nguyentrongluan
Cựu chiến binh

Bài viết: 1246
|
 |
« Trả lời #333 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2013, 11:16:27 am » |
|
Cuộc hành quân lần thứ hai vào Tây nguyên ( tiếp theo và hết )
....... Ngày hôm sau xe chúng tôi qua Quảng Nam, Quảng Ngãi. Chúng tôi dõi trong màu nắng về những cánh rừng phía tây, nơi ấy có những Nông Sơn, Tiên Phước, có Ba Tơ, Thượng Đức mà nhớ tới các đồng đội ở trung đoàn 52. Chúng tôi nhớ ngày thủ trưởng Hồ Hải Nam dẫn trung đoàn đi về khu 5. Trong khói lửa chiến dịch Kon Tum năm 72 vừa tạm lắng, vừa chôn cất bạn bè ở 1049 đã vội vã đi làm nhiệm vụ mới, vội vã chia tay với sư đoàn để đi về một vùng đất mới đầy khó khăn, ai cũng bịn rịn bồi hồi. Trung đoàn 52 đã làm nên chiến công nổi tiếng Ba Tơ, rồi Thượng Đức.. . Ngày trở về với đội hình sư đoàn năm 1975 trung đoàn đã gửi lại mảnh đất khu năm này hàng trăm ngôi mộ chiến sĩ của mình. Xin gửi vào màu nắng màu gió khu 5 lời tâm sự nhớ thương của chúng tôi tới các anh. Đội hình hành quân lần này của chúng tôi thỉnh thoảng lại phải dừng lại để bổ sung quân số. Đó là những lão chiến sĩ nhập đội ngũ ngang đường. Từ Thái Nguyên Tuyên Quang, Sơn Tây, Phú Thọ họ về, mang theo cơm nắm cháu con gói cho, với bọc thuốc huyết áp, thuốc khớp …các bà vợ già chằng đụp để lên đường cùng đội ngũ. Qua Thanh Hóa, Nghệ An đội hình càng đông hơn. Và lại hệt như ngày xưa trên đường hành quân có đủ tiếng nói cười khu Ba khu Bốn, miền xuôi miền ngược. Những người lính ra về với núi rừng Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên nay lại đi trở về phương Nam mà lệ nhòa khóe mắt. Cái bi-đông lính thủơ nào nay là bình rượu ngô vợ chuẩn bị cho chồng chuyến đi xa. Bộ quân phục còn thơm mùi băng phiến, bàn tay chai nứt nẻ ruộng vườn. Phía trước là bao hương hồn đồng đội chờ chúng tôi. Ai mà chẳng rưng rưng thổn thức. Đi trên đường số 1. Qua bao nhiêu thành phố làng mạc, có lúc xe chạy trên bờ biển ngời ngợi màu xanh ngó lên Trường Sơn mờ xa mà tuổi trẻ chúng tôi băng qua với bàn chân tơ tướp ngày xa xưa. Con đường ấy chẳng thể nào quay lại, chẳng thể nào tìm lại được những đồng đội đã gửi thân xác trong hang núi hay vách đá suối sâu. Chúng tôi đang đi dọc đất nước, đi dọc Trường Sơn, đi ngược về phía thời trai trẻ của mình. Đêm thứ hai ngủ ở Tuy Hòa. Với tôi, Tuy Hòa là một đêm lộng gió mà lần đầu tiên tôi được ngủ trong vườn. Đêm 2/4/1975 ấy tôi đã từng hít gió biển và mùi tanh ngái của đồng lúa. Đêm ấy chúng tôi chôn cất xong bao nhiêu đồng đội ở chân núi Chóp Chài, ở chân đèo Cả. Những dũng sĩ đuổi địch nhào ra cửa bể Đông Tác, những dũng sĩ làm nên chiến công đánh tan hoàn toàn quân đoàn 2 của địch chạy nhào ra biển, bắt sống chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phú Yên. Các anh yên nghỉ ở đây trên bờ biển này, các anh mãi mãi nằm nghe lời ru của biển của sóng lúa Tuy Hòa thân thương. Ngày được ra về sau chiến tranh chỉ thoáng qua nơi này lúc chạng vạng tối. Bây giờ Tuy Hòa là một thành phố biển du lịch. Tôi miên man ngồi ngắm biển dưới hàng dừa hứng gió ngạt ngào. Chợt thấy thương người vợ già ở nhà một nắng hai sương không có may mắn được đi như tôi. Các đồng đội tôi cũng thế, ngoài 60 tuổi rồi nhưng dừng chân ở đâu là loay hoay đi tìm mua một thứ gì đó về tặng vợ ở nhà quê. Càng về già người lính chúng tôi đang cố gắng bù lại một khoảng đời trai trẻ chiều chuộng yêu thương mà mình thiếu thốn. Sáng hôm sau xe ngược đường 25 lên Cheo Reo Phú Bổn. Qua Củng Sơn Phú túc, vượt đèo Tu Na về thung lũng Cheo Reo... Con đường số 7 năm xưa đuổi địch đâu còn ghềnh thác mà đã phẳng lì trải nhựa êm ru. Ai cũng xốn xang nhoài ra cửa muốn ngó tìm những dáng hình thân quen một thủơ. Từ lúc xe vào huyện Sơn Hòa, cả xe xao xuyến rồi lặng im. Đây, con đường kẻ thù hãi hùng rút chạy tháng 3/ 1975. Đây, con đường mà người lính chúng tôi vừa đánh địch vừa giúp dân qua cơn hoạn nạn của cơn lũ di tản. Xe chạy dọc bờ sông Ba nước đỏ ngày nào, con sông nhấn chìm bao xe tăng và vũ khí hiện đại của kẻ địch. Bây giờ hiền hòa làm sao. Chúng tôi đi qua những cánh rừng ngút ngát là mía, là keo, đi qua nương rẫy chập chùng, đi qua những nhà máy mới mọc lên, nơi mà ngày xưa đuổi địch chỉ là rừng hoang với con đường heo vắng. Vượt đèo Tu Na chúng tôi nhìn thấy ngã ba hai con sông hợp lưu nên dòng sông Ba. Đây rồi hai con sông Adun và sông Pa chập vào nhau để làm thành thung lũng Cheo reo. Trời bỗng rộng ra với đồng lúa Adun Hạ tít tắp, nhà cửa phố xá tươi ngời ngợi. Ở cái thị xã này, nơi trận đánh lịch sử của sư đoàn chúng tôi đập tan đội hình mấy chục ngàn quân địch để rồi tạo nên đòn quyết định thứ ba làm xuất hiện thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam. Nhưng lạ quá không còn thấy đàn ông đóng khố cởi trần, không thấy thiếu nữ đeo gùi đi nương. Tiếng cười nói của trai gái áo quần xanh đỏ lanh lảnh rơi xuống ven rẫy bắp vừa thu hoạch thơm một vị thơm lâng lâng. Một đàn bò ăn nhởn nhơ lưng đèo bên cô chủ xinh tươi đang nhí nhoáy nhắn tin trên điện thoại di động. Mười giờ sáng, nắng vàng ươm trên cây hai cây cầu Sông Bờ và cầu Cây Sung. Chúng tôi thật cảm động khi gặp sư trưởng sư đoàn 320 Nguyễn Đức Hán đứng đón đoàn ở đầu cầu Cây Sung. Những cựu chiến binh trên xe aò xuống ôm lấy người chỉ huy trẻ của sư đoàn. Nước mắt rưng rưng, đây rồi người nhà đây rồi. Các CCB trung đoàn 64 ồ lên, trận địa mình đây rồi. Anh hùng Nguyễn Vi Hợi đứng lặng trong bãi rừng thưa lúp xúp ở cầu Sông Bờ, anh nhìn ra xa xăm, 37 năm rồi anh trở về đây, nhớ cái ngày 18/3/1975 hàng chục xe tăng đã bị đại đội anh thui cháy. Biển lửa Cheo Reo là chứng tích một trận truy đánh hoàn hảo của sư đoàn. Nhưng cũng ở đây trong cái ngày đập tan cuộc co cụm của quân đoàn 2 ngụy hơn một trăm chiến sĩ đã vĩnh viễn nằm lại. Từ trên xe, vợ chồng thiếu tướng Bùi Huy Bổng, vợ chồng trung tướng Khuất Duy Tiến bước xuống. Những người chỉ huy ngoài 80 tuổi tay rừng rực bó hương trầm dẫn đầu hơn một trăm người lính già tiến lên đài tưởng niệm. Chói chang nắng, ngạt ngào hương thơm và hoa mang từ Hà nội. Chúng tôi cúi đầu nghĩ về đồng đội. Trong lặng im thổn thức bỗng một con chim Kơ-Tia bay qua buông tiếng kêu như tiếng vọng từ mấy chục năm trở về. Tại thung lũng Cheo Reo này, hôm nay Thị ủy, UBND, MTTQ cùng hội CCB đã long trọng tổ chức lễ đón đoàn. Trang trọng là thế, uy nghiêm là thế mà nước mắt cứ nhòa đi. Trung tướng Khuất Duy Tiến nghẹn ngào nhắc tới hơn một trăm chiến sĩ nằm lại nơi đây. Có chiến thắng nào mà không xây nên từ hi sinh mất mát? Có hạnh phúc nào không đổi bằng sự khổ đau. Sự tích anh hùng là của lịch sử. Chúng tôi, những người lính thay mặt cho lịch sử làm nên chiến công. Chiến công là chiến công của lịch sử dân tộc. Chúng tôi tự hào vì được lịch sử đất nước chọn lựa đứng vào đội hình ngày ấy. Tạm biệt thung lũng Ajun Pa xinh đẹp, đoàn chúng tôi vượt đèo Chư Xê về Plây-cu. Còn đây, con đèo đẹp như trong mơ, xanh ngút ngát hồ tiêu và cà phê. Nơi đây tháng 3/1975 trung đoàn 48 đã kịp hành quân chặn đánh kẻ thù. Từ hướng này trung đoàn 48 đã áp vào Buôn Hồ làm đà cho trung đoàn 64 tiêu diệt địch. Đứng trên đỉnh đèo nhìn về Cheo Reo một màu xanh như khói, những vạt hoa cúc quì chạy miên man xuống chân đồi. Trận địa năm xưa bây giờ như một bức tranh, để chúng tôi mang theo trong lòng về quê hương miền Bắc. Chiều Plây-cu nắng ươm heo heo trên từng phố núi. Thành phố thanh bình là thế mà mấy năm chiến đấu ước mơ tiến vào thành phố vẫn không thành. Phía xa kia, những ngọn Chư-groong-rang, Chư-gara sầm sẫm. Nghĩa trang Plây-cu nhìn quay ra phía ngọn Hàm Rồng. Nghi ngút khói hương, ầng ậng nước mắt của tướng lĩnh của những người lính già đi dọc hàng quân xếp hàng từ mấy chục năm nay. Chiều nắng, vòng hoa của đoàn cứ rưng rưng vàng, cứ như đâu đây đồng đội chúng tôi vừa qua cơn sốt. Sống khôn thác thiêng xin các anh chứng giám. Rằng, chúng tôi đã về đây dẫu dù có muộn. Các anh thì trẻ, chúng tôi thì già. Đồng đội ơi! Chiều nay, chúng tôi xếp hàng vào nhà tưởng niệm sư đoàn. Bốn bức tường ghi tên mười bốn ngàn liệt sĩ của sư đoàn tôi. Đồng đội ơi, hãy đội đất trở về đi, để sư đoàn ta làm thành mấy sư đoàn. Hãy xếp hàng cùng chúng tôi, để ngắm nhìn tổ quốc mình bây giờ tươi đẹp hùng vĩ đổi thay. Đồng đội của các anh chắt trong nghĩa tình tâm can đúc nên quả chuông để hôm nay mang về đây dâng lên tượng đài. Trong thinh không xin gửi tiếng chuông nối miền tâm thức của chúng tôi với linh hồn đồng đội. Tiếng chuông đưa chúng tôi về cõi lặng ở đó không có sự bon chen, đen bạc đời thường, tiếng chuông đưa chúng tôi về đứng trước các anh để soi lòng mình cho rõ, để ngộ ra rằng mình có xứng đáng với thương hiệu người lính Đại đoàn Đồng Bằng hay không? Chiều trước khi rời Plây-cu, đoàn chúng tôi đi dọc đường 19 kéo dài. 40 km thôi, thế mà suốt ba năm ròng Sư đoàn lăn lộn đánh địch giành dân, nhịn đói nhịn khát mà chiến đấu, mà hứng chịu pháo kích Hàm Rồng, pháo Thanh An, pháo Mĩ Thạch và những trận bom của máy bay địch từ sân bay Cù Hanh. Chúng tôi sống kiên cường và làm nên chiến công Đức Cơ, Thánh Giáo, Chi Bồ, Chư Nghé, Lệ Ngọc, đồi 30, đồn Tầm, chốt Mĩ … vẫn sừng sững kia, ngọn Chư-rông-rang, chư-gara, làng Dịt. Chúng tôi đi trong bạt ngàn rừng hoa cúc quì, trong bạt ngàn rừng cà phê cao su hồ tiêu, những cứ điểm năm xưa bây giờ là phố thị là nhà hàng là những mái ngói trẻ trung phơi phới. Chúng tôi cứ nghĩ mỗi bông hoa Cúc Quì kia là một linh hồn còn trẻ. Vì thế hoa muôn đời rưng rưng vàng ngả nghiêng trong gió. Hoa nhiều quá và gió cao nguyên nhiều quá. Trong màu xanh rưng rức kia có máu của anh em sư đoàn chúng tôi, hương hồn liệt sĩ sư đoàn đã hóa thành hoa thành trái thành niềm tin hi vọng của cao nguyên. Chúng tôi nhớ tới các đồng đội ở những đơn vị bạn đã gắn bó sẻ chia hiểm nguy với sư đoàn ngày ấy. Chúng tôi nhớ tiểu đoàn 631, nhớ trung đoàn pháo phòng không 593, nhớ tiểu đoàn đặc công 198 nhớ trung đoàn 40 trung đoàn 675… các đồng đội ở huyện 4, huyện 5 Gia Lai gian khổ. Chúng tôi không quên đội điều trị 17, mãi nhớ những cô gái rừng xoài Đức Cơ ngày xưa. Chúng tôi ra về mà bần thần không muốn rời xa cán bộ chiến sĩ sư đoàn. Thật xúc động khi gặp đội hình các cán bộ cấp trung đoàn đứng chào nghiêm trang khi đoàn đi tới đại bản doanh Sư đoàn. Chúng tôi lại gặp đây Thăng Long, đây Quyết Thắng, đây Đông Biên (Tây tiến) đây Kinh Thanh, những cái tên hào sảng một đời trận mạc. Chúng tôi cảm động khi nhìn Sư đoàn trưởng Hán và toàn bộ ban chỉ huy nhiều ngày vất vả bận rộn tổ chức đón đoàn. Ai cũng rưng rưng nước mắt khi thấy Sư đoàn trưởng Hán vừa khóc vừa đỡ tay thiếu tướng Bùi Huy Bổng lập bập xuống xe. Chúng tôi về với ngôi nhà của mình trong tình yêu sâu nặng mang thương hiệu Đại Đoàn Đồng bằng. Mai chúng tôi về, xin gửi niềm hi vọng nơi các anh, những cán bộ chiến sĩ sư đoàn đang gánh nhiệm vụ gian khổ mà vinh quang trên nóc nhà của tổ quốc. Chúng tôi, những người lính già của sư đoàn trân trọng gửi niềm tin vào truyền thống sư đoàn.
Tạm biệt cao nguyên, tạm biệt nơi một thời máu chúng tôi đã đổ, tạm biệt nơi tuổi trẻ đời mình, chúng tôi ngược Kon Tum về miền Bắc. Chúng tôi lại qua dòng Đakpla, qua Tân Cảnh, Đăk Tô. Chúng tôi kính cẩn nhớ tới đồng đội sư đoàn 10 đang nằm trên mảnh đất này. Ngoái nhìn phía tây Đăk Tô, vẫn nhận ra ngọn 1015 xám bạc, vẫn nhận ra ngọn 1049 lở lói. Tôi ngước nhìn sang trung tướng Khuất Duy Tiến. Ông già lặng im. Khi xe chạy vào đoạn để nhìn rõ ngọn 1015 ông ngó sang trái, ông thẫn thờ, giọt nước mắt người tướng già ứa ra. Tôi hình dung ra cái ngày 12, 13 tháng tư năm 1972. Hơn hai trăm dũng sĩ của trung đoàn 64 mãi mãi không về. Chúng tôi chạy dọc con sông Pô Kô, chúng tôi chạy dọc kí ức máu lửa của đời mình. Chúng tôi đã tìm về nơi trong sạch nhất của tâm hồn mình. Chuyến đi này là một lần thắp sáng lại niềm tin trong chúng tôi, chuyến đi này chiêm nghiệm cho một cuộc đời, cuộc đời người lính. Xe lên đèo Lò Xo. Hơn một trăm lính già lặng lẽ bồi hồi nghe lời bài hát của một CCB trong đoàn… “ thắp sáng một niềm tin tương lai , thắp sáng một niềm tin không phai . Đồng Bằng ơi! Mãi gọi tên Sư đoàn …”
Pờ lây cu 6/12 Hà nội 12/12/2011
|