Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:41:52 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 2  (Đọc 422062 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #540 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2011, 11:07:14 pm »

Ai "nói một đàng làm một nẻo"?

Việc tàu Hải giám của nhà nước Trung Quốc tấn công cắt cáp của Tàu Bình Minh 02 của PetroVietnam ngày 26/5/2011 đã làm dấy lên làn sóng phản đối của nhân dân Việt Nam. Báo chí đã góp phần để bạn đọc hiểu rõ thực chất vụ việc.


Đặc biệt, báo chí lần này đã giúp người dân chia sẻ được phần nào những phản ứng tích cực và cần thiết của lãnh đạo Việt Nam. (Thực ra, người dân có quyền đòi hỏi báo chí phải luôn làm được điều đó).

Luật Biển của mỗi quốc gia quy định đường cơ sở phù hợp với Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 82). Vùng nước nằm giữa đường cơ sở và đất liền được gọi là nội thủy. Tàu thuyền nước ngoài không được phép tự do đi lại trong vùng này.

Lãnh hải là vùng biển kéo dài từ đường cơ sở có bề ngang 12 hải lý. Trong vùng này nước chủ nhà toàn quyền nhưng tàu nước ngoài được tự do đi lại “không gây hại” mà không phải xin phép.

Vùng có bề ngang 12 hải lý kế tiếp là vùng tiếp giáp lãnh hải nơi nước chủ nhà vẫn thực thi luật pháp của mình đối với các hoạt động buôn lậu và nhập cư bất hợp pháp.

Vùng có bề ngang 200 hải lý kể từ đường cơ sở là vùng đặc quyền kinh tế. Tại đây nước chủ nhà có độc quyền về khai thác mọi tài nguyên thiên nhiên. Tàu bè nước ngoài được tự do đi lại, máy bay nước ngoài được tự do bay trên vùng trời tương ứng theo sự kiểm soát của quốc gia ven biển.

Nếu hai nước ven biển có các vùng (lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải hay đặc quyền kinh tế) chồng lên nhau, thì họ phải thỏa thuận việc phân chia với nhau. Nếu có sự chồng lấn mà các bên chưa thống nhất việc phân chia và còn tranh chấp, thì vùng đó được gọi là vùng tranh chấp.

Tàu Bình Minh 02, khi bị tấn công, đang thăm dò địa chấn hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và là vùng không thể có tranh chấp.

Các nhà chức trách Trung Quốc luôn nói hữu nghị, hòa bình, xây dựng nhưng lời nói không đi đôi với việc làm. Liên quan đến vụ Trung Quốc tấn công tàu Bình Minh 02, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đổ lỗi cho phía Việt Nam một cách mập mờ “việc phía Việt Nam tiến hành hoạt động thăm dò dầu khí tại vùng biển do Trung Quốc quản lý đã làm tổn hại lợi ích và quyền quản lý của Trung Quốc...”.
 
Còn Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc biện bạch “quân giải phóng nhân dân Trung Quốc không có hành động can dự nào vào sự việc vừa diễn ra”. Lời biện bạch chỉ khẳng định tàu hải giám, một loại tàu quân sự trá hình, không thuộc biên chế của quân đội Trung Quốc, không hơn không kém.

Đúng như tướng Vịnh nói “Bộ trưởng Lương Quang Liệt phát biểu tại Shangri-La rất tầm cỡ, rất hòa hiếu, thiện chí. Chúng ta chờ những hành động cụ thể thể hiện thiện chí đó. Còn với một đất nước có một sự quản lý chặt chẽ như Trung Quốc, việc cấp dưới đi ngược lại ý kiến cấp trên là điều khó xảy ra.

Vụ tàu Bình Minh 02 nghiêm trọng ở chỗ trước đây Trung Quốc cũng đã đâm tàu và cắt cáp rồi, nhưng khu vực xảy ra là ở vùng ngoài 200 hải lý hoặc vùng tranh chấp. Còn đây là vào rất sâu vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam. Thứ hai, không phải tàu cá đâm tàu cá mà đây là tàu chấp pháp xử lý một tàu dân sự trong vùng biển Việt Nam. Thứ ba, đó là hành vi bạo lực”.

Đưa thông tin đủ và đúng là cách giúp mọi người nhìn ra ai là kẻ "nói một đàng làm một nẻo".

Nguyễn Quang A
(Theo Bee.net)
Tin đăng lại

Nguồn: http://vitinfo.vn/MMuctin/Xahoi/CTXH/LA89410/default.html
Logged
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #541 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2011, 06:41:58 am »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________
( tiếp theo )
....

Tất cả các thư từ trao đổi phân tích ở trên chỉ liên quan đến quần đảo Hoàng Sa. Nước Pháp dường như không có cùng một thái độ với cả hai quần đảo. Trường hợp của quẩn đảo Trường Sa đơn giản hơn. Tháng 3-1929, khi có đơn xin cấp giấy phép khai thác phốt phát, toàn quyền Pasquier đã không phản đối nhưng ông nói thêm giấy phép được cấp với điều kiện đương sự phải gánh chịu mọi rủi ro và thiệt hại trong trường hợp nhóm đảo này bị một cường quốc khác yêu sách một cách chính đáng (64).

Người ta nhận thấy vẫn còn có sự do dự trong thái độ của ông Toàn quyền.

Bộ trưởng Ngoại giao Pháp hỏi lãnh sự Pháp ở Manila về những yêu sách có thể có của Philippin.

Ngày 22-3-1929, ông này đã phúc đáp nhấn mạnh đến việc không quan tâm của Philippin (65).

Đối với quần đảo Trường Sa, trong hồ sơ không có chút yêu sách nhỏ nào của Trung Quốc trong suốt thời kỳ thuộc địa.

Nhưng Nhật có một quan tâm được biểu thị năm 1929 bằng một cuộc vận động của Tổng lãnh sự Nhật ở Hà Nội. Và điều này sẽ là động cơ thúc đẩy tích cực đối với chính quyền thuộc địa Pháp (66).

Một thông cáo ngày 23-9-1930 thông báo cho các nước thứ ba biết việc Pháp chiếm hữu quần đảo Trường Sa. Việc chiếm hữu các hòn đảo nhỏ này được tổ chức long trọng vào tháng 4-1933. Sự việc chiếm hữu các hòn đảo nhỏ này được Công báo ngày 26-7-1933. Sáu đảo nhỏ được nêu trong văn bản và được mô tả chính xác. Đáp lại sự khẳng định chủ quyền đó chỉ có sự phản đối từ phía Nhật Bản. Trung Quốc giữ im lằng. Ngày 21-12 cùng năm, Thống đốc Nam Kỳ là Mrautheimer đã ký một nghị định sát nhập các đảo đó vào tỉnh Bà Rịa (67). Có phải Pháp chỉ khẳng định chủ quyền của họ trên phần đất được xác định rõ ràng các quần đảo, còn các đảo và các đảo nhỏ khác thì theo một quy chế không chắc chắn không? ở đây một quan điểm học thuyết được trọng tài Max Huber đặc biệt bảo vệ trong phán quyết về đảo Palmas, theo đó một khi một nhóm đảo tạo thành một đơn vị thống nhất, số phận của phần chính có thể được áp đặt cho phần còn lại. Đối với các mảnh đất nhỏ bé nổi trên mặt nước này, dù chúng có nằm rải rác như thế nào đi chăng nữa thì chúng vẫn là một đơn vị địa lý thống nhất và trong những năm liên quan (1930-1933) đã không có những hành vi chiếm hữu khác. Học thuyết về tính thống nhất của quy chế pháp lý có thể được áp dụng ở đây, hơn nữa các tư liệu lưu trữ cho thấy, qua bức thư của Bộ trưởng Quốc phòng Pháp gửi Bộ ngoại giao, nước Pháp thật sự có ý chí mở rộng sự chiếm đống của Pháp ra toàn bộ quần đảo (68).

Như vậy trước Chiến tranh thế gới thứ hai, sau thời kỳ lưỡng lự khá dài, nhà cầm quyền Pháp đã thể hiện ý định của họ thực thi chủ quyền trên hai quần đảo đã hoàn thành việc chiếm hữu thật sự.

Đối với quần đảo Hoàng Sa, sự việc được thực hiện bằng cách khẳng định tính liên tục về các quyền của nước An Nam. Đối với quần đảo Trường Sa, sự việc được tiến hành trong điều kiện lãnh thổ vô chủ.
__________________________________________________________________________________________
64.   Phụ lục số 33.
65.   Xem Phụ lục số 34.
66.   Sự bành trướng của Nhật về phương Tây. Việc chiếm đóng Trường Sa, Tạp chí Quân đội thuộc địa, 1930, tr. 463.
67.   Xem Phụ lục số 35.
68.   Thư Bộ trưởng Quốc phòng gửi Bộ trưởng Ngoại giao ngày 30-3-1932, Phụ lục số 36.
.....
Phần tiếp theo: 3.1.3 Có các quyền được xác lập vì lợi ích của các quốc gia khác ngoài Trung Quốc hay Pháp không?
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #542 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2011, 11:39:45 am »

Hòa hoãn Mỹ-Trung về Biển Đông

Giữa Mỹ và Trung Quốc bộc lộ một số thỏa hiệp và nhượng bộ liên quan đến Biển Đông.

Đối thoại Shangrila 2011 tuy không bị hâm nóng như năm 2010, nhưng nó bộc lộ rõ hơn quan điểm của các bên liên quan tại một thời điểm xảy ra nhiều sự cố xung đột và mầm mống bất trắc, trước hết tại Biển Đông. Nhìn kỹ vào tình hình và quan điểm các nước liên quan vùng biển này, năm 2011 rõ ràng đã có sự khác biệt so với năm 2010. Sự khác biệt này thể hiện trong chính sách, cũng như giọng điệu các phát ngôn.

Điều nổi bật là Mỹ-Trung dường như khởi đầu một quá trình hòa hoãn. Và sự hòa hoãn này liên quan chủ yếu đến Biển Đông.


Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates và người đồng cấp Trung Quốc Lương Quang Liệt có cuộc gặp song phương bên lề hội nghị Thượng định An ninh châu Á thường niên tại Singapore, 5/6/2011.

Trung Quốc chủ động nhân nhượng để thúc đẩy hòa hoãn

Tháng 7/2010, tại Diễn đàn ARF ở Hà Nội, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã nêu bật mối quan tâm chiến lược của Mỹ ở Biển Đông và ngỏ ý Mỹ sẽ đứng ra làm trung gian cho các cuộc đàm phán hòa bình giữa các bên bất đồng. Ngoại trưởng Mỹ còn bày tỏ mối quan tâm của Mỹ đến Biển Đông khi nêu “lợi ích quốc gia” để đối chọi “lợi ích cốt lõi” mà Trung Quốc nêu lên trước đó.

Bà Susan Shirk, một nhà ngoại giao kỳ cựu của Mỹ, chuyên gia về Trung Quốc thuộc Viện Nghiên cứu Xung đột và Hợp tác Toàn cầu của trường Đại học Tổng hợp California ở San Diego, cho rằng sự can dự của Washington (năm 2010) đã buộc Bắc Kinh phải điều chỉnh quan điểm của họ. Là một cường quốc quân sự đang lên, Trung Quốc muốn tránh xu hướng thân Mỹ trong khu vực. Theo Susan Shirk, “sự điều chỉnh này của Trung Quốc là nhằm tìm cách quay lại cách tiếp cận thực dụng và hợp tác mà Bắc Kinh chủ yếu áp dụng trong chính sách đối ngoại từ thập niên 1990”.

Từ đầu 2011, Trung Quốc triển khai cách tiếp cận mới trong quan hệ với Mỹ, bắt đầu từ cuộc gặp gỡ thượng đỉnh Trung-Mỹ ở Washington tháng 1/2011. Tới Đối  thoại Chiến lược và kinh tế Mỹ-Trung lần thứ hai tại Washington và chuyến thăm Mỹ của Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc, Trung Quốc có thể đã đạt được một số đồng thuận với Mỹ về vấn đề Biển Đông. Đó là Trung Quốc tạm thời không thách thức sự hiện diện hải quân của Mỹ ở vùng biển này, nhưng Mỹ cũng không can dự vào các quá trình tranh chấp ở Biển Đông.

Tại Shangrila, ngày 5/6, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt nêu 4 nguyên tắc hợp tác an ninh quốc tế. Nó bao gồm quan hệ với các quốc gia khác, kể các Mỹ: Thứ nhất, tôn trọng lẫn nhau, đối xử bình đẳng, chú ý lợi ích cốt lõi và những mối quan tâm quan trọng của nhau. Thứ hai, hiểu biết lẫn nhau, tăng cường lòng tin, nắm bắt một cách toàn diện và chính xác ý đồ chiến lược của nhau. Thứ ba, cùng có lợi và cùng chiến thắng, không kết liên minh mang tính đối kháng nhằm vào bên thứ ba. Thứ tư, rộng mở bao dung, đoàn kết hợp tác, hoan nghênh các nước trên thế giới có cống hiến đối với hợp tác an ninh châu Á-Thái Bình Dương.

Các nguyên tắc này không liên quan gì đến Biển Đông. Biển Đông chủ yếu là vấn đề “song phương” giữa Trung Quốc với các nước liên quan. Như vậy, Trung Quốc đã mặc nhiên gạt Mỹ ra khỏi vai trò “trung gian giải quyết xung đột”. Đó là một  kết quả quan trọng, tuy mang tính chiến thuật.

Trung Quốc đang theo đuổi ngoại giao tiền bạc. Với Mỹ cũng không là ngoại lệ. Những nhượng bộ kinh tế, thương mại từ phía Trung Quốc tại các cuộc tiếp xúc cấp cao tháng 5 vừa qua là điều Washington cần có để phục vụ công cuộc phục hồi kinh tế, tài chính, tập trung giải quyết cuộc xung đột Afghanistan. Trung Quốc cần ổn định cục diện an ninh với Mỹ để tập trung ổn định trong nước, giải quyết những bất cập nội chính và hàng núi vấn đề trước thềm Đại hội 18 ĐCS Trung Quốc. Vụ Nội Mông vừa rồi là một đốm lửa nhỏ thể hiện những bất cập đó.

Điều Trung Quốc thu được quan trọng không kém là một sự “tự do” hơn để hành xử trong vấn đề Biển Đông. Các hành động gây hấn đối với Phillipines và Việt Nam cho thấy Bắc Kinh bắt đầu triển khai mạnh mẽ áp đặt quan điểm đối với đòi hỏi chủ quyền liên quan 80% Biển Đông. Trung Quốc cũng tiến hành các mũi giáp công khác tại Đông Nam Á, ra sức tập hợp lực lượng ở đây để phá lập trường thống nhất của ASEAN về Biển Đông. Bắc Kinh tìm cách bẻ bó đũa ASEAN và nhiều chiếc đã bị bẻ gãy.

Mỹ theo đuổi chính sách hai mặt

Tại Đối thoại Shangrila, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates đã có bài phát biểu trình bày quan điểm “chuẩn” của chính quyền Obama về lập trường an ninh quân sự của Mỹ đối với châu Á-Thái Bình Dương. Tuy Mỹ phải cắt giảm ngân sách quốc phòng, nhưng vẫn ưu tiên duy trì sự hiện diện quân sự tại các khu vực liên quan ở Đông Á và Ấn Độ Dương. Bộ trưởng quốc phòng Mỹ tái khẳng định “lợi ích quốc gia” đối với tự do hàng hải; bày tỏ mong muốn các bên giải quyết các tranh chấp phù hợp với Công ước luật biển LHQ và không sử dụng vũ lực.

Sự lên tiếng của Bộ trưởng Gates là một dấu hiệu tích cực, tuy nhiên cũng cần phải xem xét tính hai mặt của vấn đề. Một mặt, ông Gates khẳng định Mỹ theo đuổi quan hệ mới với Trung Quốc, trong khi tiếp tục mở rộng quan hệ đối tác anh ninh quân sự với các nước khác trong khu vực, bao gồm Việt Nam. Ông Gates tiếp tục nhấn mạnh Mỹ cùng Việt Nam xây dựng các quan hệ đối tác song phương mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực thương mại, đầu tư, giáo dục và an ninh-quân sự.

Trên thực tế, việc chia sẻ các căn cứ quân sự với hải quân Úc, đưa thêm chiến hạm cao tốc tới Singapore, đưa ra kế hoạch chế tạo máy bay tàng hình, máy bay trinh sát không người lái, chiến hạm và các phương tiện chiến tranh không gian và tin học cho thấy Mỹ tiếp tục xem trọng sự hiện diện của mình tại châu Á-Thái Bình Dương. Tại Đối thoại Shangrila, ông Gates, người sắp từ giã chính trường để nghỉ hưu sau khi phục vụ dưới 8 đời tổng thống Mỹ, đã đánh cuộc 100 USD với những người tham dự Đối thoại rằng 5 năm nữa sự hiện diện quân  sự của Mỹ tại khu vực sẽ mạnh hơn bây giờ.

Nhưng việc ông Gates không nêu một chữ “Biển Đông” nào trong bài phát biểu lần này thể hiện sự thỏa hiệp Mỹ-Trung. Nó hàm ý duy trì quan hệ an ninh của Mỹ đối với châu Á-Thái Bình Dương là một chuyện, tiếp tục phát triển quan hệ giữa Mỹ với Việt Nam là một chuyện. Còn Biển Đông lại là một chuyện khác.

Một chỉ dấu điều chỉnh chính sách Mỹ trong vấn đề Biển Đông là phát biểu của Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách khu vực Đông Á và Thái Bình Dương Kurt Campbell. Kurt Campbell là quan chức quan trọng hàng đầu của chính quyền Mỹ hiện nay trong việc hoạch định chính sách và triển khai nó tại Đông Á-Thái Bình Dương. Tại một cuộc thảo luận ở Mỹ ngày 31/5, ông đã khẳng định mối quan tâm của Mỹ về an ninh và ổn định tại khu vực này: “Chính sách của Mỹ vẫn duy trì là tránh mọi đụng độ để giải quyết các tranh chấp hay những mối đe dọa và Mỹ muốn thấy những tiến bộ đạt được trong các cuộc đối thoại giữa các bên”. Ông Kurt Campbell cho biết Mỹ sẽ nỗ lực tiến hành hợp tác với Trung Quốc về các vấn đề khu vực Đông Nanm Á trong khuôn khổ cơ chế Diễn đàn ARF và cấp cao Đông Á (EAS), sẽ tiến hành hợp tác trên một lĩnh vực cụ thể như cứu trợ nhân đạo, thương mại và an ninh trên biển. Nhưng Mỹ không đứng về phe nào trong cuộc tranh chấp thường xuyên xảy ra tại Biển Đông.

Đồng điệu, phát biểu với báo chí ngày 1/6 tại Kuala Lumpur, Đô đốc Robert Willard, tư lệnh lực lượng Mỹ ở TBD, đã bày tỏ mối quan ngại về những căng thẳng gần đây giữa Trung Quốc với các nước láng giềng, nhưng ông nhắc lại Mỹ không đứng về phe nào và rất muốn thấy các bên tranh chấp giải quyết một cách hoà bình thông qua đối thoại, không để xảy ra xung đột trên không hoặc trên biển.

Điệu kèn của Mỹ xem ra đã có nhiều nốt khác trước. Đó cũng là điều có thể hiểu và tiên liệu được. Cứ coi như giữa Trung Quốc và Mỹ đang có một đợt giải lao. Nhưng trong một cuộc chơi phức tạp và nhiều bên, giữa những biến động nhanh và bất thường trong tương quan lực lượng giữa các nước và nội chính của từng nước, khó mà thấy hết cái nào bất biến và cái nào biến đổi. Một nước cờ cũng có thể biến đổi cả cuộc cờ.
(Theo Tổ Quốc)
Tin đăng lại

Nguồn: http://vitinfo.vn/MMuctin/Xahoi/CTXH/LA89468/default.html
Logged
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #543 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2011, 03:14:56 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________
( tiếp theo )
....

3.1.3 Có các quyền được xác lập vì lợi ích của các quốc gia khác ngoài Trung Quốc hay Pháp không?

Có hai trường hợp để xem xét nhưng không cần quan tâm đến nhiều: đó là trường hợp của Nhật Bản và Anh.

a) Nhật Bản

Nhật Bản không có yêu sách trước những tháng chuẩn bị Chiến tranh thế giới thứ hai. Thậm chí còn có sự không quan tâm rõ ràng như ông Quyền Toàn quyền Đông Dương đã phản ánh trong một bức thư gửi Bộ trưởng thuộc địa ngày 25-12-1927. Tổng lãnh sự Nhật đã nói với ông là Chính phủ Nhật không quan tâm đến quần đảo Hoàng Sa (69).

Các cuộc trao đổi Pháp - Nhật được tiến hành tại Paris vào tháng 8-1934 xác nhận sự từ bỏ của Nhật Bản đối với các tham vọng của họ (70). Tuy nhiên trong quá trình trở thành một cường quốc quân sự vào cuối những năm ba mươi, Nhật Bản mưu toan tiếp cận các đảo. Lấy cớ khai thác phân chim. Các lính bảo an Đài Loan dưới sự chỉ huy của các sỹ quan Nhật đã đặt một trại lính trên các đảo.

Chính phủ Hoàng gia Nhật thôn tính các đảo này bằng một sắc lệnh năm 1937 và sáp nhập chúng vào khu vực hành chính Đài Loan (71). Nhưng việc này thể hiện ý chí kẻ mạnh nhiều hơn là luận chứng pháp lý. Quân đội Nhật chiếm giữ quần đảo Trường Sa năm 1939, và ngay sau đó, họ chiếm nốt quần đảo Hoàng Sa. Pháp phản đối nhưng Chiến tranh thế giới thứ hai đã đến gần.

b) Anh

Đầu năm 1930, khi nước Pháp bắt đầu biểu thị ý định khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Tổng Lãnh sụ Anh ở Sài Gòn báo cáo Bộ Ngoại giao Anh, nhắc lại rằng một số hòn đảo đã được các công dân Anh chiếm đóng năm 1877 với sự đồng ý của Tổng Lãnh sự Anh tại Bornéo. Nhiều thư từ ngoại giao đã được trao đổi về vấn đề này và các chuyên gia pháp lý đã được tham khảo.

Nhưng Anh quyết định không đòi các quyền này vì họ đánh giá rằng các hành vi do các công nhân Anh thực hiện thực sự là một cơ sở quá mong manh để tạo thành một inchoate title (danh nghĩa ban đầu) và dù sao đi nữa đã không có một sự củng cố nào sau đó. Như vậy, trường hợp này chỉ còn để cho các tác giả nghiên cứu dưới tiêu đề: từ bỏ những yêu sách lãnh thổ (72).

Người ta có thể nói gì về thời điểm kết thúc giai đoạn này (1939)? Tất cả xoay quanh hai vấn đề có ý nghĩa pháp lý và gắn bó với nhau: các quyền mà An Nam giành được trước thời kỳ bảo hộ phải chăng đã bị bỏ dưới thời cai trị của Pháp? Phải chăng các quyền này đã bị bỏ đối với quần đảo Trường Sa nhiều hơn đối với quần đảo Hoàng Sa. Sự từ bỏ đó liệu có cho phép nảy sinh một danh nghĩa có lợi cho cường quốc khác hay không? Như Trung Quốc? như Nhật Bản?

Về điểm thứ nhất, người ta không thể tìm ra một sự từ bỏ có thể kiểm chứng về mặt pháp lý. Thậm chí trong thập kỷ cuối cùng (trước khi có chiến tranh) còn có sự khẳng định hay khẳng định lại các quyền cho nước Pháp.

Tuy nhiên, thời kỳ không chắc chắn hay ngập ngừng kéo dài của Pháp đã đông cứng danh nghĩa của Việt Nam và cần phải xem xét sức sống của nó sau khi tan băng. Ngoài các thư từ trao đổi ngoại giao, các thành phần khác của hồ sơ cần được xem xét liên quan tới giá trị pháp lý của chúng. Như một báo cáo của kỹ sư trưởng Gauthier đề ngày 26-11-1937 ở Hải Phòng. Ông báo cáo về một nhiệm vụ đã được thực hiện để nói lên mối quan tâm của nước Pháp đối với quần đảo Hoàng Sa. Đúng là văn bản của ông chứng tỏ từ đầu đến cuối là vào thời điểm này (1937), ông ta không hiều gì về mối quan hệ quá khứ của các đảo này tới Việt Nam và đối với ông, quần đảo không thuộc quyền tài phán của Pháp và cũng chẳng thuộc quyền tài phán của Trung Quốc. Bản báo cáo hành chính này không ràng buộc các nhà cầm quyền. Các nhà cầm quyền, cụ thể là ông Toàn quyền khi cử ông Gauthier đi làm nhiệm vụ trên, chính là nhằm thực thi chủ quyền của Pháp. Sự thực thi này hoàn toàn là chính thức với Nghị định ngày 15-5-1938 sát nhập hành chính các đảo Hoàng Sa vào Đông Dương.
_______________________________________________________________________________________________________
69.   Do J. Leune dẫn trong Biển và thuộc địa, tháng 8-9-1938.
70.   Xem Công hàm Bộ Ngoại giao Pháp, ngày 10-8-1940, Phụ lục số 37.
71.   Xem cùng bức thư trên.
72.   Geoffroy Marston: Bỏ yêu sách lãnh thổ: trường hợp đảo Bouvet và quần đảo Trường Sa, Niên giám luật quốc tế Anh, 1986, 2. VII.
.....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #544 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2011, 07:49:31 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________
( tiếp theo )
....

Cũng cần phải giải thích sự việc các bản đồ Đông Dương do Pháp in trong suốt thời kỳ này không bao gồm các quần đảo. Tất cả các bản đồ có thể tiếp cận được lập trong thời kỳ này, nhất là các bản đồ hàng không, khí hậu, các bản đồ liên quan đến cơn bão, đều không vẽ tới khu vực hai quần đảo hoặc có kể đến chúng mà không có chỉ dẫn về chủ quyền. Không một bản đồ nào mang lại một dấu hiệu nhỏ nhất (73).

Có thể dễ tìm lý do. Tâm trạng không chắc chắn của Pháp đã kéo dài…, tâm trạng đó không tạo ra bối cảnh thuận lợi cho việc lập các bản đồ ủng hộ việc khẳng định chủ quyền của Pháp.

Hơn nữa, khi đó người ta không quan tâm đến luận cứ bản đồ bởi vì đúng là qua một án lệ có cơ sở chắc chắn (trọng tài vụ đảo Palmas hay vụ đền Preah Vihear), luật sư quốc tế cho rằng trong các tranh chấp chủ quyền giữa các quốc gia, các bản đồ không có giá trị chính thức. Như vậy, mặc dù cuối cùng Pháp đã lấy lại danh nghĩa, nhưng khi ra khỏi giai đoạn đó danh nghĩa này ít được khẳng định mạnh mẽ. Tuy nhiên, không thể ủng hộ ý kiến cho rằng danh nghĩa này đã bị tiêu hủy vì hai nhận xét bổ sung cho phép kết luận rằng năm 1939 danh nghĩa này vẫn luôn luôn có giá trị trong tay cường quốc thực dân. Cường quốc này đã không tuyên bố các đảo, tạo ra một quyền cho bên thứ ba, như vậy đã đưa đến một tình thế không thể đảo ngược. Cường quốc thuộc địa không hiểu biết tình hình, thận trọng quá đáng, nhưng vẫn cảnh giác lo lắng cho quyền lợi của mình.

Nhân dân Việt Nam, khi cuối cùng đã giành lại được độc lập, không phải chịu trách nhiệm về sự ngập ngừng, sự không hiểu biết đó, bởi vì không thể quy cho nhân dân Việt Nam trách nhiệm đó. Các nghị định ở thời cuối cùng đã chứng minh cho vấn đề này.

Đứng trước việc duy trì danh nghĩa với nhiều khó khăn và lộn xộn nhưng có thật đó, Trung Quốc, cường quốc duy nhất thực sự cạnh tranh và chỉ tranh chấp riêng về các đảo Hoàng Sa, đã xuất hiện muộn màng và không có kết quả.

Danh nghĩa trước đó, đã được xây dựng lâu dài và bền bỉ nhưng do có thời kỳ thực dân nên đã bị tê liệt trong thực thi, và các đảo là đối tượng của một sự quản lý không liên tục. Tuy nhiên, dù có bối cảnh đó, các hành vi của Trung Quốc vẫn không đủ rõ ràng và liên tục, và không phải là không thể phản bác để có thể cấu thành một quyền cho họ.

Như vậy, hành vi thực thi một cách liên tục quyền của Pháp và của An Nam trước thời kỳ thuộc địa là có thật đối với Hoàng Sa, cho dù sự liên tục đó được xác lập một cách muộn màng.

Đối với quần đảo Trường Sa, nước Pháp không viện dẫn một mối quan hệ ràng buộc giống như trên. Pháp chiếm hữu các đảo này như một lãnh thổ vô chủ. Điều đó phải chăng có giá trị như sự từ bỏ các quyền của nước An Nam, nếu như thật sự có các quyền này ? Sự tôn trọng quyền của các dân tộc bác bỏ điều đó. Và cũng như sự ngập ngừng của Pháp đối với quần đảo Hoàng Sa không thể hủy bỏ được các quyền cổ xưa của Việt Nam, thái độ của Pháp coi quần đảo Trường Sa như vô chủ (res nullius) trước khi đặt chân lên đó, không thể làm tiêu tan hoàn toàn danh nghĩa có trước đây, nếu nó đã được xác lập rõ ràng.

Cho dù các quyền của Pháp ở Trường Sa không có bề dày lịch sử, và được coi như những quyền thụ đắc đối với các lãnh thổ vô chủ, do đó cách đặt vấn đề đối với mỗi quần đảo có khác nhau, nhưng các quyền đó lại mạnh hơn, vì trong thời kỳ thuộc địa các quyền đó không bị một nước khác tranh tụng như trường hợp quần đảo Hoàng Sa. Thực vậy, Trung Quốc không đưa ra yêu sách chính xác nào đối với quần đảo Trường Sa trong suốt giai đoạn đó. Và tham vọng của Nhật Bản thì đến chậm, mang tính chất tình thế và không có một cơ sở pháp lý nào. Do đó, khi thời cơ đến, tức là lúc phi thực dân hóa, vấn đề Việt Nam thừa kế danh nghĩa mà Pháp đã đạt được có thể mở ra, không có sự nhiễu loạn do các tham vọng cạnh tranh gây ra, và cũng không có sự gắn kết với danh nghĩa cũ hơn và bị đông cứng lâu hơn của Hoàng đế An Nam.

Tuy nhiên, đối với quần đảo này, vẫn có một vấn đề để đặt ra. Năm 1933, nước Pháp cao giọng thông báo việc chiếm hữu sáu hòn đảo. Như vậy, điều đó có giá trị đối với toàn bộ quần đảo không ? Các yêu sách của những nước khác trong thời kỳ này là yếu ớt, có sự quan tâm muộn màng của Philipin và ngoài ra không có gì khác. Vậy liệu ta có thể bảo vệ ý kiến cho rằng cái phụ sẽ đi theo cái chính không ? Đó chính là luận thuyết hiện tại của Việt Nam. Quy tắc nói trên còn giá trị cho đến cuối thế kỷ XIX, đã phải gánh vác một đòi hỏi cao hơn vào thế kỷ XX,. Việc chiếm đóng phải thật sự và phải tương ứng với một sự quản lý tổng thể. Vậy thì người ta cần phải xem tính chất của các miền này và kiểm tra xem liệu có phải là các đảo nhỏ chính không, các đảo mà việc thụ đắc sẽ kéo theo phần còn lại. Xem xét hoàn cảnh trong các giai đoạn gần đây nhất sẽ chỉ ra người ta có thể đi đến đâu trên con đường đó.
__________________________________________________________________________________________
73.   Đó là các bản đồ được ghi trong danh mục tham khảo chung của cuốn sách.
.....

Phần tiếp theo: 3.2 Cuối thời kỳ thuộc địa (sau Chiến tranh thế giới thứ hai)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #545 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2011, 11:44:05 pm »

Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì tuyên bố trái sự thật

Trong Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Á-Âu lần thứ 10 diễn ra tại Godollo, Hungary, Bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì đã tuyên bố tình hình biển Đông là ổn định, trái ngược hoàn toàn với sự thật biển Đông đầy sóng gió mà nguyên nhân hoàn toàn từ phía Trung Quốc.

Tân Hoa Xã cho hay Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì ngày 6/6 nói:

“Tình hình biển Đông là ổn định, những người tôn trọng sự thật đều có thể dễ dàng nhận thấy, hiện nay biển Nam Hải là an toàn, tàu thuyền có thể tự do đi lại trên biển và máy bay có thể tự do bay trên vùng trời biển Nam Hải, bất kỳ hành động nào có ý đồ khiến tình hình trở nên phức tạp đều không phù hợp lợi ích của các bên, đồng thời đi ngược lại với nguyện vọng của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nước trong khu vực”.

Ông Dương Khiết Trì

Trong bài phát biểu này, ông Dương Khiết Trì còn kêu gọi các nước Á-Âu tăng cường hợp tác và tin cậy lẫn nhau, cùng giữ gìn hòa bình và ổn định của khu vực, thúc đẩy phát triển bền vững, ứng phó với các vấn đề an ninh phi truyền thống.

Ông còn trình bày lập trường của Trung Quốc đối với các vấn đề quốc tế và khu vực như cải cách Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tình hình Tây Á, Bắc Phi, tình hình Myanmar và Triều Tiên.

Tuy nhiên, phát biểu trên của ông Dương Khiết Trì lại mâu thuẫn với những gì đã diễn ở Biển Đông thời gian gần đây khi chính quyền Philippines đã liên tiếp 4 lần cáo buộc tàu thuyền Trung Quốc có hành động xâm phạm chủ quyền, đe dọa ngư dân của họ.

Không chỉ có vậy, cách đây không lâu Bộ ngoại giao Việt Nam đã lên tiếng cáo buộc các tàu hải giám của Trung Quốc có hành động xâm phạm lãnh hải và ngang nhiên cắp cáp thăm dò của tàu Việt Nam.
Theo GDVN
Tin đăng lại

Nguồn: http://vitinfo.vn/MMuctin/Quocte/Quanhequocte/LA89457/default.html
Logged
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #546 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2011, 07:31:53 am »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________
( tiếp theo )
....

3.2 Cuối thời kỳ thuộc địa (sau Chiến tranh thế giới thứ hai)

Niên đại sự kiện và những sự phát triển về vấn đề thừa kế Nhà nước hay chính phủ đã làm sáng tỏ tình hình pháp lý rất phức tạp ở Việt Nam trong những năm ngay sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai.

Tuy nhiên, tình hình đó bị chi phối bởi sự hiện diện của đội quân viễn chinh và chính quyền Pháp (cho đến từ năm 1945-1956), nên sẽ hợp lý khi gắn những năm đó vào lịch sử thuộc địa, và khi phân tích chúng cần gộp cả việc xem xét lập trường của Pháp qua từng thời gian.

Trong thời kỳ lộn xộn này, cần phát triển hai yếu tố cấu thành của việc duy trì các quyền, đó là các yếu tố vật chất và các yếu tố ý định. Các yếu tố đó có thể là các sự kiện liên quan đến Nhật Bản (nhưng Nhật Bản sớm bị loại hẳn ra khỏi khu vực), hoặc Việt Nam và nước Pháp, hoặc Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa hay Quốc gia liên kết Việt Nam, hoặc Trung Quốc, Chính phủ Trung Hoa Dân quốc và sau 1949 là chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Và như sẽ thấy, một số yếu tố cũng xuất phát từ Philipin.

3.2.1 Các yếu tố vật chất

Tình hình hỗn loạn do sự kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai gây ra, được phản ánh vào tình hình cụ thể các quần đảo. Các đội quân khác nhau thay thế nhau, hay chia nhau chiếm đóng các quần đảo, nhưng điều đó không phải bao giờ cũng được khẳng định như hành động có chủ quyền. Đôi khi nó chỉ là những sự kiện chiến tranh đơn thuần.

Quân đội Nhật có mặt cho đến khi Tokyo đầu hàng và chỉ rời khỏi các quần đảo vào năm 1946. Theo Hiệp ước Trùng Khánh ngày 28-2-1946 (74), quân đội Trung Quốc được giao nhiệm vụ giải giáp quân Nhật ở Bắc vĩ tuyến 16°. Điều đó cho phép Tưởng Giới Thạch chiếm đóng Hoàng Sa, và hình như ông ta làm việc này vào tháng 11- 1946. Ông ta cũng làm như vậy đối với quần đảo Trường Sa mặc dù không được đồng minh ủy quyền và chiếm đóng quần đảo này vào tháng 12 cùng năm (75). Dựa vào sự có mặt này, vào năm 1947*, Bộ nội vụ của Chính phủ Trung Quốc thời kỳ đó đã phát hành một tập bản đồ trong đó thể hiện Trung Quốc bao gồm cả các quần đảo này. Nhưng trái với những gì mà một số tác giả Trung Quốc khẳng định, điều này không có nghĩa là Trung Quốc đã có các quyền « lịch sử » trên các đảo này, bởi vì sự bao gồm này hết sức muộn mằn và gắn liền với những hoàn cảnh đặc biệt.

Tháng 5-1946, nước Pháp đổ bộ một trung đội bộ binh từ tàu Savorgnan de Branzza lên một số đảo và chỉ ở lại đó vài tháng. Cuối năn 1946, Tướng Juin kiến nghị chiếm lại quần đảo Hoàng Sa để củng cố « lập trường chúng ta trong cuộc tranh luận pháp lý » (76). Đầu tháng 1-1947, một phái đoàn quân sự Pháp đến đảo Hoàng Sa (77).

Tháng 3 cùng năm, Trung Quốc lại đặt chân lên đảo Phú Lâm và phản đối sự có mặt về quân sự của Pháp.

Tình hình trở nên căng thẳng về chính trị, đồng thời cả trên bình diện ngoại giao. Pháp và Trung Quốc quyết định bắt đầu các cuộc đối thoại . Người Pháp vẫn có mặt trên đảo Hoàng Sa (2 sĩ quan, 10 lính Âu và 17 lính bản xứ) (78). Ngày 5-3-1949, Trung Quốc nhắc lại việc sát nhập hành chính quần đảo Hoàng Sa vào đảo Hải Nam. Tháng 4-1950, quân đội Trung Hoa Dân Quốc rời đảo Phú Lâm nhưng được thay bằng quân đội Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Một lần nữa Pháp lại thể hiện mong muốn đưa vụ việc này ra trước Tòa án pháp lý quốc tế.

Năm 1951 và trong những năm sau đó, sự hiện diện của quân đội cộng sản Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa không được xác nhận.

Tháng 7-1949, Hải quân Pháp xin chỉ thị và cho biết rằng một trong các đảo ở Trường Sa (đảo Ba Bình) vừa có một đội quân cộng sản (79) Trung Quốc lẫn một đội quân của Trung Hoa dân quốc chiếm đóng.

Tháng 10-1950, Chính phủ Pháp chính thức trao lại cho Chính phủ Bảo Đại quyền kiểm soát các quần đảo, hay nói đúng hơn là quần đảo Hoàng Sa vì sự hiện diện ở quần đảo Trường Sa là không có. Nhưng mãi đến năm 1956, trước việc quân viễn trinh Pháp rút khỏi Đông Dương, chính quyền Nam Việt Nam mới đảm nhiệm việc thay quân đồn trú Pháp ở đảo Hoàng Sa (thuộc quần đảo Hoàng Sa).

Trong năm đó, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho quân ra chiếm đóng một bộ phận khác của quần đảo này và không rút đi nữa.

Và cũng năm đó (1956), Hải quân quốc gia Nam Việt Nam chiếm đóng một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa và đặt ở đó một mốc chủ quyền.

Qua thời kỳ lộn xộn này, thời kỳ có cuộc chiến tranh Đông Dương thứ nhất (1945-1954), và những tháng sau đó, không thể rút ra các sự kiện có giá trị về quản lý có tính chất chủ quyền các quần đảo.

Tuy nhiên, cần thừa nhận rằng sự hiện diện (bộ phận) của nước Pháp, sau đó là của Nam Việt Nam bao giờ cũng được duy trì trên quần đảo Hoàng Sa hay đúng hơn là trên một đảo của quần đảo này ; rằng nước Pháp khá thận trọng đối với việc chiếm đóng quần đảo Trường Sa trong khi vẫn giữ một mối quan tâm đối với các đảo này, các đảo đã được người Việt Nam chiếm đóng từ năm 1956 ; rằng Trung Hoa Dân quốc rồi Trung Hoa cộng sản đã có mặt trên một bộ phận quần đảo Hoàng Sa cho đến năm 1950, rồi lại một lần nữa vào năm 1956 ; cả hai phía Trung Quốc đều có mặt trong khoảng thời gian ngắn ngủi hơn nhiều trên quần đảo Trường Sa ; rằng Philipin khi đó thể hiện sự quan tâm đến quần đảo Trường Sa hay một số đảo thuộc quần đảo này.

Nhưng, trong một thời kỳ có sự lộn xộn chính trị và quân sự như thời kỳ đã nghiên cứu ở đây, vấn đề ý định có ý nghĩa quyết định, cho nên phải xem xét yếu tố đó cẩn thận.
_________________________________________________________________________________________________
74.   Có sự nhầm lẫn ở đây. Quyết định Postdam tháng 8-1945 giữa Liên Xô, Anh và Mỹ (không phải là Hiệp ước Trùng Khánh) đã giao cho Trung Hoa Dân Quốc tiếp nhập việc giải giáp quân Nhật từ vĩ tuyến 16° trở lên (ND).
75.   Xem Piere Bernard Lafont : Các đường biên giới của Việt Nam, L’Harmattan, Paris, 1989, tr.249 và 254.
76.   Xem thư gửi Chủ tịch Ủy ban Đông Dương ngày 07-10-1946, Phụ lục số 38.
77.   Xem các tư liệu ngày 31-5 và ngày 03-6-1947, Phụ lục 41.
78.   Điện văn ngày 25-01-1951, Phụ lục số 42.
79.   Thật ra không có quân cộng sản (N.D).

* thanhh63: đường chữ U, hay đường 11 đoạn sau này là đường 9 đoạn.
.....

Phần tiếp theo: 3.2.2 Yếu tố ý định đa dạng
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #547 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2011, 11:46:10 am »

Văn bản khẳng định Hoàng Sa thuộc Việt Nam

Từ lâu, làng Mỹ Lợi, xã Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên- Huế, không chỉ nức tiếng là nơi có bề dày lịch sử về truyền thống văn hóa, với nhiều lễ hội, phong tục tập quán đặc sắc mà còn là nơi lưu giữ những tài liệu quý hiếm về Hoàng Sa, khẳng định chủ quyền của Tổ quốc.

Ông Phan Như Ý, Phó chủ tịch UBND xã Vinh Mỹ, cho biết: “Dân làng Mỹ Lợi lưu giữ trong đình làng của mình một văn bản bằng chữ Hán, được lập cách đây 250 năm, trong đó khẳng định chủ quyền lãnh thổ không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa”.



Văn bản liên quan đến chủ quyền Hoàng Sa được lưu giữ tại đình làng Mỹ Lợi. Ảnh: N.Phương/

Văn bản do làng Mỹ Lợi lưu giữ có từ năm Quý Hợi (1743), dưới thời nhà Lê, được viết bằng chữ Hán trên giấy dó, có nội dung xử lý một vụ kiện giữa P.Mỹ Toàn (làng Mỹ Lợi) và P.An Bằng (làng An Bằng) về việc nộp thuế vỏ tàu khai thác sản vật liên quan đến Hải đội Hoàng Sa.

Văn bản được nhà nghiên cứu Lê Nguyễn Lưu tạm dịch như sau: “Tuần quan cửa biển biên hải là Thuận Đức hầu phê cho phường Mỹ Toàn về phường An Bằng. Nguyên năm Quý Hợi (1743), phường An Bằng buộc phường Mỹ Toàn đón chiếc thuyền đội Hoàng Sa của lái Tin ở chỗ giáp ranh, kéo về đến bờ sông. Qua vụ thuế tiết liệu năm Mậu Dần (1758) khoản của thuyền thủ Trường, phường An Bằng lại bắt phường Mỹ Toàn cùng chịu, mỗi bên đem nộp tại chính điện. Đến nay, phường Mỹ Toàn thúc phường An Bằng cùng phường Mỹ Toàn đem nộp vô tàu nhưng phường An Bằng cố ý không đem nộp vô tàu ấy, phường Mỹ Toàn bèn trình đơn lên. Vậy giao cho phường Mỹ Toàn bắt phường An Bằng đền tiền ba quan. Nay phê như vậy. Ngày 19 tháng 9 năm Cảnh Hưng 20 (tức ngày 6.11.1759)”.

Theo nhà nghiên cứu văn hóa Phan Thuận An, văn bản này cho thấy, từ thời Lê, Việt Nam đã có đội Hoàng Sa chuyên trách quản lý và khai thác sản vật ở quần đảo Hoàng Sa. Nội dung văn bản trên cho thấy cách đây 250 năm, triều đình nhà Nguyễn đã có đội quân làm việc tại quần đảo Hoàng Sa. Ông Phan Thuận An cũng cho biết, dân làng Mỹ Lợi đã bàn giao cho Nhà nước văn bản này vào năm 2010 để Nhà nước quản lý, xác lập chủ quyền của Tổ quốc. Giá trị của văn bản này mang tầm quốc gia, thậm chí là quốc tế, với những nội dung rất rõ ràng, ngày tháng cụ thể, người thật, việc thật. “Đây là một nguyên bản có giá trị lịch sử để chứng minh rằng biển đảo Hoàng Sa là của Việt Nam”, nhà nghiên cứu Phan Thuận An nói.

Theo tìm hiểu, làng Mỹ Lợi được thành lập năm 1562, do những người khai canh ra đi lập nghiệp từ làng Lương Niệm, Quảng Xuyên (nay là thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa). Làng có bề dày lịch sử về truyền thống văn hóa lâu đời, với nhiều lễ hội, phong tục tập quán mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, trong đó Đình Làng Mỹ Lợi được xây dựng từ năm 1808, đến năm 1996, được công nhận là di tích lịch sử văn hóa – kiến trúc – nghệ thuật cấp Quốc gia.

Nguyễn Phương
link: http://baodatviet.vn/Home/chinhtrixahoi/Van-ban-khang-dinh-Hoang-Sa-thuoc-Viet-Nam/20116/149200.datviet
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #548 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2011, 02:44:30 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________
( tiếp theo )
....

3.2.2 Yếu tố ý định đa dạng

Yêu sách chủ quyền có các dạng đơn phương, sau đó nó trở thành một cuộc tranh cãi đa phương mỗi dịp có các tuyên bố hay thỏa thuận quốc tế.

a) Nước Pháp

Văn thư ngoại giao cho thấy các ý định của Pháp trong thời kỳ này. Chính phủ Paris duy trì các quyền và khẳng định lại các quyền đó trong mọi trường hợp.

Ngay sau các Hiệp định ngày 06-03-1946, « Chính nước Pháp có trách nhiệm đòi cho nước An Nam các quyền của nước này ở bên ngoài » (80) và sự việc này đã được khẳng định đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Trong một bức điện tháng 08-1946, Cao ủy Pháp tại Sài Gòn đã thông báo cho Tùy viên hải quân biết rằng nước Pháp kiểm soát các đảo Hoàng Sa và bất kỳ tàu thuyền nào dự định ghé vào đấy phải xin phép Cao ủy.

Từ tháng 2 đến tháng 7-1947, quần đảo Hoàng Sa là đối tượng các cuộc thương lượng với Trung Quốc (Dân quốc). Các cuộc đối thoại đó không có kết quả gì nhưng chúng là dịp để nước Pháp khẳng định lại các quyền của mình và đề nghị đưa vụ việc ra trước Trọng tài.

Sau đó (từ 1951-1955), Bộ Ngoại giao Pháp còn tìm cách khẳng định rằng quần đảo Trường Sa không thể là của Việt Nam, rằng việc sáp nhập chúng vào Nam Kỳ chỉ có tính thuần túy hành chính, và rằng các đảo (của Pháp) đó từ nay phải thuộc Bộ Pháp quốc Hải ngoại (81). Lập luận này còn được lặp lại trong một văn thư của Vụ châu Á- Châu Đại dương ngày 11-7-1955… Sau ngày đó, không thấy lập luận nói trên xuất hiện trở lại, mặc dù Pháp không bao giờ thực hiện một hành vi rõ ràng từ bỏ quần đảo Trường Sa. Ngày 16-6-1955, Tướng Jacquot, Cao ủy Pháp tại Đông Dương đã ám chỉ tới một bức thư phúc đáp bí mật ngày 15-3-1949 gửi vua Bảo Đại, theo đó Cao ủy khi bình luận về các Hiệp định ngày 08-3-1949 có lẽ đã công nhận chủ quyền của Việt Nam trên các đảo Hoàng Sa, nhưng không nói gì tới các đảo Trường Sa (82). Trong thời kỳ này, lập trường của Pháp được những nước khác thừa nhận và ủng hộ. Đó là trường hợp năm 1948, nước Anh xin phép nước Pháp sử dụng đảo Linh Côn để thao diễn quân sự, và Chính phủ Úc nói sẵn sàng ủng hộ các yêu sách của Liên Hiệp Pháp trong dịp chuẩn bị Hiệp ước hòa bình với Nhật.

b) Trung Quốc

Ý đồ của Trung Quốc cũng khẳng định yêu sách đối với quần đảo Hoàng Sa.

Mỗi khi tàu Pháp đi qua là bị phản đối và Lãnh sự Pháp ở Quảng Châu phải nhận các công văn phản đối đó (83). Năm 1947, các cuộc đàm phán về vấn đề quần đảo Hoàng Sa tiến hành ở Paris vì không thể họp ở Nam Kinh do sự không khoan nhượng của công luận Trung Quốc. Ngay ở Paris, người Trung Quốc đã bộc lộ một đường lối rất cứng rắn và đặt ra điều kiện đầu tiên để tiếp tục các cuộc đàm phán là đơn vị quân đội Pháp phải rút khỏi đảo Hoàng Sa (84). Đấy là Trung Hoa Dân Quốc và có lẽ từ tháng 5-1950 họ đã rút khỏi đó, nhưng từ năm 1950 Cộng hòa nhân dân Trung Hoa lặp lại các yêu sách của Trung Hoa Dân quốc và lớn tiếng khẳng định các yêu sách đó không những đối với Hoàng Sa mà cả Trường Sa (85).
_________________________________________________________________________________________________
80.   Công văn ngày 06-09-1946, Phụ lục số 43.
81.   Thư của J. Letourneau ngày 007-05-1951, Phụ lục số 44
82.   Xem thư của tướng Jacquot ngày 16-6-1955, phụ lục số 45.
83.   Thư chính thức của Đặc ủy viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ngày 29-4-1949, phụ lục số 46.
84.   Nêu trong Ghi chú của Vụ châu Á – Châu Đại Dương, ngày 15-5- 1950, phụ lục số 47.
85.   Xem thư của Tổng lãnh sự pháp ở Thượng Hải, ngày 27-5-1950, Phụ lục số 49.
....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #549 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2011, 04:25:56 pm »

Lại cáp!
http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2011/06/tau-tham-do-viet-nam-lai-bi-trung-quoc-cat-cap/
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM