Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:12:15 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những chuyện không thể quên - Cười ra nước mắt (Phần 4)  (Đọc 461860 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #490 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2013, 12:21:57 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 41)

Rau rừng – Đồng bào Thượng

     Mấy chú lính mới theo anh Toản và mấy anh mới đánh bóng chuyền xong đi xuống đường lớn, vòng quanh khúc cua theo quả đồi, đi tiếp xuống một con đường dốc nhỏ. Ở đây dòng suối rộng, nước chảy hiền hòa, phía trên có mấy cái thác nho nhỏ, xa xa phía dưới có một đoạn suối phình ra khá rộng. Nó trông thấy nước xanh thăm thẳm mà biết rằng suối rất sâu. Anh Toản và các anh khác đã lao hết xuống suối và bơi ra xa. Anh Toản quay lại :

     -     Nước mát lắm, xuống đây bơi đi !

     Mấy đứa bạn nó lập tức nhảy xuống, riêng nó chỉ dám lội từ từ xuống chỗ nước sâu đến ngực. Nước mát thấm vào da thịt dường như làm cơn bực tức của nó bỗng dưng tan biến. Vừa tắm nó vừa nghĩ lại chuyện lạc vào giữa bày "sư tử" khỏa thân mà thấy ngượng và buồn cười.

     Cuộc sống ở đơn vị tuy ở trong rừng nhưng nó thấy dễ chịu hơn nhiều so với thời kỳ huấn luyện. Nó không còn bị o ép, bị giám sát và kỷ luật căng thẳng. Ở đây mọi người sống với nhau thân ái, chan hòa cởi mở và yêu thương nhau như trong gia đình.

     Hàng ngày chúng theo anh Lộ đi kiểm tra dọc đường dây. Có những chỗ phải xiết lại mối nối, sửa chữa hư hỏng hoặc thay thế lặt vặt. Những chỗ hỏng nhẹ thì cố gắng khắc phục lại để tiết kiệm vật tư.

     Chiều về, chúng thay nhau chăm bón, tưới tắm mấy luống rau tươi ở đầu nhà, trồng hoa, nuôi gà, nuôi lợn. Rau trồng không đủ ăn, mỗi ngày trung đội cử ra 2 người vào rừng kiếm rau nộp cho nhà bếp. Đủ các loại rau linh tinh, có thứ gì lấy thứ đó, rau má, rau tàu bay, vòi voi, môn thục, tai chua, măng, hoa chuối, mít rừng, chuối rừng, . . .

     Đóng ở khu vực này ngoài trung đội nó còn có đơn vị nữ thanh niên xung phong ở gần đó, có một trung đội của đoàn 559 bảo vệ đường ống dẫn dầu. Thành ra rau tự nhiên bị càn quét rất kỹ và không kịp mọc lại. Càng ngày đi lấy rau càng phải đi xa, vào sâu trong rừng. Đứa nào đi lấy rau mà tối về không đầy ba lô là rất ngượng mà còn bị trung đội khiển trách nữa. Đến phiên nó đi lấy rau, nó phải cố đi từ sớm và đi thật xa. Nó cứ len lỏi thơ thẩn trong rừng. Lần đó rất may mà nó gặp một vạt rau má, cứ thế xông đến nhổ cả rễ, đập hết đất rồi nhét vào ba lô. La cà một lúc thì lại gặp ngay một đám rau tàu bay xanh mơn mởn. Thế là lần đầu tiên đi hái rau, nó đã hoàn thành nhiệm vụ.

     Những lần sau nó còn cố gắng tìm kiếm măng và hoa chuối, những thứ này là rau cao cấp, phải đi rất xa mới có. Rồi có lần nó chợt nghĩ đến quả loòng boong, nhưng nó tìm mãi mà không kiếm ra. Loòng boong thường mọc ở vùng cao, thời tiết ẩm và lạnh. Mà thứ quả ngon như vậy thì chỉ có thể tồn tại được ở nơi rừng núi hiểm trở khó khăn, nghe nói vùng ngã ba biên giới có rất nhiều.

     Cứ một tháng vài lần, đơn vị cử một toán xuống A Lưới gùi gạo, thuốc lào, cá khô và nhu yếu phẩm đi tắt đường rừng về tiếp tế cho đơn vị.
    
     Chiều chiều, sau khi ăn cơm xong, nó hay cùng các anh lững thững đi dạo trên đoạn đường gần đơn vị. Thời còn chiến tranh, con đường này cũng là một nhánh huyết mạch, tấp nập xe vận chuyển súng đạn, lương thực, thực phẩm cho chiến trường phía trong. Vậy mà, giờ đây, con đường "vắng như chùa Bà Đanh", cả tháng giời cũng chỉ có vài cái ô tô chạy qua. Con đường bây giờ chủ yếu là đường đi lại của đồng bào Thượng. Có thể là họ du cư từ chỗ này sang chỗ khác, cũng có thể họ đi chợ hay đi chơi thăm người thân họ hàng, chẳng biết được. Họ đi thành từng đoàn, thanh niên, trẻ con, người già, người nào cũng đeo gùi, đi chân đất. Đàn ông đàn bà đều hút thuốc lá rê khét lẹt bằng những cái tẩu lớn. Tất cả đàn ông đều ở trần, đóng khố. Tất cả đàn bà  đều mặc quầy nhưng phía trên cũng để trần, vú vê thỗn thện. Bà già thì không tính, thanh nữ thì khoe vú các kiểu, cái to, cái nhỏ, cái lùm lùm, cái hơi chảy chảy. Các chú bộ đội tha hồ mà ngắm.

     Bộ đội gặp đồng bào đi trên đường, chào hỏi nhau vui vẻ lắm. Có lần, một đứa hỏi :

     -     Đồng bào gái cho tao sờ một tí nhé !

     Một cô gái đáp lại ngay :

     -     Bộ đội ! Cái trên tao dành cho con. Bộ đội xin, tao cho cái dưới. Nếu bộ đội
           muốn thì bộ đội hỏi Pỉp, tao sẽ cho ("Pỉp" là "mẹ" trong tiếng Vân Kiều).

     Gần nơi đơn vị đóng quân, cách khoảng 2 cây số, có một bản người Thượng định cư khá đông. Thỉnh thoảng chúng vào chơi với đồng bào, đem áo, giầy đổi cho đồng bào lấy súng AR-15 và   đạn, đổi lấy thịt nai, thịt hoãng phơi khô. Lâu dần đồng bào quý bộ đội mới cho thưởng thức món ngon nhất để trong chum. Đó là chum măng muối. Những cây măng nhỏ bằng ngón chân muối cùng với nhái nguyên con. Khi được thả vào nước muối mặn, nhái bị xót và sợ hãi, cứ thế bám chặt vào cây măng rồi chết dần. Món đó gọi là "nhái ôm măng". Ở vùng núi miền Bắc cũng có món "nhái ôm măng", nhái được thả vào nồi cùng với măng, đậy vung lại, đun nóng từ từ  . . . . mà thành ra "ôm măng".

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Sáu, 2013, 12:28:54 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #491 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2013, 08:05:07 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 42)

Một chuyện tình bi thảm

     Có súng AR-15 và đạn đổi được, bọn nó mang ra bắn nghịch. Chúng ra suối, trên các tảng đá lớn, đặt các cục đá nhỏ làm mục tiêu, cứ thế nhằm bắn, . . . . vui ra phết.

     Nhưng nó vẫn mê vẽ hơn. Nó thường vẽ ký họa cảnh bộ đội lao động, làm vườn, lau súng, . . . . Thường thì các ký họa chỉ bằng chì đen, thỉnh thoảng hứng lên nó còn ký họa bằng màu nước. Ký họa hết cảnh đơn vị rồi nó vào bản đồng bào, chọn góc đẹp, vẽ phong cảnh bản với nhà sàn, núi đồi, gia súc, cảnh sinh hoạt của những người dân trong bản. Tập ký họa của nó đã rất dày, có cuộn lại đút vào hai cái ống bằng nhựa đựng liều phóng của B40.

     Tờ báo tường của trung đội vừa là nhiệm vụ của nó mà cũng là niềm vui. Nó viết bài, làm thơ, vẽ trang trí và minh họa. Đối với một tờ báo thì, như thế, nó vừa là tổng biên tập, vừa là cây bút chính vừa là họa sỹ. Nó nghiệm ra một điều, dù là việc to hay việc nhỏ, nếu mình cố gắng và làm có tâm huyết thì công việc đó tự nó mang lại niềm vui cho bản thân. Nếu việc nhỏ mà làm đại khái qua loa thì sẽ chẳng thể làm được việc lớn.

     Có lần một đứa có ảnh cũ của người cha, lâu ngày đã mốc hỏng gần hết, nó đem bức ảnh ấy "truyền thần" lại. Anh em nhìn thấy "được quá", từ đó nó liên tục vẽ truyền thần ảnh cho cha mẹ các đồng đội. Truyền thần thì chỉ cần có giấy, bút chì, tẩy và bông để vờn bóng. Nhiều bức cũng giống và đẹp. Hầu hết anh em rất thích, khen và cảm ơn nó "loạn xì ngầu". Thấy nó vẽ còng lưng mất cả ngày mới được một bức, công việc thì tỷ mà tỷ mỷ, chỉnh đi chỉnh lại mãi mới xong, anh em tìm cách kiếm cho nó vài điếu thuốc lá cong queo hoặc gói thuốc lào Vĩnh Bảo để cạnh nó để nó hút khỏi phải đứng lên đi kiếm. Cứ chốc chốc lại có đứa vào xem nó vẽ và tranh thủ bắn một hai phát "Ba-zô-ka", chả biết là chúng thích xem vẽ hay thèm thuốc quá mà vào hút thuốc tranh thủ.

     Một lần bê trưởng đi họp về đưa cho nó tờ thông báo của Bộ Tư Lệnh gửi các đơn vị trong binh chủng. Nội dung thông báo là động viên chiến sỹ tham gia viết về kỷ niệm sâu sắc chống Mỹ cứu nước và vẽ về phong trào thi đua toàn quân bằng hình thức tranh cổ động. Ưu tiên hướng về ngành của đơn vị mình là thông tin liên lạc.

     Nó rất phấn khích vội lao vào vẽ và viết. Nó vẽ ba bức tranh cổ động khổ 30 x 45 bằng thuốc nước. Vẽ xong, nó đưa cho anh Toản bê trưởng, chờ dịp anh về đại đội họp mà chuyển cho quân bưu gửi đi.

     Chuyện nó vẽ thế nào mà rò rỉ sang đơn vị nữ thanh niên xung phong. Chị em kéo nhau sang nhờ nó vẽ vào sổ tay, vào khăn mùi-xoa để thêu. Nó thì thêm bận nhưng cũng vui. Anh em trong trung đội thì rất thích. Chị em ngồi xem nó vẽ thì anh em cũng  mon men đến nói chuyện làm quen. Mối giao lưu ngày càng thân thiết, chị em còn rủ rê hẹn hò anh em sang bên chị em chơi, . . . .

     "Niềm vui ngắn chẳng tày gang", đâu được một tháng, một hôm, đùng một cái, cả 2 đơn vị cùng ra lệnh "cấm tuyệt đối quan hệ". Lính tráng buồn và tiu nghỉu nhưng không hiểu tại sao. Mãi về sau mọi người mới biết một chuyện.

     Cách đơn vị nó không quá xa, có một đơn vị bộ đội và một đơn vị nữ thanh niên xung phong đóng gần nhau. Anh chị em hai đơn vị giao lưu qua lại thường xuyên, nảy sinh tình cảm yêu đương. Một lần đại trưởng thấy lính không về họp, đơn vị đi tìm và bắt gặp hai người đang ngủ với nhau trong rừng. Đại trưởng kỷ luật người con trai và ra lệnh cấm chuyện quan hệ trai gái.

     Vài hôm sau, đúng nửa đêm khi mọi người đang ngủ say, người lính đó vào giường đại trưởng, giật chốt lựu đạn, ôm chặt đại trưởng, cả 2 cùng tử vong. Câu chuyện thật là bi thảm ! Từ đó các đơn vị cấm tuyệt đối quan hệ với đơn vị khác giới, sợ diễn biến tư tưởng của bộ đội phức tạp khó kiểm soát được.

Nguyễn Trọng Thập
Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #492 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2013, 10:39:54 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 43)

Mưa rừng

    Đã lâu lắm rồi, trung đội nó không còn sợi thuốc lào nào để hút, cá khô lại càng không. Cửa hàng mua bán cũ ở A Lưới được chuyển vào sâu, cách đơn vị nó chừng 40 cây số đường rừng. Cửa hàng mới tại A Lưới giao cho đơn vị mới quản lý, đơn vị nó không có quan hệ thân quen tình cảm để mua được các hàng hóa cần thiết. Chúng thèm thuốc bã người, những thằng nghiện đã phải hút dâu ngô, bã chè phơi khô tẩm nước điếu. Mùi vị thật kinh khủng, vừa khét vừa hôi rất khó chịu, nhưng dù sao cũng còn có tí khói. Hết "sách", mấy thằng vào bản người Thượng xin thuốc rê. Nhưng thuốc rê rất nặng, hút vào tắc nghẹn trong cổ, ho sặc sụa, lại còn hôi khăn khẳn, không thể nào hút được, đành bỏ.

     Thịt hộp đã hết từ lâu, bữa ăn chỉ có rau và nước muối. Rồi đến gạo cũng hết vì mưa to, núi lở, xe không tiếp tế được. Lính toàn phải ăn sắn khô và luộc rau tầu bay chấm muối. Thèm thuốc, đói cơm, lả người mà nhìn trời mưa ầm à suốt ngày này sang ngày khác. "Mưa sứ Huế" đã kinh khủng, nhưng mưa trong rừng miền tây Huế còn tệ hại hơn nhiều. Lúc nào trời đất cũng nặng trĩu mây và đổ mưa xuống sầm sập, triền miên. Cảm tưởng như nước tràn ngập trong không khí đến hơi thở cũng đầy nước, quần áo phơi hàng tuần chẳng khô được, hôi mù. Dòng suối trước kia hiền hòa là thế nay nước dâng cao, đục ngầu, cuốn theo rác rưởi, cây đổ, xác súc vật lềnh bềnh.

     Tệ nhất là đường dây lại liên tục đứt. Vừa nối xong chỗ này thì chỗ khác cây đổ đứt dây, gẫy cả cột. Áo mưa chưa kịp cởi ra lại phải đi tiếp, bấm chân trong đất, bám vào cây, đu vào dây leo, gạt mưa bão mà đi nối dây cho bằng được.

     Bụng đói, cật rét, thuốc không có hút, nước trên trời thì cứ ầm à đổ xuống suốt ngày, buồn não nề như "trấu cắn". Nhà bóng bàn mưa bão quật sạt một góc, vả lại bóng không có, bàn thì ướt nhoèn nhoẹt. Có mỗi bộ tú lơ khơ thì quân thiếu, quân đủ. Đến đàn ghi ta của nó thì dây cũng đứt, chẳng có dây để thay. Những lúc không phải đi nối dây, chẳng còn có trò gì, ê chề suốt ngày, đi ra nhìn trời mưa rồi lại đi vào nhìn quần áo ướt giăng khắp nhà, bốc mùi lầm lậm. Nó mượn được cái đài bán dẫn SONY con con của bê trưởng, kiên nhẫn dò sóng, chỉ thấy ọ à ò ẹ, nói được một tí rồi lại mất. Nó cầm đài chạy khắp nhà, xoay đủ các hướng, xoay núm chỉnh sóng liên tục mà vẫn chỉ là xọt xà xọt xẹt . . . .

Mưa rừng buồn như trấu cắn

     Thấy anh em đói quá, anh Toản gọi điện khắp nơi đến các đơn vị bạn ở gần đó để xin vay gạo. Gọi đến đâu cũng thấy các đơn vị khác cũng đang trong tình trạng đói. May sao khi liên lạc với  công binh, ở khá xa, họ đã đồng ý cho vay một tạ gạo và một ít nhu yếu phẩm. Tiểu đội nó nhận lệnh sang ngay công binh gùi gạo về. Cả tiểu đội mặc áo mưa, mang theo ni lông để bọc ba lô, . . . .  lập tức lên đường.

     Trời đã ngớt mưa, chỉ còn mưa lác đác. Từ sáng sớm, tiểu đội ra đi theo đường lớn, nối đuôi nhau, hàng một thẳng tiến. Sau cơn mưa bão lớn dài ngày, cảnh rừng trông rất xác xơ, cây lá tả tơi, ủ rũ, suối đỏ ngầu, cuồn cuộn chảy, đường đi nhão nhoét bùn đất, . . . .

Sa lầy

     Đi được chừng hơn hai chục cây số thì anh em đi chậm lại, vừa đi vừa nhá lương khô để tiết kiệm thời gian, sợ tối không kịp đến đơn vị công binh. Cuốc thêm dăm bảy cây nữa thì  tới một khúc đường cua. Núi bên ta-luy dương gặp mưa lâu, ngấm nước, lở xuống, chảy thành một thứ cháo bột nhão nhoét lấp kín mặt đường một lớp rất dày. Chắc đám lở đất này xảy ra mấy hôm trước, hôm nay, nhìn đã thấy "se mặt". Anh Lộ, đưa dao găm cho một đứa đi chặt cho mỗi người một chiếc gậy chống. Anh tiến lại chỗ "cháo bột", lấy que chọc để thăm dò. Thấy tạm ổn, anh đưa thử một chân vào, nhấn khẽ. Đám "bột" dưới chân anh lùng bùng nhưng không bị sụt. Sau khi cân nhắc kỹ, anh Lộ cẩn trọng bảo :

     -     Ở đây mưa ít hơn chỗ mình, đất sụt chắc đã lâu, bề mặt khá cứng. Ta đi cách xa nhau
           một chút, đặt chân và bước thật nhẹ, chắc là qua được. Đoạn cây dóc này dài nhất dùng
           làm gậy cứu sinh, nếu ai bị lún thì chìa gậy ra cho bám mà kéo lên. Chú ý, nếu ai bị lún
           thì không được quẫy mạnh mà phải đứng yên và dang tay ra, anh em khác sẽ kéo lên.
           Tất cả rõ chưa ?

     -     Rõ ! - Tất cả đồng thanh đáp.

     Chỗ đất sụt chỉ dài quãng ba chục mét. "Cháo đất" dày nhất cỡ trên hai mét so với nền đường, phía hai đầu đoạn sụt có phần mỏng hơn, thoai thoải xuống. Anh Lộ nhẹ nhàng như con báo đi săn mồi, vừa nhanh vừa nhẹ nhàng. Sau anh Lộ đến thằng Thanh, thằng Bội, thằng Đông. Nó là đứa đi sau cùng.

     Mọi người bước theo chân anh Lộ rất thận trọng, nhẹ nhàng từng bước một. Mỗi người cầm một cây gậy ở tay phải, tay trái dơ ngang để lấy thăng bằng, cứ thế dắt nối nhau bằng gậy để đi qua đám lầy.

     Chỉ còn một đoạn ngắn nữa thì nó sẽ qua được đám lầy. Ở đầu tốp, anh Lộ đã tới chỗ đất khô, ba thằng trước nó cũng sắp qua được. Đúng lúc đó thì nó thấy đất dưới chân bắt đầu sụt xuống. Nó là thằng "nhẹ phao câu" nhất mà lại bị lún, hẳn là do bốn người đi trước đã dẫm cùng một chỗ lại nhún để bước tiếp đã làm cho nước ở phía dưới "sình lên" và đất trở nên nhão nhoét. Cái chân trái nó bị lún, nó phải tì người sang chân phải để rút lên. Ai ngờ, chân nó thì bé, giầy thì rộng, lại buộc dây không kỹ nên cái chân cứ rút lên lại nhấn xuống để cứu giầy, sục sà sục sịch, càng ngày càng lún sâu. Cái vòng lẩn quẩn bắt đầu. Để rút chân trái lên thì trọng tâm dồn sang chân phải, vậy là chân phải cũng bị lún xuống tiếp. Có cảm tưởng như đất nhão đang hút đôi chân của nó, ngày càng xuống sâu hơn. Nó càng cố gắng để bước lên thì càng bị lún sâu hơn, càng ngày càng nhanh.

     Nó hoảng hốt gọi :

     -     Anh Lộ ơi ! Em bị chìm rồi.
 
     Mọi người giật mình quay lại thì thấy nó đang từ từ chìm xuống. Anh Lộ vội hét :

     -     Khuỳnh tay ra ! Đứng yên, không được cựa !

     Nó khuỳnh tay sang 2 bên. Người nó từ từ chìm xuống tới nách thì dừng lại, phần vì do có hai tay, phần thì vì cái ba lô sau lưng nó đã cản lại. Anh Lộ vội chìa cây dóc dài cho nó. Nó với tay trái túm được, rồi nó đưa nốt tay phải, túm vào gậy ở một đoạn xa hơn. Ba thằng kia, lúc bấy giờ đã lên được chỗ khô, anh Lộ bảo chúng chặt nhiều cành lá trải trên đám lầy, chằng chịt những cành với lá, thành một con đường mới khá chắc chắn. Xong, anh Lộ tiến vào gần nó, chìa cho nó cây dóc ngắn. Ba thằng kia đứng sau anh nối gậy để cùng kéo nó. Anh Lộ bảo nó :

     -    Em bám chắc vào nhé ! bọn anh sẽ kéo lên. Nào, các cậu tớ hô "một, hai, ba . . ." thì cùng từ từ kéo nha !

     Bốn người đứng "dé chân chèo", cùng kéo nó từng tí một. Người nó cứ toài dần dần về phía trước rồi gần như nằm sấp trên mặt bùn, chỉ còn hai cái cẳng chân từ đầu gối trở xuống vẫn chưa rút ra được khỏi bùn. Chắc hẳn hai chiếc giày của nó quá to so với chân, như hai chiếc "phà" (nó vẫn hay nói đùa thế), không cho nó rút được chân. Đến khi tay nó chạm được đống lá, thì nó buông một tay ra để túm vào đám cành lá. Nó cố gắng co tay, rút được một đầu gối lên rồi đến đầu gối thứ hai. Anh em thì kéo, nó thì cố dướn lên và quỳ được trên đám lá. Bốn người kéo, một người bò, dần dần nó thoát khỏi đám lầy. Nó đứng dậy, thở hổn hển, mồ hôi nhễ nhại. Nó thoát rồi, anh Lộ mới "mắng vốn" :

     -     Đi đứng thế nào thế ! Đã dặn mãi rồi. Lần này may có đông người chứ không thì chết mục xác, chẳng cứu được đâu ! Em ạ !

     Nó không nói năng gì, lẳng lặng gỡ ba lô ra. Mọi người xúm vào gạt bùn đất cho nó. Nó cởi hết quần áo, giầy tất xuống vũng nước gần đó rửa chân tay, người ngợm và giặt hết đồ rồi mặc lại, đi tiếp. Lúc bấy giờ nó mới thấy lạnh lưng, sởn tóc gáy.

     Cho đến bây giờ nghĩ lại, nó vẫn thấy thất kinh. Và, nó cũng không thể biết khoảng thời gian để nó thoát ra khỏi đám lầy đó là bao lâu. Năm phút, mười phút hay nửa tiếng, chẳng biết nữa ?!

Chìm (PhotoShop minh họa cho "vui")

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Sáu, 2013, 12:34:13 am gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #493 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2013, 10:18:08 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 44)

Đám cưới người Thượng

     Sau khi vay được gạo và một ít nhu yếu phẩm của công binh, anh em được ăn cơm với cá khô và được hút thuốc lào. Gạo thì rồi khi nào đường thông, đơn vị sẽ đ\ược tiếp tế, nhưng nhu yếu phẩm cái gì cúng thiếu. Ban chỉ huy đại đội phải suy nghĩ làm sao lo cho cuộc sống của đơn vị. Một hôm, anh Toản bê trưởng gọi nó lên và bảo :

     -     Anh ông A-Tơ-Ken, cửa hàng trưởng bách hóa sắp cưới vợ. Đại trưởng bảo em mang
           theo máy ảnh, bút, màu. Em lên lên đó giúp cho đám cưới. Đại trưởng cũng ở đó, anh
           ấy đã mang cho em một cuộn phim rồi. Hy vọng, qua đám cưới, có quan hệ tốt, ông
           ấy sẽ duyệt bán cho đơn vị cá khô, thuốc lào, xà phòng, kem đánh răng và các nhu
           yếu phẩm khác. Thế nhé !

     Nhận lệnh xong, nó về chuẩn bị. Sớm tinh mơ hôm sau nó lên đường hành quân một mình, đi làm "công tác đối ngoại".

     Trời nắng đẹp, gió thổi mơn man, mây trắng lững thững trôi bồng bềnh, tâm hồn phơi phới, nó mải miết đi theo đường rừng. Trong rừng vắng, vừa đi nó vừa suy nghĩ miên man, chuyện gia đình, chuyện đơn vị, rồi chuyện em Hợi người yêu nó. Lâu rồi không thấy mặt em, nhớ quá. Nỗi nhớ em cứ ngun ngún trong lòng như đống dấm. Thỉnh thoảng có gió tạt qua là đống dấm lại bùng lửa cháy phần phật. Không có lửa cháy thì bên trong đống dấm lúc nào cũng vẫn cháy, âm ỉ và mãnh liệt.

     Chiều tối thì nó đến được bản của ông A-Tơ-Ken. Đó là một bản nhỏ với vài mươi nóc nhà, cách đường 15N khoảng 2 cây số, nằm ven một dòng suối lớn có tên là Rào Trăng. Rào Trăng cũng là một nhánh chính của thượng nguồn sông Bồ (Nay trên địa bàn xã Phong Xuân, huyện Phong Điền có hai nhà máy thủy điện Rào Trăng 3 và 4).

Bản đồ A Lưới - đường 14, Rào Trăng - đường 15N, sông Bồ

     Nó đi theo một con đường đất đỏ ngoằn nghoèo để vào bản. Từ đầu bản, phải đi qua mấy căn nhà sàn nằm cánh nhau rất xa. Mùi phân trâu bò lợn gà nuôi ở dưới nhà sàn bốc lên nồng nặc. Giữa bản có một nhà rông (trong tiếng Vân Kiều là "roong hy xu ho") với cái sân rất rộng. Người ta đã căng một tấm che lớn làm từ những miếng dù pháo sáng ghép lại. Bên trong mái che ấy và xung quanh có rất nhiều dân bản đang mổ trâu, mổ bò tíu tít. Từ trên nhà rông, thằng Ân liên lạc đại đội nhìn thấy nó, vội chạy xuống tận chân cầu thang dẫn nó lên. Trong nhà rông, già làng cùng mọi người cao tuổi và khách khứa đang ngồi bên bếp lửa uống rượu cần. Trong số khách có đại trưởng của nó, thủ trưởng các đơn vị công binh và thanh niên xung phong.

     Sau khi nó chào mọi người, thằng Ân đưa nó ngồi vào một mâm. Cỗ cũng có nhiều món xôi, thịt, lòng, . . . . được bày trên lá chuối trải dưới sàn, rượu mạnh được rót từ hũ ra bát. Nó đặt ba lô vào góc nhà rồi xà ngay xuống mâm cỗ cùng thằng Ân và mấy người trong bản. Mọi người vừa ăn vừa uống rượu trong ánh lửa bập bùng và tiếng cồng chiêng âm âm, u u. Tiệc rượu cứ thế diễn ra thâu đêm. Nhiều đồng bào ở các các bản lân cận cũng kéo đến, ngày một đông. Họ cứ uống rượu, gõ cồng chiêng và nhảy múa suốt đêm.

Đám cưới người Thượng (còn nữa)

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Sáu, 2013, 10:33:58 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #494 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2013, 10:45:24 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 45)

Đám cưới người Thượng (tiếp theo)

     Sáng hôm sau, nó chén hết một nắm xôi với một miếng thịt kho thái rất to. Ăn xong, nó và thằng Ân bắt đầu trang trí cho đám cưới. Rất nhiều thứ lặt vặt, như hàng xén vậy, nào thì giấy trắng, giấy màu các loại, hồ dán, dao, kéo, bút chì, bút lông, . . . .

     Nó nhờ mấy người trong bản căng cho nó một cái chăn to, đẹp để làm phông. Nó vẽ một đôi chim bồ câu đang bay, mỏ cùng cắp một dải lụa có đề chữ "Hạnh Phúc". Đôi chim được gắn phía trên, bên phải tấm phông. Chữ "Song Hỷ" gắn phía trên, bên trái. Khoảng rộng ở giữa là hình trái tim, trong đó có hai chữ cái đầu của tên cô dâu và chú rể lồng vào nhau. Phía dưới đôi chim câu nó vẽ một nhà rông với các cây đại thụ cao lớn xung quanh. Dưới chữ song hỷ nó vẽ  một căn nhà sàn và 2 đứa trẻ thật xinh, mũm mĩm, như trẻ trong tranh Đông Hồ. Nó vẽ đến đâu thì thằng Ân cắt đến đó, còn mấy anh công binh thì dán lên phông theo hướng dẫn của nó. Đến trưa thì tác phẩm hoàn thành, ai cũng khen đẹp. Nhưng đồng bào Thượng lần đầu tiên nhìn thấy, không hiểu ý nghĩa của các hình vẽ. Họ nói bập bẹ tiếng Kinh để hỏi "Cái gì đây ?". Biết rồi, họ lại hỏi tiếp "tại sao lại thế ?" Thứ tiếng Kinh lơ lớ cùng những câu hỏi ngây ngô làm nó rất buồn cười.

     Lễ đón dâu được tổ chức vào buổi chiều. Đại trưởng đưa nó cuốn phim. Nó lắp phim vào máy, lắp pin vào đèn flash, chỉnh sửa lại máy để chuẩn bị chụp. Nó theo chân mọi người sang nhà gái để đón dâu. Nhà cô dâu ở ngay trong bản và không xa lắm.

Nhà sàn truyền thống của người Vân Kiều - Bru


     Cô dâu là một đứa trẻ khoảng 14 tuổi, da rất trắng, nét rất xinh, trông khác hẳn với các cô gái người Thượng khác. Em này mà ra Hà Nội thì ăn đứt khối cô và làm cho nhiều anh ngơ ngẩn. Nó thầm nghĩ, liệu cô bé có phải là sự đơm hoa kết trái của mối tình giữa một cô gái Vân Kiều với một anh lính cộng hòa hay là với anh lính "Nam Tiến" hồi những năm 62, 63.    

     Chú rể là người bản này, đi ra Bắc tập kết hồi năm 54. Ông học trung cấp thương nghiệp và làm trong ngành thương nghiệp ở ngoài Bắc. Nay ông về bản và làm cửa hàng trưởng "Cửa Hàng Bách Hóa" huyện A Lưới. Trông ông rất già, da đen, môi thâm, tóc quăn tít, chắc tuổi cũng phải suýt soát 50.

     Mỗi lần ngắm qua ống kính cặp đôi này, nó thấy xót xa, thương cho cô bé.

     Đám cưới đang diễn ra vui vẻ thì đột nhiên nghe tiếng súng nổ phía ngoài sông. Lực lượng du kích và mấy anh bộ đội vội xách súng lao ra, đám thanh niên nhao nhao chạy theo. Nó thấy nét mặt và thái độ của già làng vẫn rất bình tĩnh trước sự hốt hoảng, ngơ ngác của mọi người.

     Sau đó nó mới được nghe chuyện. Chả là, có cậu trai cùng bản  tuổi 18 đã đã yêu cô dâu từ trước. Đôi trẻ và hai nhà đã ưng cái bụng từ lâu và đang dự định tổ chức cưới. Khi ông cửa hàng trưởng giầu có, quyền thế về bản, ông trông thấy cô bé thì ưng  quá. Ông mang biếu trưởng bản và gia đình cô gái nhiều cá khô, muối và những thứ quý giá khác. Gia đình cô bé và trưởng bản vừa thuyết phục cô bé bởi sự giàu có sung sướng, vừa o ép, dọa nạt. Cô bé đành "nhắm mắt đưa chân". Chàng trai người yêu uất quá tìm cách phá. Trưởng bản dùng quyền bắt anh phải sang bản khác tránh mặt trong những ngày đám cưới. Hôm nay, ngày rước dâu, chàng thanh niên mang súng kíp lẻn về để bắn chú rể. Già làng đã tính trước, cho du kích bảo vệ. Họ phát hiện ra chàng trai đang mò về mang theo súng thì lao tới giằng co khẩu súng. Súng cướp cò, đoo . . . aàng . . . .

     Đang chụp ảnh, nó phải phì cười nhìn thấy cảnh áo cô dâu cài lệch khuy, chú rể cứ thế cởi áo cô dâu ra, cài lại (không có áo trong đâu nha). Thật là một pha "nhớ đời". Pha thứ hai cũng "quên đời" chẳng kém. Ấy là răng cô dâu bị giắt cái rau xanh, thấy vậy chú rể liền lấy tăm, cứ thế mà nhể nhể mấy phát cho cái rau rơi ra, một cách rất "tự dưng", cô dâu thì nhe răng ra, ngồ ngồ, trông chẳng khác gì cha xỉa răng cho đứa con nhỏ.

     Nó "hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ" đám cưới và rất tự hào. Nó tự hào không phải vì trang trí hay chụp ảnh đẹp mà vì nó vác về cả một ba lô đầy thịt hộp, cá khô và thuốc lào mà không mất tiền mua. Toàn bộ là do chú rể tặng nó để trả ơn. Hơn nữa, đại đội nó được ông cho một phiếu mua hàng ưu tiên dài hạn. Đại trưởng mừng, nó mừng, rồi tất cả anh em trong đơn vị đều mừng. Tối hôm đó, nó bổ thịt hộp nấu với bí đỏ, cả trung đội liên hoan vui vẻ.

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Sáu, 2013, 12:43:59 am gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #495 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2013, 09:37:06 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 46)

"Đụng độ" với đồng bào Thượng

     Cuộc sống của nó cứ êm ả trôi đi với những công việc cuốn hút, những liềm vui nho nhỏ hàng ngày. Nó tự thấy ngày càng cứng cáp, vơi hẳn đi nỗi nhớ nhà, nhớ người yêu. Chỉ có khi hoàng hôn buông xuống hay trong đêm gió mát trăng thanh giữa rừng, nó mới thấy buồn man mác và trạnh nhớ, một nối nhớ trong tưởng tượng những ngày thân yêu xa vời.
Thư gia của đình, bạn bè và thư của Hợi ngày càng thưa dần. Nó hiểu, thời gian đã dần xóa nhòa nỗi nhớ, làm lành các vết thương lòng. Mỗi người, ai cũng có việc của người đó, thời gian đâu mà suốt ngày nghĩ đến nó nữa.

     Tranh dự thi của nó đã được đại đội chuyển đi từ lâu lắm mà  không có hồi âm. Cứ mỗi tháng một lần có báo của binh chủng, Văn Nghệ Quân Đội nó đều theo dõi rất sát nhưng toàn thấy tranh của họa sỹ Trường Lưu, Xuân Hạnh và Phạm Ngọc Liệu, không thấy một bức nào của nó. Vậy là thất bại !

     Trong thời gian huấn luyện, đơn vị có ba thằng có năng khiếu vẽ là thằng Đính, thằng Tiền và nó. Huấn luyện xong thì nó phải vào Trường Sơn, thằng Đính, thằng Tiền lại được cử đi học vẽ ở Sài Gòn. Nó rất buồn và không hiểu tại sao mình không được chọn. Thôi thì, âu cũng là số phận ! – Nó tự an ủi mình như vậy.

     Thấm thoát từ khi nó vào rừng tới nay đã là gần 11 tháng. Thi thoảng nó vẫn mang bút màu đi vẽ phong cảnh. Một  hôm, nó vào sâu trong bản, vẽ đặc tả mấy căn nhà sàn chênh vênh bên mép núi, vút lên mấy cây cau, xum xuê vài cây hoa dại ở hàng rào. Bức vẽ ấy rất đẹp, có thể nói là đẹp nhất từ trước đến nay mà nó vẽ được, một phần vì nó có rất nhiều thời gian thảnh thơi trong lòng, hai là nó cũng đã có đủ độ chìm lắng cần thiết. Nó treo bức tranh trên tường ngay chỗ giường của nó. Chẳng thể ngờ được bức tranh đó là "bức tranh định mệnh" làm chuyển biến cuộc đời của nó . . . .

     Một buổi chiều, sau khi cơm nước xong, nó cùng anh Lộ, anh Tăng và mấy đứa nữa lững thững xuống đường đi dạo. Bỗng mọi người nhìn thấy một con hoẵng đang uống nước ở gần ngay dưới nhà bóng bàn. Mọi người ra hiệu cho nhau nhẹ nhàng bao vây. Con hoẵng thấy đông người, nó hoảng sợ. Nhưng vì địa hình trống trải, con hoẵng lao vọt lên khe núi, chạy mất. Khi tới bản người Thượng, mấy đứa nói chuyện con hoẵng với ông già A Khen. Ông già liền lấy súng kíp lùa đàn chó săn của ông đi ngay.

     Mấy anh em cũng không để ý gì đến chuyện con hoẵng và ông A Khen nữa, vẫn nhẩn nha vừa đi vừa nói chuyện. Trời nhá nhem tối chúng lại lững thững quay về. Nghe đì đòm súng nổ, chúng biết là ông già vẫn đang săn con hoẵng đó. Về gần đến đơn vị, bỗng mọi người giật mình, từ trên tà luy dương, cao hơn 10 mét, một con hoẵng khá to mất đà trượt chân, lao xuống ngay trước mặt. Con vật bị choáng, lồm cồm định đứng dậy thì anh Tăng nhanh tay bê ngay hòn đá cạnh đó đập mạnh vào đầu nó một nhát. Nó giật giật mấy cái rồi vật xuống, bất động.

     Bọn chúng khoái quá, khiêng ngay con hoẵng về. Lửa nổi lên, thịt hoẵng xẻ ra, chốc lát, dăm ba món thịt hoẵng đã thơm nức nở trên bàn ăn. Cuộc liên hoan linh đình của trung đội kéo đến 11 giờ đêm mới xong.

     Hôm sau, ông A Khen đi qua cổng, thấy đầu hoaẵng và bốn cái chân đang cột trên dây phơi ở hồi nhà. Ông nhận ra con hoẵng hôm qua ông săn hụt liền vào đòi hoẵng. Một cuộc cãi vã giữa ông A Khen và anh em. Bộ đội nói con hoẵng tự rơi, bộ đội đập được nên con hoẵng là của bộ đội. Ông già thì bảo do ông và bầy chó đuổi rát mà con hoãng chạy hụt chân nên mới rơi, con hoẵng là của ông. Hai bên lời qua tiếng lại, không bên nào chịu bên nào. Dân bản hay tin cầm giáo mác chạy sang. Vợ ông già cứ xỉa xói, la lên :

     -     Bộ đội tồi, bộ đội ác, bộ đội cướp hoẵng. Bộ đội xấu như thằng Mỹ, thằng ngụy . . . .

     Anh Tăng cáu tiết quá đẩy bà già ra. Không may bà già trượt chân ngã xuống. Tình hình trở nên nghiêm trọng. Dân hai bản với dáo mác và súng kíp lập tức bao vây anh Tăng. Bộ đội thấy vậy cũng giương súng ra tự vệ. Trung trưởng dùng AK bắn một loạt lên trời :

     -     Yêu cầu đồng bào giải tán !

     Đồng bào giãn ra bỏ về. Lính cũng quay vào trong nhà, coi như chuyện đến đấy là xong.

"Đụng độ" với đồng bào Thượng (còn tiếp)

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Sáu, 2013, 08:11:13 am gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #496 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2013, 10:43:10 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 47)

"Đụng độ" với đồng bào Thượng (tiếp theo)

     Một lúc sau, tiếng tù và từ bản vang rền, rồi có tiếng tù ở những chốn xa xa đáp lại u u, âm vang khắp núi rừng đại ngàn. Anh em vẫn nghĩ là không có chuyện gì. Nhưng Chỉ một giờ sau, từ khắp mọi ngả, đuốc đèn như mưa sao rùng rùng chuyển động về phía trung đội. Rất đông đồng bào, cầm đuốc, cầm dáo, mác, cung nỏ, súng kíp tua tủa vây chặt trung đội. Người các bản xa hơn cũng lần lần kéo đến, ngày một đông. Họ bao vây chặt, triệt toàn bộ đường lấy nước của bộ đội.

     Cả đơn vị thực sự hoảng sợ, chưa ai rơi vào tình huống khó khăn như thế này. Giá mà địch đông như vậy thì cũng có thể có anh em không sợ và sẵn sàng sinh tử. Nhưng đây là đồng bào, đang trong cơn giận dữ, đằng đằng sát khí, thì không ai là không run sợ. Trung trưởng gọi điện báo cáo đại đội và trung đoàn, đang nói dở thì đường dây bị cắt đứt. Anh đành phải dùng vô tuyến để liên lạc tiếp. Trung đoàn chỉ thị "Án binh bất động không được đối phó, ảnh hưởng tình quân dân. Nếu đồng bào nổ súng cướp trại có thể do Fulro xúi giục, lúc đó mới được phép tự bảo vệ con người và khí tài nhưng tuyệt đối tránh thương vong cho dân."

     Ngay đêm hôm đó, đồng chí tỉnh đội trưởng Quảng Đà, vốn là người của bản của ông A Khen, lập tức đi ô tô trở về để can thiệp chuyện đụng độ giữa dân và bộ đội. Nhưng vì đường đi quá xa, mãi tối hôm sau ông mới về tới nơi. Ông là người có quyền cao chức trọng nhất, là người rất có uy tín của đồng bào Vân Kiều, bà con rất tin và rất nể trọng ông nên sau khi ông nói chuyện với già làng, với dân bản thì được già làng và dân bản chấp nhận.

     Trung trưởng cùng anh Tăng phải ra xin lỗi đồng bào và trả lại đầu và 4 chân của con hoẵng. Chuyện được giải quyết êm thấm.

     Sau vụ việc đó, mặc dù không có chuyện gì xảy ra nhưng quan hệ giữa đồng bào và bộ đội không được mặn mà như trước.

     Bẵng đi một thời gian thì một hôm có một cái nhà sàn trong bản, không biết vì sao, lại bốc cháy ngùn ngụt. Chuyện cháy nhà sàn thì ở bản này là chuyện rất hiếm và xảy ra đã từ rất lâu. Điều tình cờ là căn nhà cháy đó lại chính là căn nhà nó vẽ trong bức tranh treo ở đầu giường.

     Đồng bào đi gặp thày mo để hỏi về việc nhà bị cháy. Sau khi cúng bái, giờ lâu, thày phán rằng :

     -     Có kẻ ngoại lai mang ma về đốt bản !

     Từ câu phán ấy, suy đi xét lại thì dân bản thấy chỉ có cái bộ đội ngồi vẽ cả cái bản này, rồi lại vẽ rất kỹ cái nhà bị cháy. Cái bộ đội ấy ngồi rất lâu, mấy ngày liền. Thế thì đúng hắn là kẻ ngoại lai đưa ma về rồi, không thể sai được. Tất cả mối nghi hoặc đó đổ lên đầu nó. Già làng yêu cầu trung đội trưởng giao kẻ đã đưa ma về đốt bản cho đồng bào.

     Nó hoảng quá mà mọi người cũng đều sợ. Bê trưởng phải báo cáo lên đại đội. Đại đội yêu cầu lập tức, bằng mọi giá phải cho nó trốn sang đơn vị khác. Nó thu xếp quân tư trang, chào mọi người rồi bí mật và gấp rút trốn sang đại đội công binh gần đó để lánh nạn. Nó đi rồi không biết trung đội ở lại sẽ đối phó thế nào với già làng và dân bản . . . .

     Bức tranh nó vẽ đẹp nhất trở thành "bức tranh định mệnh", làm cuộc đời nó biến động và sẽ ngoặt sang một hướng khác.

Nguyễn Trọng Thập

Lễ gọi hồn của người Vân Kiều do thầy mo thực hiện.
Khi thanh đao buộc với giỏ cúng đứng thẳng mà không cần người giữ thì hồn đã về.

« Sửa lần cuối: 09 Tháng Sáu, 2013, 05:15:45 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #497 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2013, 05:23:21 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 48)

Trở về Pleiku

     Nó trốn ở đơn vị công binh ngày hôm trước thì ngày hôm sau công binh nhận được điện thoại của đại trưởng của nó, báo cho nó biết trung đoàn điều động nó về trung đoàn bộ nhận công tác. May mắn làm sao, hôm đó có xe của công binh về Quy Nhơn và nó được đi nhờ. Nó nghĩ thấy cũng lạ, đúng lúc nó cần đi Pleiku thì công binh lại có xe, xe đó không phải ra Quảng Trị, xuống Huế, vào Đà Nẵng, vào thị xã Tam Kỳ hay vào thị xã Quảng Ngãi, mà lại vào đúng thị xã Quy Nhơn, rất chi là trùng hợp. Nó chào anh em ở đơn vị công binh. Trước khi bước lên xe, nó quay lại nhìn ngắm một lượt núi cao, rừng thẳm trùng điệp của Trường Sơn, nó muốn tạm biệt nơi chốn mà nó đã ăn ở và làm việc cùng trung đội thông tin của nó một năm nay.

     Nó đi nhờ xe, mãi đến chiều hôm sau xe mới đến Quy Nhơn. Đã hết xe đi Pleiku nên nó tạt vào nhà Sơn Hồng. Hai thằng ôm chầm lấy nhau, tay bắt mặt mừng. Đêm đó nó được chơi với Sơn Hồng và ba má. Sớm hôm sau nó ra xe đò đi Pleiku. Về đến trung đòan nó được giao nhiệm vụ vẽ áp phích, khẩu hiệu và trang trí phục vụ cho hội nghị quân chính. Trong thời gian này nó được ở ngay ban tham mưu của trung đoàn. Xong nhiệm vụ cho hội nghị quân chính, nó sao chép và phóng bản đồ cho ban tham mưu.

     Ở trung đoàn bộ nó nhận đồng hương với anh Chính, trưởng  tiểu ban quân lực trung đoàn. Anh Chính quê Ân Thi, đồng hương Hưng Yên. Nhà anh Chính cách nhà nó chừng hai chục cây số. Anh Chính khá đẹp trai, người gầy, cao, da trắng, tóc quăn uốn sóng. Anh có giọng nói trầm, nhiều âm sắc. Anh đã có vợ và hai con gái ở quê. Nói đến anh Chính thì phải nhắc đến chị Mạo, tổ trưởng y tá cơ quan lúc bấy giờ. Chị tuổi Mão, sinh năm 51, tức là 26 tuổi dương lịch. Chị kém anh Chính 15 tuổi. Nó không còn nhớ quê chị Mạo ở đâu nữa vì lâu quá rồi. Chị có làn da trắng, người mũm mĩm, ngực nở lớn, mông to, đầy sức sống. Anh Chính và chị Mạo phải lòng nhau đã lâu. Khi nó về đến đây thì chị Mạo đang mang trong mình giọt máu của anh Chính. Nhưng nó mới về nên hoàn toàn chưa biết chuyện đó.

     Nhớ lại, hôm nó về đây đúng vào một chiều Thứ Bảy. Toàn đơn vị lớn được nghỉ sớm một tiếng để làm vệ sinh doanh trại, hái rau sam, rau sắn non, chuối xanh và rau má. Đơn vị nào tự tăng gia được thì có quả su su, quả mướp, quả bầu hay quả bí. Nấu rau tự cải thiện bằng hòm đạn đại liên của Mỹ, không có thì nấu bằng mũ sắt của lính Mỹ. Rau nấu với bột canh, thịt hộp, mỳ tôm để cải thiện bữa ăn. Nó vừa nhận phòng ở xong thì các anh trong ban sai nó đi hái rau. Anh Thạnh, trưởng tiểu ban khí tài đang cắt tiết ngan, thằng Dõi, thằng Động, đồng hương nó đã được điều về đây từ lâu, thì đang phụ vặt lông ngan, rang lạc.

     Hái rau xong nó mang về thì anh Hiệu lại bảo :

     -     Để đấy anh rửa ! Chú xuống cái nhà y tá dưới kia, gặp chị Mạo, nói anh Chính em
           bảo xuống mượn chị cái cối, ở trên này anh em có chày rồi.

     Nó vội chạy băng qua sân, xuống nhà y tá truyền đạt nguyên văn lời anh Hiệu dặn. Đang ngồi phát thuốc cho mọi người và nói chuyện rất vui vẻ, chị Mạo đứng bật ngay dậy, chỉ tay vào mặt nó quát :

     -     Ai sui mày hỏi thế hả ? Ai sui ?

     Nó lúng túng không biết trả lời thế nào vì nó chưa nhớ tên anh Hiệu nên nó nói nhầm :

     -     Anh Chính bảo em thế.

     Chị Mạo càng tức tối. "Ba máu sáu cơn" chị nhảy dựng lên, xỉa xói chửi :

     -     Tổ sư bố đứa nào độc mồm sui mày, chứ anh Chính nào bảo. Tổ sư nó !

     Thấy chị Mạo cứ lồng lộn, chửi bới ầm ĩ, nó hãi quá, vội "cúp đuôi" chạy thẳng về ban. Cả ban nó đang cười ngặt nghẽo. Thì ra nó bị lừa để trêu chị Mạo. Sau này, khi biết chuyện, nó thấy thương chị Mạo và thương cả anh Chính nữa.

Nguyễn Trọng Thập
Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #498 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2013, 08:58:28 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 49)

Bạn bè ở trung đoàn

     Nó được sử dụng một gian 18 mét vuông, đầu hồi của một dãy nhà. phía cuối phòng có lắp hố xí xổm tự hoại. Cái vệ sinh này đã bỏ lâu lắm không dùng, bây giờ nó quây vải đen vào làm buồng tối để in tráng ảnh. Phần còn lại phía trước của căn phòng thì nó để vẽ pa-nô (pano) phục vụ cho các công tác cổ động của trung đoàn. Vậy là nó có riêng một phòng để tác nghiệp, kể cũng oai ra phết.

     Bên cạnh phòng tác nghiệp của nó là một gian 18 mét vuông nữa thì nó và thằng Đăng dùng chung làm phòng ngủ. Giường sát cửa ra vào là của thằng Đăng, giường sát tường phía trong là của nó. Thằng Đăng phụ trách chiếu phim, quê Bắc Thái, da trắng, môi đỏ, tóc vàng như râu ngô. Đăng tốt nghiệp phổ thông thì nhập ngũ. Hắn vừa làm nhiệm vụ chiếu phim, vừa tự học thêm về cơ khí, điện kỹ thuật, thiết kế và quấn sú-von-tơ (survolteur) rất tốt. Cần nói thêm là, hồi bấy giờ điện kém lắm, nơi nào có điện thì đều không đủ điện áp, đèn thì tối lò mò, quạt thì chạy lờ đờ. Cái survolteur dùng tăng điện áp trở thành thiết bị cần thiết cho mỗi gia đình và nghề quấn survolteur đang rất thịnh, hái ra tiền. Đăng thường xuyên đi chiếu phim lưu động ở các đơn vị, ít khi ở nhà nên cái phòng chung đó hầu như chỉ có nó sử dụng.

     Vào những ngày nghỉ, nó hay cùng anh Hiệu, thằng Đăng và vài người nữa sang sân bay Cù Hanh, nhảy vào phòng điều hành bay, phá các máy thông tin, máy tải ba, gỡ lấy các biến thế nguồn, các cuộn cảm, đèn LED, bộ chuyển mạch, đề-can, dây cáp thông tin với rất nhiều sợi, mỗi sợi một màu, v.v . . . . làm vật liệu để quấn survolteur. Được anh Hiệu và anh Cường kỹ sư "truyền nghề", nó cũng cuốn được mấy cái survolteur rất đẹp, chạy rất tốt.

Sân bay Cù Hanh 1967


Một góc sân bay Cù Hanh 1972

     Ở cơ quan trung đoàn bộ, nó quen và giao lưu với rất nhiều người, từ ban chính trị, ban tham mưu, ban hậu cần, vệ binh, bệnh xá, . . . . Nhưng người thân và gần gũi nhất với nó là anh Cường và thằng Tiền. Anh Cường Kỹ sư là trợ lý ban chính trị trung đoàn còn thằng Tiền là thằng được đi học vẽ ở Sài Gòn về, bây giờ giữ chân thư viện.

     Anh Cường quê Quảng Bình, người dong dỏng, da đen, môi hơi thâm, trông khá đẹp trai và rắn giỏi. Bấy giờ anh Cường đã đeo lon trung úy, tính anh vui vẻ, dễ hòa đồng, sống tình cảm và ân cần với mọi người. Anh thường xuyên tâm sự nhỏ to với nó, nhất là chuyện tình yêu. Anh có một chiếc hon đa 67 màu đen khá mới. Anh nhờ nó vẽ vào hai bên xe hình đại bàng dang cánh. Ngày nghỉ, thỉnh thoảng anh đèo nó đi chơi hoặc cho nó mượn xe phóng lên đèo Mang Yang thăm mấy thằng đồng hương của nó đóng quân ở đó. Đường đẹp, xe ngon, thời tiết mát mẻ, "hết ý con mẹ tý".

Đèo Mang Yang



     Thằng Tiền quê Thái Nguyên, người lùn, bé nhỏ, da trắng, môi đỏ như con gái. Đặc biệt thằng này có giọng nói cứ lanh lảnh với những âm sắc trong, cao vút như họa mi. Đơn vị gán cho nó biệt hiệu là Tiền "gái". Thằng Tiền có năng khiếu vẽ và đã được cử đi học vẽ ở Sài Gòn cùng Phạm Bình Đính. Nó khá thân với Tiền một phần cũng là do nó mê đọc sách. Nó vào thư viện cũng được thằng Tiền ưu ái hơn so với những người khác.

     Ngoài hai người đó ra, nó không thể không nhắc đến thằng Tỵ anh nuôi. Thằng này quê ở Nam Hà, người to béo, cao, mặt tròn, hói đầu. Thằng Tỵ sống rất thật và thà chân thành lắm. Một lần thằng Tỵ nhờ nó vẽ truyền lại bức ảnh của bố. Tấm ảnh gốc khổ nhỏ 3x4, đã rất mờ thì chớ, lại còn bị mốc nữa. Nó ngồi hai ngày, phóng ra cỡ 18x24, cố gắng hình dung, tưởng tượng ra người trong ảnh để vẽ. Khó nhất là vẽ mắt vì khi phóng to không thể vẽ mắt nhòe nhòe như trong ảnh được mà phải vẽ đầy đủ cả hai mí mắt và đường chân mi cũng như lông mi. Nó phải hỏi thằng Tỵ xem có giống bố nó không, may mà cha con giống nhau nên nó mượn mắt thằng tỵ để vẽ và thêm các đường chân chim vào cho già đi. Bức "truyền thần" vẽ xong được thằng Tỵ khen là rất giống và rất đẹp. Từ ngày đó thằng Tỵ rất quý nó. Đầu tiên là thằng Tỵ lúc nào cũng để phần riêng cho nó một miếng cháy to bằng cái quạt nan. Cháy nồi quân dụng màu vàng nhạt rất dày và rất giòn. Thằng Tỵ gói miếng cháy nóng hổi vào giấy bào, lẳng lặng cắp nách mang lên cho nó. Đang đói được cháy ngon, nó rất sướng, phết ngay đường vào, nhai rau ráu, thơm, giòn, ngọt, ngon tuyệt.

     Mỗi khi nó xuống bếp lấy cơm, lại đúng vào lượt thằng Tỵ chia cơm thì mâm của nó được tăng lên đáng kể, cả về lượng và về chất. Đã thành lệ, hễ khi nào Tỵ chia cơm thì mọi người trong nhóm ăn cùng mâm lại cử nó đi lấy cơm . . . .

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Sáu, 2013, 09:24:01 am gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

tuanb5
Thành viên
*
Bài viết: 610


« Trả lời #499 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2013, 01:03:50 am »


...Vào những ngày nghỉ, nó hay cùng anh Hiệu, thằng Đăng và vài người nữa sang sân bay Cù Hanh, nhảy vào phòng điều hành bay, phá các máy thông tin, máy tải ba, gỡ lấy các biến thế nguồn, các cuộn cảm, đèn LED, bộ chuyển mạch, đề-can, dây cáp thông tin với rất nhiều sợi, mỗi sợi một màu, v.v . . . . làm vật liệu để quấn survolteur. Được anh Hiệu và anh Cường kỹ sư "truyền nghề", nó cũng cuốn được mấy cái survolteur rất đẹp, chạy rất tốt.


Bác Thập quả là người có bàn tay...Pha lê Grin

Hồi bé tôi có thể làm... súng bắn diêm, ngang với bác Grin Vậy mà lớn nên, bác Thập làm được bao việc đòi hỏi kỹ năng, còn tôi thuộc diện không phát triển được. Angry
Ngay việc bác còn trong Quân ngũ, với bao thiếu thốn đồ nghề, phương tiện mà lẽ ra 1 người thợ phải có. Vậy mà bác ấy vẫn chế ra được máy biến thế điện. Quá tài luôn!

Bác Thập có nguồn nguyên liệu quá chuẩn Grin. Nhưng không khéo tay và óc sáng tạo thì cũng bó tay.
Logged

Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM