Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:32:35 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 2  (Đọc 422037 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #530 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2011, 07:57:47 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________
( tiếp theo )
....

Cuối năm 1925, quần đảo này là đối tượng của một chuyến công cán của M. Krempf. Giám đốc Viện Hải dương học Đông Dương.

Các hoạt động khác nhau này đã thể hiện sự quan tâm thật sự. Tuy nhiên, người ta có thể tự hỏi liệu sự quan tâm có đủ rõ ràng để có giá trị một ý định chủ quyền không.

Sự không chắc chắn còn dai dẳng một thời gian về các ý định của Pháp.

Cũng trong thời kỳ này, cho đến cuối những năm 1920, các thư từ ngoại giao (và các tư liệu lưu trữ khác) đã chứng tỏ sự do dự của Pháp đối với các quần đảo hay nói chính xác hơn với quần đảo Hoàng Sa vì ít khi có vấn đề quần đảo Trường Sa trong các tư liệu đó.

Trong một văn thư của Lãnh sự quán Pháp ở Quảng Châu ngày 4-5-1909 (nghĩa là cuộc viễn du của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa), có nói: “Ông M. Beauvais cho rằng Pháp cũng có những quyền như Trung Quốc đối với các đảo này và chúng ta dễ dàng có các luận chứng hỗ trợ cho các yêu sách của chúng ta. Nhưng nếu điều đó là không đáng công sức, theo ông ta, có lẽ nên nhắm mắt làm ngơ trước các sự việc hiện nay vì một sự can thiệp của chúng ta có thể làm nảy sinh trong dân chúng một phong trào mới của chủ nghĩa Sôvanh có thể còn hại cho chúng ta nhiều hơn việc chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa có lợi đối với chúng ta” (43).

Ý kiến này còn dai dẳng đến tận cuối những năm 20 với những sắc thái khác nhau tùy theo thể hiện của các nhà chức trách. Nhìn chung, nước Pháp vẫn chưa coi mình là người thừa kế các quyền của nước An Nam và không biết sự vững chắc mà các quyền đó đã có; nước Pháp có thể là “ứng cử viên” về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa nhưng không phải với cái giá làm xấu đi quá nhiều các quan hệ của Pháp với Trung Quốc.

Điểm này rất rõ trong một văn thư của Bộ ngoại giao đã nói trên, trong đó nhắc lại quan điểm của ông Beauvais với câu sau: “Bộ chúng tôi đã đồng ý với ông Beauvais và chúng tôi đã để mặc cho người Trung Quốc hành động” (44).

Vì mười hai năm đã trôi qua kể từ ngày có ý kiến của ông Beauvais đến ngày có công văn nói trên, sự không quan tâm của Pháp như vậy là rất rõ rệt.

Có sự xốn xao chút ít được tạo ra và các lập trường bắt đầu trái ngược là do sự kiện P.A. Lapicque kể lại được nói đến ở phần trên. Một công ty Nhật Bản muốn khai thác phốt phát ở đảo Phú Lâm và ngày 20/9/1920 đã gửi đơn cho viên chỉ huy Hải quân ở Sài Gòn để được biết quần đảo Hoàng Sa có thuộc sở hữu của Pháp hay không. Và đơn đó chứng tỏ vào thời điểm này, Nhật Bản lo ngại các quyền có thể có của Pháp.

Trong thư trả lời của mình, ông chỉ huy Hải quân ở Sài Gòn khẳng định: “Trong các tư liệu chính thức của Hải quân không có văn bản nào cho phép xác định quốc tịch của quần đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên, tôi cho rằng, có thể bảo đảm với ông là chúng không thuộc sở hữu Pháp. Nhưng sự khẳng định này chỉ dựa trên các ký ức cá nhân của tôi và không thể cung cấp cho ông bất cứ tư liệu bằng chứng có giá trị nào”.

Viên chỉ huy hải quân đã thận trọng, chúng ta thấy điều đó bởi vì ông ta nhận thức được rằng ông ta không có thẩm quyền để phán định.

Trong chừng mực báo chí hồi đó có nói đến việc Pháp không yêu sách, Bộ Thuộc địa được báo động và yêu cầu Bộ Ngoại giao cho thêm các tin tức.
________________________________________________________________________________________________
43.   Xem phụ lục số 17
44.   Xem phụ lục số 16
.....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #531 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2011, 10:33:00 pm »

Chiến lược "đàm phán" và "đe dọa vũ lực" của Trung Quốc
"Nếu các nước ASEAN không thống nhất quan điểm, Trung Quốc sẽ có nhiều lợi thế để thực hiện chiến lược của mình, phân hóa ASEAN, tiến tới giành quyền kiểm soát thật sự trên Biển Đông", Tiến sĩ Nguyễn Toàn Thắng, Khoa Pháp luật quốc tế - ĐH Luật Hà Nội, phân tích.

Đánh giá mục đích chiến lược của Trung Quốc

Về phương diện pháp lý quốc tế, Trung Quốc không thể biện minh cho hành vi vi phạm luật quốc tế của ba tàu hải giám Trung Quốc. Vậy mà Trung Quốc vẫn "ngang nhiên" cho rằng những tàu đó đang thực hiện "hoạt động chấp pháp bình thường" trên biển. Kết nối sự kiện tàu Bình Minh 02 với các hoạt động của Trung Quốc trên Biển Đông trong thời gian qua, có thể thấy rõ cách hành xử và ý định của Trung Quốc.

Thử thái độ Việt Nam và các nước ASEAN: Với hành động trực tiếp xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, Trung Quốc đã tiến thêm một bước mới trong "phép thử" Việt Nam và ASEAN để dần "hiện thực hóa" tham vọng tại Biển Đông, nhằm khẳng định cái mà Trung Quốc gọi là "chủ quyền" của họ. Mức độ phản ứng của Việt Nam và ASEAN trong trường hợp này sẽ là cơ sở để Trung Quốc xem xét các bước đi tiếp theo. Nếu Việt Nam phản ứng không dứt khoát, không kiên quyết bảo vệ quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình; nếu ASEAN giữ quan điểm "không can thiệp" và nếu các quốc gia Đông Nam Á chỉ đứng ngoài "quan sát", Trung Quốc sẽ tiếp tục có những hành động tương tự trong thời gian tới. Với lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015, ASEAN cần chứng tỏ vai trò của một tổ chức quốc tế khu vực, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia thành viên.

Mục tiêu hiện thực hóa "đường lưỡi bò", tiến tới bá chủ trên Biển Đông: Trong thời gian qua, Trung Quốc thường thực hiện các hành vi "gây hấn" tại những vùng biển tranh chấp. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc công khai phá hoại, cản trở hoạt động thăm dò khai thác dầu khí bình thường của Việt Nam tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, đồng thời "ngang nhiên" tuyên bố đó là "khu vực tranh chấp", "khu vực thuộc quyền quản lý" của Trung Quốc. Hành động trên cho thấy Trung Quốc đang cố tình đánh lạc hướng dư luận, khiến cộng đồng quốc tế hiểu lầm Việt Nam và tình hình trên Biển Đông. Đây là bước leo thang mới của Trung Quốc, thể hiện rõ tham vọng kiểm soát toàn bộ vùng biển này mà trước hết là mục tiêu của Trung Quốc trong việc: biến việc tàu hải giám Trung Quốc thực hiện hành vi vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam thành việc tàu thăm dò Việt Nam xâm phạm vùng biển của Trung Quốc; biến các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam, thiết lập phù hợp với quy định của Công ước Luật biển năm 1982, thành "vùng biển thuộc quyền quản lý" của Trung Quốc – một khái niệm chưa từng tồn tại và không được ghi nhận trong Công ước Luật biển năm 1982; biến khu vực không có tranh chấp, hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, thành khu vực tranh chấp. Trung Quốc đang cố gắng tạo ra tiền lệ về tranh chấp trên một khu vực vốn không hề có tranh chấp, tiến tới "tranh chấp hóa" toàn bộ Biển Đông. Đây là chiến lược củng cố và hiện thực hóa yêu sách "đường lưỡi bò" mà Trung Quốc đã chính thức tuyên bố năm 2009. Vì vậy, Việt Nam và các nước ASEAN cần có thái độ cương quyết trước "phép thử" của Trung Quốc.

Chiến lược "đàm phán" và "đe dọa sử dụng vũ lực" của Trung Quốc: Hành động của Trung Quốc trong vụ Bình Minh 02 là tương đối nhất quán với cách ứng xử của quốc gia này trong thời gian gần đây. Một mặt, Trung Quốc thể hiện ý định giải quyết thông qua đàm phán song phương, không muốn mở rộng vấn đề theo cách mà Trung Quốc gọi là "gây không khí căng thẳng", mặt khác Trung Quốc tiến hành các biện pháp "gây hấn" trên thực địa, ra dấu hiệu mạnh mẽ về quân sự để khẳng định vai trò của mình. Chiến lược này được Trung Quốc áp dụng không chỉ đối với Việt Nam mà đối với các quốc gia ASEAN khác. Vì vậy, nếu các nước ASEAN không thống nhất quan điểm, Trung Quốc sẽ có nhiều lợi thế để thực hiện mục tiêu của mình, phân hóa các nước ASEAN, tiến tới giành quyền kiểm soát thật sự trên Biển Đông.

Các giải pháp cho Việt Nam

Là thành viên của Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước Luật biển năm 1982 cũng như Tuyên bố về ứng xử của các bên tại biển Đông (DOC), Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của luật quốc tế, kiên trì con đường hòa bình, giải quyết các vấn đề phát sinh trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Đối với các tranh chấp trong Biển Đông, Việt Nam luôn giải quyết bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực và không có hành động làm phức tạp thêm tình hình.

Tuy nhiên, tại các vùng biển không phải là khu vực tranh chấp, hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển, Việt Nam có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết, phù hợp với quy định của Công ước Luật biển năm 1982 để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, buộc các chủ thể vi phạm phải tuân thủ và tôn trọng. Điều 73 của Công ước quy định "Trong việc thực hiện các quyền thuộc chủ quyền (…) của vùng đặc quyền về kinh tế, quốc gia ven biển có thể thi hành mọi biện pháp cần thiết, kể cả việc khám xét, kiểm tra, bắt giữ và khởi tố tư pháp để bảo đảm việc tôn trọng các luật và quy định mà mình đã ban hành theo đúng Công ước".

Trước tham vọng kiểm soát Biển Đông, hiện thực hóa "đường lưỡi bò" của Trung Quốc, Việt Nam cần có những biện pháp thích đáng ở các cấp độ khác nhau: song phương, khu vực và toàn cầu. Một măt, chúng ta kiên trì theo đuổi các biện pháp hòa bình, phù hợp với quy định của luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển năm 1982, nhưng kiên quyết, không khoan nhượng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đã được Công ước thừa nhận.

Mặt khác, Việt Nam cần sử dụng hiệu quả cơ chế khu vực, thông qua vai trò của ASEAN để giải quyết vấn đề Biển Đông. Với tư cách là tổ chức quốc tế khu vực Đông Nam Á, ASEAN cần có tiếng nói, thể hiện rõ quan điểm đối với hành vi vi phạm luật quốc tế của Trung Quốc, xâm phạm đến quyền chủ quyền và quyền tài phán của một quốc gia thành viên ASEAN – Việt Nam. Trên thực tế, Trung Quốc đã, đang và sẽ áp dụng chính sách vừa "xoa dịu", vừa "đe dọa" đối với từng quốc gia thành viên ASEAN để thực hiện tham vọng tại Biển Đông. Vì vậy, sự đồng thuận của 10 quốc gia ASEAN trong thời điểm này là hết sức cần thiết, và đó sẽ là một điểm tựa vững chắc để đối phó với chính sách ngày càng leo thang của Trung Quốc. Bên cạnh đó, Việt Nam cần tranh thủ sự ủng hộ của các nước tại các diễn đàn đa phương, đặc biệt là Liên hợp quốc để cộng đồng quốc tế hiểu đúng về tình hình Biển Đông, hiểu đúng chiến lược "tranh chấp hóa" Biển Đông của Trung Quốc, cũng như hành vi vi phạm của Trung Quốc tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.

Dưới góc độ luật quốc tế, Việt Nam và Trung Quốc có thể thỏa thuận đưa vụ việc ra giải quyết tại cơ quan tài phán quốc tế. Trong trường hợp không có thỏa thuận của Trung Quốc, Việt Nam có quyền khởi kiện theo cơ chế của Công ước Luật biển năm 1982, buộc quốc gia này bồi thường thiệt hại cho phía Việt Nam.

Trong vụ Bình Minh 02, tàu hải giám Trung Quốc thực hiện hành vi cắt cáp, cản trở hoạt động thăm dò khai thác dầu khí của tàu Bình Minh 02 tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Đối với Việt Nam, hành động của Trung Quốc là vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, phù hợp với quy định tại các điều 56, 58, 76 và 77 của Công ước Luật biển năm 1982. Trong khi đó, Trung Quốc cho rằng "việc phía Việt Nam tiến hành hoạt động thăm dò dầu khí tại vùng biển do Trung Quốc quản lý đã làm tổn hại lợi ích và quyền quản lý của Trung Quốc". Hành động của phía Trung Quốc là "hoạt động giám sát và chấp pháp trên biển" trong vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc. Như vậy, tranh chấp phát sinh giữa Việt Nam và Trung Quốc liên quan đến việc giải thích và áp dụng các điều 56, 58, 76 và 77 của Công ước về việc thực hiện quyền chủ quyền của quốc gia ven biển đối với hoạt động thăm dò khai thác nguồn tài nguyên dầu khí ở đáy biển và lòng đất dưới đáy bên dưới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Tranh chấp này không liên quan đến các tranh chấp được đề cập trong tuyên bố ngày 25/8/2006 của Trung Quốc, cụ thể (i) không liên quan đến vấn đề phân định biển; (ii) không liên quan đến hoạt động quân sự; (iii) không liên quan đến hoạt động nghiên cứu khoa học biển; (iv) không liên quan đến hoạt động đánh bắt hải sản và (v) không thuộc thẩm quyền của Hội đồng bảo an. Việt Nam và Trung Quốc đều không có tuyên bố lựa chọn các cơ quan tài phán nên sẽ được xác định là chấp nhận thẩm quyền của Tòa án trọng tài thành lập theo Phụ lục VII của Công ước. Vì vậy, Việt Nam có thể chuẩn bị hồ sơ, khởi kiện Trung Quốc theo thủ tục trọng tài nói trên.

Tóm lại, việc Trung Quốc cho tàu hải giám căt cáp thăm dò, cản trở hoạt động của tàu Bình Minh 02 khi tàu này đang hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam là hành vi vi phạm nghiêm trọng Công ước Luật biển năm 1982. Tuy nhiên, đây có thể chỉ là bước "khởi đầu" của chiến lược hiện thực hóa "đường lưỡi bò" của Trung Quốc. Trước nguy cơ này, Việt Nam cần thể hiện thái độ kiên quyết, giải quyết mọi xung đột, mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và tuân thủ luật pháp quốc tế, nhưng đấu tranh không khoan nhượng, thực hiện mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích quốc gia, mà cụ thể đã được ghi nhận trong Công ước Luật biển năm 1982.
Theo VNE
Tin đăng lại

Nguồn: http://vitinfo.vn/MMuctin/Quocte/Quanhequocte/LA89349/default.html
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #532 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2011, 10:42:54 pm »

Shangri-La: Truyền thông Trung Quốc tiếp tục đánh lạc hướng dư luận
Diễn đàn an ninh Shangri-La đã kết thúc ngày hôm qua 5/6 với nhiều đánh giá khác nhau, tuy nhiên một chủ đề được công luận đặc biệt quan tâm là tranh chấp chủ quyền biển Đông và những sự kiện Trung Quốc gây căng thẳng đã có những ngã rẽ bất ngờ thay vì một hướng giải quyết cụ thể giữa các bên.

Trung Quốc "đột ngột" thay đổi thái độ
 
Sự kiện tàu Hải giám Trung Quốc xâm phạm vùng biển chủ quyền Việt Nam và cắt đứt cáp tàu Bình Minh 2 khiến quan hệ ngoại giao 2 nước trở nên căng thẳng, Bộ Ngoại giao Trung Quốc vẫn khăng khăng giọng điệu cũ coi vùng biển chủ quyền của Việt Nam là của mình, đồng thời thản nhiên coi việc vào nhà người khác phá phách là chuyện "bình thường".
 
Khác với thái độ khăng khăng, thách thức mà gì bà Khương Du - người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc thể hiện trong những ngày qua, ông Lương Quang Liệt, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc lần đầu tiên dẫn quân tham dự diễn đàn Shangri-La mặc dù nó được tổ chức thường niên từ 2002 đã tỏ ra điềm đạm và khôn ngoan hơn trong cách ứng xử với các nước láng giềng.

Tiếp xúc song phương với đoàn đại biểu Bộ Quốc phòng Việt Nam do Đại tướng Phùng Quang Thanh - Bộ trưởng dẫn đầu, người đứng đầu quân đội Trung Quốc khẳng định, Trung Quốc sẵn sàng thảo luận vấn đề này ở các diễn đàn đa phương và "phản đối các hành động đơn phương", đồng thời khẳng định "quân giải phóng nhân dân Trung Quốc không có hành động can dự nào vào sự việc vừa qua."

Phát biểu đó của ông Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc xét trên khía cạnh nào đó, không sai, nhưng có thể khiến dư luận hiểu sai bản chất vụ việc ngày 26/5. Tàu Hải giám không nằm trong biên chế hải quân/quân đội Trung Quốc mà là tàu vũ trang thuộc Tổng đội Hải giám, cục Hải dương quốc gia Trung Quốc. Lực lượng này được trang bị vũ khí hiện đại và "tuần tra trên biển Đông", khi xảy ra những sự kiện tương tự, sẽ tránh được dư luận xấu và quân đội Trung Quốc "vô can".

Giới truyền thông Trung Quốc lại tiếp tục đánh lạc hướng dư luận

Tờ thời báo Hoàn cầu bản điện tử, một phiên bản của tờ Nhân dân nhật báo Trung Quốc khi đưa tin về cuộc gặp song phương Bộ trưởng Quốc phòng Việt - Trung đã giật tít: "Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam nói không cho phép nước thứ 3 can thiệp vào vấn đề biển Đông và phá hoại quan hệ Việt - Trung".
 
Mặc dù Đại tướng Phùng Quang Thanh vẫn khẳng định, Việt Nam mong muốn hợp tác hữu nghị với Trung Quốc, chủ trương giải quyết tranh chấp biển Đông thông qua đàm phán hòa bình và tôn trọng lẫn nhau, nhưng cũng nêu rõ sự kiện 26/5 khiến nhân dân Việt Nam bức xúc và lãnh đạo Việt Nam quan ngại.

Trong khi Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam đưa sự kiện 26/5 ra diễn đàn trong khuôn khổ bài diễn văn của mình, việc đưa tin như trên của tờ Hoàn cầu hoàn toàn có thể khiến dư luận hiểu theo một nghĩa khác, đặc biệt bài báo còn trích dẫn lời Tô Hạo, một chuyên gia từ đại học Ngoại giao Trung Quốc nhận định: "Các nỗ lực trước của Việt Nam hòng khơi gợi bất đồng trên mức độ quốc gia là vô lý. Thế nhưng lần này họ đã tỏ ra biết điều", một nhận xét võ đoán và xấc xược.

Rất nhiều tờ báo mạng Trung Quốc đã đăng lại bài báo này và ghi nguồn trích dẫn là Nhân dân nhật báo, tuy nhiên khi kiểm tra link gốc thì dường như nó đã bị rút xuống, chỉ để lại trên website thời báo Hoàn cầu, một phiên bản của Nhân dân nhật báo.
 
Có thật Trung Quốc đã "lỡ lời" như  AFP đưa tin?

Trong thời điểm báo chí Trung Quốc "lập lờ đán lận con đen" sự kiện 26/5, hãng tin AFP ngày hôm qua 5/5 đưa một tin vắn với cái tít khá nhiều ý nghĩa: "Trung Quốc lỡ lời (cam kết) duy trì hòa bình, ổn định trên biển Nam Hải (biển Đông)".


Xuồng cao tốc của Việt Nam giải quyết hậu quả vụ tàu Bình Minh 02 bị tàu hải giám Trung Quốc ngang nhiên cắp cắp thăm dò địa chấn

Theo đó, AFP cho rằng trong lúc quan hệ giữa Trung Quốc và các nước tuyên bố chủ quyền trên biển Đông trở nên căng thẳng, việc Bộ trưởng Quốc phòng nước này Lương Quang Liệt tuyên bố: "Trung Quốc nỗ lực duy trì hòa bình và ổn định trên biển Nam Hải (biển Đông)" khi đoàn đại biểu Việt Nam và Philipine đều có mặt là một sự "lỡ lời".

Bản tin được nhiều báo Trung Quốc trích dẫn, và sự "lỡ lời" ấy nhằm mục đích gì? Nếu từ "lỡ lời" ấy được hiểu theo nghĩa đen của nó, AFP đã gián tiếp cho thấy "bộ mặt thật" của Bắc Kinh trong vấn đề biển Đông, đó là nói một đằng, làm một nẻo, gây sự với láng giềng xong gặp nhau lại bảo: "Không có gì!" Tuy nhiên, sự việc không đơn giản như vậy, hãy xem học giả Trung Quốc bình luận như thế nào về động thái này tưởng như ôn hòa này của giới chức Bắc Kinh.

Lý Hiểu Ninh, một chuyên gia quân sự Trung Quốc đã có bài phân tích trên đài Phượng Hoàng, Hồng Kông rất đáng chú ý. Theo chuyên gia này, sự thay đổi góc độ tiếp cận vấn đề ấy của Bắc Kinh là một nước cờ chiến lược khôn ngoan, tách bạch vấn đề biển Đông thành 2 khía cạnh. Một là tranh chấp chủ quyền lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế phải đàm phán song phương, góc độ an ninh và tự do hàng hải, hoan nghênh sự tham gia của Mỹ, Nhật Bản và các quốc gia khác có quan tâm.

Như vậy, Washington có muốn "can thiệp" cũng khó, vì vấn đề an ninh hàng hải mà Mỹ quan tâm, Bắc Kinh không "cấm đoán", nhưng liên quan đến vấn đề chủ quyền thì không để nước nào can dự và phải do Bắc Kinh đàm phán song phương với từng nước. Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi tình hình đã có chút thay đổi bằng việc Trung Quốc vừa cải thiện quan hệ với các nước ASEAN, trong đó có Indonesia, Brunei, Malaysia trực tiếp liên quan đến biển Đông.
 
Tiếp đến, việc Mỹ đang sa lầy tại Iraq, Afghanistan sẽ khó có thể điều động lực lượng quân sự từ Trung Đông qua Đông Á, việc giải quyết tranh chấp biển Đông theo ý đồ của Bắc Kinh sẽ trở nên thuận lợi hơn.
Theo GDVN
Tin đăng lại

Nguồn: http://vitinfo.vn/MMuctin/Quocte/Quanhequocte/LA89316/default.html
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #533 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2011, 11:30:36 pm »

Trung Quốc khó thuyết phục láng giềng

Tại Đối thoại Shangri-la, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt nói nhiều đến hợp tác và trấn an các nước láng giềng, nhưng các nước này vẫn phải nhắc lại yêu cầu Bắc Kinh 'biến lời nói thành việc làm" cụ thể.
Tạp chí Foreign Policy bình luận về cách tiếp cận của Trung Quốc đối với tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông tại hội nghị an ninh châu Á vừa rồi ở Singapore, như sau:

Lần đầu tiên dẫn một phái đoàn lớn đến Singapore, ông Lương Quang Liệt muốn khẳng định với cộng đồng quốc tế về một nước Trung Quốc đang mạnh lên nhưng ôn hòa, không đe dọa ai, và muốn đóng một vai trò tích cực hơn trong môi trường an ninh ở Đông Nam Á. Nhưng những câu từ to tát cộng với việc phủ nhận toàn bộ các hành động trong thời gian gần đây của Trung Quốc đối với các quốc gia nhỏ láng giềng, khiến các đại biểu, các chuyên gia và quan chức chính phủ cảm thấy không thuyết phục.

Ông Lương có bài phát biểu dài 45 phút, nói về các chính sách của Quân Giải phóng PLA đối với các vấn đề khu vực, trong đó có biển Đông; công cuộc hiện đại hóa quân đội Trung Quốc; hợp tác an ninh trong vùng. Ông cũng nhận và trả lời câu hỏi của báo chí, tỏ ra rất vui mừng trước mối quan hệ giữa Trung Quốc với các nước láng giềng.

"Hơn ai hết, Trung Quốc muốn có ổn định và hòa bình trong khu vực. Chúng tôi phản đối bất kỳ hành động nào có thể dẫn đến bất ổn khu vực hoặc làm giảm lòng tin giữa các nước láng giềng. Trung Quốc theo đuổi chính sách xây dựng tình hữu nghị và đối tác với các nước láng giềng", ông Lương nói.


Một tàu ngầm của Trung Quốc gần căn cứ tàu ngầm ở đảo Hải Nam. Vị trí của căn cứ tàu ngầm này cho phép các chiến hạm Trung Quốc nhanh chóng triển khai - trong vòng 20 phút - ra Biển Đông, nơi có các tuyến đường hàng hải bận rộn hạng nhất thế giới và là vùng biển rất giàu tài nguyên. Ảnh: FP.

Tuy thế ông Lương không công nhận bất kỳ hành động nào trong thời gian gần đây mà Trung Quốc đã thực hiện đối với các nước Đông Nam Á, khiến cử tọa gồm các quan chức quân sự và chuyên gia cao cấp đến từ 35 đoàn thất vọng. Hai bộ trưởng quốc phòng Việt Nam và Philippines, phát biểu ngay sau ông Lương, đã đưa ra những phản bác công khai và sắc bén đối với thái độ của Trung Quốc.

"Chúng tôi luôn luôn trông đợi Trung Quốc tôn trọng các chính sách mà họ đã công bố với thế giới, chúng tôi mong rằng những lời tuyên bố đó sẽ được biến thành sự thực", Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh nói. Ông đề cập việc tàu của Việt Nam hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam bị tàu Trung Quốc cắt cáp.

Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Voltaire Tuvera Gazmin thậm chí còn mạnh mẽ hơn nhiều, và kêu gọi sự hiện diện quân sự mạnh hơn của Mỹ trong khu vực. Gazmin tố cáo Trung Quốc nhiều lần có hành động đe dọa các thuyền đánh cá của Philippines ở gần các đảo mà Manila tuyên bố chủ quyền ở Trường Sa.

"Những hành động đó gây bất an không chỉ cho chính phủ, mà còn quấy rối những người dân thường, những người vốn phải dựa vào môi trường biển để mưu sinh", Gazmin nói.

Trung Quốc đang cố làm dịu hình ảnh của mình ở Đông Nam Á, sau sự thoái trào trong mối quan hệ gây ra bởi lập trường cứng rắn của Bắc Kinh đối với các vấn đề khu vực, chẳng hạn như các tuyên bố "đường lưỡi bò" hay "lợi ích cốt lõi".

"Đó là sự lấy lòng. Mục tiêu của ông Lương là tránh tấn công hay chiến đấu với bất cứ ai và cố xóa đi những dấu vết của thái độ mạnh bạo trong hai năm qua. Họ đã nhận ra rằng cách thức đó không có lợi cho họ", một đại biểu Mỹ nói.

Tuy nhiên các hành động trên thực địa lại khiến người ta khó tin rằng Trung Quốc đang dành sự quan tâm hoàn toàn cho việc thương thảo tìm giải pháp.

"Tôi không cho là bài phát biểu đó trấn an được ai. Nó không giải đáp được những câu hỏi và mối quan ngại mà các nước láng giềng đang đặt ra trước thái độ của Trung Quốc", đại biểu nói trên bình luận.

Trong Đối thoại lần này, cả Mỹ và Trung Quốc dùng những lời lẽ nồng ấm, không đả động đến chuyện gây bất đồng đôi bên là vấn đề Đài Loan. Hai thế lực quân sự lớn nhất ở châu Á Thái bình dương đã hết sức tránh không để mếch lòng nhau.

"Thông điệp của ông Lương nhấn mạnh quyết tâm đi theo con đường phát triển hòa bình và sẵn sàng ủng hộ an ninh khu vực", Bonnie Glaser, nghiên cứu viên cao cấp của Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế nhận xét.

"Tất cả những lời to tát trong bài phát biểu của ông Lương là nhằm trấn an khu vực", một đại biểu khác của Mỹ nói. "Nhưng, theo dõi việc hỏi đáp, thì thấy có một số câu hỏi không được giải đáp và điều đó gây quan ngại, nó cho thấy khoảng cách giữa lời nói với việc làm trong thái độ của Trung Quốc ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) và quá trình hiện đại hóa quân đội của họ".

Mai Trang (lược dịch)

Nguồn: http://vnexpress.net/gl/the-gioi/phan-tich/2011/06/trung-quoc-kho-thuyet-phuc-lang-gieng/
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #534 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2011, 12:03:45 am »

"Thế kẹt" của Trung Quốc ở Biển Đông

“Vượng báo” (Đài Loan) ngày 4/6 cho biết, Biển Đông có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với Trung Quốc cũng như các nước xung quanh. Cùng với sự trỗi dậy mạnh mẽ, Trung Quốc ngày càng chú ý tới Biển Đông và đang thúc đẩy các hành vi tích cực bảo vệ lợi ích của mình. Tuy nhiên, Trung Quốc đang lâm vào tình thế “đánh không được, đàm không xong, kéo không thể” trong chính sách đối với Biển Đông.

"Đánh không được” tức là không thể khai chiến, nếu không cho dù thế nào, hình tượng "trỗi dậy hòa bình" của Trung Quốc sẽ mất đi và không thể lấy lại, cơ hội phát triển hòa bình của Trung Quốc cũng sẽ không còn. Do vậy, Trung Quốc tuyệt đối sẽ không tuyên chiến nếu chưa bị ép.

“Đàm không xong” nhằm chỉ việc các nước liên quan thường áp dụng lập trường “không đàm phán” đối với tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải. Hơn nữa, đàm phán lãnh hải và đàm phán biên giới trên bộ khác rất xa về bản chất, đàm phán lãnh hải liên quan đến lợi ích kinh tế to lớn, do vậy mà càng khó khăn hơn. Phương thức đàm phán còn nhiều tranh cãi, lại thêm sự can thiệp tích cực của Mỹ, tình hình càng trở nên phức tạp. Đàm phán mặc dù là biện pháp cần thiết, song chỉ dựa vào đàm phán sẽ rất khó bảo vệ lợi ích của bản thân. Do vậy, ngoài việc tích cực đàm phán, còn cần phải sử dụng các biện pháp đồng bộ khác.

“Kéo không thể”, tức không thể để vụ việc kéo dài, trong tình trạng hiện nay, nếu Trung Quốc không bắt tay vào xử lý, sau này xử lý sẽ càng bất lợi và càng phức tạp.

Hiện trạng chiếm hữu Biển Đông của Trung Quốc hiện vô cùng bất lợi, trong số các đảo (và dải đá ngầm) ở Biển Đông, có đảo Thái Bình (Ba Bình của Việt Nam) do Đài Loan chiếm giữ, các đảo khác đều do Việt Nam chiếm giữ, Trung Quốc chỉ kiểm soát được 8 “dải đá ngầm”. Tiếp đó, toàn bộ trên 1.000 giếng khoan dầu ở Biển Đông hiện nay đều do Việt Nam và các nước khác cùng nhau xây dựng, Trung Quốc không có lấy một giếng. Bên cạnh đó, ngư dân Trung Quốc tác nghiệp trong vùng biển này thường xuyên bị tàu ngư chính các nước khác truy đuổi.

Do các nhân tố trên, thái độ và hành vi của Trung Quốc tại khu vực Biển Đông gần đây đã chuyển hướng tích cực hơn, chủ động hơn. Hành vi chủ yếu của Trung Quốc bao gồm 5 hạng mục:

Thứ nhất, tăng cường bổ sung cơ sở pháp lý cho “đường lưỡi bò”. Nhấn mạnh rằng “đường lưỡi bò” do Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc công bố năm 1947, cộng đồng quốc tế khi đó không có ý kiến khác nào, các nước Đông Nam Á xung quanh cũng chưa từng đưa ra kháng nghị ngoại giao, có nghĩa đã mặc nhận sự tồn tại của “đường lưỡi bò”.

Trước đó, chính quyền nhà Thanh đã từng cử hải quân đến quần đảo thị sát vào năm 1909 và kéo lên quốc kỳ Trung Quốc ở đảo Vĩnh Hưng (Phú Lâm của Việt Nam), báo cho thế giới biết đã chiếm lĩnh được nó. Mùa thu năm 1946, kháng chiến thắng lợi, Bộ tư lệnh hải quân của chính quyền Trung Hoa Dân Quốc đã cử tàu quân sự đến quần đảo Tây Sa và Nam Sa. Tháng 11 thu phục đảo Vĩnh Hưng, xây dựng “Bia kỷ niệm Hải quân Trung Quốc thu phục quần đảo Tây Sa”, tháng 12 thu phục “đảo Thái Bình” và đặt hòn đá “đảo Thái Bình quần đảo Nam Sa” ở phía Đông đảo. Tiếp đó, những người đi tiếp nhận đã đến đảo Trung Nghiệp (Thị Tứ của Việt Nam), đảo Tây Nguyệt (đảo Dừa của Việt Nam) và Nam Uy (Trường Sa của Việt Nam), lần lượt dựng bia xác định chủ quyền.

Thứ hai, lấy cọ sát để thể hiện tính bức thiết của đàm phán. Đối với cách làm của các nước xung quanh như dùng vũ lực chiếm hữu, tăng tốc khai thác, tạo ra sự việc đã rồi, Trung Quốc không ngừng cọ sát để thể hiện tranh chấp, cho thấy đàm phán là hết sức cần thiết, có đàm phán mới có thể tìm ra sự thỏa hiệp. Đối với Trung Quốc, cách làm này ít nhất cũng có thể tránh được thất bại.

Thứ ba, lấy sức mạnh kiểm soát cọ sát, bảo đảm giải quyết hòa bình. Trung Quốc không ngừng tăng cường sức mạnh quân sự tại Biển Đông, ngoài tàu sân bay Varyag sắp được hạ thủy, Trung Quốc còn không ngừng gia tăng trọng tải cùng trang bị vũ khí cho đội tàu hải chính, trang bị vũ khí cho đội tàu ngư chính đủ năng lực đối kháng với hải quân các nước xung quanh, như vậy mới bảo đảm đủ sức giải quyết tranh chấp một cách hòa bình.

Bốn là, khởi động các hoạt động kinh tế, bảo đảm lợi ích cốt lõi. Cùng với các nước xung quanh thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông trong các lĩnh vực ngư nghiệp, du lịch, thăm dò và khai thác tài nguyên tương lai…, lấy biện pháp kinh tế đối phó biện pháp kinh tế.

Năm là, khu biệt mâu thuẫn, từng bước giải quyết, xây dựng mô hình điểm, mở rộng hiệu quả. Các bên có tranh chấp ở Biển Đông đều có lợi ích quan trọng của mình, giải quyết tranh chấp có thể áp dụng mô hình “dễ trước khó sau” và “kinh tế trước chính trị sau”. Các nước có mâu thuẫn nhỏ và ít xung đột có thể đàm phán trước, tìm ra lời giải, hình thành mô hình điểm, tích lũy kinh nghiệm rồi mở rộng áp dụng đối với khu vực khác có mâu thuẫn gay gắt hơn.

Theo Vượng báo

 Anh Tuấn (gt)

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1567-the-ket-cua-tq-o-bien-dong
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #535 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2011, 12:23:29 am »

Chưa cần tăng cường đột xuất hải quân

Tiếp xúc báo chí bên lề Đối thoại Shangri-La, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh cho hay việc tăng cường hải quân của Việt Nam là theo kế hoạch. Sự việc chưa quá nghiêm trọng đến mức phải tăng cường đột xuất.

Đề nghị ông cho biết, Việt Nam có tiếp tục thăm dò dầu khí ở những vùng biển tranh chấp hay không? Quân đội Việt Nam sẽ có biện pháp nào để bảo vệ hoạt động này?

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh: Tôi khẳng định, Việt Nam không hoạt động ở những vùng biển đang tranh chấp. Đó là những vùng hoàn toàn thuộc chủ quyền Việt Nam. Ví dụ như vụ việc của tàu Bình Minh 02, ngay sau khi sự việc xảy ra, tàu đã khắc phục sự cố và tiếp tục hoạt động thăm dò.

Hải quân nhân dân Việt Nam có nhiệm vụ bảo vệ vùng trời, vùng biển của Việt Nam. Tuy nhiên những vụ việc liên quan tới trách nhiệm dân sự, sẽ do những cơ quan pháp luật giải quyết vấn đề này.
 
Việt Nam có tính tới việc tăng cường các đơn vị Hải quân ở các khu vực xảy ra căng thẳng gần đây hay không?

Việc tăng cường hải quân của chúng tôi diễn ra theo một kế hoạch đã diễn ra từ trước. Tuy nhiên chúng tôi chưa cho rằng sự việc quá nghiêm trọng đến mức là phải tăng cường một cách đột xuất. Chúng tôi kiên trì và tin rằng có thể giải quyết bằng biện pháp hòa bình. Trong đó tiếng nói của báo chí, của cộng đồng quốc tế là vô cùng quan trọng.

Ông có nghĩ rằng các thành viên của  ADMM+ không có tranh chấp chủ quyền hoặc không liên quan trực tiếp đến vấn đề Biển Đông có thể giúp làm giảm căng thẳng cũng như giải quyết vấn đề Biển Đông?

Tôi cho rằng các diễn đàn đa phương rất quan trọng. Nó thể hiện thái độ của thế giới đối với các hành vi của các quốc gia.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ R.  Gates tuyên bố sẽ tăng cường sự hiện diện ở châu Á. Một trong những bước tăng cường đó là bố trí thêm tàu ở vùng Singapore. Tôi muốn biết Việt Nam có hoan nghênh thông tin này không?

Việc Mỹ có tăng cường sự hiện diện ở châu Á hay bố trí thêm tàu ở Singapore là vì lợi ích của Mỹ. Nếu sự hiện diện ấy mang lại hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực, mang lại sự bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau giữa các quốc gia thì Việt Nam hoan nghênh.

Chính phủ Việt Nam gần đây tuyên bố mở cửa cảng Cam Ranh cho cộng đồng quốc tế. Liệu  việc mở của đó có đồng nghĩa với việc cho phép tàu quân sự của Mỹ, Nga và các quốc gia khác vào cảng Cam Ranh hay không?

Vịnh Cam Ranh thì trước hết chúng tôi đã tuyên bố không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự và trú đóng tàu quân sự ở đấy. Một phần ở Vịnh Cam Ranh chúng tôi sẽ xây dựng thành căn cứ Hải quân của Việt Nam . Còn một phần thì sẽ xây dựng thành một khu dịch vụ, kỹ thuật, hậu cần cho tàu quân sự và dân sự của tất cả các nước sử dụng. Khi đó, khu dịch vụ, kỹ thuật và hậu cần sẽ đón tàu của tất cả các nước vào sữa chữa, làm dịch vụ hậu cần theo luật pháp quốc tế và luật Việt Nam.
(Theo VNN)
Tin đăng lạ

Nguồn: http://vitinfo.vn/MMuctin/Xahoi/CTXH/LA89339/default.html
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #536 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2011, 12:44:23 am »

Đừng để mắc bẫy trong "phép thử" của Bắc Kinh

Sức nóng của chủ đề biển Đông đang sôi sục trên khắp các mặt báo và diễn đàn đã thể hiện lòng yêu nước và quan tâm đến vận mệnh dân tộc của đông đảo người dân Việt Nam. Cùng với đó, hàng loạt các chủ đề nóng đã xuất hiện, như những ý kiến đưa vấn đề ra tòa án quốc tế, đa phương hóa, quốc tế hóa; và quan trọng nhất là thể hiện lòng yêu nước theo cách nào để không bị nước ngoài lợi dụng cho những luận điệu cáo buộc bất lợi cho ta.

Xung quanh chủ đề này, VTC News đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Nguyễn Hồng Thao, chuyên gia về nghiên cứu biển Đông ĐHQGHN, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia, hiện đảm nhiệm vai trò Đại sứ Việt Nam tại Malaysia.

Đừng để mắc bẫy trong "phép thử" của Trung Quốc

- Thưa ông, trước nay, Việt Nam luôn bày tỏ thái độ nhất quán và cương quyết với các vấn đề chủ quyền trên biển Đông. Tuy nhiên, phản ứng lần này của ta trước động thái mới nhất của phía Trung Quốc dường như có phần cứng rắn hơn. Ông đánh giá thế nào về nhận xét này?

- Nói đúng hơn, đây giống như một cuộc phát động xâm lược - xâm lược ở đây không phải là chiến tranh, mà mang nhiều ý nghĩa, với nhiều giai đoạn, mà vụ tàu Bình Minh 02 chính là một "phép thử". Nếu ta không phản ứng cương quyết, họ sẽ tiếp tục lấn tới, và càng lúc càng phức tạp hơn.

Ông Nguyễn Hồng Thao (Ảnh: Thành Lương)

- Tuy nhiên, theo quan sát, Trung Quốc đã tỏ ra khôn ngoan trong "phép thử" này, khi cố gắng bẻ lái dư luận bằng cách đưa ra những cáo buộc ngược về phía ta. Không những thế, họ cũng sử dụng báo chí một cách đắc sách khi giữ nguồn tin ngoại giao trên mặt báo và đẩy những luận điệu gây hấn sang các diễn đàn, trong khi "diễn đàn" lại chiếm vị trí trang trọng trên mục quân sự các báo, với sự góp mặt của nhiều chuyên gia.

Theo ông, báo chí Việt Nam phải làm sao để vừa hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền, vừa không bị lợi dụng cho những cáo buộc "gây hấn" của Trung Quốc?

- Đó đúng là một kinh nghiệm mà Trung Quốc đã rút ra được. Chính vì vậy, báo chí chúng ta nêu cao tinh thần dân tộc, nhưng nếu có những bài viết quá sa đà, nặng nề, chính là đang "mắc bẫy" họ.

Về cơ bản, thực chất, chúng ta lên tiếng về những gì thuộc về chính nghĩa của mình. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là chấm dứt đàm phán, chấm dứt quan hệ, hô hào "bài trừ, cắt đứt" hết, như một số người quá khích.

Tinh thần lên cao, nhưng phải đi kèm với sự tỉnh táo, nhìn vào toàn cục, hết sức tránh những việc có thể tạo cớ cho họ tiếp tục gây hấn với ta.

Kiện chưa hẳn là giải pháp

- Nói về việc giải quyết, hiện nay trong dư luận đang nhắc nhiều đến vấn đề đưa vụ việc ở biển Đông ra Tòa án Quốc tế. Ông đánh giá thế nào về khả năng này?

- Trước hết, nếu muốn kiện lên Tòa án Quốc tế thì phải đúng quy trình, thủ tục. Thẩm quyền xét xử của Tòa án Quốc tế theo quy định được xác lập trên cơ sở đồng thuận của các bên tranh chấp. Như vậy, nếu phía Trung Quốc không đồng ý thì Tòa án cũng không đủ cơ sở để xác lập quyền tài phán.

                 
"Tất nhiên, tòa sẽ không đời nào chấp thuận đường lưỡi bò của Trung Quốc, nhưng cũng chưa chắc đã có một kết quả hoàn toàn theo mong đợi của ta."

Mặt khác, ngay cả khi Trung Quốc đồng thuận, thì tranh chấp này, về bản chất xét cho cùng là tranh chấp chủ quyền trên 2 quần đảo. Trong khi đó, tất cả những người nghiên cứu luật quốc tế đều biết rằng quy chế các đảo trong Công ước Luật biển 1982 cũng như các nguồn khác của luật biển đều chưa thực sự rõ ràng và phụ thuộc rất nhiều vào cách giải thích của các bên. Ngay cả bản thân mỗi khái niệm, định nghĩa trong Công ước vẫn tiếp tục là những vấn đề gây tranh cãi.

Cho nên, về mặt pháp lý, ta có ưu thế rõ ràng, nhưng không có nghĩa là chắc chắn chiến thắng trước tòa. Theo án lệ từ trước đến nay, tòa thường có xu hướng xử "phân đôi", hai bên cùng có lợi và cùng chịu thiệt. Nhưng chủ quyền quốc gia có thể thỏa thuận theo hướng đó được không? Người dân Việt Nam có chấp thuận mất dù chỉ một phần chủ quyền thiêng liêng và toàn vẹn không?

Cho nên, mấy ngày nay, nhiều người đề cập đến vấn đề "kiện". Tất nhiên, điều đó thể hiện lòng yêu nước đáng quý. Tuy nhiên, vô hình trung, lại định hướng cho người dân: Đã chắc chắn như vậy, vì sao chính phủ chưa làm ngay? Có phải là quá nhu nhược?

Sự thật thì, chúng ta phải cân nhắc tất cả các yếu tố, tình huống.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga: "Trung Quốc đang cố tình làm dư luận hiểu nhầm khu vực không có tranh chấp thành khu vực tranh chấp."

- Một trong những thành công lớn của ngoại giao Việt Nam những năm gần đây là hoàn tất đàm phán và phân giới cắm mốc biên giới trên bộ với Trung Quốc, cũng sau nhiều năm kiên trì đàm phán. Theo kinh nghiệm của ông qua nhiều năm làm công tác biên giới, đàm phán trên biển có những thuận lợi và khó khăn gì so với đàm phán trên đất liền? Triển vọng và lộ trình?

- Thực ra, đàm phán trên biển, nếu thực sự thiện chí, có khá nhiều thuận lợi.

Thứ nhất, đàm phán trên đất liền liên quan trực tiếp đến lợi ích cục bộ của người dân: nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả..., cho nên nếu có bất kỳ vấn đề nào, phản ứng sẽ mạnh hơn rất nhiều. Sở dĩ hiện nay có thể phản ứng mạnh trên biển, cũng là vì đã hoàn thành trên đất liền; còn trước đây, biên giới trên đất liền vẫn là ưu tiên số 1.

Thứ hai, trên đất liền phải có cắm mốc, phân giới, với đầu tư rất lớn về kĩ thuật, nhân lực,  vật lực... Còn đàm phán trên biển, nếu thực sự thiện chí, thì chỉ cần vài tấm bản đồ, thước kẻ, cứ theo tọa độ vạch ra. Ví như đàm phán Vịnh Bắc Bộ, khi đã đạt được thiện chí và nhận thức chung, thì chỉ từ năm 1996 đến năm 2000 là hoàn thành, trong khi biên giới trên bộ, chỉ tính riêng giai đoạn đàm phán thực chất, thì cũng kéo dài từ 1991 đến tận năm vừa rồi.

Cho nên, đối với đàm phán trên biển, quan trọng nhất vẫn là thiện chí của các bên. Tuy nhiên, đạt được thiện chí từ tất cả các bên lại chính là yếu tố nan giải nhất.

Đa phương và quốc tế hóa phải nhìn từ 2 mặt

- Thế còn một mối quan tâm khác của dư luận, vấn đề song phương và đa phương?

- Thực chất ở đây ít nhiều có sự hiểu lầm, do định hướng chưa chính xác của một số báo. Chúng ta phải tranh thủ tất cả các diễn đàn. Về thỏa thuận nguyên tắc, quan điểm của ta hết sức rõ ràng: những vấn đề nào là song phương thì phải giải quyết song phương, vấn đề nào là đa phương thì phải giải quyết đa phương. Phía Trung Quốc thì muốn tất cả đều phải giải quyết song phương, nên đến giờ vẫn còn tranh cãi ở điểm đó.

Việt Nam đã thực sự thành công trong Năm Chủ tịch ASEAN 2010

Thực sự, vấn đề này phải được giải quyết tổng thể, và không gì hơn là phải đàm phán. Kinh nghiệm lịch sử từ xưa đến nay, thậm chí qua các cuộc chiến tranh trên thế giới, cuối cùng tất cả cũng phải quay lại bàn đàm phán. Như vậy, không có lý do gì lại cắt đi một chiếc cầu của chính mình.

Tất nhiên, về lý thuyết, thế giới là bình đẳng, nhưng trên thực tế, các nước lớn luôn dùng nhiều loại sức ép, cả chính trị, kinh tế và quân sự để áp đặt ý đồ của mình lên các nước nhỏ. Trong bối cảnh đó, giải pháp tối ưu là phải xác định được thế mạnh của bản thân mình. Với trường hợp của ta, cần phải đẩy mạnh mặt trận ngoại giao - pháp lý, làm cho cả dân ta, dân họ và cả cộng đồng quốc tế hiểu và ủng hộ.

- Qua thành công rực rỡ của Năm Chủ tịch ASEAN 2010, đặc biệt qua việc vấn đề biển Đông được đưa ra diễn đàn ARF hồi tháng 7, người ta cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề "quốc tế hóa" và "ASEAN hóa"?

- Ngay hồi tháng 7 năm ngoái, tôi đã có bài phân tích với chủ đề: Vấn đề biển Đông không cần "quốc tế hóa", bởi bản thân nó đã là một vấn đề quốc tế. Khi lạm dụng thuật ngữ "quốc tế hóa", tức là chúng ta đang tạo cơ hội cho Trung Quốc cáo buộc mình phức tạp hóa vấn đề, trong khi chính Trung Quốc mới là bên thường xuyên gây phức tạp.

Hơn nữa, cần nhìn nhận từ cả 2 mặt của vấn đề. Bản thân Trung Quốc cũng phải đứng trước một bài toán không hề đơn giản. Một mặt, họ phải khẳng định sự hiện diện ở đây, đẩy bớt sự có mặt của Mỹ, làm cho các nước trong khu vực ngả theo họ. Nhưng nếu làm quá, rất có thể Mỹ sẽ là bên được lợi. Thứ nhất, quan hệ giữa 2 nước xã hội chủ nghĩa, cho dù không hoàn toàn cùng ý thức hệ. Thứ hai, Mỹ có cớ để nhảy vào, trong khi hiện tại vẫn đang loay hoay tìm cớ. Thứ ba, Mỹ được lợi từ việc bán vũ khí và phát động chạy đua vũ trang.

Nếu tiếp tục gây hấn, Bắc Kinh sẽ tự mình phá hủy hình ảnh "trỗi dậy hòa bình" mà họ đã dày công xây dựng

Chưa kể, nếu chiến tranh nổ ra, Mỹ có thể dựng lại "hàng rào chúa đảo" bao vây Trung Quốc, chặn đường xuất khẩu hàng hóa. Và thiệt hại lớn nhất đối với Trung Quốc chính là tổn hại đến hình ảnh một Trung Quốc "trỗi dậy hòa bình" mà họ mất rất nhiều công xây dựng lâu nay. Khi niềm tin của quốc tế đã mất đi thì khó mà xây dựng lại được.

Hơn nữa, khi bên ngoài có biến thì các vấn đề nội tại trong lòng Trung Quốc cũng sẽ được dịp bùng lên. Cho nên, nếu chỉ nhìn về mặt quân sự, thì dường như việc xuất quân của Trung Quốc là hết sức dễ dàng, nhưng đánh thì dễ, giữ mới là nan giải. Trung Quốc càng hung hăng, Mỹ càng có cơ hội.

Đừng cho rằng việc Mỹ nhảy vào Đông Nam Á sẽ đem lại toàn thuận lợi; càng không nên suy nghĩ đơn giản về "quốc tế hóa". Với sự thực dụng của Mỹ, nếu Trung Quốc chịu nhượng bộ một số quyền lợi trên biển, Mỹ không dại gì tham chiến. Mặt khác, trong quan hệ quốc tế luôn cần có một "điểm nóng". Afghanistan đã tạm xong, Trung Đông đã gần tàn cuộc, lực lượng Mỹ hay liên quân Mỹ dưới cái ô của Liên Hợp Quốc đang tìm điểm đáp mới, và sẽ chẳng hay gì nếu điểm đáp mới đó là biển Đông.

Vấn đề của Việt Nam phải do Việt Nam tự mình giải quyết!

Cả Việt Nam là một tàu sân bay lớn

- Còn việc Trung Quốc tăng cường vũ khí quân sự, liên tục phát triển hệ thống tàu chiến, tàu ngầm và cả tàu sân bay?

- Ở thời kỳ hiện đại, một nước lớn chưa chắc đã thắng được một nước nhỏ, nếu nước nhỏ đó nắm được công nghệ. Hãy thử nhìn một mình Israel đối đầu với cả thế giới Ả Rập. Khi xưa, trong chiến tranh Anh - Argentina 1982, tàu chiến hiện đại nhất của Anh bấy giờ cũng đã bị 2 tên lửa Argentina đánh hỏng.

Cả Việt Nam đã là một tàu sân bay lớn, không có gì đáng ngại. Quan trọng nhất, vẫn là xác định được thế mạnh của mình và huy động được sức mạnh toàn diện, đồng thời có những chiến lược hợp lý, hợp thời nhất.

Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi thẳng thắn!
Theo VTC News
Tin đăng lại

Nguồn: http://vitinfo.vn/MMuctin/Xahoi/CTXH/LA89228/default.html
Logged
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #537 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2011, 08:04:02 am »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

Toàn bộ những thư từ trao đổi trong những năm 20 về vấn đề này cho thấy sự do dự của Pháp. Trong giai đoạn đầu này, Pháp không chắc chắn lắm về các quyền của mình. Khi Trung Quốc tuyên bố sát nhập các đảo Hoàng Sa về hành chính vào Hải Nam, ở Paris người ta băn khoăn về việc có cần thiết phản kháng chống lại sự sát nhập này và tuyên bố các đảo đó thuộc sở hữu của Pháp hay không.

Thậm chí người ta còn thấy một số nhà chức trách chính trị không loại trừ việc điều đình từ bỏ mọi quyền của Pháp để đổi lấy các quyền lợi khác của Pháp ở Trung Quốc (45) . Nhưng đàm phán để từ bỏ các quyền lợi của họ cũng có nghĩa là công nhận là đã có các quyền đó. “Để đổi lại việc thừa nhận chính thức chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa, có lẽ không phải là quá đáng nếu đòi hỏi có sự cam kết chính thức của chính phủ có chủ quyền không bao giờ đặt ở đấy một căn cứ quân sự hay thủy quân và không tiến hành ở đấy bất kỳ một sự bố trí nào nhằm mục đích đó” (46)

Trong một thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao đề ngày 25-10-1921, Đại diện Pháp ở Trung Quốc nêu lên khó khăn có thể có trong đàm phán với Trung Quốc nếu tính đến tình trạng vào thời điểm đó không có một “Chính phủ Trung Quốc”. Tuy nhiên, ngay năm 1922 đã lộ ra một mối lo ngại nào đó qua ý tưởng là cách ông lấy lòng Trung Quốc như vậy có thể cuối cùng lại phục vụ cho các quyền lợi của Nhật Bản (47)

Tất cả những gì vừa kể ra chỉ liên quan đến quần đảo Hoàng Sa. Đối với quần đảo Trường Sa, trong một thư của Toàn quyền Đông Dương Pasquier, ngày 26-12-1927, gửi Bộ trưởng Thuộc địa, thông báo cho ông ta biết sự quan tâm của người Nhật đến một số đảo thuộc quần đảo này (48). Ông Toàn quyền nói thêm: “Dường như nước Pháp chưa từng đưa ra yêu sách đối với các đảo đó, vì các đảo này gắn với quần đảo Indonesia hơn là bán đảo Đông Dương” (49).

Và, văn thư ngày 8-3-1928 cũng đi theo hướng này “Các đảo nhỏ đó không gắn cả về chính trị lẫn địa lý với bờ biển An Nam” (50). Sau đó, trong một văn thư khác, ngày 8-3-1928, gửi Phòng Châu Á và Châu Đại Dương, người ta băn khoăn về tính chất lãnh thổ vô chủ của quần đảo này (Trường Sa), và nhắc lại là quần đảo Hoàng Sa cho đến nay không phải là đối tượng của một quyết định về chủ quyền của Pháp (51).

Các thư và công hàm trao đổi năm 1929 giữa viên Công sứ Trung Kỳ và Thống sứ Bắc Kỳ chứng tỏ rằng dưới con mắt của các vị có trọng trách, quy chế của các đảo Hoàng Sa còn chưa được rõ ràng. Nhưng nó cũng chứng tỏ rằng nước Pháp chưa bao giờ công nhận chính thức các quyền của Trung Quốc và do dự phát triển các quyền  của mình trước chủ nghĩa sô vanh Trung Quốc. Vậy ta có thể rút ra được những kết luận pháp lý gì của thời kỳ này (từ lúc bắt đầu chế độ thực dân cho đến cuối những năm 20)?

- Nước Pháp hồi đó chưa khẳng định rõ rệt chủ quyền của mình nhưng cũng chưa bao giờ chính thức thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc. Qua các thư từ được phân tích, có cảm tưởng nước Pháp chờ đợi thời điểm thuận tiện để nhắc lại các quyền của mình và lúc đó mới thương lượng về các quyền đó.

- Nếu nói nước Pháp không thật tích cực đối với các quần đào, thì trên thực tế họ cũng không bao giờ hoàn toàn vắng mặt. Dù sao các hành vi mà Pháp thực hiện cũng rụt rè và rời rạc, vì vậy người ta có thể băn khoăn là liệu chúng có giá trị như một nhân tố vật chất về duy trì và chiếm hữu thực sự không.

- Thái độ ngập ngừng và nửa vời đó, vì là thái độ của cường quốc thực dân chứ không phải của người có danh nghĩa chủ quyền đầu tiên, nên không mang tính chất cắt đứt các quyền đã có trước kia của một dân tộc bị đô hộ và vì thế phải im lặng, ảnh hưởng đó càng ít hơn vì nước Pháp đã không có một hành vi pháp lý nào từ bỏ chủ quyền vì lợi ích của một bên khác.
_______________________________________________________________________________________________
45.   Xem Công văn của Phủ Toàn quyền Đông Dương ngày 6-5-1921, Phụ lục 12.
46.   Trích lời Toàn quyền Đông Dương trong một lá thư của Bộ trưởng Thuộc địa ngày 18-4-1921, Phụ lục 18.
47.   Viên quản lý Lãnh sự quán Pháp ở Hải Khẩu gửi Đại sứ Pháp ở Bắc Kinh, ngày 13-4-1922, xem Phụ lục 19.
48.   M.S. Samuels: Tranh chấp biển Nam Trung Hoa, đã bảo vệ rằng khi đó trong con mắt người Nhật, quy chế của quần đảo Trường Sa có thể thảo luận với Pháp, nhưng quy chế của quần đảo Hoàng Sa đối với Nhật chỉ Liên quan tới các quan hệ riêng của họ với Trung Quốc.
49.   Xem Phụ lục số 20.
50.   Xem Phụ lục số 21.
51.   Xem Phụ lục số 22
.....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #538 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2011, 04:06:54 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________
( tiếp theo )
....

b) Thời kỳ thứ hai của chế độ thực dân (đến Chiến tranh thế giới thứ hai). Sự khẳng định rõ ràng và chính thức chủ quyền của Pháp đối với hai quần đảo

Khi phải trả lời Công ty phốt phát Bắc Kỳ mới (Société Nouvelle des Phosphates du Tonkin) về việc muốn khai thác quần đảo Hoàng Sa, ngày 17-12-1928, Toàn quyền Đông Dương viết cho Bộ trưởng Thuộc địa và tố cáo “chứng hoang tưởng tự cao tự đại cứ tăng lên mãi của chủ nghĩa quốc gia Trung Quốc”, và đã tuyên bố rõ ràng: “ vậy đã đến lúc chúng ta phải tiến lên trước và khẳng định các quyền dường như đã được công nhận bởi cả các tư liệu lịch sử lẫn các thực tế địa lý” (52)

Để có chỗ dựa vững chắc cho lập trường của Pháp, ông Toàn quyền yêu cầu Khâm sứ Trung Kỳ cung cấp tất cả các tài liệu của hồ sơ. Khâm sứ gửi các tài liệu qua bức thư đề ngày 22-1-1929 (53). Tư liệu này cực kỳ quan trọng. Ông Khâm sứ nhắc lại trong bức thư rằng các quyền được nước An Nam khẳng định và duy trì từ lâu, rồi ông ghi nhận là những người dân chài An Nam ở ven biển (thời ông ta ở đó) không đến đấy nữa. Nhưng dường như nhớ lại quy chế bảo hộ đã được chấp nhận lúc đầu, tức là sự phát biểu có thể và cần thiết của các đương sự, ông đã viết như sau: “Như vậy, từ lâu những người mà chúng ta bảo vệ có lẽ đã không khẳng định quyền sở hữu của họ đối với quần đảo Hoàng Sa, mặc dầu ngài Thân Trọng Huề, nguyên Thượng thư Bộ Binh, qua đời năm 1925, trong thư ngày 3-3 năm đó, đã khẳng định rằng “Các hòn đảo đó bao giờ cũng thuộc nước An Nam. Không có gì phải tranh cãi về vấn đề này”. Và ông Khâm sứ than phiền về thái độ thụ động của nước Pháp khi có yêu sách của Trung Quốc năm 1909.

Như vậy, ngay cả trong chế độ thuộc địa xuất phát từ chế độ bảo hộ, những nhân vật hiếm hoi khi có dịp phát biểu nhân danh nước Việt Nam vẫn có lời lẽ biểu thị sự bền bỉ của ý chí làm chủ.

Bộ trưởng Ngoại giao ghi nhận (thư ngày 26-2-1928) sự việc: có lẽ đã có sự lật lại lập trường của Pháp trong những năm 1921, và yêu cầu phát triển lập luận. Như thường xảy ra, Paris đã không nắm được sư việc bằng các nhà chức trách địa phương. Bộ trưởng Hải quân (quyền Bộ trưởng Bộ Thuộc địa) ngày 18-2-1929 nói với Bộ trường Ngoại giao vẫn còn đưa ra ý kiến trông chờ. Nhưng ông đưa ra những thông tin ông nắm được và khẳng đinh “Tuy vậy, nước An Nam, đối với nhóm đảo không người ở này, có những quyền lịch sử ít bị tranh cãi hơn nhiều các quyền lịch sử mà Trung Hoa Dân quốc có thể đòi hỏi” (54).

Trong số tấtt cả các nhà chức trách liên quan, Pasquier (Toàn quyền Đông Dương) là người chậm hiểu nhất các quyền có từ xa xưa của nước An Nam và lợi ích của quần đảo Hoàng Sa đối với nước Pháp. Ông gửi một công điện ngày 3-4-1929 yêu cầu vẫn giữ thái độ đã có từ năm 1921 (55).

Tuy nhiên, tháng 11 cùng năm Thượng nghị sỹ De Monzie viết thư cho Bộ trưởng Thuộc địa để nói với ông này rằng “các quyền của nước An Nam và do đó của nước Pháp, đối với quần đảo Hoàng Sa dường như không thể tranh cãi từ thế kỷ XVII và các đảo này là một địa điểm tốt nhất cho việc đặt một trạm vô tuyến điện (T.S.F) để báo trước các trận bão”.
____________________________________________________________________________________________
52.   Xem Phụ lục số 23
53.   Xem Phụ lục số 8
54.   Xem Phụ lục số 25
55.   Phụ lục số 26
....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #539 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2011, 08:11:11 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________
( tiếp theo )
....

Bộ Thuộc địa liền thúc Pasquier giải thích về thái độ ngập ngừng của ông. Ông này xem lại toàn bộ hồ sơ và các thư từ của ông tháng 3-1929 cho thấy lập trường của ông đã chuyển biến. Khi đó ông đã được thuyết phục về giá trị các quyền của An Nam. Nhưng sự lo sợ của ông đối với người Trung Quốc vẫn dẫn ông đến chỗ bào chữa cho việc trông chờ. (56)

Trong một văn thư của Quai d’Orsay (Bộ Ngoại giao Pháp) do Knobel ký ngày 19-6-1930, một câu hỏi tốt về pháp lý đã được đặt ra.

Chủ quyền rõ ràng đã được An Nam đắc liệu có thể đã bị mất đi vì không thực thi không? Tác giả đã kết luận là không. Ông đã dựa vào nghiên cứu của P.A  Lapicque để nói rằng các đảo Hoàng Sa không bị bỏ và do đó không trở thành vô chủ (res nullius).

Đại diện nước Pháp ở Trung Quốc nhận xét rằng như vậy có sự thay đổi trong cách nhìn nhận đã có trước đây và ghi nhận là nước Pháp trong một thời gian dài không phản kháng trước các hành động của Trung Quốc (57).

Bức thư của Toàn quyền Pasquier ngày 18-10-1930 đã đặt dấu chấm kết thúc sự lưỡng lự của Pháp (58). Kể từ thời điểm đó, toàn bộ các tư liệu của Pháp chứng minh cho việc làm sáng tỏ đã được thực hiện. Đã cho thấy các quyền của An Nam có từ thế kỷ XVIII.

Trung Quốc chỉ mưu tính khẳng định các quyền của họ từ năm 1909. Nhưng vào thời điểm chính xác đó, người ta không thể cho rằng các quyền của Việt Nam đã chấm dứt. Lập trường của Pháp khi đó phải được hiểu như chỉ là “sự thực hiện các quyền chủ quyền đã tồn tại từ trước” (59).

Tuy nhiên một bức điện khác ngày 19-7-1931 của Bộ Ngoại giao, vẫn còn bộc lộ một số do dự của Pháp, đến thời điểm này vẫn không loại trừ việc thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc (60).

Cuối cùng, ngày 4-2-1932, một công hàm được gửi cho Công sứ quán Trung Quốc nhằm khẳng định các quyền của nươc Pháp, trong trường hợp không chấp nhận thì đưa ra trọng tài.

Ngày 29-2-1932, Trung Quốc đáp lại. Câu trả lời là lẫn lộn. Sự nhầm lẫn xảy ra đối với việc xác định các đảo (người Trung Quốc nói tới một quần đảo khác, cách đó 150 hải lý). Và họ đã sử dụng lập luận về Công ước Pháp –Trung năm 1887 mà trong hồ sơ này đã nói là không có giá trị ở phần trên.

Vào cuối thời kỳ này, cuối cùng Pháp đã khẳng định rõ các quyền của mình trên quần đảo Hoàng Sa. Một số tác giả cho rằng Pháp đã làm việc này một cách long trọng từ tháng 3-1935 (61). Chắc chắn là nghị định đầu tiên của Toàn quyền Đông Dương ngày 15-6-1938 (số 156-SN) quy định việc thành lập một địa lý hành chính ở quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên (Trung Kỳ) và Nghị định thứ hai do Jules Brévié ký ngày 5-5-1939 thành lập hai điạ lý hành chính “Cụm Lưỡi Liềm và các đảo phụ cận” và “Cụm An Vĩnh và các đảo phụ cận”. Các viên chức đứng đầu các địa lý hành chính này mang tư cách đại diện của Công sư Pháp tại Thừa Thiên và đóng tại đảo Hoàng Sa và đảo Phú Lâm (62). Cần phải lưu ý tới điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt tại các đảo nhỏ này. Điều này giải thích sự khác nhau giữa ý định giữ chủ quyền và việc chiếm hữu hành chính. Công việc này phải tiến hành từ từ. Phải chờ đến năm 1938 mới có một sự hiện diện về mặt quân sự liên tục. Nhưng trái với những gì mà các tác giả Trung Quốc viết, ở đây không có việc “sử dụng vũ lực” chống lại Trung Quốc vì ở đây không có một sự chiếm đóng rõ ràng nào của Trung Quốc (63).
___________________________________________________________________________________________
56.   Phụ lục số 27: Điện thư ngày 14-3-1930.
57.   Bắc Kinh, ngày 28-7-1930, Phụ lục số 28.
58.   Xem Phụ lục số 29.
59.   Điện văn chính thức ngày 4-7-1931, Phụ lục số 30.
60.   Phụ lục số 31.
61.   Xem Jean-Pierre Ferrier: Niên giám của Pháp về luật quốc tế, tr. 182.
62.   Xem Phụ lục số 32.
63.   Xem Chu Kiện: Các biên giới biển của Trung Quốc, tr. 306.
.....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM