Quả thực mình cũng chưa hề đến mấy tỉnh biên giới phía Bắc, trừ Lao Cai, nhưng có cảm tưởng phía Bắc không có cây Le, cây Khộp, hoặc có nhưng gọi tên khác. Chỉ từ Quảng Nam trở vào mới có rừng Le, rừng khộp. (?)
Em cũng có cảm giác về tên giống bác 6971 bởi miền rừng núi phía bắc chỉ có mai, vầu, tre, pheo, nứa,hóp, giang, trúc. Trên núi cao khoảng 1500 trở lên thường có giống trúc tăm mọc bat ngàn, điển hình là vùng rừng Hoàng Liên Sơn. Cây Khộp thì quả là em đi rừng cũng nhớ là chưa thấy, loại này chỉ có thấy ở ... công viên Thống nhất, loại lá cây to như cái mẹt và ram ráp ấy ạ , chắc được di thực trong nam ra .
Chỉ có cây hóp ngoài bắc thì trong Tây nguyên gọi là lồ ô thôi các bác ạ.
Các bác 6971, HaHoi, Tuanb5 !
Nguyên văn bác Thập viết là cây “dóc”. Cây “dóc” được anh em dùng làm gậy hành quân ở Pleiku. Sau đó, bác Thập còn dùng gậy “dóc” để vượt sông Buong. Tôi không biết “dóc” là cây gì, có hỏi bác Thập thì bác ấy bảo cũng không rõ, nó giống tre, nhưng nhỏ hơn nhiều và đặc hơn. Tra cứu trên mạng chẳng thấy đâu có “dóc”. “Dóc” hẳn là một từ địa phương ít phổ biến.
Thấy lên Lạng Sơn, bác Thập vẫn gọi một loại cây là “dóc”, tôi sửa đi thành “le” cho nó khác. Nhưng bác 6971 phát hiện ra ngay, ở phía Bắc, không có cây được gọi là “le”. Chắc phải có một cái tên khác, . . . . Cảm ơn 6971 và HaHoi !
Thôi thì cứ gọi là “dóc” vậy !
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện
CHƯƠNG IV BƯỚC NGOẶT (tiếp 74)
Đi thực tế biên giới phía Bắc (tiếp)
Nhóm chúng nó ở trên điểm cao 610 ba ngày đêm, thu thập được nhiều tư liệu quý về người lính biên cương trên chốt. Sau đó vài ngày nhóm xuống chân núi vẽ tiếp ở các đơn vị pháo binh, công binh, thông tin, cao xạ, . . . . Rồi nhóm được lệnh lấy tư liệu trong thị xã Lạng Sơn vì lúc ấy quân tàu đã rút khỏi đó.
Lần đầu tiên nó được tới thị xã Lạng Sơn. Nó cảm nhận ngay được đây là một thị xã đẹp thơ mộng, có núi, có động, có rừng, có sông. Quân Tàu tràn qua, trước khi rút đi, đã tàn phá tất cả. Giờ đây thị xã là cảnh đổ nát, hoang tàn, không còn một ngôi nhà hay công trình nào nguyên vẹn. Không còn người dân nào ở lại thị xã nên cảnh đổ nát càng thêm tiêu điều, chết chóc. Nhóm chúng đi dọc theo các con phố vắng lặng. Thỉnh thoảng chúng có gặp một vài người lính đeo băng đỏ, khoác AK làm nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ thị xã.
Sông Kỳ Cùng đang mùa nước cạn, trơ cả đáy. Cầu Kỳ Lừa đã bị địch đánh sập, giơ lên những thanh thép đen nhẻm, quăn queo như những cánh tay ghẻ lở, gày guộc xiên lên nền trời xám xịt. Dưới lòng sông, xác trâu bò, lợn gà chết trương phềnh, lập lờ trong các vũng nước còn xót lại. Chợt nó nhìn thấy một cánh tay và một mái đầu lơ phơ tóc đang dập dềnh trong một vũng bùn đặc. Tất cả đầu bốc mùi khăn khẳn, ruồi nhặng bâu đen, . . . .
Không khí sặc mùi xú uế, tang tóc. Nhà cửa đổ nát, cây cối xác xơ, mặt đường bị cày xới, băm vằm, đồ đạc, xoong nồi, chăn màn, quần áo, giường tủ vương vãi khắp nơi. Tất cả các cửa hàng cửa hiệu đều bị đập phá, kính nát vụn, vung vãi. Đây đó, một vài ngôi nhà vẫn còn đang cháy âm ỉ, khói đen vẫn còn cuộn lên. Một vài con chó, con mèo lạc chủ chạy vụt qua như những bóng ma, tru lên tiếng kêu ai oán.
Nhóm của chúng hối hả lấy máy ảnh, cặp vẽ ra ghi lại những hình ảnh đổ nát, tang thương đó. Rất nhiều tư liệu sống động được thu thập. Tối đến, chúng chọn một căn nhà còn “tương đối”, rồi tìm xoong nồi ở loanh quanh đó mang về thổi cơm, nấu nước. Trong khi chờ cơm, mấy đứa còn lượm được ô mai, cam thảo, rượu thuốc, rượu Lúa Mới vương vãi đây đó. Chúng thắp vài cây nến rồi ngủ qua đêm để hôm sau lại tỏa ra đi vẽ tiếp các nơi.
Ở Lạng Sơn vài ngày rồi nhóm lại di chuyển lên Đồng Đăng. Thị trấn Đồng Đăng cũng tan hoang, đổ nát và hoang vắng không khác gì Lạng Sơn.
Có một điều mà chúng thấy lạ, ở cả Lạng Sơn và Đồng Đăng. Trên các bức tường ngoài phố và trong nhà, đâu đâu địch cũng viết khẩu hiệu bằng tiếng Việt “Chủ tịch Mao Trạch Đông muôn năm !”, “Hồ Chí Minh muôn năm !”, “Đả đảo tập đoàn Lê Duẩn !”. Trong một số nhà, chúng còn thấy ảnh Bác Hồ và ảnh Mao chủ tịch treo trang trọng bên cạnh nhau, còn ảnh TBT Lê Duẩn thì bị băm nát và bôi bẩn.
Mấy ngày ở đồng Đăng, có hôm chúng vào nghỉ đêm trong động Tam Thanh. Đó là một cái động đá rất rộng và rất đẹp với nhiều nhũ đá đủ các hình thù rủ từ trên xuống. Trong động vẫn còn nhiều đồ đạc, bếp nấu, vật dụng sinh hoạt của bà con trú ẩn trước đó còn vương lại.
Buổi cuối cùng ở Đồng Đăng, tình cờ chúng đi qua một dãy phố buôn bán thuốc. Thôi thì đủ các loại đông dược quăng quật khắp nơi. Chúng nó chỉ quan tâm đến mấy thứ chén được, cam thảo, hạt sen, quế chi, ô mai và nhất là táo tàu. Chúng đua nhau nhét đầy các cóc ba lô. Trong mấy cửa hiệu thuốc tây, chúng thấy la liệt các hộp ca-pốt (bao cao su) vứt lung tung. Phần vì tò mò, phần vì nghịch, chúng cũng vơ một đống, nhét vào túi cóc.
Khi chúng rời Đồng Đăng, quay ra bến tàu để trở về Hà Nội thì cũng là sau mươi ngày quân Tàu đã rút. Lác đác đã có đồng bào trở lại nhà để dọn dẹp trong đống đổ nát.
Sau một ngày hành quân bộ, chúng lên tàu về Hà Nội. Chúng về đến đơn vị thì đã tầm 2 giờ sáng. Trước khi đi ngủ, mấy thằng nghịch ngợm còn mang ca-pốt ra thổi. Quả to thì như bóng bay, quả nhỏ thì trông như “cái kia”, tất cả đều màu trắng. Chúng buộc túm mấy quả một với nhau rồi treo dọc theo dây phơi quần áo và dây phơi khăn mặt bên nhà chị em nữ của đội văn nghệ.
Sớm hôm sau, chị em nhìn thấy bong bóng khắp nơi, hét ré lên, kéo nhau hết một lượt ra xem, rồi cười đùa rinh ríc, đấm lưng nhau thùm thụp.
Nguyễn Trọng Thập