Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:14:44 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những bức tường lửa  (Đọc 116561 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #90 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 01:31:05 pm »

Chuyện đánh cá bằng vỏ cây, chính trị viên Báo đã nghe lính tráng kháo nhau nhưng chưa được nhìn thấy tận mắt bao giờ. Chắc là phải an toàn thì bộ đội họ mới dám ăn chứ. Thi thoảng đi qua suối, anh cũng thấy những đống vỏ cây bị đập dập vút ngổn ngang trên bờ, cứ tưởng lính lấy nhựa cây để giặt quần áo thay xà phòng. Hoá ra là đánh cá? Mà lạ, bom đạn mù mịt thế mà sao những con suối ở vùng này lại lắm cua, lắm cá thế nhỉ?
Vừa đi vừa mải nghĩ về chuyện cua cá, chính trị viên Lương Xuân Báo tới ngã ba suối cạn, nơi rẽ vào kiềng đại đội 9 lúc nào chẳng rõ. Đang đi, anh bỗng giật nảy mình khi có một người gần như nhảy xổ ra chắn đường.
- Chính trị viên!
- Ôi, Cung đấy hả! - Chính trị viên Báo lắc đầu - Cậu làm tớ giật bắn lên đây này.
Anh nuôi Cung nhếch miệng cười, ra hiệu cho chính trị viên hãy nhìn xuống khe suối. Theo hướng tay Cung chỉ, chính trị viên Lương Xuân Báo nhận ra một người đang ngồi trên phiến đá lớn vẻ trầm ngâm suy nghĩ. Thi thoảng, anh ta lại nhặt những viên sỏi nhỏ ném xuống cái vũng nước lớn còn đọng giữa lòng suối.
- Cậu ấy ngồi dưới đó từ sáng đến giờ - Anh nuôi Cung thì thầm - Có vẻ như buồn bã chán nản lắm. Hình như cậu ấy đang nghĩ về trận đánh vừa qua và chuyện đại đội trưởng Phi.
Chính trị viên Báo kéo Cung vào một gốc cây lớn, bảo anh tìm chỗ ngồi xuống rồi hỏi:
- Thế... anh em trong đại đội đánh giá về trận đánh vừa rồi ra sao?
- Về cơ bản là tốt thôi. Đại đội tiêu diệt được ba khẩu pháo lớn, bắn rơi một máy bay, diệt vài chục tên Mỹ... Như thế là thắng lợi lớn rồi. So với trận trước thì trận này thương vong cũng không nhiều. Chỉ có điều đáng tiếc là lại rụng mất đại đội trưởng Phi và trung đội trưởng Do nên anh em hơi ngậm ngùi. Nhất là Hùng Phong, cậu ấy đang dằn vặt mình vì chuyện không đưa được đại đội trưởng ra. Nhưng, theo anh em kể lại, tình huống lúc đó thật khó mà làm khác được.
Chính trị viên Báo tư lự:
- Mình hiểu rồi. Nếu chỉ có vậy thôi thì cũng không đáng ngại. Để mình thử nói chuyện với cậu ấy xem sao?
Chính trị viên Báo lặng lẽ bước tới bên cạnh Hùng Phong. Nhìn gương mặt phờ phạc, hốc hác của cậu ta, anh đoán rằng Hùng Phong đang trải qua những ngày rất khó khăn. Quả là cậu ta đang phải gánh trên vai những trách nhiệm quá nặng nề. Suy cho cùng thì cậu ta cũng chỉ là một anh lính trẻ, cuối tháng này hình như mới tròn một tuổi quân. Chiến tranh có thể khiến con người cứng cáp lên rất nhanh, nhưng sự kiên cường không thể làm nên sự từng trải để có thể ngay lập tức ứng phó với những cú sốc về tinh thần lớn đến như vậy. Trước khi vào trận đánh này lại xảy ra chuyện ba cậu tân binh đảo ngũ, cú sốc đó đã khiến cậu ta không chịu đựng nổi và suýt nữa đã gây ra tai hoạ. Khi biết chuyện, tiểu đoàn trưởng Phạm Quang Vinh, rất giận dữ, gay gắt nói rằng không thể để cán bộ trong tiểu đoàn có những hành vi quân phiệt như vậy được, ai cho cậu ta cái quyền xử án? Anh đã định bắt Hùng Phong phải kiểm điểm, nhưng đại đội trưởng Phi đã ngăn lại và nói rằng, cậu ấy còn quá trẻ, trước một sự việc như vậy có thể chưa biết tự kiềm chế, chúng ta nên thông cảm, chỉ nhắc nhở chấn chỉnh thôi chứ đừng nên tạo thêm áp lực cho cậu ấy. Anh cũng đã đồng ý với quan điểm ấy, tiểu đoàn trưởng Vinh đành nghe theo nhưng có nhắc anh rằng hình như anh hơi nuông chiều cậu cán bộ trẻ này quá. Trong thâm tâm, chính trị viên Lương Xuân Báo cũng cảm thấy vậy, có điều anh lại tin rằng không phải dễ tìm được một cán bộ trẻ mà năng nổ, nhiệt huyết, thông minh đến như vậy. Có nuông chiều nâng giấc họ đôi chút thì đã sao? Công tác cán bộ chính là cái đạo dùng người. Người có tài thường ít hay nhiều đều có tật nếu chỉ chăm chắm nhìn vào cái tật của anh ta thì khó mà dùng được người tài.
- Thế nào, ra đây ngồi câu cá đấy hả, anh bạn trẻ?
Hùng Phong hơi giật mình quay lại, chính trị viên Báo đã kịp nhìn thấy đôi mắt anh đỏ mọng.
- Chính trị viên... em... buồn quá nên ra đây ngồi một lát!
Chính trị viên Báo trèo lên phiến đá, lặng lẽ ngồi xuống bên cạnh Hùng Phong.
- Cậu đang nghĩ về cái chết của đại đội trưởng Phi và cảm thấy hình như mình có lỗi, đúng không? Cậu còn cho rằng đáng lẽ người hy sinh tại trận hôm đó phải là cậu chứ sao lạ là anh Phi đúng không?
Hùng Phong ngập ngừng:
- Cũng... có chuyện đó... Nhưng, tôi không cho rằng mình có lỗi vì đại đội trưởng đã hy sinh. Anh ấy cũng không phải đã hy sinh thay tôi. Anh ấy đã làm những điều mà anh ấy cho rằng mình phải làm. Điều tôi ân hận là mình đã không có cách nào để mang được anh ấy và ba đồng chí hy sinh ra khỏi trận địa.
- Có thật cậu cho rằng vào lúc đó không có cách nào có thể đưa anh em ra được không? - Chính trị viên Báo hỏi một cách nghiêm túc.
Hùng Phong quả quyết gật đầu:
- Mấy hôm nay tôi đã suy nghĩ, xem xét lại từng ly từng tí tình huống xảy ra vào lúc đó và quả thật, tôi không tìm ra cách nào có thể đưa được các anh ấy ra trừ phi ta phải tung thêm nhiều lực lượng vào đánh một trận sống mái nữa với địch để chiếm lại khu vực trận địa pháo thì mới có thể đưa họ ra được.
- Nhưng điều đó lại vượt ra ngoài quyền hạn của cậu thậm chí vượt ra ngoài khả năng và quyền hạn của tiểu đoàn nữa kia. Lực lượng tiến công hôm đó chỉ có mình tiểu đoàn ta, không có lực lượng dự bị. Cấp trên cũng chỉ cho phép ta đánh một trận tập kích, tiêu diệt một phần sinh lực, hỏa lực của địch rồi rút ra ngay chứ không yêu cầu chúng ta chiếm giữ, làm chủ mục tiêu.
Việc có thể có những đồng chí hy sinh không thể đưa được thi thể ra cũng thường xảy ra trong những trận đánh kiểu này. Hôm đó, nếu các cậu không thực hiện nghiêm tức mệnh lệnh của tiểu đoàn, còn lúng túng nấn ná không rút quân thật nhanh thì không chừng số thương vong của đại đội sẽ còn lớn hơn nhiều.
- Đành là như vậy... Nhưng... Tôi vẫn cảm thấy nếu như hôm đó mình kiên quyết ngăn cản thì anh Phi sẽ không vào sâu đến thế!
- Nhưng lúc đó anh ấy là người chỉ huy. Chưa tìm thấy mục tiêu chính thì anh ấy chưa thể yên tâm được. Nếu cậu là đại đội trưởng, lúc đó cậu cũng sẽ hành động như vậy.
Hùng Phong thở dài - Tất cả những lý lẽ ấy, tôi cũng đã nghĩ đến cả rồi, thủ trưởng ạ. Nhưng, có những điều mà... thật tình tôi cảm thấy mình chưa ra sao cả. Sống với nhau bao nhiêu ngày tháng, từng sống chết với nhau mấy lần rồi vậy mà tôi vẫn... chưa biết gì về anh ấy cả. Chiều hôm qua, để chuẩn bị viết báo cáo trận đánh, tôi mới mở ba lô của anh Phi ra xem có tài liệu gì có thể tham khảo được không. Vì thực tình tôi chưa từng được dạy phải viết một bản báo cáo về một trận đánh ra sao. Ai dè, tôi lại tìm được tập thư cuốn nhật ký của anh ấy và cả... bức ảnh này.
Hùng Phong rút một tấm ảnh cỡ 9 x 12 từ trong túi ngực ra, đưa cho chính trị viên Báo.
- Đây thủ trưởng xem... ảnh cưới của vợ chồng anh Phi đấy.
Trong ảnh Đồng Tiến Phi mặc thường phục, sơ mi trắng có thắt cà vạt, vợ anh cô giáo Mai Hương tươi cười ôm hoa đứng nép vào vai chồng.
- Họ... thật đẹp đôi quá - Chính trị viên Lương Xuân Báo buột miệng khen.
- Vừa cưới xong thì anh ấy phải lên đường ra trận.
Họ chỉ được sống bên nhau vẻn vẹn có năm ngày trời thôi thủ trưởng ạ.
- Năm ngày à? - Chính trị viên Báo ngẩn ngơ hỏi.
- Vâng... có năm ngày kể cả hai ngày trước khi cưới. Tính chi ly ra là chỉ có ba ngày họ thực sự được làm vợ chồng mà thôi. Lúc nào, thủ trưởng tranh thủ đọc nhật ký của anh Phi mà xem, thật không ngờ con người trông bề ngoài khô khan vậy mà lại giàu tình cảm đến thế. Anh ấy yêu chị Hương biết bao? Anh ấy viết rằng hôm chia tay, chính anh ấy cũng khóc, dĩ nhiên là đến khi lên xe rồi mới khóc. Tôi không hình dung nổi, một người như anh Phi lúc khóc thì sẽ ra sao nhỉ?
- Ai mà... chẳng có lúc mềm yếu?
- Thủ trưởng có biết không? Lá thư cuối cùng anh Phi nhận được cách đây hai tuần, đó là chuyến thư đầu tiên đơn vị mình nhận được từ miền Bắc chuyển vào theo hòm thư Mặt trận. Tôi còn nhớ, hôm ấy anh Phi vui lắm, còn mang cả gói đường còn giữ được trong ba lô ra giao cho anh Cung nấu một nồi chè đãi anh em chúng tôi. Hỏi thư chị ấy viết gì mà anh vui thế? Anh ấy chỉ tủm tỉm cười, lắc đầu không nói gì cả. Mãi tới hôm nay, tôi xem trộm bức thư ấy mới biết... thì ra, trong lá thư ấy chị Mai Hương báo tin vui rằng chị ấy đã có mang! Thủ trưởng ơi... Như vậy là... đứa con của anh ấy chưa kịp ra đời đã phải mồ côi rồi!
Nói tới đây, Hùng Phong lại gục đầu xuống gối nức nở khóc. Chính trị viên Lương Xuân Báo đặt tay lên vai anh, vỗ nhè nhẹ. Anh cũng cảm thấy dường như mình đã có lỗi gì đó với người đã khuất? Nhưng lỗi gì nhỉ? Anh cũng không giải thích được. A, phải rồi, ngày Phi được về phép cưới vợ anh đã không kịp nói một lời chúc mừng. Hôm đó hình như có chuyện mấy quân nhân đã tiết lộ nơi đóng quân mới và chuyện sắp lên đường đi chiến đấu của đơn vị nên gia đình họ đã lặn lội tìm lên tận nơi thăm. Lúc đầu tiểu đoàn kiên quyết không cho quân nhân ra gặp gia đình và giao cho anh phải ra gặp họ để “làm công tác tư tưởng”. Nhưng anh đã bất lực trước những lời năn nỉ, trước những dòng nước mắt của các bà, các cô nên đành phải quay về báo cáo lại với Ban chỉ huy tiểu đoàn xin hướng giải quyết khác. Trên đường quay về, đang bực dọc trong lòng thì gặp Phi hớn hở khoác ba lô ra, nói rằng sáng nay tiểu đoàn đã gửi giấy phép xuống, đồng ý cho anh về cưới vợ. Nghe Phi nói vậy, anh chỉ hờ hững nói “Thế hả? Vậy thì cậu phải nhanh chân lên. Mười giờ sáng có một chuyến xe từ thị trấn về Hà Nội đấy”.
Phi cũng chỉ gật đầu nói “Tôi đi nhé”, rồi vội nhảy chân sáo, vừa đi vừa chạy về hướng thị trấn. Lúc đó, giá như anh nói vài lời chúc mừng cậu ấy? Rồi, đúng hôm Phi trả phép thì anh lại được triệu tập lên trung đoàn dự hội nghị chuyên đề về công tác tư tưởng chính trị trong hành quân đường dài. Khi anh trở về thì đại đội phó Đồng Tiến Phi lại được lệnh đi trước cùng đoàn tiền trạm của Trung đoàn. Mãi tới khi vào chiến trường anh em mới gặp lại nhau thì cái chuyện cưới vợ của Phi đã không còn là chuyện thời sự nữa rồi, nói vài lời khách sáo cũng chả tiện. Trong ban chỉ huy đại đội, anh vẫn cho rằng Phi là người khô khan, cứng nhắc, còn mang nặng lối sống khắc kỷ, niêm luật mà anh đã ngấm vào máu trong những năm làm giáo viên của Trường Sĩ quan lục quân. Ngay cả đại đội trưởng Nguyễn Hồng Thanh nhiều khi cũng còn bị anh nhắc nhở bắt bẻ về quân phong quân kỷ nữa kia. Vì thế, anh cũng ít quan tâm tới tâm tư tình cảm của đại đội phó Đồng Tiến Phi. Bây giờ nghe Hùng Phong nhắc lại, cũng thấy có phần ân hận. Chính trị viên Báo nhìn tấm ảnh Hùng Phong vừa trao cho, khẽ thở dài:
- Vợ cậu ấy... còn trẻ quá.
Hùng Phong ngước nhìn chính trị viên tiểu đoàn ngạc nhiên hỏi lại:
- Thủ trưởng... Chỉ nói được vậy thôi sao?
Chính trị viên Báo không trả lời câu hỏi của anh mà đứng dậy vươn vai cười bảo:
- Cũng may là bọn mình đều chưa có vợ!
- Bọn em còn trẻ... nói làm gì? Thủ trưởng chưa có vợ thì cũng hơi lạ đấy? - Hùng Phong bỗng chuyển hướng câu chuyện, có vẻ như anh đã bớt buồn bã hơn.
- Lấy vợ... thì có khó gì? Nhưng lấy người ta rồi bỏ lại người ta một mình, rồi biến người ta trở thành goá phụ như thế thì có hay ho gì?
- Nhưng... ít ra... Anh ấy cũng đã biết thế nào là hạnh phúc? Hùng Phong cãi lại.
Chính trị viên Báo bắt chước Hùng Phong ném thêm một hòn đá nhỏ xuống suối.
- Tốt rồi... Lại sắp có con nối dõi nữa... Như thế cũng còn hơn khối thằng ra đi mà trắng tay.
Hùng Phong ngớ ra:
- Thế mà thủ trưởng vừa bảo rằng...
- Là nói cái gì cũng phải nói tới cả mặt tốt mặt xấu của cái đó. Cậu thương thằng Phi bỏ lại vợ trẻ, con côi, nhưng cũng phải thấy rằng thằng ấy nó cũng đã hơn anh em ta vì ít nhiều cũng đã được nếm mùi hạnh phúc, phải không nào?
- Đúng vậy... Nhưng mà...
- Còn chuyện cậu cảm thấy có lỗi về sự hy sinh của đại đội trưởng, là tốt thôi, nhưng cũng phải biết rằng cậu cũng chẳng phải ba đầu sáu tay gì? Cậu tưởng tớ tin rằng nếu bây giờ quay lại cái thời điểm đang diễn ra trận đánh thì cậu có thể thay đổi được tình hình chắc?
- Nhưng... tôi đã không mang được các anh ấy về...
- Đúng thế... Cho dù tình hình lúc đó có thế nào chăng nữa thì bỏ xác đồng đội lại trận địa cũng là điều khó chấp nhận. Nhưng nếu cấp trên có treo lên cổ cậu một án kỷ luật thì trong lòng cậu cũng chẳng thấy thanh thản hơn được đâu.
Hùng Phong hoang mang ngước nhìn chính trị viên:
- Vậy... tôi phải làm sao?
- Cậu phải tìm mọi cách vượt qua chuyện này. Chúng ta còn phải đánh giặc. Rồi ngày mai, ngày kia chúng ta lại bước vào một trận đánh mới và có thể lại phạm phải những sai lầm khuyết điểm khác. Nếu cứ chất tất cả trong lòng thì còn tâm sức đâu mà đánh giặc?
Hùng Phong suy nghĩ một lát rồi gật đầu:
- Anh... nói cũng phải.
Chính trị viên Báo gật đầu:
- Vậy thì ta về thôi... Chiều nay tôi sẽ dự họp với các cậu. Có gì thì nói cho hết ra một lần. Rồi phải cố mà quên đi để còn bước vào nhiệm vụ mới.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #91 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 01:31:29 pm »

Nhưng rốt cuộc, Hùng Phong cũng không có cơ hội mà nói cho hết những điều mà anh còn khắc khoải, chứa chất trong lòng về những sự kiện diễn ra trong trận đánh ấy. Không phải vì anh chưa đủ sự thành khẩn. Vào thời ấy, người ta đâu có ngại nói quá đi về những sai lầm khuyết điểm của mình, thậm chí người ta còn phải bịa ra khuyết điểm để mà nói trong những buổi sinh hoạt phê và tự phê để biểu lộ sự trung thành của mình với Đảng nữa kia. Anh không nói hết được những suy nghĩ, những tâm tư của mình là vì có sự can thiệp của kẻ thù. Cuộc họp của chi ủy vừa diễn ra được nửa giờ, Hùng Phong chưa kịp báo cáo xong diễn biến của trận đánh thì một trận oanh tạc bằng B52 dữ đội chưa từng thấy trùm lên toàn bộ khu vực Động Mã.
Hầu như tất cả những nơi trú quân của trung đoàn đều trúng bom, nhưng tiểu đoàn bảy là đơn vị nằm đúng vào trung tâm của cuộc oanh kích nên đã phải chịu nhiều thương vong nhất.
Loạt bom đầu tiên dội xuống quá bất ngờ. Lúc ấy dường như không gian đang rất yên tĩnh. Không nghe thấy tiếng vo ve dai dẳng khó chịu của những chiếc máy bay do thám OV10, pháo địch từ những căn cứ ven đường 9, từ thị trấn Đông Hà hay trên điểm cao 241 đột nhiên cũng không thấy đì đùng bắn ra nữa.
Tuy vậy, cũng không mấy ai để ý đến sự im lặng khác thường này.
Sau này mới nghe kể lại rằng vào lúc hàng chục tấn bom sắp sửa rơi xuống khu vực kiềng của đại đội 9 thì anh chàng “chỉ nghe bằng một tai” Nguyễn Đình Hướng lúc đó đang giúp anh nuôi chuẩn bị bữa chiều thay cho anh nuôi trưởng Ngô Xuân Cung đi họp chi uỷ, bỗng nhiên có một linh cảm thật khác thường. Cậu Nỏ, một chiến sĩ nuôi quân của đại đội đang đãi gạo dưới suối thì đột nhiên thấy Hướng xồng xộc chạy xuống hét toáng lên:
- Nỏ bê gạo lên mau!
Nỏ chỉ đám mọt nổi lềnh bềnh trên mặt suối bảo:
- Vẫn còn nhiều mọt lắm, để em chao thêm vài nước nữa.
Hướng nhăn mặt giục:
- Thôi... Mọt cũng ăn được. Càng có chất. Nhanh lên kẻo ăn bom ăn pháo bây giờ!
Nỏ lấy làm lạ, vì từ ngày về đóng quân ở khu vực này, pháo địch chưa một lần bắn đến, bom thì lại càng không. Nhưng nhìn bộ dạng nghiêm trọng của Hướng, Nỏ không dám chần chừ, vội bê giá gạo lên bếp ngay. Cậu Tín đang nhặt rau môn thục gần đó, cũng bị Hướng quát cho một trận, phải ôm bó rau lên cửa bếp ngồi nhặt.
Hướng thì bồn chồn hết chạy ra lại chạy vào, có lúc còn ngửa mặt nhìn lên trời, rồi nghển cái tai lành lên nghe ngóng. Đúng lúc đó thì quản lý Hoàng vừa dẫn một số anh em đi nhận gạo và thực phẩm sẵn sàng chiến đấu từ kho trung đoàn về đến cơn suối dưới chân đồi, từ bờ suối lên bếp cũmg chỉ khoảng hơn một trăm mét dốc. Đã thành lệ rồi, đi đâu về thì anh em đại đội 9 cũng phải dừng một lúc dưới suối rửa mặt mũi chân tay cho mát mẻ rồi mới leo lên hầm của các trung đội ở tận trên lưng chừng ngọn đồi. Vì thế, đám lính đi lấy gạo về tụ tập ồn ào dưới suối cũng là chuyện thường tình. Lúc đó Hướng vẫn đang bồn chồn chạy ra chạy vào trên khu nhà bếp, thấy cảnh “mất trật tự” dưới suối, anh liền đứng trên nóc hầm của anh nuôi trưởng Cung kêu toáng lên:
- Bọn nào lộn xộn dưới đó thế? Giải tán, về hầm ngay đi!
Nhưng đã quá muộn. Đúng lúc ấy thì những chiếc máy bay B52 bay qua và hàng trăm trái bom xé gió vun vút lao xuống. Nguyễn Đình Hướng chỉ kịp nhảy từ trên nóc hầm xuống, đẩy cậu Tín đang ngồi nhặt rau ngã vật xuống ngay trước cửa hầm cùng lúc với những tiếng nổ dậy đất, không gian chao đảo, tối xầm lại, sức ép của không khí đẩy bật họ lên. Không hiểu bằng cách nào mà họ đã kịp lao tới cửa chiếc hầm chữ A của anh nuôi trưởng Cung nằm kề bên căn nhà bếp nửa nổi nửa chìm. Khi hai người vừa chui được vào hầm thì bỗng nghe đánh rầm một cái, cửa hầm vụt tối om. Một phiến đá lớn đã bị bom đào lên, rồi ném vào bịt kín cửa căn hầm. Hướng vừa ho sặc sụa bởi thuốc bom xộc vào mồm vào miệng, vừa quờ quạng lần tìm trong bóng tối:
- Thằng Nỏ đâu rồi?
- Nó chưa kịp vào hầm!
Tín vừa thở hổn hển vừa trả lời. Ngay sau đó căn hầm rung lên như đưa võng, những cây gỗ ken hầm kêu ken két, đất đá rơi xuống rào rào. Hướng còn kịp nghe tiếng Tín hốt hoảng kêu lên:
- Không khéo sập hầm mất!
Rồi lại một chuỗi bom nổ, có cảm tưởng như cả trái núi đã vỡ vụn ra. Sau đó là một khoảng không tối đen vô định, tuyệt đối im lặng.
Chi ủy đang họp trong căn nhà nửa nổi nửa chìm có hai chiếc hầm kèo ở hai đầu nên ngay sau loạt bom đầu tiên vừa nổ, mọi người đã kịp lao vào hầm. Đến loạt thứ hai thì một quả bom phát quang nổ ngay trước hầm chỉ huy. Nóc chiếc hầm kèo bên trái bị bốc tung lên, cây gỗ làm đòn nóc hầm tụt một đầu xuống, nện đúng vào giữa đỉnh đầu chính trị viên Đào Trọng Phú.
Lúc ấy trong hầm có cả anh nuôi trưởng Ngô Xuân Cung và trung đội trưởng Nguyễn Văn Tại. Hầm sập, đất đá rơi ầm ầm vào mọi người, khói bom xộc vào đặc quánh, khét lẹt, tối om, nên không ai biết chính trị viên Phú đã chết ngay khi bị cái cây làm đòn nóc hầm nện trúng đầu.
Chính trị viên tiểu đoàn Lương Xuân Báo và đại đội phó Hùng Phong từ dưới hầm chui lên, mặt tái dại khi nhìn khu vực đóng quân của đại đội 9 bị cày xới nát bấy lên, cả một vạt rừng từ lưng chừng cao điểm xuống đến bờ suối bỗng dưng quang loác. Sau một vài giây đứng sững sờ, chết lặng nhìn cảnh tàn phá, Hùng Phong như sực tỉnh. Anh đứng trên phiến đá lớn vừa bị bom lôi từ ruột núi ném lên, bụm tay làm loa hét lên:
- Các trung đội khẩn trương đi cứu hầm sập! Tập trung thương binh lại để cứa chữa.
Nhìn thấy trung đội trưởng Khang đứng thất thần nhìn bãi bom trước mặt, Hùng Phong giận dữ quát tướng lên:
- Anh còn đứng đấy làm gì? Về ngay xem anh em sống chết thế nào chứ?
Chính trị viên Lương Xuân Báo tự nhiên mất giọng, nói lào khào:
- Tai hại quá... tai hại quá...
Hùng Phong liếc nhìn sang chiếc hầm bên cạnh cũng vừa lúc anh nuôi trưởng Cung và trung đội trưởng Tại lóp ngóp chui lên khỏi căn hầm sập - Trời ơi... Hầm bên ấy bị sập à? - Hùng Phong hốt hoảng xô tới vừa thở vừa hỏi dồn dập - Còn anh Phú đâu?
Đến lúc đó Tại và Cung mới ngơ ngác nhìn căn hầm sập ngổn ngang đất đá:
- Ừ nhỉ... Sao không thấy anh ấy ngoi lên nhỉ?
Tại đáp ngẩn ngơ rồi bỗng giật mình, nhảy vội tới vừa kêu vừa bới đất như điên:
- Anh Phú... Anh Phú... Anh còn trong đó không?
Mọi người cùng xô tới gấp gáp đào bới. Một lát sau thì tìm thấy thi thể chính trị viên Phú. Đầu anh vỡ toác, bê bết máu.
- Anh ấy chết rồi! - Anh nuôi Cung cúi xuống xem xét vết thương của chính trị viên rồi kết luận - Có lẽ bị cái cây đòn nóc kia nện trúng đầu.
Hùng Phong cảm thấy toàn thân mình nhũn ra, không còn hơi sức nữa. Anh quị xuống ôm lấy mặt, nấc lên từng chập. Chính trị viên Lương Xuân Báo liền bước tới, đá vào lưng Hùng Phọng một cái rồi quát:
- Đứng dậy ngay! Anh em người ta đang cứu nhau ở dưới kia mà các anh còn líu ríu ở cả đây sao? Theo tôi!
Nói rồi, anh rũ bụi đất bám trên áo chạy đi ngay.
Hùng Phong vội gạt nước mắt đứng dậy chạy theo, chỉ kịp quay lại dặn với:
- Cậu Cung, bảo anh em kiếm cái võng đắp tạm cho anh ấy đã.
Toàn đại đội có bốn căn hầm bị sập. Trong số những người bị sập hầm, ngoài chính trị viên Phú còn có thêm hai chiến sĩ nữa hy sinh. Hướng và cậu Tín anh nuôi cũng được cứu thoát nhưng cá hai đều bị sức ép khá nặng. Riêng cậu Nỏ may mắn sao lại không việc gì dù không kịp chui vào hầm. Cậu ta kể rằng khi bom nổ, cậu ta sợ quá chỉ kịp chúi đầu vào trong cái bếp Hoàng Cầm chưa nổi lửa bên cạnh, toàn thân thì phơi ra bên ngoài mà không trúng mảnh bom nào, trừ việc bị đất đá nện cho một trận mềm xương. Mười hai cậu đi lấy gạo về đang rửa mặt mũi chân tay dưới suối chỉ có hai cậu sống sót, ba cậu bị thương nhưng cũng chết ngay sau đó vì mất máu quá nhiều. Có tới bốn quả bom rơi trúng đoạn suối đó. Thi thể anh em văng khắp nơi. Cái đầu của cậu Toản, tiểu đội Bốn không hiểu sao lại bị ném lên tận lưng đồi, mắc vào một cái chạc cây ngay sau căn hầm của chính tiểu đội ấy. Năm ngày sau cậu Bỉnh bị sốt rét không đi vận chuyển được, đang ngồi dưới gốc cây vừa lau súng vừa hát nghêu ngao thì cái đầu của Toản rơi bịch ngay trước mặt. Hốt quá, Bỉnh vừa kêu gào vừa chạy thục mạng xuống tận khu bếp mới rồi chui tọt vào hầm của anh nuôi trưởng Cung, nép vào một góc, ngồi run như rẽ.
Anh Cung vội chạy vào hỏi căn cơ rồi lặng lẽ đi lên nhặt cái đầu của Toản bọc vào áo, đem ra sang mé đồi bên cạnh đào một cái hố rồi chôn xuống đó.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #92 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 01:31:54 pm »

Chôn xong, anh vái cái mô đất ấy một vái rồi khấn rằng:
- Toản à... Mấy bữa trước đơn vị bị trúng bom B52, anh em tìm mãi mà không thấy chút gì của thi thể chú. Nay bỗng dưng chú lại hiện về. Dù chỉ có cái đầu, nhưng chẳng phải cái đầu là bộ phận quan trọng nhất của cơ thể chúng ta đó sao? Vậy chú hãy coi như đây chính là phần mộ của mình nhé. Sau trận bom vừa rồi, anh em mình đang hoang mang, nên tôi cũng mạo muội được giấu giếm mà chôn cất cho chú, không muốn làm anh em đau lòng thêm nữa. Có gì không phải thì chú cũng bỏ qua cho. Mong chú có khôn thiêng thì hãy phù hộ độ trì cho anh em trong đại đội ta chân cứng đá mềm, đánh đâu thắng đó”.
Anh Cung khấn xong thì ra về. Liên tục trong bảy ngày liền, mỗi ngày một lần vào lúc chập tối, anh Cung đều lén mang lên ngôi mộ nhỏ của Toản một bát cơm để cúng cho cậu ấy. Cúng xong thì ăn luôn.
Còn cậu Bỉnh, từ sau hôm ấy bỗng thành người ngẩn ngơ, cứ nhìn thấy cái gì tròn tròn, là kêu thét lên “Trời ơi, đầu của đứa nào rơi rồi kìa “. Nửa tháng sau, xem chừng bệnh ngày một nặng thêm, quân y sĩ tiểu đoàn xuống khám rồi quyết định cho đi bệnh viện. Sau đó không thấy Bỉnh trở về đơn vị nữa. Trận bom B52 là một đòn khá nặng đánh vào tiểu đoàn 7, nhất là đại đội 9. Cán bộ vốn đã thiếu, giờ lại càng thiếu. Tinh thần anh em cũng có phần nao núng... Một lần nữa, đích thân trung đoàn trưởng Trần Đông Hải lại phải xuống để cùng tiểu đoàn sắp xếp lại đội ngũ cán bộ chỉ huy của từng đơn vị. Hai hôm sau Hùng Phong được đề bạt làm đại đội trưởng mặc dù anh ra sức từ chối. Trung đội trưởng Khang được đề bạt lên làm Chính trị viên đại đội, trung đội trưởng Tại trở thành đại đội phó, Hướng “điếc” trở thành trung đội trưởng, mặc dù sau trận bom B52, hình như cái tai còn lại của cậu ta cũng đang bắt đầu xuống cấp. Hùng Phong đề nghị với ban chỉ huy tiểu đoàn cho Hướng chuyển vể bệnh viện tuyến sau điều trị nhưng Chính trị viên Lương Xuân Báo không nghe, anh nói “Hiện nay tiểu đoàn đang thiếu cán bộ trầm giọng. Những người lỳ đòn như Nguyễn Đình Hướng không kiếm đâu ra. Cứ để cậu ấy đánh thêm ít trận nữa. Đã có cơ sở để bồi dưỡng cậu ấy thành Anh hùng rồi. Cho về tuyến sau lúc này hơi phí”. Hùng Phong cho là phải. Nếu so với thành tích của những anh hùng đang được tuyên truyền ầm ĩ trên đài thì Hướng còn khá hơn nhiều. Chính trị viên tiểu đoàn Lương Xuân Báo cũng cho gọi anh nuôi trưởng Ngô Xuân Cung lên động viên, định giao cho anh chức trung đội trưởng trung đội 2 thay cho trung đội trưởng Tại nhưng anh đã kiên quyết từ chối. Biết tin ấy, Hùng Phong giận lắm, xuống tận bếp hỏi “Cậu làm sao thế? Làm chỉ huy không muốn, cứ muốn làm thằng nhọ đít hả?”. Anh Cung cười xoà, bảo “Tao có biết đánh đấm gì đâu mà giao cho tao làm chỉ huy. Hồi ở nhà, chỉ huy mấy đứa dân quân mà còn chả xong nữa là! Nhận vào, khi ra trận không khéo lại làm cho anh em chết oan. Thôi tao cứ lo chuyện cơm nước cho tụi bay là được rồi!”.
Kiềng của Ban chỉ huy tiểu đoàn không bị trúng bom, nhưng tiểu đội trinh sát của Trương Đình Lân cũng hy sinh mất một chiến sĩ và bị thương một chiến sĩ khác. Lân cũng chỉ thoát chết trong gang tấc. Lúc đó, anh đang cùng hai chiến sĩ đi làm nhiệm vụ trở về, đến gần kiềng của đại đội 9 thì bom nổ trùm ngay trước mặt. Anh may mắn lao kịp vào một cái hốc dưới gốc một cây cổ thụ. Hai cậu chiến sĩ đi với anh thiếu kinh nghiệm lao thẳng xuống suối nên đều trúng mảnh bom, một cậu hy sinh ngay tại chỗ, một cậu bị mảnh bom tiện đứt một cánh tay. Vì thế, mặc dù biết đại đội 9 bị trúng bom rất nặng nhưng anh phải lo giải quyết hậu quả của tiểu đội mình nên cũng không thể ghé vào được. Hai hôm sau anh mới tới gặp được Hùng Phong để chia buồn. Vừa nhìn thấy anh Hùng Phong vội chạy tới ôm chầm lấy, rơm rớm nước mắt. “Cậu không sao là mừng rồi. Nghe nói thằng Hướng bị sập hầm, có làm sao không?”. Lân hỏi, mặc dù đã biết tin Hướng vẫn còn sống.
Hùng Phong nhếch mép cười:
- Bọn mình không những không sao mà lại còn được lên chức nữa kia. Mình lên đại đội trưởng, thằng Hướng lên trung đội trưởng. Cậu Cung thích làm anh nuôi hơn, nếu không thì cũng được giao chức trung đội trưởng rồi. Cậu thấy không, bọn mình cứ tiến bộ vù vù thế này thì chả mấy chốc mà lên tới cán bộ trung đoàn! Dĩ nhiên là với một điều kiện là trận nào cũng thoát chết!t Những lời của Hùng Phong có pha chút cay đắng khiến Lân hiểu rằng cậu ta cũng chẳng vui sướng gì khi được đề bạt. Hình như cậu ta đang cảm thấy có lỗi khi liên tiếp phải thay thế vào vị trí của những bậc đàn anh tài ba hơn nhưng đã sớm phải hy sinh. Nhưng qui luật khắc nghiệt của chiến tranh là vậy, biết làm sao?
Mấy ngày sau cấp trên gửi thông báo xuống cho các đơn vị, nói rằng: trận bom B52 vừa rồi là một trận oanh tạc có chủ đích nhằm vào đội hình của sư đoàn. Bộ tư lệnh Quân đội Mỹ ở đường 9 đã phát hiện ra đội hình của sư đoàn Hồng Bàng đang ngày càng áp sát các mục tiêu quan trọng trên tuyến phòng thủ đường 9 nên quyết định tiến hành một chiến dịch oanh kích tối đa nhằm đẩy bật sư đoàn ra sát giới tuyến để bảo đảm an toàn cho tuyến đường số 9, tuyến giao thông huyết mạch đang phải vận hành hết công suất để chi viện cho chiến trường Khe Sanh.
Thông báo của cấp trên còn có một câu an ủi rằng: thằng địch càng trút nhiều bom đạn lên đầu đơn vị ta thì trên hướng chính của chiến trường, các đơn vị bạn càng có nhiều thuận lợi hơn để giành chiến thắng; và càng chứng tỏ rằng nhiệm vụ chia lửa, căng kéo địch mà Bộ tư lệnh chiến dịch giao cho sư đoàn ta đã thành công.
Nghe chính trị viên Khang đọc xong bản thông báo ấy, Hùng Phong lắc đầu chua chát “Ba lần “thành công” thế này thì đại đội ta mất sức chiến đấu rồi còn gì? Thằng cha trợ lý nào soạn cái bản thông báo này kể cũng giỏi thật đấy!”.

Vào cái đêm tiểu đội trinh sát của trung đoàn do trung đội trưởng Nguyễn Danh Côn khênh thằng tù binh Mỹ ghé vào kiềng đại đội 9 thì anh nuôi Ngô Xuân Cung vừa cắt cơn sốt. Anh bị bệnh sốt rét hành hạ đã gần một tháng nay rồi. Nhưng cậu y sĩ tiểu đoàn khẳng định rằng anh không thuộc nhóm bị sết rét ác tính. Mỗi ngày, anh thường bị lên cơn sốt hai lần, một lần vào giữ trưa, một lần vào nửa đêm về sáng. Vì thế, cũng ít người biết anh bị bệnh, ngay cả đại đội trưởng Hùng Phong cũng vậy. Có lần, Hùng Phong nghi ngại nhìn anh, hỏi “Cậu làm sao mà dạo này da dẻ cứ bệch bạc ra thế? Mất ngủ à?”. “Ừ, mất ngủ... ăn uống cũng kém nữa”. Anh trả lời qua quít. Hùng Phong cho cậu công vụ mang xuống bếp cho anh một gói Pôli tổng hợp của Trung Quốc, loại viên bọc đường màu vàng trông như viên kẹo, bảo mỗi ngày cậu hãy uống dăm bảy viên cho lại sức. Nhưng cậu Nỏ và mấy cậu anh nuôi bảo: “Biết có sống đến mai không mà để củ khoai đến mốt?”, nên liền bóc ra, chia nhau mỗi người vài chục viên, nhá kí cốp một lúc hết sạch. Hôm sau đứa nào đứa nấy nước giải cứ vàng khè, mà đái vào chỗ nào là kiến bu đen bu đỏ chỗ đó.
Cứ sau mỗi trận sốt về đêm là anh Cung không tài nào ngủ lại được nữa. Vừa dứt cơn sốt, đạp bỏ chăn ra, là anh ngồi dậy, xuống bếp hí hoáy đun một ít nước sôi để lau người. Cái mùi mồ hôi thằng sốt rét nếu để lưu cữu trên người sẽ rất khó ngửi. Lau người xong, anh đốt ngọn đèn cầy lên lọ mọ dọn dẹp chẻ nắm củi nòm, hay đổ gạo ra nhặt sạn. Sau đó anh bắc bếp lên che cửa bếp, nổi lửa nấu cơm. Có khi anh nấu xong hai nồi cơm, nắm thành từng nắm rồi thì trời mới lờ mờ sáng. Cậu Nỏ bao giờ cũng dậy vào giấc ấy, thấy anh làm xong hết mọi việc rồi cậu ta lầu bàu nói: “Sao bố già không gọi bọn này dậy mà cứ sờ sệt làm một mình vậy?”. Hỏi xong, cậu ta ngáp một chặp, rồi ngồi bó gối bên cửa bếp ngủ gà ngủ gật cho tới lúc các tiểu đội cử người xuống lấy cơm. Mấy cậu lính gác đêm cũng quen dần với chuyện mò mẫm ban đêm của anh nuôi trưởng Cung. Có đứa thấy anh dậy thì mò xuống tán gẫu cho đến lúc anh xua tay mắng: “Bọn mày gác xách kiểu gì thế? Biệt kích Mỹ nó mò vào thì khốn đấy. Về vị trí quan sát đi”. Nhắc thế là không thừa, vì cũng đã có đơn vị đang đêm bị bọn biệt kích bôi mặt mò vào hỏi thăm rồi. Cái bọn này nó cũng gan góc chả kém gì lính đặc công của ta là mấy.
Kiềng của đại đội 9 vẫn ở chỗ cũ, nhưng hồi này bị bom pháo địch đánh phá liên tục nên cây xanh chả còn bao nhiêu, chỗ nào cũng chỉ thấy đất đá lộn lên cùng với lô nhô nham nhở những cây khô, cây cháy dở. Kể ra, ven khu vực Động Mã vẫn còn vài vạt rừng xanh.
Nhưng cấp trên nói, tốt nhất là cứ làm hầm trú quân ở những nơi từng bị bom B52 xới lộn lên thì sẽ bất ngờ, an toàn hơn. Ngụy trang hầm hào cũng bằng cây khô là tốt nhất. Quả nhiên, bom pháo địch cứ nhè những nơi còn rừng xanh mà nện. Toàn bộ đội hình của đại đội 9 giờ nằm trên bãi bom, chỉ riêng có khu bếp của anh nuôi Cung là được phép đặt trong một vạt rừng le và một ít cây xanh còn sót lại mé gần bờ suối. Chỗ ấy, lại nằm ở phía Bắc sườn đồi trước mặt, cách khu bếp cũ trước khi bị bom B52 chừng vài trăm mét ngược lên thượng nguồn của con suối. Thành thử, theo cách bố trí mới thì bếp anh nuôi lại ở về chếch về phía trước đội hình của đại đội. Thực ra, cũng chả biết lấy căn cứ gì để tính phía nào là phía trước, phía nào là phía sau. Nếu lấy hướng về phía đường 9 làm chuẩn thì bếp nuôi quân ở phía trước, nhưng theo hướng giả định, nếu địch có tiến công vào kiềng của đại đội thì chỉ có thể vào được từ hướng Tây, hoặc Tây Nam thì bếp lại ở phía sau đội hình chiến đấu. Vì ở phía trước, hướng chính Nam của khu kiềng đại đội 9 là một dãy cao điểm, trên bản đồ ghi là cao điểm 185, có độ dốc rất lớn, ngay đưới chân dãy cao điểm này về hướng Đông và Đông Nam được bao bọc bởi một con suối lớn, vào mùa mưa thì nước chảy cuồn cuộn, vào mùa khô thì lòng suối trơ ra, rộng đến hàng trăm mét, lổn nhổn đá hộc. Trên dãy cao điểm trước mặt chỉ cần bố trí vài ụ súng máy, một khẩu đội cối 60 ly thì dù mùa mưa hay mùa khô thằng địch cũng khó mà vượt qua được con suối ấy. Hơn nữa, qua được con suối này, đi bộ chừng nửa giờ nữa là đến bờ sông Cam Lộ rồi. Sông ở quãng này không rộng, nhưng lại sâu, lòng sông đầy cát, bờ sông phía Bắc lại có vách dựng đứng, nhiều khe phân thuỷ, rất khó khăn cho việc cơ động. Khi lập chốt chiến dịch ở Động Mã, cấp trên cũng nhận định rằng, nếu có tấn công vào khu vực chốt liên hoàn của ta, thằng địch không dại gì mà triển khai binh lực ở hướng này. Đó là nói binh lực lớn, chứ với các phân đôi biệt kích thì không thể nói như thế được. Vì vậy, trên dãy cao điểm 185, tiểu đoàn thường xuyên bố trí hai điểm chốt cơ động và một trạm quan sát của trinh sát tiểu đoàn làm nhiệm vụ cảnh giới cả ngày lẫn đêm. Vậy mà không hiểu sao đêm hôm ấy, cả hai tổ chốt và trạm trinh sát của tiểu đoàn đều không phát hiện được việc tổ trinh sát của Nguyễn Danh Côn có tới sáu người, khênh theo một thằng Mỹ vượt qua cao điểm 185 để vào khu vực kiềng của đại đội 9?
Đêm ấy cơn sốt đến với anh Cung muộn hơn mọi ngày, hình như khoảng ba giờ sáng thì phải. Như mọi khi cắt sốt là anh trở dậy, mò xuống bếp ngay. Đêm qua cậu Nỏ đã chuẩn bị củi đuốc sẵn sàng cả rồi nên anh chỉ việc nổi lửa, vo gạo nấu cơm luôn. Hai nồi quân dụng cơm đã chín mà trời vẫn chưa sáng. Nhìn xuống khe suối, chỉ thấy một màn sương mù dày đặc. Sương dày thế này, cũng đỡ lo việc che chắn ánh sáng.
Vì dẫu máy bay trinh sát của thằng Mỹ có bay ngay trên đầu cũng chẳng thấy cái con mẹ gì được. Hình như vì thế mà cũng không thấy chúng vo ve trên bầu trời. Các trận địa pháo của địch vào giờ này cũng chỉ thi thoảng mới uể oải bắn vài loạt cầm canh. Không gian yên tĩnh lạ lùng, đến mức, ngồi dưới bếp mà có thể nghe thấy tiếng thằng Nỏ ngáy pho pho từ trong hầm vọng ra. Thằng này ngáy gỗ thật đáng sợ. Hồi nó mới được phân công xuống làm anh nuôi, phải mất hàng tháng trời anh Cung mới “chung sống hòa bình” được với tiếng ngáy của nó. Cậu Tín, và cậu Hoà, cậu Vui, cậu An đều không thể chịu được tiếng ngáy ấy. Vì thế tổ nuôi quân có sáu người, đáng lẽ chỉ cần hai hầm kèo nhưng rồi phải đào tới ba chiếc. Anh đành phải ngủ chung với thằng Nỏ. Chả lẽ, để nó ngủ một mình? Có hôm Hùng Phong đi kiểm tra gác ban đêm, nghe thấy tiếng ngáy của thằng Nỏ, liền hốt hoảng gọi cậu lính đang đứng gác gần đó lại bảo “Cậu xem, hình như có con trăn gió ở quanh đâu đây hay sao ấy?”. Khi biết đó là tiếng ngáy của thằng Nỏ anh nuôi, đại đội trưởng ngạc nhiên thốt lên “Nó ngáy kiểu gì mà khiếp thế? Cậu có thấy mặt đất dưới chân cũng rung lên không?”. Hôm sau, anh gọi anh nuôi trưởng Cung lên bảo “Cậu nhiều tuổi rồi, không thể ngủ cùng hầm với cái thằng ngáy như trăn gió rít thế được. Hay để tôi kéo thằng Nỏ về trung đội làm tiểu đội trưởng, đổi cho cậu đứa khác?”. Anh Cung cười, bảo “Chả kiếm đâu ra được một thằng chăm chỉ, tháo vát như nó đâu. Thôi, cứ để nó giúp tôi thời gian nữa để tôi vực đứa khác đã. Tôi cũng quen với tiếng ngáy gỗ của nó rồi”. Anh Cung thầm nghĩ rằng có lẽ sớm muộn gì thì cũng phải nhả thằng Nỏ ra thôi, nghẹt nỗi bốn đứa còn lại đều mới được bổ sung thay thế cho mấy cậu anh nuôi cũ được đề bạt lên làm tiểu đội trưởng hết. Chúng nó đều đã trưởng thành, có hai cậu giờ đã là trung đội phó rồi. Anh em trong đại đội thường bảo, đứa nào qua cửa bếp của anh Cung rồi cũng trở thành cán bộ hết.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #93 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 01:32:20 pm »

Sau trận 241, Hùng Phong gọi anh lên bảo “Đại đội vừa được bố sung hơn chục tân binh, cậu lên chọn lấy mấy đứa đi. Mấy đứa anh nuôi cũ tôi phải đưa lên làm cán bộ tiểu đội hết”. Anh chọn được bốn đứa Tín, Hoà, An, Vui rồi báo cáo lại với Hùng Phong “Anh phải để lại cho tôi thằng Nỏ, mấy đứa mới này xem chừng còn lâu mới quen được với chuyện bếp núc. “Quả vậy, chọn được một anh nuôi giỏi đâu phải chuyện dễ dàng. Ngay một việc tưởng như đơn giản như nắm cơm thôi, mà đến nay ngoài Nỏ ra cũng chưa đứa nào có thể thay thế anh được. Từ gần một tháng nay, khi địch thường xuyên tấn công vào khu vực đứng chân của tiểu đoàn thì mỗi ngày anh nuôi chỉ được phép nổi lửa nấu cơm vào ban đêm. Sáng sớm nấu một lần rồi nắm cho mỗi người hai nắm, một nhỏ để ăn sáng, một to hơn để ăn bữa trưa, bữa tối thì phải tới hơn sáu giờ chiều khi sương mù bao phủ dày đặc núi rừng thì anh nuôi mới lại được nổi lửa nấu ăn. Vị chi mỗi sáng anh nuôi phải nắm tới trăm rưởi nắm cơm cho hơn bảy chục người ăn. Công việc ấy bao giờ cũng do anh và cậu Nỏ đảm nhiệm. Phải làm nhiều nên bây giờ trình độ nắm cơm của Nỏ cũng điệu nghệ lắm rồi. Riêng đại đội trưởng Hùng Phong thì bao giờ cũng yêu cầu đích thân anh Cung phải nắm cơm cho mình, hễ để lẫn một nắm do cậu Nỏ làm là anh ta biết liền. Có hôm giữa trưa, Hùng Phong xộc xuống bếp, một tay cầm nắm cơm vừa thái ra làm hai, tay kia cầm con dao găm nhăn nhó bảo “Hôm nay cậu lại để lẫn cơm của tôi rồi. Nắm này chắc chắn là do thằng Nỏ nắm. Đây cậu xem, thái ra một cái là biết liền”. Anh Cung cầm nửa nắm cơm lên, nhìn vào lát dao vừa cắt, gật đầu “Đúng là nó vắt chưa được kỹ thật. Nhưng thế này ăn cũng được chứ”. Hùng Phong giận dỗi bỏ nắm cơm lại rồi quay lưng đi ngay khiến anh nuôi trưởng Cung phải bật cười “Cái thằng, có thế mà cũng giận thì lạ thật”. Anh định mặc kệ, không ăn thì thôi, nhưng rồi lại chợt nghĩ ta “Suy cho cùng thì nó cũng chưa đầy hai mươi tuổi. Ít nhiều vẫn còn trẻ con ấy mà”. Nghĩ vậy, anh bèn xuống bếp, chẻ một nắm củi thật khô rồi bỏ một nắm gạo vào cái ăng gô nấu một ít cơm. Định bụng, nấu xong sẽ mang cơm nóng lên cho cậu ấy ăn, nhưng lại chợt nghĩ “Không khéo cậu ta lại nổi điên, phê bình mình vi phạm kỷ luật khói lửa thì lôi thôi to” nên lại mang ra nắm thành một nắm cơm thật nhuyễn, rồi mang lên hầm chỉ huy. Nhưng Hùng Phong cũng nhận ngay ra là cơm còn nóng. liền nháy mắt cười bảo “lần sau cậu không cần phải làm thế nữa. Cậu qua mắt được thằng OV10 đang vo ve ở trên kia nhưng không qua mắt được tôi đâu”.
Anh Cung vừa vắt xong nắm cơm cuối cùng thì trên hầm tiếng ngáy của Nỏ cũng vừa ngừng, ngay sau đó anh nghe thấy cậu ta đái tồ tồ vào cái gốc cây trước cửa hầm. Mùi nước đái của thằng con trai mới lớn khai nồng xộc ngay vào mũi anh. Cái thằng, vẫn chứng nào tật ấy, đi đái mà nó cũng lười, chẳng thèm bước ra xa vài bước chân! Đái xong, Nỏ xộc ngay xuống bếp. Thấy mấy chậu cơm nắm đã đầy ắp, nó vừa ngáp vừa nhăn nhó trách “Sao anh không gọi tôi dậy giúp cho một tay?”. Anh Cung vừa đứng dậy vừa đấm lưng thùm thụp “Còn khối việc. Mày đi cọ hai cái nồi lớn đi, rồi bắc nước lên mà đun. Sương mù như thế này là hôm nay trời nắng lắm đấy! Phải có đủ nước sôi cho bộ đội dồn vào bi đông. Mùa hè đến nơi rồi, uống nước lã nhiều nguy hiểm lắm”. Nỏ vừa cạo cháy sồn sột vừa nói nhấm nhẳng “Vẽ... Thiếu gì Phăng-tô-xít (thuốc lọc nước) cứ cho một viên vào bi đông, múc nước suối đổ đầy vào xóc lên một lúc là có con vi trùng nào cũng ngoẻo hết!”. Anh Cung gắt “Thuốc lọc nước chỉ dùng khi bất đắc dĩ thôi, mày hiểu chưa? Hay hớm gì cái thứ hóa chất chết tiệt ấy? Đi làm đi. Mà còn phải nấu một nồi cháo cho mấy thằng sốt rét nữa đấy. Hôm nay để cháo trắng để chúng nó ăn với đường chứ không cho thịt hộp nữa, kẻo chúng nó ăn vào lại nôn ra bằng hết. Rõ chưa?”. Nỏ vừa lầu bầu đáp rõ vừa xách chiếc nồi quân dụng lần theo con dốc đã đánh thành từng bậc xuống suối.
Anh Cung quay vào, vừa định chất củi vào bếp để chụm lửa thì bỗng nghe từ dưới dốc tiếng Nỏ kêu lên thất thanh “Ối... “ sau đó là tiếng cậu ta ngã uỵch trên mặt đất và tiếng chiếc nồi quân dụng va vào cây loảng xoảng. Anh vội nhảy vài bước ra cửa bếp hỏi vọng xuống “Chuyện gì thế? Mày lại ngã hả Nỏ?”. Không thấy Nỏ đáp lại, mà lại nghe thấy những tiếng lao xao, rồi cậu lính gác bên kia đồi kéo quy lát tiểu liên đánh rốp một cái kèm theo tiếng quát đanh gọn “Ai. Đứng lại! Mật khẩu?” Có tiếng đáp mật khẩu. Rồi sau đó là tiếng một người vang lên “Chúng tôi là trinh sát của trung đoàn đi ngang qua đây mà”. Anh Cung nhận ngay ra đó là tiếng của cậu Côn vội chạy xuống dốc hỏi “Cậu Côn đấy hả?”. Tiếng Côn vang lên từ sau màn sương mù “Vâng, bọn em đây. Hình như anh Cung phải không?”. Anh Cung vội nhảy xuống vài bậc nữa thì nhìn thấy bóng Côn từ dưới dốc đi lên, ngang qua chỗ Nỏ vừa ngã, anh ta khẽ cười, nói “Xin lỗi nhé. Hình như bọn tôi làm cậu giật mình hả?”. Tiếng Nỏ làu bàu “Các ông mò mẫm đi đâu mà sớm thế? Ôi trời, cái gì thế này? Có người bị thương à?”. Côn lại cười vang “Không phải là thương binh đâu. Mà là khách quí của tụi này đấy! Làm phiền tí nhé. Các cậu đi cẩn thận, chỗ này dốc hơi cao đấy.
Từ trên lưng chừng dốc, anh Cung đã nhìn thấy một cái cáng đang lừ lừ tiến lên. Những tiếng thở gấp gáp, rồi tiếng một cậu nào đó làu bàu “Mẹ cha nó... Cứ như là bố mình không bằng? Không biết nó ăn gì mà to béo thế?”. Rồi tiếng Côn động viên “Cố lên chút nữa các cậu. Lên tới bếp của anh Cung là nhất định có cái chén rồi”.
Bốn cậu trinh sát ì ạch khiêng cái cáng lên tới trước cửa bếp của anh Cung. Côn ra lệnh:
- Đặt nó xuống đấy. Kiểm tra lại các dây trói xem còn chặt không?
Anh nuôi trưởng Cung sững sờ nhìn cái đống lù lù trên, hỏi:
- Con gì... mà nặng thế? Những bốn người khênh?
Côn khẽ bật cười, bảo:
- Thằng Mỹ đấy!

Quần nhau với quân đội Mỹ đã mấy tháng trời trên chiến trường đường 9 nhưng sư đoàn Hồng Bàng chưa bắt được thằng Mỹ nào làm tù binh? Nói cho đúng ra, cũng có vài ba đơn vị từng bắt được tù binh Mỹ trong những trận giáp chiến, nhưng rồi không hiểu sao, chẳng có đơn vị nào đưa được tù binh ra khỏi khu chiến một cách an toàn. Sau khi rút kinh nghiệm, thủ trưởng các đơn vị chỉ ra ba nguyên nhân: thứ nhất, bọn lính Mỹ, nhất là đám lính thuỷ đánh bộ không hiểu được rèn luyện, giáo dục thế nào mà khi bị bắt thường rất ngang bướng. Chúng không chịu nghe theo mệnh lệnh của chiến sĩ ta nên trong những lúc trận đánh đang diễn ra, bộ đội ta cũng không muốn lôi thôi với chúng làm gì, thà không có được thành tích bắt tù binh còn hơi là nhùng nhằng nơi trận tiền rồi chết oan vì chúng. Thứ hai là do ngôn ngữ bất đồng nên có khi bọn tù binh Mỹ cũng chẳng hiểu bộ đội ta nói gì, ra lệnh gì mà tuân theo. Hơn nữa, vào những lúc đó, để tỏ rõ oai phong và lập trường của mình, các chiến sĩ ta thường quát rất to và chưng ra những gương mặt không thân thiện lắm nên chúng hoảng, có khi vì thế mà quay đầu chạy thục mạng để rồi bị ăn đạn. Thứ ba, trong những hướng dẫn của cấp trên về việc tiếp xúc dẫn giải tù binh Mỹ có một chi tiết rất sai lầm. Đó là khi bắt được tù binh Mỹ ngoài việc tước vũ khí trang bị, điện đài, phải lập tức bắt chúng tháo giày ra để chúng không chạy trốn được. Vì thế, bọn tù binh Mỹ khi được lệnh cởi giày ra thì lại hiểu rằng mình sắp bị làm thịt (trong một tài liệu nào đó lính Mỹ cũng được hướng dẫn rằng, trước khi Việt Cộng hành hình tù binh thường bắt tù binh cởi hết quần áo, giày mũ ra để thu hồi về sử dụng), nên chúng thường thường phản ứng rất kỳ lạ - có đứa lập tức suy sụp khụy ngay xuống, mềm nhũn ra, đái ỉa cả ra quần và không chịu đứng dậy nữa. Có đứa thì hoảng loạn, la hét ầm ĩ rồi bỗng dưng đâm đầu chạy và rồi cũng nhận được một kết cục bi thảm. Cũng có những thằng cứng bóng vía hơn nhưng sau khi tháo giày ra rồi thì không thể đi được vì đau chân. Từ bé đến giờ chúng có bao giờ đi chân đất đâu? Thế là cả người dẫn giải lẫn tù binh cứ nhùng nhằng với nhau giữa nơi bom đạn mịt mù. Rồi có khi cùng làm mồi cho đạn pháo hoặc đạn súng máy từ trên những chiếc trực thăng chiến đấu bắn xuống. Vì thế nên trong những trận cận chiến, bộ đội ta nảy ra tâm lý ngại bắt tù binh. Giây với bọn này mệt lắm, lớ ngớ có khi lại chết oan. Cứ cho mỗi thằng một viên đạn cho nhẹ mình! Xong mỗi trận đánh sư đoàn trưởng Phạm Sùng lại lập tức gọi điện thoại xuống các trung đoàn hỏi, có bắt được tù binh Mỹ không? Cho tới tận bây giờ, câu trả lời vẫn là không? Sư đoàn trưởng có vẻ không vui.
Cách đây chừng hơn một tháng, trung đội phó trinh sát Nguyễn Danh Côn được nhận nhiệm vụ dẫn đường cho sư đoàn trưởng Phạm Sùng đi quan sát mục tiêu cùng với trung đoàn trưởng Trần Đông Hải. Trong lúc ngồi trên đồi cao quan sát một căn cứ dã chiến của lính thuỷ đánh bộ Mỹ dưới thung lũng, bất ngờ sư trưởng quay sang hỏi:
- Này cậu... trinh sát các cậu đã bao giờ nhìn thấy một thằng Mỹ ngay trước mắt chưa? Là tôi nói một thằng Mỹ còn sống ấy?
Côn gật đầu trả lời:
- Nhiều rồi chứ ạ. Có lần bọn này mò vào trại Mỹ ban đêm, nhưng rồi bị kẹt trong đó không ra kịp trước khi trời sáng. Thế là cả ngày nằm trong đống rác thối um, tha hồ nhìn bọn lính Mỹ đi đi lại lại trước mặt. Buổi chiều, còn được xem chúng nó tắm bằng vòi rồng từ trực thăng phun xuống kia.
Sư đoàn trưởng nghe rất thích thú rồi bỗng thở dài:
- Còn mình thì... Mới chỉ nhìn thấy xác lính Mỹ mà thôi. Nhìn thấy hàng trăm thằng, nhưng toàn là những thằng Mỹ chết. Đánh nhau với chúng nó gần nửa năm rồi mà chưa nhìn thấy thằng Mỹ còn sống nào thì cũng buồn thật. Mình đã lệnh cho trinh sát sư đoàn phải tìm cách bắt cho được một thằng Mỹ, nhưng đến nay vẫn chưa thấy các cậu ấy lôi được một thằng Mỹ nào về.
Không hiểu sao lúc ấy Côn bỗng buột miệng hứa:
- Thủ trưởng yên tâm đi... Nhất định bọn tôi sẽ lôi cổ được một thằng Mỹ về cho thủ trưởng!
Sư đoàn trưởng vỗ vai Côn khích lệ:
- Tốt! Nếu các cậu bắt được một tù binh Mỹ về, tớ sẽ đề nghị thưởng Huân chương ngay!
Vì một lời hứa với sư đoàn trưởng, chứ không phải vì cái huân chương mà Côn và các chiến sĩ trinh sát trong trung đội mình đã lặn lội dọc đường số 9 suốt bảy ngày bảy đêm vừa qua. Và, cuối cùng thì họ cũng có được một thằng Mỹ.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #94 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 01:32:56 pm »

Việc Côn được lệnh dẫn năm chiến sĩ trinh sát trung đoàn đi làm nhiệm vụ và bắt tù binh cũng diễn rất bất ngờ. Sau chuyến trinh sát ấy chừng một tuần trung đoàn trưởng Trần Đông Hải bỗng cho gọi Nguyễn Danh Côn lên Sở chỉ huy và hỏi:
- Thế nào, cậu đã sẵn sàng chưa?
Côn đứng nghiêm, trả lời:
- Chúng tôi lúc nào cũng sẵn sàng. Thủ trưởng cần giao việc gì ạ?
Trung đoàn trưởng lắc đầu:
- Không phải tớ... mà là sư trưởng. Cậu quên những lời đã hứa với ông ấy rồi à?
Côn sực nhớ ra liền gãi đầu cười:
- Em chưa quên... Nhưng chưa có cơ hội.
- Cơ hội thì có rồi đấy - Trung đoàn trưởng vẫy tay ra hiệu cho Côn bước tới trước tấm bản đồ treo trong phòng chỉ huy của mình rồi hỏi - Các cậu có muốn đi một vòng về phía Đông không?
- Phía Đông? Nhưng... tới tận đâu ạ?
Trung đoàn trưởng khoanh một vòng rộng trên bản đồ:
- Trước mắt thì các cậu hãy khảo sát cho tôi từ vùng ven thị xã Đông Hà ngước về trên này đã. Phải nắm cho kỹ địa hình, đường cơ động và những mục tiêu lớn, cố định trong phạm vi này. Dĩ nhiên mới chỉ là điều nghiên địa bàn thôi chứ chưa đi sâu vào mục tiêu nào vội.
Côn nhìn trung đoàn trưởng rồi buột miệng nói:
- Trung đoàn chúng ta sắp được lật cánh phải không ạ?
Trung đoàn trưởng nghiêm mặt:
- Không được đoán bừa! Trước mắt, nhiệm vụ của các cậu chỉ có vậy. Ngoài ra, nếu có điều kiện thì... kiếm cho ông Sùng một thằng Mỹ! Nhưng tớ nói trước, nếu có hành động thì các cậu cũng chỉ được hành động trong phạm vi từ Cam Lộ trở về phía Tây thôi, không được quậy ở khu vực Đông Hà. Và nhất là không được để lại dấu vết gì khiến địch suy đoán ra được sự có mặt của sư đoàn ở hướng đó!
Côn đáp “Rõ”rồi hỏi thêm:
- Chúng tôi được sử dụng bao nhiêu trinh sát. Và, đồng chí trung đội trưởng có được phép trực tiếp chỉ huy không ạ?
- Không... Cậu Đoàn phải ở nhà. Cậu sẽ là người trực tiếp chỉ huy cuộc trinh sát này. Lực lượng tối đa có thể đưa đi là hai tổ. Địa bàn rộng như vậy, phải chia làm hai mũi mà đi. Thời gian nhiều nhất là tám ngày phải trở về với đầy đủ những thông tin cần thiết.
Côn do dự một lát rồi hỏi tiếp:
- Chúng tôi có được phép tranh thủ sự giúp đỡ của trinh sát sư đoàn không ạ?
Trung đoàn trưởng không trả lời câu hỏi của Côn mà nói:
- Chủ nhiệm trinh sát sư đoàn lát nữa sẽ xuống đây trao đổi nhiệm vụ với các cậu.
Trưa hôm đó, đồng chí Chủ nhiệm trinh sát sư đoàn ghé qua. Cuộc trao đổi về nhiệm vụ mới diễn ra chừng hơn một giờ đồng hồ. Côn rất lấy làm hãnh diện khi cuộc làm việc chỉ hạn chế trong nội bộ Ban chỉ huy trung đoàn, anh là cán bộ cấp dưới duy nhất được dự. Không được ghi chép, cố nhiên rồi. Nhưng với một trí nhớ tuyệt vời lại được rèn luyện, nên chỉ nghe qua một lần là Côn nhớ rõ tất cả những địa danh, những con số, những tọa độ, những tên người và mật khẩu liên lạc. Khi nghe Côn nhắc lại không sót một điều gì, đồng chí Chủ nhiệm trinh sát rất hài lòng, gật gù khen:
- Nghe cánh lính trinh sát sư đoàn khen rằng cậu có trí nhớ tuyệt vời, nay tôi mới tin đấy. Cậu học kỹ năng đọc và nhớ các dữ kiện ở đâu vậy?
Khi Côn nói anh đã được học những ông thày giỏi trong một khoá huấn luyện trinh sát do Cục tình báo - Bộ Tổng Tham mưu tổ chức thì ông Chủ nhiệm trinh sát liền hỏi ngay:
- Vậy cậu cũng là học trò của Lê Xuân Ôn chứ?
- Vâng... Anh ấy dậy chúng em võ thuật và chiến thuật trinh sát vũ trang trong lòng địch?
Ông Chủ nhiệm trinh sát gật gù:
- Tay ấy khá lắm. Hôm qua hắn vừa ghé chỗ bọn mình.
- Anh ấy đã vào trong này rồi sao?
- Vào rồi... Hắn đã được thăng hàm Đại uý, rồi được cử vào làm Chủ nhiệm trinh sát mặt trận cơ đấy.
- Thế thì mừng cho anh ấy !
Ông Chủ nhiệm trinh sát lắc đầu cười:
- Mừng gì... Hắn kêu trời lên thì có. Hắn nói hắn đâu có quen trinh sát trên bản đồ. Giao cho hắn một tiểu đoàn đặc nhiệm có phải hay hơn không? Vì thế, tuy làm Chủ nhiệm trinh sát mặt trận hẳn hoi nhưng hễ xểnh ra một tí là hắn lặn một hơi. Hôm vừa rồi hắn ghé qua chỗ mình là vừa chui từ trong sân bay Đông Hà ra. Hắn nói, sân bay này đang được mở rộng, hình như chuẩn bị căn cứ cho bọn Sư đoàn kỵ binh bay số 1 ra trợ chiến cho Khe Sanh, có lẽ phải kiến nghị với cấp trên khi nào thằng kỵ binh bay này mò ra thì phải đánh một trận phủ đầu thật giòn cho bọn này khỏi vây vo!
Thế là Trung uý Lê Xuân Ôn cũng đã vào đây. Ước gì gặp được anh ấy để hỏi thêm vài điều. Một người lính trinh sát bậc thầy như anh ấy hẳn phải biết nhiều lắm, nhất là về kẻ thù. Rất tiếc, hồi còn được học với anh ấy mình đã bỏ phí bao thời gian?
Ngay xẩm tối hôm đó, nhóm trinh sát do Côn chỉ huy lặng lẽ lên đường. Họ cắt rừng nhằm hướng Đông mà đi. Sau này Côn mới biết những điều mình dự đoán là chính xác. Sư đoàn đã nhận được lệnh của Bộ tư lệnh mặt trận sẵn sàng lật cánh về hướng Đông để tìm cách giữ chân sư đoàn Thuỷ quân lục chiến số 3 vừa được điều ra Quảng Trị, không để cho chúng rảnh chân lên chi viện cho chiến trường Khe Sanh. Trong đợt lật cánh này trung đoàn 1 sẽ đi tiên phong. Trung đoàn 4 của các anh sẽ là lực lượng cơ động. Sẵn sàng ứng chiến trên cả hai hướng. Vì thế mới có cuộc đạp địa hình khá vội vã như thế này của những người lính trinh sát trung đoàn. Thông thường, những chuyến đi địa hình như thế này thường có cả Tham mưu trưởng hay Trưởng Ban tác chiến trung đoàn đi cùng, không hiểu sao lần này các cụ lại cho trinh sát độc lập tác chiến?
Bây giờ thì Côn đã khá tinh quái trong việc đoán định những ý đồ của chỉ huy thông qua những động thái sử dụng trinh sát. Sau những chuyến đi thầm lặng của các anh thường là những trận đánh quyết liệt của trung đoàn. Tuy vậy, cũng có khi các anh mất bao nhiêu công sức, thậm chí cả xương máu để nghiên cứu xong một mục tiêu nhưng cuối cùng thì trận đánh lại không diễn ra. Không ai giải thích cho các anh lý do vì sao, những người lính trinh sát cũng đã tập được thói quen im lặng, không thắc mắc về điều gì, cũng không hỏi tại sao mình phải làm việc này việc kia. Những điều mà Côn hỏi trung đoàn trưởng về nhiệm vụ sắp tới của trung đoàn là cấm kỵ. Nhưng cũng có lúc anh không nén nổi sự tò mò.
Côn dẫn tổ trinh sát lặn lội suốt ba ngày đêm, bừa ngang bừa dọc khu vực tác chiến của trung đoàn trong tương lai. Đó là giải đất chưa hẳn thuộc Mặt trận phía Đông, nhưng cũng không thuộc về Mặt trận phía Tây.
Ở Bộ tư lệnh Mặt trận người ta vẫn gọi khu vực này với cái tên trung tính là “Khu giữa”. Nếu trung đoàn được giao nhiệm vụ cơ động ứng chiến trên cả hai hướng thì nhất định phải nắm thật vững địa hình và các loại mục tiêu ở khu vực bản lề này. Đó là yêu cầu đặt ra cho cuộc trinh sát lần này. Đối với lính trinh sát thì đi kiểu này được gọi là “đạp địa hình”. Đạp địa hình thì ít nguy hiểm hơn khi đi trinh sát mục tiêu nhưng lại vất vả hơn vì phải đi nhiều, phải ăn bờ ngủ bụi và phải tập trung trí nhớ để nhanh chóng thuộc nằm lòng các mảng địa hình, các tuyến đường mới cũ, các khu vực có mục tiêu cố định của địch và cả những vùng lực lượng cơ động của địch thường qua lại. Trong thời điểm này, khu giữa không có những đơn vị chủ lực lớn của ta, nhưng các tiểu đoàn cơ động, các đơn vị đặc công của Mặt trận, các đơn vị Bộ đội địa phương và những đội du kích của tỉnh Quảng Trị, thậm chí có cả những đội du kích của huyện Vĩnh Linh cũng sang đây hoạt động.
Nhiều lực lượng độc lập như vậy hoạt động trên một địa bàn cũng là điều mà cánh trinh sát rất ngại. “Lắm sư phiền sãi, lắm vãi rộn chùa”. Mấy thứ quân cùng ra ra vào vào trên một dải đất hẹp, mật khẩu liên lạc chung thì không có, rất dễ va chạm với nhau khi cùng mò vào vùng giáp ranh hoặc vùng địch chiếm. Đã không ít lần các anh bị bội đội địa phương và du kích Quảng Tri làm cho hết hồn, lỡ mà chạm súng với nhau không thương vong thì cũng bể mánh, cháy vở, bị lộ bem như bỡn. Hồi mới vào, lính trinh sát chủ lực còn thích diện “quân phục đặc chủng”, nghĩa là những bộ rằn ri ngụy trang. Cơ động trong những khu vực rừng thưa, rừng cây bụi cứ nhấp nhoà nhấp nhoà, trông chẳng khác mấy lũ biệt kích? Lính địa phương và du kích Cam Lộ cho ăn đạn như bỡn. Về sau rút kinh nghiệm, hễ mò vào vùng giáp ranh thì không dại gì mà mặc thứ đó, hoặc là mặc quân phục bình thường hoặc chỉ đánh độc chiếc quần xà lỏn, chiếc áo may ô cổ vuông xẫm màu là xong... Nếu trong những lúc nhập nhoạng có nhìn thấy nhau thì chị em du kích cũng thận trọng hơn trước khi bóp cò súng hoặc quăng lựu đạn.
Qua ngày thứ tư, theo hợp đồng họ bắt được liên lạc với bộ phận tiền phương của bộ đội địa phương tỉnh. Trước khi đi, Chủ nhiệm trinh sát sư đoàn đã giao cho Côn địa điểm và mật khẩu liên lạc với bộ đội địa phương tỉnh để nhờ họ đưa đường khi vào vùng ven.
Điểm hẹn là một điểm cao phía sau một ngôi làng đã bị dời đi khi quân đội Mỹ lập vành đai trắng kéo dài từ vĩ tuyến 17 vào tới đường số 9. Ngôi làng chỉ còn tên trên bản đồ chứ trên thực địa thì nơi này đã trở thành một dải đất hoang tàn với đầy cây xấu hổ và những hố bom đạn. Theo chỉ dẫn của trinh sát sư đoàn, Côn và đồng đội lần tìm tới được ngọn đồi sau làng, nơi có xác chiếc xe bọc thép M113 vùi trong những bụi gai xấu hổ. Ở đó đã có người đợi sẵn để đón các anh tới gặp người chỉ huy của lực lượng vũ trang địa phương - Một ông Tham mưu phó tỉnh đội tên là Đờn, cao kều, đen bóng, trông dáng người thì trẻ nhưng gương mặt thì nhăn nhúm như một ông già. Anh ta tự giới thiệu mình là người ngoài Vĩnh Linh, đã được học sĩ quan ở trường Quân chính Quân khu 4 đàng hoàng. Có lẽ vì vậy nên vừa gặp Côn và tổ trinh sát anh ta đã nhăn nhó phê liền một chập:
- Sao các ông vào chậm rứa? Đón các ông từ ngày hôm qua tới chừ đó. Bộ đội chủ lực sao chẳng “chính qui chính củ” chút mô hè?
Rồi không khách khí gì hết, anh ta hất hàm bảo Côn:
- Vô vùng ven nỏ đùa đâu nghen!... Các ông có giấy tờ gì gì đều phải gửi lại hết. Có chết cũng vô danh hỉ?
Côn nhăn mặt nói:
- Điều đó ông khỏi lo... Bọn tôi là linh trinh sát mà... Cũng không phải lần đầu mò vô vùng địch đâu.
- Thế thì tốt!
Chợt ông ta nhìn thấy trên cánh tay của cậu Lợi có xăm hình tháp rùa và ba chữ “Nhớ quê hương”, liền nhăn mặt:
- Rứa có khác chi “lậy ông con ở bụi ni” đâu hén? Lỡ cậu rơi vào tay thằng Mỹ, khỏi hỏi chúng cũng biết cậu là người Hà Nội rồi còn chi?
Lợi cười hồn nhiên:
- Vâng... Nhưng làm sao tụi nó bắt được tôi cơ chứ?
- Phách lối ghớm hén? Coi bộ kiêu binh không... Tui nghe nói lính sư đoàn Hồng Bàng các ông đi tới đâu là thằng địch bu tới đánh cho chí chạp. Xem ra thì các ông cũng khinh thằng địch như con muỗi?
Lợi cười hơ hớ:
- Thì tụi tôi cũng có xem bọn nó ra sao đâu nào?
Anh Tham mưu phó tròn mắt, nhìn Côn hỏi:
- Các ông lấy cả mấy cái thùng rỗng này vô làm lính trinh sát sao?
Thấy anh chàng Tham mưu phó đã có vẻ giận, Côn liền dàn hoà:
- Cậu ấy chỉ nói chơi thôi mà!
- Hứ... Nói chơi thôi hén? - Anh Tham mưu phó tỉnh đội nhếch mép cười khẩy - Chưa thấy quan tài chưa nhỏ lệ? Mấy ông thử sống ở vùng đất lửa này một thời gian rồi khắc biết mình là cái thứ gì?
Ông Tham mưu phó Đờn nói dằn dỗi vài câu nữa rồi vẫy tay gọi một chiến sĩ gần đó:
- Mi chạy đi kêu cô Sáu “phóng lựu” qua đây có chút công chuyện nghen!
Rồi anh ta quay lại nhăn nhó cười:
- Tui giao các ông cho một “nữ tướng” hẳn hoi đó. Cổ sẽ giáo dục mấy anh tới nơi tới chốn để vơi bớt cái máu kiêu binh, khinh xuất của lính “triều đình” đi.
Một lát sau có tiếng chân bước huỳnh huỵch trên mặt đất rồi một giọng nữ trầm vang lên bên tai Côn - Eng Đờn... Khách tới rồi hí?
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #95 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 01:33:12 pm »

Côn giật mình ngoảnh lại thì đã thấy một người cao lớn lừng lững, đội mũ tai bèo, choàng một chéo dù hoa, xung quanh người dắt đầy lựu đạn US và những viên đạn phóng lựu sáng loáng. Khẩu súng phóng lựu người ấy cầm trên tay trông cứ như một cái que. Thật khó mà dám nghĩ rằng người ấy lại là một phụ nữ. Sau lưng chị lấp ló một cô nữ du kích khoác tiểu liên, người có vẻ nhỏ nhắn hơn.
- Lính Bắc đẹp trai dữ hén?
Đôi mắt rực lửa của người nữ du kích lần lượt dọi tới từng chiến sĩ trong đội của Côn khiến mấy cậu lính trẻ đỏ mặt lên. Tham mưu phó Đờn chỉ Côn giới thiệu:
- Người ni là đồng chí Côn, đội trưởng của đội trinh sát ni đó...
- Thấy rồi... Coi được đó heng...
Rồi Đờn chỉ người đàn bà cao lớn:
- Đây là chị Sáu “phóng lựu”... Đội trưởng du kích vùng ven của tụi tui đó... Chị ấy sẽ dẫn đường cho mấy anh... Khắp vùng Đông Hà, Gio-Cam này chị ấy thuộc nằm lòng... Cần chi mấy anh cứ hỏi.
Nói rồi anh ta ngáp một cái rõ to:
- Mấy người làm việc với nhau héng... Tui vô hầm làm một giấc đây. Mấy đêm rồi hết đi vô lại đi ra, oải quá rồi!
Số phận của đội trinh sát do Côn chỉ huy được bàn giao đơn giản như vậy đó. Côn nhìn theo ông Tham mưu phó định hỏi với thêm một vài điều, nhưng anh ta đã chui tụt xuống căn hầm nằm dưới một bụi cây rậm, cứ y như con dũi vừa biến vào lòng đất vậy.
Chị đội trưởng du kích cao lớn ngồi bệt ngay xuống đất, dựng cây súng phóng lựu vào một góc le rồi gỡ chiếc mũ tai bèo ra lau mồ hôi.
- Sắp mùa hè rồi sao mà nóng thấy mồ! Ngồi xuống đi mấy eng... Còn sớm dữ mà, chưa đi được đâu... Ủa, mà anh kêu chi héng?
- Tôi tên là Côn, còn đây là anh em trong đội của tôi.
Côn lần lượt giới thiệu từng người với hai vị nữ du kích. Nghe song người phụ nữ cao lớn gật đầu khen:
- Mấy anh đều có tên hay quá hén?
Rồi, tự giới thiệu:
- Còn tui kêu Sáu Phong, nhưng người xứ này quen kêu tui là Sáu “phóng lựu” rồi... Vì tui quen sài cái ống lửa này rồi mà... Còn o ni tên Lài, người ngoài Vĩnh Giang vô đây mần ăn với tụi này hai năm rồi. Học sinh lớp tám rồi đó... Ở trong ni thì tôi đều phải kêu hắn là “giáo sư”... Nhờ có hắn mà tôi mới biết đọc biết viết đó. Hắn đi chung với tui để khỏi bị mấy anh bộ đội xứ Bắc giỏi giang ăn hiếp!
Côn cười lớn:
- Vậy ra cô Lài là vệ sĩ của chị Sáu, phải không?
- Vệ sĩ vệ tướng chi mô? Hắn là bà nội tui thì có, chìu hắn sắp không nổi nữa rồi... Hắn mót lấy chồng lắm rồi đó, mấy anh tính sao giúp được thì hay quá hè!
Cánh trinh sát cười vang sau câu đùa vui vẻ của chị Sáu Lài tỏ vẻ mắc cỡ, ra sức vung tay đấm thùm thụp vào tấm lưng to bè của chị Sáu. Những cú đấm của cô không phải là nhẹ nhàng gì nhưng cũng chỉ đủ làm tung lớp bụi trên tấm áo quân phục đàn ông đã bạc màu của người chỉ huy đu kích. Cô du kích trẻ tuy không thuộc diện xinh gái nhưng có vóc người nhỏ nhắn, gương mặt trông khá mặn mòi, có duyên, nhất là mỗi khi cô cười.
- Có cái bà cô ni mót lấy chồng thì có!- Lài buông tay thôi không đấm nữa mà quay sang tấn công người chỉ huy của mình bằng cách khác - Mấy anh xem có ông bộ đội chủ lực nào cao lớn, mạnh khoẻ nhờ ơn làm mai giùm. Bả mà chưa có chồng thì tụi em khó sống lắm đó!
Thông, cậu tiểu đội trưởng trinh sát dạn gái nhất chỉ Côn hỏi:
- Cao lớn cỡ ông này có được không o?
Lài che miệng cười ngặt nghẽo:
- Coi được đó... Nhưng eng đẹp trai quá vậy coi có thiệt không hè?
Chị Sáu củng nhẹ vào đầu Lài mắng:
- Cái con mỏ nẹt này nói tầm bậy không hí? Chú ấy ít ra cũng thua tau năm tuổi, phải kêu tau bằng chị hai rồi đó!
Thông nháy mắt cười:
- Tình yêu có tính chi tuổi tác... Phải không các bạn?
Mọi người cùng vỗ tay hoan hô. Chẳng dè làm ồn quá ông Tham mưu Phó không ngủ được, bèn từ dưới hầm nhô lên quát:
- Ê Mấy người tính khai hội đó hỉ? Sao không bắc loa mà gọi tụi biệt kích vô chơi cùng cho vui?
Chị Sáu “phóng lựu “quay lại đe luôn:
- Nè, ông tham mưu, không ngủ được thì lên đây nhởi với tụi này cho vui... Chớ có hăm he vậy. Ban ngày, có cho thêm mấy cái bội tinh thì tụi biệt kích cũng không dám mò vô đây. Mà lỡ chúng có dại dột mò vô thì bà nội nó thẩy cho mấy trái chóc đùng là biến liền. Lo chi héng!
Anh Tham mưu phó cụt hứng, lủng bủng thêm vài câu nữa rồi lại thụt vô hầm ngủ tiếp. Chị đội trưởng du kích cũng đứng dậy vươn vai, vặn mình kêu răng rắc rồi quay lại hỏi cô du kích:
- Mớ chuối mày dấm hồi nào chín chưa hả Lài?
Lài gật đầu:
- Coi bộ cũng gần chín rồi đó!
- Mang ra đây khao quân luôn... Để giành hoài lỡ tụi con Huê phát hiện được chén sạch bách thì uổng.
Lài cười hi hí rồi đứng dậy chạy đi, có lẽ là đi lấy chuối đãi khách. Côn liếc nhìn người đàn bà cao lớn đang đứng vặn mình trước mặt và bỗng nhận ra chị ta chỉ diện độc một chiếc xà lỏn. Mà cũng không hẳn là xà lỏn, đó chỉ là chiếc quần bộ đội cắt cụt tới lưng đùi. Bộ đùi dài và to như hai cái cột nhà của chị cũng đen bóng, sần sùi vết gai cào. Cái áo bộ đội chị mặc hình như hơi chật, đường chỉ phía bả vai cứ như sắp sửa bung ra. Phía trước, bộ ngực đồ sộ của chị dường như cũng quá cỡ, lại được buông thả hoàn toàn nên mỗi khi chị vận động, mấy hàng cúc cứ dặt dẹo, như sắp bật tưng ra, đôi bầu vú cứ như muốn tràn cả ra ngoài. “Mỗi khi khi lâm trận, phải vận động thì hai cái quả chuỳ ấy hẳn sẽ gây không ít phiền phức”. Côn chợt nghĩ vậy và bỗng bật cười khiến chị Sáu vội quay lại hỏi:
- Ủa... Anh ni cười cái chi mà kỳ vậy? Cười mà bật ra cái chóc, cứ như mổ cò súng vậy cà?
Thông liền đế luôn:
- Anh ấy cười mái tóc của chị đấy?
- Tóc tui nó làm sao? Mà tui đâu còn tóc? Vướng víu quá tui bảo con Lài nó xén phứt đi ấy mà. Tui bảo, để tóc kiểu đờn ông, cho mát. Con nhỏ cũng kỳ, cắt rồi, nó lại ôm mớ tóc của tui mà khóc như ri vậy. Trước kia tóc tui vừa dài lại vừa đen nhưng nhức... đi đánh nhau mấy hồi, nó liền chuyển dần qua màu hung đỏ, rồi xơ xác ra nên tui tính cắt luôn cho nhẹ mình. Cứ tưởng, cắt tóc rồi thì mình thành ra đờn ông luôn... Ai dè...
Chị bỗng im lặng không nói nữa nhưng Côn đã hiểu những điều mà chị Sáu “phóng lựu” không muốn nói ra.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #96 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 01:33:33 pm »

Đến nửa đêm ngày thứ năm đội trinh sát của Côn đã hoàn thành nhiệm vụ đi thông tất cả những tuyến chính trên khu vực địa bàn được cấp trên chỉ định phải nghiên cứu. Danh mục những mục tiêu tĩnh trên địa bàn đã được lên xong, qui luật hoạt động của các lực lượng quân ngụy Sài Gòn ở khu vực này anh cũng đã nắm vũng. Số lính Mỹ đóng quân trong những căn cứ quân sự kiên cố không nhiều, chủ yếu là lính pháo binh, công binh, kỹ thuật, các đơn vị thuộc những sư đoàn chủ lực Mỹ luôn cơ động, thay quân liên tục nên rất khó nắm bắt. “Muốn có những trận đánh tiêu diệt lớn nhằm vào quân Mỹ thì phải nhằm vào những đội quân cơ động” Côn đã đi đến kết luận như vậy khi lên xong bản đồ địch tình. Đây sẽ là những điều quan trọng nhất mà anh sẽ phải báo cáo trước Ban chỉ huy trung đoàn khi trở về.
Chỉ còn một nhiệm vụ quan trọng nữa mà anh phải cố gắng thực hiện, đó là “kiếm cho ông Sùng một thằng Mỹ” như lời dặn của trung đoàn trưởng. Đêm đó khi trở về tới căn cứ bí mật của đội du kích, anh đã nói điều đó với chị Sáu “phóng lựu”. Nghe xong, chị đội tưởng du kích thủng thẳng nói:
- Tìm chỗ ngủ một giấc cho lại sức đã, mai rồi tính!
Địa điểm bí mật này nằm trong một khu làng nhỏ đã bỏ hoang từ lâu cách tuyến đồn bót ngoại vi khu căn cứ hỗn hợp Đông Hà chừng hai cây số đường chim bay. Khu vực này được ghi trên bản đồ của bọn chỉ huy pháo binh Mỹ là “vùng hỏa lực tự do”, nghĩa là các trận địa pháo địch có thể tự do oanh kích bất cứ lúc nào chúng muốn mà chẳng cần xin phép cấp trên, chẳng cần có kế hoạch định trước, cũng chẳng cần phải có một lý do xác đáng nào cả. Thực ra, khu vực này từ lâu đã trở thành một vành đai trắng, không còn dân cư sinh sống, những làng xóm sầm uất năm xưa nay đều trở thành những bãi hoang ngập trong cỏ dại. Có lẽ vì ở đây cũng khá gần các căn cứ địch nên chúng chưa dùng đến chất độc hóa học để diệt cỏ dại mà thôi.
Nhưng hễ nơi nào có chút màu xanh “dưới mức an toàn” thì lập tức sẽ có những trận bom Napan dội xuống để phát quang. Nhưng những loài cỏ dại trên vùng đất này lại có sức sống rất mãnh liệt, cả một vùng trống hoang trống huỷ như vậy nhưng chỉ sau một trận mưa đầu mùa là các loại cỏ dại, cây bụi lại mọc lên nhanh đến không ngờ. Và, cuộc đối đấu giữa bom lửa, huỷ diệt chết chóc và màu xanh của sự sống lại bắt đầu.
Năm nay hình như mùa mưa đến sớm hơn, mới cuối tháng tư mà đã có những trận mưa đầu mùa vừa trút xuống vùng đất này. Vì thế, khi đội trinh sát của Côn tới đây “đạp địa hình” thì vùng vành đai trắng lại đang mơn mởn những mầm xanh. Có nơi, cỏ dại và cây mắc cỡ đã mọc trùm kín đầu người. Nhưng, cũng vì thế mà thằng địch cũng trở nên cảnh giác hơn. Máy bay trinh sát OV10 và trực thăng vũ trang bay lượn suốt ngày trên đầu, thi thoảng lại xịt một vài quả đạn khói chỉ điểm mục tiêu cho các trận địa pháo binh và máy bay ném bom lao tới bắn phá. Thi thoảng các toán biệt động hoặc các đơn vị thuộc sư đoàn Bến Hải của quân đội Sài Gòn lại đổ quân càn ra vùng vành đai này nhưng chúng cũng không chốt quân lại vào ban đêm trừ khi đang trong những cuộc càn lớn. Lính Mỹ thì chỉ xuất hiện khi có các chiến dịch lớn nhằm đẩy xa các đơn vị chủ lực Bắc Việt về phía giới tuyến. Theo chị Sáu thì khu vực này ban đêm rất an toàn, trừ việc pháo địch thường xuyên bắn cầm canh, ngăn chặn những cuộc hành quân xâm nhập của quân ta từ phía Bắc vào.
Dường như để minh họa cho lời của chị Sáu, tiếng đềpa của một trận địa pháo địch phía Đông Hà lại vang lên. Ngay sau đó là những tiếng hú gió cô hồn của những trái đạn pháo 155 ly. Loạt đạn vượt qua đầu họ nổ ở đâu đó dọc những con đường mòn đi ra phía bờ sông Bến Hải lập tức những trận địa khác từ phía Miếu Bái Sơn, Quán Ngang, căn cứ Cam Lộ cũng phụ hoạ theo. Sau mỗi loạt chúng lại rút ngắn tầm bắn, tới loạt thứ năm hay thứ sáu gì đó thì những trái pháo nổ banh ngay trước mặt đội hình của đội trinh sát.
- Chúng bắt đầu bắn vô nơi mình sắp tới trú qua đêm đó! Đêm nay coi chừng khó ngủ với tụi này đó mấy eng!
Sáu bình thản nhận xét như vậy, rồi đứng dậy phủi bụi trên áo tiếp tục dẫn tiếp trinh sát hành quân. Côn và các chiến sĩ của anh cũng đã quen với những trận pháo kích như thế này rồi. Những cuộc pháo kích vu vơ vào ban đêm của địch không phải là không nguy hiểm nếu không biết làm quen với chúng. Đa số đạn pháo địch bắn ra ban đêm là thứ đạn nổ trên không, chụp miếng xuống mặt đất như mưa rào, lính ta thường gọi là pháo “chơm”, du kích Quảng Trị thì gọi là thứ đạn “đum đum”. Khi đội hình hành quân mà không may sa vào tọa độ của thứ đạn pháo này thì mức độ thương vong thường rất cao, vì rất khó tránh.
Vì thế cho nên muốn nghỉ ngơi qua đêm một cách an toàn dứt khoát phải tìm nơi có hầm tránh pháo.
Khu căn cứ bí mật này của đội du kích có hai căn hầm tránh pháo nằm dưới những khóm tre ở bìa làng. Đó là những khóm tre sống sót một cách thần kỳ qua nhiều phen cày ủi, qua nhiều trận bom pháo. Ngôi làng không còn dấu tích gì đáng kể ngoài những khóm tre này và một cái giếng thơi có kè những hòn đá to tròn kiểu “đầu ông sư” to như những cái mũ sắt. Trước khi đưa tổ trinh sát vào hầm trú ẩn, chị Sáu và Lài đã dẫn họ tới cái giếng này kiếm nước uống. Thật lạ kỳ khi giữa một vùng khô rang như thế này mà lại có một cái giếng nước trong và mát đến vậy. Côn chợt thấy lòng mình nao nao khi bắt gặp một vầng trăng tròn vành vạnh, lung linh nơi đáy nước. Cánh lính trinh sát thi nhau thả cái thùng thiếc xuống giếng múc nước lên, vừa uống vừa rửa mặt mũi, chân tay. Có cậu còn cao hứng kêu lên “Nước mát thế này mà được tắm một cái thì sướng như tiên”. Nghe cậu trinh sát nói vậy, Lài khúc khích cười, bảo “Nếu vậy thì tụi em thành tiên từ lâu rồi. Đêm mô đi đột ấp về tụi em chẳng ghé vô đây để tắm”. “Vậy sao bây giờ o không tắm đi cho mát?”.
“Tắm hén... Vậy cho mấy eng nhắm mắt lại nghen!”.
Nói rồi, Lài vừa cười rinh rích vừa múc một thùng nước dội lên người chị Sáu “phóng lựu”. “Con trời đánh ni!... Tính báo hại tau đó hả?” Chị Sáu vừa vuốt nước chảy ròng ròng trên người vừa la. Cánh lính trinh sát ré lên cười. Côn quát khẽ “Thôi nào, các cậu vô ý vô tứ quá đi thôi. Uống căng bụng rồi thì lui ra cho chị em người ta còn “sửa sang nội vụ” chứ”.
Cánh lính trinh sát hiểu ý Côn vội lùi ra ngoài chừng hai chục mét ngồi đợi. Chừng mươi phút sau thì thấy hai chị em Sáu nhóp nhép đi tới. Hơi nước từ trên thân thể, áo quần họ toả ra mát rượi.
- Khoẻ re rồi! Ta đi thôi mấy eng?
Côn và các chiến sĩ trinh sát đứng dậy lặng lẽ bước theo hai người nữ du kích. Họ đi xuyên qua những khu vườn hoang mọc đầy gai xấu hổ, cây chó đẻ và cỏ vòi voi. Một vài mảng tường đổ còn sót lại đen xì, nham nhở. Một chú gà hoang bỗng te te cất tiếng gáy.
Thoang thoảng đâu đây mùi hương nhài, có lẽ còn sót lại đâu đó một bụi hoa nhài trước thềm nhà ai chưa bị đám cỏ dại, đám gai xấu hổ nuốt đi mất. Chút hương nhài mong manh ấy không hiểu có sức mạnh kỳ bí nào mà len lỏi qua được mùi khét lẹt của thuốc bom, thuốc đạn để đến được với khứu giác của những người lính?
Thông là người đầu tiên không nhịn được trước cuộc “thăm viếng” thanh nhã ấy của một chút hương quen. Cậu ta nghiêng đầu hít hà rồi thốt lên:
- Trời ơi... Có hoa nhài ở đâu đó các cậu ạ?
Lợi cũng vừa nhận ra cái mùi hương quyến rũ ấy liền hăng hái nói:
- Để mình đi tìm xem!
Cậu ta vừa nói vừa định rẽ ngang nhưng chị Sáu “phóng lựu” đã vội vã ngăn lại:
- Đừng... Mấy anh chớ đi lại lung tung. Có mìn đó. Với lại đạp cỏ thành vệt, sáng mai thằng OV10 nó sẽ xoi thấy liền à!
Lợi sững lại cụt hứng, Côn cười bảo:
- Thôi đi ông... Tập trung mà nghe tiếng pháo kẻo nó “chơm” lên đầu bây giờ! Hơi sức đâu mà hoa với hoét? Trăng đẹp thế này, ngắm trăng mà làm thơ cũng đủ rồi!
Nhưng trong ánh trăng, ngôi làng hoang trông càng buồn bã thê lương. Tự nhiên mọi người cùng im lặng bước đi, không ai còn muốn nói thêm câu nào nữa.
Đi thêm chừng ba mươi phút nữa, tấm lưng to bè, ướt rượt của Sáu “Phóng lựu” chợt dừng sững ngay trước mặt Côn. Mải suy nghĩ chút xíu nữa thì anh đâm xầm vào thân hình to lớn kềnh càng của người nữ chỉ huy du kích.
- Tới rồi đó - Lài chỉ mấy bụi tre gai loi thoi trước mặt nói - Như ri eng Côn héng... ! Có hai căn hầm, mỗi căn trú được bốn người. Hơi chật, nhưng cũng có chỗ ngả lưng được. Eng tính răng thì tính... ?
- Hầm bí mật hả? Côn e ngại hỏi.
- Đâu có. Nửa bí mật thôi... Ban ngày, nếu địch bất ngờ đổ quân vô đây thì mình phải vừa đánh vừa lui thôi.
- Chị cho tôi xem qua một tí được không?
- Được chớ... Tui đưa anh vô xem trước héng!
Côn dặn các chiến sĩ chờ mình rồi theo chị Sáu chui vô phía những bụi tre. Hai căn hầm nằm cách nhau chừng hai chục bước, được nguỵ trang bằng những bụi gai xấu hổ nhằng nhịt. Chị Sáu chui vô trước lịch xịch dưới hầm một lát rồi Côn thấy có ánh lửa nhắng lên. Chị Sáu dùng chiếc quẹt ga ripô bật lửa châm vào một khúc nến đặt ở góc hầm - Eng vô coi được rồi đó!
Căn hầm khá rộng. Nắp hầm kên bằng những cây cột nhà, có lẽ lấy từ những ngôi nhà bị cháy. Nền hầm, kê những tấm ván nhỏ lột ra từ những chiếc hòm đạn Mỹ. Đúng như chị Sáu nói, đủ chỗ cho bốn người ngả lưng.
- Căn bên tê cũng như vầy nhưng nhỏ hơn chút xíu... Eng Côn xếp người vô được rồi héng!
Côn bỗng thấy khó xử. Biết xếp sao đây? Chẳng lẽ nam nữ nằm chung một hầm?
- Thế này vậy... Chị Sáu và Lài nằm đây đi. Để anh em tôi qua bên kia.
- Đâu có được - Chị Sáu kêu lên - Các anh những sáu người, nhét vô một hầm coi sao được?
- Xem chừng... đêm nay chúng nó không pháo kích vô đây đâu. Mấy thằng tôi dọn chỗ nằm trên miệng hầm cũng được.
- Không được mô, eng Côn! Như vậy không an toàn đâu héng! Thế này đi, tui với con Lài nằm đây cùng hai anh nữa... Đừng ngại, tụi du kích chúng tôi nam nữ vẫn ngủ chung hầm hoài, có sao đâu?
Côn đành phải đồng ý với người nữ chỉ huy du kích. Anh cho Lợi cùng ba chiến sĩ sang hầm khác, còn mình và Thông thì tình nguyện chung hầm với chị em.
Nghe trung đội phó phân công xong, Lợi cười rinh rích - Trung đội trưởng thiên vị nhé! Sao không cho em Lài qua ngủ với tụi này. Nhất bên trọng, nhất bên khinh quá!
Côn nghiêm giọng:
- Không đùa nữa. Phải để chị em họ ngủ chung với nhau chứ. Các cậu rõ thật... !
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #97 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 01:34:00 pm »

Côn cứ nghĩ rằng đêm nay anh sẽ khó mà ngủ được khi căn hầm đã nóng hầm hập nhưng cái cơ thể sống của một người khác giới nằm kề bên anh thì dường như lại đang bốc hơi ngùn ngụt. Trong bóng tối, anh nghe thấy tiếng chị em Sáu vừa cười rinh rích vừa sột soạt cởi bộ đồ ướt. Anh mỉm cười nghĩ thầm “Chả lẽ, họ dám ở trần mà ngủ thế này sao?”. Tuy nghĩ vậy, nhưng trong lòng anh tuyệt nhiên không gợn lên một chút ý nghĩ vẩn đục nào. Anh cố gắng nằm thật sát vào vách trong của căn hầm, im lặng lắng nghe tiếng pháo địch bắn lúc gần lúc xa. Đếm được gần một trăm quả nổ thì anh ngủ thiếp đi lúc nào chẳng rõ.
... Anh thấy mình đang bơi trong đầm nước trong xanh. Đúng là cái đầm sen ở đầu làng rồi. Phía sau anh Đào đang bơi theo, vừa cười vừa vẫy gọi. Anh giả bộ như không nghe thấy, mải miết bơi ra giữa hồ. Bỗng, anh ngoái lại nhìn và không thấy Đào đâu, chỉ thấy một mớ tóc đen đang dập dềnh trong nước. Anh thét lên “Đào ơi!”. Rồi vun vút bơi ngược trở lại. Anh túm được mái tóc dài, đen mượt của Đào, rồi cả thân thể mát rượi của Đào nằm gọn trong tay anh, trong trắng, ngọc ngà. Đôi mắt Đào thiêm thiếp như đang trong giấc ngủ, đôi môi đỏ mọng hé mở. Anh ôm Đào, thong thả bơi vào bờ. Rồi cũng thong thả, tự tin, anh bế Đào lên đặt Đào nằm trên một vầng cỏ xanh. Rồi, đôi bàn tay anh nhẹ nhàng vuốt ve thân thể ngọc ngà của người con gái mình yêu. Anh cứ vuốt ve, vuốt ve mãi cho đến khi thân thể người con gái ấm dần lên dưới bàn tay anh. Rồi đôi mắt Đào hé mở, đôi môi mọng đỏ của em khẽ mỉm cười. Không kìm được lòng mình, anh gục xuống, đôi môi tham lam của anh ngốn ngấu đôi môi của nàng. Đôi bàn tay mũm mĩm trắng như ngà của em vươn ra ghì chặt lấy anh, cơ thể anh bỗng nóng lên như lửa, rồi anh từ từ đổ xuống, thân thể của hai người phút chốc đã cuốn chặt lấy nhau. Đến lúc ấy anh mới nhận ra trên người họ đều không còn một mảnh vải che thân, y như Ađam và Eva họ tan hoà vào nhau trong một niềm khoái cảm vô bờ... Hơi thở của nàng nóng hổi, tiếng nàng nghẹn ngào vang bên tai anh - Eng Côn à... Eng Côn... đừng hắt hủi em nghe... ?
Anh giật mình choàng tỉnh và không hiểu vì sao mình lại đang nằm trên cơ thể vâm vạp, nóng hôi hổi của một người dàn bà. Vòng tay chị cứng như một con trăn gió, ôm chặt lấy anh mà ghì xuống. Cơ thể anh đường như cũng đã bị hun nóng lên từ bao giờ chẳng rõ khắp nơi ê ẩm, sưng tấy... Từng thớ thịt trên người anh dường như cũng đang run lên.
Tiếng chị vẫn hào hển bên tai anh:
- Eng Côn à... Eng Côn... Cho em sang một đứa con đi... Vô đi... Vô đi anh... Em... chết đừ rồi nè!
Ý thức của anh trỗi dậy dường như cùng lúc với những ham muốn lạ lùng mà anh chưa từng gặp bao giờ. Anh chưa kịp biết nó là cái gì nhưng dường như nó mạnh hơn cái phần ý thức mong manh vừa trỗi dậy trong anh. Đó là sức mạnh sinh tồn của người đàn ông, của giống đực. Anh không đủ sức ngăn cản nó, nhưng lại càng không đủ khả năng để điều khiển nó. Anh vừa giãy dụa, cố thoát khỏi vòng tay đang ghì chặt của người đàn bà lại vừa bị cuốn theo một lực hút vô hình nào đó từ phần dưới của cơ thể. Tấm thân mền mại với mọi ngõ ngách, mọi lỗ chân lông trên cơ thể người đàn bà dường như đã mở toang, căng ra, run rẩy đón đợi.
Bỗng anh khẽ hực lên một tiếng “Đào ơi” rồi toàn thân anh rung lên, có cái gì đó vừa vỡ toác, nổ bung ra từ phần dưới cơ thể anh. Người đàn bà, cũng hực lên một tiếng, ôm chặt lấy anh mà ghì, lắc. Giọng chị nghẹn ngào, rên rỉ như thoát ra từ đâu đó sâu thăm thẳm:
- Eng ơi... Eng... chưa tới mừ... eng... sao anh chưa vô với em...
Toàn thân anh như mềm nhũn, rã rời, mồ hôi vã như tắm. Anh buông xuôi, bỏ mặc cho cơ thể mình trôi đi trong những cái vuốt ve, những lời thì thầm âu yếm.
- Mình... làm sao thế này? Mình... làm sao thế này?
Trong anh những câu hỏi sắc nhọn đang gào thét. Không có câu trả lời, anh bỗng thấy mình trở nên mềm yếu lạ lùng.
Úp mặt xuống nền hầm, anh nấc lên từng chập. Bàn tay người đàn bà nhẹ nhàng ve vuốt dọc thân thể anh cùng với những lời âu yếm, ngọt ngào mà anh chưa từng được nghe và cũng không sao hiểu được những ý nghĩa của nó. Rồi với cảm giác buông xuôi, mệt mỏi, anh bồng bềnh trôi trở lại vào giấc ngủ lúc nào chẳng rõ.
Có lẽ từ ngày vào chiến trường tới giờ anh chưa bao giờ có được một giấc ngủ ngon lành đến thế. Khi anh tỉnh dậy thì ánh nắng gay gắt của một ngày hè đã chiếu thành từng luồng xuống nền hầm trải đầy lá khô.
Anh giật mình choàng dậy, hốt hoảng đẩy cái đùi to và nặng chình chịch của người nằm bên cạnh đang đè lên mình. Nhưng người ấy lại là Thông, cậu ta vẫn đang ngủ mê mệt!l lại còn chóp chép cái miệng, ú ớ vài câu nói mớ... Lạ nhỉ, ban tối Thông là người nằm ngoài cùng, rồi đến Lài, đến chị Sáu “phóng lựu” rồi mới đến anh. Vậy mà bây giờ, hai người nữ du kích lại nằm ngoài cùng và vẫn đang ôm nhau ngủ ngon lành như hai chị em ruột thịt?
Vậy chuyện gì đã xảy ra trong đêm? Hay đó chỉ là những giấc mơ? Anh cũng không dám chắc. Vơ vội chiếc áo choàng lên người, anh rón rén bò qua ba người đang ngủ để chui ra phía cửa hầm. Khi bò qua người đàn bà người anh như cứng lại khi nhìn thấy gương mặt bình thản của chị sáu. Đôi cánh tay vạm vỡ của chị để trần, một tay dành cho Lài làm gối, tay kia đặt hờ trên bộ ngực căng phồng, ngồn ngộn của mình. Chẳng lẽ đêm qua, đôi cánh tay ấy đã từng ôm ấp, ghì xiết vuốt ve anh? Chẳng lẽ, anh đã từng úp mặt vào vồng ngực căng tràn nhựa sống kia? Ý nghĩ thoáng qua ấy cũng đủ để mặt anh nóng bừng lên. Anh vội quay đi, len lén chui lên khỏi căn hầm như một tên kẻ trộm.
Một làn gió biển ùa tới lùa bung mái tóc anh. Cơn gió mát buổi bình minh khiến anh như bừng tỉnh khỏi cơn mông mị. Giờ thì anh biết rõ mình đang đối mặt với điều gì nhưng có điều lạ là anh không hề thấy ân hận vì đã được số phận đưa đẩy tới căn hầm này, tới với giấc mộng đêm hè này. Có chăng chỉ là nỗi băn khoăn, dằn vặt khi nghĩ về Đào. Phải, dường như anh đã bội ước với Đào. Nhưng anh cũng biết rằng Đào chưa bao giờ yêu mình, họ cũng chưa từng có lời hẹn ước. Vậy nếu nói rằng có sự bội ước thì chỉ là chuyện anh đã bội ước với chính mình mà thôi. Bội ước với chính mình, cũng là điều đáng xấu hổ lắm chứ? Nhất là với anh, một người luôn tự cho rằng mình là người có ý chí, luôn kiểm soát được bản thân. Từ nhỏ đến lớn, anh vốn đã không chấp nhận bất kỳ sự thỏa hiệp nào. Vậy mà đêm qua...
- Ủa... Răng eng Côn dậy sớm chi vậy ha? Ban ngày mình có đi đâu được, sao không ngủ nướng cho khoẻ?
Côn giật mình quay lại thì chị Sáu “lựu đạn” đã đứng ngay sau lưng mình, nai nịt gọn gàng như sắp đi đâu đó. Anh bỗng đỏ bừng mặt lúng túng hỏi:
- Chị Sáu... định đi luôn sao?
Chị Sáu cười giọng vẫn tỉnh dụi:
- Đi kiếm cái chi cho mấy anh ăn lót dạ chớ bộ. Mấy bữa ni xài lương khô của mấy anh hoài, đâu có được?
Côn lén nhìn gương mặt dạn dày sương gió của người nữ chỉ huy du kích cố đoán những ý nghĩ thầm kín trong lòng chị nhưng anh chẳng tìm được gì cả ngoài sự bình thản, tự nhiên đến lạ lùng.
- Mấy eng chớ thấy yên lặng rứa mà chủ quan đó nghe... Sắp bom pháo tùm lum rồi đó. Eng Côn chớ để cho anh em mình ra khỏi hầm đi lung tung đó nghen!
Rồi chị cúi xuống cửa hầm giục:
- Sao mà chậm như rùa vậy! Đi loanh quanh chút thôi mà! Ngoài mấy eng nhà mình thì còn có ma nào tới cái xó xỉnh này mà lo chải chuốt kỹ quá vầy Lài?
Tiếng Lài dúng dắng dưới hầm:
- Em có chải chuốt chi mô, chị Sáu? Lên liền à... !
Côn vẫn thưa hết dằn vặt trong lòng nên mạnh dạn ngước nhìn chị Sáu ngắc ngứ lên tiếng:
- Chị Sáu này... chuyện... chuyện đêm qua...
- Đêm qua có chuyện chi vậy cà? - Chị Sáu lấn lướt hỏi - Tui ngủ say như chết. Rủi có tụi biệt kích mò vô cũng chẳng xoay sở kịp. Mọi bữa đâu có vầy, vào vành đai lúc mô tụi này cũng chỉ nhắm một mắt thôi đó. Có lẽ đêm qua ỉ có mấy eng nên tui với con Lài ngủ quyết chí ngủ vùi một bữa cho đã đó!
Côn càng trở nên lúng túng hơn.
- Nhưng mà... tôi... tôi muốn nói... đêm qua...
Chị Sáu bỗng phá lên cười:
- Mấy eng cũng quên không cắt gác, phải hông cha nội? Tui cũng biết rứa, đã tính nhắc, nhưng rồi lại nghĩ, có nuốt mật gấu tụi biệt kích cũng không dám mò ra vùng này vào ban đêm, nên mới để yên cho các anh ngủ một bữa cho đã đó.
Côn ứ họng, không còn biết nói sao nữa. Vừa lúc đo Lài từ dưới hầm chui lên, tươi tỉnh trẻ trung hẳn sau một đêm được ngủ đẫy giấc... Cô nhìn ngươi chỉ huy của mình, ngạc nhiên hỏi:
- Ủa... chị Sáu sáng nay trông đẹp gái dữ hôn?
- Mi cũng vậy đó... Tụi mình được ngủ một đêm yên lành cũng kể như được uống thuốc trường sinh rồi. Thôi ta đi kiếm cái chi về để còn liên hoan chớ. Đêm nay là chia tay mấy ông chủ lực đẹp trai này rồi đó!
Rồi hai người nữ du kích vừa cười nói líu ríu vừa kéo nhau đi. Côn ngơ ngẩn đứng nhìn theo họ, hoang mang tự hỏi “Vậy, thực ra thì... đêm qua có chuyện gì xảy ra không nhỉ? Hay là mình chỉ nằm mơ vậy thôi? Nhưng mơ mộng mà như thế cũng là hư thân mất nết quá rồi!”.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #98 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 01:35:23 pm »

Hai người nữ du kích đã đi khuất. Côn ngồi bên cửa hầm vừa ngẩn ngơ suy nghĩ vừa ngắm khung cảnh ngôi làng bị bỏ hoang. Trước ánh sáng ban ngày, quang cảnh trông lại càng tan hoang hơn. Trong mấy ngày đêm vừa qua, anh đã từng đi qua hàng chục ngôi làng như vậy. Những ngôi làng không còn là làng, không một mái nhà tranh còn sót, không có tiếng trẻ con, không tiếng gà gáy và không một làn khói bếp. Những ngôi làng chỉ có cỏ dại và hố bom. Chiến tranh thật ghê tởm. Con người đang bị đẩy tới bên bờ vực của sự tồn vong. Họ đã buộc phải cầm lấy vũ khí. Điều đó cắt nghĩa vì sao trên mảnh đất này có những người du kích gan dạ như chị Sáu, như Lài, như bác Năm Chới và nhiều người khác. Họ cầm súng một cách tự nhiên như cầm cày cầm quốc vậy, hình như chẳng có mấy người trong số họ được trải qua những khoá huấn huyện quân sự, vậy mà bọn lính nhà nghề của quân đội Hoa Kỳ và lũ tay sai bản địa của chúng đều phải kiềng nể.
Đi với họ vào chiến khu anh cảm thấy rất vững tâm, thậm chí còn vững tâm hơn cả những lần anh được cánh trinh sát thiện thiến của sư đoàn dẫn đường nữa kia. Vậy mà trong con mắt họ, các anh, những người lính chủ lực lại rất mực được nể trọng, yêu thương, cứ làm như chỉ có các anh mới là những người lính giải phóng thứ thiệt, mới là những cứu tinh vậy!
Mặt trời đã lên cao, những làn sương mỏng đang tan dần. Côn đứng dậy vươn vai hít thở bầu không khí trong lành của buổi sớm mai và bỗng dưng giật mình trước sự yên lặng kỳ lạ bao trùm xung quanh mình. Phải rồi, từ lúc anh thức dậy tới giờ không nghe thấy một tiếng đại bác, không nghe thấy tiếng máy bay? Sao lại như vậy? Chẳng lẽ cả cái bộ máy chiến tranh khổng lồ của quân đội Hoa Kỳ ở mặt trận này cũng ngủ quên hay sao?
Nhưng đó chỉ là sự yên lặng giả tạo. Đó là những khoảng lặng chết người, là phút nín hơi chau mày của thần chiến tranh. Cái khoảng khách đó lập tức bị phá tan bởi hàng trăm trái đạn pháo đồng loạt nổ đanh giòn, khói đen lập tức trùm lên ngôi làng vốn chẳng còn có cái gì để tàn phá thêm nữa ngoài những bãi cỏ dại, nhưng bụi gai mắc cỡ và vài ba thân cau chi chít vết đạn nhưng không hiểu vì sao vẫn đứng vững một cách thần kỳ. Phải rồi, chính những thân cau ấy giúp người ta nhận ra nơi này vốn là một ngôi làng. Nhưng hình như nó cũng đang trở thành một thứ vật chuẩn để bọn trinh sát pháo binh Mỹ nhằm vào mà vạch tọa độ gọi pháo bắn. Không còn nghi ngờ gì nữa, bọn địch đang tập trung hỏa lực vào ngôi làng này, phải chăng chúng đã đánh hơi được điều gì?
Thông từ dưới hầm chồm lên hỏi:
- Sao pháo nó bắn dữ vậy anh Côn?
- Không biết... Chẳng lẽ chúng nó đang dọn bãi chuẩn bị đổ quân?
Cậu ta bỗng ngơ ngác nhìn quanh rồi hỏi:
- Hai bà du kích “nhà mình” biến đâu rồi?
- Họ đi quanh đâu đó kiếm đồ ăn. Chắc cũng sắp về đó. Cậu cứ ngồi yên dưới đó để mình chạy qua bên hầm kia xem sao?
Lợi và nhóm chiến sĩ ngủ ở căn hầm bên cũng đã bị những loạt đạn pháo đánh thức. Họ lập tức chồm dậy, vơ lấy vũ khí sẵn sàng đợi lệnh. Côn chạy tới cửa hầm, nhắc mọi người:
- Tất cả chú ý... Chưa có lệnh chưa ai được phép rời hầm trú ẩn!
Lợi chui lên khỏi hầm dụi mắt nhìn những đám khói đang đùn lên ở cuối ngôi làng hỏi:
- Chúng nó dám mò ra đây chắc?
- Đợi bà Sáu “phóng lựu” về mới biết - Côn vừa trả lời vừa sốt ruột ngóng về phía con đường mòn ở đầu làng - Các bà ấy rành qui luật hoạt động của bọn địch ở vùng này hơn. Có thể, chúng cũng chỉ bắn vu vơ một chặp rồi thôi.
- Nếu chúng đổ quân xuống đây thì sao anh Côn?
- Thì phải đánh thôi - Côn trả lời rồi chợt kêu lên khi nhìn thấy hai nữ du kích đang chạy về - Hai người cẩn thận đấy!
Anh vừa dứt lời thì một loạt đạn pháo xé gió bay tới. Chưa nghe thấy tiếng đèpa đầu nòng, chỉ kịp nghe tiếng xoè... xoẹt... rồi những trái đạn pháo nổ oành ngay trước mặt khi Côn vừa kịp lăn xuống đoạn hào ngắn trước cửa hầm. Tai anh ù lên như có ngàn con ong vừa chui vào, mùi thuốc đạn xộc vào tận miệng khét lẹt. Đám lá tre rơi rào rào trên lưng anh.
Anh vừa ngóc đầu dậy thì thân hình to lớn, kềnh càng của Sáu “phóng lựu” đã chồm lên anh khiến anh lại ngã dúi xuống. Tiếng Sáu cười ré lên:
- Xích vô trong đi chớ, cha nội... !
Vừa nói Sáu vừa thúc mạnh bộ mông to bè của mình vào Côn khiến anh bật vào trong hầm. Các chiến sĩ trinh sát cùng ồ lên cười. Côn cố nhịn đau vì đầu anh vừa dộng vào cây gỗ ở vách hầm cái bốp sau cú hích mông của Sáu “phóng lựu”.
- Lài đâu rồi!
- Nó chạy qua bên nớ rồi!
- Sao... chị không qua bên đó cho rộng?
- Nhưng… eng chỉ huy ở bên ni thì trao đổi công tác bằng cách chi hè?
- Sao nó bắn dữ thế? Hay bọn nó nhìn thấy mấy cô rồi?
- Tụi Mỹ gà mờ chớ đâu có tinh tường đến vậy! Chắc là tụi nó sắp đổ quân xuống đây đó?
- Mình tính sao?
- Tính chi mà tính... Chỉ có hai đường... Chờ tụi Mỹ xuống rồi đánh... hoặc tìm đường chuồn khỏi đây thôi!
- Ban ngày, trống trải thế này chạy sao nổi?
- Thì chạy cù quanh... Chúng nó đâu có nhiều quân mà bao khắp vùng này. Đây không phải là một cuộc càn lớn mà chỉ là một cuộc đột kích thường lệ thôi mà!
- Sao biết!
- Sao không biết chớ... Nếu càn lớn thì chúng phải tập trung quân ở Đông Hà - Cam Lộ chớ. Mần ăn rầm rộ cớ đó sao qua khỏi mắt các cơ sở của ta ém ở trỏng? Có lẽ là tụi Mỹ điên muốn ra oai thôi.
- Ra vậy - Côn suy nghĩ giây lát rồi vỗ mạnh vào vai Sáu - Ta tìm cách chuồn khỏi khu vực này thôi. Bất đắc dĩ tụi này mới phải chạm trán với địch.
- Rứa thì phải mau lên thôi... Sau pháo là đến bom phát quang, bom napan đó!
Rồi chị nhanh nhẹn chui ra cửa hầm.
- Mấy eng chuẩn bị đi nghen... Để tôi qua kêu con Lài và anh Thông qua đây rồi ta đi luôn!
Khi chị Sáu “phóng lựu” vừa lên khỏi hầm, Lợi liền hỏi trung đội phó:
- Nếu địch đổ bộ thì ta đánh một trận cho đã có được không anh? Tính bài chuồn thế này e xấu mặt bộ đội chủ lực quá?
Côn nghiêm giọng:
- Nhiệm vụ của chúng ta không phải là đánh nhau với địch. Các đồng chí hãy nai nịt thật gọn gàng, chuẩn bị hành quân.
Một chiến sĩ nhăn nhó:
- Chưa kịp bỏ gì vào bụng, đói quá rồi, trung đội phó ơi!
- Còn lương khô thì mang ra mà nhá thôi - Côn nhắc - Khi có động chú ý quan sát và giữ vững cự ly. Nếu có đồng chí nào bị lạc thì chín giờ tối nay liên lạc với tổ tại điểm Z5.
Nói xong anh chui lên khỏi hầm. Pháo địch đang chuyển làn bắn ngăn chặn ra phía Bắc. Đã nghe tiếng máy bay địch rền rĩ trên bầu trời.
- Mọi người khẩn trương lên!
Côn khoát tay ra lệnh khi nhìn thấy chị Sáu đang dẫn Lài và Thông chạy sang. Một tốp máy bay ném bom F4 đang từ ngoài biển lao vào. Chị Sáu vẫy tay gọi:
- Mấy eng theo tui, đi lối này!
Tốp máy bay ném bom bắt đầu lượn vòng quanh ngôi làng. Có lẽ chúng ném bom vào khu vực này thật rồi.
Côn vọt lên, bám sát chị Sáu, vừa thở hào hển vừa hét lên - Nó sắp bổ nhào đấy!
- Kệ hắn... Mình ráng chạy sang khu đồi bên kia, ở đó có một đơn vị bộ đội của tỉnh vừa tới đêm qua. Hình như cấp trên tính úp tụi Mỹ đi càn bậy này một trận ra trò đó!
- Chị gặp họ rồi à?
- Vừa gặp đó... Họ cho mấy nắm cơm mà tui chưa kịp chia cho mấy eng... Nằm xuống! Nó bổ nhào rồi đó! Đù cha... nó tính chuyện chi mà làm dữ vậy cà?
Tồp F4 rú vừa bổ nhào xuống ngôi làng vừa rú lên như điên dại. Những trái bom đen ngòm vun vút lao xuống. Côn ngẩng nhìn lên và tưởng như nó đang rơi thẳng xuống đầu mình.
- Nằm xuống!
Anh hét lên dường như cùng lúc với tiếng bom nổ. Loạt bom đầu tiên chúng dội xuống khu phía Nam ngôi làng. Mặt đất rung lên bần bật.
- Kiếm cành cây ngụy trang đi mấy eng! - Tiếng chị Sáu gào lên - Chú ý thằng OV10 đang soi trên đầu mình đó!
Theo hướng tay chị Sáu chỉ, Côn nhìn thấy chiếc trinh sát gọng bừa như chui từ đám khói bom ra. Nó đang xà xuống rất thấp. Thằng trời đánh này mà phát hiện ra mục tiêu thì nó sẽ bám dai như đỉa. Theo hướng đi của chị Sáu mỗi người kiếm một cành cây che lên trên đầu rồi lựa chiều hễ chiếc OV10 liệng vòng quay đuôi trở lại là họ vọt dậy vận động, khi nó quay đầu trở lại thì ngồi xuống, che cây lên đầu. Tốp F4 thứ hai lao tới với một chùm bom Napan. Lần này nó chơi trúng vào lũy tre còn sót lại, lửa cháy rần rật, mùi thuốc bom trộn với mùi crếp cháy xộc vào tới tận lục phủ ngũ tạng mọi người. Côn ôm ngực ho sặc sụa, chị Sáu nhao tới lo lắng hỏi:
- Có sao không eng?
Anh cảm nhận được một chút âu yếm trong giọng nói của người nữ chỉ huy du kích nên vội lắc đầu.
- Tôi không sao? Tại cái mùi thuốc bom đấy mà. Chị xem kìa... Nó ném bom trúng nơi tụi mình ngủ đêm qua.
Hai tiếng tụi mình anh nói nhỏ lại, nhưng dường như chị Sáu cũng cảm nhận được chút hàm ý trong đó nên ngước nhìn anh với những ánh mắt thật lạ lùng. Nhưng điều đó diễn ra rất nhanh, rồi tiếng cười của chị lại cất lên:
- Nếu mình còn lớ xớ ở đó không chừng thành chả nướng hết rồi héng?
Họ tiếp tục vừa né tránh con mắt của chiếc máy bay trinh sát vừa vận động. Chừng nửa giờ thì tới dải đồi thấp cách phía Tây ngôi làng chừng hơn một ki-lô-mét. Dải đồi cũng đã bị bom đạn cày xới tơi bời nhưng thật lạ lùng những bụi sim mua, bụi chít và những bụi ô rô, xấu hổ, cóc kèn mọc nhằng nhịt đan xen dày đặc lùng nhùng như một tấm lưới xanh. Tuy rất ít nơi còn có được những bụi cây cao quá đầu người nhưng hoá ra cái cánh rừng kỳ lạ này cũng rất rộng, đủ sức giấu cả một đạo quân. Tổ trinh sát vừa vận động tới chân dải đồi thì đã bị một tốp cảnh giới của bộ đội địa phương chặn lại. Anh chiến sĩ cảnh giới chong súng về phía họ quát:
- Đơn vị mô, mật khẩu?
Chị Sáu “phóng lựu” nói mật khẩu, anh lính cảnh giới càu nhàu:
- Không thấy thằng gọng bừa đang soi sao mà đi lại lộn xộn vậy?
Chị Sáu nói huyên thuyên một hồi với người lính cảnh giới thì được anh cho đi qua. Theo hướng dẫn của anh ta tốp trinh sát của Côn được đưa tới sườn phía Bắc dải đồi, nơi đặt vị trí chỉ huy của tiểu đoàn. Với con mắt tinh tường của người lính trinh sát Côn đã nhận ra dải đồi này mới được xây dựng thành một trận địa phòng ngự. Có vẻ như cấp trên đã phái họ tới đây để đón lõng một tình huống nào đó sẽ diễn ra trong ngày nay hoặc ngày mai. Những căn hầm chiến đấu được giấu kín dưới những lùm cây và hình như còn có nhiều người đang tiếp tục đào công sự, tiếng cuốc xẻng vẫn âm vang trong lòng đất, thi thoảng nghe thấy những tiếng nói thì thầm, những hơi thở gấp gáp. Anh bỗng cảm thấy thư thái, ấm lòng lạ lùng khi biết chắc rằng xung quanh mình có rất nhiều đồng đội đang âm thầm chuẩn bị cho một trận đánh lớn. Ước gì anh và các chiến sĩ của anh được phép dừng lại nơi này để chiến đấu với họ. Từ lâu anh đã nghe nói về những chiến công vang đội của bộ đội địa phương Quảng Trị, họ có những cách đánh hoàn toàn khác với bộ đội chủ lực các anh nhưng lại rất hiệu quả. Đó là những cách đánh góp phần làm nên những câu chuyện thần kỳ về nghệ thuật dùng binh của người Việt Nam trong cuộc đối đầu với đội quân nhà nghề của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #99 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 01:35:44 pm »

Bom đạn vẫn đang nổ rền ở phía trước mặt vậy mà nơi này dường như tĩnh lặng lạ thường. Chị Sáu “phóng lựu” dẫn các anh đi theo một khe nước xối tới chân đồi phía Bắc thì gặp những người chỉ huy bộ đội địa phương. Hoá ra, anh tiểu đoàn trưởng tên là Chức, lại là người xứ Bắc, nghe giọng Sơn Tây đặc sệt của anh, Côn bỗng vui mừng lạ lùng. Tới tận xứ xở của thần chết này mà còn được gặp đồng hương thì sao không mừng cơ chứ?
- Mấy cậu không sao chứ? Lúc sáng sớm thấy bà Sáu qua đây kêu có mấy ông trinh sát của bộ đội chủ lực đang nằm trong làng... Tôi lo quá.
- Anh quê Sơn Tây hả? - Côn sốt ruột hỏi luôn.
- Vâng... Tôi quê vùng bãi Vân Phúc ấy... Còn anh, hình như cũng là người Sơn Tây?
- Em người làng Vân Hương, gần chợ Gạch ấy!
- Ôi trời. Tiểu đoàn mình cũng có một cậu người Vân Hương, tên là Oánh, cậu biết anh ấy chứ?
- Hình như biết... Anh ấy hơi lác thì phải?
- Thế thì đúng rồi. - Anh tiểu đoàn trưởng reo lên - Bọn mình vẫn gọi cậu ấy là Oánh “lác” mà. Nhưng... rất tiếc cậu ấy vừa hy sinh tháng trước rồi.
Côn chưa kịp hỏi han gì thêm về người đồng hương của mình thì một chiến sĩ lom khom chạy tới.
- Báo cáo tiểu đoàn trưởng. Có điện khẩn của Phân khu.
Tiểu đoàn trưởng Chức cầm cuốn sổ ghi điện lên liếc qua rồi nghiêm mặt lại:
- Điện trả lời, tiểu đoàn 67 đã nhận lệnh. Sẽ triển khai hành động ngay!
Rồi anh quay sang nói với Côn và chị Sáu:
- Xin lỗi hai vị nhé. Tiểu đoàn tôi đã nhận được lệnh chiến đấu. Địch sắp đổ quân xuống khu vực này!
Mấy ông trên Bộ tham mưu mặt trận tài thiệt đó. Dự đoán trúng phóc!
- Mỹ hay Ngụy, anh Chức?
- Mỹ, hình như là một đơn vị đột kích nhẹ của Sư đoàn không vận số một. Bọn này vừa mới ra Đông Hà được vài hôm, muốn làm le với bọn thuỷ quân lục chiến đây mà! Bọn tôi được lệnh phân tán ra đánh bọn này, không cho chúng trụ lại.
Rồi anh ta xoa tay vẻ đắc ý:
- Được rồi... Thử chơi với bọn này một keo xem sao. Các bạn có muốn hùn vồn với tụi này không?
- Muốn lắm - Côn cười - Nhưng bọn tôi là lính trinh sát không được ham đánh. Sợ rằng...
Chị Sáu “phóng lựu” bỗng lên tiếng:
- Nếu mấy eng muốn kiếm một thằng Mỹ thì... đây là cơ hội tốt đấy. Lính tiểu đoàn ông Chức mà quây thì ngon lắm đó!
Côn suy nghĩ một lát rồi gật đầu:
- Được rồi... Chơi thì chơi. Nhưng để tụi tôi bàn với nhau chút đã.
Tiểu đoàn trưởng Chức gật đầu:
- Mấy anh cứ chuẩn bị đi. Tôi đi triển khai công việc một lát rồi trở lại.
Côn vẫy tay kêu các chiến sĩ trinh sát lại bên mình rồi nói:
- Để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ tôi quyết định từ phút này tách tổ thành hai tốp. Tốp thứ nhất do tiểu đội trưởng Thông chỉ huy gồm các đồng chí Hải và Đoàn... mang theo toàn bộ văn kiện, tài liệu đã thu thập được trong những ngày vừa qua trở về điểm tập kết Z5 ngay lập tức. Các đồng chí có nhiệm vụ phải bảo vệ tài liệu về tới Sở chỉ huy an toàn. Tới Mười hai giờ đêm nay nếu tốp chúng tôi chưa về tới Z5 thì các đồng chí cũng không cần phải đợi mà lập tức lên đường về Sở chỉ huy ngay để báo cáo tình hình trinh sát của nhóm.
Các đồng chí Lợi, Toàn cùng với tôi sẽ ở lại dựa vào sự giúp đỡ của bộ đội địa phương và các đồng chí du kích làm nhiệm vụ bắt tù binh khi có thời cơ. Các đồng chí rõ cả chưa?
Thông nhăn nhó gãi đầu:
- Sao... trung đội phó không mang tài liệu về trước để báo cáo trung đoàn? Tôi ở lại cùng anh em làm nhiệm vụ này có hơn không?
- Không được... Tôi phải đích thân làm việc này - Côn trả lời dứt khoát - Các đồng chí thi hình mệnh lệnh đi. Cắt đường mà về Z5, nếu gặp địch thì tuyệt đối không được nổ súng khi không tối cần thiết!
Thông biết rằng lúc này không phải là lúc có thể tranh cãi với người chỉ huy nên vội đứng nghiêm nói:
- Chúng tôi xin chấp hành mệnh lệnh!
- Tốt lắm! - Côn lấy từ trong ngực áo ra tập bản đồ - Tôi đã lên hết tình hình địch và đường xá trên bản đồ này rồi. Từ phút này, cậu phải lấy tính mạng ra mà bảo đảm rằng nó sẽ được trao tới tận tay trung đoàn trưởng nếu như tôi không trở về.
- Rõ! Nhưng anh nhất định phải trở về cùng tên tù binh đấy! Anh đã hứa với sư trưởng rồi mà!
Côn cảm động ôm lấy vai Thông lắc nhẹ rồi trao cho cậu ta tấm bản đồ bọc nilon. Thông thận trọng nhét tấm bản đồ vào ngực áo rồi chia tay mọi người để lên đường ngay. Côn nhận thấy khi đến trước o Lài, Thông có vẻ xúc động một cách khác thường. O du kích dường như cũng cố ghìm nén tình cảm của mình, họ cầm tay, im lặng nhìn nhau trong giây lát. Ánh mắt của cô du kích dường như có cái gì đó vừa bối rối, vừa hoang mang bấn loạn. Côn bỗng giật mình khi hiểu ra những điều mà cô du kích không thể nói ra”. “Thằng Trời giết!... Chẳng lẽ đêm qua cả nó cũng... nằm mơ?”.
Dường như chị Sáu cũng hiểu được những ánh mắt ấy nên liền bước tới vừa cười vừa véo vào má Thông - Nè... chớ có quên con nhỏ mà tội nghiệp nghen chú em?
Thông đỏ bừng mặt đáp khẽ “Em nhớ mà, chị Sáu” rồi vội vùng ra vẫy tay ra lệnh cho hai chiến sĩ:
- Đi thôi các cậu!
Côn nhìn theo các chiến sĩ của mình lom khom chạy ra khỏi khu đồi rồi quay lại nói với chị Sáu:
- Bây giờ tới phiên bọn tôi đòi nợ chị Sáu đó. Chị đã hứa giúp tôi bắt một tên Mỹ mang về làm thuốc đó nghe!
- Làm thuốc... Nói nghe thấy ghê! - Chị Sáu nguýt dài - Sao không nói để mấy eng mang về làm quà cưới luôn héng? Nhỏ Lài của tụi tôi dường như mê cái anh chàng đẹp trai ấy rồi đó!
- Chị Sáu cà trớn quá rồi héng! - Lài đấm vào lưng chị Sáu thùm thụp - Sao không nói chuyện của chị với... eng chỉ huy ni coi sao nào? Chớ có giấu nhẹm nghen. Em thấy hết rồi đó!
Côn bỗng cảm thấy trong lồng ngực mình như có cái gì đó dội lên. Phải chăng đêm qua đã có chuyện chi xảy ra thật rồi. Cái o Lài này đã nhìn thấy điều chi nhỉ? Sao mà o ấy lại có thể nhìn thấy cả những điều mà chính mình cũng chưa hiểu được liệu có thực là đã xảy ra hay không? Nếu có, thì quả thực đó cũng là những điều kỳ diệu và huyền bí của cuộc chiến đấu này.

Nguyễn Danh Côn luôn tự cho mình là một người dày dặn từng trải nhưng khi tiếp xúc với những cán bộ chỉ huy của tiểu đoàn 67, bộ đội địa phương Quảng Trị thì anh bỗng hiểu ra rằng họ mới thực sự là những chiến binh tài ba. Trong số họ, người ít cũng có thâm niên hai ba năm quần nhau với bọn lính Mỹ trên chiến trường địa đầu giới tuyến này. Họ hiểu thằng Mỹ hơn hẳn bộ đội chủ lực các anh và vì thế, cách đánh của họ cũng rất khác với lối ra quân ồn ào của cánh chủ lực.
Chiến thuật của tiểu đoàn 67 bộ đội địa phương Quảng Trị trong trận đánh quân địch đổ bộ lần này thật đơn giản. Họ bỏ trống ngôi làng có tên trên bản đồ mà đưa quân rải ra bố trí trên những dải đồi thấp xung quanh, kín đáo đào công sự chiến đấu dưới những bụi gai rậm rịt im lặng chờ đợi. Như thường lệ, những cuộc hành quân của quân đội Mỹ thường bất đầu bằng những trận oanh kích ầm ĩ bằng pháo binh và không quân.
Chúng đánh nát bấy ngôi làng để dọn bãi. Rồi đám trực thằng ồn ào chở quân tới. Khi bọn Mỹ vừa đặt chân xuống ngôi làng bỏ hoang thì bị pháo bờ Bắc của ta dập cho một trận tơi bời. Tuy vậy, chúng vẫn cố sống cố chết để xông vào ngôi làng, coi đó là một mục tiêu quan trọng trong lịch trình của cuộc hành quân. Mất hàng chục sinh mạng mà không thấy có gì để bắn giết, đốt phá, bọn kỵ binh bay Mỹ điên tiết mở rộng địa bàn ra những dải đồi thấp phía Tây và phía Bắc mà trên bản đồ, các chiến sĩ của Côn ghi là dãy Đồi quả dưa.
Tiểu đoàn trưởng Chức nói với Côn “Chúng sắp đổ quân xuống đây đấy... Nếu các cậu không có nhiệm vụ chiến đấu thì nên ra khỏi khu vực này đi. Mấy ông là lính triều đình”... lỡ mà kềnh ở đây thì phiền cho bọn tôi lắm”. Côn nhăn mặt vì tự ái nhưng vẫn phải ôn tồn nói “Chúng tôi là lính trinh sát, muốn có dịp quan sát để tìm hiểu chiến thuật hành quân của chúng. Sư đoàn tôi chưa đụng bọn Kỵ binh bay Mỹ lần nào”. Tiểu đoàn trưởng Chức gật đầu nói “Vậy thì được. Đồng hương cứ tự nhiên. Bom pháo đánh kiểu này là tụi Mỹ sắp xuống rồi đó” - Rồi anh ta quay dặn sang chị Sáu “phóng lựu” - Nhờ chị trông nom giùm mấy ông bạn này nhé. Vào trận rồi là tôi không để mắt tới họ được đâu”. Chị Sáu nhìn bọn Côn nháy mắt cười “Vậy tui thành “cô trông trẻ” rồi đó nghe. “.
Côn và các chiến sĩ trinh sát cùng cười, quên cả tự ái.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM