Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:08:24 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Pháo binh và Tên lửa (phần 3)  (Đọc 105048 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #50 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2011, 11:24:23 pm »

Đối với tên lửa, như một vũ khí tác chiến, sự yêu cầu lớn nhất là thời gian duy trì sẵn sàng chiến đấu trong trạng thái trực chiến số 1 và thời gian chuẩn bị trước khi phóng thấp nhất. Sự quyết định những nhiệm vụ này đã được đơn giản hóa khi duy trì tên lửa trong thời gian dài trong trạng thái nạp nhiên liệu, tuy nhiên, với tên lửa ô xy, việc này trên thực tế không thực hiện được. Cần phải bảo đảm rằng việc nạp nhiên liệu cho tên lửa R-9A không được vượt quá thời gian chuẩn bị sẵn sàng chung của tên lửa. Vì vậy, sự cần thiết duy trì tên lửa lâu đài trong trạng thái nạp đầy nhiên liệu đã bị loại bỏ. Trong Mệnh lệnh của Chính phủ Liên Xô về thiết kế tên lửa R-9A từ ngày 30 tháng 5 năm 1960 đặc biệt nhấn mạnh rằng trong chất ô xy hóa phải tiếp nhận ô xy siêu lạnh. Người đầu tiên đề xuất ý tưởng về sử dụng ô xy lỏng siêu lạnh là V.P.Mishin. Nếu thay cho -183 độ tới điểm số của ô xy, làm giảm nhiệt độ đến -200 và âm 210, thì đầu tiên, nó sẽ đông lạnh ít hơn về thể tích, thứ hai, sẽ giảm sự bốc hơi mạnh hơn, thứ ba – có thể sẽ thực hiện được việc nạp nhiên liệu nhanh (ô xy sẽ bay tới thùng ấm, không bôc hơn như vẫn xảy ra). Việc này cho phép bảo đảm sự bảo quản ô xy trong bể chứa trên mặt đất và nạp nó vào tên lửa trên thực tế không mất thời gian, không làm tăng thêm thời gian chuẩn bị các thiết bị của hệ thống điều khiển khi chuẩn bị phóng (“sự giới hạn” chính là thời gian chuẩn bị các thiết bị con quay hồi chuyển). Quyết định lựa chọn là chính xác hoàn toàn và tính đúng đắn của nó được khẳng định theo thời gian – trong các tên lửa Liên Xô sau đó (trong đó có cả “vua tên lửa – mặt trăng” N-11/11A52 và tên lửa đẩy hạng nặng tổng hợp “Energia”/11K25) được tiếp nhận thành phần nhiên liệu siêu lạnh. Thời gian duy trì tên lửa R-9A trong trạng thái nạp nhiên liệu là 24 giờ, nhưng tên lửa có thể để trong trạng thái trực chiến mà không nạp các thành phần nhiên liệu tên lửa. Toàn bộ hệ thống và thiết bị của tên lửa R-9A có thể bảo đảm sự sẵn sàng chiến đấu cấp 1 trong thời gian 1 năm trong điều kiện thực hiện các cuộc kiểm tra định kỳ (không tháo khỏi bệ phóng).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #51 vào lúc: 30 Tháng Giêng, 2011, 06:17:55 pm »

Trong bản thiết kế sơ bộ đã dự kiến năm sơ đồ mạch cơ bản của tên lửa, bảo đảm các tính năng một cách tối đa trong các khả năng đơn giản hóa, cơ động và thiết kế khối lượng thấp nhất. Việc này đã đạt được bằng cách tiếp nhận hàng loạt các giải pháp về bố cục – thiết kế, ví dụ như bằng sự tiếp nhận các thùng mở để dành cho bản lề của tầng thứ nhất, tiếp nhận thùng tháo của buồng đuôi trong tầng thứ hai, sử dụng cặp bơm tăng áp chất đốt của tầng thứ ha để tách đầu đạn….Các kích thước của tên lửa đã được lựa chọn từ khả năng vận chuyển nó trong trạng thái đã được rắp ráp trên một to axe lửa và sử dụng thiết bị hàn – rèn của tên lửa R-7 để sản xuất các khối của tên lửa -9A.

Sự thiết kế tên lửa R-9A được bắt đầu ở Phòng Thiết kế - thí nghiệm số 1 dưới sự lãnh đạo của S.Korolev sau khi nhận Mệnh lệnh của Chính phủ từ ngày 30 tháng 5 năm 1960 và lệnh của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô về kỹ thuật quốc phòng ngày 22 tháng 11 năm 1961. Sự thiết kế và phát triển hệ thống điều khiển tên lửa R-9 được thực hiện ở Viện Nghiên cứu khoa học về lắp ráp thiết bị dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư N.A.Pilyugin. Các nhóm thiết bị được thiết kế dưới sự lãnh đạo của V.I.Kyznetsov ở Viện Nghiên cứu khoa học số 944, còn hệ thống điều khiển vô tuyến – tại Viện Nghiên cứu khoa học số 855 dưới sự lãnh đạo của M.S.Ryazanskyi. Tổng công trình sư chịu trách nhiệm về tổ hợp trên mặt đất là V.P.Barmin (Phòng Thiết kế Quốc gia “Spetsmash”). Động cơ của tầng thứ nhất được thiết kế ở Phòng Thiết kế - thí nghiệm V.P.Glushko, còn động cơ tầng thứ hai – Phòng Thiết kế - thí nghiệm S.A.Kosberg. Đầu đạn được thiết kế ở Phòng Thiết kế số 11 (thành phố Arzamas-16) do tổng công trình sư S.G.Kocharyats chỉ đạo. Cũng có một bản thiết kế phác thảo khác về tên lửa R-9A đã được hoàn thành vào năm 1963, trong đó đã dự kiến khả năng hoàn thiện hơn các tính năng kỹ - chiến thuật của tên lửa. Để cho mục tiêu này, các động cơ mới NK-9 (Phòng Thiết kế - thí nghiệm N.D.Kuznetsov) cho tầng thứ nhất (với các tính năng kỹ thuật được nâng cao do việc sử dụng mạch đóng) và cho tầng thứ 2 – động cơ được chế tạo ở Phòng Thiết kế - thí nghiệm số 1 trên cơ sở động cơ “khối L” dành cho tên lửa đẩy “Molnia”. Khi tiếp nhận các động cơ mới và duy trì khối lượng khởi động của tên lửa, tầm bay xa tối đa có thể tăng lên tới 2700km. Khi duy trì tầm bay xa cũ, khối lượng đầu đạn tên lửa giảm xuống còn 13 tấn. Tên lửa nhận số hiệu R-9M. Tuy nhiên, Phòng Thiết kế - thí nghiệm của N.D.Kuznetsov không thể tự hoàn thành công việc về động cơ mới một cách kịp thời, còn V.P.Glushko nhanh chóng quyết định giữ lại cho tên lửa R-9 trong phiên bản duy nhất động cơ được thiết kế cho tầng đầu tiên. Rất đáng chú ý, là khi chế tạo tên lửa đạn đạo liên lục địa R-9A đã xuất hiện những bất đồng giữa Korlev và Glushko về quan điểm trong việc áp dụng các thành phần nhiên liệu có độ sôi cao và sôi thấp đã dẫn đến sự mâu thuẫn sau này giữa họ -  là một trong những nguyên nhân chính dẫ tới “chương trình mặt trăng” của Liên Xô do Phòng thiết kế N.D.Kuznetsov thực hiện đã không có đủ kinh nghiệm, không thể trong giai đoạn này chế tạo động cơ tên lửa mạnh với nhiên liệu ô xy hóa – dầu lửa và có đủ độ tin cậy. dành cho tên lửa đẩy N-1. Từ việc tiếp nhận tên lửa đẩy siêu nặng N-1 với động cơ tên lửa nhiên liệu rắn trên các thành phần nhiên liệu có độ sôi cao, mà V.P.Glushko đã đòi hỏi đã nhận quyết định loại bỏ vì lý do môi trường – trong trường hợp phóng không thành công (còn tổng cộng có bốn lần phóng thử đã kết thúc không thành công), khu vực trường bắn sẽ trong một thời gian dài, trở nên sa mạc không có sự sống. Sau đó, chính Glushko đã thay đổi quan điểm của mình – ông đã đứng đầu Phòng Thiết kế Trung ương – trước đó là các cơ sở của Korolev – để chế tạo – dưới sự lãnh đạo của ông tên lửa đẩy siêu nặng mạnh nhất thế giới “Energia” được tiếp nhận không chỉ động cơ tên lửa nhiên liệu lỏng với chất ô xy hóa “ô xy” trong hai tầng chính và chất đốt “dầu lửa” (tầng 1) và “hydor” (tầng 2).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #52 vào lúc: 30 Tháng Giêng, 2011, 07:21:21 pm »

Đối với tên lửa đạn đạo liên lục địa R-9A, việc chế tạo dự kiến hai kiểu tổ hợp phóng: “Desna-N” trên mặt đất và dưới hầm “Desna-V”. Song  song với việc thiết kế tên lửa, các công việc thí nghiệm và nghiên cứu khoa học về vấn đề tiếp nhận, vận chuyển và bảo quản ô xy lỏng siêu lạnh và giảm sự bốc hơi của nó vẫn được tiếp tục. Vấn đề trở nên rất quan trọng và đã thu hút được những chuyên gia nổ tiếng về vật lý nhiệt độ siêu thấp, trong đó có Viện sĩ P.L.Kapitsa. Do kết quả của sự tiếp nhận theo nguyên tắc các dạng cách ly điện tích với ô xy lỏng (dạng bột, màn chân không cách nhiệt…) và lựa chọn thiết kế tối ưu cho các thùng của tên lửa, điện tích bảo quản ô xy, vật liệu cấu trúc mới, áp dụng việc làm mát đã thành công trong việc rút sự bay hơi của ô xy từ 15% trong gian đoạn hoạt động đầu tiên còn 0,05 – 0,2% (75 – 300 lần) trước khi đưa tên lửa tới thí nghiệm bay. Để bảo đảm thời gian bảo trì tên lửa lâu dài trong trạng thái nạp nhiên liệu, việc lắp màn chân không cách nhiệt trên các thùng chứa ô xy (số hiệu tên lửa 8K77) đã được nghiên cứu. Trong thành phần động cơ dự kiến sử dụng các động cơ của phiên bản tên lửa R-9M. Sự tiếp nhận các động cơ có độ sôi cao cho phép khi bảo quản nguồn dự trữ nhiên liệu hoạt động cho tên lửa lớn hơn và tương ứng với đầu đạn mạnh hơn. Nhưng phiên bản này không được phát triển, trong thông tin với những khó khăn lớn khi sản xuất lớp bảo vệ (thép dàu 0,5mm) dành cho sự cách nhiệt màn chân không (sự phức tạp với sự hàng và cố định). Để duy trì chân không trong những thể tích lớn cần những bơm đặc biệt. Ngành công nghiệp Liên Xô vào thời kỳ đó chưa sản xuất được. S.P.Korolev đã họp với Cục Công nghiệp Quốc phòng về việc tổ chức sản xuất các bơm này theo mẫu của hãng “Philips”. Đương nhiên, hãng “Philips” hoàn toàn không được biết về việc này. Máy làm lạnh bằng khí đặc biệt đã được chế tạo, và sau này sẽ lắp bình chứa với ô xy lỏng, điều hòa sự bốc hơi tù bình chứa ô xy và đưa nó ngược trở về trạng thái lỏng. Sự thay thế các dạng cách điện (bông xỉ..) bằng bột (aerosol, đá trân châu…) được thực hiện trong không gian giữa lượng ô xy trong bình chứa và lớp vỏ bên ngoài, và sự tạo chân không của không gian này đã chuyển hóa dung lượng lưu trữ để bảo quản ô xy trong nhiệt độ lớn và giảm đáng kể sự rò rỉ dung lượng ô xy, và sau đó là bị mất do nhiệt và bốc hơi. Sự tương tự này còn được đẩy nhanh hơn khi sử dụng sự cách nhiệt màn chân  không, được giới thiệu là những tấm đệm từ các lá kim loại dát mỏng (khoảng 100 mảnh), được phân cách với nhau bằng các sợi thủy tinh thưa. Bề mặt bóng của lá kim loạt làm giảm rất nhiều sự truyền nhiệt tới bình chứa ô xy, còn chân không trong không gian tách nhiệt của thùng được duy trì. Để chế tạo hệ thống tạo ra chân không trong nhiều công trình bảo quan ô xy, bơm chân không đã được thiết kế và chế tạo trong sự kết hợp với hai bơm hấp thụ (hút bám) với sự tiếp nhận vật liểu tổng hợp mới – seolit – được làm mát bằng ô xy lỏng và nitơ. Thiết kế này cho phép mang lại chân không với lượng 1x10-2mm thủy ngân đến 1x10-3 đến 1x10-4 (2;3;4 – lỹ thừa 2,3,4). Việc này đồng thời yêu cầu cơ sở công nghệ hàn mới để nhận được những mối hàn dài mới và kín của thùng bảo quản, tạo ra phương pháp và thiết bị kiếm tra chất lượng của chúng. Tất các các quá trình trên nhằm bảo đảm cao nhất về việc bay hơi ô xy lỏng tối thiểu. Lần đầu tiên tại Liên Xô, vẫn đề bảo quản ô xy lỏng với hầu như không có sự mất mát đã được giải quyết. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, có các khả năng bố sung nhằm tăng cường hiệu quả tiếp nhận ô xy lỏng siêu lạnh. Khi nhiệt độ ở -203 đến 210, tính lưu động của ô xy tăng đáng kể. Việc này cho phép rút ngắn rất nhiều thời gian nạp nhiên liệu (từ 25 – 30 xuống 3 – 8 phút), khi đó, thay cho các bơm có thể sử dụng không khí nén, cung cấp ô xy từ thùng bảo quản tới thùng của tên lửa với tốc độ 700 tấn/h. Đối với ô xy lỏng siêu lạnh, thiết bị lắp đặt cơ động đã được tiếp nhận, nguyên tắc phun được sử dụng và sự mang theo cặp với bề mặt ô xy lỏng do kết quả của việc giảm áp suất trong máy phun. Trong bản ghi nhớ báo cáo mang tên của bộ trưởng D.F.Ustinov và Phó chủ tịch  Ủy ban kế hoạch nhà nước Liên Xô V.M.Ryabikov trong tháng 5 năm 1961, S.P.Korolev đã trình bày những kết quả hoạt động chính theo chủ đề về ô xy. Vì vậy có thể lưu ý rằng các công việc trên tên lửa R-9A cho phép mở rộng một cách nghiêm túc về phạm vi tổng hợp các công việc về chủ đề đông lạnh ở Liên Xô và đạt được những kết quả đáng khích lệ. Các kết quả nhận được yêu cầu cải tổ một cách gốc rẽ các quá trình tiếp nhận, bảo quản, vận chuyển và nạp chất lỏng lạnh. Cơ sở công nghiệp được xây dựng lại một cách nguyên tắc, còn tiếp đó, theo Mệnh lệnh của Chính phủ Liên Xô năm 1972, tổ chức khoa học – công nghiệp Liên bang lớn nhất về vấn đề này đã được thiết lập – Viện Nghiên cứu công nghiệp “Kriogenmash” (thành phố Balashikha, tỉnh Moskva) với các tập thể khoa học và sản xuất được quy tụ về.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #53 vào lúc: 30 Tháng Giêng, 2011, 09:32:57 pm »


Những sự đặc biệt của tên lửa bao gồm trong thành phần các khung nối tiếp của bàn phóng. Nhờ có sự hỗ trợ này, khối lượng công việc trong khi khởi động được giảm rất nhiều, bởi vì sự nối trong toàn bộ liên kết “mặt đất – thành” khi đó được thực hiện trên trận địa kỹ thuật, sau khi lắp ghép các khung nối tiếp vào tên lửa, còn trong khi khởi động, vẫn duy trì khối lượng nhẹ đáng kế của “mặt đất – khung nối tiếp”. Điểm đặc biệt khác của tổ hợp tên lửa R-9A là việc giải quyết hệ thống các vấn đề liên quan tới việc bảo quan ô xy lỏng. Hệ thống siêu lạnh đã được chế tạo, sự bảo quản lâu dài và tốc độ nạp nhiên liệu cho tên lửa bằng ô xy lỏng siêu lạnh và vấn đề kéo dài thời gian bảo quản mà không làm mất mát cũng được giải quyết. Tuy nhiên, trong quá trình thí nghiệm bay, những lỗi của tổ hợp phóng trên mặt đất “Desna-N” đã xuất hiện. Đặc biệt, đã xuất hiện những thiếu sót của thành phần và thiết kế của các thiết bị bàn phóng riêng cũng như khung nối tiếp. Khung nối tiếp đã chứng tỏ sự cồng kềnh và nặng nề, khối lượng của nó: 4,5 tấn và bằng 5-% khối lượng khô của tên lửa. Chu kỳ công nghệ chuẩn bị tên lửa không đủ tự động hóa, vì vậy, đã kéo dài quá trình chuẩn bị phóng, yêu cầu kíp chiến đấu có tay nghề và trình độ cao. Quá trình lắp tên lửa lên bàn phóng trở nên phức tạp và kéo dài, sự nạp nhiên liệu cho tên lửa không đủ nhanh, thời gian chuẩn bị phóng lên tới gần 2 giờ đồng hồ. Tất cả đã dẫn tới tổ hợp phóng “Desna-N” không được đề nghị tiếp nhận vào lực lượng vũ trang.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #54 vào lúc: 30 Tháng Giêng, 2011, 10:14:16 pm »

Tháng 5 năm 1962, đã có quyết định về sự cần thiết chế tạo tổ hợp phóng hiện đại hơn. Đáng chú ý, tổ hợp “Desna-N” đã không được tiếp nhận không phải do tính toán kết cấu không hoàn chỉnh, ngươc lại, tổ hợp này có khả năng chiến đấu và khải tháng sử dụng cho tên lửa R-9A cao, các thí nghiệm bay đã chứng minh yêu cầu chế tạo tổ hợp phóng với khả năng chiến đấu cao hơn, tức là yêu cầu việc kết nối tên lửa với tổ hợp phóng như một khối thống nhất. Phòng Thiết kế thí nghiệm số 1 đã trở thành tổ chức đầu tiên và là nơi đầu tiên chế tạo tổ hợp thiết bị mặt đất mới cho tên lửa R-9A. Khung nối tiếp mới đã được thiết kế và sản xuất với khối lượng thấp hơn gấp 3 lần so với tổ hợp cũ. Tại Phòng Thiết kế trung tâm lắp ráp xe máy vận tải, thiết bị hiệu quả, được điều khiển bởi một cơ quan, có khả năng lắp tên lửa lên bàn phóng trong khoảng 30 giây đã được chế tạo. Trên cơ sở các kỹ thuật mới nhất đạt được, hệ thống siêu lạnh, có khả năng duy trì lâu dài và không làm mất ô xy, tốc độ nạp nhiên liệu cho tên lửa bằng chất lỏng ô xy siêu lạnh đã được chế tạo, hệ thống tăng tốc độ nạp chất đốt (dầu lửa T-1) với bơm truyền chất đốt đã được thiết kế (ở Phòng Thiết kế “Spetsmash”). Lần đầu tiên ở Phòng Thiết kế thí nghiệm số 1, tại xưởng “Krasnay Zarya” (“Bình minh màu đỏ”), hệ thống  tự động chuẩn bị cho tên lửa trước khi phóng (ASPS) đã được chế tạo và sản xuất, trong khi đó, các giải pháp truyền thống được sử sụng trong tương lai cho hàng loạt các tên lửa đẩy mới cũng được tiếp nhận. ASPS (hệ thống tự động chuẩn bị tên lửa trước khi phóng) được giới thiệu là một hệ thống tự động duy nhất, bao gồm toàn bộ tổ hợp các hệ thống điều khiển các thiết bị riêng biệt và các hệ thống tổ hợp phóng được tự động hóa. ASPS đồng thời được điều khiển bằng các thao tác bán rót bán tự động các thành phần nhiên liệu từ các thùng của tên lửa khi không ở trạng thái phóng, tháo tên lửa khỏi bệ phóng. Các thiết bị và hệ thống ASPS được diều khiển từ bảng điềukhieenr trung tâm chuẩn bị tự động hoặc khi cần thiết, bằng tay. Sự thành công này mang lại thời gian chuẩn bị phóng cho tên lửa R-9A ở vị trí thẳng đứng sau 20 phút. Tổ hợp phóng mới nhận tên gọi “Dolina”. Sự rút gọn thời gian chuẩn bị phóng hơn nữa được hạn chế bằng thời gian tháo các thiết bị con quay hồi chuyển (60 000 vòng/phút). Quá trình này yêu cầu 15 phút. Đối với tên lửa R-9A, sự cần thiết đồng thời phải xây dựng các phiên bản tổ hợp hầm phóng. Chưa có một kinh nghiệm nào về chế tạo tổ hợp này ở bất kỳ quốc gia nào, ở nước ngoài, hoàn toàn không có. Ở Mỹ, cho các tên lửa Atlas F và Titan I cùng lớp với R-9 cũng dự kiến bảo quản tên lửa trong hầm – nhưng khi phóng phải đưa chúng lên mặt đất. Việc phóng tên lửa từ các hầm cũng có những nguy hiểm, do sự chuẩn bị khởi động động cơ liên quan với việc bay hơi của ô xy lỏng, sau đó, do sự cháy ô xy trong hầm, có thể dẫn tới nổ. Cần thời gian để nghiên cứu và thí nghiệm. Tuy nhiên, tình trạng này yêu cầu sự xây dựng nhanh chóng công trình bảo vệ của tổ hợp phóng. Liên Xô đã quyết định tiến hành các nghiên cứu và thí nghiệm đã quyết định một cách đồng thời với thiết kế và xây xựng tổ hợp hầm phóng thí nghiệm ở Baikonour. Nhà thiết kế chính là Phòng Thiết kế “Spetsmash” (Tổng công trình sư V.P.Barmin).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #55 vào lúc: 30 Tháng Giêng, 2011, 11:13:53 pm »

Để đẩy nhanh sự bắt đầu các thí nghiệm đã có quyết định xây dựng các trận địa phóng tạm thời cách bãi phóng tên lửa R-7 300 mét (bãi phóng số 1). Trận địa phóng tạm thời của R-9A có số 71. Việc này mang tới khả năng sử dụng khu nhà lắp ráp thí nghiệm, tiếp nhiên liệu, trang thiết bị điện lực, trên mạt đất, thông tin liên lạc và những tiện nghi của bãi phóng đầu tiên. Các thí nghiệm bay của tên lửa R-9A bắt đầu vào mùng 9 tháng 4 năm đã không thành công. Ở giây thứ 155 trong khi bay, đọng cơ của tầng thứ hai đã không hoạt động. Sự khởi động có thể là thành công một cách từng phần, trong khi bay, sự hoàn thiện được xác nhận ở tầng đầu tiên, động cơ, hẹ thống điều khiển, thiết bị truyền động trung tâm, khởi động động cơ tầng thứ hai, tách nóng, tháo buồng đuôi của tầng thứ hai.Các nguyên của tình trạng sau đó động cơ trong tầng thứ hai  được lắp trong cùng ngày. Trong đống đổ nát đã tìm thấy van, do lỗi truyền tải khí trong thiết bị bơm tuabin và sự lắp đặt là nguyên nhân dẫn tới động cơ không hoạt động. Các van dành cho lần phóng sau đã được hoàn thiện một cách khẩn trương. Lần phóng thứ hai ngày 21 tháng 4 năm 1961 từ bãi số 71 đã thành công, đầu đạn bay tới Kamchatka (trường bắn “Kura”). Ngày 25 tháng 4 đã diễn ra lần phóng thứ 3. Sau 3,85 giây, một trong số bốn thùng đã gặp sự cố, sau đó, áp lực lên thùng giảm, tên lửa bắt đầu lao xuống và rơi ngay cạnh chỗ phóng và xuất hiện đám cháy. Nguyên nhân đám cháy nhanh chóng được xác định – sự vỡ buồng đốt, sau đó đã xuất hiện xung động áp suất với tần số cao. Trong thời gian năm 1961, 15 tên lửa đã được đưa vào thí nghiệm. Lần phóng cuối cùng từ bãi số 71 diễn ra vào mùng 3 tháng 8 năm 1961. Trong lần này, R-9A chỉ được nâng lên sau 0,3 giây. “Làng” tại bãi phóng bị bốc cháy. Giai đoạn thí nghiệm bay thứ hai diễn ra từ tháng 3 đến tháng 11 năm 1962 và diễn ra 14 lần phóng. Trong đó, 9 lần thành công. Phần lớn các tai nạn phóng của tên lửa R-9A liên quan tới việc tính toán thiết bị động cơ (trong khi bay xuất hiện dao động tần số lớn dẫn tới sự phá hủy động cơ) và các thiết bị của hệ thống điều khiển.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #56 vào lúc: 31 Tháng Giêng, 2011, 01:42:47 pm »

Các công việc trên trường bắn Baikonur về chế tạo tổ hợp “Dolina” đã tăng nhịp độ. Vào tháng 5 năm 1962 đã nhận quyết định về sự cần thiết nâng cấp tổ hợp “Desna-N”, còn vào cuối tháng 9 trên bãi số 75 đã kết thúc việc xây dựng và lắp ráp tổ hợp phóng mới “Dolina”. Ngày 22 tháng 2 năm 1963, lần phóng tên lửa đầu tiên từ tổ hợp phóng hiện tại đã diễn ra thành công. Các nhà quan sát lúc đó đã bị ngạc nhiên bởi sự tự động hóa bảo đảm hầu như hoàn toàn không có sự tham gia của kíp chiến đấu. Xe tải tự hành với tên lửa rời khỏi nhà lắp ráp – thí nghiệm và đưa tên lửa tới trụ trên bệ phóng, kết nối với thiết bị nâng – lắp, nâng tên lửa tới vị trí thẳng đứng, việc cắt toàn bộ các mối liên lạc và cố định tên lửa trên bệ phóng diễn ra tự động. Sau đó, việc nạp thành phần nhiên liệu được đẩy nhanh, sự chuẩn bị hệ thống điều khiển và hướng ngắm. Toàn bộ diễn ra trong 20 phút thay cho 2 tiếng trên tổ hợp “Desna-N”. Tổ hợp khởi động từ hầm phóng “Desna-V” cho tên lửa R-9 được xây trên bãi số 70, trên đó, toàn bộ các số liệu tính toán và cả khả năng khởi động của tên lửa, việc nạp ô xy và dầu lửa từ hầm phóng được kiếm tra. Khi phóng từ hầm, các tài liệu khai thác sử dụng vào lắp ráp, công nghệ xây dựng thiết bị phóng trong hầm đã… được xử lý. Ngày 27 tháng 9 năm 1963, lần phóng tên lửa đầu tiên từ hầm đã diễn ra thành công. Tuy nhiên, khi thí nghiệm tên lửa, không thể tránh khỏi những thiệt hại (thương vong) – ngày 24 tháng 10 năm 1963, trong thiết bị hầm phóng tên lửa R-9 ở trường bắn Baikonur đã xảy ra đám cháy lớn, 8 người đã hy sinh (trong lịch sử trường bắn, ngày 24 tháng 10 đã trở thành “ngày đen tối” – ngày 24 tháng 10 năm 1960, khi chuẩn bị thí nghiệm tên lửa R-16, đã xảy ra vụ nổ và đám cháy, kết quả là 74 người đã thiệt mạng (hơn chục người sau đó cũng chết vì vết thương). Đối với các quyết định cuối cùng của câu hỏi về khả năng tiếp nhận R-9 vào lực lượng vũ trang đã được xác định trong giai đoạn 3 của các thí nghiệm bay với tên gọi “các thí nghiệm bay đồng thời” theo hình thức kíp tham mưu chiến đấu làm việc ở cơ sở, còn đại diện của các ngành công nghiệp đóng vai trò chính là quan sát viên. Từ 11 tháng 2 năm 1963 đến ngày 2 tháng 2 năm 1964, đã có 25 lần phóng tên lửa, trong đó 17 lần tới mục tiêu. Trong ba giai đoạn thí nghiệm bay trong thời gian 3 năm đã sử dụng 54 tên lửa. Sau khi hoàn thành các thí nghiệm bay, tên lửa R-9 từ tổ hợp các hầm phóng (“Desna-V”) và trên bộ (“Dolina”) được tiếp nhận vào trang bị của Quân chủng Tên lửa chiến lược ngày 21 tháng 7 năm 1965. Việc sản xuất hàng loạt diễn ra vào năm 1963 và được chuyển tới xưởng “Progress” Quybyshev. Kinh nghiệm thu được khi phóng đã liên tục được tăng cường tới xưởng “Progress” phục vụ quá trình sản xuất – khi trong quá trình kiểm tra hàng loạt tên lửa trong giai đoạn từ 15 tháng 3 năm 1964 tới 16 tháng 12 năm 1968 đã có 14 trong số 16 tên lửa bay tới mục tiêu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #57 vào lúc: 31 Tháng Giêng, 2011, 02:06:26 pm »

Ngày 14 và 15 tháng 12 năm 1964, bốn trung đoàn tên lửa đầu tiên đã vào trực chiến với bệ phóng trên mặt đất, hai ở thành phố Kozelsk (Tiểu đoàn tên lửa Cận vệ Cờ đỏ số 28) và trên trường bắn Plesetsk, còn 26 tháng 12 – trung đoàn tên lửa đầu tiên với hầm khởi động dưới thành phố Kozelsk. Tổ hợp tên lửa đạn đạo với tên lửa R-9A đã nằm trong trạng thái trực chiến hơn 10 năm và nhận được sự đánh giá cao trong Quân chủng. Tuy nhiên, tới thời điểm đưa vào trực chiến, tên lửa R-9 không đáp ứng đầy đủ các yêu cầu chiến đấu mới nhất của các tên lửa chiến lược lúc đó. Nó gần với lớp tên lửa đạn đạo liên lục địa thế hệ đầu tiên, vượt trội về các tính năng chiến đấu, kỹ thuật và khai thác sử dụng so với các tên lửa đạn đạo đồng dạng của Mỹ là Titan I và Atlas F (tới thời điểm R-9A bắt đầu được đưa vào trực chiến thì các tên lửa của cùng lớp của Mỹ đã được rút khỏi biên chế, toàn bộ các tên lửa đạn đạo vượt liên lục địa thế hệ đầu tiên của Mỹ bị rút khỏi lực lượng vũ trang vào cuối năm 1965) và các tên lửa Liên Xô R-7A và R-16U, nhưng R-9A kém những tên lửa liên lục địa mới nhất của Mỹ là Titan II và Minuteman IA/IIB/II theo khả năng sống sót, độ chính xác và thời gian chuẩn bị phóng. Ngoài ra, các tổ hợp tên lửa với R-9A còn tỏ ra đắt tiền trong khai thác sử dụng, nên không thể triển khai với số lượng lớn (tổng cộng trong trạng thái trực chiến có 27 tên lửa dưới Kozelsk, Omsk – tiểu đoàn tên lửa số 20, và Tyumen – tiểu đoàn tên lửa số 22, đồng thời trên các trường bắn Plesetsk và Baikonur). R-9 trở thành dòng tên lửa cuối cùng trong nhóm tên lửa chiến lược sử dụng nhiên liệu ô xy – dầu lửa. Nó được rút khỏi Quân chủng Tên lửa chiến lược năm 1977.

Ở phương Tây, tên lửa 8K75 (R-9A) có tên gọi SS-8 “Sasin”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #58 vào lúc: 31 Tháng Giêng, 2011, 02:32:26 pm »

Sơ đồ tên lửa R-9

R-9 được giới thiệu là tên lửa hai tầng với sự tách tầng diễn ra thứ tự. Tầng thứ nhất gồm giàn lưới mở, thùng chứa chất ô xy hóa, thùng thiết bị, thùng chất đốt và thùng đuôi. Trong tầng thứ nhất có động cơ tên lửa nhiên liệu lỏng bốn thùng RD-111 (8D716) với các thùng chất đốt nghiêng nhằm phát triển sức kéo 141 tấn và được thiết kế dưới sự chỉ đạo của V.P.Glushko. Sự điều khiển các thùng động cơ của tầng thứ nhất được thực hiện lần đầu tiên bằng thiết bị truyền động thủy lực trung tâm, sử dụng dầu lửa chất lỏng được cung cấp sau thiết bị bơm tuabin của động cơ. Mỗi thùng trong số bốn thùng nghiêng góc -6….6 độ, theo vị trí trung hòa, bảo đảm sự điều khiển bay của tên lửa. Động cơ là sự phát triển tiếp theo của động cơ RD-107 trên tên lửa R-7. Áp suất trong các thùng theo so sánh với TD-107 tăng 80 atm (so với 20 atm). Nhờ sự hỗ trợ này, động cơ RD-111 đã được tiếp nhận rất thuận lợi khi sức kéo tăng 75% so với RD-107. Tuy nhiên, áp suất cao đã trở thành một trong những nguyên nhân xuất hiện dao động tần số cao dẫn tới những tai nạn thường xuyên trong giai đoạn thí nghiệm. Trong sự khác biệt với RD-107, để truyền động cho thiết bị bơm tuabin, không yêu cầu hydro peroxit. Khí hơi được sản xuất trong máy phát điện khí do sự đốt cháy phần nhiên liệu không lớn. Bước tháo bơm tuabin đầu tiên được thực hiện bằng thuốc súng. Tầng hai gồm có các bộ phận hình nón và hình trụ. Bộ phận hình nón gồm các thiết bị nối, thùng chất đốt và thùng chứa chất ô xy hóa với lớp vỏ giữa các thùng. Bộ phận hình trụ tạo thành buồng đuôi, bên trong bố trí động cơ khởi động. Thùng chất đốt được thiết kế theo sơ đồ di động, còn thùng chứa chất ô xy hóa – dạng hình cầu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #59 vào lúc: 31 Tháng Giêng, 2011, 03:01:52 pm »

Bản vẽ thiết kế tên lửa R-9

Trên tầng thứ hai lắp động cơ tên lửa nhiên liệu lỏng bốn thùng RD-0106 (8D75) theo thiết kế của S.A.Kosberg. Sự điều khiển tên lửa được thực hiện bằng bốn vòi phun quay, sử dụng khí tạo thành từ khí ga của thiết bị bơm tuabin. Bơm tăng áp trong khi bay và hoạt động của thiết bị bơm tuabin được bảo đảm với sự hỗ trợ của các sản phẩm bị đốt của thành phần nhiên liệu cơ bản, cho phép đơn giản hóa thiết kế động cơ và rút gọn khối lượng. Sau khi hoàn thiện phù hợp, tầng thứ hai chiếm vị trí của tầng thứ 3 của tên lửa “Vostok”, nhận tên gọi “khối I” (tên lửa đẩy được nâng cấp nhận tên gọi “Voskhod”, “Molnia”, “Soyuz” cho các biến thể và các thiết bị tải khác nhau). Thiết bị động cơ tên lửa được thiết kế với sự tính toán phù hợp với tốc độ nạp nhiên liueej của các khối tên lửa, yêu cầu tên lửa trong trạng thái nạp nhiên liệu trong 24 giờ, các thao tác điều khiển từ xa khi khởi động, sự tự động hóa tối đa trong chuẩn bị phóng, khởi động động cơ tầng thứ nhất cũng tự động, theo tín hiệu kết thúc việc nạp thành phần nhiên liệu vào thùng, cũng như bằng tay trong thời gian cần thiết mà không cần mở cửa ra vào hầm và không cần sự tiếp cận của các nhân viên phục vụ tới các thiết bị và khí tài của tên lửa. Sự ổn định của tên lửa đạt được nhờ việc tiếp nhận các thiết bị ổn định trên tầng thứ nhất. Mỗi thiết bị trong số 4 thiết bị ổn định gồm hai bộ phận: cột trụ, được kết nối chặt với thân và bộ phận hình nón có thể tháo – lắp. Khi vận chuyển, bộ phận hình nón được tháo ra. T-9A khác biệt ở chỗ các bộ phận hoạt động của thiết bị động cơ tầng thứ nhất ngắn, do đó, sự tách tầng xảy ra ở trên cao, nới mà ảnh hưởn của tốc độ áp suất lên tên lửa còn rất lớn và ngắn theo chiều dài tầng thứ hai bằng sự không ổn định khí động học. Để tăng sự ổn định trên bề mặt nắp chụp của buồng đuôi tầng thứ hai có lắp các lá chắn khí động học. Sự tách tầng diễn ra theo sơ đồ “nóng”, theo đó, khung động lực mở được lắp. Sau khi tách, nắp chụp buồng đuôi được hình thành lại, vì vậy, tên lửa đã giảm (được làm nhẹ) thêm 800kg.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM