Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:38:36 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những chuyện không thể quên - Cười ra nước mắt (Phần 4)  (Đọc 461652 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #350 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2013, 10:41:49 pm »

.
     Dưới đây là trường đoạn mô tả cái cối giã gạo đạp chân và cái cối xay lúa. Hai loại cối này rất thông dụng ở đồng bằng Bắc bộ. Chắc hẳn nhiều người đã biết. Tuy nhiên, dụng ý của bác Thập là viết lại để thế hệ con và sau này là các cháu còn hình dung ra được. Hiện nay, những dụng cụ này chỉ còn có trong bảo tàng. Rất hiếm gia đình còn giữ lại làm kỷ niệm.

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG II      TUỔI THƠ   (tiếp 48)

     Nhà nó vẫn làm hàng xáo. Nó là con trai không biết sàng sảy như chị dâu và chị gái nó thì nó phải xay lúa, giã gạo.

     Để làm cối giã gạo, trước hết người ta lấy một cây gỗ to, phần đuôi đẽo nhỏ và mỏng hơn phần đầu, dài chừng ba mét, tạm gọi là cái cần cối. Đầu to của cần đục một lỗ mộng hình chữ nhật để tra cái chày vào, phía trên khóa lại bằng một cái chốt gỗ. Phần dưới của chày hình trụ tròn, đầu bọc sắt dầy, có khía quả trám để tăng ma sát. Chày đã giã nhiều, đầu sắt lên nước bóng loáng, xanh biếc ánh thép. Ở gần giữa cần cối, người ta đục một lỗ tròn xuyên ngang qua rồi tra một cái trục gỗ lim vào đó. Trục gỗ lim được đút xuyên qua hai cái ổ trục bằng gỗ rất cứng của vai cối. Nếu sang thì hai ổ trục được đóng hai vòng bi (vòng bi cũ của ô tô). Vai cối ở hai bên là hai cây gỗ chữ nhật, dầy khoảng mươi lăm phân, bản rộng chừng hai lăm phân mà trên mỗi cây đều đục ổ trục đồng trục với nhau. Hai vai cối được chôn sâu xuống đất, chỉ để nổi lên chừng bốn, năm mươi phân. Cối là một khối đá nguyên được khoét lõm và được chôn sâu xuống đất, mặt trên cao hơn nền bếp khoảng hai chục phân. Phía dưới đuôi của cần cối, người ta đào một rãnh sâu xuống đất để đuôi cần lấy chỗ hoạt động. Khi đạp vào cần cối, cả cần sẽ quay quanh trục, đuôi cần quay xuống thấp dưới rãnh, còn đầu cần quay lên cao, nhấc theo cái chày. Khi nhấc chân lên, Đầu cần rơi xuống, chày giã vào lòng cối. Khi đầu cần ngẩng lên, cần cối khá nặng, một người giã thì vất vả do vậy thường là hai đến ba người cùng đứng giã, dậm chân nhịp nhàng cùng nhau. Cối được kê dọc ở hai gian trong, áp sát tường nhà nó, bên trên có treo lơ lửng một thanh sào chạy ngang để vịn tay lấy đà khi giã.

Giã gạo bằng cối đạp chân

     Cối xay gồm có hai thớt được đan bằng tre, trong nhồi đất sét nhào kỹ với sợi gai và trấu. Tốt nhất đất nhồi được lấy từ tổ mối. Do có nước bọt của mối, khi đất khô đi rất cứng và bền chắc. Bề mặt tiếp xúc của hai thớt được đóng những dăm bằng gỗ lim, dầy chừng ba bốn li, thành những đường xoáy theo chiều đồng hồ, tỏa ra từ tâm, cách nhau chừng nửa phân. Dăm gỗ được đóng dọc thớ, ngập sâu trong đất để đảm bảo chắc, chỉ nhô lên khỏi đất chừng nửa phân. Như vậy, giữa các đường dăm là các rãnh sâu xuống để gạo và trấu thoát ra khi xay. Phần đất của thớt dưới thì hoàn toàn đặc. Còn phần đất của thớt trên thì lại lõm xuống hình phễu, thủng ở giữa để thóc dễ dàng chảy xuống vào hai má nghiền của hai thớt. Thớt trên còn có hai tai bằng gỗ bản dầy, mỗi tai đục một lỗ tròn để xỏ ngõng của cái tay quay. Bên dưới thớt dưới có một vành đai bằng tre rộng bao quanh khoảng hai chục phân, sâu chừng mươi lăm phân, cuốn lòng mo để đón thóc. Toàn bộ cối được kê trên giá tre có bốn chân. Cối nhà nó còn lắp thêm một miếng tre vào tai cối để làm cái gạt thóc. Tay quay được làm hình chữ “T” dài chừng mét rưỡi. Đầu tay quay có một cái mỏ, đầu mỏ là cái ngõng tròn bằng gỗ để xỏ vào tai cối. Đoạn ngang của chữ “T” dài khoảng năm chục phân. Một sợi dây chão được buộc vào giữa, treo tay quay lên xà nhà sao cho tay quay nằm ngang.

Xay lúa làm hàng xáo

 
     Ngày nào cũng như ngày nào chị em nó phải xay giã, giần sàng đủ hai gánh thóc cho bu nó đi bán.

Tranh Vợ chồng xay lúa

Nguyễn Trọng Thập

Sàng sảy thóc
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Hai, 2013, 10:00:02 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #351 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2013, 09:57:43 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG II      TUỔI THƠ   (tiếp 49)

     Thầy nó nghiện thuốc lào đã lâu năm. Cụ bị bệnh ho, càng già càng ho nặng. Mỗi lần châm lửa, rít chưa hết một hơi cụ lại lên cơn ho sặc sụa, chảy cả nước mắt, nước mũi. Mấy lần thầy nó đã quyết tâm bỏ thuốc. Cụ đập nát điếu vứt đi, nhưng chẳng được mấy lâu đã hút lại. Chuyện bỏ thuốc lào sao mà khó thế, người ta đã tổng kết thành ca dao cũng phải :

               Nhớ ai như nhớ thuốc lào,
               Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên.


     Bấy giờ bu nó đã năm mươi sáu tuổi, thầy nó năm mươi chín tuổi, bằng tuổi của nó bây giờ, khi đang ngồi viết những dòng này. Và, nó cũng bị bệnh ho, càng già ho càng nặng, cũng sặc sụa, chảy cả nước mắt, nước mũi y như hệt thầy. Tại vì nó cũng nghiện thuốc mà. Chỉ có điều nó nghiện không phải thuốc lào, mà là thuốc lá.

     Đêm đêm, thầy nó chẳng ngủ được bao nhiêu, chốc chốc lại lục sục dậy đi đái. Thế mà cụ lại thường dậy rất sớm. Sớm tinh mơ, thầy nó đã lọ mọ đun nước pha trà. Ông lấy nước vào cái siêu “nhuôm” bé tí teo như quả bưởi con, rồi bơm cái đèn cồn cũ bằng đồng, mua lại của đồng nát. Cụ châm lửa, ngọn lửa xanh lét loang loáng dưới đáy siêu. Trong khi chờ nước sôi, cụ rửa bộ ấm chén da lươn cũng bé tí teo. Nước sôi, cụ pha trà ngồi uống một mình, hai tay thường ôm vào cái xuyến cho ấm. Hôm nào chú Hiền em cụ ở Hải Phòng về chơi, hai anh em cũng ngồi như thế lầm rầm nói chuyện từ lúc bốn, năm giờ sáng. Thỉnh thoảng thầy nó lại hút thuốc lào và ho sù sụ. Hút xong điếu thuốc, cụ chiêu một ngụm nước rồi với lấy cái ống nhổ để dưới gầm giường, cụ khạc khạc và nhổ đờm vào đó.

     Thầy nó khéo tay lắm, tự làm một cái quạt bằng giấy bản, dán bằng nhựa cây cậy. Cái quạt dài quá khổ, phải đến bốn mươi lăm phân. Cụ thường mặc quần ta rộng thùng thình, thắt dải rút, cái áo may ô vải tự tay may, cổ vuông, tay vuông. Cụ vẫn cứ ăn mặc như thế khi ngồi ở góc phản tiếp khách. Cụ thường phe phẩy cái quạt giấy, khi nào ngứa lưng, cụ lại chụm quạt lại, thò vào trong áo gãi lưng sồn sột. Máu cụ nóng, già rồi mà rất lắm rôm. Đặc biệt là chân cụ không có lông và nó cũng giống bố nó điểm này.

     Thanh niên trẻ đua nhau mở hiệu may, cắt may theo lối mới với nhiều mốt tân kỳ. Thầy nó không thể cạnh tranh được nên khách hàng chỉ là các ông bà già khách quen nên thu nhập ngày càng giảm sút. Kinh tế nhà nó ngày càng khó khăn, các anh chị em nó lớn hơn, ăn nhiều, học hành rất tốn kém. Một mình bu nó chạy ăn, lo đủ mọi thứ nên quá sức chịu đựng. Càng ngày cụ càng hay cáu kỉnh. Mỗi lần xin tiền đóng học là nó rất sợ, xin thầy thì thầy chẳng có, quay sang xin bu thì cụ lại gầm lên :

     -   Lấy kìm ra vặn răng tao đi . . . !

     Không xin được tiền đóng học, đến lớp bị cô giáo nhắc nhở, bị ghi tên lên bảng. Nhục lắm ! Nhưng biết làm sao ?

Nguyễn Trọng Thập
.
.
     Trường cấp II thời bấy giờ (ảnh minh họa)
Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #352 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2013, 11:39:49 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG II      TUỔI THƠ   (tiếp 50)

     Nó đã mười ba tuổi và lên lớp sáu. Năm ấy, nó được cử đi thi học sinh giỏi văn khối sáu toàn huyện. Nó được giải nhì. Cộng với thành tích trong hoạt động công tác đội, nó được chọn đi dự Đại Hội Cháu Ngoan Bác Hồ toàn tỉnh. Mỗi xã chỉ có một người, huyện nó có mười hai xã nhưng chỉ có mười người được đi vì huyện duyệt lại danh sách do các xã gửi lên đã gạt bớt hai bạn không đủ tiêu chuẩn. Nó rất tự hào và trong lòng sung sướng lắm. Các anh chị phụ trách dặn đi dặn lại nó :

     -    Phải mặc quần xanh, áo trắng, quàng khăn đỏ. Tất cả phải  mới đấy nhá !

     Cả đời nó chưa bao giờ được mặc bộ quần áo nào mới nào theo đúng nghĩa mà toàn mặc thừa của các anh. Về nhà, ngập ngừng mãi, lừa lúc bu nó đang rất vui vẻ, ngồi bỏm bèm nhai trầu, nó mới dám mon men lại gần nói chuyện được đi dự Đại Hội. Bu nó nghe cũng phấn khởi lắm. Được thể, nó ngỏ lời xin bu bộ quần áo mới. Bu nó thở dài nói :

     -    Con ra bảo thầy chứ bu làm gì có, còn có mấy đồng bu vừa trả nợ tiền thuế xong. Thôi, đi ăn cơm đi.

     Thế là hết cách rồi ! Mặt nó tiu nghỉu buồn lắm. Bốn giờ sáng mai là phải đi rồi, chẳng làm sao được nữa.

     Thấy nó buồn bã chẳng thiết đến ăn, thầy nó nói :

     -    Con cứ ăn cơm xong, đi ngủ đi, sáng mai thầy sẽ may xong cho con.

     Nó bán tín bán nghi nhưng cũng yên tâm đi ngủ. Lòng nó xốn xang. Nó không ngờ mình hạnh phúc đến thế, được xuống tỉnh chơi, được đi dự đại hội. Ôi ! Vinh dự quá. Niềm vui và hạnh phúc cứ bồng bềnh trôi vào trong giấc ngủ của nó.

     Nó giật mình tỉnh giấc khi thấy có người lay lay vào vai nó. Mắt nhắm mắt mở, nó nhìn lên, thấy mái đầu bạc phơ của thầy nó đang cúi xuống thì thào :

     -   Dậy đi con, thầy may bộ quần áo xong rồi.

     Mắt thầy thâm quầng, gương mặt mệt mỏi phờ phạc. Vậy ra thầy đã thức trắng đêm may quần áo cho nó. Nó vừa cảm động vì sung sướng vừa thấy thương thầy quá. Tự dưng nước mắt nó trào ra.

     Sau khi xuống giếng đánh răng rửa mặt, nó lên nhà ăn vội bát cơm nguội với cá kho. Thầy nó đưa cho nó một túi xách trong đựng hai bộ quần áo lành lặn, hai cái quần đùi, khăn mặt, bàn chải và một hộp nhựa đựng thuốc đánh răng “Ngọc Lan”. Trên vai ghế vắt sẵn bộ quần áo mới, nó sỏ thử vừa thì như in. Cái quần được cắt và sửa lại từ cái quần công nhân có yếm được anh Trãi ở  đoàn xe vận tải Mười Sáu biếu thầy nó, vải còn mới. Cái áo thì trắng tinh mềm nhũn như vải lụa. Nó xúng xính trong bộ quần áo mới, xách túi chào thầy bu rồi ra cổng huyện tập trung.

     Đúng năm giờ xe chạy. Đó là một cái xe Êta Fanh (Ette Fain) của đoàn xe vận tải mới về đóng ở đầu phố mà huyện đoàn mượn, một chiếc xe tải không có mui mà trên thùng cũng chẳng có ghế, chỉ có hai chiếc chiếu trải trên sàn. Đầu xe cắm một lá cờ Tổ Quốc, một cờ Đội. Hai bên thùng xe treo băng rôn : “Đoàn học sinh cháu ngoan Bác Hồ huyện Mỹ Hào”. Có chiếu nhưng chẳng ai chịu ngồi kể cả chị phụ trách. Mọi người đứng bám vào thành xe để nhìn ngắm quang cảnh trên đường đi. Nắng sớm mai “chiếu lên ngàn muôn tia sáng” từ phía chân trời, phía mà chiếc xe của chúng đang chạy tới, phía đông, hướng Mặt Trời mọc. Gió hè hây hẩy, xóm làng, đồng lúa lao vùn vụt về sau. Hai lá cờ phần phật bay trong gió.

     Mới bảy giờ chiếc xe của đoàn nó đã đến nơi. Mọi người nhảy xuống, chạy ào vào sân hội trường tỉnh. Cờ, hoa và khẩu hiệu trang hoàng khắp nơi rất rực rỡ và tráng lệ. Từng bầy con trẻ, khăn đỏ đeo vai, quần áo đủ màu đang ríu rít như chim sẻ. Nó cảm thấy sung sướng và hạnh phúc lắm. Từ dưới hàng ghế nhìn lên bục chủ tịch đoàn, nó nhận ra có bạn Trần Đăng Khoa, thần đồng thơ của tỉnh nó đang ngồi trên đó. Lâu nay nó rất ngưỡng mộ bạn Khoa và tự hào vì Khoa cũng đồng trang lứa với nó.

     Đến lúc giải lao, tự nhiên nó thấy các bạn cứ nhìn nó, chỉ chỉ, trỏ trỏ. Nó không hiểu có chuyện gì. Chờ đến khi có đứa bạn cùng đoàn đứng lên và đi đến gần, nó mới hỏi :

     -  Tuân ơi ! Sao mọi người cứ chỉ tớ thế ?

     Thằng Tuân chỉ vào lưng nó :

     -    Cậu không biết à ? Cậu mặc cái áo "Nhà Máy Phân Đạm Hà Bắc".

     Dơ vạt áo ra nó cãi lại :

     -   Đâu, tớ mặc áo trắng thầy tớ mới may đấy chứ.

     -    Nhưng thầy bạn may bằng vỏ bao phân đạm Hà Bắc, giặt chưa sạch nên vẫn còn chữ đây này. - Thằng  Tuân bảo.

     Nó giật mình rủ thằng Tuân vào nhà vệ sinh. Nó cởi áo ra nhìn. Ôi trời ơi ! Đúng giữa lưng áo, một nhãn hiệu tròn xoe "NHÀ MÁY PHÂN ĐẠM HÀ BẮC" đen đen, mờ mờ nhưng nhìn khá rõ. Nó vừa ngượng, vừa buồn cười, vừa tủi thân, vừa nghĩ mà thương thầy bu nó.

Nguyễn Trọng Thập
.
.
Nhà Máy Phân Đạm Hà Bắc
.
.
Thuốc đánh răng Ngọc Lan (vẽ mô phỏng lại)
Logged

linh71
Thành viên
*
Bài viết: 115


« Trả lời #353 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2013, 09:43:44 am »

            Chào bác TichTuongNhuLe. Ngồi đọc “Chuyện thật chưa đặt tên” của bác mà tôi nhớ lại tuổi thơ của tôi thời sơ tán về quê với bác những năm 65-66. Nhớ làm sao chiếc cối xay đặt nơi góc bếp, chiếc cối giã gạo đạp chân già nua nơi đầu hè, mà mỗi khi nhấn cần cối nó lại rên lên não nuột...Đọc tới đoạn thằng Thập(hay là bác đấy) mặc bộ quần áo bố mới may cho để đi dự hội mà tôi chảy nước mắt...Một thời gian khó qua đi, bây giờ con cái chúng ta nó không còn khổ như thế hệ ông cha chúng thời trước nữa. Nhưng ở vùng quê vẫn còn nhiều nhà khổ lắm. Tôi mới về quê mang lễ về thắp hương thấy không khí cũng đìu hiu lắm. Định tìm nải chuối xanh mang lên mà không có vì trận bão vừa rồi làm tan nát hết cả...
      Bác kiếm đâu ra mấy bức ảnh làng quê quý quá.
Logged
TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #354 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2013, 09:29:50 pm »

           
      Bác kiếm đâu ra mấy bức ảnh làng quê quý quá.


     Bác Linh71 !  Những cái ảnh minh họa phần lớn tôi kiếm trên mạng. Một số cái phải gia công lại bằng PhotoShop. Chỉ có mấy cái là ảnh tôi chụp.

     Bác Nguyễn Trọng Thập là bạn tôi (như đã nói từ đầu). Bác ấy gốc là dân Mỹ Hào. Tôi và bác giống nhau, mãi đến 1965 sơ tán mới biết thế nào là thôn quê . . .

-------------------------------------

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG II      TUỔI THƠ   (tiếp 51)

     Đoàn xe đóng ở phố nó được mệnh danh là “cơn lốc đường năm” có vài chục xe, chủ yếu là Gát (Gaz 63 – MoHoToBa, Liên Xô), I Pha (IFA-W50, CHDC Đức) và xe Giải Phóng (Trung Quốc). Họ chuyên vận tải hàng viện trợ của các nước bạn, trung chuyển từ cảng Hải phòng về ga gia Lâm để chuyển tiếp đi các nơi. Các lái xe chủ yếu là thanh niên trẻ chưa vợ và rất vui tính. Họ hay xuống nhà nó may vá quần áo, một phần cũng là để nhăm nhe nhòm ngó chị Thất và chị Vận nó. Anh Trãi người Cao Bằng, to cao, trắng trẻo, đẹp trai kiên trì theo đuổi chị Vận. Chị Vận đang thì con gái cũng xinh xắn, hấp dẫn, phải cái giống nhà ngoại, răng hơi vổ. Người theo đuổi chị Thất là anh Sáu, quê ở Bắc Giang. Tuy anh hơi đen nhưng cũng to cao, có râu quai nón rậm, trông rất đàn ông.

     Hai anh theo đuổi các chị nên rất chiều nó. Đi đâu về, các anh thường cho nó quà, khi thì đẵn mía, lúc vài quả chuối, . . . . Nó thích nhất là được hai anh cho vào đoàn xe chơi. Ở đó, nó thường ngồi chăm chú xem các anh sửa xe. Thấy có nhiều dầu luyn (dầu nhớt để bôi trơn trong động cơ) đọng trên các vũng nước, nó liền nảy ra ý thu lượm lại. Nó dùng nửa con trai hay bát vỡ vớt dầu trên các vũng đó đổ vào ống bơ. Nó mang dầu về trút vào chum. Khi đầy chum, nó gọi người đến bán lấy tiền.

     Thỉnh thoảng hai anh cho cả lũ chúng nó leo lên thùng xe phóng đi xa, tìm chỗ rửa xe. Đó là những đầm nước ven đường mà xe có thể xuống sát được. Hai anh và bọn trẻ dùng xô, chậu té nước lên xe để rửa. Vừa làm mọi người vừa đùa nghịch với nhau, thật là vui. Trên đường rửa xe về, bao giờ xe cũng đỗ ở cửa nhà nó. Các anh thì vào tán tỉnh các chị của nó còn chúng nó thì trèo lên nóc ca bin, lấy gậy chọc bàng. Những quả bàng trâu, bàng cơm, bàng mỡ to tướng trên bốn cây bàng trước cửa nhà nó rất ngon, ngọt “lịm ga” (từ của dân xế). Kể về bàng ở phố nó thì phải nói đó là một đặc sản. Đến mùa bàng chín, người lớn, trẻ con cả làng, người thì trèo lên cây rung mạnh, người thì đáp cho bàng rụng. Lũ trẻ thi nhau tranh cướp. Mấy đứa còn dùng áo may ô, kéo rộng ra để hứng bàng, chả khác gì cảnh trong bức tranh Đông Hồ “Hứng Dừa”. Có lần nó hứng và tranh cướp được vài chục quả. Lớp cơm bàng chín vàng, ngon ngọt và thơm không thể tả được. Gặm hết cơm bàng, chúng lấy gạch đập hột bàng, khều chén nhân trắng bên trong. Nhân bàng ăn vừa béo vừa bùi, không gì có thể so sánh được. Mãi về sau này, khi nó biết đến hạt hạnh nhân, thì hạnh nhân cũng chẳng sánh được.

Bàng chín

Nhân bàng - đặc sản Côn Đảo

     Thỉnh thoảng có chiếu phim, diễn kịch ở xa mươi, mười lăm hay hai chục cây số, các anh ấy lại chở mấy ô tô trẻ con trên thùng, hành quân đi xem, rất rầm rộ. Không có vé thì cứ ngồi trên nóc xe mà xem, hơi xa một tí nhưng cũng tốt chán.

Nguyễn Trọng Thập

-----------------------------------------------------------------------


        
Năm mới Quý Tỵ - Chúc Tất cả các anh chị em VMH  

     An Khang - Thịnh Vượng - Hạnh Phúc
     Dồi Dào Sức Khỏe - Trẻ Mãi Không Già !


    
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Hai, 2013, 09:51:14 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #355 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2013, 10:43:02 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG II      TUỔI THƠ   (tiếp 52)

     Trước kia thầy bu nó thỉnh thoảng chỉ vặc nhau sơ sơ. Nhưng càng ngày các cụ càng hay cãi nhau. Độ rày, các cụ cãi nhau thường xuyên, như cơm bữa. Chẳng biết chuyện đó có phải do thầy đã có tuổi, sức khỏe kém, đau ốm luôn, đêm hay mất ngủ mà đâm ra trái tính trái nết hay là do bu nó vốn khó tính, càng già càng khó tính hơn.

     Có một bận thầy bu nó cãi nhau to lắm. Thầy nó dỗi mang máy khâu và đồ đạc, quần áo vào ngõ Bưởi ở riêng. Ở ngoài phố chỉ còn bu nó, anh Bát và chị Thất. Chị Bính nó thì theo thầy vào Bưởi. Mặc dù rất buồn, nhưng thương thầy, nó cũng theo thầy cho có người nọ người kia để thầy nó sai vặt. Hơn nữa thầy nó đã yếu do bị hen suyễn, phải có các con ở cùng mỗi khi trái gió trở trời.

     Biết thầy nó kiếm tiền khó khăn. Chị Bính nó cuốc vườn trồng su hào, bắp cải, dưa gang, dưa bở, dưa hấu. Chị còn làm một nhà xí con con ở góc vườn để lấy phân tưới rau, kê một cái chum con bên cạnh để lấy nước tiểu. Nó cũng giúp chị nó dựng nhà xí, dựng một chái bếp con, cuốc đất, trồng và tưới rau trong vườn. Thỉnh thoảng, anh Bát, chị Vận và chị Bảy nó cũng vào làm giúp thêm.

     Thầy nó xin thằng Biển “Xít” con chú Đàm ở gần đó một cái dậm cũ còn khá tốt. Vì nó vẫn còn còi cọc lắm nên thầy nó cạp lại cái dậm nhỏ bớt đi cho đỡ nặng. Rồi cụ đan cho nó một cái giỏ. Từ bấy giờ nó hay theo thằng Biển (em họ nó), thằng Đồng con chị Bân trong hội đánh dậm ở thôn Bưởi có cái tên “ phi đội bay”. “Phi đội bay” “bổ nhào” đánh cá, tung hoành khắp các ngả đồng. Nó không biết bơi nên chỉ dám đánh ở những vũng, những mép ao, nướ ngập quá gối một chút. Mà thực ra cũng phải đánh ở những chỗ đó mới có nhiều cua cá nhỏ trốn dưới các bụi cỏ, các đám rễ bèo, đám rong rêu, đám khoai ngứa, . . . . Thường bọn bạn nó đánh giỏi hơn, có hôm được đầy giỏ. Nó mới tập đánh dậm, ban đầu chỉ được khoảng một bát con, rồi sau mới tăng dần lên đến lưng giỏ. May mắn lắm nó cũng chỉ được trên lưng giỏ.

     “Phi đội” thường đi cùng nhau một đoàn mươi đứa. Phần thì đi đông cho vui, phần thì đấy là “đội hình chiến thuật” để đánh được nhiều cá. Khi “oanh tạc” một cái ao, chúng tản ra đánh từ ngoài vào để dồn cá vào giữa, cuối cùng quây lại là “hốt trọn ổ”. Hơn nữa, đi oanh tạc xa làng đến bốn, năm cây số, một “phi đội” đông “rợp trời” sẽ hỗ trợ lẫn nhau đỡ bị hội làng khác bắt nạt.

     Khi xuống nước, việc đầu tiên là hạ dậm xuống phía trước xa chân khoảng bẩy chục phân. Ấn và giữ chặt cán dậm sao cho miệng dậm bám sát xuống bùn. Đưa bàn đạp xuống sát chân, tay phải cầm chặt sợi chão buộc hai đầu bàn bàn đạp, phối hợp cùng với chân phải, nhấc lên hạ xuống nhịp nhàng, dập đều cho bàn đạp tiến dần vào mép giậm. Khi bàn đạp vừa tới mép dậm, lập tức ngửa miệng dậm lên nhanh khỏi mặt nước, chao nghiêng qua lại vài lần cho chảy hết bùn đất trong dậm và dồn tôm, cá, rong rêu vào một góc. Sau khi nhặt rong rêu, rác rến vứt đi, chao thêm vài cái nữa để rửa sạch tôm cá. Cá to thì bắt cho ngay vào giỏ. Để lấy tôm tép ra khỏi dậm thì khum bàn tay, vỗ nhẹ vào thành dậm, do dậm đàn hồi, tôm cá sẽ nẩy tưng lên. Bấy giờ chỉ việc thò tay đỡ lấy, bao nhiêu cũng vào giỏ hết.

     Riêng cái bàn dậm chân, đó là một cái ống tre dài khoảng tám, chín chục phân. Ở quê nó, người ta buộc một sợi chão vào hai đầu ống để làm cái “tay cầm”. Nhiều nơi khác, tay cầm là một thanh tre uốn cong hình bán nguyệt, hai đầu cắm vào ống tre, có vẻ chắc chắn và dễ điều khiển hơn (như hình minh họa).

Đồ nghề đánh dậm

     Sau mỗi buổi “oanh tạc”, cả “phi đội” thường tung tăng bơi lội, tắm táp, nô đùa trong hồ nước. Nó nhìn các bạn thì thèm lắm mà chỉ dám rửa chân tay rồi ngồi vào bóng mát chờ các bạn tắm xong sẽ cùng tới chợ. Nó dốc giỏ ra mẹt cho các bà mua buôn ở chợ. Các bà “hàng tôm, hàng cá” chọn nhặt hết các con ngon. Nó mang về nhà một mớ tiền lẻ đưa cho bố và một mớ cá tép tẹp nhẹp đem kho kỹ với tương ăn dần. Nhưng thường thì nó cũng ít khi bán. Nó hay tạt về nhà chính đưa cho bu già nửa, non nửa còn lại nó mang về cho thầy.

     Vậy mới có thơ cổ “Vịnh Thằng Đánh Dậm” :

Sớm ngày cơm nước cất binh mau,
Khí nghệ sắm sanh đủ trước sau,
Cán lọng giữa trời người đứng đó,
Tay cầm bán nguyệt dậm chân mau.

Những phường trê chuối đều sây vẩy,
Đòng đong cân cấn cũng dập đầu.
Việc nước xong rồi về kẻ chợ,
Bấy giờ các chị mới tranh nhau.

     Đối với nó, có lẽ, nên sửa câu cuối thành :

Việc nước xong rồi về kẻ chợ,
Bấy giờ “phi đội” mới tranh nhau.

Nguyễn Trọng Thập


"Thằng" đánh dậm

Chị em đánh dậm (tranh thêu)

Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #356 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2013, 09:58:54 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG II      TUỔI THƠ   (tiếp 53)

     Ở ngõ Bưởi chị em nó còn nuôi một đôi lợn, hai con chó con và một đàn vịt để tận dụng cái ao bèo tây rất to ở gần đấy. Lúc rảnh rỗi, cái ao đó cũng là nơi nó thường hay ngồi buông câu. Dưới cây cối um tùm, gió hè hây hây, không gian tĩnh lặng, trong lòng nó thơ thới, thanh bình và nhiều xúc cảm.

     Một lần nghe người ta kháo nhau nuôi giun đỏ bán xuất khẩu  đắt lắm. Nó hì hục đào một cái hố rộng một mét vuông, sâu chừng sáu tấc ở gần gốc táo. Xong nó đi hót phân trâu, vơ mùn rạ thối đem trộn với trấu rồi đổ đầy hố, tới miệng. Nó đi mua một đồng giun giống thả xuống hố. Hàng ngày nó nóng lòng theo dõi hố giun. Mãi  vẫn không thấy “động tĩnh” gì, giun chẳng thấy đâu, chỉ thấy mùi hôi thối nồng nặc. Chán nản, nó định bỏ cuộc thì bị thầy nó mắng :

     -    Thằng này chỉ “no người chán nết”, chưa làm đã bỏ dở, không có quyết tâm, cũng chẳng học
          hỏi cho đến nơi đến chốn. Ngữ mày, sau này vào đời, chả làm nên cơm cháo gì đâu con ạ !
 
     Nghe thầy mắng thế, hiểu ra, nó đi học hỏi cẩn thận kỹ thuật nuôi giun. Về nhà, nó sới lại cái hố giun, trộn thêm mùn cưa để tạo thêm mùn và hút bớt độ ẩm của đất. Một tuần sau, giun sinh sôi nẩy nở rất nhiều, đỏ au cả hố phân.

     Sát cạnh vườn nhà nó về phía sau là đất nhà bác Phán Lâm, có họ với nhà nó. Hai bác ở Hà Nội đã về hưu và sơ tán về làng cùng người con út là chị Thao, lớn hơn nó một tuổi nhưng học cùng lớp sáu với nó. Dù mới mười lăm nhưng chị Thao phổng phao xinh đẹp lắm.

     Lớp sáu của nó năm ấy có cô Ngà dạy môn văn, thầy Biểu vừa dạy môn toán vừa là thầy chủ nhiệm lớp. Thầy Biểu là  người miền Nam tập kết mới được điều về trường. Thầy chưa có chỗ ở nên ở nhờ nhà bác Phán Lâm. Nhà Bác Lâm vừa rộng rãi mà bác còn trồng rất nhiều hoa trong vườn, lại còn nuôi cả chim bồ câu và mấy con chim cảnh nữa. Bác Lâm nghĩ là thầy Biểu có chỗ ở tốt sẽ yên tâm dậy dỗ các cháu, mà cũng tiện có thầy ở trong nhà dạy kèm thêm cho chị Thao. Thầy Biểu là thầy giáo trẻ, trắng trẻo, đẹp trai, tóc bồng bềnh như nghệ sỹ lại chơi chơi ghi ta rất hay nên các trò lớp nó và chị Thao rất quý thầy.

     Thầy Biểu dậy kèm chị Thao và nó môn toán. Ngoài ra thầy còn dậy nó chơi đàn ghita. Những lúc rảnh rỗi thầy Biểu còn chăm sóc hoa, tưới rau và làm vườn cùng chị Thao và gia đình bác Lâm.

     Cô Ngà dậy môn văn cho khối năm và khối sáu. Cô mới hai mươi hai tuổi, vừa ra trường. Dáng người cô nhỏ nhắn, da trắng, tóc dài, khá xinh gái. Nhớ về cô Ngà, bây giờ nó lại nhớ đến thằng Bão em con chú nó. Thằng Bão bị đúp hai năm, xuống học lại lớp bẩy. Chết nỗi thằng Bão lại yêu cô giáo của nó. Giá mà nó cứ thầm yêu cô Ngà thì ai biết đấy là đâu. Đằng này, bất cứ chỗ nào công cộng có thể viết được là nó viết. Trên tường các lớp học, ngoài tường rào của trường, các bờ tường trong thôn nơi cô Ngà ở trọ, trên bảng đen, trên bàn giáo viên, chỗ nào nó cũng vẽ một trái tim có mũi tên xuyên qua, bên dưới đề Ngà-Bão.

     Cô Ngà còn quá trẻ, chưa biết cách xử lý chuyện này như thế nào nên đem chuyện báo cáo với ban giám hiệu. Thằng Bão bị phê bình trước toàn trường và bị dọa đuổi học. Từ đó, thằng Bão chuyển từ yêu cô sang ghét cô. Nó yêu cô thì nó đã viết khắp nơi như vậy. Bây giờ nó ghét cô thì sẽ chẳng khó đoán, rằng nó sẽ làm những chuyện gì với cô.

     Một hôm, rình đúng giờ văn của cô Ngà, thằng Bão lấy lá ngứa chà sát vào ghế ngồi. Sau đó nó bôi nhựa mít lên. Cô Ngà mặc quần phíp (một loại vải rất mỏng và mềm, thường để may quần con gái trẻ thời đó), đâu có biết có chuyện gì với chiếc ghế. Ngồi một lúc trên ghế, chắc cô thấy nóng và ngứa. Cô ý tứ đứng lên định gãi, nào ngờ nhựa mít dính chặt quần cô với ghế, cái quần chun của cô bị tụt xuống, còn mỗi cái si líp. Học trò ở dưới “Ồ  . . . !” lên một lượt vì quá bất ngờ. Cô Ngà thẹn quá, mặt đỏ bừng. Mấy trò con gái vội chạy lên gỡ hộ quần cho cô.

     Sau chuyện đó, cô Ngà xin chuyển trường. Từ đó không  ai còn gặp lại cô nữa. Chuyện nghịch hiểm của thằng Bão cũng không ai biết. Về sau này, khi đã là người lớn, một dịp nào đó, thằng Bão mới “bật mí” ra chuyện đó. Một trò thật quá đáng !

     Dạy văn thay cô Ngà là cô giáo My. Cô My cũng trẻ, khoảng hai mươi lăm, hai mươi sáu tuổi. Cô rất gày, gày giơ xương. Trông cô không có một chút sức sống nào, mông lép, ngực tóp. Cảm tưởng như chỉ cần cơn gió là cô sẽ bị thổi bay. Lần này thằng Bão cũng không thích cô giáo mới nên nó lại nghĩ ra cách trêu chọc. Nó vẽ hình “cái kia” lên bảng, phía dưới đề chữ “My lá tre”. Rồi sau, mọi người phản đối và khuyên nó nên nó mới thôi không trêu chọc cô nữa. Cuối năm đó, thằng Bão tốt nghiệp cấp hai (hết lớp bẩy) và xung phong đi bộ đội.

     Chuyện về hai cô giáo dạy văn của nó là như vậy nhưng cũng không buồn bằng chuyện thầy Biểu dậy toán. Đời học sinh có nhiều kỷ niệm, vui có, buồn có. Có những chuyện muốn quên mà chẳng thể quên được.

Nguyễn Trọng Thập
Logged

qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #357 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2013, 10:13:44 pm »

Úi giời chuyện của bác TTNL và bác Thập hóm ra phết. Ở trường em hồi xưa cũng có một cu tý có nhớn mà chẳng có khôn, nghịch dại trêu cô giáo xinh, thế là cu tý bỗng nhiên trở thành sinh viên năm thứ 5 học lớp 6 liền hà. Hi hi.
Logged
TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #358 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2013, 12:18:37 am »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG II      TUỔI THƠ   (tiếp 54)

Đời học sinh có nhiều kỷ niệm, vui có, buồn có. Có những chuyện muốn quên mà chẳng thể quên được.

Một chuyện muốn quên

     Hôm ấy cuối tháng, hai bác Phán Lâm về Hà Nội họp tổ hưu, tổ Đảng, lĩnh lương, đong gạo và mua các nhu yếu phẩm khác. Chiều đến, cơn bão số bẩy đổ bộ về, mưa rất to, gió giật từng cơn, sấm chớp ầm ầm liên hồi. Trời càng tối, mưa bão càng dữ dội. Thầy nó, chị Bính và nó đang ăn cơm tối, thoảng nghe trong mưa bão có tiếng “Ơi . . . ơi . . . !” ở đâu đó. Cả nhà không để ý cứ ngồi ăn cơm. Một lúc sau, chợt một thoán lặng im tiếng sấm, mọi người nghe rõ tiếng kêu thét của chị Thao :

     -     Bác Trưởng ơi . . . ! Cứu cháu ! Cứu cháu . . . !

     Cả nhà nó lập tức bật dậy, quàng vội áo mưa, chạy ào sang nhà bác Lâm, nơi mà chị Thao đang kêu cứu. Cùng lúc đó những người bên nhà chú Đàm bên cạnh cũng đang lô nhô trèo rào sang.

     Vừa tới nơi, nó thấy chị Thao lao từ trong nhà ra, đầu tóc rũ rượi, áo bị xé rách toang. Hai tay chị bắt chéo phía trước để che bộ ngực trần. Ở phía dưới, quần dài của chị bị tụt xuống, chưa kịp xốc lên, để lộ một bên quần lót màu đỏ. Chị Thao lao tới ôm cứng lấy chị Bính, khóc nấc lên, nghẹn ngào :

     -    Thầy Biểu . . . , thầy Biểu . . .  hiếp em . . . !

     Chị Bính ôm chặt chị Thao, lấy cái áo mưa đang mặc chùm lên che cho chị Thao. Nó theo những người khác chạy vào trong nhà. Dưới ánh đèn dầu lờ mờ, trong cảnh giường chiếu lộn xộn, chăn màn tung tóe, nó nhìn thấy thầy Biểu mặc vội quần đùi, rồi luýnh quýnh buộc cái dải rút. Và đấy là thứ y phục duy nhất lúc đó.

     Mọi chuyện đã rõ. Mấy người lớn bao vây chặt lấy thầy Biểu. Có ai đó sáng một cái bạt tai rất mạnh vào mặt thầy và quát :
    
     -     Đồ khốn nạn ! Khốn nạn quá . . . !

     Mấy người giữ chặt thầy Biểu rồi trói tay lại. Thầy Biểu bị giải lên trụ sở công an xã.

     Từ hôm ấy không còn thấy thầy đâu nữa. Nghe đâu thầy bị xử án và bị giam ở nhà giam Kim Chi ở dưới tỉnh thì phải.
Ngày bão tan, buổi chiều bác Phán Lâm ở Hà Nội về. Biết chuyện, bác vừa đau khổ vừa thương con. Ngay chiều hôm sau, bác thu dọn đồ đạc, quần áo, gọi xe ô tô cơ quan chuyển hết đi nơi khác.

     Từ đó tới nay nó không lần nào gặp lại chị Thao nữa. Căn nhà của bác Lâm, sau này, chú Mỳ, một lão thầy bói mù, em bác Lâm, đến ở nhờ và trông coi hộ.

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Hai, 2013, 08:52:15 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #359 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2013, 10:19:32 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG II      TUỔI THƠ   (tiếp 55)

     Mấy anh ở đoàn xe theo đuổi hai chị nó nhưng thầy bu nó chê xa, không gả. Ít tháng sau đoàn xe chuyển đi, các anh ấy cũng biệt tăm từ đó.

     Ở trên thôn trên có anh Phương con nhà cụ Hai Đan, một thiếu tá đẹp trai, người tầm thước, trắng trẻo, hiền lành, môi lúc nào cũng đỏ như con gái tô son. Anh bị thương, giải ngũ về làng. Thấy chị Thất nó xinh gái, anh nhờ người mai mối đánh tiếng. Bu nó ưng lắm nên vào Thôn Bưởi hỏi ý kiến thầy. Rồi bu nó nói :

     -     Bây giờ phải chuẩn bị lo chuyện cho con rồi, không lẽ ông một nơi, bà một nẻo như thế này thì “đẹp mặt” lắm !

     Hai ông bà “đành” không giận nhau nữa (?!). Thầy nó, chị Bính và nó lại trở về nhà. Còn cái vườn ở Bưởi thì chị Bính dọn dẹp lại rồi nhờ chú Đàm và chú Trình hàng xóm trông coi hộ. Thỉnh thoảng chị Bính chỉ vào tưới tắm và thu hoạch.

     Ngay hôm sau ngày thầy nó trở về nhà, gia đình cụ Hai Đan và Anh Phương đến nhà thưa chuyện. Bu nó sai nó dẫn anh Phương xuống Hưng Long, nơi chị nó đang dạy học để đón chị. Anh Phương đạp xe đạp đèo nó trên đoạn đường đá dài năm cây số. Hai anh em vừa đi vừa trò chuyện. Nó thấy anh Phương hiền hiền nên cũng quý.

     Chị nó đang dạy một trong các lớp học sơ tán tại đây. Đó là một lớp học nhỏ trong một căn nhà tranh ba gian rộng chừng bốn chục thước vuông nằm ẩn mình dưới hàng tre cao vút và um tùm. Đằng sau lớp chị, thấp thoáng còn có vài lớp khác nữa nằm trong vườn mít, vườn xoan mát mẻ. Xa hơn nữa là con đường với những bậc thang bằng đất thoai thoải dẫn xuống bến đò Chằm Xuyên bên bờ sông Sặt.

     Anh Phương thấy ngài ngại nên dừng xe ở xa, đứng đợi. Nó xuống xe, xăm xăm đi thẳng vào cửa lớp. Nó thấy chị Thất đang viết trên bảng đen và nghe tiếng chị giảng bài thánh thót, giọng trong leo lẻo. Hơn bốn mươi cặp mắt trẻ tròn xoe đang tập trung nhìn theo tay chị nó. Nó khẽ gọi :

     -     Chị Thất ơi !

     Chị nó thảng thốt dừng tay, quay ra nhìn nó. Rồi chị khẽ gật đầu, bước tới. Nó ra vẻ quan trọng, ghé tai chị thì thào :

     -     Thầy bảo chiều  nay chị về sớm, nhà có khách.

     Chị nó cười :

     -     Em về trước đi ! Tí nữa chị về.

     Anh Phương ở ngoài ý tứ ngắm trộm chị qua lùm cây. Chắc hẳn anh thấy chị nó xinh nên anh có vẻ phấn khởi lắm. Trên đường về, nó hỏi :

     -    Anh thấy chị em có được không ?

     -     Quá được là đằng khác.

     Chiều ấy chị nó về sớm để anh Phương ra mắt, làm quen với chị. Nó đang hồi hộp theo dõi chuyện của chị thì phải đi họp đội nên nó tiếc lắm. Chẳng biết trong lúc nó đi họp hai anh chị đã nói những chuyện gì. Không biết chị Thất có ưng anh Phương không?

     Mấy ngày sau đó nó thấy anh chị quấn quýt nhau lắm. Hàng ngày anh  lóc cóc xe đạp đèo chị, đưa đi đón về. Thì ra là như vậy! Nó cũng mừng lắm.

Nguyễn Trọng Thập
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM