Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:39:25 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những chuyện không thể quên - Cười ra nước mắt (Phần 4)  (Đọc 461510 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #390 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2013, 09:27:33 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG III      VÀO ĐỜI (tiếp 9)

     Buổi chiều thi trang trí với đề tài “Anh hay chị hãy vẽ một cảnh sinh hoạt mùa hè mà anh chị thích”. Chà ! Cái này hay đây. Trong đầu nó hiện lên những hình ảnh quen thuộc của quê hương. Thế là nó quyết định vẽ cảnh con trâu nhà nó đang nằm nghỉ nhai cỏ ở dưới gốc bàng. Bên cạnh đó có 3 bác nông dân dừng gánh, dừng cày ngồi nghỉ. Một bác đang hút thuốc lào, hai bác dùng nón quạt và nói chuyện vui vẻ. Rồi nó vẽ thêm một thằng bé con đang bốc cỏ cho trâu ăn. Thằng bé con cho con trâu nhà nó ăn cỏ thì còn ai vào đây nữa . . . !?

Xưởng họa của Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (thời Pháp)

     Chiều tối thi xong nó đi bộ về nhà chị nó. Sáng hôm sau lại cuốc bộ đến trường. Trưa hôm đó nó được anh Chí (anh rể nó)  mang cơm đến và đưa qua hàng rào. Nó cảm thấy ấm cúng tình cảm gia đình chứ không còn lẻ loi như ngày hôm trước. Ngày hôm đó sáng thi môn toán, chiều thi văn. Hết giờ thi, nó được anh Chí đến đón bằng  xe đạp Thống Nhất. Đi đường, anh hỏi nó thích ăn gì, anh mua cho. Nghe anh bảo thế, nó cảm động lắm. Lâu lắm rồi nó chẳng được ăn quà nên nó cũng chẳng biết chọn món gì. Nhớ lại, ngày bé nó lên chơi với thầy nó ở phố Huế, được ăn bi don don rất ngon, bây giờ lại thấy thèm. Kể cũng hơi buồn cười vì bây giờ nó đã lớn lại thích món quà trẻ con đó. Dù sao, với anh Chí thì nó cũng không ngại, nên khi đi qua “Nhà Bạt” (Đoàn Xiếc Nhân Dân Trung Ương hồi đó diễn trong nhà bạt, tại địa điểm Rạp Xiếc hiện nay, đầu đường Trần Nhân Tông), nó bảo anh Chí mua cho nó một hào bi don don.

     Nhà trường đã thông báo mỗi tỉnh chỉ tuyển một đến hai thí sinh. Trong đó sẽ có xuất ưu tiên cho con thương binh, liệt sỹ và gia đình có công cách mạng. Sau khi có kết quả chấm thi, nhà trường sẽ gửi giấy gọi đến địa chỉ của thí sinh theo đường bưu điện. Thời gian đó, kể từ ngày 1/11/1968, Mỹ ngừng ném bom miền Bắc nên nếu thí sinh nào ở xa nhất thì cũng chỉ 15 ngày sau sẽ nhận được giấy báo.

     Thi xong, nó ra Bến Nứa (bến xe khách phía Bắc, ở đầu cầu Long Biên) đi xe hàng về quê. Trong những ngày chờ đợi, nó rất lo, vì tỉnh nó có mười người thi, lại có xuất ưu tiên nữa. Còn nó, không khéo lại còn bị “phản ưu tiên” do thành phần gia đình bị quy trong cải cách ruộng đất. Thấp thỏm chờ đợi, nó đếm từng ngày, từng ngày trôi qua.

     Đã hai mươi ngày mà nó không nhận được giấy báo, cũng chả có tin tức gì khác. Biết là mình bị trượt, nó rất buồn. Nhưng rồi nó cũng cố lên trường hỏi cho chính xác may ra mới yên tâm. Thôi thì nhân thể lên Hà Nội mua một ít giấy bút, bột màu về nhà luyện thêm để sang năm thi lại. Hơn nữa, đang buồn nên nó muốn lên nhà anh chị chơi cho khuây khỏa. Thày bu nó cho nó ít tiền. Thế là nó bắt xe hàng lên Hà Nội.

     Tới nhà chị Dụng buổi sáng thì buổi chiều nó phi ngay vào trường. Tới nơi, nó thấy các bạn được báo đỗ đã đến tựu trường khá đông đủ, trong đó có cả Sơn Hồng. Tưởng nó cũng tựu trường, Sơn Hồng ngạc nhiên hỏi :

     -     Chăn màn quần áo của mày đâu ?
     -     Tao có đỗ đâu mà mang.
     -     Ơ . . . ! Mày có tên trong danh sách đỗ mà. Ra bảng tin mà xem ! – Thằng Hồng cự lại.

     Bán tín bán nghi, nó chạy ngay ra bảng tin. Nó cứ nhìn chăm chăm vào cái danh sách, dường như không tin vào mắt mình, nhưng nó thấy tên nó rõ ràng ở đó. Nó mừng lắm nhưng rất thắc mắc, tại sao nó không có giấy báo. Thằng Hồng bảo nó :

     -     Mày vào Phòng Tổ Chức hỏi lại xem thế nào !

     Nó liền vào phòng tổ chức gặp ông Thanh Thai trưởng phòng. Đó là một ông già nhỏ bé, gày còm, mắt đeo kính cận, trông có vẻ khó tính. Nó lễ phép hỏi :

     -     Chú ơi ! Cháu có tên trong danh sách đỗ sao không có giấy báo về quê ạ ?

     Ông Thai ngước cặp kính lên nhìn nó, nét mặt quặu cọ, giọng  cáu bẳn :
    
     -     Không có giấy báo, tức là không đỗ ! Còn hỏi . . . hỏi cái gì ! !
     -     Chú ơi ! Ở trên bảng tin, cháu thấy có tên cháu trúng tuyển mà.
     -     Đi mà hỏi người đánh máy, người ta đánh nhầm. Tôi không biết. -  Ông Thai quát lên.

     Nó sợ quá, đành cun cút cúi đầu bước ra khỏi phòng. Trong lòng buồn bã, nó lủi thủi ra về.

Phòng tranh của nhà trường (thời Pháp)


     Sáng hôm sau, nó mua vài thứ lặt vặt và hai con cá vàng, đựng trong một cái lọ nước. Rồi nó lại ra Bến Nứa, chen vào mua vé xe về quê. Một tay nó cầm cuộn giấy, một tay cầm lọ cá. Xe thì rất chật, chẳng có chỗ ngồi, nó phải bám vào thanh tay vịn. Nó cứ luôn luôn phải để ý mọi người xô đẩy, không khéo thì vỡ lọ, chết cá. Trên đường về nó cứ nghĩ miên man. Làm sao cho khỏi ngượng mặt với gia đình và bạn bè, rằng nó thi trượt. Nó cũng phải tìm cách, lựa lời nói thế nào về thất bại ê chề của nó cho thầy bu đỡ buồn.

     Những ngày này là những ngày cuối tháng 8/1971, đang có trận lụt lớn chưa từng có ở đồng bằng sông Hồng (Về sau này, được biết, đây là trận lụt lớn nhất thế kỷ 20, theo đánh giá của cơ quan khí tượng Hoa Kỳ, vỡ đê sông Hồng, làm trên một trăm ngàn người thiệt mạng). Nhìn qua cửa kính, nó thấy hai bên đường là những cánh đồng mênh mông ngập nước. Trên xe, nó cũng nghe xôn xao tin mới vỡ đê ở Văn Giang và các vùng lân cận. Quả thật, nước rất lớn, nhiều đoạn đường Năm nước đang tràn qua. Có đoạn đường chũng, có lẽ nước ngập đến lưng chừng xe. Chiếc xe cứ lao bừa xuống, rẽ nước mà xông lên.

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Ba, 2013, 09:37:06 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #391 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2013, 10:15:21 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG III      VÀO ĐỜI (tiếp 10)

     Về đến bến xe phố nó, nó chen ra cửa bước xuống thì bất ngờ thấy anh Phương (anh rể nó), chị Thất và thầy nó đang đứng trước cửa nhà chờ đón nó, cách chỗ xe đỗ mấy chục mét. Thầy nó đang cuống quýt, tay giơ một tờ giấy, gọi to :

     -     Thập ơi . . . , đỗ rồi ! Thập ơi . . . , đỗ rồi !

     Mừng quá, trong lòng xúc động, chỉ trực khóc, nó lao vút tới nhà, đón lấy phong bì từ tay thày, nó run run mở ra. Tờ giấy báo trúng tyển với dấu son đỏ tươi đã làm thay đổi đời nó, mở ra một chân trời mới mà nó hằng khao khát, ước mơ. Nó thấy mình hạnh phúc, tất cả cứ tưng tưng ở trong lòng. Quên cả thả cá vàng, nhờ chị Thất đổ tạm vào chậu, nó lao vào phòng văn hóa huyện để khoe với anh Huyền. Anh Huyền cũng rất mừng. Anh đưa tay bắt tay nó, lắc mạnh. Lần đầu tiên nó được bắt người lớn bắt tay như vậy, như người lớn . . .

     Sở dĩ giấy báo đến muộn là vì bưu điện chuyển từ Hà Nội về bưu diện tỉnh, từ tỉnh lại vòng ngược lại về bưu điện huyện, từ huyện qua xã mới về tới nhà nó. Lúc đó thì khắp nơi trong tỉnh nó đều mênh mông nước ngập. Theo thời gian ghi trong giấy báo, chỉ còn hai ngày nữa là hết hạn làm thủ tục nhập học. Rất nhiều việc phải làm trong khi nước càng ngày càng dâng cao. Nó và cả gia đình hối hả lo chạy giấy tờ. Phải cắt hộ khẩu, phải xin giấy xác nhận của xã, . . .

     Cả làng nó nước ngập mênh mông, riêng nhà nó ở giữa phố huyện, là nơi cao nhất nước chưa ngập tới. Bà con xung quanh chạy lụt kéo về đó rất đông, mang theo cả trâu bò, lợn gà, . . . Có người cột một con trâu to vào cây hồng dại. Cây hồng này của chú Tư cho ngày nào, nay đã bằng cổ chân, cao hơn hai mét. Đêm hôm đó, con trâu đói, nghển cổ ăn lá cây, cao quá nó không với được nên nó dùng sừng húc đổ gốc cây để ăn lá. Sáng ra bu nó trông thấy tiếc của và tức lắm. Hỏi mọi người quanh đó không ai nhận là trâu nhà mình. Bu nó cáu quá chửi ầm lên. Mãi chiều tối chủ trâu mới đến nhận. Hóa ra đó là trâu cúa gia đình ông trưởng công an huyện.

     Nước ngập quá cao, việc lấy giấy và xin dấu của Ủy Ban xã rất khó vì ủy ban xã nghỉ làm việc. Chị dâu nó phải mượn một cái thuyền tôn. Chị nó kéo thuyền ra chỗ nước nông trên đường vào thôn Rừng để dậy nó chèo thuyền. Lúc đầu, nó chèo, chiếc thuyền cứ quay lông lốc. Mãi sau nó mới chèo được nhưng vì không biết bơi nên nó vẫn sợ. Anh Phương đành phải dùng thuyền chở nó đi. Anh cho nó ôm hồ sơ giấy tờ ngồi lên thuyền, rồi anh lội nước kéo thuyền đưa nó lên làng Vang xin chữ ký của ông Quyến, phó chủ tịch phụ trách văn xã. Sau đó anh em nó phải đi tiếp, xin chữ ký của ông tư Miện phó chủ tịch, trưởng công an xã. Cuối cùng, nó phải vòng lại nhà anh Hòa xin dấu và xin xác nhận nước lụt, chưa thể cắt được hộ khẩu. Đến hết ngày hẹn của trường nó vẫn phải tựu trường mà nợ chưa cắt được hộ khẩu.

Nguyễn Trọng Thập

Đoàn xe lửa chở đá để dằn trên cầu Long Biên trong trận lụt lịch sử 1971
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Ba, 2013, 10:56:16 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #392 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2013, 11:02:44 pm »

Bác TTNL: ảnh xưởng họa đó là xưởng vẽ khoa kiến trúc. KTS được đào tạo tại trường Mỹ thuật. Kỹ sư thì đào tạo tại trường Công chánh. Xưởng họa của họa sỹ thì khác. Em còn nhớ thời 69-70 thì một xưởng họa của trường MT nằm song song với hàng rào đường Yết Kiêu, cách hàng rào chỉ khoảng vài m.

Một cuốn sách mà học sinh MT hồi xưa không thể quên là "Bước đầu học vẽ" của họa sỹ Nguyễn Văn Tỵ, một trong những họa sỹ đầu đàn của CDMT Đông Dương. Tiếc là cuốn đó sau vài lần chuyển nhà em đã làm thất lạc mất rồi.

Một bức tranh nổi tiếng năm 1961 của họa sỹ Nguyen Văn Tỵ -"Nam Bắc một nhà":


Một bức khác rất lý thú cũng của họa sỹ Nguyễn Văn Tỵ (1917-1992), không biết vẽ năm nào - "Đấu tố địa chủ":


Hồi xưa thời bác Thập đi học không cắt hộ khẩu lên trường thì không có tem gạo mà ăn, cũng có cái hay - tự nhiên thành người Thủ đô. Còn người Thủ đô lên Thái Nguyên học tự nhiên thành người Thái Nguyên - thủ đô kháng chiến.
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Ba, 2013, 12:02:36 am gửi bởi qtdc » Logged
TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #393 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2013, 10:11:14 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG III      VÀO ĐỜI (tiếp 11)

     Mặc dù đang lụt rất lớn nó vẫn phải tìm mọi cách đến trường đúng hạn. Sau khi làm thủ tục nhập học nó được chỉ dẫn vào trong ký túc xá nhận chỗ. Nó chọn tầng hai của chiếc giường ngay cạnh cửa ra vào, mà tầng một là của Sơn Hồng.

     Nói kỹ về lớp nó một chút. Vì là trường năng khiếu nên đầu vào chọn rất khắt khe. Mấy trăm thí sinh chỉ chọn được hơn chục đứa. Thêm mấy bạn đúp năm trước xuống, sỹ số lớp nó vẻn vẹn có 19 đứa, 6 nữ và 13 nam. Trong số 19 đứa ấy, chỉ có 3 bạn từ nông thôn lên. Đó là một bạn nữ tên Gái, thằng Hai và nó. 16 người còn lại đều là người Hà Nội, Hải Phòng, con các họa sỹ lớn có tên tuổi, được học hành rèn luyện từ bé trong các lớp hay câu lạc bộ năng khiếu của thiếu nhi. Tóm lại, lớp nó chủ yếu các bạn là “con nhà nòi”.

     Việc đầu tiên, sau khi chúng ổn định lớp, nhà trường cho cả lớp đào, đắp hầm trú ẩn, dọn vệ sinh nơi ăn ở, lớp học, . . .  Năm thứ nhất chưa được vẽ người mẫu nên phòng học của chúng ở dãy phía sau, phía bên trái. Trước mặt lớp cũng có sân rộng, nhiều cây đại thụ các loại và những cây phi lao cao vút. Rải rác trong sân trường, trước các lớp học đâu đâu cũng thấy có những pho tượng to nhỏ ẩn hiện dưới gốc cây. Cạnh phòng học vẽ hình họa là phòng học trang trí. Gần khu ký túc xá, đối diện khu phòng học là nhà ăn tập thể.

     Chúng nó phải học ngày hai buổi, vừa học chuyên môn, vừa học văn hóa chương trình cấp 3 như bình thường. Với môn học trang trí, chúng được phát mỗi đứa một hộp đựng mầu bột bằng gỗ dán. Giấy vở, bút chì thì được phát định kỳ đồng đều. Giá vẽ để sẵn trên lớp, dùng chung.

     Những học sinh nội trú được ăn ngày 3 bữa. Bữa sáng là bột mỳ luộc, mầu nâu nhạt như cà phê sữa. Thứ này bọn sinh viên chúng nó vẫn gọi là “nắp hầm” (nắp hầm tăng xê hình tròn và mỏng) hoặc ngắn gọn là “bẻng”. Trong miếng “nắp hầm” thỉnh thoảng thấy vài con mọt nâu đen béo mượt, đây đó còn có viên bột nhỏ chưa tan hết. Miếng “bẻng” hơi dai dai, nhưng nhai kỹ thì cũng thấy rất ngọt. Bữa trưa và bữa chiều được ăn cơm và thêm mỗi đứa một cái “bẻng” nữa. Bữa ăn rất đạm bạc, thức ăn đạm  chẳng có gì đáng kể. Tóm lại, ăn uống kham khổ và hơi đói nhưng được cái đều đặn. “Nói khí không phải”, vẫn còn ngon hơn bữa ăn của nhà nó ở quê.

     Ở góc, trong cái xó sau cùng của trường là một đống các loại đồ phế thải gồm bàn ghế gẫy, sa lông hỏng, thùng sắt gỉ, hộp các tông rách, thủy tinh vỡ và trăm thứ bà dằn khác. Đặc biệt có một chiếc xe ô tô “đít vịt” của Pháp cũ đã bị tháo hết phụ tùng. Lúc rảnh nó chui vào đó bới đào, lục lọi tìm kiếm xem có cái gì còn dùng được, giống như ngày ở quê nó hay bới rác tìm pin đèn và giấy pơ luya vậy. Nó chui vào trong ô tô và phát hiện thấy trên nóc xe còn nguyên một lớp nỉ bọc trần màu huyết dụ, êm, mềm và xốp. Cái này mà lót vào hộp mầu thì tuyệt vời vì khi đậy nắp hộp, nỉ chèn chặt xuống các ô. Dù hộp màu rung lắc, lật ngược xuôi, bột mầu vẫn không bị lẫn lộn sang nhau. Nó khoái quá, lập túc lấy dao nhỏ bóc hết miếng nỉ ở chỗ phẳng phiu có thể dùng được. Mang về phòng, nó đo kích thước lòng trong nắp hộp, cắt được hơn chục miếng lót. Nó chia cho các bạn và chỉ giữ lại có hai miếng đẹp nhất. Thấy nhiều người trong lớp có miếng lót tốt quá, bạn gái Hiền Minh hỏi xin nó lúc nó đang ăn cơm ở nhà ăn. Nó hứa sẽ cho Hiền Minh một miếng. Về đến nhà thì thấy mất mất một miếng, không biết ai ăn trộm. Miếng còn lại nó đưa cho Minh để giữ đúng lời hứa. Nó đành ra xe, cắt nốt vài mảnh vụn đem về ghép lại làm hộp màu cho mình.        

     Không khí vui vẻ và say mê lắm. Hàng ngày ba bữa ăn bếp tập thể, sáng lên lớp học văn hóa, chiều học chuyên môn. Tối đến, cả lũ nội trú kéo nhau ra phố, ra ga Hàng Cỏ chơi. Chơi chán chúng nó mới quay về ký túc xá đi ngủ. Ngày ấy tuy đã lớn nhưng bọn chúng cũng vẫn chơi nghịch những trò trẻ con. Chúng sang hợp tác xã thủy tinh bên cạnh xin ống thủy tinh nhỏ, dài vài chục phân, đem về làm ống “xì đồng”. Đạn thì đã có đất sét ở khoa điêu khắc. Đất được vo tròn làm đạn thổi bắn nhau trong ký túc. Hết đất ngại ra ngoài lấy thêm thì đã có ruột bánh mỳ hay bánh “nắp hầm”. Những giờ nghỉ, bắn nhau “loạn xị ngậu”, rất vui.

     Nhớ lại một chuyện, đó là đêm đầu tiên nó ở ký túc xá. Buổi tối nó đi tiểu, bỗng giật mình toát mồ hôi lạnh, khi nó bất giác ngẩng lên nhìn thấy một người to lù lù, đen xì, đứng sừng sững đang giơ búa đập nó. Nó hoảng hốt chạy tụt vào phòng. Sáng hôm sau nhìn ra mới biết đó là pho tượng công nhân cầm búa.

     Nhưng nó vẫn không biết cái đêm đó chính là điềm báo một tai họa búa bổ sắp giáng xuống đầu nó !!!

Nguyễn Trọng Thập

Xe Citroen cổ
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Ba, 2013, 10:49:29 am gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #394 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2013, 09:25:25 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG III      VÀO ĐỜI (tiếp 12)

     Mùa đông năm ấy, cả lớp bật đèn tập vẽ màu trang trí ban đêm. Thằng Khải “chuột” đúp lớp trên xuống là thằng nghịch ngợm, dí dỏm và vui tính nhất lớp. Nó và mấy đứa đem đặt cái chậu nước rửa bút lên trên hai cánh cửa khép hờ thành hình “chữ v”. Hễ đứa nào từ ngoài vào mở cửa, sẽ bị nước bẩn đổ lên đầu. Cả hội vừa vẽ vừa ngong ngóng ra cánh cửa chờ chuyện vui. Bỗng nghe tiếng bước chân đi lại gần cửa. Chúng nó ngừng hết cả lại, chẩn bị để cười phá lên, có đứa phải bịt miệng lại để nhịn cười. Cánh cửa bật mở, chậu nước bẩn đổ ụp xuống. Vang lên đồng thanh một tiếng reo sung sướng của cả phòng : “Ôh . . .”. Tiếng reo đột ngột câm lặng như tiếng loa trong hội trường bất ngờ bị mất điện. Người bị  nước bẩn đổ ụp lên đầu, ướt hết từ đầu, đến bộ vét và cả đôi giầy đánh xi bóng loáng. Đó là thầy giáo chúng nó xuống kiểm tra lớp. Vụ này suýt làm thằng Khải bị kỷ luật, may mà thầy tha cho.

     Nó cũng chơi thân với thằng Đức Bình, con thày Trọng Ly, là thầy giáo của trường. Buổi trưa nó thường không ngủ mà vào nhà thằng Bình chơi. Nhà thằng Bình là một gian ở tầng một, gần cầu thang lối lên nhà ba tầng của giảng đường chính. Thằng Bình và nó hay lấy đất sét nặn tượng theo ý riêng. Cả hai đứa đều mê mải làm việc, vô cùng thích thú. Sau này thằng Bình trở thành họa sỹ tài năng và làm giáo viên nổi tiếng trong trường, một thầy giáo trắng trẻo, đẹp trai, hiền hậu và vẽ rất “siêu”.      

     Nó mới học chưa đầy năm tháng thì bị “búa tạ giáng xuống đầu” đúng như điềm báo trước trong cái đêm đầu tiên nhập trường. Nếu người công nhân giương búa lên để đập vào sắt thép thì anh ta là thợ rèn. Đằng này nó bị một loại “thợ chuyên môn nện búa lên đầu người”. Đó là trưởng phòng tổ chức nhà trường và trưởng công an huyện.

     Một hôm nó được phòng tổ chức gọi lên yêu cầu nó phải cắt và chuyển hộ khẩu về trường trong thời hạn mười ngày, nếu không nó sẽ bị buộc thôi học. Nó hoảng hồn và lo lắm. Xin phép nghỉ hai ngày, nó về quê lo thủ tục cắt hộ khẩu. Ông tư Miện trưởng công an xã bảo nó lên gặp ông Quỳ, trưởng công an huyện. Ông Quỳ bảo nó :      

     -     Anh về trường xin công văn của nhà trường xác nhận anh là học sinh đã trúng tuyển và học tại trường. Phải ghi rõ, đề nghị địa phương giúp đỡ . . . .

     Nó lộn về trường gặp ông Thanh Thai. Lần này ông Thai không quát tháo mà nhẹ nhàng nói rỉ rả một cách tỉnh queo rất nhiều lời để rồi rút cục ông dứt khoát không làm công văn và cũng dứt khoát không cho nó mượn lại cái giấy gọi nhập học :

     -     Anh muốn làm thế nào thì làm, không có hộ khẩu, dứt khoát tôi đuổi anh khỏi trường.

     Không có cách nào khác, nó lại bổ về công an huyện. Nó lựa lời nói hết “lý do lý trấu”, năn nỉ “xin xỏ” đủ kiểu với ông Quỳ, rơi cả nước mắt. Nhưng mặt ông này vẫn lạnh tanh, không biến sắc. Ông ta nói :

     -     Không có công văn của trường, không thể cắt hộ khẩu. Dứt khoát không là không ! Biết chưa !  Được chưa . . .Được chưa . . .

     Câu “Biết chưa . . . Được chưa . . .” đay đi đay lại thể hiện cho nó biết “Tao trả thù nhà mày đấy ! Biết chưa . . ., được chưa . . .”.

     Bước đường cùng nó quay về công an xã thì xã lại không có thẩm quyền cắt hộ khẩu. Nhùng nhằng nó chạy đi chạy lại kêu cầu từ xã lên huyện, rồi từ huyện về xã không biết bao nhiêu lần. Một thằng bé chưa đầy mười sáu tuổi như nó cứ chạy đi chạy lại chẳng qua là nó không biết phải làm gì khác chứ chả phải có hy vọng gì.

     Bố mẹ nó nghèo, ít học, lại ở quê, thấp cổ bé họng. Anh chị nó mang tiếng có hai người ở Hà Nội thì thờ ơ, không quan tâm. Những người ở quê phần thì kém hiểu biết, phần thì lo miếng cơm manh áo, phần thì nghĩ đó là việc của người khác. Thân cô thế cô, hết cái hạn mười ngày, nó đành “cắp nón” rời khỏi trường trong nước mắt và sự tiễn đưa cười cợt của các bạn cùng lớp. Với các bạn ấy, một cá nhân nó có là gì. Có nó cũng được mà vắng nó các bạn vẫn vui. Chỉ có một mình nó là đau đớn, hận đời đến lúc chết. Nó nguyền rủa những kẻ vô tâm, những người vô cảm và những phần hồn ác quỷ mang bộ mặt con người, đã cướp đi của nó lòng tin, sự đam mê và một tương lai tốt đẹp.

     Trong buổi học cuối cùng, nó chào các bạn và thày cô. Thằng Khải “chuột” đứng lên xin hát một bài. Nó hí hửng vì mọi người nhớ nó, đồng cảm và thương nó. Nhưng nó đã lầm, thằng Khải hát rống lên :

     -   Thập ơi Thập ở đừng về . . . .

     Rồi thằng Khải cười hô hố. Cả lớp nó hùa theo, cùng cười vang . . . .

     Nó ra khỏi lớp trong tiếng cười chua cay bẽ bàng đó. Không ai an ủi, không ai đưa tiễn nó, kể cả Sơn Hồng. Vừa uất ức, vừa cô độc, chỉ còn có thể biết tự thương cho thân mình, nó lủi thủi lầm lũi bước ra bến xe, nước mắt lưng tròng . . . .

Nguyễn Trọng Thập

Tĩnh vật - sơn dầu của Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Ba, 2013, 09:12:58 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #395 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2013, 04:59:04 pm »

Ái dà, chuyện bác Thập càng ngày càng hay. Người ta vào đời bằng tiếng hát, mình vào đời bằng nét cọ. Và bây giờ được số phận chăm chút: hai cụ chức sắc, một ở quê, một ở trường đá đi đá lại, uỵch một cái  - thế là vào đời! Thôi về quê xung phong đi bộ đội thôi.

Chuyện bác Thập và bác TTNL có sự chính xác của một nhà xã hội học, cái tiệm cơm tám giò chả phố Huế là tiệm Tân Việt, nếu em nhớ không nhầm nó ở góc phố Huế cắt Hàm Long.

Bây giờ trẻ em chắc khó hiểu tại sao nhập trường phải cắt nọ cắt kia, nhưng hồi xua thời ông bà nó là như vậy, hộ khẩu là sinh mạng của một gia đình. Tự nhiên có một người không hộ khẩu ở đâu cả nghĩa là phần tử cần phải nghi ngờ.
Logged
TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #396 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2013, 09:31:04 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG III      VÀO ĐỜI (tiếp 13)

     Thằng Thập bị đuổi vì không cắt được hộ khẩu. Nó không biết tại sao lý do lại có thể đơn giản như vậy. Ở quê, Lão Quỳ không cắt hộ khẩu cho nó vì ghen ăn tức ở với gia đình nó có con học ở Hà Nội, lại thêm mối thù bị bu nó chửi vì con trâu phá đổ cây hồng dại ngày nào. Nó chỉ biết oán hận những kẻ có chức có quyền mà vô tâm, vô cảm, ác quỷ mang bộ mặt con người. Cũng không phải là nó không có phần giận gia đình nó, không ai lo chạy để giúp nó. Nhưng có lẽ nó oán nhất là số phận hẩm hiu của nó, phải sinh ra trong kiếp nghèo hèn ở chốn quê mùa, thấp cổ bé họng. Nỗi oan khuất có kêu lên chỉ là tiếng giun, tiếng dế,  “Trời chẳng thấu, Đất không hay . . . .”.

     Nhưng . . . !

     Nhưng thằng Thập không biết, ngay sau khi nó rời khỏi lớp, ngày hôm sau đã có đứa thế chân nó. Đứa ấy có tên là Đậu Hồng Lệnh, con một gia đình trí thức ở Hà Nội và là cháu ông Thanh Thai, trưởng phòng tổ chức của trường Mỹ Thuật lúc đó. Thằng Lệnh cùng thi vào trường với nó một đợt mà bị trượt. Chờ cho lớp học của nó ổn định, ông Thai mới ra tay. Bởi vì nếu ông làm ngay thì có lẽ đứa bổ sung vào lớp thay chỗ thằng Thập chẳng thể là cháu ông. Làm nghề tổ chức bao nhiêu năm, một cái nghề rất “uy quyền”, “đa mưu, túc trí” và “nghệ thuật”, chuyện đuổi một đứa trẻ con nhà quê ra khỏi lớp thì quá đơn giản đối với ông Thai. Chưa biết chừng, để cho mọi việc thật kín kẽ, và chắc chắn một trăm phần trăm, ông Thai có thể đã về quê nó để “điều tra lý lịch học sinh”, nhưng thực chất là liên kết với lão Quỳ, không cắt hộ khẩu cho nó ?!

     Tất cả chuyện này, mãi về sau nó mới biết. Một lão là Quỳ, tức là “Quái” với một lão là Thai. Đúng là “Quái Thai”. Với âm mưu thủ đoạn của lũ người đó, nó đã bị tước mất ước mơ và tuổi thơ vô tư trong sáng. Một chút tài năng mới chớm nở đã bị dập vùi và xéo nát.

     Thằng Hồng Lệnh vào học thế chỗ nó, sau này còn được cha mẹ “lo” cho đi tu nghiệp ở Liên Xô. Lúc đó, đối với một ngành nghệ thuật, được đi Liên Xô là rất hiếm. Thằng Lệnh về làm cán bộ giảng dạy điện ảnh, rồi làm tiến sỹ, danh giá lắm. Bây giờ, bạn bè gặp nhau, thỉnh thoảng có đứa nói kháy chuyện xưa. Chắc thằng Lệnh cũng không vui . . . .  

Nguyễn Trọng Thập

Tĩnh vật - sơn dầu của Nguyễn Trọng Thập

-------------------------------------------------------------------------------------------

TíchTườngNhưLệ :

     Tôi rất nhiều lần ngồi với bác Thập. Chuyện Hồng Lệnh thế chỗ bác Thập tôi cũng đã được nghe. Bác Thập kể rằng, có lần Hồng Lệnh thanh minh với bác ấy, rằng "Chuyện đó là do các phụ huynh làm, chứ tớ có biết gì đâu !".

     Kỳ lạ là tôi chưa lần nào nghe bác Thập nói xấu gì Hồng Lệnh cả. Một hôm, ngồi cùng với năm bẩy người bạn họa sỹ của bác Thập, tôi mới đem thắc mắc của mình ra hỏi:

     -    Ông Thập này !  Tôi thấy ông vẫn chơi thân với Hồng Lệnh.
          Chưa bao giờ tôi thấy ông phàn nàn về nó. Ông không còn hận gì nó à ?

     Mọi người bất ngờ cười ồ lên cả một lượt . . . . Không ai nói gì thêm, mà tôi cũng không hỏi thêm nữa.

     Thì ra là như vậy !
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Ba, 2013, 10:35:34 am gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

AKAVN
Thành viên
*
Bài viết: 38


« Trả lời #397 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2013, 02:39:09 pm »

Ông Thái Thành, trưởng phòng tổ chức ạ! Mà sao thời ấy lại ấu trĩ, bát công thế được ạ? Vô lý quá!
Logged
TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #398 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2013, 08:56:47 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG III      VÀO ĐỜI (tiếp 14)

     Trước khi nó đi học, hôm tiễn nó, thầy bu nó có làm mấy mâm cơm ăn mừng và mời bà con xóm làng. Mọi người tới chúc mừng thầy bu nó và nó nhiều lắm. Nay đang học dở chừng phải về, biết phân bua với bà con xóm làng ra sao ? Ai là người hiểu được các âm mưu thâm hiểm cả lũ người kia đã hãm hại nó. Người ta sẽ nghĩ và thì thào bàn tán, chắc hẳn nó bị kỷ luật, bị đuổi học. Nỗi đau đè lên nỗi đau, nỗi oan đè lên nỗi oan. Ôi cuộc đời ! Thật là khốn nạn !       

     Uất ức và tiêu cực, có lúc nó hận còn không muốn sống. Có lúc nó muốn làm điều gì đó để trả thù, . . . . Nhưng tuổi trẻ với nhịp sống trôi nhanh cùng với thời gian đã dần dần  làm lành vết thương của nó. Rút cục, nó như quả bóng cao su vừa được ném vào đời, được vài người tung hứng, rồi vào chân ke xấu, nó bị sút trở lại vũng bùn. Đời nó trở về nguyên vẹn con số không, trở về nơi nó ra đi, trở về với chốn quê nghèo của nó.   
     
     Qua giai đoạn khủng hoảng nó dần bình tâm trở lại. Nó quyết định sẽ kiếm sống bằng chính khả năng của mình. Nó mở ống tiết kiệm, đếm được hơn 10 đồng. Cầm mấy đồng, nó quay trở lại Hà Nội mua giấy, màu bột và keo da trâu. Rồi nó dùng sổ tay thơ thẩn trên các cửa hàng tranh Bờ Hồ, bí mật chép lại một số mẫu mà nó yêu thích.

     Về nhà nó bắt đầu chiến dịch vẽ “tranh Tết” và “tranh cưới”. Lợi dụng nhà ở mặt phố huyện, nó chăng mấy sợi dây thép cao, thấp, ngang tường, ngay trước cửa nhà. Mỗi chủng loại tranh nó treo một bức làm mẫu. Tạm gọi cửa hàng của nó là “cửa hàng tranh Tết”. Vì là phố huyện lại gần chợ, hơn nữa trừ Sặt ra, quanh khu vực không có “cửa hàng tranh Tết” nào. Đặc biệt là tranh cưới, nó vẽ sẵn cành đào, đôi chim bồ câu ngậm dải lụa, ở giữa có hai trái tim hồng đè lên nhau, góc trên cùng là chữ song hỷ. Khi có người đặt hàng, nó hỏi tên cô dâu chú rể rồi viết hai chữ cái lồng vào trong trái tim để trống đó và điền thêm ngày, tháng là xong.

     Những ngày đầu không ai để ý, cửa hàng nó vắng teo, sáng treo ra, chiều thu vào, chẳng ma nào hỏi. Vài hôm sau, bắt đầu có người đến xem rồi mua nhưng cũng có người xem xong thì bỏ đi, vài ngày sau mới quay lại mua.

     Nó bắt đầu bán được hàng, nhiều nhất là tranh cưới. Vào mùa cưới, tranh cưới bán rất chạy. Nhiều khi nó vẽ cả ngày cả đêm không hết việc và bắt đầu lỡ hẹn. Lập tức nó bắt chước các hiệu vẽ lớn, mua phim chụp phổi cũ bỏ đi, mang về trổ thành các khuôn in một loạt các hình định sẵn. Có khuôn, nó pha màu rồi dùng panh xô lớn (chổi quét sơn hay bút lông - pinceau – từ tiếng Pháp) cứ thế mà quét in nhiều bản một lúc, coi như phôi tranh được sản xuất hàng loạt, đại trà, rất hiệu quả. Cuối cùng nó chỉ còn phải chấm phá hoặc vờn nền vào những làn chuyển màu không in thẳng bằng khuôn được.

     Công việc làm ăn của nó ngày càng phát triển. Nó dựng một cái vách nứa đằng sau gian máy khâu của thày nó, treo tranh cả ngoài cửa lẫn trong nhà. Nó đã trở thành ông chủ thực thụ của một cửa hàng “tranh bờ hồ” khá lớn. Tiếng tăm đồn đại về một cửa hàng tranh vẽ đẹp lan dần khắp khu vực quanh đó. Nhiều người bảo nó là “họa sỹ giỏi”. Nghe vậy nó cũng chẳng sung sướng gì nhưng cũng mừng vì một công việc làm ăn đã thành công.

Nguyễn Trọng Thập
Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #399 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2013, 08:37:59 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG III      VÀO ĐỜI (tiếp 15)

Vợ cả, vợ hai - đều là vợ cả

     Ở Hà Nội anh Bính nó ngày càng béo khỏe, đẹp trai, mà bây giờ gọi là “phong độ”. Nhiều cô mê anh lắm, mà toàn là những cô xinh. Kể ra thì rất nhiều, nhưng anh nó nặng tình nhất, đầu tiên là chị Tấn, người Tân Đảo (Nouvelle-Calédonie, trước đây là thuộc địa của Pháp) gốc Việt. Theo lời kêu gọi của Nhà Nước, cả gia đình chị về nước. Bấy giờ chị Tấn mới tốt nghiệp đại học, chưa chồng. Chị có dáng người đẹp, dong dỏng cao, tóc dày, da trắng. Anh chị yêu nhau một thời gian khá dài. Thỉnh thoảng nó ra Hà Nội chơi được anh chị cho đi ăn kem ở Thủy Tạ (Thủy Tọa), đi xem phim ở rạp Tháng Tám. Thế mà chẳng biết vì lý do gì anh chị lại thôi nhau.

     Sau đó, anh Bính lại sang yêu chị Liễu hay chị Phượng gì đó. Nghe phong thanh, anh có với chị một cô con gái. Hôm giỗ đầu chị (một năm gần đây), anh rủ nó tới ăn giỗ ở nhà con gái chị. Đó là một ngôi nhà 4 tầng khang trang nằm ở phố Bạch Mai, tầng một cho thuê “chăn ga gối đệm”. Hôm đó không gặp chồng chị vì anh ấy đang đi nước ngoài.

     Người cuối cùng anh nó yêu nhất là chị Gấm. Chị Gấm là cán bộ trong trường Đại Học Thủy Lợi Hà Nội. Đã vài lần anh Bính đưa nó đến chơi nhà chị. Chị Gấm người tầm thước, nhưng các nét chị rất xinh, da trắng, miệng nhỏ hình trái tim, nói năng dịu dàng, có học. Quê chị cũng ở gần quê nó. Chị Gấm đã từng qua một đời chồng và có hai đứa con riêng. Anh Bính quyết định lấy chị Gấm làm vợ hai. Nhà ở Phùng Hưng đâm ra chật, nên anh phải bán đi và mua một gian trên tầng hai, số 25 Trần Cao Vân. Gian nhà rộng hơn hai mươi mét vuông, lại có sân thượng. Anh Bính làm thêm một gian buồng trên sân thượng, một cái thang gỗ từ tầng hai leo lên đó qua lỗ trần. Anh còn để một khoảng sân nhỏ, trồng hoa và nuôi chim bồ câu rất đẹp.

     Chiều tối 29 tết Nhâm Tí (năm 1971 sang 1972) nó vừa dọn xong hàng, kéo cánh liếp che cửa chính, lùa các tấm ván vào cửa hàng may của thày nó, gia đình chuẩn bị ăn cơm tối thì thấy anh anh Bính đèo chị Gấm về trên chiếc xe đạp Đi-A-Măng (Diamant), mang một cành hoa đào và một bó hoa huệ. Cả nhà reo lên vui mừng. Chị Gấm cởi cái áo mưa ướt sũng nước rồi bước vào nhà, thẽ thọt chào thày bu nó. Thấy chị Mây (vợ cả của anh Bính) đang dọn cơm, bu nó liền bảo :

     -     Chị Mây để đấy cho em nó dọn mâm. Chị xuống đun nước sôi cho anh ấy rửa mặt, thịt con gà và thổi thêm cơm nha.

     Chị Mây tức lắm nhưng nén nhịn. Chị đáp ánh mắt hằn học nhìn tình địch ăn mặc sang trọng, vác cái bụng bầu to tướng đang xếp bánh kẹo ra bàn để biếu bố mẹ thắp hương. Chị lầm lũi cầm đèn hoa kỳ đi xuống nhà nhóm bếp. Nó thương chị Mây liền đi theo xuống phụ giúp chị bắt gà, cắt tiết, làm lông. Vừa làm nó vừa đưa mắt nhìn trộm chị Mây. Dưới cái khăn mỏ quạ là khuôn mặt tròn trịa của chị với đôi mắt ầng ậc nước. Chị cắm cúi làm, mặc cho đôi dòng nước mắt cứ thế trào ra, lâu lâu chị mới đưa tay lên quẹt ngang qua mặt để lau nước mắt, thỉnh thoảng lại sỷ mũi đánh xoẹt một cái . . . .

     Thịt gà đã luộc xong, bàn thờ nghi ngút khói hương, mâm ngũ quả đã đầy thêm do bánh kẹo anh chị nó mang về, cành đào và bó huệ đã được cắm trang trọng vào hai lọ hai đầu ban thờ. Cả nhà vào bữa cơm đoàn tụ cuối năm.

     Trong bữa ăn, thầy bu và anh nó nói chuyện về công việc, về Tết và về họ hàng. Chị Gấm thì ngồi bên bu nó ăn nhỏ nhẹ, chị Mây thì vẫn ngồi đầu nồi xới cơm cho mọi người, nhưng nó thấy chị ăn rất ể oải. Thằng Hoàng cháu nó mới 8 tuổi, thằng Hưng 2 tuổi chẳng biết gì cứ hối hả ăn và tí tởn với khúc bánh mỳ và bộ quần áo tết bố mua cho.

     Ăn xong thầy nó lôi ở gậm giường ra cái giường gỗ xoan mới đóng trước Tết, kê vào sau tấm vách nứa chỗ nó treo tranh, gần lối cửa ra vào xuống nhà sau. Tối hôm đó chị Gấm ngủ với bu nó trên cái giường mới. Đầu nhà đối diện, anh Bính ngủ với chị Mây và thằng Hưng. Nó và thằng Hoàng thì ngủ với thầy trên cái phản giữa. Mọi người nhanh chóng chìm vào giấc ngủ. Một đêm đông mưa gió và rét nhưng cả nhà đoàn tụ rất ấm cúng.

     Nó chẳng thể ngờ nửa đêm hôm đó lại xảy ra một chuyện mà nó sẽ nhớ mãi.

Nguyễn Trọng Thập


Hương Lửa - sơn dầu của Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Ba, 2013, 03:20:44 am gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM