B I A L I Ệ T S Ĩ Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh ( Quang Dũng)
Đầu tháng 12/2012 vừa qua, gia đình liệt sĩ Nguyễn Văn Minh, nguyên sinh viên K15 khoa Toán cơ trường ĐHTH Hà Nội, nguyên lính thông tin, trinh sát pháo sư đoàn 325, làm lễ gắn bia cho mộ anh ở Quảng Trị. Sau nhiều năm vất vả kiên trì, thân nhân của anh đã tìm thấy một ngôi mộ vô danh được xác định là của anh. Tôi chưa tin lắm nếu không thử DNA. Nhưng thôi, gia đình đã tin như vậy thì là như vậy.
Tấm bia đá thật đẹp, chữ tô đỏ chóí. Hơi tiếc tên đơn vị không chính xác. Đáng phải là D14 chứ không phải E 14 và phần cấp bậc, chức vụ lại bỏ trống. Dù sao đó cũng chỉ là tiểu tiết. Quê anh ở Thanh Hoá, đá đẹp khá sẵn và thợ tài hoa cũng nhiêù.
Nhìn tấm bia rực rỡ, chạnh lòng tôi lại nhớ đến những tấm bia liệt sĩ một thời nằm rải rác khắp Quảng Trị năm nào.
Cuối tháng 7 năm 1972, đơn vị của tôi từ miền tây Quảng Bình hành quân qua những dãy núi hiểm trở vào Vĩnh Linh rồi vượt qua giới tuyến chia cắt hai miền. Cuộc hành quân 5 ngày vất vả, khắc sâu vào ký ức của người lính trẻ lần đầu ra trận. Những ngọn núi leo nửa ngày mới lên đến đỉnh. Chẳng biết khi nào mới tới được binh trạm. Quân trang đi B nặng gầng 40 cân, cộng thêm với vũ khí. Đứng còn chẳng vững nói gì đến đi. Những cô gái giao liên trở thành bia trút giận cho những người lính kiệt sức và nóng nảy. Thật tội nghiệp.
Thân gái ruổi theo gót lữ đoàn ………………………………..
Tôi nhớ mang máng một câu thơ của tác giả nào đó thời kháng chiến chống Pháp. Thật hợp cảnh.
Các chị âm thầm hứng chịu những tiếng chửi rất vô lý. Họ không có lỗi, những người lính đang nóng nảy kia cũng không có lỗi.
Rớt lại bên con suối, tôi moi trong ba lô, cố tìm xem còn có thể vứt được cái gì. Một chiếc áo lót. Đúng rồi, một chiếc áo lót mẹ gửi cho từ hồi còn ở Hà Bắc. Tần ngần thả chiếc áo xuống suối. Nó bồng bềnh trên mặt nước giây lát, xoay ngang rồi xoay dọc, dùng dằng không nỡ chia tay. Nhưng rồi, chiếc áo nhanh chóng bị cuốn vào dòng nước xiết, buông trôi thân phận mỏng manh.
Vĩnh biệt nhé. Tao cũng vậy mà thôi.
Dọc đường hành quân, thỉnh thoảng tôi lại bắt gặp vài nấm mộ. Cái có bia, cái thì không. Có những tấm bia bằng gỗ đã mục nát theo thời gian, chữ trên bia chỉ còn là dấu vết. Các thế hệ đàn anh đã nằm lại đây, trong cuộc trường chinh thống nhất đất nước, trường kỳ.
Ấn tượng nhất là một ngôi mộ, tấm bia chắc được làm bằng thân cây tươi. Gặp thời tiết thuận lợi, nó đâm chồi nảy lộc, vươn cao đón nắng giữa đại ngàn. Trên tấm bia “gốc cây”, chữ méo mó. Chỗ lồi lên, đoạn lõm xuống, nét chảy dài, chẳng khác gì bức thư pháp nổi mà tác giả là tạo hoá. Cái tài của các nhà thư pháp là biến cái đơn giản thành phức tạp. Tôi chịu không sao đọc nổi một dòng.
Cuối tháng 8/1972, đơn vị tôi tham chiến trận đầu, thiệt hại rất nặng nề. Hàng trăm liệt sĩ được chôn cất vội vàng. Lần đầu tiên, tôi thấy những tấm bia bằng tôn. Tôn làm bằng hợp kim nhôm, mỏng như tờ giấy, dập vân nổi nên khá cứng. Tôn sắt tráng kẽm dầy hơn chút ít. Loại vật liệu này rất sẵn ở Quảng Trị. Tôn lợp mái nhà, nhưng chẳng một ngôi nhà nào còn tồn tại trong đạn bom. Những mảnh tôn được cắt thành hình chữ nhật, mỗi chiều khoảng 40cm x 50cm. Trên mặt bia, chữ được đục bằng đinh theo một mẫu nhất định như công thức toán học vậy:
Họ và tên
Năm sinh
Quê quán
Cấp bậc
Chức vụ
Đơn vị
Hy sinh ngày Tuy nhiên, thứ tự từng dòng cũng có thể thay đổi, tuỳ theo người đục bia, hoặc bị bỏ trống vì không rõ thông tin.
Bia bằng tôn, làm cũng tiện và nhanh. Nhưng nó mỏng manh quá, chỉ cần trúng một quả trái phá, nó sẽ bay như những chiếc lá đa. Mộ liệt sĩ trong tíc tắc, bỗng chốc thành một ngôi mộ vô danh, chẳng biết đằng nào mà lần nữa. Nhưng, liệt sĩ mỗi trận về một nhiều, đành chấp nhận bia thế thôi.
Để mai táng liệt sĩ được nhanh gọn, các cán bộ, chiến sĩ quân lực có sáng kiến, đào sẵn huyệt và làm sẵn bia. Mỗi lần vào chốt, đi ngang qua mấy cái huyệt đào sẵn ấy tôi cứ thấy ghê ghê. Chẳng biết cái nào dành cho mình, cái nào dành cho bạn.
Hồi ấy, tiểu đoàn của tôi lan một tin đồn, một cán bộ quân lực tên là X rất tài. Anh ta đoán từng trận, đào trước bao nhiêu huyệt là đủ. Sai số không nhiều. Sau này, chỉ huy tiểu đoàn cấm, không cho đào trước quá 20 huyệt một chỗ, sợ anh em mất tinh thần. Thế cũng phải.
Cuối tháng 12/1972, trung đoàn bàn giao chốt Long Quang , Thanh Hội cho đơn vị bạn. Chúng tôi lui về tuyến sau chừng vài ba cây số. Ngày và đêm 26/1/1973, máy bay B52 oanh tạc bất thường vào khu vực đóng quân. Hết đợt bom này đến đợt bom khác. Cán bộ đại đội đi nhận lịch tránh B52, như nhận thời khoá biểu hồi còn đi học . Bom nổ bên phải hầm, bên trái hầm. Tiếng nổ lộng óc kèm theo là lửa điạ ngục. Khói bom khét lẹt. Chẳng hiểu sao, vẫn còn sống sót đến hôm sau. Đại đội hoả lực vội vã cùng bộ binh ra bãi biển lập tuyến phòng ngự mới. Đến tầm chiều, tình hình mỗi giờ một xấu thêm. Lác đác, các chiến sĩ bộ binh tuyến trên bỏ chốt chạy về. Nhiều chốt đã bị địch chọc thủng. Trận địa của chúng tôi bắt đầu hứng chịu những đợt pháo kích dữ dội. Pháo từ biển thổi vào. Pháo phía trước bắn tới và cả pháo của ta từ miền tây bắn lại. Mịt mù lửa đạn. Đang đứng bên khẩu 12.7 ly, tôi nghe thấy tiếng ằng ặc ngang tai. Cái quái gì thế nhỉ. Chúi vội xuống cát. Một tiếng nổ xé trời. Cách công sự chừng chục mét, một cái hố bằng miệng thúng vừa bị khoét. Thò lên mặt hố là một cái ống có dòng chữ: “ Chế tạo tại Liên Xô”. Tý nữa thì hy sinh vì “đồng chí” này. Thêm một kinh nghiệm tránh hoả tiễn 122 ly của ta.
Đến tối thì không còn kiểm soát được tình hình nữa. Pháo của ta, pháo của địch, lính ta, lính địch, xe tăng của ta, xe tăng của địch trộn lẫn trong một dải cát dài. Phía mép nước chỉ thấy lửa, những dòng lửa đan chéo. Tiếng động cơ gầm rú. Mặt đất rung lên, đằng sau khẩu 12.7 ly bỗng xuất hiện một chiếc tăng đang tuôn ra từng luồng lửa. Xe tăng của ta, hay hay của địch ? Ồ, xe của ta. Cỗ máy phun lửa ấy lầm lũi hướng ra mép nước. Khẩu 12.7 của khẩu đội tôi cũng rung lên, tuôn những dòng đạn lửa phụ hoạ. Bắn hú hoạ thế thôi chứ chẳng còn biết đâu là ta, đâu là địch nữa. Đám lửa hỗn tạp sát mép nước vượt ngang qua tuyến phòng ngự của chúng tôi hứơng về phía cảng Cửa Việt.
Đến sáng, tiếng súng thưa dần. Khoảng 7 , 8 giờ thì im hẳn. Quang cảnh chiến trường hiện ra như trên phim. Rải rác, dọc bãi biển, khoảng hơn hai chục chiếc xe tăng và thiết giáp của cả hai bên bị phá huỷ. Trước trận địa 12.7 của chúng tôi, xác hai người lính cộng hoà gục ngã. Cách trận địa DKZ 82 không xa, hai chiếc xe tăng của địch nằm bất động. Những cột khói đen nghịt vẫn tuôn lên từ những chiếc thiết giáp đang cháy dở. Một, hai, ba, bốn cột khói…Tôi lại gần một chiếc xe thiết giáp gắn súng 23 ly hai nòng của ta. Trên xe, bên mâm súng, một chiếc áo giáp cháy trơ, những mảnh kim loại cỡ ba ngón tay rơi vương vãi. Không biết xạ thủ trên xe có hy sinh không?
Doi cát trước mặt, cờ vàng và cờ giải phóng cắm đan xen. Xa chút nữa, sát mép nước, hàng chục chiếc xe tăng và thiết giáp của quân đội VNCH đang co cụm lại, nom như những con bọ hung khổng lồ đang quay lưng ra biển. Chúng ham tiến quân quá, chui tụt vào vùng kiểm sóat của quân Giải Phóng, chẳng có đường lùi.
Quá tò mò, tôi rủ một chiến sĩ trong tiểu đội lại gần xem. Bên đường quốc lộ hướng ra cảng, một chiếc chiến xa của ta toang ngực dạt bên đường. Loại xe gắn pháo 100 ly nhưng vỏ thép lại không được dầy. Nhìn chỗ vỡ toác bằng chiếc rá, tôi băn khoăn chẳng hiểu bị trúng đạn gì. Cách xe chừng dăm mét, bên kia đường, đập vào mắt tôi là hai nấm mộ còn rất mới. Của các chiến sĩ trên chiếc tăng kia chăng? Trên hai nấm mộ cát đắp vội vàng, có hai tấm bia trăng trắng.
Bàng hoàng, không tin ở mắt mình nữa. Hai tấm bia bằng hai tờ giấy đúp “năm hào hai”. Nét chữ ngệch ngoạc, viết vội cái công thức “toán” chết người bất di bất dịch :
Họ và tên…
…………..
…………..
Hy sinh ngày 28/1/1973
Có lẽ, họ đã ngã xuống chỉ vài giờ trước khi ngừng bắn, Hiệp định Hoà bình Pa-ri có hiệu lực.
Tôi đã thấy những tấm bia bằng đá, bằng xi măng, bằng gỗ và bằng cả những tấm tôn mỏng manh tạm bợ. Nhưng, bia bằng giấy học trò thì quả là ngoài sức tưởng tượng. Hai tấm bia giấy như hai cái phướn trắng vật vờ trước gió. Nỗi buồn len lỏi, nhói buốt trái tim. Vào thời khắc ấy, đồng đội của các anh chỉ làm được có vậy mà thôi.
Nhiều năm sau, trở lại giảng đường trường đại học. Đôi lúc, mở trang giấy trắng, giật mình, tôi lại nhớ tới hai tấm bia ở Cửa Việt năm nào.
Nỗi đau nào rồi cũng có lúc nguôi ngoai. Năm tháng qua đi, bia đá thậm chí cũng phai mòn. Nhưng, hình ảnh hai tấm bia bằng giấy ấy cứ khắc sâu trong tâm thức của người lính giàu cảm xúc. Trong sâu thẳm tâm hồn, lắng đọng mãi một dư âm, như một nét nhạc trầm buồn trong bản hùng ca không bao giờ quên.
Tháng một, năm 2013
Như Thìn
