NGÀY NÀY 40 NĂM VỂ TRƯỚC (tiếp)
Ngày đầu tiên về đơn vị chiến đấuÁnh sáng chiếu qua cửa hầm làm tôi choảng tỉnh dậy, không gian yên ắng vắng tiếng bom và pháo, Phồm và một cậu béo lùn (tôi đoán đó là Bình) đang hí húi bắc bếp nấu cơm trong góc nhà kề ngay miệng hầm. Chúng tôi đang ở trong một ngôi nhà đã đổ sập dìa một ngôi làng tan hoang vì bom đạn. Phía trước mặt là cánh đồng chi chít những hố bom, hố pháo. Đập vào mắt tôi trên bức tường còn sót lại một dòng chữ ngay ngắn rất đẹp viết bằng than củi một câu tiếng Nga rất nổi tiếng:
“Rôđina ili umeretr”-
Tổ quốc hay là chết. Rõ ràng ở đây đã có sự hiện diện của những người lính Bắc nào đó phải là sinh viên đại học mới có thể viết được những dòng tiếng Nga như vậy. Được biết Phồm và số anh em Hải Hưng về đơn vị khi còn ở Hà Bắc, trong đơn vị có một số anh em đại học - như Phồm nói nhưng đến giờ bị thương vong chỉ còn lại mấy người mà thôi. Bữa cơm đầu tiên tại đơn vị giữa không gian ngổn ngang đổ nát khét lẹt mùi thuốc súng, mỗi thằng một góc xúc vội thìa cơm với ruốc mặn chẳng có rau cỏ gì cả. Thấy anh Tạo từ phía sau đi sang, anh đi hội ý ở bên đại đội về, ngồi thụp bên bếp kéo một hơi thuốc lào và cho biết sơ qua tình hình: đơn vị đang ở thôn Đầu Kênh, xã Triệu Long, quận Triệu Phong. Số quân chúng tôi từ d60/f304B bổ sung đêm qua rải khắp các đơn vị của e101. Về c3 này có khoảng hơn chục người trong đó có Trình ba toác khi huấn luyện là cán bộ trung đội vào đây là trung đội trưởng trung đội 1 (b1) của tôi, anh Tạo cũng là cán bộ khung ở huấn luyện giờ là b phó b1, Tiến lớp Nước 15 ở tiểu đội 1 (a1), Chiến lớp Công trình 15 ở a2, Mẫn lớp Đường 15 ở b2 cùng với Phùng lớp Nước 15 và Triệu người dân tộc ở Việt Bắc, Sơn trắng lớp Cầu 15 ở a cối còn tôi ở a3. Anh Tạo được phân công ở với a3 và nằm cùng hầm với Phồm và Bình. Trong thời gian đang củng cố cứ đêm xuống chúng tôi có nhiệm vụ đi lấy gạo, thực phẩm, vũ khí, đạn dược từ bến sông hoặc đưa cơm và đạn dược cho các đơn vị đang ở trong chốt cũng như
đưa thương binh, liệt sĩ về phía sau.
Hầm của đại đội (c bộ) ngay phía sau hầm chúng tôi cách độ ba chục mét. Được anh em cũ cho biết buổi sáng mật độ oanh kích của địch ít hơn ban đêm nên tranh thủ lên mặt đất thở hít không khí, tắm táp và củng cố lại hầm hố. c3 của tôi do thượng sĩ Nông Quốc Sủi người Tày Lạng Sơn là đại đội trưởng. Trước đấy anh ở c4 hỏa lực của tiểu đoàn được điều sang vì ban chỉ huy c3 bị thương vong hết cả. Chính trị viên trưởng (cv trưởng) cũng tên Trình là cán bộ khung của tốp quân Nghệ An vào trước tôi một ngày. Ông Sủi nhìn thấy tôi đeo kính cười ha hả:
“Thằng a3 thêm 1 thằng đui rồi, hôm trước có thằng Bắc điếc và thằng Bình lé nay lại có mày đeo kính...không biết rồi đánh chác ra sao đây...”. Thảm nào sáng nay lúc ngồi ăn cơm, hỏi chuyện thằng Bắc nhiều lúc nó không trả lời, khi nói nó phải nghiêng tai về phía người nói. Còn thằng Bình đúng là đi
xe máy solex (cách nói vui chỉ người mắt bị lác).
Hầm a cối của đại đội gần ngay hầm của c bộ, Tú a trưởng a cối người Đức Thọ, Hà Tĩnh dáng người nho nhã, trắng trẻo đang hướng dẫn Sơn và mấy người khác thao tác sử dụng cối 60 li - hỏa lực chính của đại đội. Sau gần 1 tháng chiến đấu, a cối chỉ còn mỗi Tú, có 2 cối 60 ly thì một bị trúng đạn pháo của địch, khẩu cối còn lại của đại đội cũng bị thương do mảnh pháo chém vào thân nên khi bắn phải lựa chiều quả đạn. Mấy ngày sau, a cối của Sơn vào chốt tăng cường hỏa lực cho c1 nên được thay bằng khẩu cối của c1 (a cối của c1 bị thương vong hết). Tú nhập ngũ 6/9/1971, trước đó đi xuất khẩu lao động ở Liên Xô về, anh có giọng hát rất hay nhất là nhạc vàng. Anh hy sinh tháng 10/1972 lúc 24 tuổi. 29 năm sau chúng tôi tìm thấy mộ của anh tại NTLS xã Triệu Long và có gửi thư báo cho địa phương theo địa chỉ trên bia mộ nhưng không thấy hồi âm (?).
Vạt đất trước hầm c bộ có khoảng hơn chục ngôi mộ bị trận bom pháo đêm qua cầy xới lên, mấy người đang vun lại các ngôi mộ, chôn lại các tấm bia làm bằng tôn. Đất ở đây tơi xốp có lẽ do bom đạn cầy đi xới lại nhiều lần. Một cậu dáng bé loắt choắt, mắt to da đen sạm nhưng khuôn mặt lại rất láu lỉnh - đó là Thủy là liên lạc của c bộ. Cậu ta quê Nam Hà là lính cũ đi từ Hà Bắc giống như Phồm. Chúng tôi là đợt bổ sung thứ tư sau đợt quân Thái Bình, Quảng Ninh và Nghệ An. Hiện tại sau khi bổ sung đại đội có chưa đầy 2 chục tay súng. Sau gần 1 tháng chốt ở An Tiêm chống chọi với tụi Thủy quân lục chiến ngụy và bị thương vong nhiều. Giờ được lui về phía sau để bổ sung quân số. Thủy còn cho biết số thương vong của đại đội chủ yếu do bị bom pháo vòng ngoài, vào trận thì dính nhiều do cối cá nhân M79. Sau này Thủy và tôi cùng bị thương, 2 anh em dìu nhau theo đường chuyển thương ra tới Nghệ An.
Phồm tiểu đội trưởng của tôi kém tôi 2 tuổi. Một người ít nói nhưng nhanh nhẹn, hút thuốc lào liên tục cho biết số quân Hải Hưng hiện tại chỉ còn cậu ta và Thuận ở B2. Người hy sinh, người bị thương đi viện, cả đại đội chỉ còn mấy tay súng. Đấy là tình trạng chung của đơn vị sau khi ở chốt ra ngoài củng cố. Tôi vẫn nhớ tới Phồm khi vào trận với vẻ mặt đanh lại tay lăm lăm lựu đạn đánh trả các đợt phản kích của địch nhưng luôn đưa mắt về phía chúng tôi với ánh mắt động viên. Chính Phồm là chỗ dựa tinh thần cho tôi khi vào trận đầu vượt qua được nỗi sợ hãi khi xung quanh chỗ nào cũng thấy địch. Năm 2007 tôi có về quê Phồm. Nó giờ chẳng còn nhớ được gì, Quang
ấm cho biết mấy năm trước Phồm là một tay bắt ba ba có hạng nhưng một lần không biết vì sao nó dùng dao tự thọc vào bụng mình...sau khi ở viện về nó chỉ ngồi một chỗ nhớ nhớ quên quên. Nhắc tên tôi và Chiến nó vẫn nhớ:
Chiến và Tường đều học đại học, Tường còn đeo kính...nhưng khi chỉ vào mình tôi hỏi:
" Đây có phải Tường không?". Nó lắc đầu quầy quậy:"
Tường gầy và đeo kính...". Nhìn bạn ngồi thu lu trong ngôi nhà nhỏ chỉ có 2 gian, tường vách vẫn để nguyên, chưa đủ tiền để trát tôi xót xa quá, vét hết số tiền trong túi được mấy trăm đưa cho vợ Phồm mà nghẹn lại không thể thốt lên lời...Ôi số phận những chiến binh quả cảm 30 năm sau cuộc chiến là như thế này đây !!!
Lào, Bình, Bắc quê Nghệ An (Diễn Châu và Quỳnh Lưu) đều chưa tham chiến vì vào trước chúng tôi có một ngày. Hai cậu Bắc và Lào là dân đạo gốc, chính vì thế những đêm trong hầm mỗi khi pháo địch bắn dữ dội thì 2 thằng lại lầm rầm đọc kinh cầu nguyện. Bắc nhà nghèo lắm bố mất sớm, khi đi bộ đội mẹ cho ăn no một bữa cơm không độn. Lúc lên đường gia đình, họ hàng gom góp cho cậu ta ít tiền, Bắc không dám tiêu, hy vọng trước khi đi B được về phép sẽ đưa hết cho mẹ. Nhưng rồi phép không được đi, số tiền Bắc mang theo vào đây không gửi về cho mẹ được làm cho cậu ta nhiều lúc ngồi trong hầm tần ngần với những đồng bạc trong tay... Bắc tuy nặng tai nhưng được cái rất nhớ đường nhất là về ban đêm. Đêm nào phải vào chốt đưa cơm và tải thương ra hoặc đi lấy lương thực, vũ khí ở bến sông có cậu ta thì rất yên tâm không bị lạc. Đã có đêm đi lấy gạo về đến giữa đường bị pháo kích, chúng tôi chạy thục mạng, tôi lao vào một bụi tre gai lớn bị bật gốc, ba-lô gạo trên lưng vướng vào các tay tre ở thế tiến thoái lưỡng nan không tài nào ra được. Khi về đến hầm không thấy tôi, Bắc cùng Lào quay trở lại đúng chỗ bị pháo kích và phải phát chặt đến gần 1 giờ đồng hồ mới lôi tôi ra được khỏi bụi tre gai. Bắc hy sinh tháng 10 khi đi lấy đạn về bị pháo bắn nhưng do không nghe thấy tiếng rít xoẹt trên đầu để lăn xuống tránh, một mảnh pháo chém vào gáy cậu ta. Còn Lào hy sinh khi đánh nhau ở Chợ Sải. Mộ của Bắc ở NTLS Triệu Long, còn Lào thì không tìm thấy xác như tôi đã nói ở phần trên...
Thằng Phùng đi học lớp cứu thương không biết bao giờ về. Hầm của Chiến dưới lùm tre te tua vì bom đạn nhưng lại gần giếng nước tiện cho sinh hoạt. Chiến lôi ra một nồi thịt bò thơm nức, thì ra tiểu đội nó cải thiện bằng cách đi săn. Ở đây bò, trâu vô chủ nên còn sót lại có thể săn bắn để cải thiện. Thì ra cánh đồng trước mặt hầm của tôi có rất nhiều xác trâu bò chết do bom pháo địch mà có thể cũng do quân ta bắn để cải thiện. Tôi và Chiến sẽ đi săn với nhau để có cái ăn và đồng thời tìm hiểu nơi mình đang ở để thỏa chí tò mò...
Cách hầm của Chiến khoảng hai chục mét là hầm của Tiến ở bên trong một khu vườn. Giữa vườn là một ngôi nhà khá đẹp có hành lang chạy xung quanh. Có lẽ đây là ngôi nhà còn khá nguyên vẹn vì mái chưa bị xập chỉ bị xô ngói. Ngôi nhà này là nơi trú ngụ của hai bà cháu, bà cụ yếu không đi được phải nằm lại, cô cháu gái phải ở lại chăm sóc. Họ ở dưới hầm ít khi lên khỏi mặt đất, anh em bộ đội thỉnh thoảng đưa gạo, ruốc cho họ.
Thời gian vừa qua mấy anh em c3 chúng tôi đã tìm ra địa chỉ gia đình của Lào, Sơn, Bắc và anh Tú tại Nghệ An và Hà Tĩnh. Chúng tôi đã tìm đến gia đình và thắp cho bạn mình nén tâm nhang sau mấy chục năm đằng đẵng đi tìm quê hương của họ. Âu cũng làm cho chúng tôi nhẹ nhõm cõi lòng trước người đã khuất.(
Trích Ngược dòng ký ức)
http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,17230.100.htmlhttp://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,17230.110.html