Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:51:05 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những chuyện không thể quên - Cười ra nước mắt (Phần 4)  (Đọc 461591 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #450 vào lúc: 24 Tháng Tư, 2013, 10:15:58 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 10)

     Đơn vị nó bắt đầu bước vào mùa huấn luyện. Thao trường của đơn vị nó rất rộng lớn, cách doanh trại khoảng 6 cây số. Đó là một vùng sườn đồi đất đỏ rất rộng và bằng phẳng. Xa xa là đỉnh đồi, phía sau bên dưới, thoải xuống là thung lũng. Tất cả đều tràn ngập hoa dã quỳ mọc tự nhiên, vàng rực cả không gian. Lác đác đây đó xen lẫn vào là các bụi hoa sim tím, lúp xúp trải dài . . . . tưởng như vô tận.

Dã quỳ vàng rực cả không gian
 
  
     Thao trường này về sau còn sử dụng để huấn luyện chiến thuật, diễn tập "quân xanh ,quân đỏ" và xây dựng trận địa giả. Còn hiện tại, lính tân binh chúng nó đang tập điều lệnh đội ngũ, tập "lăn lê bò toài" và tập xạ kích.

     Giữa vùng đồi mênh mông lộng gió và tràn ngập nắng lửa Tây Nguyên bỏng rát, hơn 300 con người cả tân binh và các cán bộ cựu binh, hàng ngày hai buổi quần nhau tơi bời. Cứ buổi sáng hành quân từ doanh trại ra thao trường, tập đến 11 giờ trưa thì nghỉ ăn trưa tại chỗ. Cơm trưa đã có anh nuôi thổi nấu và gánh ra tận thao trường. 1 giờ chiều lại quần nhau tiếp. Chưa bao giờ nó phải làm việc nặng nhọc trong điều kiện khắc nghiệt và kéo dài ngày như thế, nhiều lúc mệt mỏi "muốn chết". Đa số lính xuất thân là dân cày hẳn hoi mà cũng bị tả tơi vì nắng gió và cường độ tập luyện.        

     Cứ tập một tiếng thì được nghỉ mươi, mười lăm phút. Thật là may quá ! Tiếng còi của trực ban cho nghỉ thì lính tráng lục tục giá súng tại chỗ theo "tổ tam tam", ba khẩu một, chụm vào nhau, nòng hướng lên trời. Ngồi nghỉ cũng phải theo đội hình từng tiểu đội, trung đội, đại đội. Nếu có muốn "đi nặng" hay "đi nhẹ" cũng phải báo cáo tiểu đội trưởng.        

     Gió trên cao nguyên Plâycu cũng thật khác thường. Suốt ngày gió thổi không ngừng nghỉ. Ừ thì đã có hẳn một cụm từ "cao nguyên lộng gió" dành cho nó nhưng đặc biệt hơn chính là ở chỗ gió xoáy thành vô số các con lốc, bất cứ lúc nào và bất kỳ chỗ nào. Thôi thì lốc to, lốc nhỏ đủ kiểu và nhiều vô kể, cái xoáy ngược, cái xoáy xuôi. Chúng bất ngờ xuất hiện, di chuyển ngoằn nghoèo rồi lại biến mất. Có khi năm bảy cái xoáy lốc  chạy loằng ngoằng, xô dạt cả vào nhau, . . . . Những dòng gió từ nhiều hướng mênh mang của cao nguyên chạy tới, đâm vào nhau và quấn lấy nhau, quay tròn trong điệu "nhảy Tăng-gô" ngẫu hứng bất tận. Chúng tạo ra các dòng khí quay tròn, cuốn bụi thành những cái rốn lốc, đủ các kích cỡ và quay cuồng.

     Những lúc ngồi nghỉ, chúng nó rất thích đùa nghịch với gió lốc. Chúng xé giấy thành thành những mẩu vụn rồi lấy que đẩy giấy vào vòng xoáy lốc. Hoa giấy bị quay vòng và được bốc lên cao, rất thú vị. Nếu là một cái lốc to thì giấy được cuốn lên rất cao. Nhưng thường thì chỉ cao hơn mặt đất vài chục phân là các mẩu giấy bị rơi tung ra ngoài.

Lính buồn nghịch gió mà chơi,
Thả nắm giấy vụn lên Giời, cho bay.
Nắng chao trong gió tơi bời,
Nỗi niềm mảnh giấy tả tơi nỗi niềm.  


Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Tư, 2013, 11:19:58 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #451 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2013, 09:00:22 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 11)

     Bốn rưỡi chiều thì việc tập tành kết thúc, lính tráng theo hàng ngũ hành quân về doanh trại. Cũng phải mất hàng tiếng đồng hồ mới về tới nơi. Dù tắm giặt hay chơi bóng chuyền, bóng đá thì cũng phải nhanh nhanh chóng chóng trong vòng nửa tiếng. Đúng 6 giờ, theo hiệu lệnh kẻng, mọi người phải xếp hàng trước cửa nhà ăn theo từng tiểu đội. Tiểu đội nào đủ quân số mới được vào nhà ăn. Chính vì thế mà anh em không ai dám chậm trễ vì nếu chậm một tí thì chẳng những bị tiểu đội trưởng mắng mỏ mà anh em trong tiểu đội phải chờ đợi sẽ rất khó chịu. Tiểu đội nó được biên chế đúng hai mâm, kể cả a trưởng Ngoan. Anh Ngoan thường cho mười một thằng lính chúng nó xếp thành hai hàng dọc. Sau khi hô "nghiêm - nghỉ", anh cho sáu thằng trên cùng vào một mâm, năm thằng còn lại và anh ấy thì vào mâm thứ hai.

     Chẳng biết tiêu chuẩn quân đội cho lính tráng bao nhiêu một bữa nhưng cả cơm và thức ăn đều ít. Nếu xới vơi thì mỗi đứa cũng được ba lưng cơm, đang sức trẻ, lại tập nặng nên không thể đủ được. Nhưng vấn đề là ở chỗ "năng lực và tốc độ chiến đấu" mỗi người một khác. Nó là đứa ăn chậm từ bé nên chẳng có cách gì mà theo cho kịp đồng đội. Vừa vào mâm, mấy thằng đã vục ngay bát "bê năm hai" vào xoong, làm một bát đầy lèn, rồi phồng mang trợn mắt và lia lịa theo kiểu "tàu siêu tốc", cứ thế liên tục hết bát này đến bát khác, chắc là không kịp thở ?! Đánh vèo một cái  chúng đã "quẹt" xong bốn bát. Nó vừa hết lưng cơm đầu tiên thì xoong cơm đã trơ đáy, thành ra những đứa ăn chậm như nó, hôm nào cũng đói.

     Rồi mấy thằng ăn chậm tìm ra chiến thật mới. Chúng xếp hàng thành một cụm với nhau để được cùng vào với nhau một mâm. Bữa đó mấy đứa tạm được no. Những đứa ăn nhanh phải ăn cùng mâm với nhau thì chỉ năm phút sau đã thấy giải tán. Thằng "cao thủ" của mâm ấy, về sau này "tiết lộ", là nó phải dùng chiến thuật "Đầy-Vơi-Đầy" nên vẫn chén được hai bát lèn, một bát vơi. Mấy đứa ăn chậm không biết rằng việc chúng nó tự sắp xếp mâm làm cho a trưởng của nó khó chịu. Chắc hẳn trong đầu anh ấy phải vang lên "A ! Mấy thằng này láo. Quyền xếp mâm là quyền của bọ nha !".

     Bữa chiều hôm sau, sáu thằng nó lại đứng thành một cụm để vào cùng mâm. Ai dè, a trưởng lại cắt mâm theo hàng dọc. Thế là lại đói. Rồi hôm sau nữa, chúng nó đứng theo hàng dọc thì anh Ngoan lại cắt mâm theo hàng ngang. Tối hôm đó mấy thằng nó ngồi tính toán tìm ra một kiểu xếp hàng, bốn thằng đứng đầu ở hàng bên này, hai thằng đứng đầu ở hàng bên kia. Như vậy nếu cắt ngang thì chúng nó có 5 thằng một mâm, mà cắt dọc thì chúng có 4 thằng một mâm. Cứ như thế, hôm sau sẽ đổi lại để mấy thằng bị lẻ mâm hôm trước thì hôm sau không bị đói. Thật là "tuyệt chiêu". Ai dè, lão Ngoan hôm đó không cắt mâm theo hàng dọc, mà cũng chẳng theo hàng ngang, lão "cắt chéo". Ha ha, các chú chết chưa  . . . . ?!.

     Vậy là đói vẫn hoàn đói, nhưng mà, mấy thằng ăn nhanh đều là những đứa tốt, mà a trưởng của nó cũng tốt. Vậy tại sao những người tốt ở với nhau lại cứ phải chơi ác với nhau, thật là khó hiểu. Phải chăng cuộc sống nó vốn dĩ phải như thế ?! Triết lý này không phải là lần đầu tiên nó được học ở cuộc đời này. Nó cũng nghiệm ra một điều khác, ấy là, ở trong quân đội thì không có tự do, không có cá nhân và người ta sẽ có cách để cắt đứt tất cả những thứ đó.

     Đang sức trai lại bị ăn quá đói thì rồi nhất định sẽ "có biến". Chuyện này thì các cụ đã bảo rằng "đói ăn vụng, túng làm liều". Đúng là như vậy và nhất định phải là như vậy.

     Một đêm, thằng Linh cháu nó và thằng Thìn bạn làng của nó cùng gác một phiên. Hai thằng đói quá, nghĩ cách kiếm cái nhét vào bụng. Hai thằng nhớ ra là tối muộn trước khi đi ngủ, anh nuôi mới luộc mấy trăm cái bánh bột mỳ "nắp hầm" để chuẩn bị bữa sáng cho đơn vị, mai khỏi phải dậy sớm. Xong việc, anh nuôi khóa cửa nhà bếp và về phòng đi ngủ rất muộn. Thằng Linh và thằng Thìn bí mật trèo lên mái nhà bếp. Chúng tháo đinh rồi bẻ vênh tấm tôn. Đoạn, chúng thò gậy buộc móc sắt có ngạnh cứ thế mà xiên. Hai thằng xiên liền mấy chục cái bánh. Hai thằng này được chén đẫy tễ, còn lại rất nhiều bánh, chúng chia nhau đem về dấu dưới đáy ba lô để ăn dần.

     Tờ mờ sáng anh nuôi dậy để đun nước và chia bánh thì phát hiện ngay ra một rổ bánh bị vơi đi rất nhiều. Nhìn lên mái nhà thì thấy lờ mờ một mảnh trời he hé sau mái tôn. Vài phút sau, còi báo động đã nổi lên. Lệnh đơn vị tập hợp, mang theo toàn bộ quân tư trang.

     -     Ôi Giời ! Lại báo động đột xuất, bắt hành quân rồi. Khốn nạn thân tôi quá ! – Nó nghĩ.

     Khi cả đại đội đã tập trung đầy đủ, đại trưởng Sử quát hỏi :

     -     Ai ăn trộm bánh của nhà bếp thì tự giác bước ra khỏi hàng!

     Cả đại đội nó ngơ ngác nhìn nhau nhưng không có ai bước ra khỏi hàng. Thấy vậy, ông Sử liền ra lệnh :

     -     Hạ ba lô tại chỗ !

     Khi ba lô đã hạ xong, ông hô tiếp :

     -     Sang trái năm bước, bước !

     Rồi ông ra lệnh cho các a trưởng đi khám ba lô. Tới lượt ba lô của thằng Linh và thằng Thìn thì chưa cần khám, mới sờ phía đáy ba lô đã thấy, vừa âm ẩm vừa âm ấm. Lúc rỡ ba lô ra thì mỗi đáy ba lô có hơn hai chục cái bánh . . . .

     Đại đội giải tán, về ăn sáng và đi tập. Riêng thằng Linh và thằng Thìn thì bị phạt ngay. Mỗi thằng đeo 20 viên gạch trong ba lô và phải chạy 10 vòng quanh sân vận động dưới sự giám sát của bê trưởng. Hai thằng chạy được 8 vòng thì đứt hơi, mặt tím tái, lảo đảo, rồi phệt xuống tại chỗ. Tay bê trưởng chạy lại, bắt đứng dạy chạy tiếp. Thằng Thìn quá mệt, không còn biết "ất giáp" gì, nó cự lại :

     -     Mệt bỏ mẹ ! Ông đi mà chạy !

     Tay bê trưởng tức quá, rút ngay xanh-tuya-rông. Hắn vung lên quật thằng Thìn. Thấy vậy, thằng Linh liền ôm ghì lấy bê trưởng. Thừa cơ, thằng Thìn giằng lấy xanh-tuya-rông. Nó quất mấy phát vào mặt bê trưởng. Ông đại trưởng lập tức tít còi liên hồi, gọi vệ binh tới. Chỉ một loáng, 6 lính vệ binh lao tới quật ngã hai thằng, trói giật cánh khỷu. Thằng Linh và thằng Thìn bị đẩy đi. Hai đứa bị nhốt vào "nhà ghi".

     Lính tráng nhìn thấy cảnh ấy, mặt đứa nào đứa ấy "tái dại", "hồn vía lên mây" hết. Đứa nào đứa ấy ăn vội, ăn vàng rồi răm rắp "cúp đuôi" đi ra bãi tập.

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Tư, 2013, 12:17:39 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #452 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2013, 08:50:39 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 12)

     Thằng Thìn, thằng Linh bị giam ba ngày ba đêm trong nhà ghi. Ban ngày nắng chang chang thiêu đốt cái công-ten-nơ thì hai thằng ở trong đó không khác gì Tôn Ngộ Không ở trong lò luyện đan của Thái Thượng Lão Quân. Cái nhà ghi đứng trơ trọi phơi giữa trời nắng với duy nhất một cái lỗ nhỏ, rộng mỗi bề chừng mươi phân ở chỗ ổ khóa. Cái lỗ đó cũng là cái lỗ để đưa thức ăn, toàn bánh mỳ luộc, và nước uống vào. Nó ngó qua lỗ thấy hai thằng cởi trần, mồ hôi đầm đìa như tắm. Đến đêm, hai thằng không bị nắng nóng thiêu đốt nữa nhưng chúng rét, nhất là nửa đêm về sáng, rét run cầm cập.

     Thêm vào sự hành hạ của cái rét và cái nóng, mỗi lần đi ăn cơm, đi tập hay đi đâu đấy ngang qua, bê trưởng cùng mấy tay a trưởng lại lấy đá ném vào nhà ghi để tra tấn hai thằng ở trong. Nhốt người trong thùng sắt kín rồi ở ngoài tra tấn bằng cách gõ vào thùng là một trong những cách tra tấn dã man nhất mà người ta có thể nghĩ ra. Nhà làm toàn bằng thép, tiếng động cộng hưởng rền vang nghe rất khiếp. Chả khác gì chuyện thằng gù Quasimodo do được hưởng cái tiếng chuông ở Nhà Thờ Đức Bà mà thành ra điếc. Sao con người lại có thể đối xử với nhau một cách quái vật như vậy ?!

     Thương thằng Thìn và thằng Linh, bọn đồng hương chúng nó chờ đến tối bí mật tiếp tế thức ăn và nước uống cho hai đứa, lại còn thêm cả mấy điếu thuốc lá nữa. Thấy hai thằng kêu đêm hôm trước rét quá, tưởng chết, chúng nó chẳng biết làm thế nào, đành quay về "nịnh khéo" lão bê trưởng rồi còn dọa thêm :

     -      Ban ngày mồ hôi như tắm, ban đêm rét run như cầy sấy thế, ngộ nhỡ đứa nào cảm chết thì anh    
           phải tội với Giời, phải tội với gia đình nhà nó chứ chẳng yên đâu. Thôi thì anh nói với vệ binh họ
           mở cửa để chúng em đưa cho chúng nó cái chăn.

     Chắc là lão bê trưởng vừa được nịnh lên mây xanh, cũng sướng, vừa nghe dọa nên cũng có phần sợ, hay là lão cũng động lòng thương người thì không biết, lão ấy cho mở cửa để đưa chăn vào cho hai thằng tội đồ.      

     Bê nó ở trong một căn nhà mái tôn dài, tường được thưng bằng gỗ. Những tấm gỗ dài từ một đến ba mét, bản rộng hai chục phân được đóng vào các cột gỗ vuông, tấm này đóng khít với tấm kia từ dưới lên đến sát mái, đều tăm tắp. Căn nhà này rộng chừng 6 mét nhưng rất dài, dễ chừng tới 30 mét. Đầu căn nhà được ngăn riêng thành một buồng để kê hai cái giường đơn, một bàn nước và hai bàn làm việc. Đó là phòng của ban chỉ huy trung đội. Phần nhà còn lại để thông, hai bên kê 2 dãy phản đơn, san sát, gác trên những thanh ghi chạy dọc theo chiều dài nhà. Giữa hai dãy phản là lối đi rộng khoảng 2 mét. Hai hàng xích-đông được làm bằng nứa ghép lại và được đóng ở trên cao, gần sát mái nhà, sát với tường ở hai bên. Ba lô được để ngay ngắn trên xích-đông, quay lưng ra ngoài, chính giữa phản lên, thành hai hàng thẳng tăm tắp. Đầu phản nằm của mỗi người thì để chăn màn gấp vuông như cái hộp, có vuốt li thẳng và xếp thẳng hàng với nhau. Ngoài hiên nhà căng 2 sợi dây thép, cũng thẳng băng, song song hàng trên, hàng dưới, làm nơi phơi khăn mặt. Tất cả đều gọn gàng, ngăn nắp và quy củ.

     Tối đến, sau khi ăn cơm, bảy giờ đến giờ sinh hoạt. Ai ngồi giường nấy, từng tiểu đội sinh hoạt, phổ biến công tác, nhắc nhở phê bình, đọc báo chung, . . . . Sau đó được tự do làm việc riêng, đọc sách, chơi cờ, chơi tú. Đúng 9 giờ, theo hiệu lệnh kẻng, nhất loạt mắc màn, tắt đèn đi ngủ. 5 giờ sáng, kẻng đánh báo thức, lại nhất loạt dạy, tập hợp toàn đại đội trên sân để tập thể dục. Sau đó thì vệ sinh cá nhân và ăn sáng rồi đi tập. Nhịp sống cứ thế đều đặn, lặp đi lặp lại.

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Tư, 2013, 11:00:27 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

nguyenhuuluanc17
Thành viên
*
Bài viết: 312


« Trả lời #453 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2013, 11:04:51 am »



     Đoàn xe lính rồng rắn chạy trong thị xã plâycu. Lính tráng rất tí tởn ngắm phố xá, xe cộ ...

     Đường từ trung tâm thị xã ra ven đô hơi dốc xuống thoai thoải ....


Nguyễn Trọng Thập

   @TTNL

     Gửi tấm Ảnh chụp Playcu ( nay là THÀNH PHỐ rồi ). nơi  chiến binh NTT đã đóng quân trong những năm quân ngũ.  Ảnh chụp  là trung tâm thành phố - có tượng đài Anh hùng NÚP . Đường 19  là trục chính chạy xuyên qua thành phố như trong ảnh, vào buổi chiều " phố Núi " với những chiếc ô tô đã lên đèn trên phố.

      

    NHL
Logged
TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #454 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2013, 09:23:35 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 13)

     Đời lính đúng là vất vả, gò bó mất tự do nhưng sinh hoạt tập thể cũng rất hay và rất vui. Mỗi đứa một quê, mỗi quê một tập tục, quê nào cũng có chuyện hay, chuyện lạ. Chúng tâm sự với nhau, kể chuyện vui, tán dóc, trêu chọc nhau, thôi thì đủ cả, lúc nào cũng ồn ào vui vẻ. Chúng còn bầy ra nhiều trò chơi rất hay và thú vị.

     Nó rất nhớ và thích trò tạm gọi là "Đi Đưa Ma". Trò này có người gọi là "Phụ đồng chổi", nhưng chắc chắn là không phải. Phụ Đồng Chổi là một trò chơi "lên đồng" của trẻ con. Trong đó một đứa trẻ ngồi ở giữa, những đứa khác đứng xung quanh và hát:

Phụ đồng phụ chổi !
Thổi-lổi mà lên !
Ba bề bốn bên !
Đồng lên cho chóng !
Nhược bằng cửa đóng;
Phá ra mà vào !
Cách sông cách ao;
Thì qua cho được!
Cách roi cách vọt,
Thì đánh cho đau,
Hàng trầu hàng cau,
Là hàng con gái.
Hàng bánh hàng trái,
Là hàng bà già.
Hàng hương hàng hoa
Là hàng cúng phật
Đội mũ đi tế,
Là quan trưởng-đô,
Đánh trống phất cờ,
Là phụ đồng chổi !

     Chúng cứ hát như vậy cho đến khi đứa ngồi đồng "nhập đồng" thực sự. "Đồng" cầm một cái chổi và quét lia quét lịa, tía lia khắp xung quanh. Bọn trẻ xung quanh phải chạy, phải nhảy để tránh bị chổi quét vào. Trò "Phụ Đồng Chổi" thì nó đã biết rồi, còn trò "Đi Đưa Ma" thì đây là lần đầu tiên nó tham gia và "mục sở thị".

     Trò chơi có 8 người tham gia, không kể những người đứng xem. Trò này thường chơi vào ban đêm trong không gian tối lờ mờ, đèn nến leo lét và trong một không khí nghiêm trang, tập trung tư tưởng cao độ. Tuyệt đối không ai được cười. Một thằng  nằm ngửa dưới đất, đóng vai người chết. Bảy đứa còn lại, mỗi đứa dùng một ngón tay trỏ để nâng "người chết". Hai thằng nâng hai chân, hai thằng nâng hai vai, hai thằng nâng hai bên sườn, thằng còn lại nâng đầu. Khi bảy ngón tay của bảy thằng đã đặt đúng vị trí, thằng đứng ở đầu bắt đầu thì thầm hỏi, thằng bên cạnh thì thầm trả lời. Trả lời xong, thằng này hỏi tiếp thằng bên cạnh nữa, . . . . Cứ như vậy, hỏi và trả lời lầm rầm theo ngược chiều kim đồng hồ:

     -     Ông đi đâu đấy ?
     -     Tôi đi đưa ma !
     -     Ông đi đâu đấy ?
     -     Tôi đi đưa ma !
     -      .    .    .    .    .    .
 
     Trong cái không gian âm u, hư hư, ảo ảo, rờn rợn ấy, không biết từ lúc nào, "người chết" được nâng lên khỏi mặt đất, rất từ từ, cho đến khi lên ngang tầm vai của người đứng thì bảy người "đưa ma" bắt đầu di chuyển đi dọc giữa hai dãy giường, rồi vòng đi vòng lại mấy lần. Trò chơi đến đây coi như đã thành công. Những đứa đứng xung quanh được dặn trước là khi đó phải đứng sát vào mà đỡ "con ma", nếu không, bảy thằng kia mà nó dừng chơi thì con ma sẽ bị rơi thẳng xuống đất. Cũng có lần đang chơi thì một trong tám thằng bật cười, bỗng nhiên "thây ma" nặng trĩu rồi rơi uỵch xuống đất.

     Trò chơi này có gì đó kỳ bí, mê hoặc và khó tin. Không ai trong bảy đứa "khiêng ma" có cảm giác thấy "nặng" khi nâng "con ma". Thật là lạ !

     Cũng có những đứa không tin chuyện này có gì đặc biệt vì cho rằng, bảy ngón tay như thế đủ để nâng được một người. Này nhé, một người nặng chưa đến 50 cân, chia cho 7, thì, mỗi thằng chỉ nâng có 7 cân. Vậy chỉ cần hợp sức lại đồng đều là được. Một cuộc tranh cãi sôi nổi xảy ra để kết thúc là chúng nó sẽ phải làm "một thí nghiệm khoa học".

     Chúng chọn ra bảy thằng to khỏe nhất để làm bảy người khiêng "ma" và một đứa "thấp bé nhẹ cân" nhất thì cho làm "ma". Bảy thằng cũng đặt bảy ngón tay như trong trò chơi. Một thằng đứng ngoài chỉ huy việc "nâng ma" :

     -     Nào ! Tất cả tập trung vào ! Sẵn Sàng chưa ?
     -     Rồi !
     -     Chú ý, khi nào tao hô một, hai, ba . . . . . thì nhất loạt nâng lên nha ! Làm thật từ từ thôi !
     -     Nào ! Một, hai, ba . . . .

     Bảy thằng mắm môi mắm lợi mà cái "thây ma" vẫn không nâng lên được tí nào. Thử đi thử lại mấy lần nữa nhưng "thí nghiệm khoa học" vẫn thất bại.

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Tư, 2013, 09:29:14 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #455 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2013, 11:05:42 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 14)

     Ngày nghỉ Chủ Nhật, mỗi a được phát 2 phiếu "giấy phép ra khỏi doanh trại". Mỗi tiểu đội được hai người ra ngoài thay phiên, sáng hai đứa, chiều hai đứa. Từ nhà ra đến cổng thì nộp phiếu cho vệ binh, buổi trưa về thì nhận lại phiếu và đưa cho hai người khác. Chiều về thì nộp phiếu cho tiểu đội trưởng. Cũng có thể xin được anh em trong tiểu đội đi cả ngày. Tiểu đội nó mười một người, mỗi tuần bốn đứa được đi chơi thì phải ba tuần mới quay hết một vòng. Lính ra ngoài vừa để thăm thú, khám phá thị xã, đi xem phim, mua bán nhu yếu phẩm, cắt tóc hay vá chữa quần áo.

     Plâycu (Pleiku) là thị xã cao nguyên, trên vùng đất đỏ bazan, nằm dọc Quốc lộ 19. Từ Quy Nhơn, theo đường 19, đi mãi mới tới đèo Mang Yang. Qua đèo Mang Yang, tụt xuống thung lũng đến Đăk Đoa là bắt đầu vào thị xã. Thị xã Pleiku nằm trên một vùng đất cao hơn xung quanh, khá bằng phẳng và rộng mênh mông mà trung tâm thị xã nằm ở vị trí cao nhất. Nơi đó cũng là giao lộ của Quốc lộ 19 chạy theo hướng Đông-Tây và Quốc lộ 14 chạy theo hướng Bắc-Nam.

Pleiku ngày nay, nhìn từ phía Đông-Bắc tới, có thể thấy núi Hàm Rồng nằm ở phía nam Pleiku. Núi này là một miệng núi lửa cũ. Bùng binh tượng đài này nằm ở đỉnh cao nhất của thành phố hiện nay và được coi là trung tâm.


Quốc lộ 14 đi từ Pleiku về phía nam 1970, nhìn thấy núi Hàm Rồng khá gần

     Từ khu Hoa Lư là doanh trại của đơn vị nó, ở phía bắc, một con đường ngoằn nghoèo, theo hướng nam, dốc dần lên để đi vào trung tâm thị xã. Hai bên đường là hai hàng cây thông cổ thụ cao vút. Đầu con đường, chỗ sườn đồi dẫn vào thị xã là rạp chiếu phim Diệp Kính. Con đường chạy qua trước mặt rạp Diệp kính là Quốc Lộ 14. Nếu chạy về phía bắc trên con đường này, qua khu vực Hoa Lư của đơn vị nó thì đi ra Kon Tum, mà chạy về hướng nam thì đi Buôn Hồ, Buôn Ma Thuột. Chếch ngay trước cửa rạp Diệp Kính là ngã ba giữa Quốc lộ 14 và Quốc lộ 19 từ Qui Nhơn lên. Từ ngã ba này đi về hướng nam khoảng chín cây số lại có một ngã ba nữa, Quốc lộ 19 lại tiếp tục từ đây đi về hướng tây đến Chư Ty rồi Đức Cơ và kết thúc ở biên giới với Cambodia. Phần lớn thị xã Plei nằm từ Ngã ba Diệp Kính đi về phía đông, chạy dài trên trục đường 19, dốc dần xuống. Từ ngã ba này đi một đoạn là tới khu chợ Pleiku, mà ngay ngã ba Diệp kính cũng là một cái chợ trời, hoạt động cả ngày lẫn tối.

Diệp Kính Cinema 1970, Quốc lộ 14 chạy qua cửa rạp. Nhìn thấy ngã ba với Quốc lộ 19

Chợ trời Diệp Kính 1970


     Ngoài rạp Diệp Kính nổi tiếng còn có rạp Thanh Bình cũng rất nổi tiếng. Về sau nay rạp Thanh Bình chuyển thành nhà Hát Đam San. Cũng phải kể đến mấy cái nhà thờ nữa mà có lẽ nhà thờ Thăng Thiên là đẹp nhất.

Cinema Thanh Bình 1970 và nhà hát Đam San ngày nay


Nhà Thờ Thăng Thiên ngày nay

     Các thị xã cao nguyên như Ban Mê Thuột, Pleiku, Kon Tum, Đà Lạt đều do người Pháp thời đóng chiếm đã quy hoạch, xây dựng và quản lý. Riêng Pleiku là một thị xã nhỏ với vài tuyến phố chính có nhà xây cao tầng, biệt thự, rạp hát và khu hành chính tỉnh lỵ. Nhà dân đan xen vào hầu hết lợp mái tôn vách gỗ.

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Tư, 2013, 11:45:46 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #456 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2013, 04:08:42 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 15)

     Dân cư trong thị xã hầu hết là ngươi Kinh, phần nhiều theo đạo Thiên Chúa, số người theo đạo Phật ít hơn nhiều. Xung quanh thị xã còn có rất nhiều buôn của các đồng bào dân tộc mà thời đó gọi chung là người Thượng. Người Thượng da rất đen, để tóc dài và vấn lên. Người Thượng chủ yếu đi chân đất, đàn ông ở trần đóng khố, phụ nữ mặc váy quây, áo hở rốn. Các bà già thì hầu hết cũng ở trần, mặc quần.

     Dân Thượng hầu hết là nghiện thuốc lá, gọi là thuốc rê, một loại thuốc tự trồng, hút trực tiếp bằng lá quấn hoặc thái to rồi nhồi vào tẩu, suốt ngày phì phèo, bập bập trên môi. Mùi thuốc lá rê hôi rình, hơi khăm khẳm. Thỉnh thoảng họ nhếch mép phóng toẹt một cục nước bọt tròn xoe thẳng căng xuống đất. Trên vai người Thượng hầu như lúc nào cũng thấy mang gùi, to nhỏ đủ các cỡ. Người thượng cũng đi xe máy. Trông cảnh một người đàn ông cưỡi xe Honda 67 chạy tung hoành trong thị xã, khố bay phập phồng, lúc đầu chưa quen cứ phải bật cười.

     Những người Thượng ở trần như vậy nhưng đi rừng rất siêu, nó rất nể phục. Họ chỉ đóng khố, đi chân đất, tay cầm dao quắm vừa đi vừa phát lối mà cứ bước phăm phăm vào bạt ngàn cây xấu hổ cao ngang đầu gối, mặc cho loại cây này có gai nhọn chi chít. Trong khi đó, bộ đội đi giầy tất đầy đủ, mặc quần kín hết chân, bám theo họ thì bị gai đâm thủng quần vừa đi vừa phải gỡ. Họ cứ chân trần mà đi thoải mái, thế mới tài. Chắc da họ phải rất dày, . . . . như da trâu ?! Chạy dọc hàng rào trước cửa doanh trại nó có một con đường đất đỏ rộng chừng 6-7 mét, đi sâu vào các bản người Thượng.

Diệp Kính Cinema 1970

     Ngay đối diện cổng vệ binh của đơn vị nó, có một dãy ki-ốt dựng bằng tre, quây cót, mái lợp giấy dầu. Đó là các quán hàng phục vụ lính. Nào thì các hàng tạp phẩm, hiệu cắt tóc, cửa hàng may vá mạng quần áo, café, . . . .
Trong dãy ki ốt đó có cái quán may của một cô bé tên Hương, người thị xã. Hương cũng trạc 19 - 20 tuổi, thướt tha áo dài trắng, rất xinh, được học hành và giáo dục cẩn thận nên tiếng Anh rất giỏi, cũng giỏi cả ghi ta và yêu thơ phú. Vốn dĩ nó là đứa mơ mộng, ham đọc sách, yêu thơ, yêu ghi ta và hội họa, gặp Hương "hợp cạ" nó thích lắm. Mỗi lần ra vá quần áo cứ nấn ná ở lại lâu. Khi chỉ có hai người trong quán, hai anh chị lại đưa đẩy đọc thơ tình cho nhau nghe, thơ Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Đinh Hùng, Nguyên Sa, Vũ Hoàng Chương, Bích Khê, . . . .

Pleiku 1970


     Một lần đến phiên nó được ra ngoài doanh trại. Nó mang cái quần dài bị sờn đầu gối theo, không quên ngắt trộm một bông hoa hồng ở vườn hoa đơn vị. Nó cẩn thận gói bông hoa cùng với bài thơ nó mới "mần", bí mật luồn vào trong áo đóng thùng, rồi tự nhiên đi qua cổng vệ binh như bình thường. Sau mấy tuần, giờ gặp nhau, hai đứa "cả mừng", cứ tíu tít chuyện trò, tưởng như không thể dứt ra được. Hương để dành cho nó mấy cái bánh bột lọc má mới làm. Em bóc từng chiếc bánh, đưa tận tay cho nó. Nó rút bông hồng từ trong ngực áo ra tặng Hương. Rồi "dấp nước" giọng, nó xúc động đọc bài thơ mới viết tặng Hương. Chàng và nàng cứ quấn quýt bên nhau, lai láng hồn trong thơ ca, đàn địch và trong "Suối mắt huyền mơ" . . . . đồng vọng.

Lính Mỹ ở Pleiku 1969


Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Tư, 2013, 04:21:59 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #457 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2013, 05:10:37 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 16)

     Mê mải, ngất ngây, bảng lảng "du theo xuân và vơ vẩn cùng mây", chàng nghệ sỹ "nó" đâu có để ý gì đến chuyện "tai vách mạch rừng". Một người đang ngồi cắt tóc ở ngay quán bên cạnh đã chẳng bỏ sót đến một lời nào của "chàng và nàng". Cắt tóc xong, người đó lẳng lặng về trước và chờ đợi. "Chàng" cứ vô tư, hồn nhiên, chẳng thể biết những gì từ "trên trời" sắp đổ lên đầu mình.

     Chiều Chủ Nhật đó, khi lính tráng đi chơi ngoài đơn vị đã trở về đông đủ và nó là đứa về cuối cùng. Nó vừa bước qua cổng của vệ binh thì có tiếng còi báo động của trung đội. Toàn trung đội tức tốc "ba lô sau lưng, súng khoác trên vai" chạy nháo nhác rồi tập hợp trên sân. Nó cũng vừa kịp là người có mặt sau cùng, đứng vào đội hình.

     Sau khi "nghiêm - nghỉ - chạy tại chỗ", bê trưởng Lạp nó đứng lên trên bục đất cao. Anh ta rút từ trong xắc-cốt (sacoche) ra một quyển sổ dày, màu xanh. Nhìn thấy cuốn sổ, nó giật mình đánh thót rồi chết lặng đi. Cuốn sổ đó chính là nhật ký của nó. Trong đó những sự kiện, con người, tâm tư tình cảm, . . . . đã được nó ghi chép lại tỉ mỉ, trung thực kể từ ngày mới nhập ngũ tới nay. Thì ra, khi nó đang ba hoa thơ phú ở tiệm may, lão Lạp ngồi cắt tóc ngay bên cạnh đã nhanh chóng về trước lục ba lô của nó, lấy trộm nhật ký. Chắc hẳn lão đã đọc hết và ngồi chờ nó về là ra lệnh báo động.

     Đứng trên cao, hắn bắt đầu giở từng trang nhật ký của nó, chọn chỗ và bắt đầu đọc rất to với giọng điệu nhấn nhá, giễu cợt. Những lời lẽ từ tim, từ óc nó cứ tuồn tuột phơi bày trước mặt một đám đông đang phấn khích. Rồi lão Lạp lại đọc cả bài thơ nó viết và mới tặng Hương sáng nay. Cả trung đội cười ồ ồ, à à nhìn nó. Nó thì chỉ muốn "có lỗ nẻ" nào dưới đất mà chui ngay xuống. Mặt nó đỏ nhừ rồi dần dần tái xám lại. Nó ngượng, nó nhục vì bị xúc phạm. Trong lòng nó uất ức và căm hận khôn tả, cảm tưởng như nó là một con thú hoang bị người ta dồn vào bước đường cùng. Bộc phát, nó nghĩ nó sẽ bắn cho lão Lạp một phát, ngay lập tức. Nó sẽ nhảy lên và đấm ngay vào mặt lão ta một cú "trời giáng". Nhưng rồi nó không làm gì hết, nó là đứa yếm thế từ bé mà, chỉ biết chịu đựng tủi nhục chứ đã bao giờ dám "vùng lên". Nó ước giá mà nó như thằng Bão, em họ nó, hay như thằng Thìn, bạn làng, mà quật mấy phát xanh-tuya-rông vào mặt cái lão kia. Thực sự là nó hèn và vì thế nó càng đau đớn và tủi hổ.

     Đọc xong, lão Lạp bắt đầu lên giọng, cao đạo rao giảng. Nào là lý tưởng cách mạng, nào là lối sống của người Đoàn viên tiên tiến, cách mạng, có văn hóa. Nào là phải từ bỏ thứ văn hóa ru ngủ, tiểu tư sản ủy mỵ, thảm hại, làm mất sức chiến đấu của quân đội, . . . . Sau đó lão Lạp còn sỉ nhục nó một hồi rất lâu. Sau khi "chửi bới", sỉ nhục nó không thương tiếc, lão Lạp ra lệnh phạt nó đeo 10 viên gạch trong ba lô, chạy vòng quanh sân vận động theo hiệu còi của lão.

     Nó căm lắm và ngậm mối hận trong tim cho đến tận bây giờ. Sau chuyện ấy, nó đã đốt nhật ký, không viết gì nữa. Nó cũng tuyệt nhiên không còn dám ra gặp Hương, dù cho em nhắn gọi nó rất nhiều. Từ ngày ấy cho đến nay, bất giác những lúc nào đó nhớ lại, hẳn là Hương vẫn thắc mắc chuyện nó đột nhiên cố tình vĩnh viễn rời xa em, những u uẩn chẳng bao giờ có lời giải đáp . . . .

Tháng năm kỷ niệm đã qua rồi
Còn nhắc chi, buồn lắm người ơi !

     Mất một thời gian khá lâu, nó "không ngẩng mặt lên được". Nó cũng ngẫm ra một điều - Ôi cuộc đời ! Ôi đám đông ! Một thứ "văn hóa đám đông", hẳn là vậy. Một đám đông sẽ sung sướng, hỷ xả, hả hê khi được chứng kiến nỗi đau khổ của đồng loại. Có gì đó bầy đoàn, tự nhiên và man rợ . . . .

Đường Phan Bội Châu Pleiku 1970

Góc Phan Bội Châu - Hùng Vương Pleiku 1970

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Năm, 2013, 11:16:01 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #458 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2013, 06:25:16 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 17)

     Lính mới chúng nó đứa nào cũng là lần đầu tiên xa nhà nên chẳng có đứa nào là không nhớ nhà. Có đứa đọc thư nhà mắt đỏ hoe, có đứa còn khóc tu tu. Nó cũng nhớ lắm nhưng không dám khóc. Chiều chiều khi hoàng hôn buông xuống, hoặc khi sương mờ, trăng gió lả lơi phiêu bồng, ôm súng gác, nó thẫn thờ nhìn về phương Bắc. Ở nơi ấy có xóm làng và phố nhỏ thân yêu của nó. Ở nơi ấy có mái nhà tranh với thầy bu, anh chị em và cháu chắt họ hàng nhà nó. Trong lòng nó là nỗi nhớ da diết và buồn vời vợi mà không nói được với ai.

     Môi trường cuộc sống mới thay đổi, nhiều khi gặp những tình huống nan giải, lúng túng, nó không biết hỏi ai, chỉ ngửa cổ lên Trời gọi khẽ :

     -     Thầy ơi ! Con biết làm sao bây giờ ?

     Nhớ nhà nó chỉ còn cách vùi đầu vào viết những lá thư dài dằng dặc cho thầy bu nó, cho bạn bè nó và nhất là cho Hợi, người yêu của nó. Thư gửi đi xong nó lại ngong ngóng chờ đợi thư về. Cứ mỗi lần cậu liên lạc cầm một tập thư từ ban chỉ huy đại đội đi xuống là cả đơn vị nó cồn lên như động kinh. Lính tráng bâu lấy xung quanh cậu liên lạc mà nhao nhao hỏi xem thư của mình có không. Đứa nhận được thư thì vui vẻ, phấn khởi ra mặt, rồi lẳng lặng ra một góc ngồi xem. Đứa không có thư thì "mặt ủ mày chau", rất thiểu não. Có người đọc thư xong thì vui mừng rạng rỡ, nhảy cẫng lên rồi đọc to cho các bạn cùng nghe. Nhưng cũng có có kẻ sau khi đọc thư lại buồn xo, len lén ra sau nhà ngồi khóc.

     Nó gửi thư đi rất nhiều nhưng thư trở lại cho nó thì ít và ngày càng thưa dần. Nó cảm thấy buồn và tủi, trong lòng cũng có ý trách mọi người vô tâm, chỉ biết vui vầy cuộc sống hiện tại, nỡ quên đi sự nhớ nhung đau đáu mong chờ của kẻ đi xa, nhất là đối với một đứa như nó, sống bằng tình cảm và hơi lãng mạn.

     Một lần, lâu lắm nó không nhận được thư của Hợi. Nó liên tục viết cho em thì lại càng liên tục không nhận được thư em. Nó viết thư cho Tuyết Văn cháu nó hỏi dò xem Hợi có chuyện gì. Rồi một hôm nó nhận được thư Tuyết Văn kể rằng tình cờ Văn nhìn thấy thằng Trương đèo Hợi ngồi sau, ôm eo. Hai người vừa đi vừa cười đùa vui vẻ, thân mật lắm. Một luồng điện chạy dọc theo sống lưng rồi bốc hỏa trên đầu nó, làm cháy ruột nó. Một ngọn lửa hoang tàng và dữ dội thiêu đốt tâm can nó.

     Thằng Trương là bạn thân của nó ở Phó Đức Chính, vừa nhà "dzầu" Hà Nội, vừa đẹp "dzai", lại "mỏ nhọn", "cưa" đâu đổ đấy. Mà từ lúc nó ở Hà Nội, ngay trước mặt nó, thằng Trương đã tán tỉnh Hợi của nó làm nó ghen "bầm gan, tím ruột" mà không làm gì được. Ngày đó nó đã biết như vậy và tìm cách không cho thằng Trương tiếp xúc với Hợi. Bây giờ nó ở xa, em thì xinh đẹp như con nai tơ lại cặp kè bên cạnh thằng Trương như một con hùm, thì, hẳn làm sao mà thoát được. Trong lòng như có lửa đốt, không biết bao nhiêu điều tưởng tượng của nó về em cùng với thằng Trương đã dày vò, hành hạ, bóp nghẹt tim nó. Nó chỉ muốn bùng ngay về Hà Nội, lao đến bên người yêu để giữ chặt lấy em, hay là,  để chứng kiến một sự thật là em đã thuộc về thằng Trương. Đằng này hay đằng kia đều rất thôi thúc nó. Nhưng nó sẽ chẳng bao giờ có thể làm được điều đó, nó không thể bỏ trốn đơn vị được.

     Bán tín bán nghi, nó gửi thư trách Hợi bỏ nó mà đi theo thằng Trương, cạn tình để không còn muốn viết cho nó một lá thư, . . . . Ít lâu sau, nó nhận được thư Hợi. Em thanh minh và phân bua rằng chỉ là do bận nên mới chậm viết thư. Nó yên tâm được đôi chút nhưng trong lòng vẫn không thôi day dứt.

     Một hôm nó nhận được thư của thày nó. Thày nó vốn chỉ giỏi chữ Nho, nay viết thư cho nó bằng chữ Quốc ngữ, chữ to kềnh càng, trông cứ ngồ ngộ. Bức thư ngắn gọn, viết kín hai trang giấy vở học trò, làm nó rất cảm động. Qua thư, nó được biết mọi chuyện trong gia đình, chuyện làng, chuyện xã. Thày còn khuyên nó giữ gìn sức khỏe, cố gắng học tập phấn đấu. Đọc thư mà trong đầu nó mường tượng ra cái dáng hình gầy còm cặm cụi của thày ngồi viết thư cho nó. Nước mắt nó lăn xuống má lúc nào không hay. Nó không thể ngờ rằng đó lại là lá thư cuối cùng của thày.

Nguyễn Trọng Thập
Logged

sauchinbaymot
Thành viên
*
Bài viết: 628


Nhớ Rừng!


« Trả lời #459 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2013, 05:38:14 pm »


... Trò chơi có 8 người tham gia, không kể những người đứng xem. Trò này thường chơi vào ban đêm trong không gian tối lờ mờ, đèn nến leo lét và trong một không khí nghiêm trang, tập trung tư tưởng cao độ. Tuyệt đối không ai được cười. Một thằng  nằm ngửa dưới đất, đóng vai người chết. Bảy đứa còn lại, mỗi đứa dùng một ngón tay trỏ để nâng "người chết". Hai thằng nâng hai chân, hai thằng nâng hai vai, hai thằng nâng hai bên sườn, thằng còn lại nâng đầu. Khi bảy ngón tay của bảy thằng đã đặt đúng vị trí, thằng đứng ở đầu bắt đầu thì thầm hỏi, thằng bên cạnh thì thầm trả lời. Trả lời xong, thằng này hỏi tiếp thằng bên cạnh nữa, . . . . Cứ như vậy, hỏi và trả lời lầm rầm theo ngược chiều kim đồng hồ:

     -     Ông đi đâu đấy ?
     -     Tôi đi đưa ma !
     -     Ông đi đâu đấy ?
     -     Tôi đi đưa ma !
     -      .    .    .    .    .    .
 
     Trong cái không gian âm u, hư hư, ảo ảo, rờn rợn ấy, không biết từ lúc nào, "người chết" được nâng lên khỏi mặt đất, rất từ từ, cho đến khi lên ngang tầm vai của người đứng thì bảy người "đưa ma" bắt đầu di chuyển đi dọc giữa hai dãy giường, rồi vòng đi vòng lại mấy lần. Trò chơi đến đây coi như đã thành công. Những đứa đứng xung quanh được dặn trước là khi đó phải đứng sát vào mà đỡ "con ma", nếu không, bảy thằng kia mà nó dừng chơi thì con ma sẽ bị rơi thẳng xuống đất. Cũng có lần đang chơi thì một trong tám thằng bật cười, bỗng nhiên "thây ma" nặng trĩu rồi rơi uỵch xuống đất.

     Trò chơi này có gì đó kỳ bí, mê hoặc và khó tin. Không ai trong bảy đứa "khiêng ma" có cảm giác thấy "nặng" khi nâng "con ma". Thật là lạ !

    
Nguyễn Trọng Thập

Tôi cũng được tham gia chơi trò này nhiều lần, khi mới ở quê lên HN học năm thứ Một. Người bày ra trò này là 2 anh "bộ đội về", hơn bọn tôi 2-3 tuổi. Trò chơi đúng như mô tả của NTT-TTNL, nhạt nhẽo, âm thầm, không có thắng thua, không có thưởng, phạt, thật chẳng có gì hấp dẫn mà sao nó đọng lại sâu thế.

Bọn tôi chơi Phụ đồng chổi trong ký túc xá, nhà C khu Thượng Đình. Chốt cửa, tắt điện, chứ không có nến, nhưng phòng vẫn nhờ nhờ sáng do các khe hở cửa chớp. Tôi vẫn nhớ, người làm ma là Mạnh, to lớn, quê Phú Thọ (bạn ấy mất rồi). Nghe thì đơn giản, nhưng để thành công khó đáo để. Trong không khí trang nghiêm giả vờ ấy, chỉ cần một anh nào trả lời "Tôi đi đưa ma" với giọng hơi sường sượng là cả lũ phá lên cười. Một cái khó nữa là dù bí mật đến đâu, lúc chơi đã chốt cửa trước, cửa sau, nhưng thế nào cũng có mấy đứa xì xào, gây nhiều ở bên ngoài. Vì thế có hôm thành, nhiều hôm không được.

Hai "anh bộ đội về" bảo bọn tôi: chơi thì chơi nhưng phải giữ kín. Một là vì nó phảng phất mê tín, hai nữa, theo 2 anh ấy thì trò này là học theo sinh viên quốc học Huế, khi ấy là thuộc phía "bên kia".

Bốn mươi ba năm rồi.        
Logged

Nhật ký Viết lại
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM