Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:14:20 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Xe Thiết giáp & Pháo tự hành  (Đọc 236545 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #370 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 05:33:11 pm »

Trên xe chiến đấu bộ binh BMP-3 lắp hệ thống điều khiển hỏa lực tự động hóa. Hệ thống điều khiển hỏa lực tự động hóa của BMP-3 được sử dụng để tính toán các điều kiện bắn và tính toán tự động trên sự hiệu chỉnh trong sự phụ thuộc vào khoảng cách đo tầm xa, tự động xử lý các góc ngắm, góc ngắm đón và dẫn bắn theo thước ngắm. Trong thành phần hệ thống điều khiển hỏa lực có khí tài – thước ngắm dẫn bắn 1K13-2, nó cũng là thước ngắm cơ sở của pháo thủ, máy đo xa laze 1D16 hoặc KDT-2, máy tính toán đạn đạo 1V539 và thiết bị ổn định vũ khí 2E52. Hệ thống điều khiển hỏa lực của BMP-3 đảm bảo xử lý bằng thiết bị ổn định các góc ngắm và ngắm đón khi bắn tại chỗ và khi di chuyển từ súng và pháo phục thuộc vào:

+ tầm xa tới mục tiêu, được đo bằng máy đo xa hoặc bằng tay qua máy tính toán đạn đạo

+ sự thay đổi tầm xa tới mục tiêu do sự tính toán di chuyển của xe với sự tính toán góc vòng giữa hướng di chuyển của xe và hướng trục của kênh nòng pháo

+ góc tương tối của tốc độ di chuyển của mục tiêu

+ sự nghiêng bên của trục thuộc chốt khối vũ khí

+ độ lệch từ các điều kiện bắn thường: nhiệt độ không khí và đạn, áp suất không khí, sơ tốc đầu nòng của đạn pháo 100mm do sự tính toán kết quả văng các nhóm mảnh đạn và bắn pháo 30mm.

Khí tài – thước ngắm dẫn bắn (PPN) 1K13-2 của pháo thủ là phức hợp (các nhánh ban ngày và chủ động – thụ động ban đêm) với sự ổn định độc lập vào trường quan sát trong hai mặt phẳng. Độ phóng đại của nhánh ban ngày 8x, ban đêm – 5,5x. Các góc quan sát tương ứng với 5 độ và 6 độ 40 phút. Khí tài kết hợp trong đó các chức năng của khí tài dẫn bắn thuộc tổ hợp vũ khí điều khiển (ngoài khí tài thước ngắm dẫn bắn thuộc tổ hợp điều khiển gồm có bộ đổi tần, khối điều khiển, khối điện tử) và thước ngắm để bắn đạn pháo. Việc bắn tên lửa chống tăng điều khiển được thực hiện chỉ vào ban ngày.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #371 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2011, 01:18:25 pm »

Hệ thống điều khiển hỏa lực đảm bảo khả năng điều khiển gấp đôi vũ khí từ vị trí của trưởng xe. Trưởng xe BMP-3 khi cần thiết có thể tự thực hiện việc bắn từ khối bằng toàn bộ các kiểu vũ khí và loại đạn, ngoài từ tên lửa điều khiển. Trưởng xe thực hiện thao tác ngắm qua thước ngắm 1PZ-10, sử dụng để dẫn bắn pháo từ bảng điều khiển, đồng dạng với bảng điều khiển của pháo thủ. Thước ngắm 1PZ-10 được giới thiệu là khí tài quang học một thị kính với khối lăng trụ chính lắc và độ khuyếch đại có thể thay thế được 1,2 và 4 và tương ứng với trường quan sát 49 và 14 độ. Theo thiết bị của mình, thước ngắm 1PZ-10 giống như thước ngắm 1PZ-3 trên BMP-2, khác biệt ở sự xuất hiện thang chia độ bổ sung trong trường quan sát để dẫn bắn hỏa lực từ pháo 2A70.

Để quan sát không gian trên không, tìm kiếm mục tiêu trên không và đảm bảo bắn chúng từ pháo tại vị trí của pháo thủ và ban ngày, tại chỗ ngồi của pháo thủ có lắp thước ngắm PPB-2 (kính tiềm vọng, dạng thị kích với mức độ phóng đại 2,46-2,6x và trường quan sát 25-28 độ). Đồng thời, có thể được sử dụng để bắn các mục tiêu mặt đất từ khi xe đứng yên và di chuyển từ khói vũ khí trong trường hợp khẩn cấp.

Máy đo xa 1D16 đo tầm xa từ 500 đến 4000 mét với độ chính xác -10 đến 10 được lắp trên mặt nạ của khối vũ khí.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #372 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2011, 01:43:40 pm »


Trong các mục tiêu đảm bảo hiệu quả bắn khi di chuyển và từ vị trí tại chỗ vào các mục tiêu trên bộ cũng như trên không từ khối vũ khí, BMP-3 trong thành phần hệ thống điều khiển hỏa lực có thiết bị ổn định vũ khí điện cơ 2E52. Thiết bị này đảm bảo sự ổn định và sự dẫn bắn ổn định trong các góc tầm và hướng của khối vũ khí với pháo 100mm 2A70, pháo 30mm 2A72 và súng máy PKT. Thiết bị ổn định đồng thời đảm bảo sự chỉ thị mục tiêu của chỉ huy trong góc hướng. Lỗi trung bình của sự ổn định khối vũ khí khi di chuyển của xe với tốc độ 25-35km/h là hơn 0,05 phần nghìn. Trong thiết bị ổn định 2E52 có 2 chế độ làm việc cơ bản – “Tự động” và “Bán tự động” và một chế độ hỗ trợ - “Chỉ thị mục tiêu”. Chế độ “Tự động” được sử dụng để bắn tại chỗ và khi di chuyển vào các mục tiêu trên bộ. Khi đó, sự ổn định và sự dẫn bắn ổn định của thiết bị (súng) đồng trục) được thực hiện trong các góc tầm và hướng. Hoạt động của các thiết bị ổn định trong chế độ “Tự động” trong góc tầm (VN) có thể được thực hiện trong phạm vi góc nâng của thiết bị đồng trục từ -4 đến 30 độ một cách tương đối với mặt phẳng của đốc pháo, còn theo góc hướng (GN) – trong phạm vi quay 360 độ của tháp pháo. Khi góc nâng khối vũ khí vào khoảng 30 độ, sẽ diễn ra sự chuyển mạch tự động của thiết bị ổn định từ chế độ “Tự động” sang “Bán tự động”. Các tốc độ dẫn bắn của pháo chính và tháp pháo khi bơi trong chế độ ổn định “Tự động” không quá 0,02 độ/giây, các tốc độ dẫn bắn tối đa trong chế độ này là 6 độ/giây. Chế độ “Bán tự động” là cơ bản đối với việc bắn các mục tiêu trên không từ pháo 30mm. Trong chế độ nà, đòng thời đảm bảo sự ổn định và sự dẫn bắn ổn định của khối vũ khí trong các góc tầm và hướng, nhưng với giảm sự ổn định của độ chính xác hơn so với trong chế độ “Tự động”. Phạm vi góc dẫn bắn trong chế độ “Bán tự động” trong mặt phẳng dẫn bắn góc tầm – từ -4 đến 60 độ một cách tương đối với mặt phẳng đốc pháo, trong mặt phẳng góc hướng đảm bảo bằng góc quay của tháp pháo (360 độ). Tốc độ dẫn bắn của pháo chính và tháp pháo khi bơi trong chế độ “Bán tự động” không quá 0,1 độ/giây, các tốc độ dẫn bắn tối đa trong chế độ này gồm cả trong góc tầm và góc hướng là 35 độ/giây.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #373 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2011, 02:48:58 pm »

Chế độ “Chỉ thị mục tiêu” được sử dụng để quay tháo pháo theo hướng mục tiêu, được lựa chọn bởi trưởng xe, với tốc độ di động (35 độ/s) theo khoảng cách ngắn nhất. Khả năng dẫn bắn từ các bảng điều khiển trong góc hướng ở chế độ “Chỉ thị mục tiêu” được loại trừ. Với mục đích ngăn chặn những sự cố của thiết bị ổn định, đồng thời để đảm bảo các công việc của hệ thống đã được xác định, trên xe có các khóa tự động của thiết bị ổn định khi mở các cửa của lái xe – kỹ thuật viên và lính đổ bộ, khi kích hoạt hệ thống bảo vệ tập thể khỏi vũ khí hủy diệt hàng loạt (chế độ “Phòng thủ khẩn cấp”), khi lắp pháo hoặc tháp pháo trên bệ. Khi mở cửa ra vào, cung cấp lệnh “Phòng thủ khẩn cấp”, điện của các cơ chế nâng và quay tháp pháo bị tắt, khi đó, các thiết bị dẫn bắn góc tầm và góc hướng được chuyển sang điều khiển bằng tay. Để đảm bảo dẫn bắn bằng thước ngắm từ vũ khí trên BMP-3 khi không có điện, trong mạng điện mang theo hoặc khi hỏng thiết bị cân bằng, có thiết bị dẫn bắn cơ khí bằng tay gấp đôi công suất.


Thước ngắm cơ bản của pháo thủ là phức hợp (ban ngày, chủ động – thụ động ban đêm) PPN 1K13-2. Sự tăng cường kênh nhìn ban ngày của PPN  1K13-2 là 8 lần. Tầm xa phát hiện mục tiêu ban đêm dạng xe tăng trong chế độ thụ động là 500 mét, còn trong chế độ tự động với sự máy chiếu xạ OU-5-1 là 800 mét. Để quan sát tại chỗ, tìm kiếm và phát hiện mục tiêu, xác định tầm xa tới chúng, đồng thời chỉ thị mục tiêu và hiệu chỉnh hỏa lực trong các điều kiện ban ngày và ban đêm, cửa ra vào của trưởng xe lắp khí tài chủ động – thụ động phức hợp (ban ngày và ban đêm) TKN-3BM. Nhánh ban ngày có độ khuyếch đại 4,75-5x và trường quan sát 9,5..10 độ; ban đêm: 2,85-3x và 7,75-8 độ. Để quan sát sau vị trí ngồi trong điều kiện ban đêm, khí tài TKN-3MB được sử dụng thay cho thiết bị chiếu sáng OY-ZGA2.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #374 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2011, 03:25:42 pm »

Thiết bị động lực


Tổ hợp động lực của thiết bị động lực trên BMP-3 sử dụng động cơ 4 thì dạng chữ V với góc đổ của các khối hình trụ 144 độ, động cơ diezel đa nhiên liệu 10 xilanh UTD-29 với hộp bánh răng khô và phun nhiên liệu trực tiếp. Có nhiều loại dầu hỏa và xăng khác nhau có thể hoạt động. Công suất – 500 sức ngựa, tần số quay – 2600 vòng/phút. Khối lượng – 910kg. Các kích thước – 997x1228x598. Đảm bảo hoạt động bình thường trong các điều kiện vùng núi cáo trên độ cao 4500 mét. Dung lượng các thùng nhiên liệu – 690 lít, tầm hoạt động – 600km. Các thùng được thiết kế bằng các tấm đệm xốp nhiều lỗ thủng đặc biệt, phục vụ cho việc giảm sự rung lắc nhiên liệu trong các bể nhiên liệu đầy một nửa, sự đánh lửa và kích nổ khi giáp đầu vị xuyên thủng.

Trong hệ thống cung cấp không khí của động cơ có sự làm sạch với sự hỗ trợ của máy làm sạch không khí một tầng ống lọc xoáy với máy phun đẩy bụi tự động. Hệ thống làm mát bằng chất lỏng, dạng đóng với sự lưu thông chất lỏng bắt buộc và thải không khí qua các bộ tản nhiệt.

Để chuẩn bị khởi động trong điều kiện thời tiết lạnh, sử dụng máy sưởi ấm phun với nồi hơi ống lửa, đảm bảo làm nóng chất lỏng bị đông lạnh, dầu động cơ trong thùng và khởi động không khí chảy vào.
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #375 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2011, 01:58:52 am »

Thiết bị động lực


Tổ hợp động lực của thiết bị động lực trên BMP-3 sử dụng động cơ 4 thì dạng chữ V với góc đổ của các khối hình trụ 144 độ, động cơ diezel đa nhiên liệu 10 xilanh UTD-29 với hộp bánh răng khô và phun nhiên liệu trực tiếp. Có nhiều loại dầu hỏa và xăng khác nhau có thể hoạt động. Công suất – 500 sức ngựa, tần số quay – 2600 vòng/phút. Khối lượng – 910kg. Các kích thước – 997x1228x598. Đảm bảo hoạt động bình thường trong các điều kiện vùng núi cáo trên độ cao 4500 mét. Dung lượng các thùng nhiên liệu – 690 lít, tầm hoạt động – 600km. Các thùng được thiết kế bằng các tấm đệm xốp nhiều lỗ thủng đặc biệt, phục vụ cho việc giảm sự rung lắc nhiên liệu trong các bể nhiên liệu đầy một nửa, sự đánh lửa và kích nổ khi giáp đầu vị xuyên thủng.

Trong hệ thống cung cấp không khí của động cơ có sự làm sạch với sự hỗ trợ của máy làm sạch không khí một tầng ống lọc xoáy với máy phun đẩy bụi tự động. Hệ thống làm mát bằng chất lỏng, dạng đóng với sự lưu thông chất lỏng bắt buộc và thải không khí qua các bộ tản nhiệt.

Để chuẩn bị khởi động trong điều kiện thời tiết lạnh, sử dụng máy sưởi ấm phun với nồi hơi ống lửa, đảm bảo làm nóng chất lỏng bị đông lạnh, dầu động cơ trong thùng và khởi động không khí chảy vào.


Một số đặc điểm kỹ thuật của "Thiết bi động lực" tôi đọc nhưng không rõ lắm. Bạn có thể giải thích thêm được không? Xin cảm ơn.
Logged
Bộ đội Cụ Hồ
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #376 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2011, 01:06:33 am »

K2OO KIFV

Tổng hợp từ : http://armour.ws/south-korean-k200-infantry-fighting-vehicle/
                   http://www.google.com.vn/imgres?imgurl=http://www.army-guide.com/images/k242a1_qowei.jpg&imgrefurl=http://www.army-guide.com/eng/product3051.html&usg=__-Mv_42rmwBw7boDr7gqt62rjJkw=&h=153&w=166&sz=5&hl=vi&start=1&zoom=0&tbnid=BgG0AjNvNzO3XM:&tbnh=91&tbnw=99&ei=i14fTu34Na3MmAXU7qGXAw&prev=/images%3Fq%3DK242A1/K281A1%26um%3D1%26hl%3Dvi%26sa%3DG%26tbas%3D0%26tbm%3Disch&um=1&itbs=1

Thông tin chung

K200 đi tuần tra ở khu vực biên giới Triều Tiên, gần thị trấn Pocheon.

K200 KIFV là loại xe thiết giáp được sử dụng phổ biến nhất trong các lực lượng chiến đấu của Lục quân Hàn Quốc. Năm 1981, các lãnh đạo của Binh chủng Tăng - Thiết giáp Hàn Quôc đã đệ trình lên chính phủ xem xét việc chế tạo một loại xe chiến đấu bộ binh mới cho Lục quân Hàn Quốc. Đề xuất này đã nhận được sự ủng hộ từ chính phủ, Cơ quan Phát triển Quốc phòng đã bắt tay vào việc thiết kế kiểu xe và Tập đoàn Công nghiệp năng Daewoo (DHI) đảm nhận xây dựng dây chuyền sản xuất số lượng lớn. Xe chiến đấu bộ binh K200 được thiết kế dựa trên kiểu xe AIFV của Mỹ. Trong lĩnh vực sản xuất tăng - thiết giáp của Hàn Quốc, DHI là nhà sản xuất thành công nhất vào thập niên 1980, là nhà sản xuất tiên phong trong ngành công nghiệp quốc phòng của Hàn Quốc. Năm 1985, dây chuyên sản xuất hàng loạt của K200 bắt đầu đi vào hoạt động.Năm 1994, Quân đội Hàn Quốc cho tiến hành chương trình nâng cấp toàn diện K200, chương trình nâng cấp bao gồm: nâng cấp sức mạnh động cơ và lắp đặt hệ thống truyền dẫn tự động mới. Ngoài ra trong đợt nâng cấp này, DHI còn tiến hành lắp đặt các loại vũ khí hạng năng như cối 81mm, cối 20mm nhằm mục đích yểm trợ hỏa lực cho bộ binh, chống lại các phương tiện chiến đấu của đối phương và các thiết bị bảo trì, sửa chữa. Hiện nay, Quân đội Hàn Quốc đang dần thay thế loại K200 bằng K21 hiện đại hơn nhưng trong tương lai gần K200 vẫn là "xương sống " của lực lượng thiêt giáp Hàn Quốc.

Thông số kỹ thuật (K200A1)

- Loại : Xe chiến đấu bộ binh
- Nước sản xuất : Hàn Quốc
- Nặng 13,2 tấn
- Dài : 5,482 m
- Rộng : 2,846 m
- Cao : 2,518 m
- Tổ lái : 3 người (trưởng xe, lái xe và xạ thủ) + 9 lính bộ binh
- Vũ khí : 1 súng phòng không 12,7mm M2 Browning + 1 súng máy đồng trục 7,62mm M60D
- Vỏ giáp : Nhôm
- Động cơ : Động cơ diesel D2848T 350 mã lực
- Hệ thống giảm xóc : thanh xoắn
- Tầm hoạt động : 480 km
- Tốc độ : 70 km/h (đường nhựa), 7 km/h (trong nước)
- Năng suất : 26,5 hp/tấn

Các phiên bản

- K216 (xe trinh sát): trước sự phát triển của các loại vũ khí cá nhân, K216 đã được cải tiến để thiết kế, cải tiến để có thể đáp ứng dược những yếu tố khắc nghiệt của chiến tranh hiện đại. Xe rất cơ động và có khả năng sống sót cao trong các trận giao chiến với xe thiết giáp đối phương, xe cũng có thể chiến đấu trong môi trường CBR- chất hóa học, sinh hóa và tia X.
K216

- K263 : tháp pháo của xe được thay thế bằng ụ súng phòng không Vulcal.
K263


- K242A1/K281A1 : pháo cối tự hành 81mm, xe rất cơ động trên địa hình rừng núi, đầm lầy và được sử dụng hiều trong các đơn vị bộ binh cơ giới. Nhiệm vụ chính của xe là hỗ trợ hỏa lực cho lính bộ binh.
K242A1/K281A1

- K277 (xe chỉ huy) : xe được trang bị một máy phát điện phụ trợ, các trang bị thiết bị, quân trang, quân dụng cơ bản, hệ thống bản đồ tác chiến và hệ thống thông tin liên lạc hiện đại.
K277

- K88A1 (xe phục hồi) : xe có một cần cẩu và một trục nâng, nó có thể tời kéo các loại xe quân sự khác dễ dàng. Ngoài ra, K288A1 còn được trang bị một số thiết bị bảo trì, sửa chữa cơ bản, các loại phụ tùng thay thế,...để có thể sửa chữa các phương tiện chiến đấu ngay trên chiến trường.
K288A1

- Xe thiết giáp cứu thương được phát triển để có thể đáp ứng được các yêu cầu của việc điều trị y tế cho quân nhân bị thương trong khi cuộc chiến vẫn đang tiếp tục. Xe được trang bị hai giường bệnh dã chiến, các thiết bị cứu thương thông dụng, hai máy cung cấp ôxy tự động và hai bộ dụng cụ phẫu thuật.

- KAFV90 : xe được trang bị pháo 90mm, tháp pháo của xe được thiết kế lại, vỏ giáp của xe cũng dược tăng cường . Khẩu pháo 90mm được dùng để chống lại các loại hỏa lực của đối phương bảo đảm cho các đơn vị bộ binh cơ giới  được an tàon khi đổ bộ lên mặt trận. Xe thường được vận chuyển bằng đường không (Hàn Quốc thường sử dụng loại C130 để chuyên chở).
KAFV90

- KAFV40/50 : xe được trang bị một súng phóng lưu 40mm và một súng máy cỡ nong,50. Với trọng lượng 13,9 tấn bảo gồm của hệ thống tháp pháo, xe có thể chạy với tốc độ cao nhất 70km/h.
KAFV40/50

- KAFV30A : xe được trang bị một súng máy phòng không 30mm (có thể bắn 200 viên/phút) và một súng máy đồng trục 7,62mm. Với cơ cấu gọn nghẹ, hỏa lực hoàn toàn được điền khiển tự động thông qua một bảng điện tử bên trong xe và xe cũng có thể bắn chính xác khi đang di chuyển vào ban đêm.
KAFV30A

- KAFV30M : xe được trang bị một súng máy phòng không 30mm (800 viên/phút) và một súng máy đồng trục 7,62mm MG63A1.
KAFV30M

- KAFV25 : xe được lắp đặt pháo tự động 25mm KBA và một hệ thống giúp ổn định khi xe di chuyển và lp giáp bảo vệ được tăng cường thêm.
KAFV25

K200A1

K200A1

Dựa trên kinh nghiệm từ việc sản xuất K200, DHI đã thiết kế và đưa vào sản xuất phiên bản K200A1. K200A1 co khả năng đảm bảo sống còn cho các thành viên trong xe, tính di động cao va 2xe cũng được trang bị nhiều thiết bị hiện đại có thể đáp ứng các yêu cầu về mặt kỹ thuật và chiến thuật từ các quốc gia trên thể giới. K200 đã chứng tỏ được các ưu thế của nó khi được Lực lượng Gìn gữ hòa bình Liên hợp quốc (UN) triển khai hoạt động ở chiến trường Bosnia. K200A1 có khả năng bảo vệ mạng sống của binh sĩ khi đổ bộ lên mặt trận trước đan pháo của kẻ thù. Các lính bộ binh bên trong xe cũng có thể tham gia tác chiến bằng các loại vũ khí bộ binh hạng nhẹ thông qua các lỗ châu mai và kính tiềm vọng được lắp đặt ở hai bên thân xe. Ngoài ra, xe còn được trang bị một súng máy phòng không hạng năng 12,7mm M2 Browning và một súng máy đồng trục 7,62mm M60D.K200A1 sử dụng động cơ diesel D2848T 350 mã lực va 2he65 thống sang số tự động. Trọng lượng của xe là 13,2 tấn. Xe có tính cơ động cao, trong lượng nhẹ giúp cải thiện khà năng tăng tốc va 2chie61n đấu. K200A1 có năm trục lăn mỗi bên và giảm xóc bằng thanh xoắn. Nó chở theo chín lính bộ binh va 2mo65t tổ lái ba người (trưởng xe, lái xe và xạ thủ). K200A1 có tốc độ nhanh nhất 70 km/h trên đường tốt và nó có thể tăng tốc từ 0 - 32 km/h trong kổang 6,5 giây nhanh hơn so với K200 (10 giây). Xe có thể lội nước với vận tốc khoảng 7 km/h nhờ hệ thống đẩy phản lực. Xe cũng được lắp đặt hộp số mới và hệ thống làm mát cho động cơ mới. Xe có sáu ống phóng lựu đạn khói ngụy trang được lắp đắt trước mũi xe. K200A1 đã trải qua ácc cuộc thự nghiệm trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt vào mùa đồng và mùa hè, vượt qua acc1 khu vực  có địa hình phức tạp nhất trên lãnh thổ Hàn Quốc. các thử nghiệm về môi trường cũng được thực hiện trong điều kiện 32 - 50 độ Celcius. Những kinh nghiệm tích lũy từ những cuộc thử nghiệm đã góp phần vào việc cải tiến, nâng cao khả năng hoạt động ủa hệ thống máy và khí tài trong xe. Đỉnh cao của cuộc thử nghiệm là việc K200A1 phải chạy liên tục không ngừng suốt 72 giờ trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ở Indonesia.

K200 của Lực lượng Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.

Xuất khẩu

Vào cuối năm 1993,Hàn Quốc đã bán cho Quân đội Hoàng gia Malayxia một số K200.

K200 của Malayxia
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Bảy, 2011, 04:27:24 am gửi bởi Bộ đội Cụ Hồ » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #377 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2011, 01:45:06 am »

Bạn Bộ đội Cụ Hồ chèn nguồn bài viết vào nhé! Sau 12 giờ không có nguồn, bài viết sẽ bị đánh giá là spam!
Dạo này em bận, không có thời gian viết bài được. Cố gắng qua tuần sẽ tiếp tục các loạt bài dở.
Cả nhà thông cảm nhé!
Logged
Bộ đội Cụ Hồ
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #378 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2011, 07:02:11 pm »

ZBL-09

Tổng hợp từ : http://www.military-today.com/apc/new_chinese_ifv.htm

ZBL-09 còn có tên khác là Type 07 Snow Leopard (Báo tuyết) là loại xe thiết giáp mới của Trung Quốc, được phát triển bởi Tập đoàn Công nghiệp Phương bắc NORINCO, thuộc họ xe bọc thép bánh lốp 8x8. Loại xe này xuất hiện lần đầu năm 2006 trong các cuộc thử nghiệm trên đường. Nó có thể trở thành thế hệ kế tiếp của các kiểu xe bọc thép chở quân Type 92 APC và xe chiến đấu bộ binh Type 92 IFV. Năm 2009, ZBL-09 chính thức được  trang bị rộng rãi trong các đơn vị chiến đấu của Lỵc quân Trung Quốc. Theo Strategy Page ngày 2/6 đưa tin, Trung Quốc đã bắt đầu cho bán ồ ạt xe bọc thép ZBL-09 ra nước ngoài với phiên bản xuất khẩu mang số hiệu VN-1.

THÔNG SỐ KỸ THUẬT

- Kích thước:

Dài: 8m; rộng: 3m; cao: 2.1m (kể cả tấm giáp đỉnh bằng gốm composite).

- Kíp xe: 3 người.

- Năng lực chở quân: 7 - 10 người.

- Động cơ: DEUTZ V6 BF6M1015C 440 mã lực.

- Tốc độ:

Lớn nhất trên đường bằng: 100km/h; tốc độ lội nước lớn nhất: 8km/h.

- Vũ khí trang bị:

Súng máy 2A72 30mm  (Trung Quốc); hệ thống ngắm bắn 3 trong 1, máy nhìn toàn cảnh của chỉ huy.

- Bảo vệ:

Phía trước: Chống đạn xuyên giáp 12,7 mm ở khoảng cách 100m; chống đạn xuyên giáp 25mm ở khoảng cách 1000m (khi có tăng cường vỏ giáp gốm composite).

Bên sườn: Chống đạn xuyên giáp 7,62 mm ở khoảng cách 100m; Chống đạn xuyên giáp 12,7 mm ở khoảng cách 100m (khi có tăng cường vỏ giáp gốm composite);

Phía sau: Chống đạn xuyên giáp 7,62 mm ở khoảng cách 120m.

THIẾT KẾ


ZBL-09 bao gồm 2 phiên bản chính: xe chở lính bọc thép và xe pháo tự hành.
Thân xe ZBL-09 phiên bản chở lính được chia làm hai phần bằng một , mỗi phần chiếm khoảng một nữa xe. Khoang chứa động cơ được bố trí ở giữa thân xe, phía sau khoang lái. Khoang lái gồm một ghế ngồi có thể gập ra sau, hệ thống lái gồm vô lăng lái trợ lực và một hách mở ra sau được tích hợp các kính quan sát. Nhìn từ bên ngoài, trước hách này có một thanh thẳng đứng dùng để cắt các dây kẽm gai để bảo vệ lái xe khi xe lái ngang qua các dây kẽm gai và hách lái xe mở. Phần phía sau là khoang chở lính gồm hai bằng ghế đặt sát thành xe, quay mặt vào nhau. ở cuối khoang chở lính có một cửa sập lớn bao gồm một cửa nhỏ hơn mở ngang. Hai vị trí cuối cùng của hai bằng ghế có hai hách mở lên trên cho phép hai binh sĩ đứng lên chiến đấu. Ở giữ các băng ghế và thành xe cũng có một khoảng trống để chứa các vật dụng hàng hoá. Ở giữa hai phần trên là khu vực của xa trưởng, kiêm xạ thủ nằm ở vị trí khoảng trục bánh xe thứ 2 và 3. Người này ngồi phía khoang khá tách biệt ở bên phải, sau khoang động cơ và có một hách mở lên trên nóc. Bên trái vị trí của xa trưởng là vị trí của trưởng nhóm lính, người này có một màn hình điện tử chia sẽ thông tin với xa trưởng và có một hách mở lên trên, một hách mở ngang ở sườn trái xe giúp thoát ra trong trường hợp khẩn cấp. Phía trước hách này cũng có một thanh cắt dây kẽm gai.
Binh lính từ xe ZBL-09 đổ bộ lên mặt trận, mỗi xe ZBL-09 có thể chở từ 7-10 lính bộ binh được trang bị đầy đủ vũ khí.

DI ĐỘNG


ZBL-09 là loại xe 8 bánh tự hành, mỗi bánh xe đều có lõi run-flat cho phép xe chạy ngay cả khi bị lủng 2-4 bánh, ngay cả khi 8 bánh bị lủng, ZBL-09 vẫn có thể đi được một đoạn ngắn. ZBL-09 có khả năng hoạt động cả trên bộ lẫn trên mặt nước. Nó có thể phát triển tốc độ lên tới 100 km/h khi chạy trên đường nhựa và 8 km/h khi chạy trên mặt nước. Nhiên liệu trên xe cho phép ZBL-09 có thể hoạt động trong phạm vi 800 km. Tuy nhiên khả năng di chuyển trên địa hình của ZBL-09 bị hạn chế khi di chuyển trên địa hình phức tạp.
Xe ZBL-09 sử dụng động cơ diesel Deutz BF6M1015C công suất 440 mã lực. ZBL-09 khi chạy được đánh giá ít tiếng ồn cũng như độ rung.
ZBL-09 có hai bình nhiên liệu có dung tích tổng cộng 200 lít. Hai bình xăng này nằm ở bên ngoài, phía cuối đuôi xe và đối xứng qua cửa sập. Nhiên liệu được bố trí hoàn toàn bên ngoài xe, từ đó giảm khả năng xe bị cháy khi bị đạn bắn xuyên giáp.
Ngoài ra, ZBL-09 còn có hệ thống điều chỉnh áp suất bánh xe cho phép tăng/giảm áp suất bánh -> giảm/tăng diện tích tiếp đất -> tăng/giảm áp lực mặt đất. Hệ thống có 4 chế độ: đường, địa hình, đất mềm, khẩn cấp. Hệ thống tự động kiểm áp suất bánh mổi 30s. Ở mỗi bánh của xe đều có phanh hơi và 3 cặp bánh sau có hệ thống chống bó cứng phanh(ABS). Xe chuyển động dưới nước bằng công nghệ waterjet với 2 luồng phụt.
ZBL-09 vượt sông

HOẢ LỰC


Cơ cấu vũ khí được đặt trên một cái tháp pháo xoay. Nó bao gồm một khẩu súng 30 mm , một khẩu 7,62 mm đồng trục và một khẩu phóng lựu 30 mm. Tháp pháo còn có thể lắp thêm hệ thống ATGM để tăng cường năng lực chống tăng. Thiết bị phóng tích hợp này cũng cho phép bắn tên lửa chống tăng từ mặt đất.
Tháp pháo được gắn thiết bị ổn định bắn khi xe đang di chuyển, hệ thống điều khiển bắn gồm các loại kính ngắm ngày/đêm của xạ thủ và trưởng xe. Xạ thủ có thể sử dụng vũ khí từ bên trong xe, nhưng khi hết đạn thì vẫn phải lộ ra ngoài để nạp đạn hoặc sửa chữa khi có trục trặc.
Tầm bắn của xe đối với các mục tiêu bọc giáp mỏng như trực thăng hay xe cơ giới là khoảng 2.500m, còn đối với các mục tiêu mềm như binh lính đối phương, các bệ ATGM hay pháo thủ thì đều có khả năng bị tiêu diệt ở khoảng cách 4.000m.
Hỏa lực của chiếc ZBL-09 được tăng thêm nhờ vào súng tiểu liên và súng máy của lính trong xe, hơn nữa, họ có thể sử dụng tên lửa vác vai để bắn máy bay thông qua các cửa trên nóc. Binh lính khai hỏa vũ khí của họ từ các lỗ bên hông xe, trên nóc xe và cả trên mặt đất nếu họ đã di chuyển ra ngoài xe.
Hệ thống vũ khí của xe thay đồi tùy theo phiên bản.

BẢO VỆ


Về cơ bản, 1 chiếc ZBL-09 có thân xe làm từ thép tăng độ cứng cao dày 12,7mm và được gia cố với một lớp lót chống miểng làm từ kevlar có khả năng bảo vệ trước đạn 7,62mm AP từ mọi hướng. Độ dày của lớp giáp này được tăng một phần do độ ngiêng của giáp trước và hai bên. Giáp trên nóc có khả năng đỡ đạn 7,62mm AP và mảnh đạn pháo 152mm loại nổ trên không. Gầm xe có khả năng bảo vệ trước các loại mìn cá nhân. Thân xe bên trong cũng được bọc 1 lớp lót chống miểng. ZBL-09 cũng có khả năng chống NBCR(Nuclear-Biological-Chemical-radiological/Tác nhân phóng xạ-sinh học-hoá học-sóng điện từ).
Để chống lại RPG, ZLP-09 sử dụng giáp thanh(hay còn gọi là giáp lồng, chuồng), điều này đồng nghĩa với việc bề ngang và dọc của ZBL-09 sẽ dày thêm 1m. Loại giáp này cũng giống như 1 cái chuồng lớn bao quanh xe, khiến cho đầu đạn nổ khi chạm vào các thanh sẽ phát nổ từ một khoảng cách xa so với thân xe, trong trường hợp đạn bắn vào khoảng trống giữa các thanh, đầu đạn sẽ bị vỡ ra, văng mất phần ngòi nổ và sẽ không phát nổ . Trong trường hợp đầu đạn quá mạnh, có khả năng xuyên phá giáp xe thì đầu đạn phát nổ từ xa vẫn khiến cho luồn hơi bị tản mát bên ngoài xe, giảm khả năng 1 phát đạn tiêu diệt toàn bộ số lính trên xe. Lớp giáp này đặt cách thân xe khoảng 25,4 cm và có khoảng cách giữa các thanh trung bình là 6,35 cm. Các kính quan sát trên xe đều có thể chống đạn 7,62mm. Tuy nhiên, bánh xe và các thiết bị quan sát vẫn là những khu vực dễ bị hỏng hóc trước vũ khí cá nhân.
Hệ thống chữa cháy có các cảm biến ở khoang động cơ và khoang chở người có thể kích hoạt tự động 1 hay nhiều bình chữa cháy khí halon, lái xe cũng có thể kích hoạt bằng tay.
Xe cũng được lắp các bộ phóng lựu đạn khói

THÔNG TIN LIÊN LẠC


Tuỳ theo chủng loại đơn vị và cấp mà mỗi xe ZBL-09 sẽ có từ 1 đến 4 radio các loại khác nhau. Trong đó, loại radio liên lạc địa-không một kênh là hầu như phải có.
Các thiết bị khác bao gồm: thiết bị xác định báo cáo vị trí nâng cấp, thiết bị GPS chính xác trọng lượng nhẹ/thiết bị GPA phòng thủ tiên tiến và cổng giao diện video, màn hình camera điều khiển hệ thống vũ khí.
Điểm nổi bật của ZBL-09 là Hệ thống chỉ huy chiến trường gồm một máy tính được các chỉ huy sử dụng ở mọi cấp trong hệ thống liên lạc. Nó được đặt ở vị trí của xa trưởng và là một hệ thống điện tử cho phép liên lạc giữa các xe qua thông điệp chữ và bản đồ điện tử, một “mạng internet tầm ngắn”. Thực hiện nhiệm vụ truyền thông tin liên lạc, xác định vị trí và báo cáo. Thông qua hệ thống, mọi chỉ huy có thể truy cập vào dữ liệu của các đơn vị của mình và của bạn, các phương tiên hổ trợ hoả lực(pháo binh) và hổ trợ không quân. Một đơn vị có thể xác định trên bản đồ điện tử kẻ thù mà mình xác định cho các đơn vị bạn biết.

CÁC PHIÊN BẢN


+ Xe bọc thép chở lính : Là phiên bản có số lượng lớn nhất của dòng xe ZBL-09. Phục vụ như 1 APC có thể chuyên chở 7-10 lính bộ binh. Tổ lái bao gồm lái xe cộng xạ thủ kiêm xa trưởng. Khi xe đang chở lính, vị trí bên trái phía trước khoang hành khách là dành cho trưởng nhóm lính. Ở vị trí này, người trưởng nhóm lính có thể thấy được những gì xạ thủ/xa trưởng và lái xe thấy. Ở cuối xe có 2 cửa mở lên trên nóc cho phép 2 binh sĩ lộ ra ngoài để giao chiến. Vũ khí của xe là hệ thống điều khiển từ xa gắn kết với pháo 30mm và usn1g máy đồng trục 7,62mm. Bên trong xe có thể chứa 1 cơ cấu phóng tên lửa cùng 4 tên lửa, 3200 viên đạn 7,62x51mm, 2.240 viên đạn 5,56mm rời hoặc 1.120 viên loại gắn liền với nhau.

+ Xe trinh sát : Là loại xe không được trang bị hệ thống điều khiển vũ khí tự động mà thay vào đó là Hệ thống trinh sát tầm xa tiên tiến tại cùng vị trí. Hệ thống trinh sát tầm xa tiên tiến là một hệ thống phát hiện mục tiêu, nhận diện, xác định và thu thập mục tiêu ở tầm xa. Nó bao gồm các cảm biến hoạt động trong mọi thời tiết bao gồm thiết bị tạo ảnh hồng ngoại, camera quan sát ngày, thiết bị xác định khoảng cách bằng laser, kính quan sát tầm xa và GPS. Thông tin sau đó sẽ được đưa thẳng vào Hệ thống chỉ huy chiến trường. Xe được dùng cho mục đích trinh sát và chỉ chở được 5 người.

+ Xe hỗ trợ hỏa lực 105mm : Là 1 trong những phiên bản đặc biệt nhất của dòng xeZBL-09, xe được trang bị hỏa lực bao gồm 1 khẩu pháo 105mm (tương tự như loại pháo của xe tăng Type59D), 1 khẩu 7,62mm đồng trục và 1 khẩu 12,7mm phòng không ở bên phải của tháp pháo. Xe có một máy nạp đạn tự động chứa 18 viên đạn. Nhiệm vụ chính không phải là chống thiết giáp mà là chi viện hoả lực trực tiếp cho bộ binh chống lại công sự, các toà nhà... trong những trận chiến quy mô nhỏ. Khẩu pháo 105mm sử dụng máy để nạp đạn nên tổ lái chỉ có 3 người. Đạn pháo trên xe được để ngăn cách với khoang chiến đấu để tăng sự an toàn. Trên xe chứa 18 viên đạn 105mm bao hồm HE, HEAT, APFSDS (để chống tăng trong trường hợp nguy cấp). Xe có thể bắn xuyên giáp các loại thiết giáp từ cỡ Type 69 trở xuống. Các bộ phóng lựu được gắn 2 bên tháp pháo.

+ Xe pháo cối tự hành nòng kép 120m

+ Xe chỉ huy : Là loại xe chỉ huy ở cấp tiểu đoàn và cao hơn, xe được tăng cường thêm các thiết bị C4ISR(Command, Control, Communications, Computers, Intelligence, Surveillance and Reconnaissance/ chỉ huy, điều khiển, liên lạc, máy tính, tình báo, giám sát và trinh sát). Số lượng và chủng loại radio tuỳ theo loại đơn vị và cấp. Các thiết bị khác bao gồm: Hệ thống video trinh sát trọng lượng nhẹ, một camera cầm tay có thể chuyển hình ảnh tình qua sóng radio và máy điều hoà nhiệt độ. Tổ lái của xe và hành khách bao gồm 7 người. Vũ khí của xe là 1 khẩu 12,7mm hoặc 7,62mm không điều khiển.

+ Xe công binh : Xe được thiết kế để hỗ trợ hậu cần, kỹ thuật cho các đơn vị thiết giáp hạng nhẹ. Xe hỗ trợ hoạt động sửa chữa phương tiện thiết giáp bằng cẩu nâng và máy hàn điện, cũng như lai dắt và cứu kéo các xe thiết giáp hỏng nhẹ từ cả trên bộ lẫn khu vực ngập nước về điểm tập kết. Ngoài ra, xe  còn đảm bảo khả năng thường trực ứng cứu kỹ thuật và hỗ trợ các kíp lái tiến hành công tác sửa chữa, bảo dưỡng phương tiện. Xe được phát triển từ khung gầm xe bọc thép bánh hơi ZBL-09, được trang bị súng máy 7,62mm gắn trên tháp pháo xoay, cùng các thiết bị phòng xạ - sinh - hóa (NBC) và dập cháy tự động. Xe sử dụng cáp tời để tự cứu và cứu kéo các xe bị hư hại hoặc bị tràn nước. Với hệ thống càng trụ vận hành bằng thủy lực, xe có khả năng cân bằng tốt hơn khi tiến hành công tác cứu kéo. Ngoài ra, xe còn có bộ công cụ và thiết bị gá cáp và thanh kéo để lai dắt các xe thiết giáp hỏng lái. Các vật tư, phụ tùng phục vụ công tác sửa chữa kèm xe được bố trí trong thùng chuyên dụng gá trên nóc xe.

+ Xe cứu thương : Được nới rộng ra từ thân của phiên bản xe chở lính bọc thép, xe có thể chở 4 thương binh nằm cáng cứu thương hoặc 6 thương binh ngồi(hoặc 2 thương binh nằm và 3 thương binh ngồi) cùng với tổ lái 2 người và 1 quân y. Xe có thể mang được nhiều thiết bị y tế cần thiết. Ở sau xe cũng có 1 máng để đưa bệnh nhân trên cáng cứu thương vào xe nhanh và dễ hơn. Xe không có vũ khí nhưng các thiết bị liên lạc trên xe vẫn tương tự với các loại khác.

+ Pháo (nòng ngắn) tự hành 122 mm, 155 mm : Xe gồm hai biến thể trang bị hai loại pháo 122mm và 155mm. Xe được trang bị máy tính đường đạn hiện đại, màn hình hiển thị dữ liệu đa năng, hệ thống thu nhận dữ liệu và định vị GPS, hệ thống phòng vệ chống xạ - sinh – hóa (NBC), hệ thống dập lửa tự động, hệ thống kiểm soát hỏa lực tự động hiện đại và hệ thống định vị quán tính (INS). Xe có khả năng di chuyển tốt, hỏa lực tầm bắn lớn, độ chính xác cao. Bên cạnh đó xecòn được tích hợp một súng máy phòng không 12,7 mm, gắn trên nóc xe.  Pháo tự hành sử dụng khung gầm 8x8 của ZBL-09 và có thể vận chuyển bằng máy bay vận tải.
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Bảy, 2011, 10:36:32 pm gửi bởi Bộ đội Cụ Hồ » Logged
Bộ đội Cụ Hồ
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #379 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2011, 08:48:09 pm »

LAV 25 (Light Armored Vehicle-25)

(Bài viết được lấy từ website vndefence.info)

LAV-25 được giới thiệu vào năm 1985. LAV-25 phục vụ như 1 IFV hạng nhẹ hoặc APC. LAV-25 có thể chuyên chở bằng máy bay C-130(1 chiếc xe/ máy bay), C-141(4 chiếc), C-5(8 chiếc) và trực thăng CH-53E(1 chiếc). LAV-25 là loại xe có thể lội nước sau tối đa 3 phút chuẩn bị. Lớp giáp của xe làm từ thép cứng cũng phục vụ như khung đỡ cho trọng lượng xe. Phiên bản của lục quân Mĩ có tên là M1047 tương tự như phiên bản của lính thuỷ đánh bộ Mĩ(USMC) nhưng mang theo nhiều đạn hơn và không chở lính. Để di - chuyển trên tuyết và đất mềm, người ta có thể buột xích vào bánh xe trong 15 phút để tăng tính di động mà hề không gây hại cho mặt đường trải nhựa.


Thông số

- Tổ lái+hành khách: 3(xa trưởng, lái xe, xạ thủ/ XTr, LX, XT)+ 6 lính đi theo
- Trong lượng: 12,8 tấn
- Truyền động: 8x8
- Dài: 6,39m
- Rộng: 2,5m
- Cao(đến súng máy trên nóc): 2,69m
- Cao(nóc tháp pháo): 2,57m
- Động cơ: Diesel 275 mã lực
- Hộp số: 5 tiến, 1 lùi
- Tầm hoạt động: 660km
- Dung tích bìng xăng: 269 lít
- Tốc độ trên đường: 100km/h
- Tốc độ bơi: 9,6km/h
- Lên dốc: 31 độ
- Đi ngang dốc: 22 độ
- Vượt hào: 2,057m
- Vượt dốc thẳng đứng: 0,5m

Bảo vệ

- Giáp: Thép cứng. Có khả năng chống lại đạn 7,62x51mm M1943 ball từ mọi hướng xung quanh.
- Chống NBC: Hệ thống mặt nạ M8A1. Hệ thống phát hiện, báo động M43A1.

Vũ khí

- Pháo M242 Bushmaster 25mm: có ổn định, nạp đạn đôi, cơ số đạn:150 HE + 60 KE(sẳn sàng), 420 viên (dự trữ). Có thể bắn các loại đạn APDS-T, APFSDS-T, HEI-T.
- Súng máy đồng trục M240 7,62x51mm: mang 440 viên(sẳn sàng) và 1.200 viên(dự trữ).
- Súng máy M240E1 7,62x51mm lắp ngoài: mang 220 viên.

Vũ khí:
Pháo M242 Bushmaster 25mm: có ổn định, nạp đạn đôi, cơ số đạn:150 HE + 60 KE(sẳn sàng), 420 viên (dự trữ). Có thể bắn các loại đạn APDS-T, APFSDS-T, HEI-T.
Súng máy đồng trục M240 7,62x51mm: mang 440 viên(sẳn sàng) và 1.200 viên(dự trữ).
Súng máy M240E1 7,62x51mm lắp ngoài: mang 220 viên.

Các thiết bị khác

- 3 kính quan sát cho LX với 2 mức bảo vệ trước laser, có khả năng tích hợp với thiết bị nhìn đêm.
- 7 kính quan sát cho XTr với 2 mức bảo vệ trước laser. Thiết bị xác định mục tiêu DIM 36, thiết bị hồng ngoại trực diện(FLIR) thế hệ 1 hoặc 2. Màn hình hiển thị từ thiết bị DIM 36th của XT.
- 1 kính quan sát với 2 mức bảo vệ trước laser cho XT và thiết bị xác định mục tiêu bằng hồng ngoại DIM 36th.
- La bàn điện tử.
- Màn hình cho LX.
- 2 chân vịt lộ nước sau xe.

Các chương trình

+LAV RAM(reliability, availability, maintainibility/ tin cậy, sẳn sàng, bảo dưỡng) : Dự án nâng cấp của USMC, bao gồm nhiều thay đổi giá rẻ, nhưng bao gồm nhiều thay đổi về xe và vũ khí, chú trọng vào sự an toàn, thiết bị, dụng cụ hỗ trợ và nhiều dự án nhỏ khác nhằm tăng cường sự tin cậy và sẳn sàng của các xe LAV trong khi làm giảm giảm chi phí hoạt động.

+LAV SLEP-PIP : Chương trình kéo dài tuổi thọ cho LAV(LAV service life extension program/LAV SLEP) nhằm hổ trợ quyết định thành lập 5 đại đội trinh sát thiết giáp nhẹ(light armored reconnaissance/LAR). USMC đã không sẳn xuất LAV mới kể từ cuối những năm 1980. LAV SLEP-PIP có các nâng cấp: hệ thống treo GEN II, động cơ, truyền động và tháp pháo xoay bằng điện. Thêm giáp gia cố ngoài xe(add-on ammor) và lớp chống miểng trong xe. Xe cũng được trang bị hệ thống chữa cháy tự động. Chương trình SLEP sẽ biến LAV-25 thành LAV-25A1 và có khả năng A1 sẽ không bơi được. Chương trình dự kiến kéo dài tuổi thọ phục vụ của LAV đến năm 2025.

+LAV SLEP ITSS(improved thermal sight system/hệ thống nhắm hồng ngoại nâng cấp) : Gói nâng cấp này sẽ thay các thiết bị nhắm hồng ngoại thế hệ 1 bằng loại thế hệ 2 có tầm hoạt động cao hơn. Thiết bị nhắm mới cũng sẽ được tích hợp với thiết bị xác định khoảng cách bằng laser, máy tính điều khiển hoả lực, khả năng phát hiện chuyển động và tính toán toạ độ mục tiêu. Gói nâng cấp này chỉ dành cho LAV-25.

+LAV lethality Program (chương trình nâng cấp tác chiến) : Thực hiện từ năm 2007-2010. Nâng cấp khẩu M242 kết hợp với các phần cứng và phần mềm cần thiết để sử dụng loại đạn 25mm M919 APFSDS-T có lõi Uranium nghèo(DU). Chương trình này sẽ đầu tư những công nghệ hiện có ở dòng xe IFV Bradley. Gói nâng cấp này chỉ dành cho LAV-25.

+LAV-25 war loss program : Thực hiện trong thời gian 2006-2008. Chương trình thay thế LAV-25 bị mất trong chiến tranh của General Dynamics Land System sẽ thay thế những xe LAV-25 bị mất trong chiến đấu.

+LAV-C2 upgrade : Chương trình nâng cấp LAV-C2(2008-2010) cung cấp mô-đun phần cứng và phần mềm hỗ trợ cho những yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ liên lạc radio phức tạp. Gói nâng cấp nhiều tính năng quan trọng cho việc thông tin liên lạc trên chiến trường. Gói nâng cấp này chỉ dành cho LAV-C2.

Các phiên bản

+LAV-AD(air-defense/ phòng không) : Thay thế tháp pháo cũ bằng tháp pháo Blazer Air Defense của hãng General Dynamics Ordinace System. Tháp pháo mới bao gồm 8 ống phóng tên lửa Stinger(cùng 8 tên lửa dự trữ trong xe) và 1 khẩu pháo nòng xoay(gatling gun) 25mm GAU-12(990 viên). Tổ lái bao gồm 3 người(XTr, LX, XT). LAV-AD cũng được trang bị với hệ thống quan sát hồng ngoại đêm và TV ngày. Hệ thống liên lạc bao gồm radio VHF, HF và hệ thống liên lạc nội bộ.

+LAV-AT(anti-tank/ chống tăng) : Phiên bản này được trang bị 2 ống phóng tên lửa TOW ở trên thân xe. Cơ cấu phóng chứa 2 tên lửa và trong xe chứa 14 tên lửa khác cùng 1.000 viên 7,62mm. Vũ khí phụ là 1 khẩu M240 7,62mm hoặc M2 .50 không điều khiển. Xe cũng mang theo 1 giá đỡ cho cơ cấu phóng để phóng tên lửa từ mặt đất, cùng với đó là 1 thiết bị cầm tay xác định khoảng cách bằng laser. Tổ lái của xe bao gồm 4 người(XTr, LX, XT và người nạp đạn).

+LAV-L(logistic/hậu cần) : Thân xe LAV-L được nâng cao thêm với 2 "hách"(hatch/ lỗ thông lên trên nóc xe, có cửa đóng mở) . Tổ lái gồm 3 người(XTr,LX và người dỡ hàng). Ở bên trái cuối xe có 1 cần cẩu để bóc dỡ hàng hoá. Vũ khí trên xe là 1 M240 không điều khiển.

+LAV-C2, CC(command & control/chỉ huy và điều khiển) : LAV-C2 có thân xe giống như phiên bản LAV-L cùng với nhiều thiết bị liên lạc khác. Tổ lái của xe bao gồm Xtr và LX. Hành khách bao gồm 5 người. Vũ khí duy nhất của xe là 1 khẩu M240 7,62mm không điều khiển.

+LAV-M(mortar/ cối) : Mang theo 1 cối 81mm M252 cùng 94 viên đạn. Khẩu cối được đặt chính giữa xe và bắn xuyên qua 1 hách gồm 3 phần trên nóc. Vũ khí phụ là 1 khẩu M240 7,62mm. Tổ lái 5 người gồm XTr, LX và 3 người điều khiển cối.

+LAV-MEWSS(mobile electronic warfare support system/ hệ thống hỗ trợ chiến tranh điện tử di động) : LAV-MEWSS có khả năng cung cấp thông tin liên lạc 2 chiều, thu thập thông tin, xác định vị trí của kẻ thù cũng như là làm gián đoạn hay đứt đoạn luồng thông tin liên lạc của đối phương. Tổ lái của xe bao gồm LX, XTr, người điều hành hổ trợ điện tử(electronic support measure operator) và người điều hành phản ứng điện tử(electronic countermeasure operator). Thiết bị của xe bao gồm hệ làm thống gián đoạn điện tử AN/ULQ19, hệ thống tìm phương hướng AN/PRD-10. Vũ khí là 1 khẩu M240 7,62mm không điều khiển.

+LAV-R(recovery/ phục hồi, sửa chữa) : Nhiệm vụ của LAV-R là lật lại những xe LAV bị lật hay kéo những xe LAV mất khả năng di chuyển. Tổ lái của xe gồm 4 người: XTR, LX và 2 kĩ thuật viên. Xe được trang bị 1 bộ cung cấp năng lượng riêng, 1 cần cần cẩu có thể nâng hạ 4.082kg, 1 tời kéo sau lưng xe có thể kéo 13.608kg, và 2 đèn MS-51320 có sức sáng tương đương 4.400 cây nến, 4 thiết bị ổn định cho xe khi sử dụng cần cẩu. Vũ khí của xe là 1 khẩu M240 7,62mm không điều khiển.
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Bảy, 2011, 04:32:21 am gửi bởi Bộ đội Cụ Hồ » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM