Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:53:13 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những chuyện không thể quên - Cười ra nước mắt (Phần 4)  (Đọc 461594 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #330 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2013, 09:46:15 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG II      TUỔI THƠ   (tiếp 32)

     Nó được chơi ở Thái Nguyên được đúng một ngày thì chị nó đã gom hàng xong. Đang hứng thú với bao điều mới lạ, nó miễn cưỡng theo chị gồng gánh hàng ra ga lên tàu về xuôi. Chị nó ham mua hàng nên khi mua vé tàu thì thiếu tiền. Chị đánh liều chỉ mua một vé người lớn 2 hào, vé cước hàng hóa hai hào nữa. Còn vé của nó thì đành phải tìm cách trốn.

     Vẫn là toa tàu chợ bẩn thỉu hôi hám, nhưng chuyến về còn chật chội và ngột ngạt hơn vì hầu như ai cũng mua thêm sắn khoai, tải lớn, bọc nhỏ, “tay xách, nách mang”. Trong toa chật ních như nêm cối, chỗ bậc lên xuống cũng chật ních người đu bám. Vì không còn một chỗ đặt chân trong toa mà cũng chẳng cần mua vé, nhiều người trèo lên ngồi ở nóc toa. Nó còn thấy mấy người mắc võng dưới gầm toa, một số người khác ngồi đu trên thanh sắt bảo hiểm ngay gần đấy, trông thật đáng sợ. Anh rể nó quen người bảo vệ ở ga nên hai chị em nó được vào sớm để chiếm chỗ tốt. Chị nó có chỗ ngồi, còn nó lại được quỳ ngay ô cửa sổ. Bẩn thỉu, hôi hám, chật chội, bị chen lấn xô đẩy nó cũng mặc kệ vì nó lại sắp được ngắm cảnh “kỳ thú” khi tàu chạy.
 
     Con tàu hí lên một hồi còi dài, rồi một tiếng còi ngắn tiếp theo. Nó oằn mình, hổn hển, giật giật mấy cái rồi từ từ lăn bánh một cách nặng nhọc.
  
     Con tàu đang băng băng lao mình về phía trước, nó thì đang mơ màng ngắm trời mây, sông nước. Cảnh ngoạn mục đang trôi qua mắt nó, dâng dâng sung sướng. Bỗng nó giật mình, thì ra chị đang giật tay nó, mắt chị lấm lét, ghé tai nó thì thào :
 
     -    Em trốn xuống gầm ghế ngay, họ đi soát vé, lúc nào soát xong chị bảo thì hẵng lên ! Nhớ !

     Nói xong chị nó xốc nách nó đẩy vội vào gầm ghế. Bên ngoài chị chặn mấy bao tải sắn, xong, chị lại ngồi phủ hai ống quần , che kín vào khe hở.

     Nằm xuống thì bẩn quá, ngồi thì không được vì gầm ghế quá thấp, nó phải cúi gập người, cong như con tôm. Trời nóng hầm hập, mùi xú uế càng trở nên nồng nặc. Để trốn thuế, mấy người buôn lợn con, chó con đã nhét mấy cái rọ chứa lợn và chó vào đó từ bao giờ. Nhìn quanh mới thấy nó đang ở giữa một lũ toàn chó với lợn. Lũ lợn và chó nóng quá đang há mồm, thè lưỡi thở hào hển. Cứt chó và phân lợn nóng hổi đang “tỏa hương” ngay gần mặt nó. Chưa bao giờ nó có cảm giác khổ sở và tủi nhục như thế này.

     Liếc mắt qua khe mấy cái bao tải sắn, nó thấy đôi ba ta xanh, cái quần xanh công nhân rồi trên nữa là cái ca táp đeo vai màu nâu đen của người soát vé. Nó không thấy mặt người soát vé nhưng người ấy cứ đi đi lại lại trước mắt nó. Sao hắn cứ quẩn quanh ở đây lâu thế không biết. Nó sốt ruột quá. Mong sao cho người đó sớm đi khỏi chỗ này để nó nhô ra thở một chút. Một lúc lâu sau khi không còn nhìn thấy người soát vé với đôi giầy xanh đâu nữa, nó đẩy cái bao sắn định bò ra. Nhưng bao sắn thì nặng mà nó lại không có thế nên không thể đẩy được. Sốt ruột, nó túm gấu quần chị nó, giật giật. Chị nó lấy gót chân đá đá vào, ra hiệu cho nó nằm im. Vừa lúc đó nó lại thấy sáu chiếc giày của ba chú cán bộ thuế đến kiểm tra, lần này lâu hơn nhiều. Họ lục soát tất cả các tải hàng, tay nải, túi xách, thậm chí còn bắt khách đứng lên nắn thắt lưng xem có chè buộc vào bao tượng trong bụng không. Tiếng quát nạt, tiếng xin xỏ, tiếng giằng co lúc căng lúc chùng cứ nhũng nhẵng kéo gần hai tiếng đồng hồ.

     Mồ hôi nó túa ra chảy vào mắt cay xè, chảy vào lưng ngứa ngáy, rôm đốt nhoi nhói, muỗi vo ve, nó cảm tưởng mình sắp ngất đến nơi thì thấy cái gì mềm mềm, ươn ướt chạm vào trán nó. Nó nhìn lên và nhận ra đó là khúc sắn luộc chị nó đưa xuống. Nó giận lắm định không cầm, nhưng nghĩ sao rồi nó lại cầm vậy. Tự dưng nó thấy mình đói, nước miếng cứ trào ra. Nó đành phải nửa nằm nửa ngồi nhai tý tóp như thằng tù khổ sai trong cũi sắt. Càng nghĩ nó càng căm chị nó. Nó thề từ nay không thèm theo chị nó đi đâu một lần nào nữa.

     Tu . . . Tu . . . . Một hồi còi tầu hý lên gióng giả. Cuối cùng thì tầu cũng đang vào đến ga Gia Lâm. Nó thấy rậm rịch tiếng chân người, ầm ào tiếng người lôi kéo hành lý, chen lấn xô đẩy để chuẩn bị xuống ga. Chị nó vần cái bao tải sắn ra và gọi :

     -   Thập ơi ! Ra đi !

     Nó cảm thấy như chim sổ lồng. Thế là thoát cảnh địa ngục tù đày. Nó chui ra khỏi gầm ghế, mặt mũi đen nhẻm, mồ hôi nhễ nhại. Chị nó cởi cái khăn vuông đen, lau mặt cho nó. Nó vùng vằng gạt tay chị ra, nó đang rất giận . . .

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Giêng, 2013, 11:25:19 am gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #331 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2013, 09:15:47 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG II      TUỔI THƠ   (tiếp 33)

     Thằng Hoàng cháu nó cũng còi cọc chẳng khác gì nó. Bà ngoại thằng Hoàng thương cháu, ở trong làng ra chơi, mang cho nó mười quả trứng gà để tẩm bổ. Mỗi ngày chị nó luộc cho cháu nó ăn hẳn một mình một quả. Nó nhìn thèm lắm, ứa cả nước dãi. Cứ lúc nào cháu nó ăn, nó lại mon men đến gần gạ xin. Thằng bé tham ăn, không cho, nó chạy vào núp sau đít mẹ. Thập ta tức lắm, mỗi lần không xin được, nó lại giơ nắm đấm ra dọa. Thằng Hoàng lập tức hét lên :

     -   Bà ơi ! Chú Thập đánh.

     Bu nó lườm cho một cái rõ dài. Nó sợ, nuốt nước dãi chạy mất.

     Đêm ấy nó vắt tay lên trán suy nghĩ rất lung rồi nảy ra một quyết định.

     Sáng hôm sau, nó bổ ống tiết kiệm vuốt phẳng những tờ tiền giấy nhăn nheo, xếp các đồng xu thành mấy chồng, nó được hơn hai đồng. Nó reo lên trong lòng “Ồi ! Tuyệt thật. Mình có một số vốn to đây !”. Tối đến, bu nó đi chợ về, nó sán lại gạ :

     -    Bu ơi ! Bán cho con con gà mái nhá ?
     -    Tiền đâu ra mà anh mua ?
 
     Nó giơ nắm tiền tiết kiệm ra. Bu nó lại hỏi :

     -    Anh mua gà để làm gì ?

     Nó nói, nó sẽ nuôi gà đẻ lấy trứng, ấp đẻ con cho bu đi chợ bán. Nó sẽ tiết kiệm tiền nhờ bu mua cho con cái dậm. Bu nó cầm nắm tiền đếm xong, liền bảo :
 
     -   Con gà mái bu bán rẻ cho anh năm hào, còn lại bu mua cho anh đàn vịt mà chăn, thiếu bu cho vay thêm.
         Bao giờ gà vịt đẻ, bán đi anh trả bu, còn thừa lại bỏ ống. Cố mà tích góp, bu sẽ mua cho quần áo mới
         với cái dậm nữa. Được chưa ?

     Nghe bu nói thế, nó sướng lắm, lẩm bẩm trong lòng “Lần này mình sẽ tự kiếm được tiền, chả mấy mà mình sẽ có rất nhiều tiền.”

     Sáng hôm sau đi học về, nó đã thấy ở góc vườn hai mươi con ngan bé bằng nắm tay màu vàng ươm bu nó mua hộ được quây trong cái cót nứa rộng bằng cái nia mà thầy nó đã đan hộ. Còn gà mái thì Bu nó cho chọn thoải mái. Nó nhìn thấy một con gà hoa mơ vàng rất đẹp, nó liền chỉ con đó. Bu nó gật đầu đồng ý. Thế là từ đó nó có tài sản riêng, bắt đầu từ con gà mái mơ và một đàn ngan con.

     Gà thì không có gì phải lo, tối đến chúng tự bay lên, đỗ vào cái giàn tre thầy nó gác ở trên nóc chuồng lợn. Thóc lép của nhà thì đầy một bồ, ngày hai bữa nó cứ việc bốc cho gà ăn. Nhưng là gà của nó nên nó hay bốc trộm thóc chắc và gạo đem cho gà nó ăn riêng và đứng canh. Hễ gà của bu nó xông vào ăn tranh là nó đá, nó lấy que đuổi đi. Thức ăn ngon như thóc, gạo hay giun, gián mà nó kiếm được chỉ cho gà nó độc quyền được chén.

     Còn đàn ngan thì có vẻ nan giải hơn. Điều đầu tiên, nó phải cắm cọc tre dưới gốc ổi buộc tấm cót sao cho đường kính nhỏ hơn cái nong rách để còn che đậy. Mỗi khi có mưa thì phải phủ thêm một miếng ni lông lên trên. Trên đường đi học từ trường về, ngày nào nó cũng phải tạt qua chợ, vào khu bán rau nhặt nhạnh trong đám rau nát hay rau già thải bỏ. Có hôm nó nhặt được nguyên mấy bó rau cải úa, mấy cây xà lách bầm nát. Về nhà, nó đem thái nhỏ biến rồi trộn thêm cám lợn làm thức ăn cho ngan.

     Chiều chăn trâu về sớm, khoảng bốn giờ, nó thường lùa ngan ra bãi cỏ ở khu đất trống rất rộng trước cổng huyện gần ao nhà bà cả Riêng, nơi có những cây dứa dại và cây lúp xúp mọc hoang. Bãi này huyện cấm thả trâu bò nên cỏ tốt và cỏ non nhiều lắm. Nó thả ngan ở đó thấy không có ai nói gì. Ngày ngày nó cứ chăm gà và chăm ngan như vậy, lặp đi lặp lại mãi đâm chán, nhất là phải đi thả ngan một mình, buồn chết đi được.

Nguyễn Trọng Thập
Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #332 vào lúc: 22 Tháng Giêng, 2013, 09:53:33 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG II      TUỔI THƠ   (tiếp 34)

     Cùng lớp nó có cái Huệ, con ông Quát bán phở ở cạnh nhà. Thấy nó có đàn ngan, cái Huệ thích lắm. Cái Huệ nằng nặc đòi bố nó mua cho đàn ngan. Từ đó nó có bạn chăn ngan nên rất vui. Chiều chiều hai đứa “hẹn hò” rủ nhau lùa ngan đi chăn. Nhưng rồi cái Huệ chẳng làm bạn chăn ngan với nó được bao lâu thì phải bán ngan đi, phần vì cái Huệ ngại đi học bị bọn bạn chế với thằng Thập là “hai vợ chồng ngan”, phần nữa vì nhà cái Huệ bán phở, đàn ngan về làm bẩn nhà. Ông Quát bắt cái huệ phải bán đàn ngan. Thế là chiều chiều thằng Thập lại phải lủi thủi dong đàn ngan đi chăn một mình.

     Một hôm dong ngan ra bãi, thả ngan xong buồn quá, nó dò dẫm ra bờ ao nhà bà cả Riêng ở gần đó. Chỗ này, trước đây có cái cầu ao bằng tre nay đã mục gẫy, không dùng nữa. Nó với tay xuống ao, ngắt một lá khoai nước. Nó thả lên hai hòn sỏi nhỏ lên trên lá khoai, lấy cái que nhỏ khỏa nước cho trôi đi. Nó tưởng tượng ra một chiếc phà đang vượt sông. Chiếc phà dần trôi xa bờ, nó cố với theo để khỏa nước. Bỗng nó mất đà, đâm đầu, bổ xuống ao. Nó hoảng sợ, quẫy đạp liên tục. Rồi nó bị sặc nước, càng quẫy loạn xạ nó càng uống thêm nước. . . .

     Không biết thằng Thập đã vùng vẫy như vậy bao lâu, xung quanh vắng lặng không một bóng người, chẳng ai nhìn thấy nó để mà cứu. Nó cảm thấy ngày càng đuối dần, nó không thấy có cơ may nào để vào được bờ. Nó biết nó sắp chết đến nơi. Nó sắp sửa buông suôi tất cả . . . . Nó thoáng nghĩ đến buổi học sáng mai. Ừ ! mai là phiên trực nhật của nó. Ai sẽ quét lớp, lau bảng và mang phấn cho thầy . . . ? Thằng Thập đã đuối hẳn, một cách vô vọng, theo bản năng, tay nó vẫn quều quào chân nó vẫn quẫy quẫy và dần dần chìm xuống . . .

     Bỗng chân phải của nó chạm phải một vật cứng, cái cọc tre đã gãy của cầu ao đóng ngầm dưới nước. Đúng là “chết duối vớ được cọc”, theo bản năng, nó đạp mạnh một cái. Do cú đạp đột ngột đó, người nó lao đi một đoạn hơn một mét đến sát bờ ao. Hai tay quáo quào, túm được bụi cỏ gà mọc um tùm lan xuống ao. Nó ngoi đầu lên, thở gấp. Nó cố đạp chân liên tiếp, may mắn thế nào lại gặp hai cái cọc tre trơn nhớt vì rêu nằm gần bờ. Hai chân nó nhún lấy đà, hai tay nó túm vào cỏ đu người lên bờ. Sống rồi ! Thật là Trời đã cứu nó ! Nó nằm thở hổn hển, đầu tóc, quần áo ướt rượt.

     Hồi lâu, định thần lại, nó len lén đi luồn qua sau cái xe bò đang xếp mấy bao trấu của nhà bác Rưng. Dù chẳng ai để ý nhưng nó cảm giác bao nhiêu ánh mắt dường như đang nhìn mình. Về đến nhà, nó lủi theo lối cổng, luồn phía sau, lên nhà tìm quần áo để thay. Bất ngờ thầy nó quay lại nhận ra. Thầy nó giật mình hỏi tại sao lại ướt. Nó định nói dối nhưng cái thước gỗ trong tay thầy nó và bèo tấm trên tóc, trên người không cho nó nói dối. Nó đành mếu máo kể lại. Thầy nó nguôi giận, không đánh mà lôi nó ra giếng rửa ráy, thay quần áo cho nó. Ông quát :

     - Anh Bát ! Ra lùa ngan về. Bán ngay lập tức !

     Nó mất mộng nuôi ngan từ đó và cũng từ đó thầy nó cấm tiệt việc nó ra gần ao chuôm nếu không có người khác đi cùng. Mà chả cần cấm nó cũng sợ. Nó mãi là một tay sợ nước. Cho tới sau này, nó vẫn không biết bơi. Thật tiếc !

Nguyễn Trọng Thập
.
.
Một góc ao quê

« Sửa lần cuối: 23 Tháng Giêng, 2013, 09:59:27 am gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #333 vào lúc: 23 Tháng Giêng, 2013, 10:20:55 pm »

CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG II      TUỔI THƠ   (tiếp 35)

     Thời gian ấy chiến tranh phá hoại của Mỹ đã mở rộng trên khắp miền Bắc. Chúng dùng không quân nhằm vào các mục tiêu là đường vận chuyển của ra các chiến trường ở miền Nam. Nhà ga, bến cảng, đường giao thông huyết mạch là mục tiêu đầu tiên. Rồi sau, chúng đánh phá tất cả các nhà máy, thậm chí là bệnh viện, trường học, khu tập trung đông dân cư, . . . Cả miền Bắc căng ra vừa chống trả đế quốc Mỹ, vừa duy trì sản xuất lúa gạo và các sản phẩm khác để đảm bảo đời sống và tiếp tế cho các chiến trường. Những khẩu hiệu cổ động khắp nơi, “Tất cả cho tiền tuyến”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ Xâm lược”, Mỗi người làm việc bằng hai”, “ Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, . . .  

     Cả miền Bắc thắt lưng buộc bụng, thực hiện chính sách kinh tế tập trung. Ngoài nộp thóc thuế nông nghiệp được cắt ngọn ngay từ trước khi chia cho xã viên theo công điểm, các hộ xã viên còn phải nộp đủ chỉ tiêu, gà vịt, lợn, ngan, . . .  Tât cả vật nuôi, cây trồng nhà nước đều nắm độc quyền thu mua, điều hành phân phối, cấm buôn bán, giao lưu hàng hóa. Cấm tuyệt đối không gia đình nào được tự giết mổ gia súc, gia cầm. Giết mổ riêng là vi phạm pháp luật, bắt được là tội rất nặng, . . .

     Người dân tìm cách đối phó với các điều cấm, sinh ra lắm chuyện bi hài. Nhà có con gà rù, gay đây ! Làm đơn lên xã để xin giết thịt thì nhiêu khê quá. Đành chờ đến đêm, người ta mới bí mật mổ trộm. Một người lặng lẽ vặt lông mò trong bóng tối, người khác phải ra đứng canh cổng. Vặt lông xong, lập tức phải đào hố chôn ngay. Gà luộc xong không dám chặt, sợ hàng xóm biết được sẽ đi báo xã. Phải kê thớt trên một lớp rơm dày rồi dùng dao mà cứa, cắt, nhay cho đứt chứ không được chặt. Khi cứa đến đoạn gặp phải xương thì dùng chày gỗ đã bọc giẻ gõ gõ, . . ., mãi rồi cũng phải đứt.

     Bằng cách nào đó bí mật, đôi khi cũng có thịt. Kho thịt phải đúng bài để tránh mùi thịt bốc lên bay vào mũi hàng xóm. Vậy thì thịt phải kho chung với cá. Vẫn chưa yên tâm thì cho thêm nhiều ngải cứu lên trên. Cái này hay đây ! Ngải cứu vừa át được mùi mà lại là màn che đậy đám thịt ở phía dưới. Khi ăn móc thịt ở dưới lên từng miếng mà ăn. Nếu có xương, gặm xong phải dấu đi ngay để sau đó đem chôn.

     Nhà ông Ích Xì có con lợn bị ốm, đem nộp để tính chỉ tiêu thì không được mà có báo cáo lợn ốm xin mổ cũng không xong. Ông Ích Xì đem mổ trộm, tiếc của, nhà chỉ chỉ dám ăn lòng còn bao nhiêu thịt thì mang sang làng bên bán dấm bán dúi.
 
     Lại có chuyện ông Y Càrét mổ trộm lợn mang bán phải cõng lợn trên vai giả là cõng con bị ốm. “Con“ ông được chùm tấm áo mưa, vợ ông một tay xách túi quần áo, một tay xách phích nước. Đúng cảnh hai vợ chồng đưa con đi chữa bệnh. Lần này may thì qua mắt được các chốt kiểm tra nhưng lần khác gặp phải người tinh ý thắc mắc: “Tại sao nóng thế lại mặc áo mưa ?! Cõng con sao không thấy đầu gối với bàn chân con đâu ?!”. Lộ ra là bị bắt, bị lập biên bản, bị giam trên xã, bị tịch thu lợn.

     Còn chuyện ông Zét ngang nhiên được phép xử lý lợn mới hay ! Lợn nhà ông Zét đột nhiên bị ốm lăn quay, sùi bọt mép trắng, hai mắt trợn ngược. Đợi đến gần tối, ông báo với xã xuống kiểm tra và báo cáo tỷ mỷ rằng lợn bị thổ tả, “miệng nôn chôn tháo” từ hôm qua. Xã biết đây là bệnh tả lợn, không khéo lây bệnh cho lợn cả xã thì gay. Xã lập biên bản cho xử lý ngay, chôn tại chỗ, rắc vôi bột lên “mả” lợn và toàn bộ chuồng lợn nhà ông Zét. Lợn chôn xong thì cũng vừa tối. Xã hết việc, xã về.

     Xã vừa ra khỏi cổng thì cánh cổng cũng đóng lại ngay sau lưng xã.  Cử một người canh gác rồi cả nhà lập tức đào mả lợn lên. Họ bí mật mổ lợn, cắt tiết hẳn hoi nhé ! Thịt xả nhỏ ra bỏ vào bao. “Mả” lợn được đắp lại như cũ, cũng rắc vôi bột trắng xóa. Ông Zét và con trai mang thịt đi lúc gà chưa gáy. Đến chiều hai cha con nhà ông về không với một bọc tiền to. Mãi về sau này, người ta mới biết ông Zét cho lợn ăn cái gì đó, bí mật chả cho ai biết, làm cho lợn bị say, lăn quay, sùi bọt mép.
 
     Vì thiếu đói quá nên dân tìm cách “ăn vụng” và trốn thuế. Tất cả các chỉ tiêu thóc và thực phẩm phải nộp thuế đều “qui ra thóc”. Người ta giấu thóc vào giữa đống rơm. Có nhà đào hầm, chôn các bao thóc bọc ni lông xống, phủ đất lên, ngụy trang cẩn thận. Thôi thì đủ các kiểu, . . . không thể biết được.

     Đến ngày, dân quân vác súng và đòn càn cùng với cân tạ đi đến từng nhà để thu thóc thuế. Nhà nào không nộp đủ, xã gọi loa suốt ngày đêm bêu riếu. Chẳng những thế, dân quân còn khám xét, săm soi rất kỹ. Thóc được phát hiện đem ra cân cho đủ chỉ tiêu phải nộp, không cần biết nhà đó còn bao nhiêu thóc để sống trong thời gian chờ tới vụ sau. Còn chủ nhà thì bị bắt, giải lên xã.

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Giêng, 2013, 10:31:13 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #334 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2013, 10:11:04 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG II      TUỔI THƠ   (tiếp 36)

     Mỹ bắt đầu đánh bom không hạn chế nên tất cả các nhà máy, các thành phố, thị xã, nhà ga, bến xe, . . . , tóm lại là những nơi tập trung đông người đều phải đi “sơ tán”. Nghe các ông bà, cha mẹ kể lại, thời Pháp, người dân cũng phải đi “tản cư”. Thời Mỹ bỏ bom này, người ta dùng từ “sơ tán” nghe cho nó nhẹ đi và làm cho dân đỡ cảm thấy hoang mang, dao động. Họ hàng nó ở Hà Nội về sơ tán ở quê đông lắm. Các anh chị và các cháu nó ở Hà Nội, Thái Nguyên và Hải Phòng cũng chạy về quê. Mà ngay phố chứ đâu, cũng phải đi sơ tán. Nhà nó chạy vào ngõ Bưởi.
 
     Khắp phố huyện, khắp làng, chỗ nào cũng đào hầm tăng xê, hầm chữ A và giao thông hào hai bên đường cũng như trong ngõ hay cạnh sân kho, cạnh trường học. Trường học của chúng nó được chuyển vào sâu trong làng, cách xa đường quốc lộ. Các lớp học được đắp tường đất bao quanh cao mét rưỡi, thành ra trông những căn lớp lợp lá thấp lè tè. Cửa phụ của lớp học thông thẳng ra giao thông hào và hầm chữ A. Khi đi học, đứa nào cũng phải đeo nùn  rơm sau lưng và đội mũ rơm trên đầu.
 
     Lớp nó nằm gần sân kho thôn Bưởi, sát với bờ mương. Bên bờ mương mấy chiếc thuyền dùng để chở lúa vào mùa gặt đang nằm ép vào bờ. Giờ ra chơi, bọn chúng thường nhảy xuống đùa nghịch nhau trên các con thuyền không đó. Rất đông đứa trèo lên thuyền, hò hét, chơi trò dập dình làm cho nước tràn dần vào thuyền. Đến khi thuyền đầy nước sắp chìm, chúng nhẩy sang thuyền khác, thò tay qua dập dình tiếp cho đến khi thuyền chìm hẳn. Có bận chúng còn dùng đất mới cầy ở ruộng đáp đầy vào thuyền để làm thuyền chìm. Ông chủ nhiệm hợp tác xã đi qua trông thấy tức lắm. Ông quát sùi bọt mép :
 
     -    Nhất quỷ nhì ma, thứ ba học trò !

     Rồi ông tóm cổ đứa nghịch nhất lớp, chính là thằng Ngưng con ông, đáp thẳng nó xuống mương. Thằng Ngưng vừa bơi vừa hét lên :

     -  Tôi biết rồi nhé, tối hôm qua tôi thấy bốn cái chân trong buồng. Người nhà ngủ với người nhà. Ê . . . ê . . . !

     Mọi người cười ồ lên một trận phá lá . . . Ông chủ nhiệm cũng không nhịn  được, phì cười mà bỏ đi.

     Cơ quan huyện cạnh nhà nó đã đi sơ tán hết, phố phường, chợ búa vắng teo. Tối đến, không đủ dầu thắp, mỗi nhà chỉ dùng một ngọn đèn hoa kỳ (đèn nhỏ, thắp bằng dầu). Chả những thế, đèn còn phải che chắn không cho ánh sáng hắt ra xa để phòng tránh máy bay. Để tiết kiệm dầu, bẩy giờ tối đã phải tắt đèn đi ngủ. Làng xóm và đường phố tối thui tối thủi “như đêm ba mươi”.

     Nhưng suốt đêm ở ngoài đường Năm những đoàn xe bánh lốp, bánh xích của Trung Quốc, Liên Xô ầm ì chạy. Những đoàn xe chở pháo, chở tên lửa cắm đầy lá ngụy trang, bật đèn gầm, rồng rắn di chuyển từ phía Hải Phòng về phía quốc lộ Một.

     Trên cánh đồng ngoài làng nó, người ta cũng triển khai mấy bệ phóng tên lửa và các trận địa pháo cao xạ. Chiến tranh đã đến tận làng nó rồi. Không khí thời chiến vừa khẩn trương vừa nhộn nhạo trong tất cả các công việc từ việc làm đồng của người lớn, việc học hành của trẻ con đến việc sinh hoạt, ăn ở, đi lại, . . .

Nguyễn Trọng Thập
.
.
Đèn hoa kỳ

Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #335 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2013, 09:33:22 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG II      TUỔI THƠ   (tiếp 37)

     Loa phóng thanh của huyện được treo ở mấy nơi, trên các cây cao để có thể báo động máy bay cho dân cả ngoài phố, trong làng và trên cánh đồng. Đồng thời có dân quân túc trực để sẵn sàng đánh kẻng báo động cả ban đêm lẫn ban ngày. Tiếng loa và tiếng kẻng báo động đã vang lên ở quê nó nhiều lần. Giọng người đọc phát lệnh báo động nghe đã quen nhưng mỗi lần nghe cái tiếng ấy nó vẫn cảm thấy gai hết cả người. Tiếng kẻng báo động đánh dồn dập rất nhanh, cấp tập ba tiếng một, keeng keeng keeng . . . keeng keeng keeng . . . Bây giờ nhớ lại vẫn thấy ghê ghê, rờn rợn.

     Đang học mà nghe báo động là cả lớp nó bổ nháo bổ nhào lao ra cửa, chạy ra giao thông hào rồi chui nhanh vào các hầm chữ A. Khi báo yên, bọn trẻ chui ra khỏi hầm, người đầy bụi đất, thi nhau phủi. Những lần hầm hố có nước thì đứa nào đứa ấy bùn lấm lem hết cả quần áo, chân tay.
 
     Một hôm, cũng như những lần khác, đang ngồi học yên tĩnh thì bất chợt có tiếng loa ọ ẹ rồi tiếng phát thanh viên gióng giả vang lên :

     -     Đồng bào chú ý ! Đồng bào chú ý !
           Máy bay địch đã xâm phạm vùng trời Hà Nội, Hải Phòng. Có một tốp đang bay về phía huyện ta.
           Đồng bào khẩn trương xuống hầm trú ẩn !
           Các lực lượng phòng không sẵn sàng chiến đấu !


     Từ cửa hầm, nhìn ra cánh đồng, thấy một tốp máy bay đang lao rất nhanh, thẳng tới. Bất chợt một chiếc bay chúc xuống cắt bom rồi bay vọt lên, tiếng động sèn sẹt qua đầu như xé vải. Vài giây sau, bom nổ ầm ầm, rung nghiêng cả nhà cửa cây cối. Bụi cát, đất đá, khói đen bốc lên mù mịt.

     Lúc đó, các trận địa pháo đang nổ súng. Đạn pháo cao xạ vút lên đan chéo nhau trên không trung như mắt lưới. Thình lình, một quả tên lửa phòng không lao lên, kéo theo vệt khói trắng ngoằn nghèo in lên nền trời xanh biếc. Nó cũng đã từng nhìn thấy pháo phòng không và tên lửa bắn ban đêm, làm rực đỏ cả một vùng. Ánh đạn nổ, đường đạn đi chiu chíu đan nhau rực sáng như đêm hội hoa đăng.

     Trận oanh tạc hôm ấy, chúng đánh vào Ủy Ban Huyện ngay cạnh nhà nó, trên đường số Năm. Sóng xung kích và hơi bom  làm đổ sập căn nhà ngang của chị  dâu nó, Làm tốc một phần mái dạ trên nhà chính. Có vài người trong Ủy Ban không chạy kịp hay bom đánh trúng hầm, nó cũng không rõ lắm. Nó chỉ thấy người ta nhặt các xác người không còn lành lặn, bọc ni lông, cho vào băng ca mang đi. Có người bị bom tiện đứt tay, cánh  tay văng lên cành cây, lắt lẻo, máu đỏ lòm nhỏ xuống, trông thật khiếp sợ.

     Sau đêm đó thầy nó cho dỡ luôn nhà ngang, không dựng lại nữa. Sau này, cái nền nhà thầy nó để mấy đống rơm và làm hộc lúa bằng tre trát đất đặt ở đấy.

Nguyễn Trọng Thập
.
.
Kẻng báo động làm bằng vỏ bom

« Sửa lần cuối: 25 Tháng Giêng, 2013, 09:39:03 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

themdilinh
Thành viên
*
Bài viết: 7


« Trả lời #336 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2013, 11:20:21 am »

Cháu chào các bác các chú. Chào chú Tích Tường Như Lệ.
Cháu đã đọc gần xong Topic "Những chuyện không thể quên-Cười ra nước mắt" của chú TTNL. Nói chung toàn cảnh vế cuộc KCCM thì cháu cũng hiểu được phần nào qua sách báo, thông tin truyền thông.
Chỉ có một điều cảm thấy rất tự hào và khâm phục, nhưng cũng có phần khó hiểu là nhìn những tấm hình chú TTNL chụp năm 1975, cháu thấy các chú còn quá trẻ, tính tuổi thì chắc khoảng 23, 24 tuổi. Những con người trẻ tuổi như vậy mà lại dạn dày bom đạn, chiến đấu dọc theo chiều dài của Đất nước từ Quảng Trị vào tới tận Dinh Độc Lập. Thật là kính nể thế hệ các chú.
Còn bây giờ, học Đại học rồi mà bố mẹ còn phải chở tới trường. Chán thật chú ạ.
Chào chú và mong có ngày được gặp các chú.
lmt-themdilinh.
Logged
TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #337 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2013, 09:04:27 pm »

    . . . .
     những tấm hình chú TTNL chụp năm 1975, cháu thấy các chú còn quá trẻ, tính tuổi thì chắc khoảng 23, 24 tuổi.
     . . . .
.
     Bạn themdilinh à !  Bạn nói vậy thì mình cũng chẳng biết nói gì nữa. Chỉ mong rằng thế hệ sau không phải làm cái việc như thời trước đã phải làm.

     Vào ngày 30 tháng tư năm bảy nhăm, mình chưa đầy 22 tuổi.

---------------------------------------------------------------------------------
.
.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG II      TUỔI THƠ   (tiếp 38)

     Đúng thời gian ấy, Anh Thưởng chồng chị Dụng nó là thiếu tá tiểu đoàn trưởng đang chỉ huy đơn vị pháo phòng không ở Thái Nguyên. Trong một lần máy bay Mỹ oanh tạc bắn phá ở Thái Nguyên, vừa dơ cờ hiệu lên ra lệnh cho đơn vị bắn thì một mảnh bom chém phăng ngay vào tay phải của anh. Tạm cầm máu xong, anh lại dùng tay trái tiếp tục chỉ huy đơn vị chống trả máy bay Mỹ. Sau trận đánh cánh tay tìm được dưới đống đất đá đã đen kịt không thể nối lại được nữa. Anh được đưa đi viện và thành thương binh cụt tay. Sau đó anh giải ngũ, đưa vợ con trở lại quê hương sinh sống.

     Ở Hải Phòng anh Bính nó cùng em Bào con chú Hiền đều là chiến sĩ phòng không bảo vệ nhà máy. Hai anh em phụ trách khẩu trung liên đặt trên nóc tầng tư nhà máy xi măng Hải Phòng. Mỹ đánh trúng nhà máy, một mảnh đạn lớn găm vào ngực em Bào và Bào đã hy sinh tai chỗ. Chú Hiền mất người con trai duy nhất mà thằng Thập vô cùng yêu quý. Sau lần đó, anh Bính chuyển về Hà Nội, làm ở nhà máy cơ khí Hà Nội.

     Sau cái Văn và thằng Hùng, bây giờ Chị Dụng đã sinh thêm một cháu gái nữa là bé Mai Liên. Chị đưa ba cháu cùng bà Ngà giúp việc về sơ tán ở nhà nó. Cứ cuối tuần anh chị đạp xe từ Hà Nội về mang gạo, thịt, đậu, tiếp tế cho con. Tuy ở chung trong một nhà nhưng nhà chị ăn riêng. Nhà chị cũng rất nghèo nhưng dù sao ở Hà Nội, anh chị và các cháu đều có tem phiếu, chị lại làm ở cửa hàng thực phẩm, anh là cán bộ công ty thương nghiệp, nên bữa ăn của các cháu không phải độn rau muống, sắn khoai như nhà nó mà lại còn có miếng thịt, con cá.

     “Dân Hà Nội” cũng phải ăn độn nhưng mà độn mì sợi, một thứ mà đối với “dân nhà quê” thì đó là  một đặc sản (theo nghĩa một món ngon đặc biệt). Chẳng những thế, mấy đứa cháu nó còn có đường sữa ăn đều đặn. Thế ra dân nghèo Hà Nội còn hơn trưởng giả xó quê mùa. Nó thấy đời thật bất công và có phần tủi thân lắm. Về sau này, khi đã lớn, nó hiểu ra một điều, người nông dân bao giờ cũng là người vất vả nhất nhưng lại là người nghèo nhất, “thấp cổ bé họng” nhất.

     Nhà nó bấy giờ có sáu người, thêm chị Thất và chị Vận đã học xong đang nghỉ ở nhà chờ xin việc thành tám miệng ăn. Đời sống nông thôn quá khó khăn, tiêu chuẩn chế độ không có, ăn uống kham khổ vô cùng. Nó lúc nào cũng thèm được ăn một bữa cơm thật no. Nó thèm thịt, thèm cá, . . . thèm đủ thứ.

     Nó ít ốm lắm, họa hoằn lắm nó mới ốm một lần. Tội nghiệp cho thằng bé, lúc nào nó cũng chỉ mơ bị ốm thật nặng, không ăn uống gì được. Sao lại có cái ước mơ lạ đời như thế chứ ? Thì ra nó muốn ốm nặng như thế, bu nó sẽ thương mà dũng cảm bỏ ra hai hào sang nhà ông Quát mua cho nó bát phở (ốm nhẹ thì đừng có hòng).

     Một mình nó một bát phở. Ôi sao vĩ đại thế ! Lúc đó, dù có ốm nặng mấy đi nữa mà nhìn thấy bát phở đầy đến miệng, mỡ nổi lều phều vàng óng ánh bám vào thành bát, mùi thơm quyến rũ của nước dùng, màu trắng ngà của những lát thịt gà ẩn hiện thấp thoáng dưới mấy lá hành, lá rau thơm, cái mềm mềm, dai dai của bánh phở, vị ngọt lịm ngấm vào từng tế bào lưỡi, . . . là nó lập tức nhổm dậy đáp lại một cách cuồng nhiệt nhất. Lần nào cũng vậy, tuy nó rất cuồng nhiệt nhưng vẫn xúc ăn một cách từ từ. Nó ăn từ tốn như thế không phải vì quá mệt do đang ốm mà là nó cố tận hưởng hết cái sung sướng đầy tính ẩm thực đang vỗ về cái lưỡi khát thèm của nó, tận hưởng mùi thơm bay vào mũi, vị ngọt  chảy vào chân răng, . . .  Nó đang nhấm nháp hạnh phúc ngọt ngào đấy.

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Giêng, 2013, 09:13:10 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #338 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2013, 10:27:01 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG II      TUỔI THƠ   (tiếp 39)

     Bữa cơm nhà nó thường chỉ dùng gạo xấu, vừa rời rạc vừa hôi, cho rẻ tiền. Mà gạo xấu cũng chả đủ nên phải độn thêm rau muống và sắn. Cơm chan nước rau luộc vào mà ngoắng lên một cái thì không khác gì bát cám lợn. Còn thức ăn thường là rau muống, hái thật dài, không bỏ cuộng già cho tiết kiệm. Nước chấm là nước muối cua, sang thì là tương. Bữa ăn gồm một rổ rau muống già tú ụ, có thể có thêm một đĩa cá mụn hoặc là tôm tép lẩm cẩm kho thật mặn "một con tôm ôm ba hạt muối" để không ăn được nhiều. Tôm mà cứ gắp gắp là bu nó lại lườm cho một cái nên đành phải thôi. Thường khi bát cơm mới xới đầu tiên, bu xúc tôm cho mọi người, mỗi người một thìa con dúi sâu vào dưới cơm và không quên nhắc nhở : “Ăn dè cả bữa đấy !”. Ai không chịu ăn rau, bu nó lại quát : “Mày không ăn rau, sợ nó xanh ruột à”. Cả nhà nó ngồi “úp thìa”, người này quay lưng vào mặt người kia cho đỡ chật, cứ thế cắm cúi ăn.
 
     Nhìn sang mâm của các cháu ngồi ngay cạnh đó, bao giờ nó cũng thấy có nồi đậu rán dở, vàng ươm, kho chung với thịt ba chỉ thái to như ngón chân cái mầu nâu đậm, óng mỡ với cà chua đỏ rực và hành thái lát xanh ngắt. Nó thèm lắm, chỉ ước gì mình là con chị nó thì sẽ được mặc đẹp, ăn ngon như những đứa cháu đồng trang lứa với nó. Mỗi lần nó chống đũa tần ngần nhìn sang, bu nó lại lấy tay huých nó. Nó ngượng lắm, nó không nhìn sang nữa, cắm mặt xuống ăn. Nó cứ day dứt tự hỏi, sao mình nghèo hèn thế, mình là cậu chúng nó cơ mà.

     Nó thích nhất những khi chị nó về. Có hai cái bánh mỳ, bao giờ chị cũng cẩn thận cắt từng khoanh chia cho từng đứa trẻ. Những lúc như thế, chẳng những nó cũng được ăn mà nó còn cảm thấy được bình đẳng với những đứa cháu. Nó ăn thật chậm, nhấm nháp hương vị miếng bánh để cái sự sung sướng được kéo dài ra thật lâu. Anh Bát nó thì chén vèo một cái đã hết. Anh quay sang gạ xin hết đứa nọ đến đứa kia. Nó biết vậy nên toàn phải trốn. Những khi trốn không được, bao giờ nó cũng đành bẻ cho anh nó một miếng bé tí tẹo.

     Đến bữa cơm, chị nó gắp một đĩa đậu kho nhỏ đưa sang biếu thầy bu nó. Tám người thì sẽ chính xác là tám miếng đậu. Thầy bu nó thường không ăn, nhường phần cho nó.

     Có một lần chú Tự, bạn thân của thầy nó, người được thầy nó cưu mang và chịu ơn đến nhà nó chơi. Chú phiêu bạt một thời gian lên tận Bắc Kạn. Rồi hỏi thăm được địa chỉ nhà nó chú tìm về chơi để tạ ơn ân nhân.  Chú biếu thầy nó cái bộ đỉnh đồng nhỏ của gia bảo, một cây hồng dại để trồng làm thuốc cho phụ nữ mang thai và hậu sản. Cho nó một cái cần câu trúc nho nhỏ xinh xinh.
 
     Tiếp đón bạn quý, thầy nó dũng cảm mổ thịt một con gà bằng hai nắm tay. Mổ xong chặt ra chỉ được một đĩa nhỏ cả lòng mề. Trước khi ăn thầy nó  dặn :

     -    Đây là phần bác Tự. Các con không đứa nào được gắp.

     Vào bữa, cả nhà ăn cơm với rau chấm tương và tép kho mặn. riêng đĩa thịt gà không ai dám gắp, chỉ lấm lét nhìn. Thấy nó bé nhất, chú Tự bế nó vào lòng, gắp cho nó một miếng rất to. Nó thích lắm nhưng nhớ lời thầy dặn liền gắp trả lại vào đĩa. Chú Tự cứ dúi miếng thịt vào bát, mà nó thì sợ sệt đưa mắt nhìn thầy bu. Thầy nó khẽ gật đầu, nó yên tâm đang định ăn thì anh Bát nó đánh mắt ra hiệu. Nó nhìn sang anh Bát nó đang lắc đầu quắc mắt, nhưng thèm quá, vả lại thầy đã đồng ý rồi nên nó cứ ăn, muốn đến đâu thì đến. Anh Bát nó dơ nắm đấm dọa. Nó biết là sẽ không yên với anh Bát, một mình ăn một miếng thịt gà đâu phải chuyện nhỏ, nhưng nỗi thèm ăn miếng thịt của nó đã vượt lên trên sự sợ hãi.

Nguyễn Trọng Thập

Hình dưới đây là cơm độn ngô và sắn độn cơm.
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Giêng, 2013, 10:39:01 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #339 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2013, 10:02:13 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG II      TUỔI THƠ   (tiếp 40)

     Ăn cơm xong, anh Bát lôi nó ra sân, tát cho nó một cái lật mặt rồi quát :

     -    Tao không cho, sao mày dám ăn ?

     Nó trợn mắt quát lại :

     -    Bác Tự cho em, với lại thầy đồng ý rồi.

     Anh nó gầm lên :

     -    Nhưng tao chưa đồng ý. Tao cấm mày !

     Bị tát đau, nước mắt nó dàn rụa, thầy nó nghe tiếng xuống hỏi chuyện gì. Nó mách :

     -    Thầy với bác Tự cho con ăn thịt gà, anh Bát không cho, đánh con.

     Thầy nó tức lắm nhưng nhà đang có khách nên không nói gì. Lúc bác Tự về, thầy nó gọi anh Bát lên, bắt nằm ra giường vụt cho ba roi vì can tội bắt nạt em, lại đúng lúc nhà có khách. Anh Bát căm nó lắm, từ bấy rắp tâm trả thù.

     Hôm sau, cả nhà đi gặt, nó ở nhà dũi thóc, trông gà, băm rau lợn. Giữa trưa trời nắng như đổ lửa, anh Bát ngoặt nghoẹo gánh lúa về đến sân, mặt đỏ bừng bừng, mồ hôi nhễ nhại. Thấy nó đang ngồi trong bóng râm cắn chắt và đọc truyện, Anh Bát chạy ngay lại, giằng quyển sách khỏi tay nó quẳng đi và quát :

     -  Cứ cắm đầu mà đọc sách, gà ăn lúa sao mày không đuổi ?

     Nó giật mình nhìn lên, thấy đàn gà hàng xóm đang bới tung sân thóc và mổ ăn lia lịa, chợp . . . chợp . . . chợp . . . . Nó biết lỗi, hoảng quá, lao ra xua hú . . . ù . . . hú  . . . ù . . . làm cho đàn gà chạy tán loạn. Khi nó quay lại thì thấy anh nó đang vạch quần, túm chim, phun nước đái vào quyển sách cho ướt hết. Rồi hắn còn quay lại, phun ngoằn nghoèo nước đái vào sân thóc để “tẩy uế” đám thóc. Nó tức quá lao vào hắn để đẩy hắn ra ngoài. Hai anh em giằng co, nước đái phun vào bụng, vào quần, vào chân nó ướt sũng. Không làm gì được, nó khóc ré lên rồi chạy vào nhà mách thầy. Thầy nó đi xuống cầm cái thước lim, nhìn thấy thủ phạm đang nhét chim vào quần, thầy nó điên tiết quật túi bụi. Nhìn thấy hắn bị đòn nó thấy rất hả dạ. Nhưng thầy nó đánh anh đau quá, đó đâm mủi lòng, lại thấy thương anh quá.

     Sau đận ấy, anh Bát càng thù nó tợn. Một hôm, lừa lúc nó đang lấy cái gáo dừa chúi đầu vào trong chum để múc ít nước mưa còn rất ít dưới đáy, anh Bát liền chạy đến sau lưng nó, túm hai chân nó nhấc bổng lên, dốc ngược đầu nó vào trong chum. Đầu nó cắm xuống nước, hai chân chới với trong tư thế “trồng cây chuối”. Giá mà nó kịp nghĩ thì nó sẽ biết là nó sắp chết đến nơi, không phải chết trong đại dương, cũng chẳng phải trong ao tù mà là chết đuối trong chum với chỉ một gang tay nước.

     Không biết chuyện sẽ xảy ra tiếp theo như thế nào. May sao, đúng lúc đó, từ trên nhà tình cờ thầy nó ngoảnh mặt lại nhìn thấy cảnh ấy vội lao xuống. Ông túm chân, nhấc bổng nó lên. Nhưng nó đến miệng chum thì bị vướng hai tay. Ông nhanh tay vớ cái thước lim đập  mạnh vào vết vỡ cũ ở miệng chum vừa vá lại chưa khô hẳn.
 
     Lôi được nó ra xong, ông gầm lên lao đến anh nó. Lần này ông tức thực sự, ông túm tóc lôi anh nó sồng sộc lên nhà, trên đường đi ông với lấy cái thừng con treo ở lối ra vào. Vào đến nhà, ông vật sấp anh nó xuống nền nhà, trói chân trói tay. Rồi cứ thế cái thước lim trong tay ông tới tấp vụt xuống. Thật may, vừa lúc đó bu nó gánh hàng ở chợ về nhìn thấy. Quẳng gánh hàng xuống, bà chạy lại giằng lấy cái thước, lấy lưng che cho anh Bát.
 
     Bu nó cởi thừng, lau mặt cho anh Bát. Sau khi nghe chuyện, bu nó nghiêm khắc nói :

     -    Thầy đánh con là đúng rồi. Sao con nghịch dại thế ?
         May có thầy ở nhà chứ nếu không chết em thì con nghĩ sao ? Con không yêu nó hả ? . . . .

Nguyễn Trọng Thập
.
.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM