Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:59:04 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những bức tường lửa  (Đọc 116580 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoanhe
Thành viên
*
Bài viết: 68


« Trả lời #40 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:35:22 pm »

21

Câu chuyện về anh tiểu đội trưởng Nguyễn Xuân Khoái đáng ra chỉ có vậy, vì anh ta không theo chân những người anh hùng của chúng ta ra trận. Nhưng thật không may (hay là may mắn thì cũng chưa biết chừng) về sau một vài nhân vật quan trọng trong cuốn sách này còn được gặp lại anh ta, mà đều ở trong những hoàn cảnh rất điển hình. Vậy nên, để cho khỏi lôi thôi mất thì giờ, xin kể nốt mấy việc ấy cho xong.

Chuyện thứ nhất - do tướng Hùng Phong kể với giáo sư kiêm nhà văn Trương Đình Lân:

... Sau chiến dịch đường 9 - Nam Lào, tôi được tổng cục chính trị gọi ra Bắc để nhận danh hiệu Anh hùng.

sau đó tiến hành một đợt “lưu diễn” rộng khắp các địa phương miền Bắc để kể chuyện chiến đấu. Dĩ nhiên đối tượng ưu tiên là học sinh, sinh víên. Lần ấy tôi ra vùng Đông Bắc Tổ Quốc để giao lưu với sinh viên các trường Mỏ - Địa chất và trường đại học Lam nghiệp. Khỏi phải kể về sự tận tình nhiệt huyết của sinh viên các trường đại học khi được đón tiếp những người anh hùng vừa từ tiền tuyến trở về. Tuy vậy, chúng tôi vẫn bị bất ngờ trước qui mô và hình thức vô cùng sinh động, phong phú mà sinh viên các rường và thanh niên học sinh vùng Đông Bắc dành để đón tiếp chúng tôi. Nhưng với riêng tôi, sự bất ngờ dường như tăng lên gấp nhiều lần khi được gặp tại đây một người đồng đội, đó chính là tiểu đội trưởng cũ của tôi, anh Nguyễn Xuân Khoái.

Chính anh là người "chủ trì" cuộc đón tiếp này. Bởi vì lúc đó anh Khoái đang là bí thư đoàn trường đại học Mỏ, uỷ viên ban chấp hành đoàn thanh niên tỉnh Quảng Ninh. Chính anh là người chủ trì buổi đón tiếp đoàn chúng tôi tại trụ sở tỉnh đoàn, chính anh cũng là người dẫn chương trình giao lưu, chính anh là người đã giới thiệu tôi lên diễn đàn nói chuyện với thanh niên các trường đại học và thợ mỏ vùng Đông Bắc... Chính anh mang cuốn sổ vàng truyền thống của thanh niên vùng mỏ đến trước mặt tôi yêu cầu tôi viết cho vài dòng cảm tưởng. Chính anh đã tận tay trao tặng tôi bức tượng Bác Hồ do các nghệ nhân vùng mỏ tạc bằng than đá. Rồi, cũng chính anh tiễn tôi ra tận xe, bắt tay thân mật và hẹn có ngày "Anh hùng quân đội Phạm Hùng Phong" trở lại thăm vùng mỏ...

Vậy mà lạ lùng thay, không một lần nào trong bấy nhiêu lần giao tiếp, trên gương mặt anh xuất hiện một dấu hiệu dù rất nhỏ, chứng tỏ rằng anh đã nhận ra tôi? Vậy là cớ làm sao? Hay là tôi nhận lầm người. Chẳng lẽ người ấy không phải là tiểu đội trưởng Nguyễn Xuân Khoái mà tôi từng biết rất kĩ càng?

Những câu hỏi ấy cho đến tận khi trở thành một ông tướng, Hùng Phong vẫn không sao giải đáp được.

Khi nghe ông ta kể lại chuyện này, giáo sư Trương Đình Lân trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi kết luận:

- Hoặc giả là anh nhìn lầm, hoặc giả anh ta là một nghệ sỹ bậc thầy, một nhà chính trị bậc thầy, hay một tên bịp bợm vào loại bậc thầy!

Và để an ủi ông bạn đồng ngũ năm xưa, giáo sư Lân bèn kể tiếp câu chuyện sau đây:

... Vào năm... Tôi có dịp về tỉnh X... Để dạy một lớp đại học tại chức theo lời mời của một cậu học trò. Hồi đó phong trào cán bộ các địa phương đua nhau theo học các lớp đại học tại chức đang rất rầm rộ. Cánh giảng viên đại học chúng tôi vì thế cũng kiếm ăn được.

Tuy vậy, với những giảng viên chuyên giảng dạy các môn khoa học xã hội như bọn tôi thì những cơ hội được mời "thỉnh giảng" cũng không phải là nhiều lắm. Đi giảng "tại chức" ở địa phương có đến mấy cái thú: được đi du lịch không phải trả tiền, được ăn uống tử tế, được trả thù lao rất cao lại được những người có chức có quyền gọi mình là thầy khiến cho lòng tự ái của người trí thức cũng được vuốt ve tý chút. Vì thế được mời là khó có thể từ chối. Cậu học trò mời tôi về "thỉnh giảng" ở tỉnh X... lại vừa được đề bạt làm phó giám đốc sở giáo dục của tỉnh, nên tôi lại càng cảm thấy mát mặt.

Vừa tới nơi, chưa kịp nghỉ ngơi thì cậu học trò đã đánh xe tới nhà khách đon đả mời thầy đi dự một bữa com thân mật. Dĩ nhiên là tôi thể từ chối rồi. Vừa

ngồi lên xe, cậu học trò ấy vội xoa tay cười bả lả, đả thông ngay - "Xin lỗi thầy, hôm nay chưa phải là em mời thầy mà là xếp của em, đồng chí phó chủ tịch tỉnh phụ trách văn xẫ đích thân mời cơm thầy đấy ạ!". Tôi giật mình đánh thót một cái, tại sao tôi lại được biệt đãi như thế này nhỉ? Đang định liều hỏi một câu thì cậu học trò giải thích ngay "Chẳng giấu gì thầy, thủ trưởng của em đang làm luận án phó tiến sỹ về đề tài Văn hoá làng xã và sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn... Biết em là người đã từng được thầy hướng dẫn viết luận án thành công nên thủ trưởng của em có ý định mời thầy làm thầy hướng dẫn của mình đấy ạ". Một đồng chí phó chủ tịch tỉnh mà lại chú tâm nghiên cứu về đề tài văn hoá làng xã trong thời đại công nghiệp hoá hiện đại hoá thì thật là phúc cho con dân trong tỉnh. Tôi đã thành thật nghĩ vậy nên vui vẻ nói với cậu học trò "Được thôi, nếu như thủ trưởng của cậu thực sự có khả năng và có quyết tâm nghiên cứu đề tài này thì mình cũng sẵn sàng hỗ trợ".

Xe đưa chúng tôi đến một nhà hàng kín đáo nhưng có lẽ thuộc vào loại sang nhất của cái tỉnh lị này. Vừa xuống xe, đã thấy một anh chàng ăn vận bảnh bao, vẻ mặt tươi cười đón trước cửa cúi chào lễ phép nói - Thủ trưởng của em đang chờ giáo sư và phó giám đốc ở trên lầu ạ!

Căn phòng dành riêng của nhà hàng có hai cửa sổ nhìn thẳng ra con sông lớn, gió thổi lồng lộng. Trong phòng chỉ có một bộ bàn ăn sang trọng. Một người đàn ông có dáng thấp đạm, đang ngồi nhìn ra mặt sông thư thái hóng gió. Cậu học trò của tôi nhanh chân bước tới khẽ cúi mình thưa:

- Dạ thưa đồng chí phó chủ tịch, giáo sư Lân đã tới ạ!

Ông phó chủ tịch quay lại nói "Tới rồi à?" rồi xô ghế đứng dậy tiến tới trước mặt tôi. Tiếng cậu học trò lại vang lên:

- Dạ... xin giới thiệu với giáo sư, đây là đồng chí Nguyễn Xuân Khoái, tỉnh uỷ viên, phó chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh ạ!

Bàn tay của ông phó chủ tịch đã vươn ra nhưng tôi thì vẫn đứng ngây ra như người vừa bị ngộ gió. Bàn tay tôi đã nằm gọn trong lòng bàn tay râm rấp mồ hôi của ông ta nhưng miệng tôi thì vẫn cứng đơ:

- Vâng... vâng... ông là...

Có lẽ vì ông ta đứng ngược với ánh sáng từ cửa sổ chiếu vào nên tôi không thấy đươc một nét rung động khác thường nào trên gương mặt ông ta. Tiếng ông ta vẫn vang lên rành rọt như đọc khẩu lệnh:

- Tôi là Nguyễn Xuân Khoái, phó chủ tịch tỉnh. Xin kính chào giáo sư đến với địa phương chúng tôi!

Bữa tiệc đã diễn ra như thường lệ, ngoại trừ sự ngỡ ngàng lúng túng xen lẫn hồ nghi cứ dâng lên từng đợt trong lòng tôi. Không có một dấu hiệu nào chứng tỏ, rằng "ông ấy" đã nhận ra tôi. Vì thế tôi cũng không thể "thấy người sang bắt quàng làm họ" được. Trong suốt bữa tiệc, ông ta nói rất nhiều, nói khá hay về những tiềm năng, triển vọng và những dự định lớn lao của đảng bộ và chính quyền tỉnh trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá để nhanh chóng đưa tỉnh nhà trở thành một trong những tỉnh đầu tiên trong cả nước vượt qua mức GDP bình quân đầu người đạt một ngàn đô la năm, toàn tỉnh sẽ không còn một hộ nào thuộc diện đói nghèo trong mười năm tới. Vân vân và... vân vân... và lạ thay, trong suốt bữa ăn ông ta không nhắc một câu nào về cái luận văn phó tiến sỹ... hay những dự định nghiên cứu khoa học của mình. Cậu học trò của tôi có vẻ sốt sắng đôi khi cứ cố tình lái câu chuyện về hướng này, nhưng ông ta làm như không để ý hoặc tìm cách lảng ra một cách khéo léo. Cuối tiệc, hình như sốt ruột vì mục đích chưa đạt được, cậu học trò ngây thơ của tôi liền dại dột đi thẳng vào vấn đề:

- Dạ... thưa giáo sư... qua câu chuyện vừa rồi hẳn giáo sư đã thấy thủ trưởng của bọn em say sưa như thế nào với đề tài công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Vì thế cho nên thủ trưởng của em có ý định...

Ông phó chủ tịch tỉnh liền xua tay kiên quyết ngắt lời:

- Những chuyện đó để sau đi. Thời gian còn dài mà. Giáo sư mới tới, không nên để giáo sư mệt thêm về những mư ước hão huyền của anh em mình nữa!

Nói rồi, ông ta đứng dậy, tỏ ý muốn chấm dứt cuộc tiếp khách. Tôi cũng vội vã đứng lên, hoang mang bắt tay tạm biệt ông ta mà vẫn không dám khẳng định rằng ông ta có phải chính là ông "cựu tiểu đội trưởng" của mình hay không?

Những ngày sau đó tôi cũng có ý chờ đợi, nhưng không thấy cậu học trò của tôi nhắc gì tới chuyện luận án phó tiến sỹ của đồng chí phó chủ tịch tỉnh nữa. Đến ngày kết thúc đợt thỉnh giảng ở tỉnh X, cậu học sinh cũ tới tiễn tôi và trước khi lên xe, có giúi cho tôi một cái phong bì và nói nhỏ “- Đồng chí phó chủ tịch gửi lời chào thầy! “Tôi hốt hoảng mở vội cái phong bì trước mặt cậu học trò, sợ có gì ở trong đó thì thật phiền.

Nhưng không, trong phong bì chỉ có một tấm thiệp nhỏ, trên đó ghi một dòng chữ:

- Kính chào giáo sư. Hẹn gặp lại!

Một lời chào rất trung tính. Y như cái dòng chữ “See you again!' mà vị khách nào cũng nhìn thấy trước khi rời khỏi địa bàn thị X vậy!

Nghe xong câu chuyện của giáo sư Lân, trung tướng Hùng Phong cười ha hả:

- Đúng là ông ta rồi! Giỏi... phải nói là lão ta giỏi thật đấy! Vẫn là cái cách tảng lờ tỉnh bơ như chuyện cái mũ sắt của thằng Hướng ngày nào. Làm cách nào mà lão ta qua được cái vụ hối lộ bác sỹ giám định y khoa nhỉ? Xưa nay, người ta chỉ nói tới chuyện bọn tội phạm rửa tiền chứ đã ai nói đến chuyện “rửa lí lịch” đâu?

Chẳng lẽ cái lão này có phép thần thông? Nhưng phải nói, chưa ai huấn luyện lính mới tài ba như lão ấy? Sau này mình cũng làm chỉ huy, từ cấp tiểu đội cho lên tới tận cấp quân đoàn, quân khu, nhưng chưa bao giờ mình thấy sợ một ông chỉ huy nào như lão Khoái. Cậu còn nhớ cái đận chúng mình mới nhập ngũ huấn luyện ở Hoài Đức chứ?

- Nhớ, chứ sao lại không?

... Trong số mười ông tiểu đội trưởng ở đại đội 9 thì trung sĩ Nguyễn Xuân Khoái là người có tư thế nhất.

Anh ta có giọng hô khẩu lệnh vang to, đĩnh đạc, dứt khoát, thậm chí nghe còn oai hơn cả giọng đại đội trưởng Nguyễn Hồng Thanh. Anh ta thực hình các động tác điều lệnh rất đẹp và chuẩn nên thường được làm mẫu cho cả đại đội. Lúc nào anh ta cũng ăn mặc gọn gàng bảnh bao, quân phục được mài bạc trắng ra rồi được làm li phẳng lừ bằng cách gập vào giữa hai mảnh gỗ, để trên đầu giường. Anh ta rất ghét thói luộm thuộm nên mỗi ngày thường báo động kiểm tra nội vụ của tiểu đội vài ba lần. Lính tráng trong tiểu đội anh nào vi phạm điều lệnh thường bị phạt rất nghiêm bằng những hình thức rất “sáng tạo” như đeo nguyên cả ba lô thạy ba mươi vòng trong ngõ xóm vừa chạy vừa hô “Một... hai... ba....tôi là quân nhân hạng bét!”.

Logged
hoanhe
Thành viên
*
Bài viết: 68


« Trả lời #41 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:36:21 pm »

Cậu Cung cũng đã có lần bị phạt như vậy. Nhưng đáng lẽ phải hô “Một... hai... ba. Tôi là quân nhân hạng bét!” thì cậu lại hô “ Một... hai... ba... tôi là quân nhân hạng... nhất!”. Đang nằm trong nhà nghỉ trưa, nghe thấy người đang thực hiện án phạt mà dám hô bậy như vậy, tiểu đội trưởng Khoái chồm dậy chạy ra đường chặn cậu Cung lại quát - “Quân nhân Ngô Xuân Cung...

Đứng lại!”. Cậu Cung đứng lại nhưng không chào, cũng không báo cáo gì sất, mà lại hỏi “Anh ra đây làm gì?”. Khoái tức lộn ruột, vằn mắt lên hô - “Đứng - Nghiêm! Chào chỉ huy theo điều lệnh!”. Cậu Cung không đứng nghiêm, cũng không chào, mà còn cười ngặt ngẽo rồi chỉ vào anh ta mà nói “Yêu cầu tiểu đội trưởng vào nhà mặc quân phục đã rồi ra đây tôi mới chào được chứ!”. Đến lúc ấy tiểu đội trưởng Khoái mới chợt nhớ ra rằng mình đang mặc quần đùi áo lót. Anh ta đành phải quay vào nhà mặc quân phục, nhưng khi trở ra thì cậu Cung đã chạy ra đến đầu xóm, vừa chạy vừa hô lớn “Một... hai... ba. Tiểu đội 9 có một tiểu đội trưởng hạng nhất và một quân nhân hạng bét!”.

Sau vụ đó tiểu đội trưởng Khoái trù cậu Cung ra mặt, buổi tập nào cũng mang cậu ra hành. Nhưng cũng may, chỉ được một tuần thì cậu Cung được điều lên làm anh nuôi. Ngay lần họp chi bộ đầu tiên khi rời khỏi tiểu đội nghe nói cậu Cung đã phê bình tiểu đội trưởng Khọái một trận vì “tác phong quân phiệt!”.

Có lẽ vì thế mà cậu Cung không thể quên được một người như tiểu đội trưởng Khoái.

Và sau đây là câu chuyện mà cậu Cung kể cho cánh cựu chiến binh đại đội 9 nghe sau lễ tang tướng Hùng Phong... Nghe các anh nhắc tới tiểu đội trưởng Khoái tôi mới nhớ ra. Đáng lý ra cũng nên báo tin cho anh ấy về dự lễ tang Hùng Phong. Vì dẫu sao, anh âý cũng có công rèn luyện Hùng Phong đấy chứ. Anh hỏi tôi gặp tiểu đội trưởng Khoái bao giờ à? Thì cũng mới đây thôi. Chẳng là con bé cháu nhà tôi học xong đại học tài chính - kế toán đã hơn một năm rồi mà chẳng xin được việc làm. Bỗng một hôm cháa mang về một tờ báo và chỉ vào một cột quảng cáo rồi khoe "Bố ơi, mai con đi thi tuyển, có công ty giấy ở bên Bắc Ninh đăng báo tuyển người đấy bố ạ". Tôi cũng đáp ừ hữ, chẳng để tâm tới chuyện đó vì kì thực, tôi chẳng mấy hi vọng vào cái sự đi tìm việc qua một tờ báo? Bấy lâu nay bố con tôi cũng từng đi mòn đường nát cỏ nhà người ta còn chẳng ăn ai nữa là... Nhưng thôi được, cứ mặc kệ cho nó nuôi lấy một tý hi vọng, có chết ai?

Thế là hôm sau cháu hăm hở đạp xe đi. Đến chiều tối thấy nó đạp xe về, vừa tới cổng đã reo ầm lên "Bố ơi, có khi con trúng tuyển vào làm kế toán ở công ty đó rồi bố ạ!". Tôi cuời hỏi "Trúng là trúng, trật là trật, sao lại còn có khi?" "Vì ông ấy, cái ông giám đốc ấy sau khi xem kĩ lí lịch của con, lại hỏi thăm rất nhiều về bố. Có khi ông ấy quen bố hay sao ấy bố ạ? Sau khi phỏng vấn con xong, ông ấy còn bảo - Thôi được rồi, cô về đi, ngày mai đưa bố cô lên đây nói chuyện với tôi".

Tôi thấy lạ quá. Hỏi tên cái ông giám đốc ấy thì con bé nói rằng làm sao mà nó biết đuợc, khi phỏng vấn, người ta có xưng tên cho mìn biết đâu? Tối hôm đó tôi trằn trọc suốt đêm không ngủ được? Tôi làm gì có người bạn nào làm giám đốc nhỉ? Hay là vì đây là một công ty tư nhân cho nên trước khi nhận con vào làm họ bắt bố mẹ tới để mà kí cam đoan, cam kết gì chăng? Thôi kệ, sáng mai sang đó rồi khắc biết!

Sáng hôm sau hai bố con đạp xe đi từ tinh mơ. Gần mười giờ sáng thì sang tớí trụ sở công ty ở gần thị xã Bắc Ninh. Nhìn qua cơ ngơi thì cũng thấy đây là một công ty khá to, có đến mấy dãv nhà xưởng. Có trụ sở ba tầng. Có ô tô con ô tô to ra ra vào vào. Trên cổng lớn của trụ sở công ty có biển đề "Công ty TNHH Giấy Xuân Khoái" - Thì ra công ty này chuyên sản xuất kinh doanh các loại giấy, nhưng thiên về giấy vệ smh và các loại khăn thơm, giấy thơm phục vụ cho các nhà hàng, khách sạn. Thú thực, cái tên công ty chưa gây được cho tôi ấn tượng gì đặc biệt. Nhưng đến khi bước tới cửa phòng giám đốc, nhìn thấy cái biển đỏ đề trên cửa "Nguyễn Xuân Khóai - Giám đố" thì tôi đã hơi chột dạ. Vì tự dung trong trí óc tôi bỗng vụt hiện hình ảnh một tấm biển nhỏ màu xanh, với hàng chữ đỏ luôn được đặt trên đầu giường trong "không gian dành cho người chỉ huy" - Nguyễn Xuân Khóai - A Trưởng".

Tôi còn đang ngơ ngác đứng ngắm tấm biển ghi danh ở trước phòng giám đốc thì bên tai tôi bỗng vang lên một giọng nói oai vệ quen thuộc:

- Binh nhất Ngô Xuân Cung!

Tôi giật mình quay lại và chẳng khó khăn gì tôi nhận ra ngay người đứng trước mặt mình là tiểu đội trưởng Nguyễn Xuân Khoái. Tự nhiên đầu gối tôi cứng lại, trong tư thế nghiêm, tôi đưa tay lên vành mũ lá và cất tiếng dõng dạc:

- Báo cáo tiểu đội trưởng... tôi binh nhất Ngô Xuân Cung, quân nhân hạng bét, xin trình diện tiểu đội trưởng!

Ông ta vỗ vai tôi cười ha ha "Ông còn nhớ những chuyện ấy kia à? Chứng tỏ ông... cũng thù dai đấy chứ.

Chúng tôi vui vẻ nhắc lại những kỷ niệm xưa nhưng tuyệt nhiên không thấy ông ta nói gì thêm về vụ viêm đại tràng mãn tính cả...

- Thế... ông ta có nói rằng ông ta đã từng... làm cán bộ to ở tỉnh nào không?

- Không thấy nói đến. - ông Cung lắc đầu, nhưng rồi lại nói thêm - mà hình như có... ông ta có nói rằng việc gì cũmg từng trải qua rồi. Làm lãnh đạo cũng làm rồi, thậm chí súyt trở thành đại biểu quốc hội nữa kia. Nhưng suy cho cùng thời này làm nhà doanh nghiệp là thoải mái nhất vì thế nên khi được về hưu ông ta liền nghĩ đến việc đứng ra thành lập một công ty để tham gia làm giàu cho đất nước. Ông ta nói, thử làm người hùng của thời kinh tế thị trường xem nó ra làm sao? Xem ra, ông ta làm được đấy. Ông ta khoe rằng công ty của ông ta mới đi vào sản xuất chưa đầy năm mà đã thu lãi hàng chục tỷ rồi. Vừa qua, nhân ngày 27-7, Công ty của ông ta cũng đã xây tặng cho một bà Mẹ Việt Nam anh hùng ở địa phương một ngôi nhà tình nghĩa trị giá 30 triệu đồng. Cha mẹ ơi, ông ấy nói đến tiền trăm bạc tỷ mà cứ như không ấy!

Im lặng một lát dường như vừa đủ để cho anh em kịp thấy tự hào vì có người đồng đội đang nổi lên như một nhân vật anh hùng thời kinh tê thị trường, ông Cung mới quay sang ghé vào tận tai giáo sư Lân thì thào:

- Ông Khóai cũng có hỏi thăm anh đấy. Ông ấy bảo, công ty làm ăn khá lắm hiện đang nổi hẳn lên như một điển hình về các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở địa phương thời kì đổi mới. Nhiều nhà văn, nhà báo nhà thơ đã về đấy viết văn, làm thơ ca ngợi. Đợi khi nào thuận tiện thì sẽ mời giáo sư- Nhà văn Trương Đình Lân về thăm và viết cho ông ta một cuốn sách. Ông ta còn nói thêm, sẽ trả thù lao cho anh theo giá thỏa thuận hẳn hoi kia!

Giáo sư Lân bật cười lớn. Ông nghĩ thầm, không chừng đến lúc nào đó cũng phải viết một cái gì đó về ông khăn thơm giấy thơm này cũng nên!
Logged
hoanhe
Thành viên
*
Bài viết: 68


« Trả lời #42 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:38:40 pm »

22

Công bằng mà nói sự nghiệp của nhà văn kiêm giáo sư văn hoá học Trương Đình Lân cũng được bắt đầu từ việc viết về những nhân vật điển hình kiểu như cái ông “khăn thơm giấy thơm” này thôi. Có điều đó là những vị “khăn thơm giấy thơm” của chiến trận.

Nhưng khổ một nỗi, những nhân vật điển hình trong chiến đấu thường không thọ được lâu như điển hình trong lao động sản xuất. Không thiếu gì những người hùng trong những phong trào lao động sản xuất đến tận ngày hôm nay vẫn được gọi là anh hùng, họ sống sờ sờ mà sống vui, sống khoẻ, sống có ích vì họ đều đã trưởng thành, trở thành những vị lãnh đạo đáng kính của các cơ quan, đoàn thể từ trung ương tới địa phương cả rồi, mặc dù những việc mà họ làm được, những phong trào mà họ dẫn đầu cũng không tồn tại được bao lâu. Ngoài mặt trận thì lại khác, những người anh hùng của chiến trận thường để lại dấu ấn chỉ trong một khoảng khắc, một trận đánh. Dù rằng đó là những hành động oanh liệt, chói sáng thì cũng rất khó lập lại.

Những người còn “phát huy” được, còn nuôi được tư chất anh hùng của mình thường không nhiều, mà phải có được sự “đầu tư” rất thích đáng của tổ chức. Vì vậy, trơng số hàng trăm những “điển hình”, những tấm gương chiến đấu mà Trương Đình Lân đã viết được thành văn để đăng báo, in sách thì số “có tuổi thọ” còn lại chỉ đếm trên đầu ngón tay. Đa số họ chỉ là những anh hùng trong một khoảng khắc, một trận đánh. Rồi sau đó thì hoặc họ hi sinh, bị thương rời khỏi chiến trường, hoặc còn tiếp tục chiến đấu nhưng chỉ là “chiến đấu kiên cường và bền bỉ” thôi chứ không có cơ hội mà chói sáng trở lại, hoặc sau đó có khi họ còn có những hành động kiệt hiệt hơn nhưng lại chẳng mấy ai biết đến nữa. Thời bấy giờ, các phương tiện thông tin đại chúng tuy đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tuyên truyền những tấm gương anh hùng trong chiến đấu, nhưng vì họ không thể có mặt ở khắp nơi, nhất là không thể có mặt đúng lúc xảy ra những hành động anh hùng, nên việc “phát hiện” và lăng xê những điển hình đành phải dành cho con đường của tổ chức.

Hồi đó, Trương Đình Lân chưa đủ trưởng thành để phát hiện ra qui luật này nên những “điển hình”của anh thường chỉ là “khăn thơm giấv thơm” trong một thời gian ngắn ngủi. Nếu như anh dựa chắc vào tổ chức để biết rõ tổ chức có định hướng xây dựng và bồi dưỡng những điển hình nào thì có lẽ anh sẽ có được những điến hình có tuổi thọ cao cỡ như Phạm Hùng Phong. Khổ một nỗi, ngay cả một điển hình có tính “chiến lược” như Hùng Phong mà anh cũng không viết được cái gì ra hồn. Hay là điều đó lại nằm trong qui luật muôn đời “bụt chùa nhà không thiêng?”.

Đó là lỗi của anh chứ không phải lỗi của tổ chức.

Vì dù sao, tổ chức cũng đã dành cơ hội cho anh! Không phải một lần mà ít ra cũng hai ba lần.

Lần thứ nhất, khi phát hiện anh đã có bài trong sổ tay viết về đồng chí Hùng Phong “còn hay hơn cả bài trên báo”, chính trị viên Lương Xuân Báo đã gọi anh lên động viên anh gửi bài đó cho báo nhưng anh đã từ chối.

Lần thứ hai là sau khi sư đoàn trưởng xuống thăm tiểu đoàn 7, trước khi đi B, mặc dù lúc này anh đã không còn là chiến sỹ của đại đội 9 nữa nhưng chính trị viên Lương Xuân Báo vẫn mời anh về yêu cầu viết một bài về “Tiểu đội Hùng Phong trong khí thế sẵn sàng ra trận đi giết giặc lập công”. Hồi đó, chính trị viên Báo tin rằng chỉ cần một bài vài trăm chữ được đăng lên báo là người ta sẽ sớm quên đi “sự kiện Nguyễn Xuân Khoái” đang làm ông ta cảm thấy lép vế trong phong trào thi đua của cả tiểu đoàn. Rất tiếc hồi ấy rất hiếm khi có được một nhà báo về đơn vị thâm nhập thực tế. Hoặc có về thì họ cũng chả xuống đến cấp đại đội để “tìm điển hình”. Về khía cạnh này thì phải công nhận là chính trị viên Lương Xuân Báo là người đi trước thời đại khi hiểu được sức mạnh của báo chí. Sở dĩ chính rị viên phải đến tận “lều tranh” của tiểu đội trinh sát tiểu đoàn để mời Trương Đình Lân viết bài là vì ông ta vừa đọc được một bài viết của Lân trên báo quân đội. Đó là bài anh viết khi còn ở lớp trinh sát có tựa đề “Tình dân làng Gồ”. Bài báo của anh đơn giản chỉ là một bài kể chuyện tình quân dân, chả dính dáng gì đến điển hình, đến các phong trào thi đua. Thực ra lúc đầu chính trị viên không nhận ra đó là bài của Lân. Trong buổi đọc báo buổi tối ở đại đội, anh thấy bài này hay và rất hợp với chủ đề sinh hoạt tư tưởng trong tuần của đại đội nên cho đọc và tổ chức thảo luận dân chủ trước đại đội. Người phát hiện ra tác giả bài báo lại là “cậu Cung”. Khi nghe chính trị viên nhắc đi nhắc lại về “sự sắc bén về tư tưởng” của ông nhà báo được thể hiện trong bài viết, cậu Cung mới ngứa tai đứng dậy nói “Chính trị viên cứ nói quá lên làm gì. Chả phải nhà này nhà nọ gì đâu. Đó là do cậu Lân, người cũ của đại đội ta viết đấy. Tôi biết nó từ lâu, thằng này cũng chả có tư tưởng cao siêu gì, nhưng nó viết có tình cảm lắm”. Nghe xong, chính trị viên Lương Xuân Báo sửng sốt hỏi lại “Đồng chí Cung không nói đùa đấy chứ?” Cậu Cung cười “Đùa gì mà đùa, những bài kiểu này thằng Lân nó chỉ ngoáy vài tiếng là xong. Không tin, chính trị viên cứ gặp cậu ấy mà hỏi cho rõ”. Thế là sau một đêm suy nghĩ, chính trị viên đích thân lên gặp Lân.

Đến nay, anh cũng không hiểu vì sao lúc đó mình lại từ chối lời đề nghị viết một bài báo về chính cái tiểu đội thân yêu của mình. Sau này anh mới hiểu, giá như hồi đó, ông Báo đừng có hễ mở miệng là “tiểu đội Hùng Phong” thì có lẽ anh đã nhận lời.

cũng phải mãi về sau, khi đã là giáo sư văn hoá học rồi, anh mới hiểu vì sao hồi đó ông Lương Xuân Báo cứ thích gọi “tiểu đội Hùng Phong” “trung đội Hùng Phong” rồi sau này là “Đại đội Hùng Phong”...

Thì ra từ hồi đó ông Báo đã hiểu rất rõ nghệ thuật xây dựng thương hiệu! Khi người ta đã có ấn tượng về một thương hiệu rồi thì nhà sản xuất phải bám lấy, phải bằng mọi cách giữ vững ấn tượng về thương hiệu đó, thậm chí phải áp đặt khách hàng để họ công nhận một cách từ từ nhưng chắc chắn thương hiệu ấy. Đó là qui luật của sự tiếp nhận cưỡng bức. Không hiểu sao từ thời “phi thị trường ấy” mà ông Báo đã hiểu được những qui luật cao siêu đó và đã áp dụng nó một cách nhuần nhuyễn tài tình trong công tác chính trị. Trong cuộc đời làm cán bộ thính trị của mình, ông đã xây dựng thành công rất nhiều điển hình bằng phương pháp nói trên mà điển hình nào cũng có sức sống, có khả năng tác động tới phong trào của đơn vị và có sức khích lệ động viên mọi người rất cao. Khi còn là chính trị viên đại đội, tiểu đoàn thì ông có chiến sỹ Hùng Phong, tiểu đội Hùng Phong, trung đội rồi đại đội Hùng Phong. Khi lên tới chính uỷ trung đoàn thì ông có “Pháp xung phong!” - (Pháp là tên của một dũng sỹ diệt Mỹ nổi tiếng của sư đoàn) - sau được nhân lên thành tiểu đội Pháp - Xung phong! Trung đội Pháp Xung phong!

Đại đội Pháp - Xung phong!”. Rồi “Tiểu đoàn 8- Tiểu đoàn chốt thép” “Tiểu đoàn 7 - Vua Công kiên” “Tiểu đoàn 9 - Chim ưng vận động chiến”, v.v... Mỗi một danh hiệu như vậy đều được xây dựng rất công phu và dần dần trở thành sở trường tác chiến của mỗi tiểu đoàn, trở thành niềm kiêu hãnh của mỗi người lính - nói như ngôn ngữ thời kinh tế thị trường hôm nay nghĩa là một thương hiệu đã được xã hội hoá cao, được đóng dấu chất lượng cao, được khách hàng thừa nhận!

Một đời làm cán bộ chính trị của Lương Xuân Báo mà làm được từng ấy việc kể cũng là thành công. Thậm chí những danh hiệu mà ông sáng tạo ra và bồi đắp xây dựng nên còn sống tới tận ngày hôm nay và vẫn được thế hệ trẻ hôm nay của sư đoàn công nhận thì cũng là ghê ghớm thật!

Nếu lấy “hiệu quả” ra mà suy thì những “sáng tác”, những công trình của chính trị viên- chính uỷ. Lương Xuân Báo còn có giá trị hơn hàng trăm bài báo kiểu “khăn thơm giấy thơm” mà Trương Đình Lân đã viết trong giai đoạn “khởi nghiệp văn chương” của mình, đơn giản chỉ vì nó nhanh chóng bị rơi vào cái biển quên lãng mênh mông của công chúng.

Nhưng ngược lại, nó lại có một đời sống khác - nó giúp ông nuôi dưỡng kí ức của riêng mình. Mỗi lần đọc lại những bài viết thô sơ, ngắn ngủi được ông chép lại cẩn thận trong những cuốn sổ tay về những người anh hùng trong một khoảng khắc, trong một trận đánh, một chiến dịch, thì tâm trí ông lại như bừng sáng lên, từng trường đoạn hình ảnh được phục hiện như trong một bộ phim nhiều tập. Những người anh hùng vô danh đã sống lại. Họ vô cùng đông đảo. Hầu hết họ im lặng.

Nhưng nếu mỗi người dù chỉ một lời thôi, họ cũng sẽ nói sự thật và họ chỉ nói sự thật mà thôi. Họ sẽ nói rằng Có rất nhiều những anh hùng trong khoảng khắc, nhưng không thể có những người anh hùng suốt đời.

Bởi vì làm một người anh hùng suốt đời thì mệt mỏi lắm, bất hạnh lắm và nói chung là không thể có những con người như vậy!
Logged
hoanhe
Thành viên
*
Bài viết: 68


« Trả lời #43 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:40:06 pm »

23

Sinh thời tướng Hùng Phong không chỉ đơn thuần là một “tướng trận mạc” như ông luôn tự nhận. Ông cũng từng có trước tác. Nhưng đó không phải là loại sáng sáng tác văn chương hay những bài báo tuyên truyền cho những điển hình kiểu “khăn thơm giấy thơm” mà đó là những luận văn quân sự hẳn hoi.

Những tác phẩm này, thật ngược đời, lại không phải được ông viết trong thời gian về công tác ở Viện nghiên cứu X..., mà lại được ông thai nghén và vìết ra khi còn là người chỉ huy cấp quân đoàn. Thậm chí, có tác phẩm được ông hoàn thành trong khoảng thời gian làm tư lệnh một mặt trận đánh Pôn Pốt ở Cămpuchia kia. Có lẽ đó cũng là một yếu tố khiến bộ dễ dàng chấp nhận để ông về Viện nghiên cứu X... làm phó viện trưởng. Nhưng khi về đến cái nơi đáng kính này rồi thì khả năng tư duy lý luận quân sự của ông lại tịt ngóm.

Ông không viết được thêm một dòng nào ngoài những bài báo nhạt nhẽo về “xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân” các kiểu, dành để đăng trên tờ tạp chí chuyên ngành. Trong những năm tháng ngắn ngủi công tác ở Viện nghiên cứu X, ông dành thời gian để nhuận sắc những công trình cũ của mình rồi cho in thành một tập.

Giáo sư nhà văn Trương Đình Lân còn nhớ rất rõ cái đêm gỉao thừa lạ lùng và thiêng liêng ấy khi tướng Hùng Phong mò tới tận nhà ông với quân phục đại lễ cấp tướng có đính đầy đủ các loại huân huy chương nặng trĩu, xủng xoảng trên ngực, với một bó hoa và một chai sâm banh... nghe tiếng chuông gọi cổng, ông cứ ngỡ ông bạn hàng xóm sang xông đất theo lời mời của vợ ông. Nhìn thấy “ông tướng” đứng sững trước cổng, ông vô cùng sửng sốt kêu lên:

- Hùng Phong đấy hả? Sao ông lại đến đây vào giờ này? Tôi vừa mới nhìn thấy ông trên tivi kia mà?

Hùng Phong cười, nói oang oang:

- Trông tớ có vẻ “phường tuồng” quá hả? Nể quá, đích thân ông giám đốc đài truyền hình đến tận nhà mời mình tham gia chương trình gặp gỡ truyền hình đêm giao thừa thiên niên kỉ. Chối không được nên đành phải nhận vai diễn thôi. Sao, mình nói dở lắm hả?

- Cũng không đến nỗi dở lắm...

Giáo sư Lân mời bạn vào nhà, định gọi vợ ra chào nhưng tướng Hùng Phong vội xua tay:

- Thôi để bà ấy ngủ. Gần hai giờ sáng rồi còn gì! Bọn mình mở thai rượu này đón mừng thế kỉ hai mốt với nhau chả thú hơn à?

Họ cùng nhau nâng ly mừng thế kỉ mới. Ông Lân chợt nhớ lại chương trình khách mời của VTV vừa phát xong trước lúc giao thừa. Đó là một chương trình truyền hình trực tiếp rất qui mô kéo dài hai tiếng đồng hồ, qui tụ đượckhá nhiều nhân vật nổi tiếng trong thế kỉ hai mươi. Cánh lính tráng có năm người được mời tham gia vào tốp những người nổi tiếng trong cái thế kỉ đầy bão giông vừa mới trôi qua, một trong bảy vị nổi tiếng ấy là ông bạn vàng của ông đây.

- Nào xin nâng cốc mừng con người nổi tiếng của thế kỉ hai mươi!

Hùng Phong nhìn ông thở dài:

- Thực ra thì còn rất nhiều người xứng đáng hơn mình. Nhưng, hoặc là họ đã chết cả rồi, hoặc là họ không có những yếu tố thuận lợi cho nhà đài bằng mình. Mời một ông tướng như thế này lên tivi thì vẫn oai hơn mời những ông anh hùng một thời nhưng đang là một ông thương binh cụt chân cụt tay, hay một anh nông dân nhếch nhác ở đâu đó chứ?

Giáo sư Trương Đình Lân ngạc nhiên trước những lời có vẻ hơi khinh bạc của vị tướng. Chợt nhớ ra một điều ông vội hỏi:

- Này, trong lúc truyền hình trực tiếp, tôi nghe thấy có một khán giả nào đó điện thoại về hỏi một câu rằng:

Thưa thiếu tướng, trong quá trình rèn luyện và chiến đấu của mình, ông có chịu ảnh hưởng của một con người, một tấm gương cụ thể nào đó không? Nếu tôi nghe không nhầm thì ông nói rằng có một người như thế, ông ấy là chính uỷ của tôi. Có phải là ông định nói tới...

Tướng Hùng Phong cười ha hả.

- Ông biết là ai quá đi rồi còn gì!

Giáo sư Lân gật đầu.

- Tôi biết. Đó là chính trị viên, chính uỷ Lương Xuân Báo. Nếu như ông ấy mà biết được rằng Hùng Phong vẫn không quên ông ấy thì hẳn ông ấy cũng mát lòng mát dạ. Tướng Hùng Phong bỗng thở dài:

- Ông ấy chết rồi... Tôi có nghe tin ông ấy ốm nặng, nhưng khi tìm tới nơi thì đã mồ yên mả đẹp rồi. Trong những năm cuối đời ông ấy sống trong cô đơn buồn bã.

- Thế... mẹ con bà Lý Hảo Hảo không... về thăm ông ấy lần nào à?

- Không - Hùng Phong lắc đầu - năm 1979, do có vụ người Hoa nên bà ấy đưa con đi, từ đó chẳng thấy có tin tức vân mòng gì nữa. Những năm hai nước chưa bình thường hoá quan hệ thì đã đành, đến tận bây giờ hai nước đã có “phương châm mười tám chữ” rồi mà cũng chẳng thấy bà ấy tìm về. Ông Báo chờ mòn cả con mắt mà cuối cùng cũng phải ra đi trong cô đơn, buồn tủi. Xét về khía cạnh nào thì mình cũng là người có lỗi với ông ấy. Giá như năm bảy mốt mình đừng giới thiệu Lý Hảo Hảo cho ông ấy thì có lẽ cuộc đời ông ấy đã khác.

Giáo sư Trương đình Lân tò mò hỏi:

- Thực ra thì câu chuyện đó bắt đầu như thế nào nhỉ?

Tướng Hùng Phong tợp một hớp rượu rồi kể.

- Chuyện cũng chẳng có gì li kì. Hồi đó ông Báo là người được sư đoàn phân công đi kèm để tiếp tục bồi dưỡng mấy anh em chúng mình khả năng thuyết trình, báo cáo thành tích và kể chuyện chiến đấu của bộ đội đường 9 - Nam Lào. Thanh thường cùng đi với Lý Hảo Hảo đến Trạm 66 thăm mình vì hồi đó hai người cùng học năm cuối tại trường đại học Ngoại thương. Hảo thì có tài buôn bán đã đành, nhưng còn Thanh thì vì ông bố đang làm tham tán thương mại ở bộ ngoại giao nên cũng bắt con gái bỏ trường sư phạm sang học nghề buôn bán quốc tế. Vì thế nên hai bạn ấy cặp kè với nhau ctĩng là điều dể hiểu. Khổ nỗi, mình thì mê cô Thanh mà ông Báo thì cũng biết mình đã hứa hôn với cơn gái một vị thủ trưởng lớn rồi nên kèm dữ quá. Vì thế nên mình và Thanh mới lập mưu giới thiệu Lý Hảo Hảo cho ông ấv để ông ấy có người trò chuyện mà lơi lỏng cho đôi chút.

Ai ngờ ngay cả một người sắt đá như ông Báo mà đến khi bập vào chuyện ái tình thì cũng không còn biết trời đất gì nữa. Vì thế, đến khi mình cưới Hoan thì ông Báo cũng vội vã cưới Lý Hảo Hảo trước khi trở vào sư đoàn để đi B dài! Tuy là yêu đương vội vàng, sống sít như vậy nhưng hình như họ cũng rất hạnh phúc. Năm bảy mươi lăm, giải phóng miền Nam xong ông Báo được về phép thì đã thấy có một ông Báo con ở nhà rồi. Năm sau họ có thêm đứa con gái thứ hai. Chính uỷ trung đoàn Lương Xuân Báo thì đã trở thành chủ nhiệm chính trị rồi sau đó thành chính uỷ sư đoàn. Mấy năm sau ông ấy chuyển sang sư đoàn khác nhưng cũng có mặt trong đội hình chiến đấu của mặt trận Tây Nam bảo vệ biên giới với mình. Đến thời điểm ấy thì ở miền Bắc xảy ra vụ người Hoa bị kích động rời bỏ Tổ Quốc. Bà Hảo cắp hai con ra đi, sau đó xảy ra chuyện gì với chính ủy Báo thì ông cũng đã biết rồi... Và cuộc tình của họ thế là chấm dứt.

Giáo sư Trương Đình Lân nâng li rượu lên trầm ngâm nói:

- Đó cũng là một câu chuyện tình buồn của thế kỉ hai mươi, phải không cậu?

- Một câu chuyện tình buồn... đúng vậy. - Tướng Hùng Phong gật đầu rồi quay sang giáo sư Lân, giọng da diết:

- Nhưng các ông may mắn hơn tôi là không phải chứng kiến nỗi buồn của chính uỷ Lương Xuân Báo khi phải rời quân ngũ. Đó mới là một nỗi buồn lớn, một đòn quá phũ phàng với ông ấy. Quân đội thì cho về hưu non, vợ thì bỏ về phương Bắc. Vậy mà ông ấy vẫn sống thêm được gần hai chục năm trời nữa thì kể cũng là kì tài.

- Ông ấy sống được là bởi vẫn còn hi vọng.

- Đúng... ông ấy vẫn hi vọng là một ngày nào đó vợ con sẽ trở về... nhưng cuối cùng thì ông ấy cũng không chờ được nữa. Trong khi đó...

Hùng Phong bỗng dừng lại nửa chừng rồi đột ngột lái sang chuyện khác.

- Mà thôi... trong thời khắc chuyển giao sang thiên niên kỉ mới chúng mình không nên nói mãi những chuyện buồn của thế kỉ cũ nữa. Mình... có cái này làm quà năm mới cho ông bạn đây. Nhưng... đừng có cười nhau đấy!

Hùng Phong rụt rè rút từ trong cặp ra một cuộn sách bìa cứng, gáy tròn, lại có thêm cả cái bìa lót màu đỏ loè loè rồi ngượng ngịu nói:

- Mình vừa in xong cuốn sách... Tên sách là Trên hàng rào lửa, nghe có vẻ hơi văn chương, nhưng không phải là loại sách tiểu thuyết như của ông đâu mà chỉ toàn những thứ lí luận quân sự khô khan cả... Lân đọc cho vui. Biết đâu, những tư liệu mình góp nhặt trong này lại chẳng giúp được nhà văn đôi ba tý trong công việc sáng tác.

Một sự khiêm nhường ít thấy ở một người như Hùng Phong. Ông vui vẻ nhận món quà nhưng rồi quên bẵng đi đến nửa tháng sau mới mang ra đọc thử xem cái ông tướng này bày đặt ra chuyện viết lách để làm gì? Gần đây đã có quá nhiều những cuốn hồi kí, tự truyện nhạt nhẽo vô bổ được xuất bản rồi.

Nhưng thật không ngờ, càng đọc, ông Lân lại càng thấy hứng thú. Càng đọc ông lại càng thấy quí ông bạn đồng môn, đồng ngũ của mình. Đây quả là những công trình khảo cứu với những mảng tư liệu rất phong phú đa dạng, với những tổng kết đánh giá khá xác đáng những sự kiện quân sự lớn trong cuộc kháng chiến mà dân tộc ta vừa trải qua. Và, khỉ thật, càng đọc ông lại càng thấy Hùng Phong quả là người có khí chất của một vị tướng, một nhà cầm quân tài ba.

Thế này thì Lương Xuân Báo quả là một con người kiệt xuất! Một người có con mắt xanh, đoán được anh hùng giữa chốn trần ai!

Giáo sư Trương Đình Lân đã đi đến kết luận như vậy sau khi đọc hết cuốn sách của tướng Hùng Phong.

Mà điều đáng ngạc nhiên hơn cả lại ở ngoài bìa sách.

Trên dòng đề tên tác giả, lại không phải là cái tên Hùng Phong nghe vang như tiếng kèn lệnh một thời mà là cái tên rất gần gũi, dễ thương Thiếu tướng - Phạm Xuân Ban.

Vào cái ngày nhận được tin người bạn đồng môn, đồng ngũ của mình vừa ra đi, sau khi gọi hàng chục cuộc điện thoại đi khắp nơi báo tin cho bạn bè, nhà văn kiêm giáo sư Trương Đình Lân đã rón rén đi đến giá sách. Tay ông run lên khi chạm vào cuốn sách có bìa lót màu đỏ sậm như màu máu vừa đông cứng lại trên những vạt đất chiến hào sau mỗi trận ác chiến. Trong lòng ông bỗng trào lên một nỗi xót thương vô hạn, nước mắt ông tự nhiên ứa ra chảy từng giọt, từng giọt lên cuốn sách trận mạc của vị tướng
Logged
hoanhe
Thành viên
*
Bài viết: 68


« Trả lời #44 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:42:48 pm »

PHẦN THỨ HAI
Trên hàng rào lửa

Mấy lời dẫn cho phần này nhân đọc sách của vị tướng:

Trong tập trước tác của mình tướng Phạm Xuân Ban có một bài khá công phu mang tựa đề “Những trận đánh lớn trên đường số 9”, viết về việc quân đội và nhân dân ta đã đập tan tuyến phòng thủ đường số 9, tuyến phòng thủ được mệnh danh là Hàng rào điện tứ Mắc-na-ma-ra. Trong đó, những dòng mà ông ta viết về tác giả của cái “hàng rào điện tử” này và viên tướng bốn sao Oét-mô-len, tư lệnh quân đội viễn chinh Mỹ ở Việt Nam có thể liệt vào hàng những trang châm biếm quân sự vào loại cay độc và hóm hỉnh bậc nhất.

Chẳng hạn, không biết lấy tư liệu từ nguồn nào Hùng Phong biết được rằng bộ trưởng quốc phòng Mỹ thời kì này, ngài Mắc Na-ma-ra xuất thân từ một nhà kinh doanh, vì thế ngài rất thích và rất giỏi sử dụng khoa thống kê. Cũng vì giỏi sử dụng khoa thống kê mà chỉ qua một ngày khi tổng thống Giôn Xơn tuyên thệ nhậm chức sau khi ông chủ yểu mệnh của Nhà Trắng, ngài Ken-nơ-đi, bị ám sát vào ngày 22-11-1963, bộ trưởng quốc phòng Mắc Na-ma-ra và bộ trưởng ngoại giao Đin Ra-cơ, đã thuyết phục được tổng thống Giôn xơn, rằng ông chủ cũ của mình đã “tính toán sai lầm” khi trước khi chết đã để lại chỉ thị bắt đầu cho rút các cố vấn quân sự Mỹ khỏi Nam Việt Nam từ ngày 3-12 năm đó, và chỉ thị cho Mắc Na-ma-ra lập kế hoạch rút cả đoàn phi công trực thăng, những người lính chiến đấu duy nhất của quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam cho tới lúc bấy giờ.

Hình như Ken-nơ-đi đã cảm nhận được sự thất bại không tránh khỏi nếu nước Mỹ tiếp tục dấn sâu vào cuộc chiến ở Nam Việt Nam và đã bắt đầu tính đến phương án đưa nước Mỹ thoát khỏi sự dính líu định mệnh này. Nhưng khi ông chủ cũ của Nhà Trắng vừa nằm xuống thì bộ trưởng Mắc đã quay ngoắt một trăm tám mươi độ, trình với chủ mới rằng “chỉ thị của Ken-nơ-đi không phù hợp với mục tiêu rộng lớn của việc ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản” và thúc giục Giôn- xơn tiếp tục leo thang chiến tranh. Động tác này quả là ngoạn mục, không những chỉ thuyết phục được ông chủ mới của Nhà Trắng tiếp tục cuộc phiêu lưu mà còn vít chặt các ốc vít chiếc ghế bộ trưởng quốc phòng của ngài Mắc khiến ngài “kẹt cứng” tại đó đến tận tháng 2-1968, sau khi cả nước Mỹ bị một cú xốc kinh hồn bởi cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân của cộng sản!

Nghe theo lời khuyên của bộ trưởng quốc phòng, bộ trưởng ngoại giao và những cố vấn thân cận, chỉ sau 48 giờ sau khi nhậm chức, tổng thống Giôn-xơn đã tuyên bố cam kết tiếp tục bảo trợ cho cái gọi là Hội đồng quân nhân cách mạng, những người vừa lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm, đình hoãn việc rút cố vấn quân sự Mỹ. Và chỉ trong vòng ba tháng, bộ sậu diều hâu của Giôn-xơn đã vạch xong kế hoạch can thiệp trực tiếp vào Nam Việt Nam. Chín tháng sau Giôn-xơn đã gửi 23 ngàn quân chiến đấu sang Việt Nam để”vạch một giới tuyến chống chủ nghĩa cộng sản” cách xa bờ biển nước Mỹ 9000 dặm. Và thế là bi kịch của nước Mỹ bắt đầu! Ngày 8 965 đơn vị lính thuỷ đánh bộ Mỹ đầu tiên gồm 13500quân đã tới Việt Nam... Đến giữa năm 1965, số quân Mỹ ở Nam Việt Nam đã lên tới 8500 người! Tài năng thống kê của ngài bộ trưởng Mắc Na-ma-ra đã phát huy tác dụng!

Đến đây xin trích nguyên văn một đoạn trong thiên luận văn quân sự của tướng Phạm Xuân Ban: Tuy nhiên, cũng giống như trong những vớởtuồng cổ của Việt NNam ào lúc này sân khấu chính trị ở Nam Việt Nam cần phải có thêm một kép chính.,loại kép võ bôi mặt đen. Vai diễn này đã thập thò bên cánh gà từ thời cố tổng thống Ken-nơ-đi đến thời điểm này đã nhảy hẳn ra sân khấu và xưng danh.Đó là viên tướng bốn sao Uy-liêm Chai-đơ Oét-mô-len được mô tả là một “công cụ thẳng thừng” một người sinh ra để làm tướng, từng tốt nghiệp trường West Point vào năm 19936 là một sĩ quan pháo binh, từng chiến đấu ở Bắc Phi, ở Sicily, ở Noóc-măng-đi. Từng làm tham mưu trưởng một sư đoàn bộ binh ở Đức năm 1945, sau đó làm thiếu tướng chỉ huy trung đoàn không vận 187ở Triều Tiên... Đầu năm 1966, Oét-mo-len được cử sang giữ chức tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Mỹ tại Nam Việt Nam.

Vừa rồi ngài Oét-mo-len đã cho trình làng một cuốn sách thú vị có tựa đề “Bản tưởng trình của một người lính” (A Soldier report). Trong cuốn sách này ngài Oét tự nhận rằng mình đã đi tới “gần sự thật” nhất. Nhưng xem ra cách hiểu về sự thật ngay trong nội bộ nước Mỹ, nội bộ quân đội Mỹ, giữa các tướng tá Mỹ, đã rất khác nhau rồi. Vì vậy, có lẽ còn lâu lắm người Mỹ mới chấp nhận được một sự thật hiển nhiên là họ đã bại trận không phải vì quân đội của họ tồi, mà vì những người chỉ huy của họ không bao giờ hiểu được sức mạnh thật sự của đối phương là ở đâu?

Sau đó tướng Hùng Phong dành khá nhiều trang để phân tích một cách hài ước sự chuyển hướng chiến lược của quân đội Mỹ từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ” với xương sống của chiến lược này là quá trình thực hiện chiến thuật “Tìm và diệt” (Search and Destroy) của đại tướng Oét-mo-len. Tác giả viết rằng... “vì biết bộ trưởng quốc phòng Mắc Na-ma-ra rất thích phép thống kê nên ngài đại tướng Oét cũng biết dùng phép thống kê một cách tài tình để mô tả những thắng lợi về mặt quân sự của quân đội Mỹ từ khi đặt chân tới Nam Việt Nam, hay nói cho chính xác là từ khi ngài Oét chính thức cầm cây gậy chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở Nam Việt Nam” (Thiếu tướng Phạm Xuân Ban - sách đã dẫn).

Trận ra quân rầm rộ nhất theo đúng công thức chiến thuật của Oét-mo-len: sức cơ động + hoả lực tối đa = tiêu hao sinh lực đối phương là trận sư đoàn không vận số 1 vừa chân ướt chân ráo tới Việt Nam đã được tung vào thử sức với chủ lực cộng quân ở thung lũng Ia Đrăng với “con số rất lạc quan” về số lượng đối phương bị tiêu diệt là 1791 người (chính xác đến tận con số lẻ). Tuy vậy tướng Oét cũng phải điền vào cột thống kê bên kia một con số không vui một cách tròn trịa: 300 lính Mỹ đã bỏ mạng trong cuộc “tìm và diệt” ở cái thung lũng tử thần này. Con số này không biết chính xác đến đâu nhưng dường như nó cũng không an ủi được người Mỹ khi so sánh với con số thiệt hại khổng lồ của đối phương nên nhiều tờ báo lớn ở Mỹ vẫn cứ gọi thẳng thừng là “cuộc thảm bại đầu tiên của Sư đoàn không vận số 1”. Có lẽ từ đây, cái mà các sỹ quan Mỹ tại Việt Nam gọi một cách chua cay là “phép đếm xác” bắt đầu trở nên thịnh hành.

Ngay sau khi đưa ra những con số “lạc quan”, đại tướng Oét-mô-len lại sử dụng “phép thống kê” để nêu ra cho bộ trưởng Mắc Na - ma - ra một con số choáng người - không biết căn cứ vào đâu mà ông Oét cho rằng đến tháng 5-1966 quân Bắc Việt Nam đã thâm nhập vào Nam Việt Nam tới 10.000 người và để có thể chế ngự được đội quân trên ông đã đề nghị với tổng thống và bộ trưởng quốc phòng phải cho ông một con số đối trọng là đến cuối năm 1966 ông phải có được trong tay 429.000 quân Mỹ để “bảo đảm chiến thắng”?

Không biết có phải vì bị những phép thống kê thần bí của Oét-mo-len mê hoặc hay không nhưng đến tháng 8-1966, ngoài việc tăng quân thường xuyên, tổng thống Giôn-xơn đã quyết định đưa thêm sư đoàn bộ binh số 4 và lữ đoàn bộ binh nhẹ 196 sang Việt Nam tham chiến! Đáp lại những “ưu ái” của tổng thống và ngài bộ trưởng, tháng 9 năm 1966, đại tướng Oét-mo-len mở một chiến dịch đại qui mô với 30.000 quân được triển khai, tiến công ra vùng Tây Ninh và chiến khu Dương Minh Châu (Chiến khu C) mang tên chiến dịch Et-tơn-bô-rơ kéo dài 72 ngày với kết quả được báo cáo là đã tiêu diệt 1106 cộng quân! Số lính Mỹ bị giết thì không thấy liệt kê chính xác, chỉ biết rằng đến đầu năm 1967, đại tướng Oét- mo-len lại đề nghị với bộ trưởng quốc phòng Mắc Na-ma-ra một con số mới đó là cần phải nhanh chóng đưa số quân Mỹ tham chiến tại Việt Nam lên tới 543.000 người!

Được sự khích lệ của “những con số”, bộ trưởng Mắc Na-ma-ra tiếp tực đẩy mạnh chính sách leo thang chiến tranh. Bước sang năm 1967, đại tướng Oét-mo-len cho mở hàng loạt cuộc hành quân “tìm và diệt” với những cái tên rất gợi cảm như “Cây tuyết tùng rụng lá” tiếp tục càn quét khu Tây Bắc Sài Gòn với sự tham gia của các đơn vị nổi tiếng trong quân lực Hoa Kì như: sư đoàn bộ binh số 1 “Anh cả đỏ”, sư đoàn bộ binh số 25 “Tia chớp nhiệt đới”, Lữ đoàn không vận số 173, trung đoàn kị binh bọc thép số 11... ngay sau đó là chiến dịch mang tên “Nối liền thành phố” huy động tới 249 trực thăng chiến đấu, đây là một cuộc phiêu lưu nhằm “tiêu diệt trung ương cục miền Nam “của cộng sản mà bản quyết toán của nó được các trợ lí của Oét-Mo-len tô vẽ tới mức chính bộ trưởng Mắc Na-ma-ra cũng phải thốt lên rằng: “Nếu nh ững con số này chỉ phản ánh đúng thực tế 50 % thôi thì chúng ta cũng có cơ sở để mà lạc quan”. Đến tháng 7 Oét-mo-len lại xua quân lên Bắc Tây Nguyên mở một chiến dịch lớn ở vùng Đắc Tô - Sa Thày với tên gọi cũng không kém khoa trương là “Trận chiến vì cao nguyên”, được mô tả là một trong những cuộc ra quân lớn nhất của quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Nam Việt Nam. Vào thời điểm này thì ngay ở nước Mỹ người ta cũng không còn quan tâm tới các con số được văn phòng tướng Oét-mo-len đưa ra nữa, tuy vậy con số 40 trực thăng bị bắn rụng trong chiến dịch này tuy không được công khai tuyên bố mà chỉ do một nhà báo Mỹ “tăm” được và tung ra thì lại gây nên một cú sốc lớn cho công chúng Mỹ, bởi vì ai cũng biết vào thời điểm này trên thị trường vũ khí Mỹ, một chiếc trực thăng chiến đấu có giá 250.000 đô la.

Tháng mười một năm 1967 đại tướng Oét-mo-len về Oa-sinh-tơn gặp tổng thống và bộ trưởng quốc phòng mang theo một bản quyết toán khá bi quan với một con số mà ông Mắc Na-ma-ra, người vẫn tin rằng “mọi con số đều biêt nói” cũng phải rùng mình, đó là chỉ riêng trong năm đã có tới 9377 lính Mỹ bị chết trận tại Việt Nam. Tay phải chìa ra con số thương vong thì tay trái tướng Oét lại chìa ra một con số khác đó là xin thêm 75.000 q uân Mỹ cho cái bụng không đáy là chiến trường Việt Nam (Thiếu tướng Phạm Xuân Ban - Sách đã dẫn).

Có vẻ như những cuộc hành quân “tìm diệt” của tướng Oét-mo-len đã tạo cho Nhà Trắng một niềm hi vọng. Và trò chơi của những con số vẫn cứ tiếp tục.

Nhưng có lẽ những con số được cập nhật thường xuyên về một con đường mòn mang tên Đường mòn Hồ Chí Minh khiến bộ trưởng Mắc Na-ma-ra ăn không ngon ngủ không yên. Mặc dù các chuyên gia tài ba của Lầu Năm Góc với sự trợ giúp của máy tính điện tử có thể biết rành rẽ mọi ngõ ngách của 3.500 dặm thuộc hệ thống “đường mòn” nhưng vẫn không sao chặn đứng được sự xâm nhập của quân đội Bắc Việt vào Nam Việt Nam, và nhất là không thể ngăn chặn được sự cung cấp hậu cần một cách bền bỉ của miền Bắc cho các đơn vị đang chiến đấu với quân đội Hoa Kì tại Nam Việt Nam. Tất cả các loại hoả lực từ bom phát quang Daisy Cutters có trọng lượng tới 15.000 bảng Anh (7 tấn) có thể phát quang cả một ngọn đồi rộng 300 bộ, tương đương với một sân bóng đá, đến những loại bom napan, bom thông minh, mìn nhảy Betty, bom răng rồng, cây nhiệt đới... Tất cả các loại máy bay ném bom chiến lược, chiến thuật hiện đại nhất cho đến trực thăng chiến đấu, máy bay vận tải AC130 đều đã được xử dụng để bịt “cái miệng phễu” nhưng thẩy đều vô hiệu! Các chuyên gia quân sự Mỹ lại trình lên bộ trưởng Mắc Na-ma-ra những con số tính toán rất nản lòng: Tổn phí cho việc ném bom trên “đường mòn” gấp 10 1ần so với sự thiệt hại của đối phương. Ước tính B52 thả 300 quả bom mới giết được một Việt cộng.

... Tới đây tướng Phạm Xuân Ban dẫn lời nhận định của một chuyên gia kế hoạch của Lầu Năm Góc tên là E. I-a-mô-lin-xki về “con đường mòn ma quái này” như sau:

“... Sau nhiều tháng tham gia nghiên cứu làm việc với một nhóm chuyên gia, một ban tham mưu có vai vế chúng tôi thấy Bắc Việt Nam như một cái phễu khổng lồ tuồn các đồ tiếp tế qua các ngả đường mòn Hồ Chí Minh. Nhóm chúng tôi có tìm hiểu hiệu quả việc đánh bom những con đường này. Điều mà chúng tôi kết luận sau khi đã thử hết mọi cách mà chúng tôi có thể nghĩ ra được - là không có cách nào!”.

Nhưng chẳng lẽ lại chịu bó tay? Tại Oa-sinh-tơn có hàng chục bản kế hoạch được đưa ra để bịt chặt đường mòn Hồ Chí Minh, thậm chí có những kế hoạch rất hài hước như thay vì rải bom dự định sẽ “rải bia hộp” dọc đường mòn để đầu độc đối phương hòng làm cho họ “ngất ngư” mà chậm bước chân hành quân vể Nam?

Đại tướng Oét-mo-len cũng có một kế hoạch đại qui mô là dùng một lực lượng khổng lồ cỡ một quân đoàn đánh thẳng sang Lào, phá tan các cơ sở hậu cần phục vụ con đường mòn ma quái này. Kế hoạch phiêu lưu này của tướng Oét đã bị tổng thống Giôn-xơn bác bỏ thẳng thừng vì ông ta không muốn mở rộng qui mô chiến đấu của quân đội Mỹ trên toàn cõi Đông Dương.

(Vậy mà đến năm 1971- Khi vừa thực thi chiến lược Việt Nam hoá, không hiểu ma xui quỉ khiến thế nào mà quân đội ngụy Sài Gòn lại dám thực hiện cuộc phiêu lưu ấy để chuốc lấy thảm bại?).

Cuối cùng cũng đã có một phương án được chọn. Đó là phương án do đích thân ngài bộ trưởng Mắc Na-ma-ra đề xuất. Lập một phòng tuyến kiểm soát từ xa, dùng những phương tiện kĩ thuật hiện đại nhất cộng với hoả lực tối đa để ngăn chặn sự xâm nhập của Bắc Việt - đó chính là phòng tuyến Mắc Na-ma-ra có chiều dài 100 cây số chạy song song với sông Bến Hải từ bờ biển Đông tới Sê-pôn trên đất Lào. Có chiều rộng 20 kilômét từ Nam vĩ tuyến 17 tới đường chín. Trên phòng tưyến này sẽ xây dựng một hệ thống đồn bốt dày đặc, cứ 2 kilômét có một tháp canh, 4 kilômét có một căn cứ đồn trú cỡ một đại đội hoặc một tiểu đoàn.

Bố trí một hệ thống lô cốt, hầm hào kiên cố, hàng chục lớp rào kẽm gai dày đặc xen kẽ với đủ các loại mìn bẫy và hệ thống đèn pha, đèn chiếu sáng. Đặc biệt, phòng tưyến sẽ có một hệ thống chỉ huy thống nhất, sẽ được trang bị những phương tiện thông tin hiện đại, được trang bị hệ thống quan sát và trinh sát điện tử thế hệ mới nhất của quan đội Hoa Kì như cây nhiệt đới, máy hít hơi người, máy dò tìm tần số vô tuyến điện, hệ thống ra đa mắt thần, máy quan sát ban đêm bằng tia hồng ngoại... phòng tuyến sẽ có hệ thống các trận địa pháo, hệ thống chỉ huy hoả lực hỗn hợp và một lực lượng cơ động mạnh, trang bị đến tận răng để tiến hành những cuộc hành quân chớp nhoáng, phản ứng nhanh, nhằm bịt những “lỗ hổng” trên phòng tuyến khi cần thiết...

Cũng không mấy ai hiểu vì sao mà tuyến phòng thủ này lại có cái tên mỹ miều là Hàng rào điện tử Mắc Na-ma-ra? Dự tính chi phí cho cái “hàng rào” này cũng cực đắt - khoảng một tỷ đô la, nhưng Nhà Trắng đã sẵn sàng mở hầu bao vì tin rằng “nhà kinh doanh tài chính” Mắc Na-ma-ra nhất định đã tính toán chi li và sẽ không chịu lỗ vốn!
Logged
hoanhe
Thành viên
*
Bài viết: 68


« Trả lời #45 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:45:42 pm »

Cùng với tiền của và công nghệ chiến tranh điện tử, tướng Oét-mo-len đã điều tới chiến trường này những đơn vị sừng sỏ nhất của quân đội Mỹ như sư đoàn thuỷ quân lục chiến số 1và sư đoàn thuỷ quân lục chiến số 3, nhiều đơn vị pháo binh và xe tăng cùng với sư đoàn 1 ngụy quân Sài Gòn và 3 chiến đoàn biệt động quân với tổng quân số lên tới gần 40 ngàn quân với ý đồ làm thành một “bức tường thép” một “hàng rào điện tử” hòng ngăn chặn sự xâm nhập của chủ lực Bắc Việt vào miền Nam và bịt chặt con đường chi viện hậu cần cho chiến trường miền Nam từ miền Bắc.

Mưu toan dựa vào trục đường số 9 để thiết lập một “hàng rào” ngăn chặn hòng vô hiệu hoá hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh là một ý đồ chiến lược ngây thơ của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc. Bởỉ vì bất kì một hệ thống “hàng rào” nào, dù là “điện tử” đi chăng nữa cũng là một hệ thống phòng thủ cứng nhắc, làm sao có thể đối phó được với sự thiên biến vạn hóa của hệ thống những con đường ra trận mang tên Hồ Chí Minh của dân tộc ta? (Thiếu tướng Phạm Xuân Ban - Sách đã dẫn).

Dĩ nhiên đây là những lời bình giá của ông tướng Hùng Phong Phạm Xuân Ban, người đại diện cho phe chiến thắng và đã có độ lùi vài chục năm để mà suy nghĩ ngẫm về kẻ thù của mình chứ không phải những ý nghĩ của tiểu đội trưởng Hùng Phong trong những ngày vừa chân ướt chân ráo vào chiến trường, chuẩn bị bước vào những trận thử lửa đầu tiên. Cũng lạ là chen vào giữa những trang luận văn quân sự hào sảng của tướng quân Phạm Xuân Ban, nhà văn Trương Đình Lân vẫn tìm được những dòng “trữ tình ngoại đề” khá chân thành như sau:

... Hồi đó khi chúng tôi có mặt tại chiến trường Đường 9 - Bắc Quảng Trị thì cái gọi là “Hàng ào điện tử Mắc Na-ma-ra" còn chưa xây dựng xong nhưng đã bị đánh tơi bời, te tua phải liên tục vá víu từng đoạn một. Sau hơn một năm đối mặt với quân đội Mỹ trên chiến trường miền Nam, chúng ta cũng không còn phải băn khoăn về cái điều rằng thằng Mỹ là một thằng giặc như thế nào? Liệu có thể đánh, có cách để đánh thắng chúng không? Những câu hỏi đó trên bình diện toàn cục thì đã có câu trả lời. Trên tất cả các chiến trường, các mặt trận chúng ta đã đánh Mỹ và thắng Mỹ, nhưng với cán bộ, chiến sỹ sư đoàn Hồng Bàng chúng tôi ngày ấy thì những câu hỏi về kẻ địch mà mình sắp sửa phải đốíimặt vẫn còn đó. Vớí chúng tôi, quân đội Mỹ vẫn còn là một đội quân xa lạ, cần phải được tìm hiểu một cách cụ thể chi li. Nhưng có lẽ cách “tìm hiểu “hay nhất, nhanh nhất” vẫn là nhanh chóng được trực tiếp đối mặt với chúng. Chẳng có trường học nào giúp người lính nhận diện kẻ thù nhanh hơn nơi chiến hào máu lửa”. - (Thiếu tướng Phạm Xuân Ban, sách đã dẫn).
1

Lân cũng không ngờ rằng ngay khi đơn vị mới hành quân vào tới chiến trường thì nhiệm vụ của những người lính trinh sát đã bắt đầu. Sau hơn một tháng trời đẵng đẵng hành quân, lính tráng anh nào anh nấy đều gầy rộc, hốc hác trông đến là thê thảm.

Những tưởng sẽ được nghỉ xả hơi ít bữa thì ngay sáng hôm sau đã có lệnh tập trung tất cả trinh sát các tiểu đoàn về trung đoàn để cùng với cán bộ chỉ huy từ tiểu đoàn trở lên đi địa hình. Dầu sao thì bản mệnh lệnh cũng có một khoản khá dễ chịu là “khi đi các trinh sát viên mang vác gọn nhẹ và... không mang theo mũ sắt”!

Tiểu đội trưởng Ngạn bị ngã trẹo cẳng, bong gân bàn chân phải trong chặng hành quân cuối cùng nên vào buổi chiều trước ngày đi trinh sát, Lân được tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh gọi lên giao nhiệm vụ:

- Cậu sẽ thay cậu Ngạn chỉ huy anh em đi trinh sát cùng với đoàn cán bộ chỉ huy của tiểu đoàn. Địa hình ở khu vực tác chiến của trung đoàn rất phức tạp nên các cậu phải lưu ý và ghi nhớ từng khu vực, từng cao điểm, từng con đường. Nay mai dẫn bộ đội vào chiếm lĩnh trận địa mà đi lạc thì các cậu sẽ ăn đòn đấy!

Nói rồi tiểu đoàn trưởng trịnh trọng giao cho Lân một tập bản đồ:

- Cậu cầm lấy tập bản đồ này và nghiên cứu trước đi. Trên bản đồ có đánh dấu các khu vực mà chúng ta sẽ phải “đạp” trong những ngày tới. Bí mật quân sự đấy, ngoài cậu ra không ai được ngó vào, kể cả cậu Ngạn!

Nhìn ánh mắt sắc lạnh của tiểu đoàn trưởng, Lân hiểu rằng đây là một sự uỷ thác quan trọng mà anh không thể lơ là. Anh thận trọng ôm tập bản đồ vào ngực như ôm một khối thuốc nổ, rồi vội trở về hầm của mình. Vào đúng lúc đó, sương mù lại ùn ùn kéo tới dày đặc khiến phải mất một lúc lâu Lân mới nhận ra lối mòn trở về căn hầm của tiểu đội trinh sát.

Đó là một căn hầm kèo đủ tiêu chuẩn tránh bom đạn, phía trước có công sự chiến đấu cho một tổ ba người. Trong gần chục ngày của chặng hành quân cuối cùng kể từ khi đơn vị rời tuyến đường giao liên Trường Sơn để vào tuyến đường riêng của mặt trận, hễ dừng chân là bộ đội đều được lệnh phải đào đủ hầm trú ẩn và công sự chiến đấu, mà lệnh trên nêu rõ rằng tất cả các đơn vị phải xây dựng hệ thống hầm trú ẩn, hầm chiến đấu y như là xây dựng một trận địa chốt chứ không phải chỉ là nơi dừng chân. Có hôm tới mười hai giờ đêm bộ đội mới đào xong hầm, ngủ được vài tiếng lại bị dựng dậy tiếp tục hành quân, nhìn căn hầm tốn bao công sức đào đất chặt cây để dựng nên mà tiếc hùi hụi. Cũng không ít lời càu nhàu ca thán của lính “Các cụ nhà mình lẩn thẩn hay sao mà hôm nào cũng bắt lính è lưng ra đào hầm để rồi chỉ trú chân có một đêm thôi là thế nào nhỉ?”. Có anh tỏ ra hiểu biết hơn thì nói “Các cụ rèn quân đấy. Sắp đến chiến trường rồi mà. Phải tập đào tập dũi dần đi cho quen!”.

Suốt bảy đêm liền xây dựng hầm hào công sự rồi lại hành quân như vậy, ngay cả tiểu đoàn trưởng cũng không biết đơn vị thực sự sẽ dừng lại ở đâu. Đến cuối ngày thứ tám, đơn vị dừng lại trong mưa phùn, trên lưng chừng một cao điểm mù sương và được lệnh dừng lại đào hầm trú quân. Tất cả lại diễn ra đúng như bảy ngày trước đó, năm giờ sáng hôm sau bộ đội đã trở dậy, gói ghém quân trang đồ đạc nai nịt súng đạn, nhận mỗi người hai nắm cơm và một bi đông nước rồi ngồi ngủ gật ở cửa hầm chờ lệnh hành quân. Nhưng chờ mãi vẫn không thấy có lệnh trạng gì. Đến tận tám giờ sáng mới thấy liên lạc gọi các trung đội trưởng lên gặp ban chỉ huy đại đội hội ý. Rồi nửa tiếng sau, cả tiểu đoàn mới biết rằng họ đã tới chiến trường, chấm dứt chuỗi ngày hành quân dằng dặc và chuẩn bị bước vào chiến đấu.

Cái cao điểm mù sương này được xây dựng thành “kiềng”, nghĩa là một khu hậu cứ của đơn vị. Đến trưa hôm đó, khi sương tan thì mọi người mới thực sự tin là họ đã tới chiến trường bởi từ trên sườn núi chót vót mà họ đang giấu quân nhìn về phía Nam đã thấy con đường số 9 chạỵ ngoằn ngèo uốn lượn qua thung lũng như như một con rắn khổng lồ. Tiếng pháo địch nổ ì oành lúc xa, lúc gần. Tiếng trực thăng phành phạch ngay trên đầu, máy bay trinh sát OV10 vo ve suốt ngày, từ khi sương tan đến lúc mặt trời lặn. Thi thoảng từ tít trên trời cao “cái bừa biết bay ấy” lại phóng vu vơ xuống núi rừng một quả đạn khói chỉ vài phút sau, pháo địch lập tức bắn vào nơi vừa được chỉ điểm. Toàn tiểu đoàn được lệnh phải nguỵ trang thật kín và không được phép đi lại lộn xộn kèm theo lời cảnh báo rõ ràng nhất của tiểu đoàn trưởng “Nếu để lộ nơi trú quân thì sẽ ăn bom ăn pháo của địch ngay lập tức!”.

Khi Lân về tới hầm thì tiểu đội trưởng Ngạn đang nằm trên chiếc võng mắc ngay trước cửa hầm, cái chân bị bong gân vẫn còn sưng vù, gác lên võng.

- Ra đây nằm cho thoáng. Trong hầm ngộp thở quá!

Lân nhìn chiếc võng rồi nhìn lên trời:

- Liệu... bọn nó có nhìn thấy gì không?

- Thấy thế nào được? Rừng chỗ này còn dày lắm - Ngạn nói rồi chỉ lên những tán lá ken dày trên đầu.

- Thấy bảo, bọn Mỹ có loại kính gì đó có thể nhìn thấu qua cả rừng rậm đấy!

- Nói phét! Làm đếch gì có thứ kính ấy? Nếu có, chúng nó chẳng phải rải chất độc làm trụi lá rừng làm gì.

Lân ôm tập bản đồ định chui vào hầm thì Ngạn gọi giật trở lại:

- Này, được cấp bản đồ rồi đấy à? Đưa tớ xem xem bọn mình giờ đang ở chỗ nào?

Lân nhìn tiểu đội trưởng ngập ngừng - Nhưng mà tiểu đoàn trưởng dặn không được cho ai xem. Trong này đã có ghi chú mục tiêu rồi!

- Vớ vẩn? - Ngạn chồm dậy - bí mật với ai chứ bí mật với lính trinh sát thế nào được. Đưa tớ xem nào.

Lân đành phải miễn cưỡng đưa tập bản đồ bọc ni lon cho tiểu đội trưởng. Ngạn rải ngay tấm bản đồ lên võng, rồi vẫy tay bảo:

- Lại đây... đưa cho mình mượn cái địa bàn!

Lân móc chiếc địa bàn trong bao đồ đeo quanh người đưa cho Ngạn. Anh ta dóng địa bàn, xoay ngược xoay xuôi tấm bản đồ một lát rồi chau mày hỏi Lân:

- Cậu có xác định được chỗ mình đang đứng chân không?

Lân khom người xuống sát tấm bàn đồ nhìn một lúc lâu rồi lắc đầu:

- Chịu chưa xác định được. Hình như... bọn mình đang ở phía Bắc dãy núi này thì phải.

Lân chỉ đại một dãy cao điểm. Ngạn lại xoay ngang xoay dọc bản đồ một lát rồi hỏi:

- Chắng lẽ... lại gần địch thế rồi kia à?

- Gần rồi đấy... đêm qua, khi dậy đổi gác, tôi nghe thấy cả tiếng súng máy - Lân trả lời rồi hỏi sang chuyện khác cái chân của anh sao rồi?

- Vẫn còn đau. Mẹ khỉ, sao nó lại đau vào đúng lúc này kia chứ. - Anh nhăn nhó nhìn xuống bàn chân sưng vù của mình - lúc nãy ông Điệp y sĩ có tới xem, báo rằng khớp khiếc không việc gì, chỉ bong gân thôi. Rồi ông ấy bóp thuốc cho một lát. Chẳng biết có ăn thua gì không?

- Anh cứ yên tâm mà nghỉ vài ngày. Rồi nó sẽ khỏi thôi mà. Hồi bé, tôi cững bị bong gân vài ba lần rồi. Nhưng ông nội tôi có mấy bài thuốc chữa bong gân, sai khớp gãy xương hay lắm. Tiếc là hồi ở nhà tôi lại chẳng chịu học lấy vài bài.

Tiểu đội trưởng Ngạn vẫn băn khoăn:

- Nhưng mình là tiểu đội trưởng trinh sát mà lại không đi địa hình được thì nay mai biết đường nào mà phục vụ cho chỉ huy?

- Tôi đi thay anh cũng được mà... - Lân chợt nhớ ra một điều - mà này, tiểu đoàn trưởng nói để lại một tổ trực ở nhà. Theo anh, nên để lại những ai?

- Thằng Vững, đồng hương của cậu mới được bổ sung cho tiểu đội, còn lớ ngớ lắm, nên để nó ở nhà. Thằng Toán vừa cắt sốt, còn mệt cũng nên để lại. Ngoài ra, cũng cần phải để ở nhà một tổ trưởng cứng cáp một tý phòng khi có chuyện.

- Thằng Vượng nhé? - Lân hỏi

- Không, thằng này người Mường, đi rừng giỏi, nhớ đường ban đêm tài lắm. Nên cho nó đi. Để lại thằng Cừ cũng được.

- Vậy để tôi đi kêu chúng nó tới cả đây nghe anh quán triệt rồi làm công tác chuẩn bị ngay. Chiều tối nay lên đường rồi.

Nửa tiếng sau cả mười hai người của tiểu đội trinh sát đã tập hợp đủ trước cửa hầm của tiểu đội trưởng.

Ngạn ngồi trên võng nói với mọi người:

- Chiều nay tiểu đội chúng ta sẽ lên đường đi làm nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường. Tôi bị đau chân không đi được, anh Lân sẽ chỉ huy anh em. Ngoài tôi ra, tiểu đoàn yêu cầu để lại ba đồng chí trực sẵn sàng chiến đấu tại hậu cứ. Chúng tôi đã quyết định để các đồng chí Cừ, Toán, Vững ở lại. Các đồng chí có ý kiến gì không?

Toàn tiểu đội im lặng một 1úc rồi Cừ giơ tay xin nói:

- Tôi có ý kiến... tôi xin được đi trinh sát cùng tiểu đội đợt này.

- Không được - Ngạn cương quyết gạt đi - đồng chí phải ở lại làm nòng cốt cho tổ hậu cứ.

- Nhưng sao lại là tôi? - Cừ nổi nóng - chẳng lẽ tôi kém cỏi lắm hay sao mà phải nằm lại hậu cứ?

- Cả tiểu đoàn còn nằm tại đây cơ mà. Nếu ai cũng đòi đi thì lấy ai làm nhiệm vụ ở đây khi cần thiết!

Mọi người im lặng nhìn nhau. Bỗng một người đứng dậy lên tiếng:

- Nếu... anh Cừ muốn đi thì... tôi xin tình nguyện ở lại hậu cứ cho. Mấy hôm nay... cái bụng của tôi cũng không được ổn lắm.

Ngạn và Lân cùng quay lại nhìn Thì ra đó là Khải, một trong ba tổ trưởng của tiểu đội. Ngạn nhìn thẳng vào mắt Khải giây lâu rồi nói:

- Được rồi. Đồng chí Khải sẽ ở lại, nhưng đồng chí Cừ vẫn phải ở nhà để phụ trách tổ này. Tôi còn đau chân, khi cần thiết không thể chỉ huy được. Còn cậu Khải thì đau bụng, phải không?

Vững rụt rè đưa tay lên - Vậy, các anh cho em đi với anh Lân, được không?

Lân chưa kịp trả lời thì Ngạn đã gật đầu:

- Được cho cậu Vững đi cũng được, lính mới cũng cần học hỏi. Thế nhé, chấm dứt cuộc họp ở đây. Anh em về chuẩn bị quân tư trang thật gọn nhẹ. Ba giờ chiều tập hợp tại đây tôi kiểm tra trước lúc lên đường.
Logged
hoanhe
Thành viên
*
Bài viết: 68


« Trả lời #46 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:47:28 pm »

Cùng với tiền của và công nghệ chiến tranh điện tử, tướng Oét-mo-len đã điều tới chiến trường này những đơn vị sừng sỏ nhất của quân đội Mỹ như sư đoàn thuỷ quân lục chiến số 1và sư đoàn thuỷ quân lục chiến số 3, nhiều đơn vị pháo binh và xe tăng cùng với sư đoàn 1 ngụy quân Sài Gòn và 3 chiến đoàn biệt động quân với tổng quân số lên tới gần 40 ngàn quân với ý đồ làm thành một “bức tường thép” một “hàng rào điện tử” hòng ngăn chặn sự xâm nhập của chủ lực Bắc Việt vào miền Nam và bịt chặt con đường chi viện hậu cần cho chiến trường miền Nam từ miền Bắc.

Mưu toan dựa vào trục đường số 9 để thiết lập một “hàng rào” ngăn chặn hòng vô hiệu hoá hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh là một ý đồ chiến lược ngây thơ của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc. Bởỉ vì bất kì một hệ thống “hàng rào” nào, dù là “điện tử” đi chăng nữa cũng là một hệ thống phòng thủ cứng nhắc, làm sao có thể đối phó được với sự thiên biến vạn hóa của hệ thống những con đường ra trận mang tên Hồ Chí Minh của dân tộc ta? (Thiếu tướng Phạm Xuân Ban - Sách đã dẫn).

Dĩ nhiên đây là những lời bình giá của ông tướng Hùng Phong Phạm Xuân Ban, người đại diện cho phe chiến thắng và đã có độ lùi vài chục năm để mà suy nghĩ ngẫm về kẻ thù của mình chứ không phải những ý nghĩ của tiểu đội trưởng Hùng Phong trong những ngày vừa chân ướt chân ráo vào chiến trường, chuẩn bị bước vào những trận thử lửa đầu tiên. Cũng lạ là chen vào giữa những trang luận văn quân sự hào sảng của tướng quân Phạm Xuân Ban, nhà văn Trương Đình Lân vẫn tìm được những dòng “trữ tình ngoại đề” khá chân thành như sau:

... Hồi đó khi chúng tôi có mặt tại chiến trường Đường 9 - Bắc Quảng Trị thì cái gọi là “Hàng ào điện tử Mắc Na-ma-ra" còn chưa xây dựng xong nhưng đã bị đánh tơi bời, te tua phải liên tục vá víu từng đoạn một. Sau hơn một năm đối mặt với quân đội Mỹ trên chiến trường miền Nam, chúng ta cũng không còn phải băn khoăn về cái điều rằng thằng Mỹ là một thằng giặc như thế nào? Liệu có thể đánh, có cách để đánh thắng chúng không? Những câu hỏi đó trên bình diện toàn cục thì đã có câu trả lời. Trên tất cả các chiến trường, các mặt trận chúng ta đã đánh Mỹ và thắng Mỹ, nhưng với cán bộ, chiến sỹ sư đoàn Hồng Bàng chúng tôi ngày ấy thì những câu hỏi về kẻ địch mà mình sắp sửa phải đốíimặt vẫn còn đó. Vớí chúng tôi, quân đội Mỹ vẫn còn là một đội quân xa lạ, cần phải được tìm hiểu một cách cụ thể chi li. Nhưng có lẽ cách “tìm hiểu “hay nhất, nhanh nhất” vẫn là nhanh chóng được trực tiếp đối mặt với chúng. Chẳng có trường học nào giúp người lính nhận diện kẻ thù nhanh hơn nơi chiến hào máu lửa”. - (Thiếu tướng Phạm Xuân Ban, sách đã dẫn).
1

Lân cũng không ngờ rằng ngay khi đơn vị mới hành quân vào tới chiến trường thì nhiệm vụ của những người lính trinh sát đã bắt đầu. Sau hơn một tháng trời đẵng đẵng hành quân, lính tráng anh nào anh nấy đều gầy rộc, hốc hác trông đến là thê thảm.

Những tưởng sẽ được nghỉ xả hơi ít bữa thì ngay sáng hôm sau đã có lệnh tập trung tất cả trinh sát các tiểu đoàn về trung đoàn để cùng với cán bộ chỉ huy từ tiểu đoàn trở lên đi địa hình. Dầu sao thì bản mệnh lệnh cũng có một khoản khá dễ chịu là “khi đi các trinh sát viên mang vác gọn nhẹ và... không mang theo mũ sắt”!

Tiểu đội trưởng Ngạn bị ngã trẹo cẳng, bong gân bàn chân phải trong chặng hành quân cuối cùng nên vào buổi chiều trước ngày đi trinh sát, Lân được tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh gọi lên giao nhiệm vụ:

- Cậu sẽ thay cậu Ngạn chỉ huy anh em đi trinh sát cùng với đoàn cán bộ chỉ huy của tiểu đoàn. Địa hình ở khu vực tác chiến của trung đoàn rất phức tạp nên các cậu phải lưu ý và ghi nhớ từng khu vực, từng cao điểm, từng con đường. Nay mai dẫn bộ đội vào chiếm lĩnh trận địa mà đi lạc thì các cậu sẽ ăn đòn đấy!

Nói rồi tiểu đoàn trưởng trịnh trọng giao cho Lân một tập bản đồ:

- Cậu cầm lấy tập bản đồ này và nghiên cứu trước đi. Trên bản đồ có đánh dấu các khu vực mà chúng ta sẽ phải “đạp” trong những ngày tới. Bí mật quân sự đấy, ngoài cậu ra không ai được ngó vào, kể cả cậu Ngạn!

Nhìn ánh mắt sắc lạnh của tiểu đoàn trưởng, Lân hiểu rằng đây là một sự uỷ thác quan trọng mà anh không thể lơ là. Anh thận trọng ôm tập bản đồ vào ngực như ôm một khối thuốc nổ, rồi vội trở về hầm của mình. Vào đúng lúc đó, sương mù lại ùn ùn kéo tới dày đặc khiến phải mất một lúc lâu Lân mới nhận ra lối mòn trở về căn hầm của tiểu đội trinh sát.

Đó là một căn hầm kèo đủ tiêu chuẩn tránh bom đạn, phía trước có công sự chiến đấu cho một tổ ba người. Trong gần chục ngày của chặng hành quân cuối cùng kể từ khi đơn vị rời tuyến đường giao liên Trường Sơn để vào tuyến đường riêng của mặt trận, hễ dừng chân là bộ đội đều được lệnh phải đào đủ hầm trú ẩn và công sự chiến đấu, mà lệnh trên nêu rõ rằng tất cả các đơn vị phải xây dựng hệ thống hầm trú ẩn, hầm chiến đấu y như là xây dựng một trận địa chốt chứ không phải chỉ là nơi dừng chân. Có hôm tới mười hai giờ đêm bộ đội mới đào xong hầm, ngủ được vài tiếng lại bị dựng dậy tiếp tục hành quân, nhìn căn hầm tốn bao công sức đào đất chặt cây để dựng nên mà tiếc hùi hụi. Cũng không ít lời càu nhàu ca thán của lính “Các cụ nhà mình lẩn thẩn hay sao mà hôm nào cũng bắt lính è lưng ra đào hầm để rồi chỉ trú chân có một đêm thôi là thế nào nhỉ?”. Có anh tỏ ra hiểu biết hơn thì nói “Các cụ rèn quân đấy. Sắp đến chiến trường rồi mà. Phải tập đào tập dũi dần đi cho quen!”.

Suốt bảy đêm liền xây dựng hầm hào công sự rồi lại hành quân như vậy, ngay cả tiểu đoàn trưởng cũng không biết đơn vị thực sự sẽ dừng lại ở đâu. Đến cuối ngày thứ tám, đơn vị dừng lại trong mưa phùn, trên lưng chừng một cao điểm mù sương và được lệnh dừng lại đào hầm trú quân. Tất cả lại diễn ra đúng như bảy ngày trước đó, năm giờ sáng hôm sau bộ đội đã trở dậy, gói ghém quân trang đồ đạc nai nịt súng đạn, nhận mỗi người hai nắm cơm và một bi đông nước rồi ngồi ngủ gật ở cửa hầm chờ lệnh hành quân. Nhưng chờ mãi vẫn không thấy có lệnh trạng gì. Đến tận tám giờ sáng mới thấy liên lạc gọi các trung đội trưởng lên gặp ban chỉ huy đại đội hội ý. Rồi nửa tiếng sau, cả tiểu đoàn mới biết rằng họ đã tới chiến trường, chấm dứt chuỗi ngày hành quân dằng dặc và chuẩn bị bước vào chiến đấu.

Cái cao điểm mù sương này được xây dựng thành “kiềng”, nghĩa là một khu hậu cứ của đơn vị. Đến trưa hôm đó, khi sương tan thì mọi người mới thực sự tin là họ đã tới chiến trường bởi từ trên sườn núi chót vót mà họ đang giấu quân nhìn về phía Nam đã thấy con đường số 9 chạỵ ngoằn ngèo uốn lượn qua thung lũng như như một con rắn khổng lồ. Tiếng pháo địch nổ ì oành lúc xa, lúc gần. Tiếng trực thăng phành phạch ngay trên đầu, máy bay trinh sát OV10 vo ve suốt ngày, từ khi sương tan đến lúc mặt trời lặn. Thi thoảng từ tít trên trời cao “cái bừa biết bay ấy” lại phóng vu vơ xuống núi rừng một quả đạn khói chỉ vài phút sau, pháo địch lập tức bắn vào nơi vừa được chỉ điểm. Toàn tiểu đoàn được lệnh phải nguỵ trang thật kín và không được phép đi lại lộn xộn kèm theo lời cảnh báo rõ ràng nhất của tiểu đoàn trưởng “Nếu để lộ nơi trú quân thì sẽ ăn bom ăn pháo của địch ngay lập tức!”.

Khi Lân về tới hầm thì tiểu đội trưởng Ngạn đang nằm trên chiếc võng mắc ngay trước cửa hầm, cái chân bị bong gân vẫn còn sưng vù, gác lên võng.

- Ra đây nằm cho thoáng. Trong hầm ngộp thở quá!

Lân nhìn chiếc võng rồi nhìn lên trời:

- Liệu... bọn nó có nhìn thấy gì không?

- Thấy thế nào được? Rừng chỗ này còn dày lắm - Ngạn nói rồi chỉ lên những tán lá ken dày trên đầu.

- Thấy bảo, bọn Mỹ có loại kính gì đó có thể nhìn thấu qua cả rừng rậm đấy!

- Nói phét! Làm đếch gì có thứ kính ấy? Nếu có, chúng nó chẳng phải rải chất độc làm trụi lá rừng làm gì.

Lân ôm tập bản đồ định chui vào hầm thì Ngạn gọi giật trở lại:

- Này, được cấp bản đồ rồi đấy à? Đưa tớ xem xem bọn mình giờ đang ở chỗ nào?

Lân nhìn tiểu đội trưởng ngập ngừng - Nhưng mà tiểu đoàn trưởng dặn không được cho ai xem. Trong này đã có ghi chú mục tiêu rồi!

- Vớ vẩn? - Ngạn chồm dậy - bí mật với ai chứ bí mật với lính trinh sát thế nào được. Đưa tớ xem nào.

Lân đành phải miễn cưỡng đưa tập bản đồ bọc ni lon cho tiểu đội trưởng. Ngạn rải ngay tấm bản đồ lên võng, rồi vẫy tay bảo:

- Lại đây... đưa cho mình mượn cái địa bàn!

Lân móc chiếc địa bàn trong bao đồ đeo quanh người đưa cho Ngạn. Anh ta dóng địa bàn, xoay ngược xoay xuôi tấm bản đồ một lát rồi chau mày hỏi Lân:

- Cậu có xác định được chỗ mình đang đứng chân không?

Lân khom người xuống sát tấm bàn đồ nhìn một lúc lâu rồi lắc đầu:

- Chịu chưa xác định được. Hình như... bọn mình đang ở phía Bắc dãy núi này thì phải.

Lân chỉ đại một dãy cao điểm. Ngạn lại xoay ngang xoay dọc bản đồ một lát rồi hỏi:

- Chắng lẽ... lại gần địch thế rồi kia à?

- Gần rồi đấy... đêm qua, khi dậy đổi gác, tôi nghe thấy cả tiếng súng máy - Lân trả lời rồi hỏi sang chuyện khác cái chân của anh sao rồi?

- Vẫn còn đau. Mẹ khỉ, sao nó lại đau vào đúng lúc này kia chứ. - Anh nhăn nhó nhìn xuống bàn chân sưng vù của mình - lúc nãy ông Điệp y sĩ có tới xem, báo rằng khớp khiếc không việc gì, chỉ bong gân thôi. Rồi ông ấy bóp thuốc cho một lát. Chẳng biết có ăn thua gì không?

- Anh cứ yên tâm mà nghỉ vài ngày. Rồi nó sẽ khỏi thôi mà. Hồi bé, tôi cững bị bong gân vài ba lần rồi. Nhưng ông nội tôi có mấy bài thuốc chữa bong gân, sai khớp gãy xương hay lắm. Tiếc là hồi ở nhà tôi lại chẳng chịu học lấy vài bài.

Tiểu đội trưởng Ngạn vẫn băn khoăn:

- Nhưng mình là tiểu đội trưởng trinh sát mà lại không đi địa hình được thì nay mai biết đường nào mà phục vụ cho chỉ huy?

- Tôi đi thay anh cũng được mà... - Lân chợt nhớ ra một điều - mà này, tiểu đoàn trưởng nói để lại một tổ trực ở nhà. Theo anh, nên để lại những ai?

- Thằng Vững, đồng hương của cậu mới được bổ sung cho tiểu đội, còn lớ ngớ lắm, nên để nó ở nhà. Thằng Toán vừa cắt sốt, còn mệt cũng nên để lại. Ngoài ra, cũng cần phải để ở nhà một tổ trưởng cứng cáp một tý phòng khi có chuyện.

- Thằng Vượng nhé? - Lân hỏi

- Không, thằng này người Mường, đi rừng giỏi, nhớ đường ban đêm tài lắm. Nên cho nó đi. Để lại thằng Cừ cũng được.

- Vậy để tôi đi kêu chúng nó tới cả đây nghe anh quán triệt rồi làm công tác chuẩn bị ngay. Chiều tối nay lên đường rồi.

Nửa tiếng sau cả mười hai người của tiểu đội trinh sát đã tập hợp đủ trước cửa hầm của tiểu đội trưởng.

Ngạn ngồi trên võng nói với mọi người:

- Chiều nay tiểu đội chúng ta sẽ lên đường đi làm nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường. Tôi bị đau chân không đi được, anh Lân sẽ chỉ huy anh em. Ngoài tôi ra, tiểu đoàn yêu cầu để lại ba đồng chí trực sẵn sàng chiến đấu tại hậu cứ. Chúng tôi đã quyết định để các đồng chí Cừ, Toán, Vững ở lại. Các đồng chí có ý kiến gì không?

Toàn tiểu đội im lặng một 1úc rồi Cừ giơ tay xin nói:

- Tôi có ý kiến... tôi xin được đi trinh sát cùng tiểu đội đợt này.

- Không được - Ngạn cương quyết gạt đi - đồng chí phải ở lại làm nòng cốt cho tổ hậu cứ.

- Nhưng sao lại là tôi? - Cừ nổi nóng - chẳng lẽ tôi kém cỏi lắm hay sao mà phải nằm lại hậu cứ?

- Cả tiểu đoàn còn nằm tại đây cơ mà. Nếu ai cũng đòi đi thì lấy ai làm nhiệm vụ ở đây khi cần thiết!

Mọi người im lặng nhìn nhau. Bỗng một người đứng dậy lên tiếng:

- Nếu... anh Cừ muốn đi thì... tôi xin tình nguyện ở lại hậu cứ cho. Mấy hôm nay... cái bụng của tôi cũng không được ổn lắm.

Ngạn và Lân cùng quay lại nhìn Thì ra đó là Khải, một trong ba tổ trưởng của tiểu đội. Ngạn nhìn thẳng vào mắt Khải giây lâu rồi nói:

- Được rồi. Đồng chí Khải sẽ ở lại, nhưng đồng chí Cừ vẫn phải ở nhà để phụ trách tổ này. Tôi còn đau chân, khi cần thiết không thể chỉ huy được. Còn cậu Khải thì đau bụng, phải không?

Vững rụt rè đưa tay lên - Vậy, các anh cho em đi với anh Lân, được không?

Lân chưa kịp trả lời thì Ngạn đã gật đầu:

- Được cho cậu Vững đi cũng được, lính mới cũng cần học hỏi. Thế nhé, chấm dứt cuộc họp ở đây. Anh em về chuẩn bị quân tư trang thật gọn nhẹ. Ba giờ chiều tập hợp tại đây tôi kiểm tra trước lúc lên đường.
Logged
hoanhe
Thành viên
*
Bài viết: 68


« Trả lời #47 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:50:26 pm »

Mọi người lục tục đứng dậỵ đi về hầm của mình để chuẩn bị cho chuyến đi. Ngạn nằm kềnh ra võng kêu “Cái ông y sỹ này nắn bóp sao mà bây giờ có vẻ như lại đau hơn Lân ạ”. Lân cười bảo “Thường là thế đấy, bóp thuốc xong thì bao giờ cũng đau dội lên một đợt rồi mới dịu dần đi”. Lân vừa định chui vào hầm sắp đồ thì Ngạn lại gọi giật “Này, thằng Khải có vấn đề tư tưởng đấy, ông ạ!”. “Tư tưởng gì?” Lân ngạc nhiên hỏi. “Ông không thấy à? Nó ngại đi trinh sát nên xung phong ở lại. Thôi cũng được, xuất quân lần đầu mà đưa những thằng chưa vững vàng, còn sợ địch đi thì phiền lắm”. “Sao anh lại nghĩ rằng nó sợ?”. Ngạn khẽ cười “Ngửi thì biết thôi. Thằng này sẽ không trụ được với cánh mình lâu đâu”.

Ngạn nói vậy rồi nằm xuống võng nhắm mắt lim dim ngủ. Lân cũng không tiện nói thêm gì nữa tuy anh vẫn chưa tán thành cách chụp mũ vội vã của Ngạn. Anh chui vào hầm, lấy ba lô ra chọn mấy thứ cần mang theo xếp lại thành một đống. Xếp đi xếp lại vẫn thấy chưa thật gọn nhẹ. Anh cũng không biết có nên mang ba lô theo hay không. Mà nếu không mang theo ba lô thì xếp đồ vào đâu? Lại còn gạo mắm, lương khô, thuốc men bông băng, đèn pin và nhiều thứ linh tinh khác nữa. Bỗng tiếng Ngạn từ ngoài hầm vọng vào:

- Mở ba lô của tớ ra, ngay bên trên có một cái tui may bằng vải tăng không thấm nước, có cả quai đeo đấy. Cậu lấy cái túi ấy mà bỏ đồ mang theo, những thứ còn lại thì cứ bỏ gọn trong ba lô. Nhớ mang thuốc chống vắt đấy!

Quả nhiên Lân tìm thấy cái túi kể trên trong balô của Ngạn. Đó là một cái bòng nhỏ, may rất kĩ bằng vải tăng. Đây đúng là loại túi cần cho lính trinh sát trong những chuyến trinh sát ngắn ngày. Nó vừa đủ chỗ để chứa bộ tăng võng, nilon, một bộ quân phục, quần đùi áo lót và vài thứ đồ dùng cần thiết khác cho người lính. Cái lão này ma mãnh thật, làm sao lão ta nghĩ ra chuyện may cái túi nhỏ này để mang theo ra trận nhỉ? Mà hắn ta cũng lần đầu ra trận như bọn mình thôi chứ có khác gì? Hình như đoán được những băn khoăn của Lân, Ngạn nói vọng xuống:

- Cái túi đó là do trung uý Lê Xuân Ôn tặng mình đấy! Ông ấy bảo, cứ mang theo cái túi này, vào chiến trường sẽ có ích đấy.

Lại là ông Ôn? Cái ông vào ra chiến trường như đi chợ ấy cũng lắm kinh nghiệm thật. Lân vừa xếp đồ vào cái bòng nhỏ của Ngạn vừa nghĩ vậy. Chợt anh nhìn thấy cuốn sổ ghi chép mà Thanh tặng mình trước ngày nhập ngũ. Dĩ nhiên là anh sẽ phải để cuốn sổ này lại hậu cứ rồi. Nhưng tại sao lại không ghi vài dòng nhỉ?

Đã gần mưòi ngày nay, kể từ hôm rời đường giao liên Trường Sơn rẽ vào tuyến giao liên của mặt trận đến giờ anh không ghi chép được dòng nào rồi.

Lân nhích ra phía cửa hầm, nơi vừa có một luồng nắng rọi xuống như từ một chùm đèn pha. Anh mở cuốn sổ ra, vuốt nhẹ trên những trang giấy mát rượi.

Trong lòng anh muôn vàn ý nghĩ đang tuôn chảy, xô dạt, cây bút trên tay anh lướt nhanh trên những trang giấy trắng.

Thế là chúng mình đã tới chiến trường sau hơn bốn mươi ngày đêm hành quân gian khổ! Những trang “nhật kí hành quân” của mình đã dừng lại khi sư đoàn băng qua vùng đất giới tuyến để vào chiến trường Quảng Trị khói lửa mịt mù. Hàng ngày nghe tin chiến sự qua đài tiếng nói Việt Nam, mình biết rằng Mỹ đang tăng quân ra đường 9 để lập một tuyến phòng thủ ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn thân yêu. Mỹ tăng bao nhiêu quân, đổ bao nhiêu bom đạn chưa biết, nhưng cứ xem việc một “sư đoàn thép” như sư đoàn của mình vẫn nhẹ nhàng vượt qua giới tuyên để tới chiến trường, chuẩn bị bước vào cuộc chiến, thì cũng thấy rõ thằng Mỹ đã thất bại trong ý đồ “ngăn chặn” ngây thơ này rồi. Nếu không kể một vài trận bom tình cờ găp trên đường thì có thể coi cuộc hành quân của sư đoàn mình đã thành công mỹ mãn.

Cái đêm vượt qua thượng nguồn sông Bến Hải mới thật cảm động. Đội hình của tiểu đoàn đang lặng lẽ hành quân trong đêm trên một con đường mòn thì bỗng nghe từ đầu đội hình truyền xuống một mệnh lệnh “Chú ý, chúng ta sắp qua sông Bến Hải”. Nghĩ là sẽ phải có một cuộc vượt sông bằng thuyền, hoặc chí ít cũng bằng một cây cầu phao dã chiến. Ai ngờ chỉ là một đoạn suối cạn, nước chưa quá đầu gối mà khi vượt qua rồi nhiều người mới biết đó là thượng nguồn của dòng sông Bến Hải. Vậy mà cái dòng suốí nhỏ ấy lại là nơi chia cắt Bắc - Nam thì còn gì vô lý hơn? Tiếc rằng mình không biết làm thơ, nếu có đôi chút năng khiếu thi ca hẳn rằng mình có thể viết được một bài về cái đêm qua sông Bến Hải này rồi. Hình như lúc đó vào quãng hơn mười giờ đêm, vừa lội qua sông thì nghe từ chiếc đài Ô-ri-on-ton của chính trị viên Lê Văn Sớm vang lên giọng hát của nghệ sỹ Tân Nhân. bài “Xa khơi” của Nguyễn Tài Tuệ. Giọng hát sâu lắng của người nghệ sỹ khiến lòng mình rưng rưng. Bài hát nóí về sự đợi chờ, về nỗi đau chia ly... nhưng quan trọng nhất, đó là bài hát tủ của Thanh. Cô ấy vẫn thường hát bài này mỗi khi lớp có liên hoan văn nghệ. Đã ba tháng nay không nhận được thư của Thanh rồi. Hôm dừng chân một ngày ở Quảng Bình mình có viết về cho Thanh, không hiểu đến hôm nay Thanh đã nhận được thư chưa? Mình vẫn không “nói” gì cả, chỉ kể chuyện mình và các bạn cùng lớp đang trên đường hành quân ra trận, mà cũng chỉ kể những chuyện vui trên đường, thậm chí kể cả vài chuyện “tiếu lâm quê bọ” nữa. Chắc rằng khi đọc thư. Thanh sẽ buồn cười lắm.

Xin lỗi vì mình không ghi chép đều đặn được như Thanh yêu cầu. Trong những ngày sắp tới lại càng không thể làm được việc này. Ngày mai, bọn mình sẽ bắt đầu cuộc trinh sát đầu tiên. Đế quốc Mỹ là một khái niệm rõ ràng về kẻ thù, nhưng cũng là một khái niệm rộng lớn. Cái mà bọn mình cần phải biết là những thằng Mỹ cụ thể, là một địch thủ cụ thể trên chiến trường. Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh thì nóí rằng Thằng Mỹ thì cũng như thằng Tây thôi, sợ cóc gì!”. Các cụ đã đánh Tây rồi nên các cụ có vẻ tự tin lắm.

Nhưng giữa thằng Tây (dĩ nhiên là chỉ bọn lính Pháp rồi) với thằng Mỹ hình như cũng khác nhau nhiều lắm - dĩ nhiên là không kể tới sự khác nhau tiền của và vũ khí hiện đại. Trong tất cả các cuộc chỉnh huấn từ trước tới nay, chưa thấy vị chính ủy nào chỉ ra cái khác nhau cơ bản giữa thằng Tây và thằng Mỹ ngoài những khái niệm chung chung rằng một thằng là “thực dân cũ” một thằng là “thực dân mới”? Vậy thì bọn mình sẽ phải tự tìm hiểu lấy thôi. Chắc chắn cuộc hành trình ấy sẽ chẳng dễ dàng gì!

Chiều hôm nay, tiểu đội trinh sát sẽ lên đường.

Mình chưa muốn đưa cậu Vững đi vì nó còn chưa được học nghiệp vụ trinh sát ngày nào. Nhập ngũ tháng tám, đươc bổ sung ngay cho tiểu đội trinh sát trước khi hành quân ra trận. Nó có vẻ rất mừng vì được ở chung một tiểu đội với mình. “Sau đợt các anh nhập ngũ, thanh niên làng mình cũng đi vãn. Đa số được vào lính pháo phòng không. Thằng Sử con ông Sách nghe nói được đi lái xe tăng. Chỉ có em và thằng Bằng con ông Bát là được bổ sung về đơn vị này. Nó được học hành nhiều hơn em nên về trung đội thông tin rồi. Ông tiểu đoàn phó thấy em nhanh nhẹn, khoẻ mạnh nên nói rằng sẽ bổ sung cho tiểu đội trinh sát. Em mừng lắm!”.

Mừng gì mà mừng hả chú mày? Nay mai sẽ biết tay nhau ngay thôi mà. Được cái, trong suốt chặng đường hành quân, nó luôn tỏ ra là đứa xông xáo, khoẻ mạnh. Mấy ngày gần đây hễ hành quân tới trạm là nó tới giúp mình và Ngạn đào hầm. Nó còn nói, anh không biết chứ chị Vịn nhà em là mê anh lắm đấy. Có điều chị ấy luôn cho rằng mình là người ít học nên không dám gần anh thôi.

Nghe nó nóí vậy mình chỉ cười và chợt nhớ ra cái cô bé ở đầu xóm ngày nào cũng đón đường khi mình đi học về. Cô bé khá xinh gái và ngoan. Đã có lần mẹ bảo “Này, cái con Vịn nhà cô Vang trông hay đáo để. Tướng ấy là mắn phải biết. Là nói thế thôi, chứ mẹ cũng thừa biết rằng con trai mẹ không để mắt tới đám con gái làng Vân Hương. Là tiện đây thì viết ra vậy chứ sau này, nếu có đọc được những dòng này Thanh cũng đừng ghen nhé
Logged
hoanhe
Thành viên
*
Bài viết: 68


« Trả lời #48 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:53:07 pm »

2

Mới ba giờ chiều mà trên cao điểm sương mù đã dày đặc. Quá mù ra mưa. Các cụ dạy cấm có sai. Nhưng cái thứ mưa mù này thật khó chịu. Mưa cũng chưa phải là mưa. Rí rách nhớp nháp, quần áo lúc nào cũng ẩm xì xì. Không khí như đặc sánh lại, cái lạnh ngấm dần vào da thịt. Nhìn xuống, các khe núi cũng mù mịt như những dòng sông ma. Ngẩng lên, bầu trời như sắp trĩu xuống. Mấy chiếc máy bay trinh sát trinh như đã bất lực trước thứ sương mù kì dị của xứ sở nhiệt đới này nên đã chuồn về căn cứ từ lúc nào chẳng rõ.

Đám trực thăng cũng không dám bay. Sương mù dày thế này húc vào núi như bỡn. Bù lại, bọn pháo binh bắt đầu phải làm việc nhiều hơn. Tiếng pháo nổ ì oàng không dứt. Chẳng hiểu chúng bắn đi những đâu? Hình như chúng sẽ bắn cầm canh như vậy suốt đêm vào những tọa độ đã chọn sẵn trên bản đồ. Lính đường 9 gọi thứ pháo này là “pháo ma”, giống như người ta vẫn nói chó cắn ma ấy mà. Sống lâu ở chiến trường rồi thì thấy thứ pháo này cũng không đến nỗi khó chịu lắm.

Thậm chí, nếu đêm nào không nghe thấy tiếng pháo bắn cầm canh ì ùng nữa lại thấy lạ, thấy cần phải coi chừng.

Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh dẫn theo anh trợ lí tác chiến của tiểu đoàn cùng bốn đại đội trưởng và tiểu đội trưởng sát của Lân tới nơi tập trung hơi muộn. Hình như các tiểu đoàn bạn đã tới trước cả, kẻ đứng người ngồi lố nhố trong sương. Trung đoàn trưởng Trần Đông Hải dường như đã bắt đầu sốt ruột nên khi thấy tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh tới ông ta liền nhắc ngay:

- Chậm ba phút đấy, ông Mạnh nhé!

Tiểu đoàn trưởng Mạnh cười trừ:

- Báo cáo thủ trưởng... đường trơn quá!

- Thôi được rồi trung đoàn trưởng vỗ tay. - Mời các đồng chí tiểu đoàn trưởng, đồng chí đại đội trưởng thông tin và đồng chí trung đội trưởng trinh sát trung đoàn lại đây hội ý!

Các vị chỉ huy lục tục tiến lại phía gốc cây lớn nơi trung đoàn trưởng đang đứng. Một trợ lý tác chiến của trung đoàn đã kịp thời treo lên cái thân cây lớn, ướt rượt ấy một tấm bản đồ bọc nilon.

Trong khi các vị chỉ huy hội báo, Lân ra lệnh cho các chiến sỹ của mình tìm chỗ ngồi nghỉ rồi anh đi tìm Côn. Chưa nhìn thấy cậu ấy nhưng anh tin rằng Côn đang ngồi đâu đó. Nghe nói cậu ấy đã được kết nạp đảng trên đường hành quân lại vừa được đề bạt trung đội phó. Nhanh thật, Hùng Phong cũng còn chưa theo kịp. Phải chúc mừng cậu ta mới được.

Đám lính trinh sát trung đoàn dạt vào một góc, ngồi xếp thành hàng hẳn hoi. Khác hẳn với trinh sát các tiểu đoàn, lính trinh sát trung đoàn trông có vẻ chuyên nghiệp hơn. Trang bị của họ trông rất gọn mắt, lại có thêm mỗi người một cái mũ lưỡi trai “rằn ri” trên đầu có dây buộc vòng xuống cổ hẳn hoi. Côn đang phát cơm nắm cho các chiến sỹ của mình. Phải rồi, sao tiểu đoàn mình không cho nắm cơm mang đi ăn đêm nhỉ.

Nhai lương khô thì nóng ruột lắm! Nhìn thấy Lân đi tới Côn ngẩng lên giơ tay vẫy nói “Chào nhé” rồi lại tiếp tục chia cơm. Lân phải đứng chờ một lát Côn mới xong việc bước tới. Lân chìa tay cho bạn:

- Chúc mừng nhé!

- Mừng cái gì?

- Vào đảng... rồi được đề bạt trung đội phó. Nhất cậu đấy. Hùng Phong cũng không bằng đâu!

Côn khẽ nhíu mày:

- Sao các cậu thằng nào cũng cứ mang Hùng Phong ra so sánh với mình nhỉ? Mình là mình, cậu ấy là cậu ấy chứ?

Lân đành cười trừ:

- Xin lỗi ông Báo đã làm cho chúng mình quen với việc “lấy đồng chí Hùng Phong làm chuẩn” rồi.

Côn cũng bật cười theo:

- Cậu đã lên trinh sát tiểu đoàn rồi mà vẫn không thoát ra khỏi từ trường của ông Lương Xuân Báo sao?

Lân không trả lời câu hỏi của Côn mà quan tâm đến những việc trước mắt hơn:

- Côn này... trung đoàn mình oánh chỗ nào thế?

- Đi rồi khắc biết. Sẽ ra trò đấy!

- Cậu... đã nhìn thấv thằng Mỹ nào chưa? Lân hỏi tiếp vì biết trinh sát trung đoàn là đơn vị duy nhất được hành quân bằng xe cơ giới thẳng một mạch vào chiến trường và từ đó tới nay thì đã kịp lội ngang lội dọc khắp khu vực Nam - Bắc đường 9 này rồi.

- Cũng có thể gọi là đã nhìn thấy chúng nó rồi. Thậm chí, còn được xem chúng nó tắm nữa kia!

- Tắm à? - Lân trố mắt hỏi - các cậu chui vào tận nhà tắm của bọn nó rồi sao?

- Không... bọn mình bò vào sát một trận địa pháo của nó để quan sát. Thấy bọn pháo thủ Mỹ cởi trần trùng trục, người ngợm đỏ au như con tôm luộc. Cứ sau khi lao vài quả đạn chúng nó lại nằm thở hồng hộc. Rồi đến chiều thì trực thăng chở nước tới, dừng sững ngay trên trận địa và xối nước xuống cho cho bọn pháo thủ bên dưới tắm.

- Hay nhỉ? Sao chúng nó không xuống suối mà đằm có mát hơn không?

- Chúng nó sợ nước suối ở đây bị ô nhiễm nên không dám dùng. Vả lại, mò xuống suối lỡ gặp Sác-li thì toi đời!

- Sác-li là ai?

- Là biệt danh chúng nó gọi Việt cộng ấy mà.

- Thì ra chúng gọi bọn mình là Sác-li cơ đấy. Tên cũng hay đấy thứ!

Nói chuyện tới đây thì có hiệu lệnh tập trung, Lân vội vàng tạm biệt Côn để về với tiểu đội. Côn xiết chặt tay Lân rồi nói nhỏ:

- Yên trí đi. Có lẽ tôi sẽ được phân công đi với mũi của tiểu đoàn ông đấy.

Lời thông báo ngắn gọn ấy của Côn khiến Lân vui hẳn lên. Nói cho đúng hơn là anh cảm thấy nhẹ cả người và yên tâm hơn nhiều. Tuy không dám thú nhận với ai nhưng anh luôn cảm thấy chưa tự tin lắm nếu phải hoạt động độc lập. Việc phải thay tiểu đội trưởng Ngạn chỉ huy ngay trong chuyến trinh sát đầu tiên đã khiến Lân cảm thấy chống chếnh, lạnh lưng lắm rồi.

Mới chân ướt chân ráo vào chiến trường nhưng anh đã kịp nhận thấy rằng những kiến thức anh học được trên thao trường dường như luôn luôn thiếu, thậm chí nhiều khi còn vênh váo khá nhiều trước thực tế khắc nghiệt của mặt trận. Có được một người thông minh, tháo vát lại từng trải hơn bên cạnh thì còn gì bằng?

Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh tập hợp tất cả thành phần tham gia cuộc trinh sát của tiểu đoàn lại để phổ biến nhiệm vụ. Đại khái ông nói rằng trong một hai ngày tới chúng ta sẽ phải nắm cho được địa hình ở khu vực Bắc Đường 9, đoạn từ Đông Hà tới phía Tây Cam Lộ. Đêm mai sẽ vượt đường 9 sang phía Nam nghiên cứu tiếp địa hình. Sau đó, dưới sự chỉ huy trực tiếp của trung đoàn trưởng, chúng ta sẽ tập trung trinh sát mục tiêu A... đó chính là mục tiêu lớn nhất mà trung đoàn có nhiệm vụ đánh chiếm trong thời gian không xa. Còn mục tiêu A là mục tiêu nào thì tới lúc đó các đồng chí khắc biết.

Tiểu đoàn trưởng vừa nói tới đây thì Côn dẫn tối ba trinh sát viên. Anh đứng nghiêm dập gót trước tiểu đoàn trưởng Mạnh, báo cáo dõng dạc:

- Báo cáo đồng chí tiểu đoàn trưởng. Tôi, Nguyễn Danh Côn, trung đội phó. Được lệnh của trung đoàn trưởng, đưa một tổ trinh sát của trung đoàn tới dẫn đường cho đoàn nghiên cứu chiến trường của tiểu đoàn đồng chí!

Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh vội bước tới bắt tay Côn:

- Cám ơn các đồng chí trinh sát trung đoàn. Có các đồng chí đi cùng thì hay quá.

Lân cũng cảm thấy hãnh diện trước sự săn đón của tiểu đoàn trưởng đối với anh bạn của mình. Có thế chứ, lớp lính trẻ chúng mình cũng bắt đầu “là một cái gì” rồi đó, phải không Côn?
Logged
hoanhe
Thành viên
*
Bài viết: 68


« Trả lời #49 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:57:21 pm »

3

Tuy đã ngoài bốn mươi tuổi nhưng tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh đã chứng tỏ rằng mình vẫn sung sức. Ông vượt qua chặng hành quân đường dài một cách khá dễ dàng và hình như càng đi ông càng dẻo dai hơn. Vừa tới mặt trận lại bước ngay vào đợt trinh sát địa hình đầy gian khổ hiểm nguy nhưng ông vẫn luôn tỉnh táo, nhanh nhẹn khiến các trinh sát viên của Lân cũng phải kính nể. Họ thường nói với nhau - tụi trai trẻ chúng mình mà không theo kịp ông Mạnh thì thật xấu hổ.

Từ ngày về nhận nhiệm vụ ở tiểu đội trinh sát, Lân đã có dịp gần gũi ông nhiều hơn. Khoảng cách giữa một ông tiểu đoàn trưởng nghiêm khắc, oai phong mà anh chỉ được gặp loáng thoáng trên thao trường ngày nào đã được rút ngắn lại. Được gần ông nhiều hơn, Lân mới thấy thì ra cái ông tiểu đoàn trưởng này cũng không phải là khô khan, nghiêm khắc và khó gần như mình tưởng.

Ông thuộc lớp cán bộ đã từng tham gia kháng chiến chống Pháp, đã tham dự khá nhiều trận đánh và đã từng có mặt ở chiến hào Điện Biên Phủ. Trên người ông đầy những vết sẹo chiến tích, trong đó có cả những vết thương do dao đâm trong một trận đánh giáp lá cà với bọn lính dù thuộc địa trong trận Nà Sản. Lân biết được điều ấy là bởi hồi vừa ở lớp đào tạo trinh sát về, một lần anh và Do Cô-li-nốp rủ nhau ra suối tắm thì đã thấy tiểu đoàn trưởng đang lặn ngụp dưới suối rồi.

Nhìn thấy thủ trưởng trong tình trạng “thoát y” hai người hốt hoảng định quay lại thì từ dưới suối, tiểu đoàn trưởng gọi váng lên:

- Ê, các cậu sao thế? Cứ xuống mà tắm đi chứ!

Anh và Do nhìn nhau rồi quyết định cứ thử xuống tắm chưng với thủ trưởng một lần xem sao? Hai người vừa nhào xuống suối thì tiểu đoàn trưởng đã bơi lại, trên tay ông cầm sẵn một hòn đá cuội to như nắm tay

- Cậu nào kì giúp tớ cái lưng với!

Lân đang còn ngần ngại thì Do đã lội tới bên thủ trưởng:

- Để em giúp thủ trưởng!

Vừa dùng hòn đá chà dọc sống lưng sếp Do vừa ngac nhiên hỏi:

- Sao thủ trưởng lắm sẹo thế?

Tiểu đoàn trưởng cười ha hả:

- A... đấy là do bọn đế quốc thực dân nó cắn đấy!

Rồi ông chỉ vàọ từng cái sẹo trên người và kể ra vanh vách xuất xứ của từng vết thương. Đến cái sẹo bên vai trái thì ông nhìn Do rồi bảo:

- Cái này là vết dao găm của một ông Tây đen tặng tớ trong trận Nà Sản đấy. Không chừng, là ông cụ nhà cậu cũng nên!

Do bỗng xịu mặt xuống nói:

- Bố em theo Việt Minh từ trước khi thủ trưởng nhập ngũ kia!

Tiểu đoàn trưởng nhìn Do đăm đăm rồi cười:

- Xin lỗi cậu nhé... tớ chỉ nói vui thôi mà!

Do cũng cười bảo:

- Nếu là bố em thì thủ trưởng đi đứt rồi. Ông ấy từng là nhà vô địch quyền Anh đấy!

Lạ thay từ đó ông có vẻ rất mến Do. Thậm chí có gì ăn ngon còn bảo công vụ xuống trung đội đại liên gọi Do lên ăn nữa kia. Qua Do mà Lân biết được nhiều chuyện về tiểu đoàn trưởng, cả về tính cách lẫn đời tư.

Anh cũng biết rằng ông có vợ là một bà kĩ sư chuyên nghiên cứu về các loài côn trùng. Thảo nào, dọc đường hành quân đã mấy lần Lân bắt gặp tiểu đoàn trưởng - dừng lại ngẩn ngơ ngắm những đàn bướm vàng bay đầy dưới những con suối cạn. Ông cũng đã có hai con, con trai ông trúng tuyển phi công hiện đang đi học tại Liên Xô. Cô con gái thì đang học năm cuối cùng của cấp ba, nghĩa là chỉ kém Lân một vài tuổi là cùng.

Theo như Do kể thì tiểu đoàn trưởng không được học hành nhiều lắm, nhưng ông lại là người uyên bác do rất ham đọc sách. Điều này thì Lân tin vì anh đã được chứng kiến tài kể chuyện của ông. Suốt dọc đường hành quân, lính tráng đã mê mệt, quên cả đường dài khi được nghe ông kể chuyện Thuỷ Hử, Tam Quốc, mỗi chặng ông kể một hai hồi. Hầu như ông thuộc nằm lòng hai bộ tiểu thuyết Tàu này và có lối kể chuyện rất độc đáo xúc tích. Khi được lính khen, ông nói đùa rằng, ông lấy được vợ cũng là nhờ có tài kể chuyện Thuỷ Hử, Tam Quốc mà thôi.

Sống gần ban chỉ huy tiểu đoàn một thời gian Lân mới hiểu rằng cùng là cán bộ tiểu đoàn nhưng không phải ông nào cũng có cái uy giống như tiểu đoàn trưởng. Chính trị viên Lê Văn Sớm là một loại người hoàn toàn khác. Vì đã quá quen với mẫu cán bộ chính trị như Lương Xuân Báo nên Lân vô cùng ngạc nhiên trước tính cách xuề xoà, thậm chí cẩu thả, à uôm của ông Sớm. Nếu như Lương Xuân Báo cố gắng bao nhiêu để xoá đi cái ấn tượng là một anh cán bộ xuất thân từ một nông dân thì ngược lại chính trị viên Lê Văn Sớm lại không hề muốn làm điều đó. Ngược lại ông rất tự hào về gốc gác bần cố nông của mình. Thứ mà ông sợ nhất là các loại công văn, giấy tờ, văn kiện dày đặc những chữ là chữ. Cái mà ông sợ thứ nhì là sợ phải diễn thuyết trước đám đông. Nói một hồi là ông không còn biết mình nói gì nữa và bắt đầu nói nhịu. Điều này thì quả là ông thua xa chính trị viên Lương Xuân Báo.

Và ông thường công khai thừa nhận yếu điểm đó của mình. Có lần ông đã nói với tiểu đoàn trưởng “Cái thằng Báo nó nói hay như sáo ấy. Đến cầy cáo trong lỗ cũng phải bò ra mà nghe! Cứ y như giọng chính uỷ sư đoàn ấy. Đáng lý cấp trên nên nhấc nó lên làm chính trị viên tiểu đoàn thay tôi mới phải. Nói thật, tôi chỉ thích làm cán bộ quân sự như ông thôi. Tổ chức vô lí bỏ mẹ, đâu phải không có chó mà cứ bắt mèo ăn cứt?”.

Vì thế những cuộc học tập quan trọng ông thường tìm cách vời cho được phái viên cấp trên xuống giảng bài hoặc nhờ chính trị viên đại đội 9 Lương Xuân Báo lên lớp hộ. Vạn bất đắc dĩ mà đích thân ông phải lên lớp thì ông cũng có một phương pháp lên lớp chính trị vô cùng độc đáo. Nghĩa là, ông không hề lên lớp gì sất mà mang luôn nguyên bản văn kiện, tài liệu cấp trên gửi xuống, rồi giao cho một cậu nào đó có giọng tốt đứng lên đọc nguyên văn từ đầu đến cuối, trong khi đó ông tìm một góc nào đó ngồi chống cằm ngủ gật, có khi lại còn ngáy rất to nữa. Khi tài liệu được đọc xong, ông mới đứng dậy xoa tay và nói “Tốt rồi! Đã là chủ trương đường lối của đảng thì phải lĩnh hội nguyên văn. Không có tam sao thất bản được. Bây giờ chúng ta thảo luận nhé?”. Và ông dành phần lớn thời gian của đợt sinh hoạt cho cán bộ chiến sỹ “tự do tư tưởng”, nghĩa là ai muốn nói gì thì nói. Sau đó ông bắt mọi người viết thu hoạch. Nhưng khi anh chính trị viên phó gom lại chừng vài chục bài viết tốt nhất của anh em giao cho ông để ông đọc và đánh giá thì ông bảo “Khỏi cần phải đọc. Cái chính là họ đã viết ra. Viết thì khắc nhớ. Thế là được”. Thấy anh Phương, chính trị viên phó nhìn đống bài “mẫu” có vẻ tiếc, ông cười phảy tay bảo “Thì đem xuống các đại đội, dán vào báo tường của các đơn vị cho anh em họ đọc. Của nhà làm ra, có khi anh em còn thích hơn là đọc văn kiện của cấp trên ấy chứ”.

Anh chính trị viên phó vẫn chưa chịu buông tha - “Thế còn... chấm điểm thi đua? Nếu bí thư không đánh giá chất lượng bài thu hoạch của các đơn vị thì lấy gì làm căn cứ mà chấm điểm ạ?”. Ông Sớm tắc lưỡi “ôi dào... đếm! Đơn vị nào có nhiều bài được các cậu chọn lên đây nhất thì đạt loại một. Rồi cứ theo thứ tự mà xếp”. “Thế ngộ nhỡ trong số các bài đó có bài nào sai sót về quan điểm lập trường thì sao ạ?”. “Thì các cậu phải chịu trách nhiệm. Bí thư các chi bộ, chi đoàn... bao nhiêu là người đọc rồi, sai thế nào được mà sai”. Nói rồi ông bỏ đi. Nhưng dường như để anh chính trị viên phó yên tâm, ông bỗng quay lại nói thêm “Này, đừng lo quá thế chú em. Cậu tưởng nói sai quan điểm lập trường lúc này là dễ lắm à? Không dễ đâu nhé. Phải có tài và có gan nữa mới dám nói ngược lại với chủ trương đường lối của đảng ta hiện nay, cậu hiểu không? Đơn vị chúng ta còn lâu mới có được những người có tài và có lá gan to đến thế!”.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM