Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:13:58 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những bức tường lửa  (Đọc 116560 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #80 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 01:23:54 pm »

Nhưng điều khiến chính trị viên Báo bỗng trở nên buồn phiền, tư lự không phải là chuyện đó. Vừa rồi, Hùng Phong đã tình cờ đụng đến một nỗi day dứt khôn nguôi trong lòng anh từ mấy tháng nay.


Anh sinh ra trong một gia đình công nhân nghèo ở một xóm thợ tại Việt Trì. Ông nội anh vì không có ruộng nương nên đã bỏ làng quê tận dưới Hà Nam lên làm phu lục lộ cho một viên cai thầu người Pháp ở Việt Trì từ năm bốn mươi. Rồi ông tham gia hội kín, trở thành cán bộ cốt cán của Việt Minh tham gia cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền ở Việt Trì, Phú Thọ năm bốn mươi lăm. Cuối năm bốn mươi sáu ông hi sinh trong một trận chiến đấu tại thủ đô Hà Nội khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Bố anh, ông Lương Xuân Hổ, lúc đó đang cùng gia đình tản cư ở vùng tự do Phú Thọ đã tình nguyện tham gia vệ quốc quân, tiếp bước con đường của người cha, để lại vợ và hai con thơ dại. Lúc đó Báo vừa lên bảy tuổi nhưng đã biết hứa với cha là sẽ chăm sóc mẹ và em gái để cha yên lòng lên đường giết giặc Tây, trả thù cho ông nội. Bốn năm sau ông cũng hi sinh trong một trận đánh lớn trong chiến dịch thu đông năm 1950-1951 khi đã là cán bộ chỉ huy cấp đại đội. Mẹ quá đau buồn trước sự ra đi của cha nên đã dở điên dở dại suốt nửa năm trời. Mới hơn chục tuổi đầu, Báo đã phải lao động cật lực để nuôi mẹ và em gái. Hết làm thuê, làm mướn khắp các làng quê ở vùng Việt Trì, Phú Thọ lại đi bán hàng rong, bán thuốc dạo cho mấy ông thầy tàu dọc theo tuyến đường sắt từ Lao Cai về Hà Nội. Hình như anh đã học được nhiều điều trong những năm tháng xuôi ngược trên những chuyến tàu, chuyến xe, sống lay lắt, vạ vật giữa đám giang hồ tứ chiếng, du thủ du thực. Có lẽ anh không bao giờ trở thành một con người như hôm nay nếu như hoà bình không sớm được lập lại trên miền Bắc. Ngay sau ngày quân Pháp rút khỏi Hà Nội, anh trở về xóm thợ Việt Trì, mua lại một căn nhà lá rồi đón mẹ và em gái từ nơi tản cư về. Anh lập bàn thờ ông bà nội, lập bàn thờ cha và tự hứa với ông cha mình rằng từ nay thằng Báo đã có ngôi nhà của riêng mình để thờ cúng ông bà tổ tiên, từ đây sẽ làm ăn tu tỉnh để trở thành một con người có ích cho xã hội, xứng đáng với cha ông. Báo định tiếp tục lên đường đi làm thuê, gánh mướn nhưng mẹ Báo lại muốn con được đến trường học để kiếm đôi ba chữ.

Bà dọn một gian hàng xén ở chợ Gia Cẩm làm kế sinh nhai, quyết nuôi con ăn học. Mười bốn tuổi Báo mới được đến trường. Vì to lớn lộc ngộc nhất lớp nên anh thường bị đám bạn học chế diễu. Vì thế, anh chỉ học được đến hết lớp ba thì bỏ học xin vào làm ở xí nghiệp duy tu đường bộ, cái nghề mà ông nội anh đã chọn khi rời khỏi ruộng đồng, quê hương bản quán ở dưới xuôi để lên vùng núi rừng trung du này lập nghiệp. Khác chăng là bây giờ anh đã trở thành công nhân của nhà nước, được xã hội tôn trọng. Vừa đi làm công nhân anh vừa theo học bổ túc văn hoá, tham gia các hoạt động của đoàn thanh niên. Vì là con cháu liệt sĩ cách mạng, nên chẳng bao lâu anh đã được xét kết nạp vào đảng, và trở thành đội phó của một đội sản xuất. Chính vào thời gian này, anh đã định lấy vợ. Có một cô công nhân đã đem lòng yêu thương anh. Nhưng sắp đến ngày cưới thì một tai nạn khủng khiếp đã xảy ra, một đoạn ta luy đường đột ngột đổ xuống trong khi đội của anh đang làm việc trên công trường. Cô gái mà anh yêu đã chết vì bị một tảng đá lớn đè lên người. Năm đó anh vừa tròn hai mươi tuổi. Cái tuổi đang dạt dào sức sống và cháy bỏng khát khao vươn tới những chân trời mới lạ. Đang buồn bã vì mất người yêu thì có một đợt khám tuyển nghĩa vụ quân sự. Hình như đó là đợt tuyển quân đầu tiên theo luật nghĩa vụ quân sự của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới ban hành. Thế là anh đi khám tuyển và đã trúng tuyển ngay từ vòng đầu tiên. Hồi đó, được trúng tuyển vào bộ đội là một vinh dự to lớn cho cả làng cả nước, cả dòng họ, cả cơ quan đoàn thể. Mẹ anh vì thế cũng rất vui lòng cho con tòng quân. Cuộc đời binh nghiệp của anh thế là bắt đầu. Là một đảng viên trẻ lại là con nhà liệt sĩ cách mạng, nên vào bộ đội anh có một ưu thế chính trị vượt trội so với đồng đội cùng trang lứa. Tuy là chiến sĩ mới, nhưng anh đã được sinh hoạt chi bộ, là một thành phần lãnh đạo của đơn vị trong khi tiểu đội trưởng, trung đội trưởng vẫn chưa phải là đảng viên. Điều đó, nhiều khi cũng khiến anh lao đao. Vì là đảng viên, anh luôn phải gương mẫu, phải đi đầu trong mọi phong trào. Hồi đó, quân đội có phong trào thi đua Cờ ba nhất đã trở thành một phong trào có sức sống mãnh liệt trong toàn quân. Dĩ nhiên Lương Xuân Báo luôn luôn phải trở thành Chiến sĩ Ba nhất của đơn vị rồi.

Qua năm đầu tiên tại ngũ, anh được đi học một lớp đào tao hạ sĩ quan để trở thành tiểu đội trưởng. Làm tiểu đội trưởng được tròn một năm anh lại được gọi đi học tại trường sĩ quan lục quân. Học xong ba năm tại trường lục quân, anh được cử đi học tiếp một lớp nữa để trở thành cán bộ chính trị. Tới cuối năm sáu mươi sáu anh ra trường và trở thành một chính trị viên đại đội. Trong bấy nhiêu năm học tập và rèn luyện trong quân đội, anh hầu như chẳng có thời gian để nghĩ đến chuyện riêng tư. Mỗi lần về phép, mẹ anh lại giục anh phải cưới vợ đế bà sớm có cháu bế. Em gái anh cũng đã khôn lớn và thật may mắn anh đã khuyên được cô sớm lập gia đình chứ không cần phải tuân theo tôn ti trật tự anh trước, em sau. Chồng nó cũng là công nhân nhà máy Hoá chất Việt Trì với em gái anh, quê quán lại ở xa nên sau khi cưới nhau hai vợ chồng vui vẻ về sống chung với mẹ khiến anh cũng an tâm được phần nào.

Anh cũng định sau khi hoàn thành việc học hành, có nhiều thời gian rảnh rỗi thì sẻ tính đến chuyện vợ con. Nhưng khi về đơn vỉ, bắt đầu nhận quân mới để huấn luyện thì anh hiểu rằng còn lâu anh mới có được khoảng thời gian cần thiết để dành cho chuyện riêng tư. Lần cuối cùng về phép còn được gặp mẹ lại là khi anh đã biết rằng không còn bao lâu nữa, đơn vị sẽ lên đường vào miền Nam chiến đấu nên dù rất thương mẹ, anh cũng quyết từ chối mọi sự mai mối của mọi người, nhất là của cô em gái. Mẹ anh, dường như hiểu rằng anh đang ở vào thời điểm không thuận lợi để lập gia đình nên cũng chỉ buồn rầu nói với anh “Mẹ biết con là cán bộ chỉ huy của quân đội, làm gì cũng phải suy nghĩ tính toán cho riêng chung vẹn cả đôi đường nên mẹ cũng không ép con nữa. Trong lúc đất nước đang còn chiến tranh loạn lạc thế này mẹ chỉ mong sao cha con và ông nội con có khôn thiêng thì hãy phù hộ độ trì cho con chân cứng đá mềm, tránh được hòn tên mũi đạn nơi trận tiền. Còn núi xanh thì còn củi đốt con ạ”.

Là một người sớm từng trải, chính trị viên Lương Xuân Báo có một thế mạnh là khá tinh tường trong việc nhìn nhận con người. Những trường hợp qua được mắt anh như Nguyễn Xuân Khoái thật hiếm hơi. Nhưng ngay cả trong thời gian anh ta còn là một cán bộ tiểu đội rất giỏi giang trong huấn luyện chiến sĩ mới, chưa bộc lộ những thủ đoạn tinh vi của mình để lừa gạt cả một tổ chức thì cũng chưa bao giờ chính trị viên Lương Xuân Báo ưa thích anh ta. Anh đã có linh cảm rằng con người này có cái gì đó không ổn, anh ta thích những trò chơi trội tự cao tự đại và quá thích thú ngắm vuốt bản thân mình. Đó là dấu hiệu rõ rệt nhất của thói vị kỷ. Nhưng thật khó mà bắt lỗi được anh ta khi trong công tác huấn luyện, duy trì điều lệnh kỷ luật quân đội, tiểu đội anh ta phụ trách bao giờ cũng đứng hàng thứ nhất. Trong cái tiểu đội do anh ta phụ trách lại có những cá nhân xuất sắc như Phạm Hùng Phong, Nguyễn Danh Côn, Trương Đình Lân... nhưng anh vẫn linh cảm rằng, đến một lúc nào đó con người này sẽ để lộ bộ mặt thứ hai của anh ta.
Chính vì vậy, anh không mấy ngạc nhiên khi vụ Nguyễn Xuân Khoái hối lộ các bác sĩ giám định y khoa để được xác định là có bệnh mãn tính không thể vào chiến trường được. Tuy có ảnh hưởng ít nhiều tới thành tích và danh dự của đơn vị, nhưng chính trị viên Lương Xuân Báo lại lấy làm mừng khi trong đội ngũ những người ra trận bớt đi một kẻ cơ hội, hèn nhát.

Là một người thuở nhỏ ít được học hành, chính trị viên Báo rất tự hào khi đơn vị đầu tiên mà anh được làm người lãnh đạo chỉ huy lại có rất nhiều những học sinh cuối cấp 3. Anh rất tôn trọng những kiến thức văn hoá mà họ đã có được trong những năm ngồi trên ghế nhà trường xã hội chủ nghĩa. Anh hiểu rằng chính họ mới là tương lai của quân đội ta. Nhưng, anh cũng hiểu rằng, vì họ đã được thời cuộc ưu ái, bao nhiêu năm nay chỉ biết đến học hành, chỉ biết đến những niềm vui tuổi học trò nên giờ đây họ cần phải được rèn luyện đến nơi đến chốn. Thật là tiếc khi phải đưa tất cả họ ra trận chứ không phải đưa họ vào các trường đại học để họ trở thành những nhân tài cho đất nước. Vì thế, cần phải bảo vệ họ bằng cách trang bị cho họ thật nhiều kỹ năng chiến đấu để khi ra trận họ có thể tự bảo vệ mình.
Chính vì thế nên chính trị viên Lương Xuân Báo luôn tỏ ra nghiêm khắc đối với “cánh học trò” ở đại đội 9. May mắn làm sao cho đến thời điểm này, họ đều tỏ ra vững trãi và đã trở thành những người lính thực thụ. Chính trị viên Báo luôn tự hào về những người như Phạm Hùng Phong. Anh coi sự trưởng thành vững chắc của Hùng Phong như một thành tựu của chính mình vậy.
“Sản phẩm của người cán bộ làm công tác chính trị là xây dựng được những con người tiên tiến”. Chính trị viên Lương Xuân Báo luôn tâm niệm lời dạy của một ông thầy đáng kính khi mình còn theo học tại trường sĩ quan chính trị. Chính vì vậy, ngay từ khi phát hiện ra Hùng Phong, anh đã tự nhủ “Mình phải giúp cậu thanh niên này làm nên sự nghiệp. Cậu ta có đầy đủ tư chất của một người thanh niên trong thời đại mới”. Từ đó, anh chăm chút xây dựng Hùng Phong thành một điển hình tiên tiến mẫu mực trong học tập, rèn luyện, thành tựu ấy cũng đã được thể hiện một cách hùng hồn trong chiến đấu. Hùng Phong còn tiến xa. Anh tin một cách chắc chắn như vậy.

Hôm nay, gọi Hùng Phong lên thông báo trước về việc đề bạt, chính trị viên Lương Xuân Báo tự thấy như mình có quyền thưởng thức hước một chút hương thơm từ những bông hoa đầu tiên vừa nở bói từ một cây hoa quí mà bấy lâu nay mình đã dày công bón tưới, vun trồng vậy. Ai ngờ, chính cậu ta lại gợi lên trong lòng anh bao nỗi niềm tâm sự mà bấy lâu nay anh đang cố quên đi để dành tâm lực cho những trận chiến đấu ác liệt đang chờ anh và đồng đội ở phía trước.

Hùng Phong không ngờ người được đề bạt thay anh làm trung đội trưởng trung đội 3 lại không phải là trung đội phó Khang, mà lại là Do Cô-li-nốp từ đại đội hỏa lực chuyển sang. Mặc dù quen thân với Do từ trước nhưng Hùng Phong vẫn luôn cảm thấy không thích cậu ta. Anh cũng dễ dàng nhận ra rằng bấy lâu nay Do cũng không ưa mình cho lắm. Mọi chuyện bắt đầu từ khi họ còn ở chung một tiểu đội huấn luyện tân binh, nghĩa là từ khi đại đội 9 còn chưa phát hiện ra “đồng chí Hùng Phong” mà vẫn gọi anh với cái tên cúng cơm là Phạm Xuân Ban kia. Hình như hôm đó, sau một bài lên lớp của chính trị viên Lương Xuân Báo, tiểu đội tổ chức thảo luận. Tiểu đội trưởng Khoái hướng dẫn tiểu đội thảo luận đã nêu ra câu hỏi “Thế nào là một người thanh niên yêu nước?”. Mọi người thảo luận rất sôi nổi, riêng Do vẫn chưa phát biểu gì khiến tiểu đội trưởng Khoái phải nhắc “Đồng chí Do phát biểu đi chứ? Sinh hoạt chính trị nghĩa là tự do tư tưởng kia mà?”.
Do còn đang do dự thì Hùng Phong đã lên tiếng “Có lẽ đổng chí Do còn tự ti vì màu da của mình chăng? Hay đồng chí cho rằng mình không có Tổ Quốc?”. Do giận dữ đứng phắt dậy “Đồng chí Ban ăn nói cho cẩn thận! Ở đây không có chỗ cho tư tưởng phân biệt chủng tộc đâu nhé? Còn Tổ Quốc ư, đồng chí đừng nghĩ rằng yêu Tổ Quốc là cứ phải gào lên, phải nói những lời đao to búa lớn, chót lưỡi đầu môi. Tôi là một đứa con lai, nhưng tôi cũng có cha mẹ. Tổ Quốc của cha mẹ tôi chính là Tổ Quốc của tôi. Cha tôi đã nói đến tình yêu với Tổ Quốc Việt Nam từ khi đồng chí còn chưa sinh ra kia. Tôi đã tình nguyện cầm súng chiến đấu là để bảo vệ tình yêu ấy. Tôi là một chiến sĩ tình nguyện thực sự vì tổ chức đã dự định cử tôi đi học để sau này làm những nhiệm vụ khác kia. Nhưng tôi đã viết đơn tình nguyện bằng máu của mình, dòng máu của một con người sinh ra đã có tự do, đã có Tổ Quốc, chứ không phải dòng máu của một kẻ nô lệ. Tôi chưa phát biểu ý kiến, bởi vì tôi không biết nên nói điều gì trong lúc này.

Nhưng bây giờ thì tôi đã nói rồi, tình yêu Tổ Quốc của tôi là như vậy đấy. Nếu có người nào nghi ngờ tình yêu ấy thì người ấy sẽ không phải là đồng chí của tôi”.
Mọi người đã vỗ tay hoan nghênh những lời phát biểu chân thành, gan ruột của Do. Hùng Phong cũng vỗ tay, sau đó còn đích thân xin lỗi Do nữa. Nhưng hình như từ đó trở đi hai giữa hai người vẫn tồn tại một khoảng cách mơ hồ nào đó rất khó nói ra.
Nay nghe tin Do được bổ nhiệm về thay mình làm trung đội trưởng Hùng Phong không tiện phản đối, nhưng anh cũng không cảm thấy hài lòng cho lắm.
Anh bèn tìm đại đội trưởng Đồng Tiến Phi hỏi: - Sao không đưa cậu Khang lên mà lại phải mượn người từ đại đội hỏa lực về làm trung đội trưởng hả anh Phi? Đại đội trưởng lắc đầu: - Mình cũng không rõ lắm. Đây là sự sắp xếp của đảng ủy tiểu đoàn. Cậu thân với ông Báo, sao không hỏi thử xem sao? Hùng Phong vội xua tay: - Thôi không nên hỏi thì hơn. Chắc cấp trên có lí do của mình. Kể ra thì cậu Do làm trung đội trưởng cũng được thôi. Cậu ấy cũng xuất thân từ đơn vị này mà.

Nói vậy nhưng Hùng Phong vẫn không cảm thấy thoải mái lắm. Vì điều gì thì anh cũng không rõ. Trung đội phó Khang tuy mới về đơn vị chưa lâu, nhưng trong trận Cam Lộ cũng tỏ ra vững vàng đấy chứ? Hùng Phong gặp Khang, chưa kịp nói gì thì Khang đã chặn trước: - Tôi hiểu anh định nói gì rồi. Không sao đâu. - Nhưng rồi anh bỗng nói thêm - có lẽ ông Báo vẫn còn giận tôi vì trong trận Cam Lộ đã có lúc tôi do dự khi ông ấy ra lệnh vào đưa mấy cậu hi sinh ra.
- Nhưng cuối cùng cậu vẫn lấy được anh em ra kia mà.
- Đã đành là thế... nhưng nếu ông Báo không kiên quyết có lẽ tôi đã không lấy được hai cậu ấy ra. Vì chỉ một lát sau thì địch bắn trùm lên, căn nhà vòm ấy đã bị sập hoàn toàn. Chậm một tí là không thể nào bới được họ nữa.
Hùng Phong không thỏa mãn với lời giải thích ấy, anh vẫn cảm thấy hình như cấp trên không công bằng lắm với khang.
Sáng sớm hôm đó, Do về đại đội nhận nhiệm vụ, chính trị viên Đào Trọng Phú vừa thức dậy chui từ dưới hầm lên bỗng giật bắn người khi đụng ngay phải một người cao lớn, đen trũi, tóc xoăn mắt thô lố.
- Báo cáo, tôi là Trần Tự Do, được tiểu đoàn phân công về đại đội 9 nhận công tác.
Do đứng nghiêm chào, báo cáo dõng dạc, chính trị viên Phú còn đang lúng túng thì đại đội trưởng Phi từ dưới hầm chui lên vui vẻ bước tới bắt tay cậu thanh niên đa đen.
- Xin chúc mừng cậu trở lại đại đội 9 với một cương vị mới! - Rồi anh quay xuống hầm gọi váng lên - Hùng Phong ơi, Do Cô-li-nốp về rồi đây này.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #81 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 01:24:45 pm »

Hùng Phong vội lên bắt tay chúc mừng. Chính trị viên Phú lúc ấy mới vỗ vai Do, nói đùa: - Cậu này mà gặp du kích, không khéo họ tưởng lầm là một thằng Mỹ đen mất.
Hùng Phong cũng cười bảo: - Hôm đánh Cam Lộ, khi vào đến trung tâm căn cứ địch, thấy một thằng Mỹ da đen trần trùng trục vác súng máy chạy, lính ta bắn theo. Anh Tại bên trung đội một còn thét lên “Cẩn thận kẻo bắn nhầm, hình như thằng Do Cô-li-nốp đấy!”.
Mọi người cười vui vẻ. Do cũng đã quen với những giai thoại kiểu này nên cũng chẳng tự ái. Chính trị viên Phú nói với Do vài lời về tình hình đơn vị rồi quay sang bảo Hùng Phong: - Cậu đưa Do xuống trung đội nhé! Hùng Phong vội tìm cớ chối: - Xin lỗi, tôi đang bận tí việc. Hay là anh Phi đưa cậu ấy xuống giới thiệu với anh em cho thêm phần long trọng.
Đại đội trưởng Phi hiểu tâm trạng của Hùng Phong nên nhận lời, tránh cho cậu ta chỗ khó xử.
Vì đã được chuẩn bị về tư tưởng nên trung đội phó Nguyễn Xuân Khang tỏ ra niềm nở hơi thái quá khi đón Do. Anh ta tập hợp trung đội lại định giới thiệu Do một cánh trang trọng nhưng Hướng đã xua tay, nói bô bô: - Không cần khách khí... Thằng “Tây đen” này với chúng tôi là bạn bè từ ngày đầu tiên mặc áo lính kia.
Biết nhau kỹ lắm rồi! Chợt Hướng sững lại khi nhìn thấy đến non nửa số anh em trong trung đội đang tập hợp trước mặt mình là lính mới.
- A... những cậu này thì chưa biết... chưa biết...
Nói rồi, Hướng đùng đùng bỏ đi. Khang nhìn theo, nói với Do: - Từ hôm đơn vị nhận lính mới bổ sung về cậu ấy thường có những hành động thất thường như vậy.
- Tôi hiểu, anh ấy nhớ đồng đội đấy mà.
Do nói vậy rồi bảo Khang cho bộ đội giải tán. Cuộc ra mắt thế là xong. Do đi tìm Hướng. Không thấy cậu ta trong mấy căn hầm của tiểu đội, Do bèn đi xuống dưới khe suối, nơi bố trí nhà bếp của đại đội. Quả nhiên, Hướng đang ngồi với anh nuôi Cung. Vừa nhặt sạn trong nồi gạo, anh Cung vừa nói chuyện với Hướng, mà thực ra là chỉ nói với mình, vì Hướng đâu có nghe được gì.
- Cậu xem đấy. Gạo toàn sạn với mọt. Nhặt cả buổi chả hết. Thứ gạo này mà đem đãi thì nó nổi bềnh lên hết. Mọt ăn ruỗng cả rồi, chỉ còn cái vỏ thôi. Nhưng lính vẫn phải ăn chứ biết làm sao? Có gạo mà ăn vẫn còn tốt chán. Những hạt gạo này cũng phải đổi bằng máu cả đấy. Nghe nói, ngoài ấy dạo này đói lắm cậu ạ.
Không hiểu mẹ con nhà nó xoay xở ra sao? Hướng không không nhìn vào khẩu hình, nhưng dường như anh cảm nhận được những ý tưởng của cậu Cung.
- Liệu tôi còn được ăn cơm của cậu bao lâu nữa? Cậu Cung ngước lên nhìn vào gương mặt đã choắt lại của Hướng.
- Cái cậu này, chỉ nói dại! Hướng cười: - Không phải tôi nói đến cái chết. Tôi sợ người ta sẽ đuổi tôi về hậu phương. Ngoài mặt trận không ai cần đến một thằng điếc! Vừa lúc đó thì Do tới. Nhìn thấy anh lênh khênh đi xuống, cậu Cung giơ tay lên chào rồi hỏi: - Nghe nói cậu được về đại đội, phải không? Do cười phô hàm răng trắng nhởn: - Vâng. Thế là lại được ăn cơm của cậu rồi! - Thằng Hướng cũng vừa mới kêu là không biết còn được ăn cơm của tôi bao lâu nữa. Nó bảo rằng có thể nó bị đưa trả về hậu phương.
Do tặc lưỡi: - Về càng tốt chứ sao? Ra ngoài ấy không chừng nó chữa khỏi bệnh. Rồi còn vào được đại học nữa ấy chứ? Cậu Cung tủm tỉm cười: - Rồi kiếm lấy một cô vợ, thế là yên thân! Bỗng Hướng nhăn mặt: - Vợ với con làm gì cho vướng cẳng! Cậu Cung bỗng ngẩng phắt lên, ngạc nhiên nhìn Hướng.
- Ô mày... nghe được rồi sao Hưởng? Hướng cũng nghệt mặt ra, rồi bỗng tái mặt lại, lắp bắp: - Tôi... tôi... hình như tôi nghe được rồi hay sao ấy? - Do, mày nói câu gì đi xem nào? Do chụm hai bàn tay lại làm loa hét rõ to: - Nếu điếc thì về mà lấy vợ! Hướng ôm lấy tai kêu lên - Mày hét to thế thì tao lại không nghe được gì, chỉ thấy lùng bùng lùng bùng trong tai như trống đánh ấy.
Nói nhỏ thôi xem nào? Cậu Cung tiến lại, nhìn Hướng rồi hỏi nhỏ: - Thằng Lân nó ra viện rồi, mày gặp chưa? Hướng lắc đầu: - Chưa... chưa gặp nó. Cậu hỏi... thằng Lân hả? Cậu Cung mừng quá ôm chầm lấy Hướng: - Ôi, mày nghe được thật rồi. Nhưng có lẽ, phải lên quân y tiểu đoàn kiểm tra lại xem. Đi, đi ngay bây giờ. Tao đưa mày đi.
Ba anh em rồng rắn kéo nhau vượt qua một quả đồi sang tiểu đoàn bộ gặp quân y sĩ. Anh y sĩ soi, nghe, gõ, thử một hồi rồi kết luận: - Chỉ có tai bên trái là có vẻ đang hồi phục thính lực. Tai phải, có lẽ hoàn toàn hỏng rồi.
Cậu Cung phấn khởi nói: - Một tai là được rồi. Mà cái thằng quỉ này có nghe ai bằng cả hai tai bao giờ đâu? Tin Hướng đã nghe được khiến cả đại đội vui. Mọi người ùa tới hầm của tiểu đội Hướng, ai cũng muốn thử xem cái tai của Hướng còn được bao nhiêu phần trăm. Cười nói ồn ào như chợ vỡ khiến cậu Cung phải kêu lên: - Các cậu có bớt mồm bớt miệng đi không. Ồn ào thế này thì không khéo còn tí màng nhĩ dính trong tai nó cũng phải bung nốt thôi.
Hướng vui như vừa sống lại. Bây giờ bình tĩnh lại rồi anh mới nhớ hình như sáng sớm nay thức dậy, anh có cảm nhận được những âm thanh quanh mình.
Nhưng anh không còn dám tin những âm thanh đó là do mình đã nghe được mà cứ nghĩ, nó chỉ vang lên trong ý tưởng trong tâm trí của anh mà thôi. Bao ngày nay anh chìm đắm trong thế giới im lặng nên vô cùng khao khát những âm thanh quen thuộc của cuộc sống.
Có đêm anh nằm mơ mình nghe thấy tiếng chim kêu lảnh lót, tiếng lá rừng xào xạc, tiếng suối reo róc rách.
Bừng tỉnh dậy, lại thấy mình chìm trong thế giới lặng câm. Có lúc điên tiết, anh vớ lấy cái gamen, cái hòm đạn, nện đến mỏi cả tay nhưng vẫn không nghe thấy tiếng gì. Vì vậy, sáng nay thức dậy, nghe thấy tiếng đồng đội gọi nhau, tiếng pháo nổ ì ùng xa xăm, anh cũng không dám tin là mình đã nghe được. Rồi mấy cậu xuống hầm lôi anh dậy, anh lại nghe họ nói rằng trung đội trưởng mới là thằng Do “Tây lai” vừa về, muốn gặp mặt tất cả anh em. Hướng nghe được cả, nhưng vẫn mê mụ theo anh em tới hầm chỉ huy trung đội tập trung. Anh nhìn thấy Do trước tiên, rồi nghe trung đội phó Khang nói gì đó. Anh tiến lại và nói rằng anh em trong trung đội chả còn ai lạ gì Do Cô-li-nốp nữa. Nhưng chợt, anh nhìn thấy toàn những gương mặt lính mới. Mắt anh như tối xầm lại, trong đầu anh u u âm âm... Anh vội vã bỏ chạy xuống bếp vì chưa thể quen được với sự vắng mặt của nhiều anh em trong trung đội. Và rồi, những câu chuyện với cậu Cung. Anh hiểu cả, nhưng vẫn không nghĩ rằng đó là do mình đã nghe được. Cho đến khi cậu Cung phát hiện ra điều kì diệu ấy.
Bây giờ thì anh đã nghe được rồi, dù chỉ với một tai, không tinh tường lắm, nhưng rõ ràng những âm thanh của cuộc sống đã tác động được tới bộ não của anh, làm sống lại những cảm xúc đặc biệt mà tạo hoá dành cho con người. Anh đã thật sự trở lại với đội ngũ chứ không chìm đắm trong thế giới âm u của sự im lặng ghê sợ kia nữa. Khi người ta không nghe được thì đồng đội ngồi ngay trước mặt mà sao thấy xa vời, thế giới sống động ngay trước mặt mà như một thế giới đã chết, một thế giới lặng câm, tật nguyền.
Do kiên trì đứng đợi cho đến khi mọi người đã giãn cả ra mới tiến lại chìa tay cho Hướng: - Chúc mừng cậu đã khỏi bệnh! Hướng cũng toét miệng cười: - Chúc mừng trung đội trưởng mới! Rồi Hướng ào đến, lọt thỏm giữa vòng tay kềnh càng của người bạn da đen.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #82 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 01:26:37 pm »

Vừa về đến đơn vị, Trương Đình Lân đã nhận được một tin choáng người - thằng Vững, người cùng làng với anh đã đào ngũ. Tiểu đoàn trưởng Vinh định ra lệnh cho người đi truy nã, bắt bằng được thằng trời đánh ấy về trị tội, nhưng chính trị viên Lương Xuân Báo vội xua tay: - Thôi, ở đây chúng ta không cần tới hạng người hèn nhát như vậy. Nếu bò được về hậu phương, hắn ta sẽ phải chịu tội trước bà con làng xóm. Chúng ta không phải hoài hơi làm việc đó! Thực ra, từ hôm Vững ra trạm quân y sư đoàn thăm mình, Lân đã có linh cảm rằng thằng này có vẻ xuống tinh thần quá rồi. Nhìn thấy người chết, người bị thương nó cứ run lên cầm cập, rồi còn khóc bảo: - Anh Lân ơi, nhà em chỉ có mỗi mình em là con trai... nếu chẳng may em có mệnh hệ gì thì thầy u em chết mất! Chiều hôm đó hắn vẫn vui vẻ về đơn vị. Còn dặn Lân, nếu có được chuyển về tuyến sau điều trị thì đừng từ chối, biết đâu người ta lại cho anh ra Bắc cũng nên.
Mấy hôm sau khi thay đồ, kiểm lại tư trang, Lân mới nhận ra là mất cái phong bì cũ bên trong đựng hơn tám chục đồng và một cái đồng hồ Pon giốt mặt trắng, đó là số tiền chưa tiêu đến mà khi vào chiến trường Lân cũng không kịp gửi về cho gia đình, cái đồng hồ thì từ ngày vào chiến trường thường phải gói bỏ lại hậu cứ chứ không dám đeo đi trinh sát. Khi anh bị thương được hai ngày thì đơn vị mới mang đồ của anh từ hậu cứ ra trạm xá sư đoàn, đồ đạc để lại không thấy thiếu thứ gì.
Vậy mà nay lại mất là cớ làm sao? Ngay lúc đó anh cũng chỉ nghĩ rằng có lẽ, trong những ngày vừa qua khi các y tá lấy đồ thay cho anh, sơ ý để rơi mất đâu đó.
Nhưng bây giờ thì anh tin chắc rằng Vững đã ăn cắp số tiền ấy để làm lộ phí đi đường. Sáng hôm ấy, chính nó đã mở ba lô để lấy cho anh một bộ đồ sạch, bảo anh thay đồ ra để nó đi giặt cho. Thì ra nó đã có ý định đào ngũ từ hôm ấy rồi.
- Thôi được, cũng chả sao. Cái thằng nhát như cáy ấy có ở chiến trường cũng chẳng làm nên trò trống gì. Có khi còn khiến người khác chết oan vì nó cũng nên.
Có điều lạ là không hiểu vì sao người ta lại xếp nó vào làm lính trinh sát? Từ hôm nó ỉa ra quần vì tưởng lầm là đạp phải mìn đã mấy lần Ngạn định xin tiểu đoàn điều nó đi làm việc khác. Nhưng khi biết chuyện, nó lại đến gặp Lân khóc, xin được ở cùng với anh. Chả gì ở với người cùng làng vẫn dễ hơn ở với thiên hạ. Nó bảo thế nên Lân lại khuyên Ngạn thôi cứ để cho nó ở lại tiểu đội nay mai nó sẽ dày dặn dần lên. Tuy cùng làng, nhưng Lân cũng biết ít về gia đình Vững. Nhưng cũng nghe nói nhà nó nghèo lắm, bà mẹ sinh đẻ tới bảy tám lần, nhưng chỉ được có mình nó là con trai. Khi vào tới chiến trường rồi, nó mới bảo rằng sao mà nó ngu thế không biết, đáng lẽ nó cũng chưa phải đi bộ đội đợt này, nhưng không hiểu vì sao nó lại xung phong tình nguyện kia chứ? Tiểu đội họp hành, kiểm điểm một hồi. Chính trị viên Lương Xuân Báo xuống dự phân tích sâu sắc về công tác giáo dục, quản lí chiến sĩ, về việc thường xuyên rèn luyện lí tưởng cách mạng và ý chí chiến đấu.
Rồi kết luận, vì tiểu đội trưởng Nguyễn Ngọc Ngạn đã rời đơn vị, nên trách nhiệm này tiểu đội phó Trương Đình Lân phải gánh. Tuy vậy, đồng chí Lân chỉ phải chịu trách nhiệm gián tiếp, không bị kỷ luật, nhưng việc kết nạp đồng chí Lân vào đảng sẽ phải hoãn lại thêm một thời gian nữa để đồng chí phấn đấu thêm.
Thế cũng xong một việc - thôi quên nó đi! Lân đã tự nhủ như vậy.
... Và anh đã quên bẵng hẳn đi hơn chục năm trời. Sau ngày miền Nam được giải phóng, anh rời quân ngũ về trường đại học, học liền một mạch bảy năm trời, lấy đươc học vị phó tiến sĩ. Anh không ngờ rằng việc anh trở thành phó tiến sĩ lại là một sự kiện quan trọng đến thế đối với họ Lương ở làng Vân Hương. Cha anh yêu cầu bằng mọi giá phải mang cái bằng phó tiến sĩ về để làm lễ trình báo với tổ tiên, với cụ cử Hạt, ông nội anh.
Vậy là anh phải mang cái bằng phó tiến sĩ về làng.
Không ngờ họ Lương đã chuẩn bị một bữa tiệc lớn với gần trăm mâm cỗ để mừng ông phó tiến sĩ đầu tiên của dòng họ, của làng Vân Hương. Cả làng cứ sôi lên sùng sục. Chỉ thiếu có việc mang võng đi đón ông nghè về nữa thôi. Anh lâm vào thế vô cùng khó xử vì chẳng gì anh cũng đã là phó tiến sĩ văn hoá học, trong luận văn của anh có nói nhiều đến tình trạng các hủ tục đang trỗi dậy trong các làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ, cần phải có nhiều biện pháp đồng bộ để dần dần loại bỏ khỏi đời sống cộng đồng, xây dựng những tập quán văn hoá mới. Vậy mà, trong lúc đất nước còn đang chìm ngập trong khủng khoảng kinh tế, dân làng còn đang đói kém, thì họ nhà anh lại bày vẽ ra thế này? Nhưng cha anh cùng những ông chú, ông bác đầy quyền uy của dòng họ không để cho anh có bất kì cơ hội nào phản ứng lại việc khao cử tế lễ của dòng họ.
Đã vậy cha anh còn tuyên bố một cách hãnh diện:
- Lân này, đồng chí Vũng, chủ tịch huyện đã hứa rằng trưa nay sẽ về uống rượu để mừng con đấy. Có khi đồng chí ấy còn kéo cả đồng chí bí thư huyện ủy về cùng nữa. Con hãy chuẩn bị tinh thần mà tiếp các đồng chí lãnh đạo huyện nhà đấy nhé!
Nghe đến cái tên Vững, Lân bỗng chột dạ hỏi:
- Thầy nói, ông Vững chủ tịch huyện... là ông Vững nào kia ạ?
- Cái thằng này rõ thật - cha anh mắng - mày học hành nhiều quá đâm mụ mị ra đấy con ạ. Anh Vững là cơn ông Bồng, bà Vang ấy chứ còn ai nữa. Anh đi bộ đội tháng ba thì anh Vững đi tháng tám cùng với thằng Bằng. Nghe nói, hai người ấy rồi cũng được bổ sung cả vào đơn vị anh còn gì?
Lân bỗng kêu “à” một tiếng rồi phá lên cười. Suýt nữa thì anh đã buột ra thêm một câu “Tưởng ai, thì ra thằng Vững bĩnh ra quần!”... Vật đổi sao dời mới ghê gớm làm sao để đến cái nỗi một thằng đào ngũ lại trở thành đồng chí chủ tịch huyện, thành “cha mẹ dân” ở cái huyện này. Xem thế thì cũng đủ thấy con dân ở cái huyện này khốn nạn rồi.
Cha anh chép miệng than:
- Chỉ thương thằng Bằng... đến nay vẫn chưa được công nhận là liệt sĩ kia kìa. Ông lão Bát đã già yếu lắm rồi mà vẫn lõ cõ đội đơn đi kêu khắp các cửa mà vẫn chưa thấy người ta trả lời. Lạ thật, con người ta rành rành là đã hi sinh ngoài mặt trận, anh em đồng đội biết cả thế mà chẳng hiểu ra làm sao?
Lân ngạc nhiên hỏi lại cha:
- Cha nói thật đấy chứ? Thằng Bằng vẫn chưa được công nhận là liệt sĩ hay sao?
- Thì đấy, không thấy cả báo tử nữa kia. Gia đình nhà ông Bát chẳng được một thứ chế độ chính sách gì, có tội người ta không?
Lân phẫn nộ kêu lên:
- Lạ nhỉ, ngày ấy cả đơn vị đều biết thằng Bằng bị trọng thương trong trận Cửa Việt. Nghe nói được chuyển ra Bắc nhưng dọc đường thì cậu ấy hi sinh mà?
Thế... cái thằng Vững không giúp được gì cho nhà người ta sao? Nó là đồng đội của thằng Bằng, lại là chủ tịch huyện mà bó tay sao?
- Ông chủ tịch cũng có giúp đỡ... thi thoảng cũng có tới thăm hỏi, cho quà nhà ấy... Nhưng còn cái việc công nhận liệt sĩ thì, chính ông ấy cũng bảo rằng không biết thằng Bằng có thực sự là đã hi sinh ngoài mặt trận hay không?
Lân gật đầu cười nhạt:
- Phải rồi, nó làm sao mà biết được. Lúc đó thì nó đã chuồn lâu rồi còn gì! Rồi anh bỗng đột ngột đứng dậy.
- Không được... ! Con phải sang thăm gia đình cậu ấy đã!
Nói rồi anh đùng đùng bỏ đi. Cha anh vội chạy theo gọi váng lên:
Này, Lân... Nhớ về ngay nhé. Các đồng chí lãnh đạo sắp đến rồi đấy!
Nhưng các đồng chí lãnh đạo đã không đến. Một anh chánh văn phòng nào đó đã thay mặt ông chủ tịch huyện mang tới một bó hoa và một tấm thiệp chúc mừng cùng với lời giải thích rằng đồng chí chủ tịch và đồng chí bí thư có điện triệu tập về tỉnh dự một cuộc họp đột xuất vào đầu giờ buổi chiều nên cáo lỗi không thể ghé vào tham dự cuộc vui với tân phó tiến sĩ và gia quyến được.

Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #83 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 01:27:09 pm »

Như thế mà lại hay, nếu hôm đó mà gặp Vững có lẽ Lân đã không nén nổi bình tĩnh và không biết rồi anh sẽ gây ra những hậu quả gì. Nhìn tình cảnh gia đình ông Bát, lòng anh vô cùng xót xa. Không hiểu vì sao lại tồn tại một sự bất công lâu đến như thế đối với một người đã hy sinh vì Tổ Quốc. Nhìn đống đơn từ nhàu nhĩ với đủ các loại con dấu, những lời kính chuyển hết cơ quan này tới cơ quan khác anh bỗng thấy vô cùng chán nản. Cái bộ máy hành chính này đã trở nên lạnh lùng, vô cảm từ bao giờ vậy. Con người ta hy sinh đã gần hai mươi năm trời rồi chứ có ít ỏi gì? Nhưng nếu như người đứng đầu cơ quan hành pháp ở cái huyện này là một người như thằng Vững thì còn trông mong gì được nữa? Hôm sau Lân đã định lên Huyện tìm Vững để mắng cho hắn một trận. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại anh thấy rằng cũng chẳng đáng phải làm vậy. Anh phải tìm con đường khác thôi.
May mắn sao, mấy hôm sau anh nghe được tin Hùng Phong đang ra dự một hội nghị quân chính toàn quân ở Hà Nội. Bấy giờ anh ta đã là đại tá phó tư lệnh một mặt trận đang giúp bạn chiến đấu chống bọn Pôn pốt bên chiến trường Campuchia. Lân đã tìm đến nhà riêng của Hùng Phong vào một buổi tối, kể hết sự tình và đưa cho Hùng Phong mớ đơn từ của gia đình ông Bát để xem anh ta có cách gì giải quyết chuyện này không. Hùng Phong xem qua một lượt rồi nói ngay:
- Chuyện này đâu có khó khăn gì. Để tôi lo cho!
Lân ra về mà không thật tin tưởng gì lắm vì anh biết rằng Hùng Phong chỉ được ở Hà Nội thêm một tuần nữa rồi lại sang chiến trường ngay. Không ngờ chỉ năm ngày sau Hùng Phong đã đến tận trường đại học văn hóa, nơi Lân vừa được công nhận là giảng viên chính hồ hởi thông báo:
- Xong rồi... tớ đã lần được hồ sơ gốc. Hồi đó thằng Bằng bị thương nặng được chuyển ra điều trị tại một bệnh viện của mặt trận ở Quảng Bình rồi hy sinh tại đó.
Qua quá trình chuyển thương, giấy tờ thất lạc đâu đó, khi ra tới bệnh viện này thì cậu ấy cũng không nói được nữa, nên trong hồ sơ họ chỉ ghi vẻn vẹn có mấy chữ “Bằng, từ B5 chuyển ra”. May sao họ còn ghi được mã hiệu HB - 6704. HB là mã hiệu của sư đoàn mình hồi đó. Từ đây tra hồ sơ gốc thì ra đó đúng là cậu Trần Hữu Bằng nhà ông rồi.
Lân mừng quá kêu lên:
- Nếu vậy, không chừng còn tìm ra cả mộ cậu ấy nữa?
- Có đây - Hùng Phong lấy ra một tờ giấy trao cho Lân - đây là sơ đồ khu nghĩa trang ở Quảng Bình, gần nơi ngày xưa bệnh viện mặt trận đóng quân. Không hiểu trong đó người ta đã qui tập về nghĩa trang nào chưa. Cứ theo sơ đồ này thì thằng Bằng nằm ở dãy số 12. Nhưng các ông phải đưa nhau vào đó mà tìm, còn tôi không thể làm gì hơn được nữa vì sáng mai tôi lại phải đi rồi. Còn chuyện báo tử và công nhận liệt sĩ thì chắc là nhanh thôi.
Lân ôm choàng lấy Hùng Phong:
- Ban... cám ơn cậu! Như thế này đã là nhiều lắm rồi. Không ngờ, sắp làm tướng rồi mà cậu vẫn không quên bạn bè.
Hùng Phong cười:
- Có các ông quên bọn này thì có... a, thằng Côn dạo này khá lắm. Vừa được bổ nhiệm sư đoàn trưởng đấy. Nó rất nhớ các cậu. Thôi mình đi đây. Nếu có tìm được mộ thằng Bằng thì thắp hộ cho bọn mình nén hương nhé.
Nói rồi Hùng Phong nhảy lên xe phóng đi ngay.
Một tháng sau, gia đình ông Bát được công nhận là gia đình liệt sĩ. Ngày xã tổ chức làm lễ truy điệu liệt sĩ Trần Hữu Bằng. Vững cũng về. Gặp Lân, Vững ngượng ngùng bắt tay rồi nói:
- Mời anh ghé về huyện chơi một hôm. Có thời gian, tôi sẽ nói chuyện kỹ với anh... về chuyện ngày ấy. Sư thật, tôi cũng không đến nỗi quá tệ như anh vẫn nghĩ đâu.
Lân nhếch mép cười, nói cám ơn rồi bỏ đi. Anh không muốn biết thêm bất cứ điều gì về cái thằng đào nhiệm này nữa.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #84 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 01:27:32 pm »

Lân phải tạm dừng việc kết nạp đảng vì việc Vững đào ngũ, nhưng vẫn được đề bạt làm tiều đội trưởng. Kể ra thì cũng chẳng còn ai giữ cương vị ấy thích hợp hơn anh. Tiểu đoàn trưởng Phạm Quang Vinh động viên “Thôi, cậu cố gắng lên. Việc vào đảng thì trước sau cũng được thôi. Chẳng qua là chuyện của thằng Vững cũng cần phải có một ai đó phải chịu trách nhiệm mà thôi”. Lân cười “Thủ trưởng yên tâm đi. Tôi có thắc mắc gì đâu. Còn được trở về đơn vị để tiếp tục chiến đấu là tôi mừng rồi”. “Tốt lắm - tiểu đoàn trưởng xiết chặt tay Lân - mình tin ở cậu đấy. Chúng ta lại sắp có nhiệm vụ mới rồi”. Lân tò mỏ hỏi “Lần này chúng ta đi đâu ạ?”. Tiểu đoàn trưởng Vinh chỉ về phía điểm cao 241, nơi cứ đều đặn ba phút lại rền vang một loạt tiếng nổ đầu nòng của hơn hai chục khẩu pháo lớn “Có thể chúng ta sẽ” hỏi thăm “bọn pháo binh này xem sao? Dạo này chúng nó làm tàng quá, bắn suốt ngày suốt đêm ra vùng địa bàn của ta, ngứa mắt không chịu được!”.
Tiểu đoàn trưởng Vinh nói vậy là có nguyên do. Khi trung đoàn triển khai xong đội hình ở khu vực Động Mã thì địch ồ ạt tăng quân ra đường chín. Ba tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ rải quân từ Cam Lộ lên Tân Lâm, sẵn sàng chi viện cho lực lượng bị vây ở Khe Sanh Tà Cơn. Căn cứ pháo binh 241 cũng được tăng cường thêm lực lượng, địch đã kéo về đây thêm ba khẩu 175 “Vua chiến trường” tạo thành một cụm pháo chiến dịch rất lợi hại. Sư đoàn trưởng Phạm Sùng đã xuống tận nơi giao nhiệm vụ cho trung đoàn chuẩn bị tác chiến, có thể vừa đánh vào lực lượng lính thuỷ đánh bộ Mỹ mới tới, vừa tìm chỗ sơ hở để tấn công căn cứ pháo binh 241.
Sau khi nghe sư trưởng truyền đạt xong mệnh lệnh, trung đoàn trưởng Trần Đông Hải phấn khởi nói:
- Hay lắm... mấy hôm nay trung đoàn tôi đã trực tiếp trở thành mục tiêu của những trận địa pháo trên 241 rồi. Đã đến lúc phải nhổ nó đi rồi, thủ trưởng ạ”.
Sư đoàn trưởng lắc đầu cười:
- Ông tưởng dễ mà nhổ được một căn cứ pháo binh chiến dịch của chúng à? Tôi chỉ yêu cầu các anh đánh một trận tập kích, tiêu diệt và phá huỷ được càng nhiều sinh lực và hỏa lực của địch ở đó thì càng tốt. Trận đánh phải diễn ra thật quyết liệt, nhưng phải thật nhanh. Như sấm ran chớp giật vậy. Sau đó thì lập tức lui quân để tránh thương vong. Chứ chúng ta không thể đánh chiếm, làm chủ hoàn toàn một căn cứ như vậy được đâu. Điều mà tôi muốn biết là sau đó, ba tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ sẽ hành động như thế nào để lừa miếng, đánh cho chúng một đòn thật đau ngay tại khu vực này để chúng không còn sức mà đi giải toả cho Khe Sanh nữa. Bộ tư lệnh Mặt Trận B5 đã chuẩn y kế hoạch tác chiến này rồi.
Trung đoàn trưởng Trần Đông Hải có vẻ hơi cụt hứng:
- Vậy là đòn thứ hai mới là đòn quan trọng? Nhưng liệu sư đoàn có cho chúng tôi tham gia cú này không hay lại chỉ giữ vai trò châm ngòi?
Sư đoàn trưởng suy nghĩ giây lát rồi trả lời:
- Bây giờ thì chưa thể nói trước được. Nhưng anh chỉ được tung vào trận đầu một tiểu đoan thôi. Tôi cho rằng các anh vẫn nên dùng tiểu đoàn 7 cho trận đánh này. Hai tiểu đoàn còn lại phải luôn ở tình trạng sung sức để dùng cho bước thứ hai, thứ ba. Chiến dịch này chúng ta phải chơi dài hơi đấy. Bộ tư lệnh mặt trận cho biết rằng, trên hướng chính ta cũng chọn phương án vây lấn, đánh chắc tiến chắc. Vì vậy ở hướng Đông chúng ta cũng không một phút nào để địch được rảnh rang. Mấy hôm nay, phía Cửa Việt đặc công và bộ đội địa phương Quảng Trị đang nổ súng đánh địch ở khu vực cảng và trên sông Cửa Việt. Chúng ta phải khẩn trương lên để phối hợp với họ. Các anh chỉ có chưa đầy một tuần để làm công tác chuẩn bị cho trận này thôi.
Ngày hôm sau trung đoàn phó kiêm tham mưu trưởng Nguyễn Mạnh Cường được lệnh cùng ban chỉ huy tiểu đoàn 7 đi trinh sát mục tiêu. Tiểu đoàn trưởng Phạm Quang Vinh gọi Trương Đình Lân lên, mở bản đồ ra chỉ lên một điểm được đánh dấu bằng một nét chì xanh, rồi hỏi: - Không có trinh sát của cấp trên dẫn đường, liệu các cậu có bảo đảm đưa chúng tôi đến được điểm này trong đêm nay không? Lân xem xét kỹ những dải địa hình dẫn đến điểm đánh dấu rồi hỏi:
- Tôi muốn biết thành phần của đoàn trinh sát?
- Tham mưu trưởng sẽ đi cùng chúng ta. Ban chỉ huy tiểu đoàn có tôi và anh Thanh. Ngoài ra còn có bốn đại đội trưởng và tổ trinh sát các cậu.
Lân suy nghĩ một lát rồi nói:
- Nếu cứ chiếu thẳng trên bản đồ cắt rừng, vượt qua hàng loạt điểm cao mà đi thì e rằng đêm nay không thể tới được. Vì trời tối, cắt rừng ban đêm rất chậm. Nhưng nếu từ đây, chúng ta thọc thẳng xuống theo bình độ này, tới sát đường chín rồi đi ngược lên thì chỉ khoảng hai giờ đêm là ta tới nơi.
Tiểu đoàn trưởng gật gù:
- Hay đấy... nhưng có vẻ hơi mạo hiểm. Vì rất có thể là sẽ có địch mai phục ven đường chín.
Lân lắc đầu:
- Không có đâu. Mà nếu có thì chúng ta cũng sẽ phát hiện được thôi. Bọn ngụy thì bố bảo cũng chẳng dám mò ra khỏi các cứ điểm vào ban đêm. Còn bọn biệt kích Mỹ mà đi tới đâu thì ầm ĩ tới đó, lo gì!
- Được... tôi đồng ý. Ta sẽ đi theo con đường này. - Tiểu đoàn trưởng hài lòng với cách lập luận của Lân.
- Chúng ta sẽ tự mình trinh sát mục tiêu chứ ạ? Lân băn khoăn hỏi. Về việc này, quả thực, anh chưa tự tin lắm.
- Trinh sát trung đoàn sẽ giúp đỡ chúng ta. Họ sẽ đợi ta ở điểm hẹn.
- Có thể, ngày mai quan sát mục tiêu từ bên ngoài, đêm mai là đột vào luôn! Chắc chắn Nguyễn Danh Côn sẽ đợi mình ở đó.
Lân nghĩ vậy và cảm thấy yên tâm hơn. Có cậu ấy bên cạnh thì chẳng còn phải lo lắng gì nữa.
Đúng như dự đoán của Lân, bộ phận trinh sát của tiểu đoàn không gặp một trở ngại gì trên quãng đường hành quân mặc dù họ phải xuống tới sát đường số 9, thậm chí còn băng qua ngay trước một căn cứ dã chiến của địch đóng trên một cao điểm ngay sát đường.
Không một thằng biệt kích nào dám mò đi ăn đêm.
Nhưng pháo bắn vu vơ theo toạ độ thì nhiều. Có lần pháo nổ sát đội hình, may mà không có ai việc gì.
Trước hai giờ đêm, đoàn trinh sát đã đến chỗ hẹn. Tổ trinh sát của trung đoàn đo Nguyễn Danh Côn chỉ huy quả nhiên đã chờ sẵn ở đó. Trời tối đen như mực, Lân còn đang băn khoăn chưa biết mình đã đến đúng điểm qui ước trên bản đồ chưa thì có tiếng quát:
- Ai... mật khẩu?
Theo bản năng Lân ngồi thụp xuống bên một gốc cây to rồi lên tiếng:
- Mậu Thân 03.
- Đại thắng 02.
Mật khẩu đúng. Lân đứng vụt dậy kêu lên:
- Côn đấy phải không?
- Mình đây - Côn trả lời rồi bước ra, đứng sững ngay trước mặt Lân.
- Ôi trời... ông ở đâu ra thế?
Côn khẽ cười:
- Mình thấy các cậu từ khi các cậu lên dốc kia. Chỉ huy đâu?
- Đợi dưới khe... chúng ta xuống đó đi.
Hai người vừa đi xuống vừa rì rầm trò chuyện. Họ nhắc tới những người bạn đã hy sinh và bị thương trong những trận đánh vừa qua. Khi nghe tin Hướng đã khỏi một bên tai, Côn mừng lắm. Anh bảo “Trong số bạn bè cùng lớp, thằng ấy là người trung thực thẳng thắn nhất. Nó mà đằm tính thêm một chút thì sẽ tiến bộ nhanh lắm đấy”. Lân chép miệng “Nhưng với một điều kiện nữa là đừng có ngỏm sớm quá”. Côn nói “Phải”. Rồi anh quay sang kể cho Lân nghe về những chuyện phiền toái của mình. Thì ra Côn cũng gặp rắc rối về cái chết của trợ lý Định trên hàng rào Cam Lộ, anh cũng bị kiểm điểm vì đã thiếu thận trọng, không chuẩn bị tốt cho những đối tượng mà mình phải bảo vệ khi đưa họ vào trinh sát mục tiêu địch.
- Đêm mai bò vào căn cứ pháo binh địch liệu có ông nào nghe pháo nổ đầu nòng mà giật mình nữa không đây?
Côn hỏi mà không đợi câu trả lời của Lân. Nhưng Lân hiểu ý Côn muốn ám chỉ việc chọn người đi trinh sát.
- Yên tâm đi... - Lân trấn an bạn - các vị được chọn đi lần này đều vững vàng từng trải cả. Không đến nỗi nhảy dựng lên khi nghe pháo nổ đầu nòng đâu mà lo.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #85 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 01:27:50 pm »

Khi họ xuống gần tới khe cạn thì đã nghe tiếng nói chuyện rì rầm. Có cả mùi thuốc lá thoảng trong gió.
Côn vỗ vai Lân nhắc “Cậu phải quán triệt các thủ trưởng thế nào chứ. Chủ quan khinh địch quá đi mất. Lỡ gặp bọ Lơp (Lurp) thì rắc rối to!”. Lân khẽ cười hỏi “Lơp là gì hả Côn”. Là đám biệt kích bôi mặt đi tuần tiễu ban đêm ấy. Bọn này cũng chịu mò mẫm lắm. Hôm trước bọn mình cũng đụng chúng nó ở bên kia đường chín đấy. Hai bên bắn nhau chí chạt một trận rồi cùng bỏ chạy”. “Cùng bỏ chạy à?”. “Ừ, bọn này đánh đấm cũng lì lắm, và nhanh như chó sói ấy chứ không ù lì như đám lính thuỷ đánh bộ đâu. Lỡ có gặp bọn ấy thì các cậu phải cẩn thận”.
Có lẽ vì đã đi vòng qua ngay trước mũi địch dưới đường 9 mà không thấy gì nên lúc này khi đã lùi ra xa địch, lại ở trong rừng sâu nên nhóm cán bộ trinh sát cảm thấy có thể “thư giãn” đôi chút. Người đang phì phèo điếu thuốc là tham mưu trưởng Cường, Lân đã không định nói gì nhưng Côn thì nhắc ngay:
- Thủ trưởng hút thuốc lá thế này thì từ trên đỉnh đồi đã phát hiện được rồi đấy ạ!
Tham mưu trưỏng hiểu ý vội dụi điếu thuốc.
- Thèm thuốc quá, mà buồn ngủ rũ ra nữa. Các cậu thông cảm.
- Tôi thì không sao... - Côn nói - nhưng lỡ có biệt kích lảng vảng quanh đây thì chúng nó chẳng thông cảm đâu ạ.
- Thôi thôi tớ nhận khuyết điểm rồi. Côn, lại đây. Tình hình “trong ấy” thế nào? Trong ấy có nghĩa là trong căn cứ địch. Tham mưu trưởng biết rằng những người lính trinh sát tài ba của mình vừa “đi dạo” ở đó về.
- Cũng không có gì phức tạp lắm. Thậm chí, tôi có cảm giác rằng bọn chúng bố trí hệ thống mìn bẫy, chướng ngại vật hơi sơ sài. Nhưng địch thì khá đông, ngoài bọn pháo binh, còn có một đại đội nữa chốt ở vòng ngoài làm nhiệm vụ bảo vệ.
- Mỹ hay ngụy?
- Mỹ... Hình như không phải lính thuỷ đánh bộ. Bọn này cũng vừa tăng cường tới đây. Ngoài ra còn có một đại đội ngụy có cả xe tăng, đóng chốt ở giông đồi chữ Y ngay lối rẽ từ đường chín lên cao điểm 241.
- Đường lên đó có khó lắm không?
- Không khó lắm. Sườn phía Đông còn một vài vạt rừng chưa bị phá. Hình như hướng này địch bố phòng lơ là hơn cả vì chúng cho rằng nếu ta có tập kích vào 241 thì sẽ chủ yếu đánh từ hướng Tây hoặc hướng Bắc thôi.
- Tốt lắm. - Tham mưu trưởng quay sang tiểu đoàn trưởng Vinh nói - quân của ông có giỏi mật tập không đấy? Nghĩa là đánh gần như kiểu đặc công ấy?
Tiểu đoàn trưởng Vinh khẽ cười:
- Anh hỏi thế thì tôi cũng chịu. Tiểu đoàn đã đánh theo kiểu này bao giờ đâu mà biết giỏi hay không?
- Nhưng dẫu sao cũng phải vào ngó qua một cái xem sao rồi mới quyết định được? Tham mưu trưởng kết luận thế rồi quay sang Côn:
- Côn, cậu bố trí cho anh em ngủ lại tại khu vực này đêm nay. Ngày mai tìm chỗ quan sát từ xa. Đêm mai ta sẽ đột.
Một loạt pháo từ căn cứ địch bắn ra. Tiếng nổ đầu nòng nghe rất đanh.
- Chúng nó bắn ra Vĩnh Linh đấy... Đó là những khẩu 175 “Vua chiến trường” chúng vừa kéo lên 241.
Nghe Côn nói vậy tiểu đoàn trưởng Vinh suýt xoa:
- Làm thịt được mấy con gà cồ ấy mới sướng.
- Thôi hãy đi chuẩn bị chỗ ngủ đã. - Tham mưu trưởng Cường vươn vai ngáp - làm một giấc rồi mai tính sau.
Chỉ một lát sau mọi người đã tìm được chỗ treo võng dưới khe núi. Tham mưu trưởng Cường, tiểu đoàn trưởng Vinh và mấy ông cán bộ đại đội đặt lưng xuống võng là ngủ ngay. Côn và Lân cắt đặt anh em trinh sát canh gác rồi tìm chỗ treo võng cạnh nhau nằm rì rầm trò chuyện. Lân cảm thấy vui vì Côn vẫn thân thiện và dễ mến như ngày còn đi học. Chiến tranh làm thay đổi con người rất nhanh, cả anh cũng đã thay đổi nhiều, riêng Côn thì dường như vẫn vậy, hay đó là do cảm giác bên ngoài của anh thì cũng chẳng rõ.
- Cậu có thấy con Đào nó quá đáng khi dám ngủ với thằng Ban hôm vào thăm nó ở Xóm Múc không?
Côn như chồm hẳn sang võng của Lân hỏi.
- Ai nói với cậu thế? - Lân hỏi lại - tớ chỉ biết rằng đêm đó thằng Ban ở ngoài Xóm Múc tới sáng sớm mới mò về. Nhưng... chắc gì chúng nó đã dám ngủ với nhau ở nhà người ta.
- Thì con Mai gửi thư vào cho mình kể rằng chính miệng con Đào kể bô bô với đám con gái trong lớp rằng kể từ hôm ấy... nó đã là vợ của anh Ban rồi kia mà!
- Ồi... kể gì con Đào. Cậu còn lạ gì nó nữa... xưa nay lúc nào nó chả nói nó chiếm được thằng Ban rồi. Nhưng chắc gì sau này thằng Ban đã chung thuỷ với nó. Cậu có thấy từ hồi vào chiến trường tới giờ đã bao giờ thằng Ban nhắc tới con Đào chưa?
- Cũng... có... ít ra là hai lần nó nói với tớ là nó nhận được thư của Đào.
- Nhưng... chắc gì... thằng Ban đã viết thư ra cho Đào?
- Ôi trời... bom đạn tùm lum, đánh đấm liên miên... hơi sức đâu mà còn nghĩ tới các em nữa?
- Thế còn cậu... dễ cậu cũng không nghĩ gì đến cái Thanh chắc?
- Có... nhưng chỉ là những ngày nằm ở trạm quân y thôi. Nhưng... tớ với cô ấy đã có chuyện gì đâu?
- Thôi đi - Côn lại chồm hẳn sang võng của Lân - Không có chuyện gì mà lại tặng nhau cả ảnh nữa. Thanh nó mê anh thật đấy, có điều nó kín đáo hơn chứ không tuệch toạc như cái Đào... con gái Hà Nội mà. Thế anh có nhận được thư của Thanh không?
- Từ hồi vào chiến trường thì không thấy có lá thư nào nữa.
- Chắc là nó đang lang thang đâu đó trên đường giao liên thôi.
Lân cũng hy vọng là Thanh không quên mình. Nhưng thư thì có lẽ không có đâu. Lần cuối cùng nhận được thư Thanh là trước khi đi B một tuần. Anh đã viết thư trả lời và nói với Thanh rằng đây là lá thư cuối cùng anh viết cho Thanh trước khi ra trận. Thanh cũng đừng viết cho anh cho đến khi có hòm thư mới. Trước Tết, đơn vị đã thông báo hòm thư ở mặt trận và cho phép viết thư về thăm gia đình nhưng lại qui định mỗi người chỉ được viết một lá và phải để thư ngỏ. Anh giành lá thư đó viết về cho gia đình. Trong thư anh có dặn em gái anh viết thư cho chị Thanh và cho chị ấy hòm thư mới của anh nhưng chắc gì tới hôm nay Thanh đã có hòm thư mới của anh mà viết thư? Anh cũng không biết thực ra mình có mong nhận được lá thư ấy hay không vì trong lá thư gửi Thanh trước lúc lên đường anh đã nói xa xôi về tình cảm của hai người. Nhưng rồi lại nói rằng vì hoàn cảnh chiến tranh, mỗi người mỗi ngả và thật khó mà lường trước được chuyện gì sẽ xảy ra trong ngày mai nên cũng không muốn ai bị ràng buộc bởi một lời hứa, hay một tình cảm quá gần gũi thân thương kẻo rồi mang tới cho nhau không chắc đã là hạnh phúc mà có khi lại là nỗi đau chia lìa. Sau khi gửi lá thư ấy đi rồi, Lân lại thấy ân hận, vì anh bỗng nhận ra tính cách nước đôi trong tâm hồn mình. Nếu những gì mà Đào đã giành cho Hùng Phong được gọi là tình yêu thì những gì mà anh giành cho Thanh chỉ lập loè như ánh sáng của một con đom đóm trong đêm đen. Anh không có gan để nói đến một tình yêu nhưng dường như anh lại chờ đợi ở Thanh chính những điều đó. Nghĩ lại, thật đáng xấu hổ.
- Thế cậu có nhận được thư của đứa nào trong lớp không, nghe bọn thằng Hướng nói, con Ngân nó cũng mê cậu như con Đào mê thằng Ban ấy mà? Không thấy Côn trả lời. Có lẽ nó đã ngủ rồi. Trinh sát trung đoàn như nó thì đêm nào cũng phải mò mẫm như cò, như vạc, lúc nào chả thèm ngủ. Thôi, kệ cho nó ngủ. Mà mình cũng phải ngủ một giấc để ngày mai tỉnh táo. Mò vào căn cứ địch chứ đâu có phải là chuyện chơi? Nhưng anh trằn trọc mãi mà giấc ngủ vẫn không đến. Lạ thế, lúc đi trên đường thì cứ chực díp mắt lại mà bây giờ thì lại cứ mở thao láo là cớ làm sao? Xung quanh anh, mọi người đều đã ngủ say. Tiếng ngáy của tham mưu trưởng Cường rất to, rất vang, lại còn lúc bổng lúc trầm nữa. Ngáy thế này không khéo bọn pháo thủ thức bắn cầm canh trên 241 cũng nghe thấy chứ chả chơi. Đêm ở mặt trận cũng thật lạ lùng.
Có cảm giác như đến cả đất trời sông núi cũng chỉ mơ màng nửa thức nửa ngủ. Dưới mặt đất thi thoảng lại dội lên từng loạt pháo bắn cầm canh từ một căn cứ pháo binh nào đó. Vậy mà dãy cao điểm này như vẫn chìm đắm mê mệt trong sương mù. Sương dày đến nỗi có cảm giác giống như núi rừng được phủ một lớp bông dày như một tấm đệm, nếu như có một loạt pháo nào đó bắn vu vơ vào đây thì có lẽ những viên đạn pháo cũng sẽ bật ngược trở lại khi chạm vào tấm đệm dày ấy. Vì thế ở mặt trận, mỗi khi màn đêm buông xuống người ta dễ rơi vào trạng thái bị mê hoặc, tưởng như mình đang được bảo vệ, đang được an toàn hơn.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #86 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 01:28:21 pm »

Trên trời, những chiếc AC130 vẫn ì ầm vừa bay vừa thả pháo sáng, suốt một dải chiến trường từ Đông Hà đến Khe Sanh lúc nào cũng nhấp nhoá ánh hỏa châu. Thi thoảng, dường như để người ta không quên sự hiện diện của mình trên bầu trời thẫm đen, chúng lại ùng ục vãi xuống một tràng đại liên. Người ta nói, những chiếc AC130 ấy là những trạm cảnh giới di động trên không.
Nhưng nói cho đúng hơn, đó là một đài quan sát và chỉ huy hỏa lực từ trên không của quân đội Mỹ. Các trận địa pháo từ những căn cứ dưới mặt đất đều phải tuân theo sự chỉ huy từ cái trạm chỉ huy trên không ấy. Biết đâu, đến một lúc nào đó, ngành công nghiệp điện tử của quân đội Mỹ lại chẳng chế tạo ra những chiếc máy có thể thu được cả tiếng kéo bễ của ông Cường nhà mình để truyền lên cái đài chỉ huy trên không kia? Ý nghĩ ấy khiến Lân khẽ bật cười. Nhưng dường như chính vì tiếng ngáy ngon lành ấy lại tạo nên cảm giác bình yên, khiến Lân dễ dàng buông chùng mọi cơ bắp, mọi dây thần kinh để cơ thể anh nhẹ nhàng trôi vào trạng thái nghỉ ngơi, chìm dần vào giấc ngủ.

- Lần này thì cơm của tôi không thể ế được rồi, đêm nay đại đội phó hãy cho anh em ăn trước khi vào trận nhé.
Anh nuôi trưởng Ngô Xuân Cung nói với Hùng Phong như vậy trước khi đi phát cơm nắm cho các trung đội.
- Cậu cứ yên tâm đi... đêm nay lính của cậu sẽ được ăn no trước khi nổ súng.
Hùng Phong nói vậy rồi bỗng cười hềnh hệch nói thêm:
- Nhét quả cơm nắm này của cậu vào bụng rồi mà có chết thì cũng được làm con ma no đến vài ngày. Nếu như Diêm Vương không phát lương thực cho ngay cũng cóc cần!
Cậu Cung nhăn mặt gắt:
- Cái thằng... sắp ra trận ăn nói gở như cái con khẹc tao ấy! Đốt vía... đốt vía!
Hùng Phong vẫn cười cợt:
- Cậu là chi ủy viên rồi mà còn mê tín nhé.
- Chi ủy gì cái thằng nhọ đít như tao? Chẳng qua là chi bộ còn đúng có bốn đảng viên chính thức, thằng Khang thì mới về còn chưa biết nếp tẻ ra sao nên anh em họ mới bầu tao thôi. Nhưng lần này mà mày đánh đấm không ra hồn thì tao sẽ cho mày biết tay. Đại đội phó rồi mà cứ như trẻ con ấy! Trông thằng Do đấy, từ hôm được đề bạt trung đội trưởng đến nay, nó chững chạc hẳn.
Hùng Phong nhăn mặt:
- Cậu thì... lúc nào cũng thằng Do! Nó hối lộ cậu cái gì mà lúc nào cậu cũng khen nó thế, hả?
Cậu Cung chép miệng:
- Tao công bằng mà nói vậy thôi... thì đấy, hôm mày sửng cồ với mấy thằng lính tân binh đào ngũ, nếu không có thằng Do can, không chừng mày phạm tội rồi cũng nên!
Nhắc đến chuyện đó Hùng Phong lại thấy nóng mặt. Đúng là hôm đó anh đã nổi điên lên thật, nhưng chuyện gì cũng có nguyên cớ của nó chứ?
. . Chuyện là thế này, khi đại đội được bổ sung thêm ba chục tân binh, đại đội trưởng Đồng Tiến Phi liền bàn với anh “Hùng Phong này, tớ xem chừng đám lính mới này còn lớ quớ lắm. Cứ như thế này mà ghép vào các trung đội rồi đưa đi trận thì không khéo nướng hết. Trong lúc còn được nghỉ ngơi thế này, mình giao cho cậu tranh thủ rèn cặp thêm cho tụi nó trước khi biên chế về các trung đội, có được không?”. Hùng Phong suy nghĩ một lát rồi hỏi lại “Nhưng... huấn luyện gì mới được chứ? Xạ kích, điều lệnh, hay kỹ thuật chiến đấu cá nhân?”. Đại đội trưởng xua tay “Không... những thứ đó chúng nó được huấn luyện cả rồi. Mình muốn bổ túc cho anh em những gì thiết thực hơn để bọn họ nhanh chóng thích nghi với chiến trường kia. Chẳng hạn như phương pháp ngụy trang, cách lợi dụng địa hình địa vật trong chiến đấu, hay kỹ năng nghe phán đoán và tránh đạn pháo, cách phân biệt các loại hỏa lực của địch, kỹ năng phát hiện và khắc phục các loại mìn bẫy, rồi một vài kinh nghiệm khi cận chiến với lính thuỷ đánh bộ Mỹ chẳng hạn... ?”. Hùng Phong chợt phì cười “Anh cứ làm như chúng ta đã đánh nhau với thằng Mỹ có dư trăm trận rồi vậy? Mình đã có được bao nhiêu kinh nghiệm mà đi dạy dỗ người ta?”. Đại đội trưởng gật đầu “Đúng là chúng ta còn chưa có được bao nhiêu kinh nghiệm thật. Nhưng dù sao, chúng ta cũng đã dày dặn hơn anh em. Nếu chúng ta truyền đạt lại cho họ tất cả những hiểu biết ấy để khi lâm trận anh em không bỡ ngỡ thì hẳn sẽ tránh được nhiều thương vong vô ích. Cậu cũng biết rằng, không ít anh em chúng ta đã hy sinh chỉ vì không biết cách nghe tiếng đạn pháo rít xa hay gần để mà tránh đó sao?”. Hùng Phong cho là đại đội trưởng nói có lý. Có nhiều điều biết được trước thì sẽ đỡ tốn xương máu hơn nhiều.
Nghĩ vậy, anh liền gật đầu nói “Tôi đồng ý... nhưng, sẽ không có bài bản gì đâu nhé. Nghĩ ra cái gì thì tôi sẽ cho anh em luyện tập cái đó, được không?”. Đại đội trưởng Phi cười gật đầu “Tuỳ cậu... Tôi tạm giao đám lính mới cho cậu đấy. Nếu thấy cần hỗ trợ thêm thì cậu trao đổi với mình hoặc với các trung đội trưởng”.
Thế là trong khi chờ đợi nhận nhiệm vụ mới, hàng ngày Hùng Phong tập hợp ba chục chú lính mới đưa vào rừng luyện tập. Có hôm anh cho mời thêm các trung đội trưởng, tiểu đội trưởng đi theo để làm các động tác mẫu, hoặc đơn giản chỉ để kể chuyện về những trận đánh vừa qua của đại đội cho họ nghe, nhưng cũng có ngày chỉ một mình anh ra thao trường với họ. Có hôm anh giành cả buổi để nghe các chiến sĩ tâm sự, đặt câu hỏi rồi anh trả lời họ. Cũng giống như các anh hồi mới chân ướt chân ráo vào chiến trường, những câu hỏi của họ đều rất thiết thực và thẳng thắn.
Anh cũng cố gắng trả lời họ một cách trung thực nhất.
Thí dụ, có chiến sĩ hỏi anh “Lần đầu giáp mặt với bọn lính Mỹ thủ trưởng có sợ không?”. Anh không ngần ngại trả lời “Sợ chứ... mình chỉ sợ mình chưa kịp bắn nó thì nó đã thịt mình rồi. Nhưng đến khi đã nổ súng rồi thì không còn sợ nữa. Lúc đó là chuyện sống chết rồi.
Mình không hạ được nó cho nhanh thì nhất định nó sẽ giết mình”. Có cậu lại hỏi “Thằng Mỹ nó to gấp đôi mình thế, thì làm sao mình bám thắt lưng nó mà đánh được? Nếu phải vật nhau với nó thì mình thua là cái chắc?”. Anh cười bảo “Cậu hiểu câu bám thắt lưng địch mà đánh” như vậy là hơi máy móc rồi. Nói như thế chỉ để nêu bật phương châm đánh gần của chúng ta mà thôi. Bởi vì hỏa lực của địch rất mạnh, nhất là phi pháo, vì vậy phải nổ súng ở cự ly thật gần, nhanh chóng xung phong để trộn trấu, xen cài vào giữa đội hình địch thì mới không bị phi pháo của nó tiêu diệt. Còn, nếu đã tới cái lúc buộc phải đánh giáp lá cà với lính Mỹ thì chúng ta phải dùng sự nhanh nhẹn, mưu trí của người Việt mà quật ngã nó, chứ không nên lao vào dùng sức để vật nhau với nó”. Cậu chiến sĩ kia vẫn chưa chịu “Nhưng, nếu nó cứ xông vào, túm lấy mình thì làm sao”. Một cậu khác nhanh miệng hiến kế “Thì phải tìm cách mà bóp dái nó... dái thằng Mỹ to như dái trâu, dễ bóp lắm, phải không thủ trưởng?”. Mọi người ồ lên cười, Hùng Phong cũng cười rồi mghiêm mặt nói “Đồng chí nói đúng... lúc đó phải nhanh chóng tìm chỗ hiểm của nó mà hạ thủ. Nếu không... chì còn cách giật nụ xòe lựu đạn... cưa đôi với nó mà thôi”. Một chiến sĩ khác rụt rè hỏi “Thế... đã có trường hợp nào anh em mình phải xử lý như vậy chưa, thủ trưởng?”. Hùng Phong gật đầu “đã có rồi... đó là trường hợp của dũng sĩ Đồ Văn Nhượng, chiến sĩ của đại đội tám. Khi đánh vào trung tâm căn cứ Cam Lộ. Đồng chí Nhượng đã bị hai thằng Mỹ xông vào định bắt sống, nhưng đồng chí ấy đã kịp giật nụ xoè quả lựu đạn đeo bên mình, cùng chết với hai tên Mỹ. Gương dũng cảm hy sinh của đồng chí Nhượng đã được cả trung đoàn học tập đấy”. Mọi người cùng im lặng một lúc rồi ai đó bỗng bật lên “Đánh như thế thì chẳng kém gì chiến sĩ cảm tử ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch”. Rồi mọi người cùng xôn xao bàn tán, người bảo đánh như vậy thật là anh hùng, người bảo, nếu đánh để mà chết thì mới đánh thế. Phải đánh làm sao mà địch chết, ta vẫn sống mới tài. Hùng Phong đợi cho mọi người yên lặng rồi nói “Đó chỉ là hành động quyết liệt cuối cùng khi không còn có sự lựa chọn nào khác mà thôi, các đồng chí ạ. Đồng chí nào đó vừa nói tất đúng, chúng ta phải chọn cách đánh làm sao vừa tiêu diệt được địch, vừa bảo toàn được lực lượng của mình thì mới tốt.
Nhưng, trong cuộc chiến tranh khốc liệt này, không có chiến thắng nào mà không phải đổi bằng máu xương cả. Thậm chí, không phải trận nào chúng ta cũng chiến thắng, nếu vậy thì chiến tranh đã kết thúc từ lâu rồi. Người lính ra trận là phải quyết tâm giành chiến thắng, nhưng cũng phải sẵn sàng đón nhận thất bại, đón nhận những hy sinh, mất mát nữa.
Rồi, rất chân thành, cởi mở, anh kể cho họ nghe về những trận đánh mà anh đã trải qua, nhưng tình huống mà anh và đồng đội đã gặp.
Anh không giấu họ cả những cái chết bi thương của anh em đồng đội. Kể cả những trường hợp thảm khốc vì bị bom Napan thiêu cháy như trung đội trưởng Thoan và tiểu đội trưởng Đại. Anh nghĩ rằng, họ là những người sắp phải chia sẻ mọi hiểm nguy sống chết với mình nên không cần phải giấu họ điều gì. Họ phải biết thực sự chiến tranh là cái gì và chiến đấu với một kẻ thù như đế quốc Mỹ đâu có phải chỉ là những cuộc tập trận vui vẻ? Rồi anh dạy họ cả cách phải xử lý như thế nào khi đồng đội, khi chính bản thân mình bị thương trong trận đánh và nhiều tình huống khó khăn khác mà họ sẽ gặp khi vào trận...
Những buổi vừa luyện tập vừa trò chuyện, trao đổi, tranh luận như vậy đã tỏ ra rất có ích. Chỉ mới hơn một tuần luyện tập theo chương trình này mà số chiến sĩ mới đã tiến bộ rất nhanh. Đại đội trưởng Phi và chính trị viên Phú đều tỏ ra rất hài lòng. Chính trị viên tiểu đoàn Lương Xuân Báo nghe tin C9 huấn luyện tân binh theo “phương pháp mới” cũng vội xuống kiểm tra và lấy làm hứng thú lắm, bèn “khái quát” ngay rằng “phương pháp Hùng Phong” sẽ trở thành kinh nghiệm rất bổ ích để các đơn vị trong toàn tiểu đoàn học tập khi tiếp nhận những lớp chiến sĩ mới về bổ sung cho đơn vị sau này.
Nhưng có ai mà học được chữ ngờ. Mọi việc đang tưởng như rất xuôn sẻ thì sự biến lại xảy ra. Vì đơn vị chuẩn bị đi làm nhiệm vụ chiến đấu nên “lớp bổ túc tân binh” của Hùng Phong phải dừng lại, anh em được lệnh chuẩn bị bổ sung về đội hình các trung đội, tiểu đội để chuẩn bị bước vào chiến đấu. Dự kiến sáng hôm sau chia quân thì đêm hôm đó ba chiến sĩ mới tên là Bình, Cải và Răm đã bỏ trốn. Sáng sớm hôm sau anh em mới phát hiện ra sự vắng mặt của họ và vội báo ngay cho đại đội. Hùng Phong giận điên lên, ra lệnh cho một tiểu đội lên đường truy nã ba quân nhân đảo ngũ ngay lập tức. Bốn giờ chiều hôm đó đội truy nã trở về cùng ba quân nhân đào ngũ. Thì ra, họ cũng chưa đi được bao xa, thậm chí còn chưa ra khỏi tuyến đường giao liên của mặt trận. Ba kẻ đào tẩu bị trói liền một xâu bằng dây võng. Người nào người nấy mặt xanh như tàu lá. Nghe tin đã bắt được những kẻ đào ngũ, đại đội phó Hùng Phong hằm hằm xách súng chạy đi ngay. Chính trị viên Đào Trọng Phú hốt hoảng đi tìm đại đội trưởng nhưng không thấy, gặp Do Cô-li-nốp đang đi vác củi về cho anh nuôi, Phú hốt hoảng kêu lên “Do, cậu đi với tôi ngay. Anh em đã bắt được mấy cậu đào ngũ. Hùng Phong nổi điên xách súng chạy đi nói sẽ bắn bỏ những thằng hèn nhát. Phải ngăn anh ấy lại không thì họa đến nơi rồi”. Do ném vội vác củi xuống rồi chạy theo chính trị viên ngay.
Đội truy nã vừa dẫn ba tên tội đồ về đến lối rẽ vào kiềng của đại đội thì gặp đại đội phó chạy rạ. Mặt đỏ phùng phừng, răng nghiến ken két, mặt đằng đằng sát khí, Hùng Phong lao tới chĩa súng vào ba kẻ tội đồ, kéo khóa nòng đánh roác, rít lên những tiếng rợn người - Mấy thằng khốn nạn. Hôm nay, tao sẽ thay mặt những chiến sĩ đại đội 9 đã hy sinh hỏi tội lũ hèn nhát chúng mày! Ba kẻ đào tẩu run lên như rẽ, xụp xuống vừa kêu khóc vừa lạy như tế sao. Hùng Phong càng giận dữ gầm lên một tiếng rồi choãi chân ra sau rê nòng súng vào đầu những kẻ đào tẩu và có lẽ chỉ một giây nữa là anh xiết cò nếu như đúng lúc đó Do Cô-li-nốp không kịp lao tới đứng chắn ngay trước họng súng: - Hùng Phong... dừng lại đi! Hùng Phong sững lại vài giây rồi gầm lên: - Tránh ra! Cậu... muốn chết cùng bọn khốn ấy à? Do vẫn đứng vững như đá, ba kẻ tội đồ lết tới ôm lấy chân anh vừa khóc vừa kêu la: - Cứu chúng em với... anh ơi... cứu chúng em với...
Hùng Phong lồng lộn rít lên: Do... tránh ra! Tôi phải quét sạch bọn rác rưởi này đi cho khuất mắt! Do vừa dang tay che cho những kẻ khốn khổ ở phía sau vừa ôn tồn khuyên giải: - Đại đội phó... hãy bình tĩnh lại đi. Họ sẽ phải chịu kỷ luật quân đội. Nhưng anh không có quyền giết họ! Vừa lúc đó chính trị viên Phú cũng kịp chạy tới, anh hốt hoảng nhìn hai người rồi nhìn mấy cậu chiến sĩ đào ngũ đang rúm lại phía sau lưng Do.
- Đồng chí Hùng Phong! Không được hành động tuỳ tiện! Với danh nghĩa là bí thư chi bộ, tôi ra lệnh cho đồng chí bỏ súng xuống! Hùng Phong chợt sững lại, tay súng hơi chùng xuống. Anh ngoái lại nhìn chính thị viên bằng đôi mắt đỏ vằn lên vì giận dữ rồi đột nhiên gầm lên một tiếng trước khi ném khẩu súng xuống đất. Do vội nhảy tới nhặt lấy khẩu tiểu liên. Trong khoảnh khắc ấy, gương mặt của ba kẻ đào ngũ bỗng phơi ra lồ lộ trước mặt Hùng Phong. Nhanh như một con cắt, anh nhảy bổ tới và vừa rít lên những tiếng vô nghĩa vừa vung tay nện tới tấp vào mặt ba kẻ đào tẩu những cú đấm như trời giáng. Chính trị viên Phú ngớ người ra không kịp phản ứng gì. Do quẳng vội cho anh khẩu súng rồi lao tới vừa cố lôi đại đội phó của mình ra khỏi mớ dây bùng nhùng trói ba quân nhân đào ngũ. Cũng may mà anh có sức nên chỉ một lát đã ôm chặt được Hùng Phong trong vòng tay cứng như thép của mình. Vừa chống trọi với cơn vùng vẫy của Hùng Phong, Do vừa hét lên với chính trị viên:
- Anh Phú... cho giải ba thằng này lên giao cho tiểu đoàn ngay đi!
Hiểu ý Do, chính trị viên Phú vội ra lệnh cho các chiến sĩ từ nãy đến giờ vẫn sợ xanh mắt đứng nép vào một bên nhìn cơn thịnh nộ của đại đội phó Hùng Phong, dẫn giải ba quân nhân đảo ngũ đi ngay. Ba kẻ tội đồ lúc này dường như không còn sức lực, đứa nào đứa nấy cứ mềm oặt, rũ ra như những tàu lá héo, dưới đũng quần của chúng đều ướt sũng những nước. Các chiến sĩ áp giải gần như phải vừa lôi vừa dìu chúng đi.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #87 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 01:29:20 pm »

Bị Do ôm cứng, rồi nâng bổng hẳn lên, Hùng Phong vừa dãy giụa, liên tục khua khoắng hai chân vừa không ngớt miệng nguyền rủa những kẻ hèn nhát. Cho đến khi mấy tên tội đồ đã được giải đi khuất, Do mới nhẹ nhàng thả Hùng Phong xuống đất. Anh chàng đại đội phó lúc này dường như cũng đã mệt lử sau một cơn xúc động mạnh liền ngồi bệt ngay xuống một gốc cây, thừ người ra suy nghĩ. Do rón rén ngồi xuống bên cạnh im lặng chờ đợi. Một lát sau Hùng Phong bỗng thở dài hỏi:
- Sao lại có những kẻ tham sống sợ chết đến thế không biết?
- Ai mà chẳng ham sống? - Do trả lời bằng một câu hỏi khác.
- Nhưng... chúng ta đã tình nguyện chiến đấu và sẵn sàng hy sinh vì Tổ Quốc?
- Đó là anh với tôi thôi- Do vẫn thủng thẳng - chắc gì tất cả mọi người tới mặt trận đều có tinh thần tình nguyện, tinh thần sẵn sàng hy sinh như vậy?
- Đã vậy... thì họ còn vào chiến trường làm gì? Chẳng thà... họ trốn tránh ngay từ ngoài kia?
- Ngoài ấy... khó đối mặt hơn với nhân dân, với bạn bè, với cả người thân khi anh là một thằng đào nhiệm? Chả ai muốn phải đeo trước ngực tấm biển có dòng chữ “Ai cũng hèn nhát như tôi thì mất nước” rồi bị dong đi khắp xóm khắp làng cả.
- Thế vào đây rồi thì làm cái việc đốn mạt đó dễ dàng hơn à?
Do im lặng chưa trả lời ngay. Một lát sau anh mới khẽ cười bảo:
- Mấy thằng ấy đào ngũ cũng có một phần là lỗi tại anh đấy?
Hùng Phong ngạc nhiên hỏi:
- Sao lại là lỗi tại tôi? - Tại anh thật thà, cởi mở với họ quá... anh kể với họ tất cả mọi chuyện... cả những chuyện hy sinh chết chóc như là điều đương nhiên phải chấp nhận khi ra trận vậy. Anh đã khiến cho họ sợ.
- Chẳng lẽ... tôi nói dối họ thì tốt hơn à? - Không ai khuyên anh nói dối... nhưng đừng nói ra hết sự thật thì tốt hơn cho những người lính vừa mới vào mặt trận. Rồi họ sẽ tự mình từ từ khám phá ra sự thật của chiến tranh thì tốt hơn. Lúc đó, họ đã là những người lính từng trải rồi. Họ sẽ chịu đựng được. Cũng ví như với một đứa trẻ, nếu trong đêm sắp phải qua một bãi tha ma mà anh lại kể chuyện từng gặp ma cho nó ngay thì nó sẽ hoảng sợ, thậm chí sẽ quay đầu bỏ chạy.
Chi bằng cứ để cho nó đi qua cái bãi tha ma ấy một hai lần đi, rồi anh có kể chuyện kỳ quái gì thì nó cũng không biết sợ nữa.
Hùng Phong bỗng bật cười, những tiếng cười khô khốc.
- Thì ra vậy? Vậy là cái mà ông Báo gọi là “phương pháp Hùng Phong” đã phá sản rồi, phải không? Do cũng bật cười theo: - Đúng vậy... về công tác chính trị tư tưởng thì phương pháp Lương Xuân Báo mới là siêu hạng. Thôi, ta về đi. Hôm nay anh làm cho ông Phú bị một phen hú hồn đấy! - Thế còn... mấy cái thằng ranh ấy thì tính sao? Hùng Phong vừa đứng dậy vừa băn khoăn hỏi.
- Cứ giao bọn nó cho cấp trên giải quyết... thế là xong. Có thể cấp trên sẽ đưa chúng nó ra toà án binh, cũng có thể không? Biết đâu, nay mai cậu lại thấy có tên mấy thằng ấy trong danh sách các anh hùng hay các liệt sĩ cũng nên. Chiến tranh mà, chuyện gì chẳng có thể xảy ra? Hùng Phong thầm cảm ơn Do Cô-li-nốp đã cứu anh thoát khỏi một sai lầm nghiêm trọng. Nếu cậu ta đến chậm, rất có thể anh đã xiết cò và sau đó chưa biết điều gì sẽ xẩy ra...
Tuy vậy, là người giàu lòng tự ái, Hùng Phong cũng không thích ai nhắc lại chuyện đó, kể cả cậu Cung.

... Trần Tự Do không phải là nhà tiên tri, nhưng anh ta đã nói đúng một điều hết sức quan trọng: Trong chiến tranh chuyện gì cũng có thể xảy ra, kể cả việc một trong ba kẻ đào tẩu hôm ấy suýt bị Hùng Phong xử tử hình sau này đã trở thành một người anh hùng. Người đó là Đỗ Thanh Bình, năm 1975 được tuyên dương là Anh hùng lực lượng vũ trang vì đã lập được những chiến công xuất sắc trong chiến dịch Hồ Chí Minh khi đang ở cương vị tiểu đoàn trưởng. Cuộc đời cũng thật lắm chuyện kỳ lạ, Hùng Phong thật không thể ngờ rằng trong lần về dự liên hoan Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua lần đầu tiên sau cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, anh và Đỗ Thanh Bình lại được xếp ở chung một phòng tại nhà khách Bộ Quốc Phòng. Khi anh vừa vào tới cửa phòng Đỗ Thanh Bình đã vội bước ra, ôm chầm lấy anh:
- Chào đại đội phó... được ở cùng phòng với đại đội phó, em mừng lắm!
Hùng Phong cũng đã biết trước việc mình được phân công ở cùng phòng với Đỗ Thanh Bình, anh cảm thấy hơi khó xử, nhưng không tiện đề đạt với ban tổ chức để xin đổi phòng. Vả lại, anh cũng hơi tò mò, muốn thử xem Đỗ Thanh Bình sẽ ứng xử ra sao khi giáp mặt với anh. Có lẽ cũng không đến nỗi anh ta còn ôm mối hận với anh, nếu thế thì anh ta cũng không xứng là một người anh hùng, nhưng quả thực Hùng Phong cũng không dám nghĩ tới sự đón tiếp cởi mở nồng ấm thế này.
- Mình... cũng mừng vì... cuối cùng thì cũng gặp lại cậu.
Sau màn chào hỏi ồn ào, cảm động. Hùng Phong không ngờ Đỗ Thanh Bình không một chút ngần ngại, mặc cảm khi nhắc lại chuyện cũ.
- Ngày ấy... nếu không có thái độ quyết liệt của đại đội phó thì có lẽ... em vẫn chưa tỉnh ra ngay được như vậy. Sau này, cứ mỗi lần nghĩ tới chuyện rất có thể mình đã chết một cách nhơ nhuốc em lại rùng cả mình. Sau đó, trước hội đồng kỷ luật của sư đoàn, cả ba anh em chúng em đều chân thành nhận ra lỗi lầm và xin cấp trên cho chúng em có được một cơ hội để hối cải, lập công chuộc tội. Thực tình, ngày ấy em rất tuyệt vọng, không mấy hy vọng sẽ còn được ở lại quân ngũ.
Ai ngờ cấp trên lại rủ lòng thương, đồng ý cho chúng em chịu án kỷ luật, đi gùi hàng liền sáu tháng rồi cho phục hồi quân tịch, trở lại đội ngũ tiếp tục chiến đấu.
Chỉ tiếc rằng chúng em không được trở lại lại đơn vị cũ mà lại được bổ sung cho sư đoàn bạn nên tới tận hôm nay mới gặp lại đại đội phó để nói lời cảm ơn. Có hơi muộn màng, mong đại đội phó thông cảm.
Hùng Phong vội xua tay:
- Không... người mà cậu cần phải cám ơn trước tiên phải là trung đội trưởng Trần Tự Do, cái cậu người lai da đen đã đứng chắn họng súng của mình hôm đó kia. Nếu cậu ấy không đến kịp thì có lẽ mình đã không kiềm chế nổi cơn giận mà nổ súng rồi cũng nên. Nếu điều đó xảy ra thì có lẽ... mình cũng sẽ không còn được như hôm nay, và sẽ ân hận suốt cả cuộc đời.
Đỗ Thanh Bình sốt sắng hỏi:
- Vậy... anh Do bây giờ ra sao rồi. Ở đâu, liệu em có thể tìm gặp anh ấy được không?
Hùng Phong buồn bã lắc đầu:
- Không... chúng ta sẽ không bao giờ còn được gặp anh ấy nữa. Anh ấy đã hy sinh rồi!
Đỗ Thanh Bình ngơ ngẩn hỏi:
- Hy sinh rồi à?
- Sau khi xảy ra chuyện của các cậu được vài ngày thì đơn vị nhận nhiệm vụ tiến công căn cứ pháo binh 241 của địch trên đường số 9. Anh ấy đã hy sinh rất anh dũng trong trận đánh quyết liệt ấy!
- Trời ơi! - Đỗ Thanh Bình ôm mặt kêu lên – sao những người tốt như vậy mà lại không gặp được may mắn như chúng ta nhỉ?
- Đúng vậy. Chúng quả là những kẻ may mắn - Hùng Phong mỉm cười chua chát - chúng ta trở thành những người anh hùng, được xã hội tôn vinh, còn nhũng người như anh ấy thì không! Đơn vị đã đề nghị truy tặng danh hiệu Anh hùng cho anh ấy nhưng không hiểu vì sao vẫn chưa được. Trong khi đó, tôi với cậu một người thì được anh ấy cứu mạng sống, một người được anh ấy bảo vệ sinh mạng chính trị, thì đều đã được tuyên dương là những người Anh hùng, thật... bất công quá!
Đỗ Thanh Bình nắm lấy tay Hùng Phong, an ủi:
- Chắc chắn những người như họ sẽ không bị lãng quên đâu anh.
- Hy vọng là như vậy - Hùng Phong đứng dậy bước ra cửa phòng nhìn ra đường phố Hà Nội nhộn nhịp đông vui. Gia đình anh, cái gọi là tổ ấm của anh chỉ cách nơi này vài con phố. Thực ra, trong những ngày hội nghị, anh có thể về nghỉ tại nhà nhưng hôm qua anh đã quyết định đăng ký chỗ nghỉ tại nhà khách cũng chỉ vì một cuộc cãi vã nho nhỏ xảy ra với vợ.
Hoan muốn anh nói chuyện với bố vợ, nhờ ông giúp thu xếp cho một vị trí công tác tại cơ quan bộ để được gần gia đình, vợ con nhưng anh không thể đồng ý với cô ấy vì đơn vị lúc này đang cần anh. Chiến tranh tuy đã kết thúc, nhưng bọn Fulrô và bọn tàn quân của ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn được những thế lực từ bên ngoài tiếp sức vẫn đang hoành hành ở các tỉnh Tây Nguyên. Sư đoàn của anh đang làm nhiệm vụ truy quét tiễu trừ bọn phản động này. Anh không thể dời sư đoàn vào thời điểm này được. Câu chuyện chỉ có vậy mà hóa ra căng thẳng, lời qua tiếng lại đã khiến Hoan mất cả tỉnh táo, dùng những lời không hay thóa mạ anh, xúc phạm tới những tình cảm thiêng liêng của anh với những người đồng đội. Vì vậy, anh đã quyết định vào nhà khách nghỉ trong mấy ngày hội nghị để cho tâm hồn được thanh thản đi ít nhiều. Vì thế mà anh đã đươc gặp Bình.
- Thế còn... hai cậu kia sau này ra sao? – Hùng Phong hỏi khi chợt nhớ lại câu chuyện năm xưa.
- Anh vẫn không quên bọn nó hả? - Đỗ Thanh Bình mỉm cười bước tới bên Hùng Phong rồi chậm rãi kể:
- Cậu Cải thì hy sinh tại Tây Thừa Thiên cuối năm 1972. Còn Huy Răm thì bị thương năm sáu mươi chín, sau đó ra Bắc, đi học đại học. Nghe nói bây giờ cậu ấu là giảng viên của trường đại học Bách Khoa rồi.
- Nghĩa là... họ đều nên người cả, phải không?
- Đúng vậy... dù sống hay chết họ cũng đều nên người cả. Thật cảm ơn các anh quá. Khi nào có điều kiện, em sẽ về tìm về thăm bố mẹ anh Do một lần, có được không ạ?
- Được chứ... khi nào có thời gian rỗi, tôi sẽ đưa cậu đi. Quê cậu ấy... cũng gần đây thôi.
Nói thế, nhưng lần đó Hùng Phong vẫn chưa có dịp đưa Bình tới thăm gia đình Do. Cho mãi tới tận năm 1986, hai người mới lại có dịp gặp nhau trong một hội nghị quân chính tại thủ đô. Lúc đó đã nghe phong thanh rằng vào dịp quốc khánh năm nay, trong danh sách những liệt sĩ được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang đợt này có liệt sĩ Trần Tự Do. Hai người quyết định dành ra một buổi để lên Ba Vì thăm gia đình ông Lơgốt Trần Chiến Thắng. Nhưng khi tới nơi mới biết nông trường Âu - Phi đã giải thể từ lâu và ông Lơgốt Trần Chiến Thắng đã đưa vợ về quê hương mình ở châu Phi từ mấy năm trước rồi. Hỏi thăm nhân dân trong vùng thì chỉ có vài người biết láng máng về những gia đình Việt Phi từng sinh sống ở đây nhiều năm về trước nhưng không ai biết Trần Tư Do là ai. Trở về Hà Nội, thông qua Trương Đình Lân đang tu nghiệp tại trường đại học Văn hoá, Hùng Phong mới biết Trần Hòa Bình hiện đang làm đại diện thương mại tại An-giê-ri.
Nếu người ta truy lặng danh hiệu Anh hùng cho liệt sĩ Trần Tự Do, thì phải gửi các loại giấy tờ thông báo vinh dự quốc gia này sang An-giê-ri cho người em gái của anh, là người duy nhất trong gia đình hiện vẫn còn giữ quốc tịch Việt Nam, nhưng chưa biết được bao lâu, vì nghe Lân kể, hình như Trần Hòa Bình muốn ở lại quê hương sinh sống lâu dài cùng cha mẹ và các em của cô.
Ôi, Trần Tự Do... riêng anh thì mãi mãi sẽ là Anh hùng liệt sĩ của dân tộc Việt Nam. Anh sẽ không bao giờ thay đổi Tổ quốc của mình nữa.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #88 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 01:29:53 pm »

Trận tập kích căn cứ pháo binh 241 hoá ra lại không phải là một trận đánh dễ dàng. Nguyên do là vì phương án mật tập đã phá sản ngay từ đầu khi mũi vu hồi của đại đội 8 bị lộ ngay khi vừa chớm vào tới ven đường 9. Nguyên nhân của chuyện bị lộ cũng thật tình cờ. Có một chiếc xe xích kéo pháo bị hỏng, địch phải bỏ lại trên sườn đồi, có lẽ chúng tạm thời phải giấu chiếc xe ở đó đợi sáng mai đưa thợ tới sửa. Trên xe hình như chỉ có hai ba tên địch nằm lại trông xe mà thôi. Khi đại đội tám tiếp cận mục tiêu, tới đây thì các chiến sĩ phát hiện ra một chiếc xe bọc thép giấu trong bụi cây. Đại đội trưởng đại đội 8 nghi rằng địch đã mai phục sẵn một lực lượng ở bên ngoài để đón lõng quân ta. Anh chưa kịp báo cáo về tiểu đoàn xin chỉ thị xử lý tình huống bất ngờ này thì bất ngờ đèn trên xe bật sáng. Có lẽ tên địch trông xe chỉ định bật đèn để đi ngoài hay làm gì đó thôi nhưng vì chưa có kinh nghiệm nên các chiến sĩ ta lại tưởng đã bị lộ, chiếc xe địch chuẩn bị phát hoả.
Thế là một quả B40 được phóng đi. Chiếc xe nổ tung dựng lên một cột lửa dữ đội. Trên hướng chính diện và hướng mật tập đại đội 7 và đại đội 9 chưa triển khai xong đội hình, nhưng nghe súng nổ, biết là đã bị lộ nên họ lập tức chuyển phương án hai, phát động tấn công cường tập, không chờ đợi nữa.
Đại đội 9 do đại đội trưởng Đồng Tiến Phi chỉ huy có một chút thuận lợi hơn vì mũi mật tập được xuất phát sớm nên khi hướng đại đội 8 bị lộ thì các anh đã áp sát hàng rào căn cứ địch rồi. Khi nghe tiếng súng nổ ở hướng đại đội 8, rồi sau đó cả căn cứ địch như bừng tỉnh, súng nổ rền trời, đại đội trương Đồng Tiến Phi liền bật dậy ra lệnh:
- Đem tất cả bộc phá lên... phá rào mà đánh vào!
Vì chuẩn bị phương án mật tập nên đại đội 9 không mang theo nhiều bộc phá ống để phá rào. Đa số lực lượng bộc phá của đại đội là để chuẩn bị đánh công sự, ụ pháo, đài chỉ huy, cấu tạo của loại bộc phá này gây ra sức công phá lớn nhưng sẽ rất nguy hiểm cho người điểm hỏa nếu cho nổ trên mặt đất để phá rào. Vì vậy khi nhận được lệnh của đại đội trưởng, trung đội trưởng Trần Tự Do hiểu rằng mình phải là người đánh quả bộc phá này chứ không thể là ai khác. Anh liền bật dậy, chộp lấy khối bộc phá của một chiến sĩ rồi hét lên:
- Đưa bộc phá đây... tất cả lùi ra, nằm xuống!
Rồi anh ôm khối bộc phá lao lên hàng rào. Khối bộc phá mười cân của Trần Tự Do nổ như một trái bom, hất tung hai lớp rào ngoài cùng, nhưng cũng hất luôn cả anh bay vào bên trong hàng rào, tới tận khu giao thông hào phòng thủ ngoài cùng của căn cứ. Nếu là người khác thì sức ép của bộc phá và cú “bay” ấy đủ mất mạng hoặc thí ít cũng phải ngất lịm đi hàng giờ. Nhưng Trần Tự Do thì lại khác, cú chạm đất nảy lửa chỉ khiến anh đau ê ẩm và hơi choáng một chút. Anh còn kịp nhận ra cái vệt đen ngòm của dãy giao thông hào ngay trước mặt mình nên vội bật thêm một vòng rồi lăn ngay xuống đó. Bọn địch trong căn cứ cũng đang rầm rập chạy dọc giao thông hào để triển khai chiến đấu. Không có súng, Do sờ quanh sườn lôi ra được hai trái lựu đạn. Anh chờ cho tiếng bàn chân địch lao tới thật gần, nghe rõ cả tiếng thở ồ ồ của chúng rồi mới rút chốt lựu đạn và ném tới. Trái lựu đạn nổ bung ngay đoạn giao thông hào trước mặt. Khói chưa kịp tan thì Do đã lao tới. Trong lòng hào, hai thằng Mỹ bị thương đang kêu oái oái. Bọn còn lại vừa chạy lộn trở lại vừa bắn ràn rạt trên bờ giao thông hào. Không kịp suy tính gì nhiều anh dùng quả lựu đạn chày còn lại nhằm đầu một thằng Mỹ nện thật mạnh khiến nó chỉ kịp giãy lên một cái rồi nằm xuôi xị. Chợt nhìn thấy khẩu trung liên nằm bên cạnh thằng Mỹ thứ hai, anh nhoài ngay tới giật lấy khẩu súng, rồi bật dậy kê súng lên miệng hào, mắm môi xiết cò, lia từng loạt đạn về phía bọn địch trong căn cứ đang ào tới.
Vào giây phút đó, Hùng Phong đã dẫn anh em trong tiểu đội của Nguyễn Đình Hướng lao lên chiếm được một đoạn hào bắn yểm hộ cho lực lượng phía sau tràn vào căn cứ. Khẩu trung liên của Do thật lợi hại, nhờ có nó bắn kiềm chế mà hỏa lực địch trong căn cứ đã không ngăn chặn được mũi tiến công phía bên trái của đại đội do đại đội trưởng Đồng Tiến Phi chỉ huy đánh thẳng vào phía trận địa pháo. Mục tiêu của đại đội là phải phá huỷ bằng được những khẩu pháo lớn của địch, vì thế nên đại đội trưởng Phi quyết định bỏ qua vòng ngoài, để mũi của Hùng Phong kiềm chế địch, còn bản thân thì dẫn mũi xung kích lao thẳng vào bên trong.
Trần Tự Do vừa bắn vừa hò hét một cách khoái trá. Đây là lần đầu tiên anh được xài súng máy của Mỹ, anh không ngờ nó lại dễ xử dụng và nhẹ đến thế? Nhưng chính vào lúc anh đang say sưa với khẩu súng mới của mình thì tai họa ập đến. Thằng Mỹ bị thương nằm trong giao thông hào mà anh bỏ qua đã lặng lẽ gượng dậy. Trong khi không ai để ý tới, nó đã kịp rút chốt một quả lựu đạn US rồi tung thẳng về phía sau lưng Do. Đang mải bắn, Do không kịp phản ứng gì cho đến khi một quầng lửa nháng lên ngay phía sau lưng anh. Nguyễn Đình Hướng phát hiện ra hành động ám muội của tên Mỹ thì đã quá muộn. Lựu đạn đã nổ. Do gục xuống ngay trên bờ giao thông hào, đè lên khẩu súng máy. Ngay lập tức Hướng hét lên một tiếng rồi nhảy tới nhằm thằng Mỹ nằm dưới lòng hào xả gần hết cả băng đạn. Trong ánh pháo sáng, ánh đạn lửa, thằng lính Mỹ cứ giật nảy lên như bị cù. Có lẽ Hướng còn bắn nữa, nếu Hùng Phong không lao tới hét lên:
- Nó chết rồi! Xem thằng Do thế nào đã chứ?
Nói rồi, anh lao tới, lật Do qua một bên. Máu anh chảy ròng ròng trên khẩu súng máy.
- Anh ấy chết rồi!
Hùng Phong hét lên trong tiếng đạn nổ rền trời.
Địch lại đang ào ra định chiếm lại cửa mở. Nếu chúng chiếm mất cửa mở thì mũi xung kích của anh Phi coi như tiêu hết, không thể nào ra được nữa. Phong nghĩ vậy rồi đặt Do xuống lòng hào và hét lên:
- Hướng... lệnh cho anh Khang chỉ huy trung đội cố giữ lấy cửa mở. Mình dẫn thêm anh em vào trong kia giúp anh Phi một tay.
Hướng đang gục bên thi thể Do, ngẩng lên hét:
- Nhưng anh Do chết rồi!
- Chết thì thôi - Hùng Phong điên tiết hét lên - cậu gọi B41 lên đập chết cái xe bọc thép kia đi. Nó sắp lao ra bịt cửa mở đấy!
Nói rồi, anh vẫy tay ra hiệu cho trung đội trưởng trung đội hai còn mắc ở phía sau:
- Tại, đưa hai tiểu đội lên đây theo tôi!
Hùng Phong dẫn lực lượng dự bị của đại đội lao thẳng vào tung thâm căn cứ để trợ chiến cho mũi xung kích dang đánh phá ầm ĩ ở bên trong. Các mũi tiến công khác của tiểu đoàn cũng đang đánh vào từ ba phía khiến áp lực của địch lên khu vực cửa mở của đại đội 9 cũng giảm dần. Chiếc xe bọc thép đang chuẩn bị lao ra bịt cửa mở thì bỗng quay đầu lại chạy thẳng ra phía Tây căn cứ, có lẽ đại đội 7 đang đánh dữ ở hướng đó.
Trung đội phó Khang và tiểu đội trưởng Hướng chưa kịp mừng thì đã nghe tiếng động cơ trực thăng rít ngay trên đầu, những luồng đèn pha sáng quắc xẻ thẳng xuống khu vực cửa mở của đại đội rồi đạn đại liên, rốc két và cả lựu đạn từ trên những chiếc trực thăng vừa xà tới phóng xuống tới tấp. Khu vực cửa mở lại tối tăm mù mịt. Cũng may, có đoạn giao thông hào này để tránh đạn, nếu không... ? Bỗng trong ánh đèn pha của trực thăng, Hướng nhìn thấy khẩu súng máy đẫm máu của trung đội trưởng Do. Nhanh như cắt, anh nhảy vài bước tới bên khẩu súng kéo nó xuống lòng hào.
- Cậu định làm gì thế?
Trung đội phó Khang hỏi với sang. Hướng chỉ lên trời:
- Chơi bọn trực thăng chứ còn gì nữa?
Loay loay một lát, anh cũng tìm được chỗ thích hợp để dựng súng lên. Đó là một cái cột đèn vừa bị pháo bắn gãy, nằm vắt ngang đoạn giao thông hào. Vừa lúc đó chiếc trực thăng quay vòng trở lại. Có lẽ vì không thấy có phát đạn nào bắn lên nên thằng quỉ này chủ quan. Nó xà xuống rất thấp, dọi đèn pha, bắn súng máy xồng xộc, đạn cày chiu chíu dọc theo giao thông hào. Hướng chong súng nhìn lên, thấy rõ cả những tên lính Mỹ đang vung tay tung lựu đạn xuống.
- Mẹ cha mày! Để ông dạy cho mày một bài học.
Mặc đạn bắn như vãi xung quanh, Hướng bình tĩnh nhằm thẳng vào đầu chiếc trực thăng UH1A rồi mắm môi mắm lợi mà xiết cò. Anh nhìn rõ cả những tia lửa toé lên khi đạn găm vào bụng cái con quái vật trên không ấy. Nó có vẻ hơi rùng mình, như ngạc nhiên khi thấy có kẻ dưới kia dám chọc ghẹo nó. Nó gầm rú, chao đảo cố nhấc mình lên được một đoạn rồi như một thằng say rượu, nó đột nhiên bật nghiêng, rít lên những tiếng thật kinh khủng rồi từ từ lao cắm xuống ngọn đồi bên kia đường 9. Từ chỗ nó lao đầu xuống, một cột lửa dữ dội bùng lên. Hầu như tất cả mọi người đều sửng sốt ngạc nhiên trước sự may mắn bất ngờ ấy. Không ai dám nghĩ rằng, một chiếc trực thăng vũ trang hiện đại đến thế lại có thể bị quật đổ một cách dễ dàng đến vậy? Vì thế phải một lát sau, mới nghe thấy tiếng anh em hò reo lẫn trong tiếng đạn nổ. Hướng đứng sững trong đoạn giao thông hào, sửng sốt nhìn chiếc trực thăng từ từ lao đầu xuống đất. Cho đến khi nghe thấy trung đội phó Khang và anh em trong trung đội reo lên “Rơi rồi! Nó rơi thật rồi!”, anh mới như bừng tỉnh. Bỏ mặc khẩu súng máy vẫn kê trên chiếc cột đèn, anh lao tới đổ gục xuống bên thi thể của Do, khóc nức lên:
- Anh Do ơi... tôi... tôi... đã dùng khẩu súng chiến lợi phẩm của anh để bắn cháy một chiếc trực thăng rồi... chắc là anh đã phù hộ cho tôi, phải không?
Nhưng Hướng không có thời gian nhiều để mà than khóc. Ngay sau khi chiếc trực thăng bị bắn rơi, pháo địch từ thị trấn Đông Hà, căn cứ Cam Lộ bắt đầu bắn như mưa theo kiểu bóc vỏ bưởi, bắt đầu từ dưới chân cao điểm, hàng rào hỏa lực của địch dâng dần lên tới khu vực cửa mở. Hình như tiểu đoàn đã nhận thấy diễn biến trận đánh đang xoay theo chiều hướng giống như trong trận Cam Lộ, đề phòng bộ đội ham đánh sẽ bị địch dùng phi pháo đánh theo kiểu “xoa mạt chược”, nghĩa là cho lực lượng trong căn cứ rút xuống hầm ngầm rồi dùng phi pháo đánh trùm lên, bộ đội ta sẽ bị sát thương nhiều nên đã ra lệnh vừa đánh vừa lui quân. Chính trị viên Phú ở phía ngoài nhận được lệnh của tiểu đoàn liền cho liên lạc lên yêu cầu Khang truyền lệnh lui quân cho đại đội trưởng ngay. Nhìn đi nhìn lại chẳng thấy ai có thể đủ khả năng đột vào bên trong khi hỏa lực địch đang bắn dữ thế này, anh đành chạy tới hét vào tai Hướng:
- Để ông Do đấy tôi cho người mang ra... cậu vào khu trận địa pháo truyền lệnh cho đại đội trưởng, tiểu đoàn yêu cầu rút quân ngay, không ham đánh nữa.
Hướng nghe câu được câu chăng nhưng cũng hiểu tinh thần của mệnh lệnh, nhưng vẫn hỏi lại:
- Sao lại rút... mình đánh đang ngon thế này kia mà!
- Rút là rút... đây là lệnh của tiểu đoàn đấy! Cậu
vào đi, mà phải nhanh lên đấy! Tôi sẽ chỉ huy anh em giữ cửa!
Hướng tuân lệnh của trung đội phó lao đi ngay.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #89 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 01:30:36 pm »

Nhưng đường vào khu trận địa pháo 175 ly “Vua chiến trường”, mục tiêu chính mà đại đội 8 phải đảm nhiệm lúc này đã bị hỏa lực địch phong toả từ nhiều hướng.
Những ụ đại liên địch ở khu vực trung tâm hầu như vẫn còn nguyên vẹn, chúng bắn xéo cánh xẻ, tạo thành một lưới hỏa lực dày đặc để ngăn chặn quân ta đánh sâu vào căn cứ, nhất là khu đài chỉ huy pháo binh.
Thực ra, trong trận đánh này, tiểu đoàn chỉ đề ra mục tiêu tiêu diệt các cụm pháo của địch, chứ không có ý định đánh chiến toàn bộ căn cứ, tuy vậy, hình như mũi đại đội 7 vừa đánh trúng khu kho đạn, nên vào lúc này tiếng nổ của đạn pháo trong kho, chen lẫn tiếng nổ do pháo địch bắn tới khiến cả khu cao điểm mù mịt khói lửa và rung lên bần bật như trong một cơn động đất lớn. Trong bối cảnh đó, rất khó phát hiện luồng bắn của các hỏa điểm địch để mà tránh đạn. Nhưng Hướng biết rằng, vào lúc này, chính những thằng xạ thủ đại liên địch cũng không nhìn thấy gì mà chỉ bắn bừa phứa ra hướng nào mà chúng nghi có Việt Cộng đang tiến vào mà thôi. Anh thận trọng lợi dụng địa hình địa vật, nhảy cóc từng chặng và cuối cùng cũng đến được khu trận địa pháo 175 ly. Vào thời điểm đó, lực lượng xung kích của đại đội đã đánh bật hết bọn địch ở khu vực trận địa pháo. Đại đội trưởng Phi ra lệnh cho một bộ phận chiếm lĩnh những vị trí thuận lợi để kiềm chế, chống địch phản kích, số còn lại do đại đội phó Hùng Phong chỉ huy đang tìm cách phá huỷ ba khẩu pháo lớn. Hoá ra cái việc “phá phách”này cũng chẳng dễ dàng một tí nào. Đại đội chỉ còn hai quả bộc phá mười cân thì một quả đã tương vào cái ụ đại liên án ngữ trận địa rồi. Còn một quả nữa, Hùng Phong cho đặt vào giữ bệ xoay của một khẩu “Vua chiến trường” rồi cho giật nổ. Cái bệ tự hành của “ông vua” đỏ lừ lên rồi toác ra, nhưng cái nòng pháo chỉ hơi nghẹo xuống, chẳng hiểu có vỡ hay không? Nhưng như thế cũng coi như là xong một thằng rồi. Đến thằng thứ hai, anh em chạy qua, nhìn cái nòng pháo to đùng lững lững trước mắt mà chưa biết làm thế nào. Mấy cậu hô nhau lùi ra rồi kết chùm ba bốn trái lựu đạn lẳng vào, nhưng chẳng ăn thua mẹ gì. Cái khối sắt thép ấy vẫn trơ ra. Một cậu đề nghị leo lên nòng pháo mà thả lựu đạn vào, nhưng như vậy thì sẽ làm mồi cho đạn bắn thẳng của địch từ bốn phía đang bắn vào khu trận đại pháo như mưa. Vừa lúc đó thì Hướng đến, thấy tình hình như vậy Hướng liền kêu lên”Sao các ông ngốc thế? Lấy B41 mà dọi. Xe tăng M41 còn chảy ra nước nữa là ba cái thứ này? Hùng Phong như sực tỉnh, liền cho điều ngay hai khẩu B41 tới. Thông “lùn” vác súng chạy tới trước, được lệnh thịt khẩu ngoài cùng. Còn khẩu B41 thứ hai, xạ thủ chính vừa bị thương, xạ thủ phụ là cậu Minh lóng ngóng mãi vẫn chưa bắn được. Hướng liền điên tiết chạy tới giằng lấy súng “Đưa tớ bắn cho!”. Hùng Phong chưa kịp ngăn thì Hướng đã chong cái “hoa chuối” về hướng khẩu “Vua chiến trường” rồi hét mọi người “Lui ra... Tớ bắn đấy!”. Một quầng lửa đỏ rực bùng lên cùng một tiếng nổ dữ đội. Trong ánh chớp lửa, nhìn thấy rõ cái nòng pháo cao lênh khênh xỉu xuống như một thứ đồ chơi bằng đất sét. Hầu như ngay lúc đó, Thông “lùn” cũng nổ súng. Viên đạn của cậu ta trúng giữa bệ tự hành, khẩu “Vua chiến trường” thứ ba cũng gục ngay lập tức. Nhiều tiếng reo “Trúng rồi” vang lên trong tiếng đạn nổ hỗn loạn. Đại đội trưởng Đồng Tiến Phi vừa kịp hét lên “Tản ra... Nằm xuống!” thì hầu như mọi thứ hỏa lực địch cùng lúc trút lên khu vực trận địa pháo 175 ly. Đã có tiếng thét lên kêu “Tôi bị thương rồi”.
Đã có chiến sĩ trúng đạn đại liên 14, 5 ly ngã vật xuống không kịp kêu một tiếng. Hướng quẳng khẩu B41 cho Minh rồi sực nhớ ra nhiệm vụ của mình, anh vừa lao như tên về phía đại đội trưởng Phi vừa hét lên”Tiểu đoàn ra lệnh cho đại đội rút ra ngay... Không được ham đánh nữa!”.
Đại đội trưởng Đồng Tiến Phi cũng hiểu rõ tình hình đã đến lúc không thể nán lại nữa, nên vội chạy tới hét vào tai Hùng Phong “Cậu cho anh em ra trước đi.
Tôi ở lại chặn địch. Chúng nó sắp tràn sang đây bây giờ đấy”. Hùng Phong ngạc nhiên hỏi “Anh phải ra trước để chỉ huy bộ đội chứ?”. Đại đội trưởng giận dữ khoát tay “Đây là mệnh lệnh. Cậu chưa nghe rõ à? Khẩn trương đưa anh em ra đi. Tôi chỉ cần giữ lại một tổ thôi.
Nhanh lên kẻo không kịp bây giờ”.
Hùng Phong hiểu rằng lúc này không phải là lúc tranh cãi với đại đội trưởng, anh liền ra lệnh cho anh em chuyển thương binh ra trước rồi lần lượt lui ra phía cửa mở. Một tốp trực thăng UH -1A ba chiếc xầm xập lao tới, dọi đèn pha rồi bắn như vãi đạn vào khu vực trận địa pháo 175 ly. Dưới đất đại đội trưởng ra lệnh cho anh em còn trụ lại chong súng bắn lên. Có lẽ, anh muốn thu hút đám trực thăng vũ trang về phía mình để cho đại đội lui quân. Từ phía trung tâm căn cứ, đã nghe thấy tiếng xích xe tăng nghiến ken két.
Hùng Phong đã đưa anh em thương binh ra tới cửa mở, gặp trung đội phó Khang ra lệnh “Cậu để lại một tổ chốt ở đây còn thì cho anh em chuyển thương ra hết đi”. Trung đội phó Khang lo lắng hỏi “Hình như chúng nó cho xe tăng ra phản kích đấy. Sao đại đội trưởng vẫn chưa ra?”. Hùng Phong bực mình gắt “Thi hành mệnh lệnh đi. Tôi trở vào xem sao?”.
Nhưng Hùng Phong đã không vào kịp. Ba chiếc xe tăng M41 đã quây chặt khu vực trận địa pháo vừa bị tiến công. Sau lưng chúng là lúc nhúc lính Mỹ. Trên trời, ba chiếc trực thăng thu hẹp vòng lượn, dọi đèn pha sáng quắc, đến nỗi có thể nhìn thấy từng hòn sỏi trên triền đồi, nhìn thấy cả những xác người đang bốc khói. Nấp sau một ụ pháo cũ, Hùng Phong cũng nhận ra một trong những cái xác ấy là đại đội trưởng Đồng Tiến Phi. Anh biết rằng không còn cách nào vào đó để lấy xác đại đội trưởng ra được nữa, đành nghiến răng nuốt nước mắt bò trở lui ra cửa mở. Khang vẫn chờ anh tại đó. Thấy anh lui về một mình Khang định hỏi nhưng Hùng Phong đã vội khoát tay ra lệnh “Rút thôi, nhanh lên! Nếu chần chừ thêm chút nữa thì cả chúng ta cũng không ra kịp đâu”.

Trận tập kích căn cứ pháo binh 241 được cấp trên đánh giá là thắng lợi giòn giã, tiểu đoàn gã tiêu diệt và phá huỷ hơn chục khẩu pháo các loại, trong đó có ba khẩu “Vua chiến trường”, niềm kiêu hãnh của pháo binh Hoa Kỳ, tiêu diệt hàng trăm tên địch, bắn cháy năm xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi một trực thăng...
Nhưng điều khiến chính trị viên Lương Xuân Báo và tiểu đoàn trưởng Phạm Quang Vinh đau đầu nhất là trận này mất hơi nhiều cán bộ. Ngoài đại đội trưởng đại đội 9 Đồng Tiến Phi, còn có đại đội phó đại đội 8 Lê Xuân Đạm hy sinh, chính trị viên đại đội đại đội 7 Nguyễn văn Tâm bị thương nặng, khó mà trở lại đội hình chiến đấu. Cán bộ trung đội hy sinh bốn, bị thương ba. Cấp tiểu đội thì chưa tính đến. Cứ tốc độ này thì đánh một vài trận nữa là hết cán bộ?

Đã vậy chính trị viên Lương Xuân Báo còn lo lắng rằng cái chết của đại đồi trưởng Đồng Tiến Phi có thể khiến cho Ban chỉ huy đại đội 9, đại đội chủ công của tiểu đoàn lung lay, mất đoàn kết, mất tinh thần. Tiểu đoàn chưa chỉ đạo việc kiểm điểm rút kinh nghiệm trận đánh, nhưng dưới đại đội 9 đã có tiếng xì xào rằng có thể đại đội phó Hùng Phong sẽ bị kỷ luật vì đã không đem được thi thể của đai đội trưởng ra khỏi căn cứ địch.
Từ hôm đánh 241 về đến nay đã là ba ngày nhưng chính trị viên Báo vẫn không lúc nào gặp riêng được Hùng Phong để nghe cậu ta trình bày. Hình như Hùng Phong cũng có ý tránh mặt anh. Báo cáo tình hình sau trận đánh, Hùng Phong cũng dồn cho chính trị viên Đào Trọng Phú. Có hỏi, thì Phú cũng chỉ nói đại đội phó Hùng Phong bị mệt, không trực tiếp lên báo cáo tình hình được. Khi tiểu đoàn trưởng hỏi vì sao đại đội không lấy được xác đại đội trưởng và ba đồng chí cùng chốt lại thì chính trị viên Phú chỉ nói “Chi ủy và Ban chỉ huy đại đội sẽ họp kiểm điểm và sẽ có báo cáo chi tiết với Đảng ủy tiểu đoàn sau... “. Đến ngày thứ ba vẫn chưa thấy có báo cáo, chính trị viên Lương Xuân Báo gọi điện thoại xuống đại đội hỏi “Bao giờ chi ủy các anh họp để kiểm điểm trận đánh?” Chính trị viên Phú nói “Báo cáo chính trị viên, chiều nay chúng tôi sẽ họp... để thảo luận báo cáo của đại đội phó Hùng Phong. Nhưng chi ủy hiện chỉ còn hai người, tôi và đồng chí Cung, chúng tôi định họp mở rộng, mời thêm đồng chí Tại và đồng chí Khang, có được không ạ?”. Chính trị viên Báo nói “Được. Tôi sẽ trực tiếp xuống dự với các đồng chí”.

Bỏ điện thoại xuống, tự dưng chính trị viên Lương Xuân Báo lại cảm thấy có điều gì đó chưa yên tâm. Anh bèn xách túi chui ra khỏi hầm. Thấy tiểu đoàn trưởng Phạm Quang Vinh đang ngồi loay hoay với cái địa bàn, liền hỏi:
- Anh chơi cái trò gì mà lôi cả bản đồ địa bàn ra vậy?
Tiểu đoàn trưởng cười:
- Tôi đang ngờ rằng cái địa bàn này có vấn đề. Đây anh xem, phía sau lưng chúng ta là hướng Bắc, đúng không? Đặt thế này thì kim dạ quang chỉ đúng hướng Bắc, nhưng xoay lại thế này thì thì kim dạ quang lại chỉ về hướng Tây. Thế là làm sao nhỉ?
Chính trị viên Báo nhấc cái địa bàn lên xoay thử thấy đúng như Vinh nói, anh bèn nhấc lên lật ngửa ra xem, rồi cười bảo:
- Đi đời rồi thật. Ông không nhìn thấy vết thủng này à? Có lẽ có một mảnh đạn nho nhỏ găm vào trong đó rồi.
Tiểu đoàn trưởng vội cầm chiếc địa bàn lên xem lại, rồi gật đầu:
- Thảo nào... Tôi chưa lật lên xem nên không biết nó cũng bị thương lúc nào chẳng rõ. Để tôi tháo ra xem có cái quỉ gì trong đó nào?
Chính trị viên Báo vỗ vai anh bảo:
- Ông cứ từ từ khám bệnh cho nó đi. Rồi trực ở nhà nhé. Tôi xuống C9 xem thế nào. Chiều nay anh em dưới ấy họp rút kinh nghiệm trận đánh, tôi ở lại dự luôn.
Tiểu đoàn trưởng ngạc nhiên hỏi:
- Vậy là anh không về ăn cơm à? Thằng Huy nó vừa xuống suối kiếm được mấy con cá ngon lắm. Trưa nay bọn tôi định làm bát canh chua đấy.
Chính trị viên Báo cười lớn:
- Vậy là tôi không có lộc ăn rồi. Nhưng này, ông xui công vụ dùng thuốc nổ đi đánh cá, trung đoàn trưởng mà biết được thì ăn đòn đấy. Hôm trước ông ấy vừa kỷ luật cả ban chỉ huy đại đội thông tin kia kìa.
Tiểu đoàn trưởng xua tay:
- Tôi đâu có ngu đến nỗi xui lính dùng thuốc nổ đi đánh cá. Chúng nó đánh bằng vỏ cây gì ấy. Đập vỏ cây ra, thả xuống nước, cá dưới suối đớp phải lập tức say đờ ra, nổi bềnh lên, phơi bụng trắng xoá.
- Không khéo ăn cái thứ cá ngộ độc ấy các ông cũng ngỏm củ tỏi luôn đấy. - Chính trị viên nghiêm mặt cảnh báo.
- Chúng nó ăn đầy ra, có thằng nào việc gì đâu - Tiểu đoàn trưởng khoát tay - Thôi, ông sợ thì cứ đi đi, chúng tôi sẽ gánh cả cho. A mà này, anh xuống đó nhớ nhắc Hùng Phong họp xong phải gửi ngay bản kiểm điểm rút kinh nghiệm trận đánh lên đây nhé. Lần này trung đoàn yêu cầu bên cạnh bản báo cáo của tiểu đoàn còn phải gửi kèm theo cả báo cáo của các đại đội đấy.
- Được rồi, tôi sẽ nhắc các cậu ấy. Còn món canh cá, các cậu cứ xơi hết đi, không phải phần tớ đâu.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM