Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:42:51 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những bức tường lửa  (Đọc 116509 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #130 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2012, 11:23:05 am »

PHẦN KẾT
Trong sổ tay của chính uỷ

Trên giá sách của giáo sư kiêm nhà văn Trương Đình Lân, bên cạnh cuốn sách của Thiếu tướng Phạm Xuân Ban còn có một cuốn sổ tay bìa màu xanh, đóng toàn bằng thứ giấy pôluya viết thư của lính. Cuốn sổ dày tới hơn hai trăm trang, đã ghi chép gần hết. Đó là cuốn sổ ghi chép, giống như một thứ nhật ký mặt trận của chính ủy Lương Xuân Báo. Thời gian và mưa nắng đã khiến cho một số trang trong cuốn sổ đã úa vàng, nét chữ phai mờ rất khó đọc. Cái bìa bằng ngôn màu xanh cũng bị giòn và mủn ra. Để bảo quản cuốn sổ quí giá này, giáo sư Lân đã phải đem đi đóng bìa cứng, rồi dày công dùng bút chì bi h mẩn tô lại những nét chữ đã bị mờ. Có thể nói cuốn sổ ghi chép của chính ủy Lương Xuân Báo giống như một khối ký ức đã cô đặc lại, mỗi lần mở ra đọc lại một trang thì giáo sư Lân lại có cảm giác như mình vừa được sống lại với những khoảng khắc, những năm tháng hào hùng, được gặp lại những gương mặt bạn bè đồng chí thân quen, thậm chí có cảm giác như có thể ngửi thấy mùi bom đạn, mùi chết chóc, mùi lương khô, mùi gạo rang, mùi mắm kem cô đặc, mùi ca-la-thầu hay mùi thuốc lọc nước Phăngtôxit... vậy? Và, cũng phải thú nhận rằng, những trang ghi chép của chính ủy Báo đã giúp ông lấy lại được cảm hứng để bắt tay vào việc viết tiếp cuốn tiểu thuyết về chiến tranh mà ông đã bỏ dở từ mấy năm nay. Đôi lúc ông còn cảm thấy tiếc vì Hùng Phong đã đưa cho ông cuốn ghi chép này hơi muộn. Khi đọc kỹ cuốn ghi chép ông mới hiểu vì sao mãi đến tận những ngày đầu năm vừa rồi, tướng Hùng Phong mới quyết định giao cho ông giữ cuốn sổ quí giá này.

Chừng một tháng sau cái đêm giao thừa thiên niên kỷ mà tướng Hùng Phong được xuất hiện trên cầu truyền hình như một trong số những nhân vật nổi bật của thế hệ ra trận chống Mỹ cứu nước, ông bỗng lại tìm đến nhà giáo sư Lân. Sau vài ba câu chuyện, ông rút trong cặp ra một cái hộp sắt tây choáng lộn, loại hộp bánh sô-cô-la, sản phẩm cao cấp của một Hãng bánh kẹo vừa mới liên doanh với nước ngoài, dạo này thường thấy xuất hiện liên tục trên chương trình quảng cáo của đài truyền hình, khiến người ta tin rằng chỉ cần được ăn loại bánh này một lần thì có chết cũng đáng đời lắm rồi! Nhưng nghe nói, giá của mỗi hộp bánh như thế này bằng giá cả một gánh gạo.
- Tôi muốn ông giữ hộ cái này! - Tướng Hùng Phong rụt rè nói.
Giáo sư Lân thận trọng đẩy cái vật khả nghi ấy ra.
- Nhưng... là cái gì mà quí thế?
- Ông mở ra xem khắc biết!
Giáo sư Lân thận trọng mở chiếc hộp ra, bên trong là một cái bọc vai đỏ. Mở tiếp lớp vải đỏ ra, giáo sư Lân ngạc nhiên nhìn thấy cuốn sổ màu xanh trứ danh của chính ủy Lương Xuân Báo.
- Cuốn sổ ghi chép của ông Báo - ông Lân thốt lên - Nghe nói ông Báo có ba cuốn sổ, cuốn đen ghi tên các liệt sĩ, cuốn đỏ ghi công lao, khen thưởng của mọi người, còn cuốn xanh... không ai biết ông ấy ghi chép những gì.
Tướng Hùng Phong nháy mắt cười:
- Ông cứ đọc đi, rồi khắc biết!
Giáo sư Lân tâm sự:
- Hồi còn ở chiến trường anh em trong đơn vị thường đùa tôi vì thấy tôi cũng hay hí húi ghi chép. Họ bảo “Cậu định rắp tâm làm nhà văn mà chỉ có một cuốn sổ thì mèng lắm. Chính trị viên Báo có những ba cuốn sổ kia, mà ngày nào cũng ghi ghi chép chép nhé.
Coi chừng ông ấy thành nhà văn trước cả cậu đấy!”. Trong thời gian còn làm tiểu đội trưởng trinh sát, được ở gần ông ấy, tôi đã có lần tò mò định xem trộm xem ông ấy ghi chép những gì, nhưng đúng như ông nói, tôi cũng chỉ ngó trộm được vào hai cuốn sổ kia thôi. Chứ, cái cuốn sổ này thì... hôm nay tôi mới được mó vào đấy. Mà này, làm sao mà ông lại có được của quí này vậy?

Tướng Hùng Phong bỗng trở nên tư lự:
- Đêm giao thừa vừa rồi, ông có hỏi thăm tôi về chính ủy Báo. Tôi đã kể cho ông nghe về những năm tháng cuối đời buồn bã và cô đơn của ông ấy. Nhưng, tôi vẫn còn giấu ông một chuyện... Đó là chuyện... có một người đàn bà ở trong cái xóm nhỏ ở thành phố Việt Trì, nơi mà ông Báo trở về sống những năm cuối đời đã rất yêu ông ấy. Bà ta là giáo viên cấp 1, và cũng là vợ một liệt sĩ, nhà nằm kề hàng rào với nhà ông Báo. Bà ấy kể rằng, khi trở về, ông Báo sống lặng lẽ như một người ở ẩn. không tham gia công tác gì ở địa phương, cũng không làm thêm việc gì mà chỉ sống bằng tiền lương hưu của mình. Đều đặn, cứ mỗi tuần một lần vào thứ bảy ông ấy lại lên tàu xuôi Hà Nội. Khi đi thì vui vẻ hy vọng, nhưng khi về bao giờ cũng mệt mỏi, rã rời.
Thời gian đầu, bà giáo cứ tưởng ông có vợ con ở Hà Nội, vì chuyện khúc mắc nào đó mà bỏ về đây chăm nom hương khói cho các cụ và sống một mình, cuối tuần thì mới về thăm vợ con. Nhưng rồi, sau một lần ông Báo bị sốt rét tái phát, bà giáo qua lại chăm sóc, mới dần dần được ông Báo kể cho nghe gia cảnh của mình. Thì ra, hàng tuần ông về Hà Nội, là để xem vợ con ông có nhắn nhe gì về không. Trước khi bỏ về Trung Quốc, vợ con ông đã bán hết nhà cửa, tài sản, nhưng ông hy vọng rằng, nếu còn nghĩ tới ông thì thế nào bà Lý Hảo Hảo cũng nhắn tin về qua hàng xóm và bạn bè ở Hà Nội. Nhưng, năm này qua năm khác vẫn bặt vô âm tín. Ông Báo ngày càng tuyệt vọng. Bà giáo rất thương ông, rồi yêu ông lúc nào không biết. Có lần bà đã vượt qua tất cả sự tự trọng của một người đàn bà để thổ lộ nỗi lòng với ông, mong ông từ nay sẽ sống chung với bà, hai người sẽ nương tựa vào nhau mà sống những năm cuối đời. Nhưng dĩ nhiên là ông Báo không chịu rồi. Trước sau ông ấy vẫn cứ nói “Tôi đã có vợ con rồi. Vợ con tôi sớm muộn cũng sẽ trở về tìm tôi thôi”.

Giáo sư Trương Đình Lân lắc đầu thở dài:
- Đúng là ông Báo... ? Không ai có thể lay chuyển được những điều mà ông ấy đã tin đâu. Mà... . cái con bé Hảo “tàu lai” ấy cũng quá thể thật đấy! Ngày xưa học cùng với chúng mình nó cũng lì lợm ra phết rồi! Cậu còn nhớ cái lần nó đánh nhau với con Đào không?
- Nhớ - Tướng Hùng Phong bỗng bật cười - Nhưng là con Đào xông vào xé nó trước đấy chứ. Chỉ vì... tớ nhờ Hảo gà cho mấy chữ trong giờ kiểm tra Trung văn chứ có to tát gì đâu!
-... Và để trả công, trong giờ ra chơi cậu đã khen hai cái lúm đồng tiền của con Hảo là có duyên chứ gì?
- Cũng có chuyện đó... Mà nó có duyên thật đấy chứ. Vì thế nên chính ủy Báo nhà mình mới chết chìm vì hai cái lúm đồng tiền ấy - Tướng Hùng Phong nói vậy rồi bỗng trở nên đăm chiêu - Nhưng suy cho cùng... cũng là lỗi tại tôi cả. Hồi đó, nếu tôi và Thanh không đùa giỡn, giới thiệu con quỉ cái ấy với ông Báo thì có lẽ...
- Thôi không nhắc lại chuyện đó nữa - Giáo sư Lân giục - Ông kể tiếp về cái bà giáo nào đó và cuốn sổ này đi.
- Chuyện về bà giáo với ông Báo nhà ta chỉ có vậy thôi. Dù sao, những ngày cuối đời, ông Báo cũng không phải chết trong cô đơn. Người đàn bà ấy đã chăm nom săn sóc ông cho tới phút cuối cùng, và bây giờ vẫn hương khói và chăm nom phần mộ cho ông ấy.

Vào lần thứ hai tôi ghé về thăm mộ ông Báo, bà giáo đã mời tôi về nhà ngồi chơi rồi mang ra đưa cho tôi cái bọc vải đỏ này rồi nói rằng “Trong những năm tháng sống gần anh Báo tôi chẳng thấy anh ấy có tài sản gì quí giá. Có mấy gian nhà các cụ để lại thì sau khi ông Báo qua đời, thằng cháu con cô em gái anh ấy cũng đã bán đi rồi. Nhưng trong những ngày ốm đau, tôi thường thấy anh ấy không rời cuốn sổ này, thi thoảng lại mang ra đọc. Có lần anh ấy còn đọc cho tôi nghe một vài đoạn. Toàn là chuyện trận mạc cả. Nhưng tôi biết với anh ấy, đó là những năm tháng đẹp nhất. Trước khi mất, anh ấy đưa cho tôi cuốn sổ này và dặn rằng, nếu anh ấy chết thì hãy giữ giùm anh ấy, khi nào các con anh ấy tìm về thì hãy đưa cho chúng. Nhưng tôi nghĩ, có lẽ chúng chẳng về nữa đâu. Và nếu có về thì chắc gì chúng nó đã hiểu được giá trị của những gì mà anh ấy đã viết trong cuốn sổ này. Vì vậy, tôi nghĩ rằng tốt nhất là giao nó lại cho các anh, những người đồng đội của anh ấy. Chắc chắn anh sẽ hiểu và trân trọng những giá trị của nó”... Thế đấy, và mình đã có trong tay cuốn sổ này.
- Vậy sao hôm nay ông lại quyết định trao nó cho tôi?
Tướng Hùng Phong đứng dậy, đi đi lại lại trong phòng, suy nghĩ một lát rồi nói:
- Tôi nói thực, khi đọc lại cuốn sổ này... có nhiều đêm tôi đã không ngủ được. Có những sự việc diễn ra trong chiến tranh mà hồi đó chúng ta không hề chú ý tới hoặc có thể cho qua một cách đơn giản. Nhưng bây giờ đọc lại, bỗng thấy sợ. Chẳng hạn như chuyện... hành quyết thằng T... vì tội đã đầu hàng địch và chỉ điểm cho B52 đánh vào kiềng của trung đoàn. Cái thằng mà sau đó trong trận tập kích đầu mùa mưa vào căn cứ biệt kích ở Động Nóc, chúng ta bắt lại được ấy...
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #131 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2012, 11:23:33 am »

... Giáo sư Trương Đình Lân bỗng rùng mình, ớn lạnh. Chuyện đó làm sao mà ông có thể quên được. Đó là một buổi chiều trời mưa như trút. Tiểu đội trinh sát được lệnh dẫn thằng phản bội đi thi hành bản án. Hắn vốn là trung đội trưởng, trong trận đánh đầu tiên khi sư đoàn lật cánh về hướng Tây đường 9 để chống lại chiến dịch nhảy cóc chiếm điểm cao của địch, hắn đã bị bắt và đã đầu hàng địch. Truyền đơn có ghi những lời xin đầu hàng hèn hạ có chữ ký của hắn đươc máy bay địch rải trắng rừng. Rồi sau đó máy bay B52 ném bom trúng hàng loạt vị trí đóng quân của trung đoàn, khiến vài chục chiến sĩ hy sinh. Mười ngày sau, trong trận tập kích một căn cứ biệt kích địch ở Động Nóc, anh em ta bắt được vài chục tù binh địch, trong đó có hắn...
Tiểu đoàn báo cáo lên trung đoàn, trung đoàn báo cáo lên sư đoàn... rồi nhận được lệnh “Giải tù binh về phía sau. Riêng tên phản bội, xử bắn ngay tại chỗ!”... Tiểu đoàn trưởng Vinh lúc đó còn nằm viện vì bị thương trong trận bom B52 vừa rồi. Hùng Phong vừa được đề bạt lên làm tiểu đoàn phó nhận được lệnh hốt hoảng hỏi lại chính trị viên Lương Xuân Báo “Xử bắn à? Sao cấp trên không đưa về phía sau lập toà án mà xử rồi muốn bắn, muốn giết thế nào chẳng được?”. Chính trị viên Báo lạnh lùng đáp “Đó là mệnh lệnh, phải thi hành thôi. Có lẽ cấp trên muốn an ủi vong linh h ơn ba chục anh em vừa bị bom B52 giết chết đấy. Chính vì nó khai ra vị trí đóng quân của trung đoàn nên mới bị B52 rải thảm”. Hùng Phong đành phải gọi tiểu đội trưởng trinh sát Trương Đình Lân lên giao nhiệm vụ đi thi hành bản án.
Dưới trời mưa như trút. Lân và ba chiến sĩ trinh sát dẫn tên tội đồ xuống một khe suối. Hắn đã rũ ra như một cái xác không hồn nhưng vẫn luôn miệng rên rỉ kêu oan. Lân điên tiết vả cho hắn một bạt tai rồi hét lên:
- Bịt mõm nó lại. Trói vào cái cây kia. Oan khuất cái nỗi gì? Vì mày mà mấy chục anh em mất mạng kia kìa!
Khi tên phản bội đã bị trói chặt vào cây, đội hành quyết đã được lệnh mang súng lên thì anh nuôi trưởng Ngô Xuân Cung hớt hải chạy xuống, người ướt như chuột lột.
- Khoan đã! Khoan đã!
Anh vừa chạy như lao xuống dốc vừa kêu thất thanh. Lân vội hạ lệnh cho anh em hạ súng xuống chờ xem có chuyện gì. Anh nuôi Cung chạy tới, vừa thở, vừa lôi từ trong ngực ra nắm cơm còn bốc khói.
- Phải cho nó ăn đã. Các cậu định biến nó thành ma đói à?
Lân ngớ người ra và chợt nhớ rằng, trong tất cả những cuốn sách mà anh đã đọc, khi nói đến bọn tử tù trước khi bị đưa ra pháp trường đều thấy được hưởng ân huệ ăn bữa cơm cuối cùng. Vậy mà các cấp lãnh đạo chỉ huy không ai nghĩ ra.
- Được rồi... Tôi cho phép. Nhưng phải mau lên! Dềnh dang mãi... khổ tâm lắm!
Anh Cung vội chạy tới lôi miếng giẻ bịt miệng tên tử tội ra rồi đưa nắm cơm lên miệng nó.
- Ăn đi... Rồi mày có chết cũng đừng có oán chúng tao!
Tên tử tội cắn một miếng cơm nhưng lại nhổ ra, phun phì phì rồi gắng sức hét lên:
- Tôi không ăn... Tôi bị oan... ! Tôi bị địch bắt nhưng... không làm chỉ điểm...
Chỉ gắng gượng được có vậy rồi hắn gục đầu xuống, ngất xỉu. Anh Cung hốt hoảng quay lại nói với Lân:
- Nó ngất xỉu rồi. Hay là tạm cởi trói ra, đợi cho nó tỉnh lại đã?
Lân mệt mỏi xua tay:
- Không được. Thôi, cứ để cho đi như thế này có khi lại hơn. Anh về đi cho chúng tôi thi hành nhiệm vụ.
Anh Cung rũ áo thất thểu leo ngược dốc về đơn vị.
Lân ra lệnh cho đội hành quyết nâng súng lên. Ba loạt súng nổ vang hoà với tiếng gió mưa gào thét.
Trên đường về đơn vị, bốn anh em lặng lẽ bước đi, không ai nói với ai câu nào. Tới tận lốí rẽ vào tiểu đoàn, cậu Quân bỗng dừng lại, vừa vuốt nước mưa trên mặt vừa nghẹn ngào hỏi Lân:
- Liệu... Nó có bị oan không anh?
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #132 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2012, 11:24:35 am »

... Câu hỏi đó đến hôm nay lại vang lên trong đầu Lân khi nghe tướng Hùng Phong nhắc lại chuyện đau buồn đó.
- Liệu... nó có bị oan không ông?
Bất giác, giáo sư Lân bật lên tiếng hỏi. Tướng Hùng Phong nhìn ông một vài giây rồi lắc đầu:
- Tội đầu hàng địch thì thành lập... Nhưng tội chỉ điểm thì... không biết!
Giáo sư Trương Đình Lân vỗ nhẹ vào cuốn sổ tay của chính ủy:
- Vậy... ở trong này... ông ấy viết như thế nào?
Tướng Hùng Phong tặc lưỡi:
- Thì... ông ấy cũng để lại một dấu hỏi to tổ bố! Liệu nó có bị oan hay không? Nhưng... ông ấy có viết thêm rằng, thằng ấy mới chỉ vừa được đề bạt từ tiểu đội trưởng lên, là do sau chiến dịch ở khu tứ giác mất quá nhiều cán bộ, phải đôn lên thôi, nhưng thằng này còn non lắm. Nó mới vào chiến trường được hai tháng, đánh vài ba trận nhì nhằng gì đó. Một thằng ú ớ như thế thì làm sao đọc được bản đồ để mà chỉ trúng phóc từng vị trí đóng quân của trung đoàn trong một vùng địa hình phức tạp như vậy?
- Ôi trời - Giáo sư Lân bỗng ngồi phịch xuống ghế kêu lên - Một điều đơn giản thế mà sao mình không nghĩ ra nhỉ? Hồi đó, khi lật cánh về vùng núi cao phía Tây, đến bọn trinh sát có sỏi trong đầu như chúng mình có khi còn chưa xác định được chính xác vị trí trên bản đồ nữa là?
Tướng Hùng Phong đứng dậy, bước tới vỗ nhẹ vào vai giáo sư Lân:
- Thôi, quên chuyện đdó đi. Hãy coi như đó là một trong nhưng điểm còn mờ nhoè của quá khứ. Từ bây giờ tôi giao cuốn sổ này cho ông đấy. Hy vọng ông sẽ tìm thấy ở trong này khối điều có thể viết được thành tiểu thuyết!
- Sao ông không giữ nó? Nó cũng có ích cho ông khi khảo cứu lịch sử chiến tranh cơ mà?
- Tôi không muốn giữ... những thứ mất ngủ này. Vả lại thằng con tôi dạo này nó phá quá. Thường xuyên về lục lọi chôm đồ đem đi cầm để lấy tiền tiêu xài. Tôi sợ lúc nào đó nó vớ được cái hộp này, tưởng có đồ quí đắt tiền nên mang ra khỏi nhà. Đến khi nó biết là trong đó chỉ có một cuốn sổ cũ nát, thì nhất định nó sẽ chửi tôi một chập rồi ném cái thứ vô giá này vào một thùng rác nào đó thì tôi lại thành ra kẻ có tội. Vì thế tôi mới quyết định giao nó cho ông để ông khai thác và giữ gìn, khi nào... con ông Báo tìm về thì ông trao lại cho chúng nó!
Tuy đã giao quyền cho ông một cách rộng rãi như thế nhưng trước khi ra về tướng Hùng Phong vẫn còn dặn quài thêm một câu:
- Nhưng ông Lân này, dẫu sao những nội dung trong cuốn sổ ghi chép này vẫn chỉ được công bố một cách “có chọn lọc” thôi đấy nhé!

Sau khi đọc kỹ cuốn sổ ghi chép của chính ủy Báo, giáo sư Trương Đình Lân đã hiểu vì sao mà tướng Hùng Phong tỏ ra dè dặt và thận trọng đến thế khi trao cuốn sổ này cho ông. Trong cuốn sổ ghi chép này, có không ít trang chính ủy Báo dành để viết về Hùng Phong, đủ cả những chuyện hay, chuyện dở. Trong đó có hai chuyện đáng chú ý và cũng không đến nỗi phải xếp vào diện “công bố hạn chế”.

Chuyện thứ nhất
-
Liên quan đến câu nói từng nổi tiếng một thời như một danh ngôn của Anh hùng quân đội Phạm Hùng Phong.
“Tình yêu lớn nhất, thiêng liêng nhất của tuổi trẻ chúng ta phải là tình yêu Tổ Quốc”.
Đó là một câu trích trong bản báo cáo mà Hùng Phong đã đọc trong Đại hội đại biểu Thanh niên - sinh viên toàn quốc đi đầu trong phong trào thi đua “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” diễn ra tại Thủ đô Hà Nội. Khi những lời này của Anh hùng Quân đội Phạm Hùng Phong vang lên trên diễn đàn thì tiếng vỗ tay đã nổi lên như sấm. Và ngay trong ngày hôm đó nhiều tờ báo lớn đã dùng lời nói này để rút tít cho những bài xã luận quan trọng viết về tinh thần vì nước quên thân của tuổi trẻ hai miền Nam Bắc trên các mặt trận sản xuất và chiến đấu. Một nhạc sĩ nổi tiếng còn lấy cảm hứng từ câu nói lẫy lừng này để sáng tác ra bài hát “Tình yêu lớn của chúng ta”. Bài hát ấy cũng lập tức trở thành bài hát được tuổi trẻ cả nước yêu thích và luôn vang lên ở bất kỳ cuộc hội họp nào của thanh niên trong những ngày cả nước sục sôi quyết tâm đánh Mỹ, thắng Mỹ. Những lời vàng ngọc ấy cũng lập tức biến thành những khẩu hiệu, xuất hiện trên các tờ áp phích, các pannô tuyên truyền cổ động cho những phong trào thi đua yêu nước của thanh niên ở khắp các địa phương trên miền Bắc. Thậm chí, một đơn vị thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn còn khắc cả câu nói nổi tiếng ấy lên vách núi để thể hiện quyết tâm và tình yêu lớn của tuổi trẻ đơn vị mình đối với non sông, đất nước, với con đường “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Trong những lần Hùng Phong cùng đoàn Anh hùng dũng sĩ, đi về các địa phương, các trường học để kể chuyện chiến đấu thì ở đâu cũng thấy Ban tổ chức căng những tấm băng rôn lớn ghi câu nói nổi tiếng của người anh hùng. Và khi Hùng Phong bước lên diễn đàn thì lập tức cả hội trường vang lên tiếng hát bài “Tình yêu lớn của chúng ta”. Những lúc ấy anh cũng cảm thấy toàn thân mình nóng bừng lên rạo rực một “tình yêu lớn”. Và, anh bỗng cảm thấy hình như mình đã là một biểu tượng, một nhân vật lớn của lịch sử, một nhà tư tưởng thông thái đã từng nói ra những lời sâu sắc huyền bí, ma mị như một thứ sấm truyền vậy.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #133 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2012, 11:25:24 am »

Đương nhiên, anh cũng quên béng đi cái xuất xứ có vẻ hơi “trần tục” của những lời vàng ý ngọc ấy. Nhưng chính ủy Lương Xuân Báo đã không quên, trong cuốn sổ ghi chép của anh còn lưu lại những dòng sau đây:

Ngày...
Đêm qua mình phải thức suốt đêm để viết cho xong bài nói của Hùng Phong. Đại hội sắp khai mạc đến nơi rồi mà cậu ấy vẫn mải chơi quá. Chẳng để tâm gì cả. Đã nói, không thể dùng bản báo cáo ở Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua để nói ở Liên hoan thanh niên sinh viên toàn quốc được, tính chất hai đại hội này hoàn toàn khác nhau. Nhưng cậu ấy lại xuề xoà bảo “Ôi dào, đại hội nào mà chả giống đại hội nào”. Không thể được, bài nói này phải mang tinh thần của thanh niên, của tuổi trẻ, phải có âm hưởng hùng tráng tinh thần vì nước quên thân. Cách nói cũng phải khác. Chân thành và cởi mở hơn. Cô Hảo và cô Thanh nói đúng, với thanh niên phải có thêm một chút lãng mạn nữa... Và mình đã quyết định thêm vào đoạn kể về chuyện Hùng Phong phải dùng mưu để đươc đi bộ đội như thế nào. Rồi khi chia tay với các bạn cùng lớp, trước những người bạn gái trong lớp, Hùng Phong đã nói “Các bạn ạ, với tuổi trẻ chúng ta, tình yêu lớn nhất, thiêng liêng nhất là tình yêu Tổ Quốc”. Đúng, phải chốt bằng câu này!...
Ngày...
Cuối cùng, nhờ sự động viên của Thanh và Hảo, cậu ta đã chịu dành thời gian để luyện tập bài nói trên diễn đàn liên hoan thanh niên, sinh viên toàn quốc. Cũng may, cậu ta cũng sáng dạ, nên học khá nhanh. Nói cũng tạm được. Nhưng khi đến đoạn phải nói cái câu “Các bạn ạ, với tuổi trẻ chúng ta tình yêu lớn nhất, thiêng liêng nhất là tình yêu Tổ Quốc, thì cậu ta bỗng nhăn mặt lại như nhai phải hạt sạn rồi kêu “Không ổn rồi, ông Báo ơi. Nghe cải lương quá đi mất”. “Cải lương là thế nào, nhất định cậu phải nói câu ấy. Tôi cam đoan rằng nó sẽ có tác động rất lớn đến người nghe”. Cậu ta lắc đầu quầy quậy “Không thể được. Thời là học trò, tôi là một thằng tài tử, đại lãn, có bao giờ nói được một câu cho ra hồn. Bịa thì cũng phải vừa vừa thôi chứ. Tôi mà nói ra những lời màu mè, diêu cua thế này bọn thằng Côn, thằng Lân và những thằng cùng học với tôi ngày ấy, nó lại không cười cho thối mũi ra à? Không chừng, lại phản tác dụng là đằng khác”. Mình hiểu Hùng Phong cũng có cái khó. Nhất là khi còn phải đối diện với những người bạn cùng lớp này còn đang chiến đấu bên nhau trong một đơn vị. “Thôi được rồi, nếu... nói trước các bạn nữ sinh cùng lớp mà cậu cho là không được thì ta coi như cậu nói câu đó trong một lần giao lưu với thanh niên địa phương nơi đóng quân nào đó là được chứ gì? Có phải lúc nào bọn thằng Côn, thằng Lân cũng có mặt ở... những cuộc giao lưu như thế đâu?”. Hùng Phong suy nghĩ một lát rồi nhăn nhó hỏi lại “Nhưng... thủ trưởng cho rằng tôi... nhất thiết phải nói câu ấy à?”. “Nhất thiết - mình nghiêm giọng - Cậu tin mình đi. Mình là dân làm công tác chính trị có nghề, mình biết loại công chúng nào muốn nghe cái gì chứ?”.
Thế là Hùng Phong đành phải hàng phục. Cậu ta nghĩ ra một tình huống khác, trong đó, cái câu chốt kia đã được nói ra một cách hoàn toàn tự nhiên. Phải công nhận, cậu này cũng thông minh và láu cá thật!...


Khi đọc đến đây, giáo sư kiêm nhà văn Trương Đình Lân liền vỗ đùi đánh đét một cái rồi thốt lên:
- Ôi cha… ! Cái lão Báo này đúng là... thánh thật! Vậy mà bấy nhiêu năm nay, mình vẫn cứ tin rằng thằng Ban không chỉ lập công trên chiến trường, mà chỉ với một lời nói, nó đã góp phần khích lệ tinh thần yêu nước của cả một thế hệ! Ai ngờ... đó cũng lại là tác phẩm của chính ủy Lương Xuân Báo?

Hồi ấy, chính ông cũng đã viết một bài rất hay gửi ra cho một tờ báo lớn ở Hà Nội, tham gia cuộc thảo luận về chủ đề “Tình yêu lớn” này. Ông đã viết một cách xúc động và chân thành. Khi bài của ông được đọc trên đài Tiếng nói Việt Nam, ông đã khóc vì sung sướng và tự hào. Bây giờ, dẫu biết Hùng Phong không phải là tác giả đích thực của câu nói ấy, nhưng ông cũng không cho rằng đó là những lời giả dối. Vì, suy cho cùng, cái “tình yêu lớn” ấy là có thực, là một nét tiêu biểu, sâu đậm trong diện mạo tinh thần của thệ trẻ Việt Nam trong những năm tháng quyết liệt và hào hùng ấy. Sau tất cả mọi điều, một lần nữa, xin cám ơn chính uỷ!
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #134 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2012, 11:27:15 am »

Chuyện thứ hai

Trong cuốn sổ ghi chép của chính ủy hoá ra không chỉ có những điều liên quan đến chiến trường, đến những những chiến công, đến công tác Đảng đến việc xây dựng con người điển hình, mà còn có cả chuyện trai gái nữa. Có lẽ, đây chính là những trang ghi chép mà tướng Hùng Phong không thích nhất.

... Hùng Phong quyết định sẽ cưới vợ trước khi vào Học viện dự một khoá đào tạo ngắn hạn... Cậu ta yêu cầu mình nán lại Hà Nội vài ngày để làm chủ hôn cho cậu ta rồi hãy vào đơn vị. Mình tò mò hỏi “Cưới vợ à? Sao nhanh vậy. Tớ chẳng thấy cô Thanh nói gì với cô Hảo cả”. “Nhưng... em có cưới Thanh đâu?”. Mình ngạc nhiên quá, rõ ràng nó vớí Thanh yêu nhau cơ mà “Vậy thì... cậu... cưới ai? Hay ông chủ tịch huyện nhà cậu lại dở trò ép hôn? Cậu ta lắc đầu cười “Ông chủ tịch huyện cũng chưa biết gì cả”. “Vậy... thì cậu lấy ai mới được chứ?”. “Cậu ta ghé vào tai mình nói nhỏ “Em cưới con gái một ông tướng ở Tổng cục Chính trị”.
Thật ngạc nhiên hết chỗ nói. Dường như biết mình không hài lòng, cậu ta vội giải thích “Hồi trung đoàn mình Tổng kết chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, vị thủ trưởng ấy có vào. Nghe em báo cáo thành tích, Ông ấy rất mê, liền cho gọi tới nói chuyện vài ba lần. Có lần, ông ấy buột miệng hỏi “Vậy là... cậu vẫn chưa có vợ nhỉ!”. “Vâng... em vẫn còn trẻ mà”. Ông ấy gật đầu cười “Phải, còn trẻ lắm. Tương lai của cậu rất... sáng lạn. Khi nào ra Hà Nội ghé vào nhà mình chơi. Mình cũng có hai cô con gái đấy, nếu cậu thích thì mình gả cho một đứa?”. Lúc đó, em cũng chỉ cười mà nói đại rằng “Vâng... nếu được làm con rể thủ trưởng thì phúc cho em quá”. Ai ngờ, vừa rồi cùng đoàn dũng sĩ của sư đoàn vừa ra tới đây, vị thủ trưởng ấy đã cho một anh trợ lý tới mời em đến nhà chơi thật. “Mình nhớ rồi. Có phải, cái hôm có xe con đến tận trạm khách đón cậu”. “Vâng, đúng đấy... Em đến nhà ăn cơm với gia đình thủ trưởng. Gặp Hoan, thế rồi... em đồng ý lấy cô ấy làm vợ”. Mình sửng sót nhìn cậu ta và quả thực không hiểu vì sao cậu ta lại có một quyết định nông nổi như vậy “Vậy thì... tại sao cậu lại còn yêu cô Thanh?”. Hùng Phong thở dài “Em yêu cô ấy từ hồi còn đi học. Nhưng hồi đó cô ấy có thèm để mắt tới em đâu. Bây giờ, dường như thấy em cũng nên người nên cô ấy mới quay lại. Nhưng cô ấy đã chậm chân mất rồi. Em đã nhận lời lấy người ta, biết làm thế nào?”. Mình thuyết phục “Nếu cậu không muốn lấy cái cô con gái ông tướng ấy thì có thể nói thẳng ra. Ông ấy sẽ thông cảm thôi. Chứ cưới xin vội vàng thế, sa u này cậu sẽ hối hận đấy”. Hùng Phong cười, nói nửa đùa nửa thật “Nhưng... em cũng muốn thử làm con rể một ông tướng xem sao?”. Mình giận lắm, không nói gì thêm nữa. Tối đó Hảo đến, minh hỏi “Em đã biết chuyện Hùng Phong sắp lấy vợ chưa?”. “Biết rồi, em cũng đang định hỏi anh đây? Vì sao bộ đội các anh lại kỳ cục thế, yêu một người lại đi cưới một người?”. “Cô Thanh cũng biết chuyện này rồi à?”. “Đừng nói đến nó nữa, em đang tức điên lên đây. Ai đời, biết người yêu sắp đi lấy người khác mà nó vẫn vui hơn hớn. Lại còn nói, mình chậm chân hơn, được anh ấy yêu là hạnh phúc lắm rồi. Mình không muốn ngăn trở con đường tiến bộ của anh ấy. Phải là em á... Em sẽ làm cho tanh bành lên! Anh hùng thì đã có gì ghê gớm nào?”. “Thôi nào... Người ta là người trong cuộc, người ta tự biết phải làm gì chứ”. Hảo bỗng dưng ôm chầm lấy anh “Còn anh nữa... Em sẽ không tha cho anh nếu anh bội bạc em đâu nhé”... Anh sẽ luôn trung thành với em... như trung thành với Đảng vậy!”. Hảo bỗng ngước nhìn mình, nũng nịu “Anh Báo... Em cũng đang định bàn với anh đây. Hay... nhân dịp này chúng mình cũng... cưới luôn đi!”. Mình vội xua tay “Chưa được, nếu muốn cưới, anh cũng phải mang lý lịch của em vào để báo cáo Đảng ủy trung đoàn hẳn hoi đã. Anh đang là Chủ nhiệm chính trị, Đảng ủy viên, không thể hành động tuỳ tiện được”.
Hảo bỗng xịu mặt xuống “Vậy là... anh không yêu em? Hay... cũng muốn tìm một cô tiểu thư con một ông tướng nào đó?”. Mình chỉ biết ôm chặt cô ấy vào lòng mà nói “Không bao giờ... Anh không đánh đổi tình yêu của em để lấy bát cứ thứ gì, dù để được làm tướng chăng nữa! Nhất định chúng mình sẽ phải là của nhau!”...
... Hai ngày sau, chính ủy Lương Xuân Báo lặng lẽ khoác ba lô lên đường vào đơn vị, cương quyết không chịu nán lại dự buổi hôn lễ rất lộng lẫy hoành tráng của anh hùng quân đội Phạm Hùng Phong. Nhưng, một tháng sau anh lại trở ra Hà Nội. Đảng ủy trung đoàn đã đồng ý cho anh lấy Hảo làm vợ và cho anh nghỉ phép mười ngày để tiến hành hôn lễ.
Trong cuốn sổ ghi chép của anh chỉ có rất ít dòng viết cái ngày hạnh phúc đó:
... Mình không ngờ gia đình nhà Hảo lại chuẩn bị đám cưới cho bọn mình chu đáo đến thế. Mình cảm thấy xấu hổ vì điều đó. Gia đình nhà mình chỉ có em gái, em rể và một vài người tới dự. Mẹ ơi, sao mẹ không gắng sống tới ngày hôm nay. Con thật có lỗi với mẹ!
Vợ chồng Hùng Phong cũng tới dự và tặng quà.
Thanh là phù dâu, cô ấy mặc áo dài và trang điểm thật lộng lẫy. Lại còn vui vẻ đến chào và chúc mừng hạnh phúc của vợ chồng Hùng Phong nữa. Không thấy có một chút biểu lộ sự đau khổ sầu muộn của một cô gái thất tình. Hảo kể rằng hình như dạo này cô ấy còn rất vui vẻ hạnh phúc nữa. Đàn bà, thật không biết đường nào mà lần!
Đêm đầu tiên có vợ... Thật là tuyệt vời. Chợt nhớ lại câu chuyện tiếu lâm của lính về một người đàn ông đã năm mươi tuổi mới cướí được vợ. Sau đêm động phòng, ông ta chạy ra khỏi nhà ôm mặt khóc hu hu. Có ông hàng xóm đi qua liền cười hỏi “Đã biết là ngu rồi phải không? Ông ta gật đầu thành thật “Tôi khóc vì tiếc đời quá, sao đến tận hôm nay mình mới lấy vợ?”. Ông hàng xóm liền thở dài mà rằng “Lão này hấp lìm rồi! Lão ta vừa ném bỏ năm mươi năm hạnh phúc mà không biết. Còn lâu mới biết là mình ngu, con nhé!”...


Đọc tới đây giáo sư Lân cũng phải bật cười. Không ngờ cái ông chính ủy bên ngoài trông thì khô khan mà lại hóm thế không biết!
Lật qua chừng mươi trang nữa, giao sư Lân bỗng đọc được những dòng mà ông đau buồn nhất. Đó là những dòng ghi chép vào năm bảy mươi hai, trong phần Chiến trường Tây Nguyên khi đó ông Báo đã là chính ủy trung đoàn, còn Hùng Phong đang là trung đoàn phó.

Lần đầu tiên nhận đươc thư của Hảo kể từ ngày vào Tây Nguyên đến giờ. Mừng không kể xiết. Mừng nhất là Hảo báo tin nàng đã sinh được cho mình một thằng con trai và đặt tên là Lương Xuân Phong, đúng như mình và nàng đã dự kiến trước lúc chia tay. Điều mừng thứ hai là tuy bụng mang dạ chửa nhưng nàng vẫn hoàn thành tốt chương trình đại học năm cuối cùng và đã tốt nghiệp vào loại giỏi. Nhưng... trong thư Hảo còn kể thêm một chuyện nữa khiến mình vô cùng tức giận... “Còn một tin nữa, em cũng không biết có nên coi là tin mừng hay không? Ấy là việc, cái Thanh nó cũng... đã sinh con trai. Không nói ra thì anh cũng thừa biết đó là con của ai rồi. Có điều lạ là cái Thanh lại rất mừng vui hạnh phúc vì điều đó mặc dù nó đã phải trả giá. Nó bị đuổi học vào năm cuối và sau khi sinh con thì ông bố đang công tác ở Pháp liền vội vã đưa cả hai mẹ con qua bên ấy. Có lẽ là để tránh tai tiếng cho gia đình.
Hôm nó đi, em cũng đến chia tay, định an ủi nó vài câu ai ngờ nó lại còn động viên em “Tao đi rồi mày đừng buồn, Hảo nhé. Còn tao, chẳng có gì ân hận đâu. Tao đã có thằng Bảo, thế là đủ. Nếu mày có viết thư cho ông Báo thì chớ có bép xép điều gì kẻo ông ấy lại hành anh Ban thì khổ cho anh ấy!” - Anh xem, con bé nó có điên dại hay không? Em kể với anh chuyện này, nhưng anh không được làm gì anh Hùng Phong đâu đấy. Em đã hứa với cái Thanh là sẽ giữ im lặng. Nhưng với anh, em làm sao mà có thể im lặng được?... “. Đọc đến đây, mình nổi điên lên chỉ muốn lập tức chạy đi tìm Hùng Phong rồi cho hắn mấy cái bạt tai. Sau đó khi đã kiềm chế được cơn giận thì trong lòng mình lại dâng lên một nỗi buồn khôn tả. Chẳng lẽ, bấy lâu nay mình đã nhầm lẫn về một con người. Bây giờ phải làm sao đây? Chẳng lẽ lại dấu tổ chức, dấu Đảng một chuyện tày trời liên quan đến nhân cách một con người, một cán bộ chỉ huy. Tính Đảng không cho phép mình im lặng. Nhưng... làm như vậy thì Hùng Phong coi như bỏ đi. Đảng và quân đội cũng sẽ mất một người chỉ huy tài ba, dũng cảm? Mình phải làm sao đây để vẹn cả đôi đường!


Sau đó là một khoảng dài đến nửa tháng trời chính ủy Báo không ghi một dòng nào vào cuốn sổ ghi chép của mình. Có lẽ đó là những ngày ông rất đau khổ dằn vặt vì không biết phải làm như thế nào cho đúng?
Rồi cuối cùng, ông đã làm như thế này:
... Không thể chịu đựng thêm được nữa, hôm nay mình quyết định phải giải quyết cho xong “việc ấy”. Mình gọi Hùng Phong lên lán của mình, đuổi cậu công vụ ra ngoài rồi đưa cho Hùng Phong lá thư của Hảo và lạnh lùng bảo “Cậu đọc đi”. Cậu ta đọc xong, nghệt mặt ra một lúc rồi buột ra những lời ngu ngốc “Như vậy mà... cũng có con thì lạ nhỉ? Chúng tôi chỉ... ngủ với nhau có vài lần thôi mà. Hay là cô ấy thù tôi nên... Mình giận quá chồm ngay tới, dang tay tát một cái thật lực vào mặt hắn rồi gầm lên “Mày là một thằng khốn nạn, một thằng đểu, nghe chưa?”.

Đúng lắm. Hắn là một thằng đểu. Giáo sư Lân cũng cảm thấy hả hê khi đọc đến những dòng này. Vậy là chính ủy Báo đã làm hộ ông cái điều mà đáng ra ông phải làm nhưng lại không dám làm, nói hộ ông cái điều đáng ra ông phải nói nhưng đã không dám nói. Nhưng dù có vậy thôi, trong cuốn sổ ghi chép của chính ủy từ đó về sau không thấy có một chữ nào về chuyện này nữa.

Nhưng ông cũng đã im lặng, không báo cáo chuyện này với tổ chức Đảng. Đây là lần đầu tiên trong đời người chiến sĩ cộng sản, chính ủy Lương Xuân Báo vi phạm những nguyên tắc sống mà mình đã tôn thờ.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #135 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2012, 11:28:45 am »

Cuối cùng thì giáo sư kiêm nhà văn Trương Đình Lân cũng tìm được những dòng liên quan đến cuộc đời và số phận mình trong cuốn sổ tay của chính uỷ.
Ông đã thực sự xúc động về điều đó.
Thì ra, trong suốt một thời gian dài, chính trị viên tiểu đoàn Lương Xuân Báo đã băn khoăn, trăn trở về việc chưa thể kết nạp được tiểu đội trưởng trinh sát Trương Đình Lân vào Đảng. Lần thứ nhất, anh bị hoãn kết nạp Đảng là vào đầu năm 1968. Việc trì hoãn ấy bề ngoài thì là vì anh là người phải chịu trách nhiệm về việc đào ngũ của quân nhân Nguyễn Hữu Vững, chiến sĩ trong tiểu đội trinh sát và lại là người cùng làng với anh. Còn lý do thực, bây giờ, đọc trong cuốn sổ ghi chép của chính ủy anh mới biết...

“Ngày... xuống tiểu đội trinh sát kiểm điểm việc cậu Vững đào ngũ. Một thằng hèn nhát đào ngũ thì có hàng vạn lý do, nhưng dù sao vẫn phải kiểm điểm thật sâu sắc để rút kinh nghiệm về việc giáo dục và quản lý con người. Những bất ngờ về con người là điều mà những người làm công tác chính trị như mình học tập được nhiều nhất!
Tội nghiệp cho cậu Lân đã phải gánh trách nhiệm về việc này. Nhưng... thật là tệ hại khi sự kiện này lại khiến mình thở phào vì có được một lý do dễ chấp nhận nhất để trì hoãn việc kết nạp Đảng cho cậu ấy.
Thực ra, quá trình rèn luyện, phấn đấu của Trương Đình Lân cũng đã chín muồi. Cậu ấy hoàn toàn xứng đáng được đứng trong hàng ngũ Đảng cho dù có phải gánh thêm trách nhiệm về vụ cậu Vững đào ngũ đi chăng nữa. Mình cho rằng, nếu được bồi dưỡng, Trương Đình Lân có đủ khả năng để trở thành một cán bộ chính trị vững vàng trong tương lai không xa. Cậu ấy có trình độ văn hoá cao, đọc nhiều, viết rất tốt, lại có sự hiểu biết sâu sắc về tâm lý, tình cảm của con người.
Nhưng rất tiếc rằng lý lịch của cậu ta lại có vấn đề. Gia đình từng bị quy là địa chủ. Ông bố đã từng là công chức của chế độ cũ. Với một lý lịch như vậy. Đảng ủy cấp trên không thể thông qua việc kết nạp nếu không được điều tra kỹ càng, có sự xác nhận của Đảng bộ địa phương rằng gia đình tuy là địa chủ nhưng không có nợ máu với nhân dân và có công với kháng chiến. Bố tuy có làm công chức cho chế độ cũ nhưng không gây tội ác, không tham gia các tổ chức phản động, không chống phá cách mạng. Một xác nhận như thế thì lúc này đơn vị chưa thể cử người về hậu phương mà làm được. Vì vậy cậu Lân đành phải chịu thiệt thòi thôi...
Thật nực cười khi việc một chiến sĩ trong tiểu đội cậu ta đào ngũ lại là cái cớ thích hợp để những người làm công tác Đảng, công tác chính trị như mình cảm thấy bớt day dứt, áy náy trước những thiệt thòi về quyền lợi chính trị của một người cán bộ tốt như Lân?...
- Ông ấy đã rất thành thật khi viết ra điều này!
Giáo sư Trương Đình Lân đã nghẹn ngào thốt lên như vậy khi đọc được những dòng này. Ông cay đắng nhớ lại những nỗi buồn phiền, tủi hổ của mình khi cứ liên tục bị bạn bè bỏ lại phía sau mặc dù hồi đó, ông luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình và được Ban chỉ huy tiểu đoàn và các chiến sĩ rất tín nhiệm. Giá như hồi đó, chính trị viên Báo nói cho anh biết lý do sâu xa này thì có lẽ anh cũng không tủi thân nhiều đến thế!
Trong cuốn ghi chép, còn có vài ba lần ông Báo nhắc đến điều này với những băn khoăn day dứt thực sự. Ông đã từng muốn đưa anh xuống đại đội làm trung đội trưởng từ rất sớm nhưng không được. Cuối cùng thì không ngờ chính ông lại là người về tận quê hương của Lân để tìm cách có được bản xác minh lý lịch có lợi cho quá trình tiến thân của anh sau này.
Việc đó diễn ra vào năm 1971, khi ông đã lên làm Chủ nhiệm chính trị trung đoàn và được sư đoàn giao cho nhiệm vụ dẫn đoàn anh hùng dũng sĩ của sư đoàn ra Hà Nội dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc, sau đó còn lưu lại tham gia nhiều sự kiện chính trị khác ở hậu phương. Mặc dù vừa phải quản lý đoàn, phải giúp anh em hoàn thiện báo cáo điển hình, học cách diễn thuyết... Rồi lại còn rơi vào chuyện yêu đương với Lý Hảo Hảo, nhưng chính ủy Lương Xuân Báo vẫn bố trí được thời gian để về quê anh làm nhiệm vụ của một cán bộ Đảng.
May mắn thay, trong cuốn sổ ghi chép của mình ông cũng đã ghi lại một đoạn về sự việc này.
... Thế là mình cũng thu xếp được hai ngày về quê Trương Đình Lân để làm cái việc xác minh lý lịch cho cậu ấy. Thực ra, việc này đã nằm ngoài thẩm quyền của mình, vì bây giờ mình đâu còn là Bí thư Đảng ủy tiểu đoàn nữa? Nhưng trước khi ra Hà Nội, biết rằng đây là một cơ hội tốt để giải quyết việc mắc mớ này cho cậu Lân, mình đã xin phép chính ủy trung đoàn rồi xuống tiểu đoàn 7 xin Đảng ủy tiểu đoàn ủy nhiệm cho mình đi làm việc này, chỉ khi nào hoàn thành xong việc này lương tâm mình mới được thanh thản.
Vì biết rằng bố của Hùng Phong hiện nằm trong thường vụ huyện uỷ, chủ tịch huyện, nên mình nghĩ rằng rất thuận lợi, nếu được ông ấy giúp đỡ. Vì thế trước khi đi mình đã nói cho Hùng Phong biết rồi yêu cầu cậu ấy viết vài dòng giới thiệu với ông bố Chủ tịch huyện để nhờ ông ấy giúp đỡ. Ai ngờ, nghe xong Hùng Phong nhăn nhó nói “Nếu thủ trưởng muốn việc của thằng Lân xuôi chèo mát mái thì... chớ có dây vào với ông chủ tịch huyện nhà tôi. Mình ngạc nhiên hỏi lại “Sao thế?”. Hùng Phong cười nhạt “Cũng là những vấn đề do lịch sử để lại mà thôi. Nhưng tốt nhất anh cứ về xã độc lập mà hành động thì tốt hơn”. Mình lấy làm lạ, hình như bố con nhà này có chuyện mắc mớ gì thì phải, được ra Hà Nội công tác, nhưng từ hôm đó tới nay Hùng Phong mới chỉ xin ghé thăm nhà có một lần, mà về buổi sáng thì buổi chiều lại có mặt tại Trạm 66 ngay? Cứ nghĩ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trắc trở khi về làm việc ở xã Vân Hương, nhưng hoá ra mọi việc đều vô cùng thuận lợi. Hóa ra ở làng ở xã ai cũng biết tới gia đình cụ cử Hạt và đều cho rằng đó là một gia đình có nề nếp, gia giáo. Tuy cụ cử đã mất, nhưng trong trí nhớ của dân làng cụ vẫn là một người rất đáng kính trọng. Nhiều cán bộ, Đảng viên trong xã tự nhận từng là học trò của cụ. Người ta cũng quên chuyện gia đình cụ cử bị qui địa chủ từ lâu rồi. Còn ông Trương Đình Tụng bố của Trương Đình Lân thì hóa ra, trong thời Pháp chỉ là một nhân viên kế toán của tòa thị chính Sơn Tây chứ có làm vương làm tướng gì? Hiện thời ông cũng đươc tín nhiệm giao nhiệm vụ làm kế toán cho Hợp tác xã mua bán của xã!
Hoá ra quan liêu chính là thế này đây, nếu đơn vị chịu cử người về làm việc với địa phương sớm hơn thì có lẽ số phận của Trương Đình Lân bây giờ đã khác.
Chỉ một buổi chiều mình đã hoàn thành bản xác minh lý lịch cho Trương Đình Lân. Còn thời gian, mình quyết định ra ủy ban huyện gặp ông Phạm Xuân Biên một lần xem sao? Chẳng gì, mình cũng là thủ trưởng của Hùng Phong kia mà. Nhưng ấn tượng về cuộc gặp gỡ này chẳng ra làm sao! Ông ta rất khách khí, quan dạng, mặc dù cũng rất tư hào về ông con anh hùng.
Nhưng điều bất ngờ nhất là... khi mình đang ngồi nói chuyện với ông chủ tịch thì một người xuất hiện, đó là một anh thư ký của ủy ban mang giấy tờ gì đó tới xin chữ kí của ông chủ tịch. Mình đã sững sờ khi anh ta bước vào - Đó chính là thằng Vững! Nhưng hình như hắn chưa kịp nhận ra mình. Thấy chủ tịch đang có khách, anh ta vội lui lại, cúi chào, lễ phép nói “Tôi xin lỗi” rồi lùi dần ra, khép cửa lại.
- Anh ta là... ? - Mình rụt rè hỏi.
- Đó là cậu Vững, chánh văn phòng. Cánh tay phải của tôi đấy - Ông chủ tịch hào hứng nói - Cậu ta vừa đi học trường Đảng tỉnh về. Năng nổ, tháo vát và... rất trung thành. Đặc biệt là trung thành!
Mình đã định kêu lên “Ông dùng nhầm người rồi. Đó là một thằng đào ngũ!... nhưng không hiểu sao lại ghìm lại được. Có lẽ vì ánh mắt và giọng nói rất đặc biệt của ông chủ tịch khi ông thốt ra cái câu “Đặc biệt là trung thành!” để nói về thuộc hạ của mình.
Mình lặng lẽ đứng dậy, xin phép ra về. Sau đó mình cũng không kể với Hùng Phong về chuyến viếng thăm và cuộc gặp gỡ đặc biệt này...


- Trời ơi... Thì ra ông ấy cũng đã biết về thằng Vững. Vậy mà... ông ấy đã im lặng? Điều này chẳng giống ông Báo một tẹo nào cả!
Giáo sư Trường Đình Lân giận dữ quẳng cuốn sổ xuống bàn. Ước gì bây giờ ông Báo còn sống thì ông sẽ lập tức tới tìm ông ấy mà nói rằng - Thưa chính uỷ, ông đã từng làm được nhiều việc rất tốt. Ông cũng là một người rất dũng cảm, nhưng trong việc này thì ông đã là một kẻ thoả hiệp hèn nhát. Sao hồi ấy ông không vạch mặt cái thằng khốn nạn ấy ra, ông hoàn toàn có đủ khả năng và quyền hạn để làm điều ấy kia mà? Nhưng ông đã lặng lẽ quay đi, để mặc cho một kẻ hèn nhát, cơ hội, quay lưng lại với đồng đội trong những tháng ngày nước sôi lửa bỏng ấy nhởn nhơ đi lại giữa nơi tôn nghiêm của nhà nước rồi luồn lách, nịnh bợ dối trá để mà thăng quan tiến chức, mưu cầu danh lợi cho riêng mình. Ông có biết bây giờ nó đã có được một chân trong thường vụ tỉnh ủy rồi không? Nhưng ông yên tâm đi, ông đã ra đi rồi, nhưng tôi và nhiều đồng đội của chúng ta vẫn còn sống. Chúng tôi không bao giờ từ bỏ cuộc đấu tranh của mình. Nhất định, một ngày nào đó, bộ mặt thật của những thằng hèn nhát, cơ hội như nó sẽ bị phơi bày ra sánh sáng.

Thưa chính uỷ! Những dòng cuối cùng trong cuốn ghi chép của mình ông đã thốt lên đau đớn… “Nhờ trời, hôm nay đài báo tin kẻ thù đã phải rút chạy khỏi các tỉnh biên giới nước ta. Tổ quốc thêm một lần chiến thắng. Nhưng trong cuộc chiến tranh kỳ cục này, tôi là một trong những người thua cuộc - Nước không mất nhưng nhà đã tan! Tuy vậy, tôi vẫn còn giữ được một thứ vô cùng quí giá, đó là niềm tin. Nếu không còn niềm tin sẽ không còn khả năng chiến thắng trong bất kỳ cuộc đấu tranh nào, kể cả trong cuộc đấu tranh để giữ gìn nhân phẩm của chính mình”.


Thưa chính uỷ! Ông cũng đã từng nói với chúng tôi rằng, cuộc chiến đấu với kẻ thù trên chiến trường dù ác liệt và gian khổ hiểm nguy đến mấy thì cũng sẽ có lúc chấm dứt, nhưng cuộc chiến đấu giữa cái thiện và cái ác, cái xấu và cái tốt vì sự hoàn thiện của con người thì sẽ chẳng bao giờ có hồi kết đó sao?
Điều mà ông gọi là “niềm tin” thì vẫn còn đấy, nhưng rồi sẽ đến lúc con người lại phải đặt ra một câu hỏi lớn hơn “Người ta phải tin vào cái gì đây?”. Có lẽ, đến lúc ấy thế hệ mai sau sẽ lại cần đến những con người như ông, thưa chính uỷ!


Hà Nội - Tháng Tư năm 2004

HẾT.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM