh cãi cả trên thực địa lẫn về phương diện ngoại giao. Đúng vậy, đó là những năm trước khi Việt Nam chuyển sang các bàn tay khác do tác động của chế độ bảo hộ được tăng cường trong năm 1884. Sự không biết hoặc cẩu thả của chính quyền thực dân, nếu họ bị một quốc gia lợi dụng trong tình hình đó để cạnh tranh, cũng không thể có hậu quả là tạo nên những quyền lợi cho quốc gia đó. Chính vì lý do đó chứ không phải vì những lý do mà ông Choon Ho Park đưa ra mà những năm 1880 là những năm bản lề của cuộc tranh chấp này. Ở đây, có lý do để áp dụng lập luận của Trong tài Max Huber khi ông viết: “Không nhất thiết phải chứng minh rằng việc thực thi chủ quyền đã bắt đầu vào một thời kỳ nhất định; chỉ cần chủ quyền đó đã được thực thi trong giai đoạn tới hạn trước năm 1898 là đủ” (28). Đối với cuộc xung đột đương đại về các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, do thiếu sự thể hiện các yêu sách của Trung Quốc vào thế kỷ XVIII và XIX, điều mấu chốt cho lập luận là việc thực thi chủ quyền của Việt Nam đã không gặp phải sự phản kháng nào suốt một thời gian rất dài. Kriangsak Kittichaisaree, về phần ông, không có ý kiến nhiều đến khái niệm thời điểm kết tinh tranh chấp nhưng cũng thừa nhận là các yêu sách chống đối nhau chỉ thực sự nổi lên từ sau những năm 1880 (29). Cuối cùng Jean Pirre Ferrier nhắc lại rằng khi vấn đề thời điểm tới hạn đặt ra với quan tòa hay trọng tài, cho dù chưa bao giờ xác định nó cũng như không đưa ra các tiêu chuẩn, ông công nhận đối với tranh chấp các quần đảo này thì tầm quan trọng là năm 1937 (thời điểm chiếm đóng thật sự của Pháp cũng là thời điểm Pháp đề nghị về một giải pháp qua tài phán hay trọng tài). Tuy nhiên, ông coi năm 1954, thời gian kết thúc sự có mặt của Pháp ở Việt Nam, như thời điểm tượng trưng nhất cho sự kết kinh tranh chấp (30). Không đặt quá nhiều kỳ vọng vào khái niệm thời điểm kết tinh tranh chấp, việc quan trọng cần nhắc lại và vấn đề này gắn liền với bản chất pháp lý của cuộc tranh chấp. Ngược lại với những gì thường được bảo vệ, cuộc tranh chấp này không hướng về tính hợp pháp của việc thụ đắc một lãnh thổ bởi một quốc gia có lẽ bắt đầu chiếm cứ một res nullius (vật vô chủ). Nó cũng không phải là sự tranh đua giữa hai quốc gia có tham vọng có thể so sánh, do đó cần phải đo sức nặng pháp lý tương ứng. Đơn giản hơn là ở đó đã có một danh nghĩa được xác lập chắc chắn, đó là danh nghĩa của các chúa Việt Nam được thực hiện một cách hòa bình hàng thập kỷ và cần phải xem xét xem liệu nó có thể bị mất trước việc thụ đắc theo thời hiệu của một chủ thể khác của luật hay không (31). Ở đây chúng ta cần sử dụng các công cụ pháp lý khác nhau đó để xem xét những gì đã trở thành các quyền được bên này hay bên kia khẳng định trong suốt thời kỳ thực dân và sau đó thời kỳ hậu thực dân. _________________________________________________________________________________ 27. Choon Ho Park: Các cuộc tranh chấp ở biển Nam Trung Hoa. Tạp chí Phát triển đại dương và luật quốc tế, t.5, số 1-1978. tr.33 28. Phát quyết trọng tài ngày 4-4-1928 giữa Mỹ và Hà Lan trong vụ tranh chấp chủ quyền đối với đảo Palmas, Tạp chí tổng quan Công pháp quốc tế, 1935, tr. 198. 29. Kriangsak Kittichaisaree: Luật biển và việc phân định biên giới biển tại Đông Nam Á, tr. 142. 30. Jean Pirre Ferrier: Tranh chấp các đảo Hoàng Sa và vấn đề chủ quyền trên các đảo không người ở. Niêm giám của Pháp về luật quốc tế, tr.180 31. Xem Sir Gérald Pitzaurice: Luật và thủ tục của Tòa án pháp lý quốc tế, Niên giám luật quốc tế của Anh quốc, 1955, q.6, tr.30 và tiếp theo. ..... Phần tiếp theo: 3. SỐ PHẬN CÁC QUẦN ĐẢO TRONG THỜI KỲ THUỘC ĐỊA
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #304 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2011, 06:49:01 pm » |
|
CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________
( tiếp theo ) .... 3. SỐ PHẬN CÁC QUẦN ĐẢO TRONG THỜI KỲ THUỘC ĐỊADanh nghĩa được xác định rõ ràng có lợi cho Việt Nam trong thế kỷ XVIII và XIX, nhưng số phận của nó lại gắn với các sự kiện chính trị tiếp theo. Vương triều Việt Nam bị suy yếu do sự xâm lược và vì việc nước Pháp nhanh chóng biến nền bảo hộ thành thuộc địa trên thực tế, và chỉ lên tiếng về các đảo bằng một tiếng nói không mạnh. Tuy nhiên, vương triều này vẫn lên tiếng mỗi khi có cơ hội. Trong thời gian đầu, nước Pháp không hề quan tâm tới các quần đảo. Nước Pháp không vắng mặt ở đó nhưng lúc đầu không coi quần đảo đó như một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam. Pháp để các sự việc trôi qua và mỗi khi các yêu sách của Trung Quốc nổi lên, họ băn khoan, chần chừ, do dự. Trung Quốc, trong những năm cuối của thế kỷ XIX và những năm đầu của thế kỷ này, không muốn biết gì về những hòn đảo cằn cỗi này. Thậm chí họ còn phủ nhận chúng. Nhưng đột nhiên Nhật Bản mở rộng sức mạnh của họ và xuất hiện ở đó. Sự đe dọa đó làm cho Trung Quốc thức tỉnh trước tiên. Nước Pháp, sau nhiều năm đã đi tới quyết định và tỏ thái độ rõ ràng. Pháp đòi chủ quyền. Trong thời gian này, Pháp đã biết về lịch sử lâu dài của các đội thủy binh Việt Nam đối với các quần đảo. Pháp có thể đứng ra làm người thừa kế họ. Nước Pháp làm điều đó có chọn lọc. Sự hiểu biết của họ về hồ sơ lịch sử là đại lược. Do thiếu các yếu tố đầy đủ, họ chỉ thừa nhận việc thừa kế nhà nước đối với quần đảo Hoàng Sa. Đối với quần đảo Trường Sa, nước Pháp ưu tiên viện dẫn quy chế terra nulllius (lãnh thổ vô chủ) để khẳng định các quyền của họ như các quyền ban đầu. Từ năm 1909, phản kháng và không phản kháng xen kẽ nhau, hòa trộn với nhau. Không còn gì là yên tĩnh hay tự phát. Tất cả các hành vi đều đáp ứng những ẩn ý nhằm tăng tốc vượt những người tranh chấp và tích lỹ các bằng chứng. Tiếng súng của việc phát hiện vang vọng trên các hòn đảo. Nhưng trên Hoàng Sa tiếng súng đó lúc là của Trung Quốc lúc của Pháp. Sau này, trên Trường Sa là tiếng pháo của Pháp nhưng cũng có tiếng pháo của Philipin hay Đài Loan. Thời kỳ thuộc địa đóng lại với giai đoạn tàn bạo của Nhật Bản. Các hòn đảo nhỏ trở thành thức ăn thua của chiến tranh và chuyển sang sự kiểm soát của hải quân Nhật Bản. Thời điểm người Nhật ra đi phù hợp với thời kỳ đòi độc lập, và do vậy mở ra một thời điểm khác. Các hành động của Trung Quốc, sau đó là của Pháp cho tới khi rút ra khỏi các khu vực sẽ được xem xét lần lượt tại đây. Cũng sẽ cần phải xem xét thái độ của Anh (nước quan tâm đến một số đảo nhỏ ở Trường Sa), và lẽ tất nhiên cả của Nhật Bản. Chắc chắn qua những tình tiết lắt léo đó, danh nghĩa mà nước Việt Nam đã có từ thời xưa, không nghi ngờ gì đã bị suy yếu, bị tranh cãi. Câu hỏi sẽ đặt ra về việc danh nghĩa đó có thể đã mất hay vẫn được duy trì. Nhưng Chiến tranh thế giới lần thứ hai là một vết cắt quá mạnh nên không thể không tính đến. Do vậy, các hành vi của các quốc gia khác đã nêu trên, trước tiên sẽ được nghiên cứu cho đến lúc chiến tranh bùng nổ, rồi sau đó tiếp ngay thời kỳ hậu chiến tranh. _______________________________________________________________________________________________ ..... Phần tiếp theo: 3.1 Từ thời kỳ của thực dân Pháp tại Đông Dương cho tới Chiến tranh thế giới thứ hai
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #305 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2011, 07:39:34 am » |
|
CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________
( tiếp theo ) .... 3.1 Từ thời kỳ của thực dân Pháp tại Đông Dương cho tới Chiến tranh thế giới thứ hai 3.1.1 Chính sách của Trung Quốc a) Sự thờ ơ của Trung Quốc
Từ 1884 đến 1909, không có gì chứng tỏ sự quan tâm của Trung Quốc đối với những mảnh đất nói trên, mà trái lại. Chỉ có một sự cố duy nhất mà các nhà biên niên sử ghi lại. Và sự cố đó đi theo hướng là Trung Quốc đồng ý với sự chiếm hữu của nước khác. Sự cố được P.A. Laqicque kể lại như sau: “Trong số nhiều vụ đắm tàu xảy ra ở quần đảo Hoàng Sa, có hai vụ: vụ đắm tàu của Đức “Le Bellona” năm 1895 tại đá Bắc và vụ đắm tàu Nhật “Imezi Maru” năm 1896 tại cụm đảo An Vĩnh, đã gây ra những phản đối nay nhắc lại không phải là không bổ ích. Hai tàu đó chở một số đồng được các công ty Anh bảo hiểm. Việc cứu hộ không có kết quả và các tàu đắm đó phải bỏ lại. Có những người Trung Quốc trên các thuyền tam bản hay các thuyền nhỏ cướp phá các tàu và chuyển lên Hải Nam số đồng thu được. Các công ty bảo hiểm đề nghị Công sứ Anh ở Bắc Kinh và Lãnh sự ở Hoihow can thiệp, lãnh sự anh muốn các quan chức địa phương phải chịu trách nhiệm. Nhưng những người này phản đối, nói rằng quần đảo Hoàng Sa không thuộc Trung Quốc, rằng chúng không được sáp nhập về hành chính vào bất kỳ huyện nào của Hải Nam và khước từ mọi trách nhiệm” (32). Câu chuyện trên cũng được trình bày trong một số văn thư của Phủ Toàn quyền Đông Dương (Vụ Giám đốc các công việc chính trị và bản xứ) ngày 6-5-1921. Văn bản đó cụ thể hơn và nói: “Các ông quan quản đối cho rằng quần đảo Hoàng Sa là những đảo vô thừa nhận, không thuộc Trung Quốc và cũng chẳng thuộc An Nam, chúng không được sáp nhập về hành chính vào bất kỳ huyện nào của Hải Nam và không có nhà chức trách đặc biệt nào được giao trách nhiệm về cảnh sát tại các đảo đó” (33). Cả hai nội dung nói rõ ràng là các nhà chức trách điạ phương phủ nhận một cách chính xác mọi ý tưởng về chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo này. Quan điểm đó có một ý nghĩa to lớn. Đây là những nhà chức trách địa phương, tức là những người có khả năng nhất để hiểu biết tình hình thực tế. Và họ nói cụ thể rằng không có sự sát nhập hành chính, bằng chứng của việc không quản lý. Tuy nhiên các quan chức Trung Quốc, theo Văn thư của Phủ Toàn quyền, cũng nói rằng các đảo này không thuộc về An Nam, khiến cho từ các sự kiện đó người ta không thể suy diễn rằng có một sự đồng ý nào đó của các nhà chức trách Trung Quốc về việc quản lý của Việt Nam. Chỉ có sự thật là các nhà chức trách Trung Quốc không biết gì về số phận của các quần đào và thờ ơ với nó. Có câu chuyện mà phần lớn các văn kiện Trung Quốc lặp lại là nước Đức có lẽ đã quan tâm tới các hòn đảo nhỏ vào năm 1883 và có lẽ họ chỉ rút mọi hành động trong các vùng biển này khi có yêu cầu của Trung Quốc. Câu chuyện đó đã bị thái độ của các quan Trung Quốc được nói tới trong các tư liệu kể trên bác bỏ và chính yêu cầu này cũng không dựa trên các nguồn tham khảo có thể kiểm chứng được (34). ______________________________________________________________________________________________ 32. P.A. Lapicque: Về các đảo Hoàng Sa, tr.4. 33. Xem Phụ lục số 12. 34. Xem Chu Kiện: Các biên giới biển của Trung Quốc, tr. 268 và Bản tin Trung Quốc học. ..... (còn tiếp)
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #306 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2011, 12:00:47 pm » |
|
CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________
( tiếp theo ) .... b) Sự lật ngược thái độ của Trung Quốc
Hành vi sau đây của người Trung Quốc cho thấy một sự lật ngược hoàn toàn thái độ. Hành vi này xảy ra năm 1909. Giật mình trước việc năm 1907 Nhật Bản đưa ra các yêu sách về các đảo Pratas (người Trung Quốc gọi là Đông Sa, một quần đảo khác của biển Nam Trung Hoa nằm ở phía Đông Bắc quần đảo Hoàng Sa – N.D), người Trung Quốc muốn đi trước các tham vọng có thể có của Nhật đối với các quần đảo Hoàng Sa và thoạt đầu nghĩ ra việc cử một đoàn đi khảo sát các đảo này (35). Do đó, Phó Vương Lưỡng Quảng đã cử ba sĩ quan đi làm nhiệm vụ thăm dò (vào tháng 4-1909). Họ mang về một bản báo cáo mô tả các đảo, và điều đó là bằng chứng về sự không hiểu biết các nơi mà người Trung Quốc đã đến lúc bấy giờ. Thật ra đây là một phái đoàn phát hiện của người Trung Quốc. Họ nhận thấy ở đó có những dấu vết của những người ngoại quốc đã đến vào những thời gian khác nhau. Sau khi đọc bản báo cáo này, viên Phó Vương liền nghĩ đến một cuộc thăm dò có hệ thống hơn. Muốn vậy, ông ta mượn người đồng nghiệp của mình là Phó Vương Min Tchen, chiến tàu tuần dương Yuen K’ai và Lãnh sự Pháp báo cáo là “Đô đốc Li được yêu cầu hết sức giúp đỡ các người thăm dò”. Do đó, đoàn thăm dò Trung Quốc mới đã rời Hồng Kông ngày 21-5-1909 và trở lại Quảng Châu ngày 9-6 với thái độ khá thất vọng. Tuy nhiên, phái đoàn đó đã kéo lên các hòn đảo lá cờ Trung Quốc và đã biểu thị chủ quyền của người Trung Quốc ở đó. Sau đó, các nhà chức trách Quảng Châu đã dự kiến phát triển thương mại điạ phương trên quần đảo Hoàng Sa. Câu chuyện này chứng tỏ người Trung Quốc cho tới thời điểm đó ít hiểu về các quần đảo, bởi vì phái đoàn đầu tiên là một phái đoàn thăm dò và đến lúc họ không tin chắc vào các quyền của họ đối với các đảo vì họ khẳng định các quyền đó bằng những hành vi tượng trưng. Các tài liệu Trung Quốc đã đưa ra một cách giải thích khác về sự kiện này (36), coi đó là một cuộc kinh lý thanh tra như thể các đảo đã được biết rõ. Và để biện minh cho việc kéo cờ và bắn súng (điều này được thừa nhận), họ nói là để khẳng định lại chủ quyền của Trung Quốc, chữ “lại” (chữ Pháp là “ré” trong chữ réitération – ND) gợi ý rằng buổi lễ như vậy trước đây đã được tiến hành, nhưng không bao giờ nói khi nào và như thế nào. Có sự mâu thuẫn về thời gian của chuyến đi của đô đốc Li, một số tác giả cho là kéo dài đến một tháng (37). P.A. Lapique, khi đó cư trú tại Hồng Kông đã đưa ra giải thích của ông về các sự kiện 1909 như sau: “Vấn đề quần đảo Hoàng Sa, tôi có một số kỷ niệm cá nhân cách đây khoảng hai chục năm; cuối năm 1908, khi đang cư trú ở Hồng Kông, tôi gặp những bạn người Quảng Châu đang có dự kiến tiến hành một cuộc viễn du tới quần đảo Paracels. Vấn đề là kiểm tra lại một số lời quả quyết cho rằng các quần đảo có đầy phân chim và trai ngọc thì chất đống xung quanh những đá ngầm; dường như danh nghĩa người Pháp của tôi làm họ quan tâm nhiều hơn là danh nghĩa thủy thủ của tôi để đi đến các đảo đó. Cuộc phiêu lưu đã kích thích tôi rất nhiều, nhưng tôi vẫn không thể tham gia, vì Công ty mà tôi đang phụ thuộc đã có quyết định khác. Công ty cử tôi đi Tây Tạng vào thời gian có cuộc đi quần đảo Hoàng Sa.
Tuy nhiên, tôi vẫn nắm được một phần chuyện gì xảy ra với các dự tính trên; một cuộc thám hiểm quần đảo Hoàng Sa đã tiến hành vào tháng 5 – 6 nhưng không còn mang tính chất riêng tư nữa. Có thể là cuộc thám hiểm này không liên quan gì đến dự án ban đầu.
Vào thời gian này, sự xúc động gây ra ở Trung Quốc do các yêu sách của người Nhật đối với các đảo Đông Sa còn chưa lắng dịu. Bằng cách tổ chức một cuộc thám hiểu các đảo Paracels, hay bằng cách thực hiện một cuộc sát nhập giả vờ, chắc chắn là các nhà chức trách muốn gỡ lại thể diện. Dù sao đi nữa vẫn có một cuộc thám hiểm và cuộc thám hiểm này đáng được tường thuật. Vào cuối tháng 5 - 1909, hai pháo hạm nhỏ ở Quảng Châu chuẩn bị ra khơi, trên tàu có hai người Đức thuộc Maison Carlowitz, ngoài ra còn có các thủy thủ Trung Quốc, trong đó hình như có một đô đốc “đường sông”, nếu như hạm đội nhỏ đó, nhờ có đất liền che chắn, đến được cảng Du Lâm, một cảng ở phía nam đảo Hải Nam một cách khá dễ dàng, thì nó vẫn bị nghẽn ở đó đến nửa tháng, chắc là để chờ ra khơi khi các đợt gió “Fong-Sani” trở nên thuận lợi và không làm cho các nhà hàng hải dũng cảm đó say sóng. Cuối cùng, ngày 6-6 (tức là ngày 19 âm lịch), phái đoàn trông thấy một đảo trong quần đảo Hoàng Sa rồi thăm vài đảo, và đến ngày 7-6, lúc 4 giờ chiều, hai pháo hạm thẳng đường quay lại Quảng Châu như tờ báo Kouo Che Pao (tờ báo lớn nhất Quảng Châu) cho biết trong một bài báo ngày 20-6- 1909”.Và tác giả châm biếm kể tiếp: “Dường như chính quyền Pháp, nếu biết tin này, cũng sẽ không xúc động lắm về cách biểu lộ đó. Tuy nhiên, lẽ ra họ cần tiến hành nghiên cứu kỹ về phái đoàn này, ít nhất là để dạy cho Cục Thủy văn của Hải quân Quốc gia của chúng ta các phương pháp cho phép chỉ trong vòng 36 giờ thực hiện việc thăm dò và lập bản đồ tổng quát của quần đảo Hoàng Sa, cộng thêm 15 bản đồ chi tiết khác của các đảo đó, và ngoài ra còn có 10 ảnh chụp, không kể đến việc nghiên cứu hai cảng thương mại và một cầu nối liền hai đảo!!!”. P.A. Lapicquie nói thêm rằng cho đến năm 1920 không có chuyện gì khác xảy ra trừ việc qua lại của các tàu tuần tra của Hải quân Đông Dương, các tàu này thỉnh thoảng đến thăm các đảo, các quần đảo và không có điều gì tương ứng với việc quản lý các đảo. ___________________________________________________________________________________________________ 35. Văn thư đề ngày 4-5-1909 của Lãnh sự Pháp ở Quảng Châu, xem phụ lục số 13. 36. Tạp chí tin tức Trung Quốc học, số 8, tr.17. 37. Chu Kiện, Sdd, tr.277. Cũng theo hướng đó, M.S. Samuels: Tranh chấp biển Nam Trung Hoa, tr. 53-54. .... (còn tiếp)
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Năm, 2011, 12:12:23 pm gửi bởi thanhh63 »
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
baokhanhnbk
Thành viên

Bài viết: 1089
|
 |
« Trả lời #307 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2011, 02:30:27 pm » |
|
Trưa nay 27/05/2011 trên VTV1 thời sự lúc 12h có đưa tin tàu ngư chính của TQ với thiết bị chuyên dùng đã cố tình đâm hỏng thiết bị cáp thông tin của tàu khoan thăm dò tài nguyên biển của VN trên biển Đông thuộc vùng chủ quyền lãnh hải của VN,VTV đã lên tiếng phản đối và cho rằng đây là hành động xâm hại chủ quyền an ninh trên biển nghiêm trọng nhất của phía TQ đối với VN trong thời gian gần đây. Bác nào có thêm thông tin về việc này thì đưa lên cho mọi người cùng biết.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
babyphu
Thành viên

Bài viết: 50
|
 |
« Trả lời #308 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2011, 02:34:26 pm » |
|
Trưa nay 27/05/2011 trên VTV1 thời sự lúc 12h có đưa tin tàu ngư chính của TQ với thiết bị chuyên dùng đã cố tình đâm hỏng thiết bị cáp thông tin của tàu khoan thăm dò tài nguyên biển của VN trên biển Đông thuộc vùng chủ quyền lãnh hải của VN,VTV đã lên tiếng phản đối và cho rằng đây là hành động xâm hại chủ quyền an ninh trên biển nghiêm trọng nhất của phía TQ đối với VN trong thời gian gần đây. Bác nào có thêm thông tin về việc này thì đưa lên cho mọi người cùng biết.
Tới giờ này ngoài VTV thì chỉ có báo này đưa tin http://www.vietnamplus.vn/Home/Tau-hai-giam-Trung-Quoc-vi-pham-lanh-hai-Viet-Nam/20115/91358.vnplus
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Su30MK2V
Thành viên

Bài viết: 158
Tôn trọng và khiêm tốn
|
 |
« Trả lời #309 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2011, 02:47:03 pm » |
|
Tàu hải giám TQ vi phạm lãnh hải VNNgày 27/5, trong cuộc trả lời phỏng vấn báo chí tại Hà Nội, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) Đỗ Văn Hậu đã thông báo việc sáng 26/5, các tàu hải giám Trung Quốc đã vi phạm lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam, gây thiệt hại lớn về kinh tế và cản trở hoạt động của PVN. Thực hiện kế hoạch PVN đã phê duyệt chương trình thăm dò khai thác dầu khí năm 2011, Tổng công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí, một thành viên của PVN, đã cử tàu địa chấn Bình Minh 02 triển khai khảo sát địa chấn tại khu vực lô 125, 126, 148, 149 ở thềm lục địa miền Trung của Việt Nam. Cả 4 lô này đều nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Tàu địa chấn Bình Minh 02 đã khảo sát hai đợt tại đây, đợt 1 vào năm 2010 và đợt 2 bắt đầu từ ngày 17/3/2011. Quá trình khảo sát những ngày vừa qua được tiến hành trôi chảy và tàu Bình Minh đã thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, vào lúc 5 giờ 5 phút ngày 26/5, rađa tàu địa chấn Bình Minh 02 đã phát hiện có tàu lạ đang chuyển động rất nhanh về phía khu vực khảo sát và sau đó 5 phút thì phát hiện tiếp 2 tàu nữa đi từ phía ngoài vào. Đó là ba tàu hải giám của Trung Quốc chạy thẳng vào khu vực khảo sát mà không có cảnh báo. Trên cơ sở tốc độ di chuyển của tàu hải giám Trung Quốc, tàu Bình Minh thấy có khả năng sẽ ảnh hưởng đến thiết bị của tàu nên đã quyết định hạ thấp thiết bị để tránh thiệt hại. Vào lúc 5 giờ 58 phút, tàu hải giám Trung Quốc đã chủ động chạy qua khu vực thả dây cáp, cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02. Vị trí mà ba tàu hải giám Trung Quốc phá hoại thiết bị của tàu Bình Minh 02 của PVN, chỉ cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên) khoảng 120 hải lý, nằm hoàn toàn trong vùng lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam. Phó Tổng Giám đốc PVN cho biết thêm ba tàu Hải giám Trung Quốc đã làm ảnh hưởng, cản trở hoạt động bình thường của tàu địa chấn Bình Minh 02; sau đó tiếp tục uy hiếp tàu Bình Minh 02, thông báo là tàu Bình Minh đã vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Nhưng tàu Bình Minh của PVN cương quyết bác bỏ luận điệu của tàu hải giám Trung Quốc và khẳng định rằng tàu Bình Minh đang nằm trong vùng lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam. Tuy nhiên, việc tiếp tục công việc ngay lúc đó của tàu Bình Minh 02 vẫn bị ba tàu Hải giám Trung Quốc cản trở cho tới 9 giờ sáng 26/5 khi 3 tàu này rời khỏi khu vực khảo sát. Tàu Bình Minh 02 và các tàu bảo vệ đã phải dừng công việc trong ngày 26/5 và thu lại các thiết bị bị hỏng để sửa chữa. Dưới sự chỉ đạo của PVN và Tổng công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí, tàu Bình Minh 02 đã sửa chữa thiết bị tại chỗ và tới 6 giờ sáng 27/5, tàu Bình Minh 02 đã trở lại hoạt động. Phó Tổng Giám đốc PVN khẳng định việc các tàu hải giám Trung Quốc vào rất sâu trong lãnh hải của Việt Nam để phá hoại, cản trở các hoạt động thăm dò khảo sát bình thường của PVN là một hành động hết sức ngang ngược, vi phạm trắng trợn đối với quyền chủ quyền của Việt Nam, gây thiệt hại lớn về kinh tế và cản trở hoạt động của PVN. PVN đã báo cáo và đề nghị Chính phủ, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có các biện pháp phản đối mạnh mẽ nhất có thể đối với phía Trung Quốc; yêu cầu phía Trung Quốc dừng ngay các hành động cản trở hoạt động của PVN, đồng thời hỗ trợ PVN thực hiện nhiệm vụ thăm dò, khai thác của mình. PVN khẳng định các công việc khảo sát địa chấn ở khu vực này sẽ được tiến hành bình thường vì đây là khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam. PVN sẽ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan để bảo đảm cho hoạt động của tàu Bình Minh 02 được hiệu quả, an toàn. Tàu địa chấn Bình Minh 02 được PVN đầu tư trang bị từ năm 2008 và đã tiến hành các đợt khảo sát trên vùng thềm lục địa thuộc chủ quyền của Việt Nam./. (TTXVN/Vietnam+) Xin hỏi hải quân của ta ở đâu                  Ra đa bờ biển và cảnh sát tuần biển của ta ở đâu           ? Từ 5 giờ sáng đến 9 giờ sáng mà ta không có thêm cái tàu hải quân nào xua đuổi hay bắt luôn chúng nó hay sao ? 4 tiếng đồng hồ đủ để đổ bộ cả tiểu đoàn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|