Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:36:53 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người cùng quê - Tập 1  (Đọc 126355 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #10 vào lúc: 17 Tháng Chín, 2015, 02:10:10 pm »

*
*    *

Sáng rõ mặt người. Cả Chanh nhất định vào nội thành tuy cha con ông Hai Rề cố can. Hai đứa nhỏ dậy muộn - đêm qua cô Thùy bắt chúng chui ngủ dưới gầm phản - ngơ ngác nhìn ông khách từ trong buồng xép bước ra, mặc quần đùi và áo ba lỗ, cái bao tải vắt vai. Anh đã nuôi được bộ râu khá rậm quanh mồm. Ông Hai cắt tóc cho anh theo kiểu nồi đất và chừa hai mớ tóc gọng kính ngoặc ôm vành tai, khuôn mặt anh trông khác hẳn đi.

Trời trở gió bấc hơi mạnh và se lạnh. Bãi biển và mặt biển đều vắng ngắt, sóng đập ồn hơn mọi ngày. Lính Nhật đã đứng gác trước các công sở, cầm ngang súng trường lắp lê, đội thêm mũ sắt trùm lên trên cái mũ vải “ba rèm” che gáy và hai tai. Chúng câm như hến, chỉ hẩy lưỡi lê xua những ai đi qua gần chỗ gác.

Chanh đi liều qua trước đồn Ga-li-ê-ni, sát mé đường bên kia, liếc nhìn vào sân đồn. Lính Pháp bị bắt đang khiêng các xác chết xếp dồn lại trước trụ cờ. Kẻ chết và người sống đều mặc đủ quân phục, quấn xà cạp và đi giày đinh hẳn hoi: Pháp không bị bất ngờ. Rất nhiều xác lính có băng đỏ quấn ngang bụng, anh nhận ra lính Đê theo lời tả của cô Thùy.

Trên đường phố, từng nhóm quân Nhật đội mũ sắt và cắm lá trên lưng đang đi tuần, men sát tường nhà, mắt gườm gườm.. Một chiếc xe tải dừng xịch trước cây xăng trên vỉa hè, hẳn là để bắt nộp xăng dầu. Cửa hàng Đai-nan Kô-si ở phố Gia Long mở toang cửa, năm bảy người trẻ tuổi mặc sơ mi ngắn tay và quần soóc nghênh ngang ra vào, cười hô hố, bắt đầu đeo vào tay áo cái băng trắng in hình tròn đỏ của cờ Nhật, nhưng' chưa kịp cạo trọc đầu làm Nhật lô-can 1, cũng chưa được phát võ khí.

Đúng như Chanh đoán trước, ngoài đường không còn tên cảnh sát nào. Nhật chỉ soát tìm súng hay lựu đạn, không soát giấy, anh yên trí hẳn, dừng đọc mấy tờ thông cáo in chữ to dán trên tường, từng lúc suýt bật cười vì câu chữ lủng củng và in sai lu bù.

Bản Tuyên-ngôn của Chánh-phủ Đại-Nhựt.

Quân-đội Nhựt vì sự phòng thủ Đông-dương cho nên định triệt-bãi công-chức Pháp ngang-nghịch với Đại Nhựt-Bổn và ban-trợ phương- tiện cho công-chức đương-hành mà có thật-tâm cộng-tác với Nhựt-Bổn như thế để có thể cộng-tác mà đạt được mục-đích nói trên...
Trên một tờ khác, “Quan Tổng-Tư-Lịnh Quân Đội Nhựt” hăm dọa rất gắt: “Những người nào bất cầu đại tiểu trở-ngại đến cuộc hành-binh của quân-đội Nhựt thì sẽ chiếu quân pháp mà nghiêm trị...”


Một ông già đứng đọc bên anh lẩm nhẩm:

- Lính của họ, họ còn bắt đứng gạc-đa-vu 2 đánh cho hộc máu nữa là dân mình.

Thấy có người bên ngoài, một bà đánh bạo hé cửa dòm ra, thì thào.

- Ai bắn ai vậy các ông? Giấy gì đó ông?

Ông già quay lại:

- Lính với quân đánh nhau. Giấy dán trước nhà bà, ra coi chớ thập thò gì nữa... Không biết chữ hả? Họ biểu mình xê ra cho họ uýnh lộn thả cửa.

Chanh bỏ đi, vẫn tức cười. Tụi Nhật không dám tin người Việt Nam đến cái độ phải dùng người Nhật viết thông cáo, kể cũng lạ. Ngay cả những tờ báo lá cải hay kiếm hiệp ba xu cũng không dám in những dòng ngô nghê như thế.

Đường phố vẫn thưa người qua lại, chỉ có đàn ông ra khỏi nhà nghe ngóng xem các thông cáo. Tiệm vải Lợi Thịnh đã gần, một căn phố hai tầng quét vôi trắng, đã lâu không quét lại nên màu xỉn và loang xám. Chanh băng ngang đường sang vỉa hè bên kia, thong thả đi tới. Một bắp thịt nào đó trong bụng anh chợt thít lại, đan đau.

Cửa lùa mặt trước tiệm đóng kín. Cửa xép chỗ hông bên phải cũng đóng. Chỉ có cửa sổ trên giác đang mở nhưng không có bóng người. Chanh bỗng thấy chân mình mỏi nhừ, anh gượng đi thêm vài chục bước rồi ghé vào một thềm nhà, ngồi xệp chỗ góc tường khuất, nhìn đăm đăm vào chỗ cửa xép thường chạy thẳng vào sân sau, nhà bếp. Chủ tiệm nằm nhà thì phải có đứa ở đi chợ hay mua quà sáng. Nhỏ như thằng Cam ắt được sai vặt như thế. Nó sẽ ra, sẽ ra...

Một cặp máy bay Nhật lướt qua, bay thấp hơn mọi ngày, bóng một chiếc quét ngang mặt đường nhựa. Chanh ngồi dựa ngửa đầu, lim dim mắt trông chừng bên kia, cố nghĩ xem mặt mũi đứa em bây giờ ra sao.

Anh là con đầu lòng, tuổi Thân. Nó thứ sáu, cũng là tuổi Thân, thua anh chẵn mười hai năm, như thế vào năm Dậu này nó mười bốn tuổi ta, tức mười ba tuổi tây. Anh theo cha vào Qui Nhơn khi nó mới được vài tháng, đang ngọ nguậy trong nôi. Lần cuối cùng anh trông thấy nó là năm 1936: anh được nhận vào làm thợ học việc trong đề-pô xe lửa Qui Nhơn theo cha về thăm nhà mươi hôm rồi trở vào một mình đi thẳng một hơi cho đến nay. Trong chục ngày ấy anh cõng nó đi tắm sông, tập cho nó thôi nói ngọng, kể chuyện vùng biển có cá ông voi nuốt người vào bụng nhiều đến nỗi người ta lập một làng trong bụng cá. Hồi ấy mặt nó tròn phình như trái cà chua, chân tay bụ bẫm. Năm ngoái cô Thùy lại thấy nó ốm nhom mà cao cao...

Chanh nặng nề đứng dậy, vất mạnh cái bao tải lên vai. Không nên đợi, cũng không thể gõ cửa nhà Lợi Thịnh hỏi nó. Anh em sẽ không nhận ra nhau, anh sẽ phải kể hết tông tích với nó trong khi đang cần giấu mặt. Và có thể vợ lão phủ Đỉnh sẽ căn vặn về con người lạ mặt, nó không chối quanh được mãi.

Một tốp lính Nhật nữa đi qua, không đội mũ sắt và cắm lá, có một thanh niên chừng hai mươi tuổi đeo băng in cờ Nhật đi theo, giải một tên Pháp cao lênh nghênh bị trói tay sau lưng. Chanh thoáng thấy dưới mũi hắn có một mảng rất trắng nổi rõ trên da sạm nắng: hắn vừa cạo bộ râu mép rậm để đổi dạng. Anh chợt nhớ bộ râu mới nuôi đang bao quanh miệng mình, thấy buồn cười.

Anh rẽ sang một đường hẻm, tìm nhà Bảy Tộ. Chưa giao được việc lớn cho cậu lái xe lửa kiêm buôn lậu này, nhưng hắn có thể dò tìm thằng Cam cho anh. Hắn khôn lắm, chắc trong lúc quân hồi vô lệnh hắn chẳng vội tới nhà ga đâu.

Cũng trong buổi sáng ấy, Cam xách cái giỏ mây rỗng đi băng qua vùng nhà lá thưa thớt của xóm Bàu, về phía chợ xép họp trên đường ô-tô vào Gành Ráng.

Chợ vẫn đông như mọi ngày, chỉ có các tiệm người Tàu không mở cửa, có lẽ họ thấy chộn rộn đang lo chôn của và dò giá mới. Chị hàng xén vừa bày mấy thứ ra sạp. Nghe Cam rỉ tai mấy câu, chị vội thu hết vào bồ, buộc nắp, gửi bà bên cạnh coi giúp, kéo Cam vào trong nhà:

- Anh Năm bị sao mà phải mua đồ băng bó? Ăn uống được không, hay là...  Ảnh đang ở đâu? Em là gì của ảnh? Nói mau đi!

Chị hỏi dồn không kịp lấy hơi, lại cứ giục Cam nói. Nhưng anh Năm cấm không được kể với ai là  anh đang ở nhà thím Lụng. Bác cai Sáu sợ quá đã đeo khăn gói chạy thẳng lên Tuy Phước ở nhà bà con, anh Năm Chò bị đạn xuyên qua đùi không đi xa được, phải về đấy núp trong buồng vợ bác Sáu.

Cam ấp úng một lát rồi phải nói thật. Coi bộ chị này không dính dáng với Tây Nhật, mà thương anh Năm rất ghê. Nó tin  anh, tin luôn những ai thương anh.

Chị nghe xong, ra gánh luôn đôi bồ vào nhà cất kín.

- Chị nhớ rồi, em là thằng Cam phải chưa? Ảnh có kể mà chị quên. Ngồi đợi chút, chị đi sắm các thứ ảnh dặn. Gì chớ rượu thì đừng hòng chị cho uống! Ăn kẹo đi nè!

Nửa giờ sau, hai người xách hai giỏ nặng lội cát đi về xóm Bàu. Qua những câu đứt đoạn, Cam biết đây là chị Tư Toản, hay bán rượu lậu cho lính đồn và riêng cho anh cai Năm, “cũng bồ bịch với nhau chút đỉnh mà chưa tới đâu hết”. Người chị gọn và khỏe mặt cũng dễ coi nhưng lấm tấm nhiều tàn hương trên gò má cao.

Bước vào nhà, chị nói bô bô:

- Chào chị Sáu, tôi tới thăm Năm Phi Đao đây. Ảnh đâu rồi?

Thím Lụng giơ tay như muốn bụm miệng chị Tư:

- Tôi chắp tay tôi lạy cô, Nhựt Bổn họ tới đốt nhà, bắt bỏ tù hết...

- Ối trời đất cha mẹ ơi, cai đội người mình kéo đi hôi của rển rển ngoài đường kia, có đâu trốn chui trốn lủi như thầy cai Sáu với thầy Năm! Lão đội Chầm mới sáng đã tới đập cửa nhà tôi hỏi rượu, mà phải thứ nước nhứt để lão cúng tổ, tạ ơn đạn Nhựt xẹt rách áo mà chừa cái bụng! Chắc  anh Năm rúc dưới giường nhà chị chớ gì? Tôi vô coi ảnh ngột thở hay chưa!

Chị xách giỏ bước thẳng vào buồng trong. Anh Năm Chò mặc may-ô quần đùi nằm trên giường, chân trái gác trên gói áo quần và quấn vải trắng giữa đùi, có vết máu loang bầm. Anh chắp hai bàn tay lót sau gáy, không nhấc đầu lên, chỉ cười tủm tỉm:

- Bông-rua cô Tư! Cái lưỡi cô còn bén hơn mớ phi đao của thằng Năm. Tôi có năm lưỡi thôi, cô được mấy?

- Không bén mà sống nổi với anh...

Chị nói được bấy nhiêu rồi đặt phịch cái giỏ xuống, ghé ngồi cạnh giường, đặt bàn tay run rẩy vào chỗ vải băng:

- Anh Năm... trúng xương không anh?

- Chỗ thịt thôi. Không làm độc thì mươi ngày đi được.

Chị Tư úp hai bàn tay trên mặt, bật khóc hu hu mà cố nói:

- Báu gì... mấy đồng lương lính.... mà anh thí thân thí xác vậy. Anh chết đi, em ở với ai... Một ngày là nghĩa, chuyến đò nên quen, em đâu phải như tụi đĩ bợm mỗi lần chơi một lần tiền... Không gì cũng từng trăng thề quạt ước với nhau, anh về ở nhà em nuôi...là cái ngãi tào khương...

Chị xì mũi cả hai bên, kéo cái giỏ lại, rút ra liên tiếp một gói giấy loang mỡ, một hộp bánh bích-qui tây in màu sặc sỡ, một chai lít vuông nhét nút lá chuối khô, hai hộp sữa Con chim.

- Tính không cho anh giọt nào nữa hết... Anh bị nhẹ, thôi, uống chút ít cũng được. Anh nhậu với ba-tê gan đây, sơ sơ vài ly... Cam, bắc giùm chị nửa siêu nước sôi, giỏi đi em!

Chị đưa anh Năm con dao tám lưỡi của lính Tây có đủ thìa nĩa xếp gọn vào cán, rồi thoăn thoắt ra nhà ngoài, thì thào một hồi với thím Lụng. Thím nghe ừ ừ và gật đầu liên tiếp, mặt tươi lên dần, thím te tái vào buồng:

- Chú Năm có cô Tư đây trông coi rồi, tôi gởi nhà đi một lát nghen. Đụng người vợ như cô Tư là số chú hên lắm đó!

Chị Tư soạn cái giỏ của Cam, lấy ra mấy gói băng cấp cứu của lính, pha thuốc tím vào nước nóng, xoa cồn 90 cho vào tay, thạo như y tá nhà nghề. Anh Năm cứ uống nhấm nháp, ăn ba-tê, trong khi chị rửa vết thương và kể dài dài:

- Em hỏi rồi. Lính Tây rúc trong lô-cốt, không dám chạy mà cũng chống cự ít, phần lớn ra hàng khỏi chết. Lính mình khôn nhứt, anh nào cũng xếp sẵn một khăn gói, súng nổ gắt là vạch rào trốn hết. Tội nghiệp đám lính Đê, bị Tây bắt nằm dưới tăng-sê dọc rào thép gai, dặn hễ bỏ chạy là xử tử, mấy cha ở đó bắn miết, bị Nhựt giết nhiều quá. Họ bò phía sau tới, ném thử tạc đạn xuống tăng-sê... Nhựt ít quân lắm anh ơi. Họ lén treo mấy chục dây pháo chung quanh đồn, thứ pháo to thiệt dài mua ở tiệm Tàu đó, chích lửa. Lính Đê thấy lửa nháng, nổ rẹt rẹt đùng đùng, cứ nhè chỗ đó mà bắn. Nhựt đi vòng tới sau lưng không biết. Sáng ra, tụi con nít đi rình hôi của chung quanh đồn thấy xác pháo dồn từng đống sau các bụi cây, nhiều nhứt là phía biển... Hồi nãy em nói với chị cai Sáu là nói thiệt đó anh. Nhựt nó lo tìm bắt Tây thôi, sức đâu đi tìm lính mình đang chạy tứ tung... Mấy đứa cảnh sát, mật thám lột áo trốn hết. Lý trưởng hương hào nằm nhà im xo, đợi coi vua quan làm ăn ra sao. Nghe nói ông vua Bảo Đại bị nhốt cứng, quan Toàn quyền bị chặt đầu... Ôi chao, ngó đi ngó lại  anh xài mất nửa lít rồi! Uống giải khuây bấy nhiêu, khui bích qui ra ăn đi. Chị Sáu chưa về nấu cơm đâu, em bày cho chị cái tuy-ô mua đồ ăn cắp, đồ hạng nhì thôi, hạng nhứt tối nay có xe kéo chở tới nhà em. Lính Nhựt tới gác nhà Tây thiệt là khờ, cứ đứng ngang cổng trước như trời trồng, người mình vô cửa sau khuân đồ ra xe kéo sạch trơn... Anh ở tạm đây ít bữa, đi cà nhắc được rồi em đón về nhà ở với nhau, đón luôn thằng Cam nữa, chòm xóm nói gì cứ kệ cha họ. Đời con Tư Toản này ba chìm bảy nổi hai mươi mốt lênh đênh, chẳng ai nuôi bữa đực bữa cái nào đâu mà đòi dạy nó sự phép tắc lễ nghi!


----------------------------------------------------------
1. Tiếng Pháp. Local: bản xứ, địa phương.
2. Tiếng Pháp. Gárde-à-vons: đứng nghiêm.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #11 vào lúc: 17 Tháng Chín, 2015, 02:16:18 pm »

*
*    *

Các giáo sư trường Luật đều bị bắt hoặc đi trình diện với Kem-pê-tai 1 không ai đến. Mấy ông trợ lý lảng vảng thăm dò tình hình, ghé văn phòng một lát lại bỏ đi. Từng nhóm sinh viên qua lại ngoài sân, truyền cho nhau rất nhiều chuyện thục có hư có về cuộc đảo chính đêm qua.

Hai Khánh ra Hà Nội được hơn một tuần tin súng nổ. Chuyến thăm quê của anh gặp nhiều may mắn, xe lửa không bị máy bay bắn, đồ đạc không bị mất cướp hay mất cắp. Sau cơn giận hờn, Mỹ Duyên xoay được vé toa nằm cho anh đi chung với quan Tây chỉ dặn anh phải mặc com-lê ca-vát và cho tiền người hầu kha khá. Khi hôn nhau thật dài để chia tay nàng nhét một phong bì khá dày vào túi áo vét-tông của anh, về sau đếm được một ngàn hai trăm đồng, gần gấp đôi số tiền bà Lợi Thịnh cho anh. Tội nghiệp cho bà dì mới mười chín tuổi! Anh chấm hai ngón tay vào môi, ném qua cửa sổ toa xe đang chạy một chiếc hôn gió gửi Xi-mo-nét.

Khánh đi từ nhóm này sang nhóm khác, lượm những mẩu tin đôi khi rất khó tin. Nghe nói sinh viên Y khoa rất bốc sau đảo chính. Bốc là phải, Tây đổ thì họ ra bác sĩ sẽ làm trùm làm trưởng tha hồ. Sinh viên Luật xem chừng âu sầu cho thân phận mình nhiều hơn.

Nhưng không phải ai cũng âu sầu. Một gã đeo kính trắng và cắt tóc dài kiểu phi-lô vừa nhảy lên bậc thềm, vành tay lên miệng:

- Xin mời các bạn đến nghe tuyên ngôn cua Thanh niên ái quốc đoàn. Thanh niên ái quốc đoàn đã kịp thời lên tiếng trước thời cuộc. Muốn hiểu vận hội mới của quốc gia, xin mời nghe tuyên ngôn...

Hai Khánh giữ thái độ độc lập của bậc trí giả, chỉ bước tới thong thả và đứng vòng ngoài, đút tay túi quần nghe gã kia đọc tờ giấy đánh máy. Gã đọc chật vật có lẽ vì máy chữ không có dấu. Chung quanh Khánh nhiều bạn bọc xì xào.

- Thằng Nham ở năm thứ hai. Dốt, rờ-ca-lê 2 một keo.

- Nó đang luyện mép để ra làm thầy cãi...

- Cãi vã gì nó. Làm chính khách!

Thêm một cái tên phe phái mới ra lò sau mươi phút bàn bạc của một dúm người lựa gió phất cờ. Từ sáng đến giờ Khánh đã nghe vô số cái tên kêu to như thùng rỗng: Cách mạng đảng, Quốc xã đảng, Phục quốc hội, Hưng Việt đồng minh, Quốc gia liên minh. Chỉ có cái tên Quốc dân đảng là quen tai, nhưng lãnh tụ Nguyễn Tường Tam của họ biến đâu mà lâu thế?

Tiếng cười nổi to dần khi gã đeo kính đọc lầm liên tiếp. Khánh bỏ ra góc sân, mỏ khóa xe đạp, qua cổng. Anh đạp chậm một vòng, ngao du xem cảnh đường phố trong “vận hội mới”.

Nhà hát lớn vắng ngắt. Hiệu ăn Con gà vàng đóng cửa. Nhà hàng Gô-đa đóng cửa. Vườn hoa Pôn-Be đầy người chạy nạn đói từ nhà quê ra. Trước Ngân hàng Đông Dương, một đám đông túm tụm chờ rút tiền, nhưng mấy chục lính Nhật chặn cứng mặt trước, có cả mấy họng súng máy chĩa sẵn.

Đường Bờ sông có vẻ bình thường hơn với những nhóm phu phen đi lại, nhưng vắng xe tải. Đạp thêm một quãng nữa, Khánh đã thấy chán nản. Tăng Nhật bớt Pháp là hết chuyện. Anh rẽ qua trước nhà thương Đồn Thủy, chợt thấy một dáng quen quen ra khỏi cổng. Một sĩ quan Nhật không râu mép, không gươm dài, chỉ đeo súng ngắn và cái xắc-cốt treo đứng. Anh lái xe chầm chậm tới gần, gọi:

- Kon-ni-chi-oa, Ta-kê-đa-xa. 3

Viên sĩ quan giật mình quay lại, gật đầu:

- Kon-ni-chi-oa!

Khánh xuống xe đi cạnh viên trung úy quân y. Vốn liếng tiếng Nhật của anh chỉ có mấy từ chào hỏi. Hai người nói tiếp bằng tiếng Anh. Ta-kê-đa là sinh viên y khoa chính gốc Đông Kinh, nói tiếng Anh khá thạo và mới sang Đông Dương hơn nửa năm. Khánh gặp gã này khi gã đang lúng túng hỏi anh phu xe kéo phải trả bao nhiêu tiền, đó là chuyện lạ, bọn sĩ quan Nhật chỉ quen rút một khúc gươm ra khỏi vỏ và thúc trở vào đánh cốp, thế là xong. Thấy anh kéo xe giơ hai ngón tay, gã hỏi gặng bằng tiếng Anh: “Tôi không hiểu. Hai đồng hay là hai mươi xu?”. Khánh từ trường Luật về, ghé lại dịch hộ gã phải trả hai mươi xu. Gã rất mừng gặp người biết tiếng, hẹn gặp Khánh chiều hôm sau trong tiệm cà-phê nhỏ gần Đồn Thủy. Họ chơi với nhau từ dạo ấy.

- Trước tiên, xin chúc mừng  anh nhân dịp chiến thắng lớn của Hoàng quân Nhật Bản. Các anh đánh giỏi tuyệt vời.

- Cảm ơn anh. Riêng tôi không nổ phát súng nào cả.

- Tất nhiên. Nhưng  anh tạo nên sức khỏe của quân đội. Cấp trên đã nói gì về số phận của Đông Dương chưa?

Ta-kê-đa khẽ mỉm cười:

- Ta đi uống cà-phê nhé? Xong, tôi sẽ ngủ một giấc đến tối... Theo tin Đô-mây, thủ tướng Koi-xô sáng nay đã tuyên bố tôn trọng chủ quyền quốc gia các xứ Đông Dương. Vua Bảo Đại có thể ngồi yên trên ngai vàng. Chắc anh vui lòng?

Hai người vào tiệm cà-phê cũ. Bà chủ mọi hôm hay lánh mặt, nay ra tiếp họ xoắn xuýt. Viên trung úy gõ gõ ngón tay, lơ đãng:

- Anh gọi hộ tôi một cốc cà-phê lớn, pha rom gấp đôi. Tôi đang cần uống. Tôi mệt và buồn ghê gớm, anh Khánh ạ.

Uống đến cạn nửa cốc cà-phê, gã mới dằn từng tiếng:

- Chiến thắng... đúng là quân chúng tôi đánh khá. Nhưng thắng mà làm gì? Táo bạo để làm gì?... Anh gọi cho tôi thêm hai ly cô-nhắc. Anh cũng uống với tôi đi. Hãy chạm cốc, cùng tưởng nhớ nước Nhật đang chết.

Thấy vẻ mặt sửng sốt của Khánh, gã cười rầu rĩ:

- Đừng tưởng tôi say. Đã uống đâu mà say... Bạn tôi là đại úy thông tin, lén báo cho tôi sáng nay: Đông Kinh vừa bị một trận bom lửa chưa từng có trong lịch sử loài người, ở đây chúng tôi nổ súng đánh Pháp lúc chín giờ tối, ba tiếng sau có chừng bốn trăm chiếc pháo đài bay B.29 dội bom cháy xuống Đông Kinh. Mỗi chiếc chở tám tấn bom, anh thử tính xem. Nhà tôi ở khu phố Bun-ki-ô, nhà gỗ, vách giấy bồi, lọt trong đường hẻm chật, khó chạy thoát... Còn vợ sắp cưới của tôi nữa. Tô-si-kô phải bỏ học đi làm cứu thương, bom đến mấy cũng không được rời trạm cấp cứu...

Một nhóm lính Nhật bước tới cửa, tần ngần dừng lại khi thấy viên sĩ quan. Ta-kê-đa đanh mặt, vỗ mạnh vào bao súng ngắn, quát to như sủa:

- I-chi-ma-ê! 4

Bọn lính rập chân chào, bỏ đi nhanh.

- Mặc kệ chúng nó. Lỡ có đứa biết tiếng Anh, nghe lỏm... Hà Nội có tất cả mười vạn dân, đúng không? Chính phủ Nhật báo tin ước tính có mười hai vạn dân Đông Kinh chết chạy đêm qua. Chúng tôi đoán phải nhân đôi con số ấy.

Khánh giương to mắt:

- Thế... không quân Nhật? Đại bác phòng không?

- Máy bay Dê-rô và Ru-phê rụng cánh gần hết rồi. Cao xạ chỉ bắn tới tám cây số, mà B.29 bay cao trên mười cây số. Lập đội Ka-mi-ca-dê tự sát để đánh tàu chiến chứ không chống được máy bay... Nước Nhật đang chết. Những người thân của tôi đã và sẽ chết. Thêm một cô-nhắc nữa đây!

Gã ép hai nắm tay vào thái dương khá lâu trước khi uống cạn ly rượu cuối cùng, lảo đảo đứng lên. Trên đường về Đồn Thủy, Khánh đắn đo hỏi:

- Nghe tin các anh, lực lượng nào sẽ làm chủ Đông Dương?

- Việt Minh. Rõ quá rồi. Pháp đã hạ súng đầu hàng. Nhật sẽ bại trận chẳng trước thì sau. Chỉ còn một mình Việt Minh đủ sức nắm quyền. Nghe nói họ là cộng sản, Anh Mỹ không ưa họ. Cần gì, họ liên kết với nước Nga là mạnh chán.

Bắt tay nhau trước cổng nhà thương, viên trung úy còn nói thong thả và rất tỉnh:

- Nếu tôi là người An Nam như anh, tôi đã theo Việt Minh từ lâu rồi! Tạm biệt nhé!


---------------------------------------------------------
1. Tiếng Nhật. Hiến binh đội: tổ chức kiểm soát dân chính của quân đội Nhật.
2. Tiếng Pháp. Rơ-ca-lê: thi trượt
3. Tiếng Nhật: Chào ngài Ta-kê-đa
4. Tiếng Nhật: cút đi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #12 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2015, 01:28:30 pm »

6.

Trước khi vượt ngục Kon Turn, Cả Chanh được giao một số đầu mối liên lạc ở Quy Nhơn và Hội An. Đồng chí nắm đầu mối Tu-ran đã bị chuyển đi lao Ban Mê Thuột, chưa móc nối được. Chanh không được phép ghi chép gì hết, anh phải học thuộc lòng họ tên, tuổi, địa chỉ, nghề nghiệp, mật hiệu của từng người.

Khi bàn với ông Hai Rê chọn người đưa thư - những lá thư thăm hỏi có mật hiệu chen vào - Chanh thấy ông Hai chẳng tin ai cả. Đến con gái ông cũng khó tin cậy.

- Nói thiệt với chú, chưa qua đòn tra mật thám thì đố biết ai vững ai hèn. Thằng Xuân chạy trốn khủng bố đó, tôi nuôi như ông hoàng, bị đánh đau nó dẫn mật thám tới nhà, chỉ giữa mặt tôi cho bắt. Thôi thì đủ thứ kềm sống, kềm chín, kẹp ngũ trảo, bốn lần tra điện nữa, tôi cắn răng chịu, cãi lấy được, rứa mới thoát án đó chú. Tôi tin chú. Chú bị bắt khi đang rải truyền đơn, nghe nói tụi nó băm vằm chú cả tháng, rốt cuộc một mình chú lãnh án bảy năm tù, anh em chẳng ai rầy rà chi hết, họ phục chú lắm lắm. Con Thùy còn non nớt rứa, lỡ nó khai ra chú thì tôi vô quan tài cũng không nhắm mắt được mô!

- Bác thấy đó, cháu đi lại khó quá. Bây giờ đang hỗn quan hỗn quân còn đỡ, nay mai bộ máy mật thám của Nhật ổn định lại, nó lùng sục bắt bớ tràn lan, những người dính dáng với cháu sẽ lần lần bị moi ra hết…

- Thôi thì vầy: chú giao việc nớ cho tôi. Một mình tôi là đủ, đừng chắp ghép với ai nữa, con Thùy cũng đứng ngoài.

Ông Hai đã quyết thì đừng hòng lay chuyển. Bàn tính xong lúc mười giờ đêm, sáng hôm sau ông mó ngay vào việc.

Tên lý trưởng trước cò kè chưa ngã giá cái giấy thuế thân, nay thân hành cầm giấy tới nhà ông:

- Bác đưa cho ai thì bảo họ điểm chỉ. Bác nói là bà con vô làm ăn, cháy đồ trên xe lửa, thì tôi cứ biết vậy chớ không tò mò. Sắp tới đây vật đổi sao dời, có gì bác nói giùm tôi mấy tiếng là đủ, miễn tôi được yên thân mà nạp cái đồng triện!

Xong một khoản. Tới việc làm của ông ở đề-pô xe lửa. Bọn kỹ sư và đốc công Pháp không bị bắt, chỉ phải trình diện và làm việc dưới quyền một tên hiến binh Nhật. Tên này mít đặc nghề xe lửa, chỉ biết mắng bọn “quỷ da trắng” và nói từng tràng về Đại Nhựt Bổn, Đại Đông Á. Tên phiên dịch lặp mãi đến nhàm chán khi dịch cho công nhân hắn đâm ra tùy hứng.

- Bữa nay ổng nói gần gần như hôm qua. À mà ổng có thêm là hoàng đế Bảo Đại với sáu ông quan lớn nhứt ở Huế đã xin cho nước mình độc lập rồi, chánh phủ Nhựt cũng cho mình độc lập rồi... Học trò trường cô-le kéo đi tung hô vạn tuế là mừng cái sự đó. Anh em đây cũng phải mừng như vậy... Tôi nói cho dễ: mình chưa kịp học tiếng Nhựt hễ gặp họ thì cứ giơ tay vầy nè, hô thiệt to “ban-dai! ban-dai” 1 là họ ưng bụng, khỏi lục soát gì hết.

Một số công tư chức ở Quy Nhơn nhảy ra lập “Ủy ban quốc dân tỉnh Bình Định”. Cái ủy ban táp nham ấy gồm đủ hạng người: đảng phái thân Nhật có, làm áp-phe chính trị có, ngây thơ tưởng đã độc lập có, ham lạ có, nhưng tất cả đều muốn chia bớt đôi chút quyền hành của các quan Nam triều. Viên phó ga người Việt dự họp về, lắc đầu: “Nội cái chuông giữ trật tự của ông xếp... à quên, ông chủ tịch, cũng cãi như ễnh ương cả giờ”.

Nhân tên hiến binh Nhật cho phép cử Ban đại diện công nhân, Chanh bàn với ông Hai:

- Thử sức một keo coi, bác. Họp bầu xong, anh em đưa luôn yêu sách phải cho tụi Tây thôi việc hết. Thiếu gì cớ. Việt Nam độc lập rồi, sao còn để xếp Tây cưỡi cổ. Tây làm ít phá nhiều, làm gián điệp cho Anh Mỹ đánh Nhật. Hễ Anh Mỹ đổ bộ thì Tây nổi loạn tức thì. Thằng Nhật nghe chỗ này chắc rúng xương. Nó không biết xe cộ gì, cứ nói anh em mình tự lo được hết.

- Chắc nó phải hỏi thượng cấp...

- Hễ nó dây dưa, anh em cứ lãn công. Tức là làm chơi chơi, nghỉ nhiều hơn làm. Tụi Tây ghét Nhật, sợ người mình, chẳng dám thúc ép đâu.

Mọi việc diễn ra gần đúng như vậy. Ban đại diện được bầu, ba già hai trẻ. Nhiều người giới thiệu ông Hai Rề, ông đứng dậy ngửa cái đầu tóc tiêu muối:

- Tôi vô đó cũng được, mà sợ phiền cho anh em. Một, tôi theo đạo chúa, ắt là Nhựt họ ngại. Hai nữa hồ sơ sổ đen Sở mật thám đang còn đó, Tây nó ghi tôi là tình nghi cộng sản. Ít bữa rồi Nhựt họ khui, ra coi, họ lại tưởng cả Ban đại diện là cộng sản hết. Rứa tôi mới xin tháo lui cho khỏi rầy rà, chớ cái mạng già ni xin sẵn sàng thí bỏ!

Cuộc họp ban nãy nhao nhao lên khi có người rụt rè nêu tên lão cai Tống - tên chỉ điểm chuyên nịnh trên nạt dưới - lúc này lại nhao nhao một lúc vì ông Hai. Rốt cuộc họ bầu được năm người tất cả.

Bọn Nhật không quá dại như Chanh tưởng. Tên trùm hiến binh Qui Nhơn vọt xe lên ga, gọi hết dân thợ dân thầy đến. Hắn dỗ một lát, dọa một hồi, thề sẽ đánh trốc gốc Việt Minh cộng sản bên trong và quân Anh Mỹ bên ngoài, hẹn sẽ trừng trị thẳng tay nếu xe lửa chạy hụt chuyến, thiếu toa, chậm giờ, chết máy. Không một lời nào nhắc tới độc lập hay chủ quyền.

Một số thợ già và viên chức sợ xanh mặt, lảng tránh Ban đại diện. Hầu hết thợ trẻ quyết làm tới. “Đến thằng Tây ngã ngựa mà còn để cho nó đè đầu thì quá nhục, nhục không để đâu cho hết”. Và cuộc lãn công bắt đầu.

Ông Hai Rề nổi tiếng trong xóm là người chỉ coi trọng những nghề sắt thép máy móc. Cụ lang già ở gần nhân đến chơi ngày Tết, đã lỡm ông là “vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu hỏa xa cao”. Ông không bực mà còn gật gù thích chí.

Thế nhưng bây giờ ông ngả sang đi buôn. Chường mặt ra mà buôn, kiếm lời từng xu từng cắc, không phải như những ông thợ khác kiếm vốn cho vợ con mở sạp hàng mà còn phân bua rằng để họ ở không dễ sinh hư. Ông mượn đâu được cái xe đạp cọc cạch đã tháo hết những gì có thể tháo, sắm đôi giỏ tre lớn treo hai bên chỗ đèo hàng, bắt đầu chạy chợ. Ông buôn đồ la-ghim từ vườn tới chợ, từ chợ tới tận các ngõ hẻm và xóm lẻ. Gặp người quen, ông lắc đầu ngán ngẩm: “Xe hư dồn đống, đã làm mửa mật mà lại cứ bị Tây thúc, Nhựt chửi, đồng lương chết đói sống răng cho nổi”. Cai ký ở đề-pô thấy ông khai đau ốm liên miên, biết ông cùng anh em lãn công mà không dám bẩm báo lên trên.

Có một điều chỉ riêng ông biết: Ông làm liên lạc cho đồng chí Phan Chanh.


---------------------------------------------------------
1. Tiếng Nhật: vạn tuế!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #13 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2015, 01:54:42 pm »

*
*    *

Bảy Tộ mới nghe Cả Chanh nói mấy câu đã vung tay ngắt lời, chòm râu mép đen như vệt mực nhảy lia lịa:

- Em thưa vầy anh Cả đừng phiền. Anh Cả giỏi việc nước việc đời, còn công chuyện lặt vặt như anh Cả nói đó thì em đây mới chúa. Đã buôn lậu thì phải nhiều tay chân, mỗi đứa tay chân lại làm đầu nậu một mớ tiểu yêu nữa. Hễ thằng nhỏ gì đó còn ở Qui Nhơn thì nội nhựt bữa nay em tầm ra nó cho anh. Cái phố bằng bàn tay đâu khó như Sài Gòn!

Chanh phải dặn đi dặn lại Bảy Tộ không được nói với đám đàn em là có người nhà đang tìm thằng Cam, mà chính Bảy Tộ muốn giao việc gì cho nó.

Tối hôm sau anh quay lại nhà Bảy Tộ, chưa dám hi vọng. Bảy Tộ đọc luôn một hồi vanh vách: thằng Cam không được ăn học mà ở đầy tớ cho nhà Lợi Thịnh, bị nghi thông đồng ăn trộm, bỏ trốn vào khoảng tháng sáu năm ngoái, đi ăn xin lang thang, nay đang được một cai khố đỏ là Năm Phi Đao nuôi, ở trọ nhà thím Lụng trong xóm Bàu, mặc áo quần lành và tối tối đi học Truyền bá quốc ngữ. Nó vẫn lẩn lút.

- Năm Phi Đao... hắn ta ở đây à? Mày gặp hắn lần nào không? Nhà hắn chỗ nào?

- Ơ hơ, anh cả biểu em tầm nã thằng Cam chớ đâu có hỏi phi đao phi tiêu gì! Anh muốn gặp thì em chở xe đạp nó tới đây, hay là em dẫn anh tới xóm Bàu ngay bây giờ. Đi đường tắt êm ru, tới đó em hỏi nhà thím Lụng, kêu nó ra...

Chanh ngồi thần mặt. Đôi lông mày nét mác cau lại gần chạm nhau, bộ râu ngày càng rậm bao quanh miệng anh thành hình tròn khẽ mấp máy như anh đang tính nhẩm. Hai anh em không nhớ mặt nhau và cùng giấu mặt cả, thế mới khó. Thằng Cam bị đánh động có thể trốn mất lần nữa. Trốn về nhà quê hay đi tỉnh khác thì đến thổ thần như Bảy Tộ cũng bó tay!

Cân nhắc chán rồi Chanh mượn giấy bút, viết thư:

Chú Năm!

Kể từ ngày chia tay trong căn nhà ấm áp phố Chí Hòa, tôi được ơn trên phò hộ vẫn được mạnh giỏi trong khi bèo giạt mây trôi. Ngày nay tôi được trở về nơi cố hương, xiết bao mừng tủi, ngặt vì đang lâm bịnh nên khó tới viếng thăm chú. Vậy tôi mong chú bớt chút thì giờ cùng đi với chú em tôi là người cầm thơ, tôi cho tôi được hỏi han đôi lời thì lấy làm quý hóa lắm.

Người cùng quê với chú,
P. ĐAO


Bảy Tộ đọc xong, há miệng:

- Lạ, hồi xưa anh viết chữ nhỏ và đẹp lắm, văn chương ngang nhà báo. Đây chữ bằng gà mái, giọng như bô lão...

- Phải tập đóng đủ các vai chớ, Bảy!

Vì lá thư sẽ chuyển qua tay Cam hay thím Lụng, nên Cả Chanh hẹn ba ngày sẽ trỏ lại lấy tin. Anh sẽ gặp Năm Phi Đao trước, qua hắn ta mới dỗ được thằng Cam chịu nhận  anh nó.

Máy bay Mỹ sau đảo chính dường như thay đổi cách đánh. Không còn Pháp làm tay trong nữa, chúng không xẹt ngang sạt thấp mà kéo từng đoàn vài chục chiếc bay rất cao vào thành phố. Khu doanh trại vây cót của Nhật từ tiệm thuốc tây Phan Quỳnh tới sát nhà thờ đã lộ rõ là miếng mồi nhử bom, đặt đầy xe hư và súng cao xạ bằng tre gỗ, Mỹ hết mắc lừa. Chúng trút bom tựa sấm xuống những nơi có dấu vết đáng ngờ trên núi và chung quanh núi. Những lúc ấy máy bay và cao xạ Nhật nín hơi không lên tiếng. Hai bên chơi trò ú tim tìm bắt, hẩy sang bên rất nhiều xác người Việt bản xứ lọt vào giữa hai thớt cối xay.

Chiếc xe đạp chở rau của ông Hai Rề luồn giữa các đợt báo động, mang về cho Cả Chanh mấy tờ báo in đá, tài liệu quay giấy nến, thỉnh thoảng có một lá thư. Các đầu mối lần lượt trả lời bằng nhiều cách. Hai người sợ bom bỏ về nhà quê, biến mất tăm. Một người xem thư xong chỉ nhắn miệng là đợi tụi nó bớt rình mò sẽ hay. Một người chửi vung lên rằng bị đem con bỏ chợ. Ba người nữa hẹn sẽ theo Đảng tới cùng. Riêng anh Hiển gửi tài liệu cho Chanh và muốn gặp anh gấp để báo tin khẩn. Chanh chỉ biết anh Hiển là thượng cấp.

Chỗ gặp là một ngôi mả vôi trên gò cát có tường vây quanh. Anh Hiển đến trước, mặc áo quần bà ba đen bạc màu, đội nón lá. Trong ánh sao mờ mờ Chanh chỉ thấy trán anh hói cao, trụi tóc tới gần đỉnh đầu. Giọng anh khàn khàn hơi khó nghe.

- Ta vô việc luôn đi.. Đảng bộ Quảng Nam hay tin đồng chí vượt ngục thành công, rất mừng, ở đây đồng chí lộ quá, khó hoạt động. Nên sắp đặt về ngay Quảng Nam, móc nối tại Hội An, nhận chỉ thị xong là về thẳng quê gốc. Tôi đưa đồng chí bản chỉ thị mới của Trung ương về vụ Nhật Pháp bắn nhau, học thuộc xong đốt luôn. Đồng chí không đặt bí danh à?

- Dạ có. Là Thanh Trà... Hai Thanh Trà.

- Quê gốc ở làng Linh Lâm, huyện Tây Quảng, sát chân núi, phải chưa?

- Dạ phải. Anh có tới đó hả?

- Các đồng chí Quảng Nam cho biết vậy. Tinh thần bây giờ là ào tới, xốc tới, giành giựt từng ngày với Nhật. Ai sợ bị bắt đi căng 1, sợ đòn tù, cứ tạm để ngoài cuộc cái đã. Đồng chí có trí nhớ khá không?

Anh Hiển bắt Chanh lặp lại nhiều lần những tên và địa chỉ ở Hội An cần móc nối. Có hai tên trùng với đầu mối Chanh được giao tại Kon Tum, một tên lạ.

- Nhớ nghe, tình hình thay đổi nhiều, có người sáng mai khởi nghĩa mà tối nay còn khai báo. Đề phòng cứ đề phòng, táo bạo cứ táo bạo. Đảng biết đồng chí hồi năm bôn mươi rất gan lì, uy tín cao trong công nhân, quý lắm... Nè, có tiếc nhớ cô Hai Thùy không đó?

- Không, không... ông Hai là cơ sở, vậy thôi...

Anh Hiển đi rồi, Chanh mới thấy trán mình mát lạnh, vuốt tay ươn ướt. Quái, mình chưa hề gặp đồng chí thượng cấp này, sao ảnh biết về mình cặn kẽ quá vậy? Mà ảnh cố ý nói cho mình khỏi nghi ngờ, không căn vặn gì cả... Chanh lách qua những bụi xương rồng và hàng rào tre gai, rạo rực nghĩ rằng trong khi mình tìm người khác thì Đảng đang tìm mình, rất hiểu mình.


-----------------------------------------------------------
1.Tiếng Pháp. Camp: trại tập trung
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #14 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2015, 01:57:40 pm »

*
*    *

Hai người đang ngồi nói khẽ ở góc buồng trong. Vừa thấy Cả Chanh với Bảy Tộ vào, người to lớn vịn vách nhỏm dậy, kêu hơi to:

- Anh Cả!

Chanh vồ lấy hai bàn tay của Năm Phi Đao giơ tới trước.

- Ngồi, ngồi xuống... Què chân mà ráng làm gì... Đi cà nhắc hả?

- Thưa, em đi xe kéo. Đại ca đã gởi giấy vời, em gần chết cũng phải bò lết mà tới.

Năm Phi Đao nói trịnh trọng chứ không bỡn cợt bằng lối nói của truyện Tàu. Chanh quay sang cái bóng nhỏ hơn, ngập ngừng:

- Cam đó hả? Anh đây, Cả Chanh đây mà!

Cam đứng im trong góc buồng. Thân hình gầy gò của nó không động đậy. Cặp mắt nó mở thao láo chỉ lộ vẻ sợ hãi.

- Em nhìn ra anh chưa? Chín năm rồi, anh để râu coi lạ lắm hả? Hồi xưa cứ bắt anh cõng cả ngày!

Cam bật run, vẫn đứng đờ ra. Người nó lạnh rồi nóng từng cơn. Nó đang bị hút và bị đẩy. Nó vừa thương vừa kinh hoảng.

Khi Bảy Tộ đem thư đến, ra về ngay, nó chạy vào buồng đọc cho anh Năm nghe. Năm mừng muốn reo, cho nó biết người gửi thư chính là anh cả nó. Anh Cả... con người mà nó nhớ là rất cao lớn đã chơi với nó một lúc nào đó khi nó nhỏ xíu, người anh vắng mặt mà cha hay trách móc và mẹ nhắc tên với tiếng thở dài... con người đã tan biến vào những chuyện kể đời xưa, nay bỗng hiện trở về như người sống thật.
Mừng khấp khởi được một lát, nó bắt đầu sợ. Người lớn là người có quyền đánh chửi trẻ con, sai vặt, cấm đoán, chán chê rồi thì túm tay trẻ con đem bán cho nhà khác. Cha nó đã từng lôi nó tới ở giữ ngựa nhà ông phủ Đỉnh, lấy tiền uống rượu. Mỗi lần cực quá nó chạy về, lại bị cha rút roi cày trên mái tranh, rượt đuổi nó quay lại ấp ông phủ. Anh Cả Chanh có làm như vậy không? Có tóm cổ nó giao cho nhà bà Lợi Thịnh không? Ảnh giống cha hay ảnh giống Năm Chò?

- Anh nhớ hồi nhỏ em tròn hin như cục bột, anh đi đâu em chạy lon xon theo đó, cái miệng kêu mếu máo đòi cõng. Xốc lên lưng rồi mới don dỏn: Cả ơi, con chi rứa? Cả ơi, bắt con chào chào chỗ tê...

Hai ngày qua, Chanh chờ đợi cuộc gặp lại thằng em. Nó sẽ nhào tới sà vào lòng anh, khóc kể thút thít. Hoặc nó ngước cái mặt câng câng, nói nó chẳng kể số gì cha mẹ anh em, đời nó cứ để nó liệu. Hoặc nó lấm lét con mắt, nhận rằng nó lỡ dại trộm cắp, từ nay nó chừa... Anh lường trước mọi đàng, chỉ trừ cái dáng run rẩy đầy ngờ vực đang phơi ra ở chỗ góc buồng, cách anh chỉ hai bước. Nó không chịu mở miệng. Giữa hai anh em đối mặt nhau có cả một hố sâu nghi kỵ.

Chanh buồn rầu nhìn Năm Phi Đao:

- Nó quên mình rồi Năm à. Thôi để lần lần nó nhớ, con nít mà. Cậu muốn về Quảng Nam không?

- Muốn lắm chớ anh. Có điều chân cẳng lôi thôi vầy đây... Thịt em hiền, uống thêm đa-giê-năng vô, năm bảy bữa nữa em đi được.

- Ờ, mình đợi đi chung với cậu. Dắt luôn thằng nhỏ về. Phủ Đỉnh, Lợi Thịnh, mẹ cố tổ cái bọn trẻ chẳng tha già chẳng nể!

Thằng Cam bỗng buột mồm:

- Có phải giữ ngựa nữa không anh?

- Giữ chớ. Tao trói đầu thằng cha Phủ Đỉnh, giao cho mày giữ!

Anh không ngờ câu đùa ấy làm tan dần tảng nước đá cứng lạnh trong lòng đứa em mới gặp lại.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #15 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2015, 02:04:17 pm »

*
*    *

Mười một ngày sau, họ lên đường.

Bảy Tộ thu xếp rất khéo. Cậu ta dẫn ba anh em tới gửi gắm cho người bạn làm xe-rơ-phanh 1 ngồi ở cuối đoàn tàu. Tay này xếp cả ba vào một buồng xí trên toa áp chót, đưa tiếp vào một thùng nước chè, một bọc to bánh mì bột gạo, một gói tôm thịt kho mặn, tất cả do vợ Bảy Tộ sắm sửa.

- Chịu khó ngồi xà-lim một ngày thôi nghen. Đây về Phe-phô 2 chẳng bao xa. Tôi khóa ngoài đó. Hồi bí quá thì thò đầu ra cửa sổ, hét thiệt to về phía sau. Đập cửa chẳng ai nghe đâu.

Tay này mới đổi về hơn một năm, không quen Cả Chanh.

Bây giờ, bánh xe đang gõ xình xình cốp cốp trên đường sắt. Thằng Cam gục đầu ngủ trên đùi Chanh. Năm Phi Đao dựa vào vách, gật gà. Cửa sổ kéo lên kín mít. Gió từ bên dưới lùa qua lỗ hố xí quạt vào căn buồng nhỏ xíu. Cả Chanh ngồi nhắm mắt nhưng không ngủ. Những tiếng ồn của chuyến xe lửa thời chiến tuôn vào tai anh, lắng xuống khi xe đang chạy, rầm rĩ táo tác khi tới ga.

Tàu ra Bắc không đầy nghẹt những gia đình rách rưới bỏ quê đi kiếm ăn, mà lại chật ních người buôn, nhiều nhất là buôn gạo, khoai khô, sắn khô. Tàu chưa dừng hẳn, bao lớn bị nhỏ đã bay ào qua cửa sổ, tiếp tới những thân người hò hét sấp ngửa nhào theo, đạp bừa trên đám đông đã lèn chật như nêm cối, đầy ghế đầy sàn, mỗi người úp mặt trên một mớ hành lý mà ngủ chập chờn trước khi bị xéo lên đầu và lưng. Đấm đá, chửi bới một chầu để giữ chỗ và giành chỗ, sau một hồi lắc xóc ai nấy đều lọt xuống tới đáy và tạm yên chốc lát cho đến ga sau.

Ra khỏi Diêu Trì vài cây số, báo động máy bay. Đầu máy kéo còi dồn dập, đoàn tàu hãm gấp, các toa thúc vào nhau như động đất. Người đổ túa qua tất cả các lỗ hổng, chạy ra đồng, gào thét gọi nhau nấp chung cho khỏi lạc, trẻ con bị xô ngã và đạp gần chết rú lên nghe rợn người. Còi báo yên, lại một cuộc tấn công cướp chỗ, dậy lên tiếng la khóc khi kẻ cắp đã hốt sạch những thứ đáng giá bỏ lại trên toa. Có người nấp xa trở về không kịp, lếch thếch chạy theo sát đuôi toa cuối, há miệng mà không kêu ra tiếng, bị bỏ rơi dần đến khi mất hút. Nhưng trên tàu lại thêm nhiều người lậu vé leo lên các toa dẹt, toa than, sẽ nhảy xuống khi sắp vào ga sau, hoặc cứ ngồi lì khi thấy vắng kiểm soát.

Chuyến xe đến ga Tam Quan. Tiếng huyên náo dội đến từ xa, riêng những toa gần cuối lại vắng lặng. Nhiều miệng hô lệnh, gọi, quát tháo bằng tiếng Nhật và Việt. “Xuống hết! Đi chỗ khác!”. Hành khách trong toa của Chanh rậm rịch kéo xuống, rên rỉ chửi đổng. Quân Nhật trưng dụng xe dọc đường, số toa không còn đủ để móc thêm vào tàu. Giày đinh lộp cộp, gươm súng loảng xoảng, ồn dậy lên mấy phút rồi êm. Không ai đập cửa cái buồng xí bấm khóa ngoài có đề chữ phấn “Hư hỏng - Abimé”.

Bây giờ Chanh mới hiểu vì sao Bảy Tộ can anh đừng mua vé tốn tiền, nhét cả ba vào cái ngăn lau chùi khá sạch này. Hồi làm ở đề-pô, anh nghe nói nhân viên trên tàu chỏ người lậu rất dễ, không ngờ chỗ giấu lại đơn giản đến thế. Món thuốc phiện lậu của Bảy Tộ hẳn là giấu trong đầu máy, nhà Đoan nào dám tháo cả máy ra mà khám xét!

Anh đánh thức Năm và Cam dậy ăn trước khi trời tối hẳn. Xe chạy đủ ồn để họ nói chuyện bên tai nhau. Uống nước hút thuốc xong lại ngủ tiếp, không ngại bị chen lấn hay xua đuổi.

Ngả lưng trên hai tờ báo trải nối, Chanh xa dần vào giấc nửa mê nửa tỉnh, tai nghe mà óc cứ chiêm bao. Lối ngủ của người trực buồng bệnh, gác máy điện thoại, cũng là của người thợ khám xe làm ca đêm đang chờ chuyến tàu khuya...

Còi rít dài đằng xa. Chanh nhỏm dậy, vơ ngay cái búa cán dài, cây đèn khí, choàng túi dết qua vai, cũng vừa nghe thằng xếp Tây quát giật giọng: “Vi-dít-tơ”. Anh đáp thật to như chưa hề ngủ: “Prê-dăng” 3. Sau tiếng đáp anh mới tỉnh hẳn, bước nhanh ra sân ga. Ngủ quên hay chậm chân là bị Tây bạt tai, cúp lương. Những thanh ray song song láng bóng đang hằn nhiều vệt đỏ vụt đổi sang màu xanh dưới đèn hiệu thông đường. Đốm đèn độc nhỡn rẽ sương mù đến gần. Chiếc đầu máy đen bóng phụt tàn than đỏ trong hơi thở hổn hển, phì phò. Tàu tốc hành không rẽ xuống cảng Qui Nhơn, chuyến tàu chợ này đên đây là ga cuối, sẽ tháo rã và lắp thành đoàn tàu mới.

Chanh đi vội tới đầu máy, đặt đèn cho kính đỏ xoay về buồng lái, lách vào mở ống hơi, khóa các xu-páp, tháo các móc, bước ra lắc đèn cho thợ lái đưa đầu máy đi. Hễ trúng Bảy Tộ thì trăm lần như một nó đang ngủ đứng. Anh phải lại gần quát: “Bảy, xách siêu nước đi không?”. Bảy giật mình, quờ tay lên ấn cái cần mở ga. Đầu máy từ từ nhích tới, các thứ xích và ống tuột rơi lích kích. Cái “siêu nước” chạy thẳng về đề-pô, nhường chỗ cho các đầu máy ma-nơ xụt xịt tới lui, kéo còi tàu từng khúc một, lần lượt đẩy các toa hàng niêm phong, toa than, toa bưu điện vào các ngả đường rẽ đợi bốc dỡ, kéo các toa khách rỗng về đề-pô để khám và ráp đoàn tàu bốn giờ sáng.

... Chanh không ngủ được. Anh nhỏm dậy cẩn thận che nón lá đánh diêm hút thuốc. Chẳng phải vì lạ tiếng bánh xe sắt rùng rùng cạch cạch dưới lưng mà anh thức, trái lại, chính vì nó quá quen, quá gợi nhớ sau ngót năm năm chia xa.

Những ca đêm lắp tàu trong đề-pô. Những đêm nóng nực, đầy muỗi, nồng khét mùi giẻ dầu đốt xua muỗi. Mỗi phát đập tay vào mặt hay cổ để lại một mảng nhọ đen sẽ dính kéo dài. Bọn đốc công ngủ trong góc kín, từng lúc lỉnh ra rình thợ hút thuốc hay ngủ gật, hò hét, ghi sổ trừ lương. Chanh xách đèn đi gõ búa vào các bánh xe, đầu trục, má phanh, căng tai ra nghe từng tiếng lạ, đánh dấu phấn vào chỗ cần xem kỹ và sửa. Đến mỗi đầu toa lại len vào soát các thứ xích, móc, ống nối nhau. Hễ xảy ra tai nạn là đi tù. Anh tránh được tù nhờ thạo nghề, nhưng suýt chết kẹp giữa hai tấm tăm-pông 4 khi một cậu lái ngớ ngẩn cho dồn toa trước khi nhận hiệu lệnh.

Chỉ trong ba năm, từ thợ phụ sửa xe lên thợ chính rồi thợ khám xe, ấy là bước tiến rất nhanh trong nghề. Lão cai Tống nói có chỗ đúng: Chanh sinh ra trong lò rèn của cha, lớn lên vừa học chữ vừa phụ rèn ở quê và ở Qui Nhơn, quả thật anh quen tiếng búa. Nhưng lại có một bí quyết ai cũng biết mà rất ít người làm: anh chịu khó học, cả học nghề lẫn học chữ. Ông Tư Chua dồn sức cho đứa con đầu lòng thoát cảnh dốt chữ của dòng dõi ông, nhưng chỉ đủ tiền nuôi con tới khi đậu cái bằng sơ học yếu lược. Từ ấy trỏ đi, Chanh vừa làm vừa học say mê, học đầy thèm khát, học như người dại gái. Vào tù, sau những tháng đòn đau và biệt giam, khi về chung lao với người có chữ, anh lại học... Anh ngạc nhiên khi thấy các bạn không theo lời khuyên của anh để làm một việc thật dễ: trước khi sửa một chỗ hư hỏng, hãy gõ búa tập nghe tiếng lạ, sửa xong gõ lại để nhớ tiếng lành. Chỉ bấy nhiêu thôi đủ cho anh dần dần nổi tiếng là thạo bắt mạch xe...

Tàu đến thị xã Quảng Ngãi, lính Nhật rổn rảng kéo xuống. Người ào lên tức khắc, lèn chật hơn cả những toa khác. Có tiếng nhân viên gọi lấy lệ, mệt mỏi: “Ê, cấm bu hai bên cửa... đừng leo lên nóc toa chớ... Dẹp bớt mấy gánh treo đây...”. Con tàu lại thuốn vào đêm với mấy chục cái hộp lớn nhét đầy người, tắt đèn tối như bưng. Lâu lâu lại nổi lên tiếng gào thất thanh báo có người rớt xuống đất. Tàu không dừng vì những vụ như thế.

Chanh thiếp dần. Một hình ảnh gợi lên, chao đảo: nụ cười tươi tỉnh của cô Hai Thùy khi anh chào ra đi. Thùy không hề bịn rịn, chỉ mỉm cười và đi luôn xuống bếp, để anh tần ngần ngó theo... Anh chìm hẳn trong giấc ngủ nặng như chì.


----------------------------------------------------------
1. Tiếng Pháp. Serre-frein: người hãm xe lửa.
2. Faifoo: tên Pháp đặt cho thị xã Hội An.
3. Tiếng Pháp: résent: có mặt.
4.  Tiếng Pháp. Tampon: Tấm đệm chống va chạm lắp ở đầu toa.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #16 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2015, 02:19:17 pm »

7.

Ở người trẻ tuổi mới qua một trận đau ốm, những nét suy sụp hiện ngay trên bộ mặt và dáng vóc, ai gặp cũng nhận ra. Còn ở các cụ cao tuổi, ai thật quen mới hỏi sau một hồi ngờ ngờ: “Vừa rồi cụ bị mệt?”.

Những thành phố trẻ đang sức lớn, là đầu mối xe lửa và tàu biển dọc miền Trung, sa vào Chiến tranh thế giới thứ hai suốt năm năm đã tàn tạ đi rất nhanh. Nhà cửa bị bom Mỹ đánh và chủ bỏ mặc không sửa sang sơn quét, lắm chỗ phải bôi bùn lem nhem hay vẽ thêm cây lá che mắt máy bay, bày rõ vẻ rạc rài. Người dân những nơi ấy mất nguồn kiếm ăn, sáng chiều phơi thân đói rách trên đường phố, chìa tay ăn xin mà đôi mắt long lên căm giận. Các quan Tây vào trại tập trung, quan Nhật lo số phận mình khi thua trận, quan Việt tính đường gỡ tội và chuồn êm. Các quán rượu và tiệm nhảy vẫn bật đèn xanh đỏ nhưng bà chủ ngồi ngáp trên ghế thu tiền, ngón tay đặt hờ trên nút tắt đèn, lắc đầu than ế.

Ngược lại, những thị xã cổ kính đã ngừng phát triển, từ lâu và ít bị phá phách lại giữ được bộ mặt trước chiến tranh hay gần gần như thế. Hội An già rồi, còn nhắc những kỷ niệm của thời xưa “nhất Kinh kỳ, nhì phố Hội”, nhưng nay cửa sông đã bồi cạn, đường sắt chẳng thèm ghé xuống, người mua bán lớn khó tìm thấy ở đây những thứ có thể mua và bán, cho đến những chiếc ô tô chạy than cũng ngại mắc kẹt giữa những đường phố cũ kỹ không đủ rộng cho hai chiếc xe bò tránh nhau. Tỉnh lỵ Quảng Nam vẫn chứa tòa Sứ ở ngay thị xã và dinh Tổng đốc ở tít gần Vĩnh Điện, nhưng tựa hồ bị cả Nhật lẫn Mỹ bỏ quên. Chỉ có Việt Minh không bỏ quên. Hội An cao tuổi đang trẻ lại nhờ những chuyện ly kỳ về Việt Minh với cờ đỏ sao vàng và truyền đơn “đánh Tây đuổi Nhựt” Chuyện Việt Minh theo đường bộ và sông Thu Bồn loang xa về các huyện xã, gây náo động trong lòng người đang đòi hỏi đổi đời.

Cả Chanh nhận ra nét riêng ấy của Hội An trong hai ngày cuốc bộ đi bắt liên lạc, lang thang tìm đường phố và số nhà. Anh qua Hội An chỉ một lần hồi mười hai tuổi, theo cha xuôi đò dọc xuống Phố trước khi vào Qui Nhơn. Tới chuyến thăm nhà bốn năm sau, anh ngược về quê theo đường bộ, khi ra đi lại xuôi theo sông Thu Bồn, lên xe lửa ở ga Kỳ Lam chứ không ghé tỉnh lỵ, vào thẳng nơi anh sẽ làm xe lửa và làm cách mạng. Những hình ảnh mới của Hội An sau đảo chính in hằn trên kỷ niệm chập chờn hư ảo của tuổi nhỏ, tô những nét mực xơ xác nhưng rất bạo tay trên giấy hoa tiên từ năm xưa để lại.

Chiều tối ngày thứ hai, anh đi dọc bờ sông tìm chiếc thuyền có phơi cái áo nhuộm chàm với miếng vá trắng ở cùi tay như đã hẹn trước. Qua khỏi chợ vài trăm thước anh mới thấy nó. Anh nhìn quanh xem bị bám đuôi hay không, rón rén bước tới mũi thuyền, dòm vào mui:

- Cho tôi hỏi chút... Ghe ni có về phường Rạnh hay Trung Phước không, tôi chở mấy gánh mắm.

- Ờ, ông xuống đây rồi ta tính, được giá thì đi.

Anh chui vào thuyền. Người đàn ông đội nón ngồi sau lái bước lên mui thuyền, đi rào rạo ra trước mũi, lay nhổ cây sào và đẩy thuyền ra. Ông già ngồi trong khoang đang vá lưới quay lại, cười rất rộng miệng:

- Mi quên tao hả Chanh?

- Ối trời, anh... anh Quý! Nó chôn anh ở Côn Lôn... mấy đồng chí nói vậy!

- Thời thế ni, chôn rồi tao cũng lật mả tao về!

Chanh há miệng định nói, nhưng tắc họng không thốt ra lời. Anh quệt nhanh những giọt nóng vừa tràn khỏi mắt, rất xấu hổ trước đồng chí Xứ uỷ Trung Kỳ. Anh Bảy Quý bùi ngùi nói khẽ:

- Anh em nghe lầm thôi. Tay Quý kia là đảng viên Nghệ An, chưa biết chữ mà gang thép lắm, bị tụi cai đội đánh bể đầu khi đấu tranh chống cơm trộn trấu. Tội nghiệp, hấp hối còn dặn bạn tù nhớ lột hết áo quần cho người bệnh, đừng chôn theo mà uổng. Tao nhớ ngày tử với mổ mả, chưa báo cho gia đình được, xa quá... Nè, mi trẻ mà để râu xồm coi khác tướng ghê gớm. Tao lảng vảng dọc đường Chùa Cầu, thấy mi đi qua khi trưa mà ngờ ngợ hoài.

- Còn anh, ngó như ông Lữ Vọng đi câu!

Chanh dồn dập hỏi tin các đồng chí quen ở khám Chí Hòa. Chanh bị giải về Kon Tum trước, gần nửa năm sau anh Quý mới ra Côn Lôn. Anh cười, nói cà rà, vuốt chòm râu đen và thưa như cố kéo cho nó mọc nhanh hơn, từng lúc bóp trán nghĩ:

- Tao qua nhiều lao quá, bị tra hoài, bây giờ nhớ trật bậy hết, chuyện nọ xọ chuyện kia. Hay là chừa râu giả làm ông già, cái đầu tưởng thiệt nó cũng già đi luôn!

Thuyền đã sang gần bờ bên kia, chỗ khúc sông vắng. Anh chân sào cắm thuyền cách bờ mươi thước khom lưng chui vào khoang. Anh Quý dặng hắng, đưa hai tay vuốt mạnh mái tóc đốm bạc như xua những tiếng thì thầm nào đó bên tai, nói hơi vội:

- Chà, thôi, chuyện cũ để sau sau đã... Xin giới thiệu đây là đồng chí Tô Xáng, tỉnh ủy viên thường vụ phụ trách Ủy ban khởi nghĩa tỉnh mình. Đồng chí Chanh về ngoài ni là phải, dễ hoạt động hơn, cơ sở công nhân cứ để anh Hiển lo tiếp. Tỉnh ủy định giao đồng chí Chanh trở về huyện Tây Quảng, tổ chức du kích quân và xây dựng căn cứ địa rất gấp, theo kiểu các đồng chí ở căng Ba Tơ. Đồng chí thấy răng?

Chanh ngồi ngây ra, choáng váng. Tất cả những gì anh biết về du kích quân hay Giải phóng quân đều là nghe kể lại trong nhà tù hoặc đồn đại trong dân lẫn lộn sự thật và mơ ước. Cả chuyện Ba Tơ khởi nghĩa cũng lung linh như chuyện đời xưa mặc dù đang diễn ra ở tỉnh bên.

Anh chợt thấy anh Bảy Quý đang nhìn mình, cái nhìn nhấn mạnh và hơi xoi mói nữa, trong khi mấy ngón tay vẫn vân vê chòm râu thưa. “Cái chính là cậu có đủ tinh thần hay không...”, mắt anh Quý rõ ràng nói câu ấy. Chanh đáp ngay:

- Thưa thượng cấp, tôi được Đảng bày dạy nhiều mà chưa đền đáp gì. Tôi xin sẵn sàng hy sinh vì tổ quốc, sẵn sàng... khởi nghĩa đánh Tây đuổi Nhựt. Bị cái là tôi làm thợ rồi ở tù, chưa rờ tới súng đạn bao giờ, sợ hư việc của cách mạng!

Tô Xáng bật cười khà khà:

- Tụi mình cũng chưa hề cầm gươm vác súng bao giờ hết. Mình con nhà chài lưới mà... Công tác vậy đó, đồng chí nhận không?

- Dạ, xin nhận.

- Rồi. Có cơ sở hay cảm tình nào trong binh lính không? Là nói lính chiến, biết đánh chác, chớ không phải khố xanh gác tù hay lính lệ hầu quan....

Chanh nói như reo:

- Ôi chao, quên chưa báo cáo! Anh Quý nhớ Năm Phi Đao không?

- Ờ, tay anh chị làm trùm xan ở Chí Hòa hả? Hắn đâu rồi hè?

- Lính chiến chánh hiệu đó anh. Hồi Tây đánh với Xiêm, hắn có dự vài trận. Hắn bạt tai cấp trên phải vô Chí Hòa, ra sau anh, lại đi tiếp khố đỏ đóng lon cai. Rượu chè hơi nhiều mà rất ghét Tây. Phục cộng sản lắm đó, phục từ hồi ở tù kia.

- Nói cho đúng là hắn phục đồng chí Chanh! Bị hắn ăn hiếp mà không thù oán, hắn bệnh gần chết lại lo nâng giấc, hắn khỏe còn dạy chữ cho nữa... Hồi đó hắn không dám lại chỗ tôi, tin chắc là tôi ho lao sắp chết. Hễ tôi tới gần là hắn lảng xa!

Anh Xáng bằng lòng cho dùng Năm Phi Đao làm huấn luyện viên với điều kiện Chanh phải kèm riết bên cạnh. Tới khoản vũ khí. Phải rèn thật nhiều giáo mác, đại đao, sắm cả ná tên trên miền núi nữa. Chanh lại ngớ ra khi nghe Việt Minh đang quyên tiền mua súng.

- Mua đâu ra thứ đó,  anh?

- Có nguồn rồi, chỉ thiếu tiền thôi. Tụi Nhựt lấy được súng Tây nhiều, có đứa lén đem bán...

Chanh đã ham, vồ vập hỏi mãi chuyện súng đạn đến khi anh Quý đột ngột ngắt lời:

- Thôi nghe, chưa chi đã tính đùng đoàng! Khuya rồi, ông dân chài có nồi cháo cá thơm phức đằng sau tê, ăn xong ta ngủ đây luôn. Mà nè, Chanh, mi về Quảng Nam phải như tao, tập nói trở lại giọng Quảng đi cho nông dân họ dễ hiểu. Nãy chừ tao mần ông già Cửa Đợi. Giống không?

Anh Xáng bưng nồi cháo ra mũi thuyền. Mảnh trăng hạ tuần đã lên cao, tỏa ánh xanh mát rượi giữa trời nước. Xóm làng tắt hết đèn, lâu lâu mới nghe một tiếng chó sủa bâng quơ. Nơi cửa sông này vắng lặng khác thường, phố xá bên kia sông cũng bình yên đến mức khó hiểu. Chanh thong thả húp cháo cá, từng sợi gân thớ thịt trên người anh buông chùng ra, dãn ra sau rất nhiều ngày tháng bị kéo căng như dây đàn.

Anh Quý đủng đỉnh:

- Nha Trang, Qui Nhơn, nhứt là Đà Nắng, bom đạn rầm rầm, báo động không ngớt tiếng còi hú, mình về đây thấy lạ lắm…

Chanh quay lại:

- Anh Bảy vô Qui Nhơn hồi nào?

- Hà hà, buổi chiều mi cho ông Hai Rề tới móc nối, ngay tối đó lão Hiển hỏi tao có biết Phan Chanh là ai không, đưa tao coi nét chữ, câu ám hiệu. Tao thấy trúng hết, mới bàn lão Hiển gặp mi báo tin Quảng Nam kêu mi ra. Thằng khôn thiệt, ở nhà Hai Rề mà giữ kín. Tao ghé Qui Nhơn đúng một ngày, không chờ mi được phải ra đây trước, bu đằng sau cái xe ga-dô, hít hơi than gần chết! Lần sau phải ký bí danh, nghe chưa?

Chanh suýt kêu: đồng chí xứ ủy gần gấp đôi tuổi anh đã xông xáo quá nhiều so với  anh!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #17 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2015, 02:27:46 pm »

Trong khi một mình đi bắt liên lạc, Cả Chanh giao cho Năm Chò và Sáu Cam hai việc: học thuộc tên các đường phố và nghe ngóng xem dân tình ra sao. Sau này hoạt động hợp pháp hay bí mật đều phải hiểu lòng người và thung thổ.

Nơi ở của ba người là một căn nhà tranh nằm lọt trong xóm ngoại ô, gần cây số Một từ Hội An lên Vĩnh Điện, tức là “từ tòa lên tỉnh” theo cách nói của anh chủ nhà, bạn cũ của Năm Chò. Anh này có đi lính mấy năm, nay về đánh xe ngựa chạy con thoi trên quãng đường mà bất cứ ai có việc dây Hình với các quan đầu tỉnh, đều phải ngược xuôi đến ốm xác. Khác với ông Hai Rề kỹ tính, anh xe ngựa cứ toang toang:

- Tôi chẳng cần biết ai là ai, hễ Năm Phi Đao dẫn tới thì cứ chơi hết mình. Bà con đây là dân giang hồ tứ chiếng, đứa nào khám xét nạt nộ thì họ vác đòn gánh họ rượt. Đại ca đây thứ Cả, tên là Trà, mới tìm được thằng em lưu lạc, đang chờ tàu trở vô Qui Nhơn. Vậy được chưa? Còn cha Năm đây trốn lính... cứ nói là trốn lính, chòm xóm họ mới thương! Thằng này muốn phản, hay con vợ ham tiền muốn chỉ điểm, cũng phải sợ thứ dao bay của Năm trả thù, ha ha ha!

Anh ta rút dưới gầm giường ra một chai nước trắng, ném lên bàn bó mực khô, hét vợ quạt lò than hồng, nhất định bắt “đại ca” ngồi vào làm cái lễ tương kiến.

Cả Chanh chỉ nhấp một hớp rồi xin kiếu, đi ngay. Chén chú chén anh một lát, nghe Năm bàn chuyện đi coi phố phường, anh bạn bốc hứng:
- Phố Hội đây bằng cái lỗ mũi, có gì mà coi. Tao đưa tụi bay đi Tu-ran, mới rồi đổi tên ra Đà Nẵng đó. Đi xe ngựa thôi, tới nơi còn sẵn xe đi ngắm cảnh nữa chớ. Đi ta hè!

Năm quên ngay hai việc của “đại ca” giao, còn Cam thích mê. Con ngựa già được đóng vào xe, kéo họ ra đường nhựa, chẳng đợi giật cương hay quất roi cứ quen nếp chạy lóc cóc lên Vĩnh Điện. Anh bạn chếnh choáng kể vô số chuyện về Tu-ran, từng lúc thò cán roi xuống cho các nan hoa bánh xe gỗ róc róc một hồi thay chuông giẹp đường, lại xua tay quát:

- Bữa nay chở người nhà, gấp, không chở khách... Đợi xe khác nghen! Đừng chưởi nghen!

Theo  anh thì người dân ở đất Tu-ran nhượng địa chống chọi với Tây, Nhật, quân Nam Triều, riết rồi đâm ra bạo miệng bạo tay hơn dân chỗ khác. Cộng sản cũng dậy nhiều hơn, treo cờ với rải truyền đơn hết vụ này tới cuộc khác. Nghe nói họ có súng mà sao chưa thấy đánh trận nào. Chẳng như ngoài Lạng Sơn, Cao Bằng, họ lập cái chiến đấu khu, chường mặt ra đánh Tây Nhật chết dồn đống. Chắc tại dân đàng Thổ ngoài Bắc tánh hung hơn dân trong mình, nhà nào cũng có súng hỏa mai, họ rèn súng tốt hơn súng đúc của Tây nữa, người mình dở chỗ đó.

Qua khỏi Vĩnh Điện một quãng, tiếng bom rền rền từ Đà Nắng dội vào làm anh bạn hơi tỉnh rượu, bớt hăng. Anh bắt đầu lẩm bẩm rằng người núp hầm chẳng sợ gì bom, chỉ có con ngựa phơi thân ra đó không chết cũng què. Vì thế, khi trạm gác của Nhật ở đầu cầu Miếu Bông chặn người và xe không cho vào thành phố, anh gần như vui mừng xuống xe dắt ngựa quay đầu lại, quất mạnh roi cho nó mở nước kiệu trở về cái phố Hội chỉ bằng lỗ mũi:

- Tổ cha thằng Nhựt! Nói cho mình độc lập mà cứ hằm hằm chặt đầu mổ bụng người ta. Tao không vướng vợ dại con thơ, tao theo Việt Minh uýnh bể mấy cái đầu trọc cho sướng tay!

Để đền bù, anh tính đưa Năm và Cam đi một vòng thị xã. Năm gạt ngay:

- Ngồi xe thì thấy gì đâu. Mày thả tụi tao xuống đầu đường rồi đi kiếm mối làm ăn, tối về ta nhậu tiếp.

Năm Phi Đao vốn có tửu lượng cao, lại nể Cả Chanh giảm rượu nhiều, ban nãy chỉ uống một phần ba chai chưa đủ nóng mặt. Anh dặn Cam:

- Ai hỏi, cứ nói như hồi nãy ta bàn, tức là tìm thằng em lạc dẫn về Qui Nhơn... Mày coi kỹ tên đường phố, đọc to lên cho tao thuộc với.

- Em mới biết đánh vần, bảng lại đề chữ Tây, đọc không ra. Bữa trước anh kể là có học chữ với anh Cả trong tù mà!

- Chữ thầy trả thầy hết. Nói cho ngay, chữ nó chết chìm trong hũ trong chai, không kịp vớt lên.

Các tên Tây đặt cho đường phố chưa thay đổi sau đảo chính. Cam đánh vần chữ được chữ mất thành những tên quái gở. Thỉnh thoảng Năm đón hỏi người qua lại, cũng nghe và nhớ trật bậy. Rốt cuộc Năm hẹn với Cam cùng nhớ những tên tự nghĩ ra: chỗ bến cá, đường sân banh, bãi trước tòa Sứ. Sau một buổi đi rã chân, họ ăn trưa bằng khoai luộc với canh hến của gánh hàng rong cạnh bờ sông, uống nước chè loãng cũng của bà hàng, tìm gốc cây vắng ngồi nghỉ. Ôn lại những nơi đã qua. Năm nhận thấy thằng Cam nhớ giỏi hơn mình rất nhiều.

- Vậy mà tao cứ tưởng mày khờ. Không khờ mà chịu đói!

- Tại em sợ bị bắt. Em nghĩ chắc nhà bà Lợi Thịnh đi báo cảnh sát rồi, ló ra là họ chụp, đem về đánh chết tươi luôn. Với lại... em không quen ăn mày... xấu hổ hết sức...

- Xấu hổ thì tập ăn cắp, móc túi người ta mà nhét vô bao tử mình! Nhát gan hả?

Cam cười, không đáp. Có lẽ vì sợ một phần, nhưng phần chính là nó cảm thấy cái gì đó cứ níu tay nó lại khi nó đi sát một cái ví vô ý nhét hờ trong túi sau, một tờ giấy bạc rơi bên hông của chị bán cá đang bận giành giật với khách, cả khi nó gặp một đứa nhỏ hơn đang gặm ổ bánh mỳ thịt trên bãi biển vắng. “Cái gì đó” là cái gì, nó không hiểu nổi.

- Từ nhỏ tới lớn, ai cũng dạy tao phải sống lương thiện. Chung cục lại, tao thấy chẳng có đứa chó nào sạch sẽ hết. Như ông già tao đó, hiền như hòn đất, lên xứ núi Linh Lâm vỡ đất hoang kiếm ăn, rảnh việc thì lên mọi 1 cõng quế, chống bè chèo ghe thuê cho mấy cha buôn ác chú 2, vậy mà cũng bị hại tới chết... Chuyện dài lắm mày. Tao rình giết thằng Tây chủ đồn điền miết mà không được. Nó ghiền thuốc phiện ốm nhom như con mắm, vậy chớ mỗi lần về coi đồn điền là cưỡi ngựa, đeo súng săn hai nòng, có lão quản lý với thằng con cũng cưỡi ngựa theo... Lưỡi dao hồng tâm của tao là dành cho thằng La-phạt đó! Giết thằng con nó chưa ăn nhằm gì đâu!

Năm Chò kể lộn xộn như chỉ nói với mình. Cam không dám hỏi thêm. Nó liếc nhìn vóc người vạm vỡ và đen cháy của anh Năm, cảm thấy con người rất tốt bụng với nó chứa bên trong cả một mớ điều lạ mà chắc suốt đời nó không sao hiểu hết. Đợi lâu không nghe Năm tiếp, nó ngập ngừng:

- Chị Tư là vợ anh hả anh Năm?

- Tư nào?

- Chị Tư Toản nuôi anh ở Qui Nhơn...

- Ối, Tư đó hả? Thằng lính ưa nhậu gặp con bán rượu lậu, nhơn ngãi chơi bời chớ vợ con gì mày! Coi trẻ vậy mà hai đời chồng rồi đó. Chồng thứ nhứt chết trận ở Lạng Sơn. Nó lấy lẽ một lão quản, theo lão về Qui Nhơn, sau bị lão bỏ rớt lại khi đổi lên Pờ-lây-cu... Mày coi tướng nó thương tao thiệt hả?

- Thiệt anh à. Chỉ lo cho anh từng chút, khóc lên khóc xuống hoài!

- Gặp tao nó thương thiệt, tao đi rồi nó đụng đứa khác cũng thương thiệt, sức nó còn thương được cả chục đàn ông... Mà thôi, nói vậy nghe bạc bẽo với tình nương quá sá. Không chừng về sau gặp lại, tao lấy con Toản làm vợ luôn cho gọn. Mặt nó như bánh tráng rắc mè đen, còn mặt tao như tảng than đá chấm vôi trắng xứng đôi vừa lứa lắm!

Cam cười dài đến sặc và ho. Anh Năm cứ tỉnh khô, đứng dậy:

- Ừ, cười cho mau lớn, khóc hoài thì sống không nổi đâu em. Cuộc đời đểu giả lắm, coi đời như trò cười là hay nhứt.

- Anh khác xa anh Cả, sao lại theo anh cả làm cộng sản?

- Tao theo cộng sản hồi nào?

- Bây giờ đây chớ hồi nào.

Năm nói rất trang nghiêm:

- Tao phục anh cả là người tốt bụng, tài giỏi, tôn ảnh làm đại ca, ảnh làm gì tao làm nấy. Anh cộng sản thì tao cũng cộng sản luôn, vậy thôi.... Nghỉ lâu rồi, ta đi tiếp hè. Thằng này sáng dạ lắm, lớn lên chắc cũng khôn như anh Cả mày.

Những ngày sau đó, Cả Chanh vẫn bận việc của mình, vắng liên miên mà chẳng nói đi đâu. Ăn nhờ bạn mãi không tiện, Năm Chò tính kiếm việc gì làm tạm, được đồng nào hay đồng ấy.

Ở bến ghe phía trên chợ Hội An xuất hiện hai anh em mới tới. Anh làm phu khuân vác, em bán bánh bột lọc. Mấy tay đầu nậu bến ghe xáp tới định đòi cái lễ ra mắt, ngắm bộ ngực xăm chàm những bùa chú rất lạ và vóc người đô vật của Năm một lát rồi chuyển sang mời chén trà điếu thuốc làm quen. Lũ trẻ bán hàng rong mới bắt đầu gây sự với thằng em gầy gò, đã thấy ông anh đứng sau lưng, cười cười:

- Ê, sắp nhỏ, thằng em qua mới lượm về đó, chơi với nhau cho đáng mặt giang hồ nghĩa hiệp nghe chưa?

- Dạ...

Những lúc vắng khách rảnh việc, Năm lại kể từng mẩu đứt đoạn về cái “cuộc đời chó đểu” mà anh nếm trải từ nhỏ. Cam chắp ghép lại mới hiểu nổi phần nào.

Năm Chò thua Cả Chanh hai tuổi, vị chi năm nay hai mươi bốn tuổi ta. Sinh ra cầm tinh con chó, chắc vì vậy mà hậu vận chẳng ra gì. Cha mẹ đem nhau lên tận Linh Lâm vỡ đất và làm đủ nghề, cũng mát mặt hơn hồi cày thuê cuốc mướn ở quê gốc Điện Bàn. Đẻ năm con chỉ nuôi được chị Ba Liễu với Năm Chò.

Thằng Tây kiểm lâm La-phác-sơ, mà cả làng đều gọi là La-phạt vì hắn quanh năm la với phạt khi kiểm soát thuyền bè trên sông Linh, được Nhà nước khoanh cho một vùng đất rất lớn ven bờ sông Linh để lập đồn điền. Đất nhà Năm Chò nằm lọt vào giữa vùng ấy. Mua rẻ không được, đuổi không đi, La-phạt cho tay chân làm cái việc vô cùng dễ là chôn một gói bã rượu vào đất nà  của người dân cứng đầu, gọi Thương chánh bắt bỏ tù. Bà mẹ buồn và cực nhọc quá ốm chết. Chị Ba sợ khiếp, xuôi nhờ đò dọc về lại Điện Bàn sống dựa họ hàng. La-phạt chiếm đất, lão lý trưởng dỡ lấy cái nhà làm chuồng trâu.

Năm Chò hồi ấy mới mười lăm tuổi mà đã to khỏe cày cuốc hay chèo chống đều không thua người lớn. Tức ứa máu mà chẳng cãi gì được, Năm đeo tay nải vào xóm chợ Linh Lâm, chỉ ở nhờ và đi làm thuê chứ nhất định không làm đày tớ, cũng không bỏ chạy xa như chị Ba. Thằng La-phạt ở tận Tu-ran, lâu lâu mới về một lần, Năm rình mãi mà chưa có dịp giết nó. Không đủ kiên nhẫn để chờ lâu hơn, nhân một hôm thằng Pi-e là con trai La-phạt về đồn điền nghỉ hè đang ngồi câu chỗ vắng. Năm nện cho nó một hòn đá vào đầu, xô nó xuống sông Linh rồi chạy thẳng. Năm chạy thoát nhờ may mắn: dân làm nà ven sông vớt được thằng bé mười ba tuổi, báo cho cha nó đem về cứu sống. Nhưng thằng Pi-e bị đánh từ phía sau, ngất đi ngay, không biết ai cố giết nó. La-phạt nổi điên, tát lý trưởng đổ máu mũi, dẫn tay chân ùa vào làng khám xét, bắt luôn mười sáu người đáng ngờ đem về tự tay tra tấn, tuy hắn chỉ là một chủ đất bình thường.

Hồi đầu chẳng ai nghi Năm Chò, đứa trẻ mồ côi lầm lì thường theo người lớn cõng quế trên núi cao hay xuôi bè xuống tận biển, đi vắng hàng tháng. Người thù của La-phạt thì vô số. Đến khi bọn hào lý biết đích xác là Năm Chò đã trốn hẳn, thì thủ phạm đang ở tận Cần Thơ, phụ việc cho một ông thợ mộc già đóng bàn ghế trong xóm.

Năm không làm gì được lâu. Năm nghĩ: mình giết con Tây, lúc này Tây đang tư giấy và đánh dây thép khắp nơi, trước sau cũng tìm ra mình. Bắt được, chắc nó xẻo từng miếng thịt. Chí thú làm ăn rồi tới đâu? Tứ cố vô thân, ai cần gì mình? Kiếm tiền ăn chơi cho đã thèm rồi chết, bấy nhiêu thôi. Năm nhập vào nhóm móc túi ở Cần Thơ, được thằng trùm khá công bằng dạy nghề ăn cắp. Thằng trùm bị bắt, Năm theo đoàn xiếc rong phụ khiêng đồ đạc và tập ném phi đao. Gánh xiếc rã, Năm theo gánh cải lương đang diễn gần bên, kéo phông màn và học nhẩm những câu hào hùng cũng như chửi đời. Khi Tây mộ lính gấp rút để sửa soạn đánh nhau với Nhật và Thái Lan, Năm đi khố đỏ luôn, phó mặc cuộc đời cho rượu, gái, súng đạn.

Tây đổ rồi Năm mới trở về Quảng Nam định tìm thằng La-phạt, cho nó lãnh ngọn dao hồng tâm. Nhưng anh bạn xe ngựa cả quyết rằng tất cả bọn Tây ở Đà Nẵng đã bị Nhật dồn vào Nha Trang, cho nên anh không cố lùng thằng thù số một ấy nữa. Hy vọng rằng trong đêm đảo chính nó đã bị gươm Nhật sả làm đôi.


----------------------------------------------------------
1. Từ khinh miệt thời xưa, chỉ các dân tộc Thượng ở miền Nam.
2. Khách trú, Hoa Kiều

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #18 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2015, 02:35:12 pm »

*
*    *

Bom Mỹ nổ tới tấp ở Đà Nẵng, dọc quốc lộ Một và đường sắt. Tiếng rền từ xa vẳng đến Hội An không đủ rung các mái ngói âm dương đen kịt điểm rêu thưa lấm tấm xanh. Những phố rất hẹp vắng xe nhà binh và giày đinh quân Nhật từng lúc đưa rõ xa một câu rao canh hến hay đậu hũ, đôi chỗ dội lên tiếng lách cách hối hả của những khung cửi gỗ đạp chân dệt vải xi-ta nội hóa. Bốn con chó và khỉ gác bốn góc Chùa Cầu vẫn ngồi xổm trong giấc ngủ thiếp kéo dài mấy trăm năm, sàn cầu lát gỗ thưa nẩy lộp cộp dưới chân người hay bánh xe đạp không đủ sức đánh thức chúng. Mé dưới chùa, bến sông ken dày những thuyền lớn nhỏ từ các nơi bị đánh phá kéo về trú ở nơi “phi chiến địa” này, đông hơn cả hồi Nhật Mỹ chưa đánh nhau. Nhiều chủ thuyền lo xa còn đậu tản rộng ra tránh máy bay, chợ cũng họp trải rất dài trên con đường nhựa ven sông.

Chiếc thuyền rớ của gia đình anh Tô Xáng, biến thành trạm giao thông của tỉnh ủy và được gọi là ghe dét-tê, có vẻ ngại bom hơn cả. Nó đậu tách riêng bên kia sông Cửa Đại dọc hòn đảo dài Cẩm Phò, cắm sào im lìm gần một quãng bờ vắng nào đó từ làng Kim Bồng có lũy tre mọc sát mé nước tới làng An Hội với những rừng dương liễu rậm rạp. Cả Chanh, biến thành anh chân sào, mặc chiếc áo nhuộm chàm với miếng vá trắng ở cùi tay làm tín hiệu, mỗi ngày ba lần dời thuyền theo đúng quy định an toàn.

Anh Bảy Quí giữ Chanh ở lại Hội An một tuần nữa, bắt phải đọc kỹ cả một bó những số báo Cờ Giải Phóng và báo cáo về phong trào trong tỉnh. Riêng các nghị quyết chỉ thị mới của Đảng và bản Chương trình Việt Minh thì dứt khoát phải học thuộc lòng. Chanh dựng ván đóng kín hai cửa khoang, thắp ngọn đèn dầu dừa trong cái chén mẻ hay chống hé một tấm liếp che cửa sổ dưới mui thuyền lấy ánh sáng, ngả lưng trên sạp ván trơn bóng và nứt nhiều chỗ, thả mình rơi chìm vào những dòng chữ viết tay hoặc in trầy trật bằng bảng đá, giấy nến, xu xoa. Những lời đồng chí nói với nhau, những tia nắng xiên mây đen chiếu sáng bước đường đi tới của cách mạng và của riêng anh, những nét màu rạng rỡ của ngày nắm chính quyền mà anh chỉ thấy bằng tưởng tượng trong những đêm trằn trọc trên nền xi-măng lạnh của nhà pha.

Bó giấy to sù ấy được giấu trong một ống sắt khá nặng, hình như từ ống nước thành phố cưa ra, có nắp vặn rất kín và nhiều mấu sắt hàn xì trên thân. Ban đêm Chanh để nó trên thuyền, lục soạn tha hồ, đến mờ sáng mới dồn các thứ tối mật vào, lặn xuống móc nó vào hai chiếc đinh khuy to lắp dưới đáy thuyền, chỉ để lại trong khoang những tài liệu ít quan trọng.

Anh Bảy Quý ghé về ngủ với Chanh hai đêm, giảng giải thêm những gì khó hiểu. Chanh hỏi nhiều, hỏi dồn, hỏi mãi, cảm thấy mình đang lật một cuốn từ điển bách khoa chỉ được mượn rất ít giờ. Anh Quý hành hạ chòm râu cằm lưa thưa trong khi trả lời, hết vuốt lại xoắn. Có lúc anh cười xòa:

- Mi làm như tao là Thường vụ Trung ương hay sao chớ! Đợi tao thỉnh thị thượng cấp rồi mới dám mở miệng. Ý kiến cá nhơn tao vầy đây...
Anh nói ý kiến riêng, và Chanh ngẩn người: sao mình không nghĩ ra nhỉ?

Đôi khi Chanh mải ngắm “ông già Cửa Đợi” đến quên cả câu chuyện đang dở dang. Mười lăm tuổi Đảng cộng thêm bốn năm mò mẫm trước khi Đảng chính thức ra đời. Anh bị đuổi học sau khi để tang chí sĩ Phan Châu Trinh và ký giấy thỉnh nguyện đòi ân xá cụ Phan Bội Châu, lang thang kiếm sống bằng nhiều nghề, vô sản hóa thành phu khuân vác ở ga Tua Chàm gần Phan Rang, ra Hà Nội làm thợ sắp chữ cho các báo tiếng Việt và tiếng Pháp của Đảng hồi Mặt trận Dân chủ, vào tù thì biến trại giam thành trường học, thoát ra lại như con cá kình trở về biển... biết bao giờ Chanh mới học được một phần nhỏ những gì tốt đẹp ở anh xứ ủy cao tuổi này?

- Buồn ngủ hả Chanh? Thức đêm vừa vừa thôi, tao biết tánh mi hay sa đà lắm. Giữ sức mà về Tây Quảng đánh du kích nghe chưa. Tỉnh mình lập bốn chiên khu, chỗ mi nhiều triển vọng nhứt đó.

Anh nhắc Chanh giữ sức, sau đó lại mang tơi lá, đội nón rách, một mình chèo xuồng ra đi lúc một giờ sáng dưới mưa dầm.

Chị vợ anh Tô Xáng bán quà rong trên mặt sông, mỗi ngày bơi xuồng tới ghe dét-tê hai lần, đem cho Chanh niêu cơm ghế khoai khô, trã cá kho hâm lại, xoong canh hến nấu rau lang, những món chắc bụng của dân nghèo vùng biển, nhưng dọn kèm theo các thứ quà riêng của chị, bày thành mâm cỗ không sao ăn hết được. Chị gầy và ngăm ngăm đen, mặc bà ba đen vá, không biết chữ và rất ít nói, chỉ cười tít mắt khi Chanh muốn đùn trả những thức ăn tốn tiền, quạt mạnh mái dầm đi xa mới cất tiếng rao lanh lảnh: “Ai cháo cua chả mực gỏi tôm nhộng xào không?”. Khi cần báo động cho các cơ sở giao thông trên bến dưới thuyền thì câu rao hàng lại đảo ngược cùng với ngọn đèn đổi chỗ đặt ra sau lái: “Ai nhộng xào gỏi tôm, chả mực cháo cua không?”.

Một hôm Chanh nhận mẩu giấy anh Xáng báo tin đồng chí Sáu Lễ tỉnh ủy viên sẽ đến nói về phong trào thành, thị. Chị Xáng cho thuyền áp mạn lúc sẩm tối - giờ đi lại trên sông dễ dàng nhất - chuồi qua cửa sổ cái mẹt đầy của ngon phần Chanh, buông gọn:

- Đồng chí Lễ tới đó, chú mở cửa sau. Chừng mười giờ tôi tới đón.

Chiếc thuyền chòng chành báo có người bước lên. Chanh mở cửa khoang phía lái, né cho một bóng người lòa xòa khom lưng bước vào dưới mui thấp.

Mùi nước hoa xộc mạnh vào mũi. Dưới ánh đèn dầu dừa khêu to ngọn, anh trơ trơ nhìn đồng chí Lễ: một bà béo trắng tô đầy phấn sáp, mặc áo dài lụa mỡ gà trên quần xa-tanh đen, tóc bọc lưới, đeo hoa tai nạm kim cương, dây chuyền vàng quanh cổ, xuyến vàng và nhẫn mặt ngọc trên hai tay.

Một mụ chủ tiệm vàng lọt vào tận đây, còn đồng chí tỉnh ủy đâu rồi?

Mụ ta ngồi xếp hai chân một bên, thong thả gỡ các thứ trang sức trên mình cho vào giỏ mây đan, khẽ cười: “Đồ giả hết đó, đồng chí ơi”. Rồi mụ chui ra sau lái một lát, Chanh nghe tiếng khoát nước rửa. Trở vào khoang là một chị buôn gánh bán bưng lam lũ với búi tóc củ hành và áo bà ba màu gụ đã bạc màu trên vai, túi áo gài kim găm cẩn thận. Chị nói giọng điềm đạm của người đứng tuổi:

- Coi lạ lắm hả? Chiều nay mình đi gặp mấy bà buôn to với vợ công chức lớp trên phải đóng vai nhà giàu... Bây giờ đồng chí ăn cơm đã, lát rồi nghe tình hình thành phố. Lên mạnh lắm, nhất là nữ thanh niên...

Chị xới cơm cho Chanh, dỗ dành:

- Rán thanh toán hết mâm nghen, mình ăn rồi. Mấy ảnh dặn tẩm bổ nhiều cho đồng chí, vượt ngục chưa bao lâu lại lên chỗ núi non. Chả mực chị Xáng ngon nhứt Hội An đó, ăn hết đi, để dành nuôi cá sông à?

- Chị được mấy cháu rồi, chị Sáu? Ảnh đang ở đâu?

- Ối, chuyện đời thì dài lắm, nói sao cho xiết. Ta nói chuyện công tác hay hơn. Tăm đây, nước đây, còn mấy điếu thuốc Mic...

Chị Sáu nói rất tỷ mỉ về các tầng lớp ở thành phố và các thị trấn trong tỉnh, về các đội tự vệ nam nữ đang mọc lên nhan nhản nhưng thiếu người chỉ huy và huấn luyện. Chanh không được phép ghi chép. Đến quãng giữa câu chuyện, chị Sáu đổi sang gọi Chanh bằng chú và xưng chị:

- Anh Quý khen chú nhiều lắm. Nghe nói chú là thợ xe lửa, chị mừng quá, năn nỉ mấy ảnh cho chú về giúp chị làm công vận. Mấy ảnh nhứt định không chịu, nói phải để chú lo mặt quân sự. Đang sửa soạn khởi nghĩa mà! Tây Nhựt nó không cho đờn bà vô xưởng máy lớn, thành thử chị hiểu giới thợ thuyền kém lắm Chanh à. Các đồng chí Đà Nẵng sẵn cán bộ, giàu kinh nghiệm, nắm công nhân giỏi hơn ta. Sắp tới để chị cằn nhằn riết coi thử mấy ảnh có chịu đưa chú qua xây dựng công hội hay không... Chị dặn thêm nghen: anh Bảy dạo này bị yếu phổi trở lại, chú cũng chưa được khỏe, hai anh em đừng thức thâu đêm rủ rỉ rù rì miết vậy, hại sức khỏe và cũng dễ lộ bí mật trạm dét-tê...

Chị Xáng tới đón chị Sáu Lễ đúng hẹn. Mãi đến khi đã rời thuyền đến cắm sào chỗ mới, tắt đèn sắp ngủ. Chanh mới sực nhớ một lần anh Tô Xáng bảo chị vợ anh Bảy Quý là Tỉnh ủy viên Quảng Nam, hai anh chị chỉ được một con nhưng bị chết non trong khi cả hai vợ chồng lần lượt bị bắt. Tội nghiệp, anh chị đều cao tuổi rồi.

Về anh Tô Xáng mới quen mà ai cũng gọi cả tên lẫn họ, Chanh hỏi anh Quý mới biết tông tích. Trong đợt khủng bố lớn năm 1940, bọn mật thám Quảng Nam vồ hụt anh Xáng hai lần, tức điên, dán khắp tỉnh những yết thị in ảnh và hứa thưởng hàm cửu phẩm cho ai chỉ điểm bắt được “tên cộng sản kỳ cựu Tô Xáng, bí danh là Đập hay Bát Đập”. Xáng cái tô hay đập cái bát là đồng nghĩa mà! Anh Xáng phải nằm dưới sạp ghe bầu lánh vào Tua Chàm gần Phan Rang được anh Quý giấu trong nhà cơ sở. Địch đánh hơi và bắt đầu rình, anh lại vọt vào tận Cà Mau làm dân chài. Năm ngoái anh trở về Quảng Nam nhưng phải ở ngoài Cù lao Chàm, sau đảo chính Nhật mới xáp vào Hội An và sống trên đò với giấy tờ giả.

Anh Quý chia tay đi Huế. Anh “Bát Đập” từ các huyện trở về, báo tin Thường vụ tỉnh ủy đã chỉ định Chanh làm huyện ủy viên Tây Quảng, lo việc xây dựng du kích quân và căn cứ địa ở tổng An Sơn. Bộ máy cai trị cấp huyện đang còn nhưng cấp tổng và làng đang rã rời, tê liệt, ta cần dấn tới gấp.

Cùng với em kết nghĩa và đứa em ruột mới tìm được, Chanh, hối hả trở về làng quê Linh Lâm với một nhiệm vụ to tướng và hai bàn tay trắng, vốn liếng mang theo chỉ có những dòng đã học thuộc lòng trong bảy ngày đêm nằm đò trên con sông Cửa Đại rất phẳng lặng trong mùa nước êm.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #19 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2015, 12:32:02 pm »

8.

Người bạn bồn chồn nhìn ra cửa quán, lại nhìn Hai Khánh:

- Có lẽ hắn ta không ra... Cậu xem mấy giờ rồi?

Khánh bật cười, tháo cái đồng hồ đeo tay đặt trước mặt Thạch Sơn:

- Tại chúng mình đến sớm. Trông cậu cứ như anh chàng dại gái ấy, đứng đi trên lửa nằm ngồi trong sương, giục ông mối quầy quầy... Ái chà, sắp bị ám rồi đây!

Một người trẻ tuổi mặc sơ-mi ngắn tay, quần soóc, đeo cái xắc-cốt da hình chữ nhật đứng theo kiểu đang thịnh ở Hà Nội, đi xồng xộc tới bàn của họ ở góc trong cùng.

- Chào Khánh, chào ông bạn chưa quen. Nóng bức thế này mà uống đen nóng cơ à? Tớ làm cà-phê đá thôi. Muốn hỏi Khánh tí việc... nhưng thôi, nói ở đây không tiện.

Khánh ngoảnh về phía quầy, búng hai ngón tay đánh tách, gọi một tiếng gọn: “Đá!”. Bà chủ quán gật đầu. Cô hầu bưng ly cà-phê đá đến nhanh, lui nhanh mặt lạnh như Ăng-lê. Chắc hẳn cô không ưa Khánh vì thấy anh hay cặp kè với viên sĩ quan Nhật. Nhìn quanh thấy quán đang vắng, Khánh nói với anh chàng không mời mà đến:

- Anh bạn đây là chỗ nối khố, cậu cứ tự nhiên. Định rủ mình vào Đại Việt quốc xã đảng hay là đảng nào mới ra lò?

- Không đâu, lần này chuyện làm ăn. Cậu biết ai muốn mua súng không?

- Ca-nông xoa-xăng-keng, hay là moóc-chê?

- Đùa gì thế? Tớ đang có vài cây chó lửa xinh lắm. Cho cậu luôn khẩu ru-lô đây, Chỗ anh em, tớ để rẻ năm trăm, hòa vốn thôi đấy.

Gã đặt cái xắc-côt lên trên bàn, bật nắp, rút ra một tờ báo đưa cho anh bạn của Khánh:

- Anh vờ xem báo đi, che hộ tôi... súng xanh-tê-chiên mới bóc tem nhé.

Gã rút cây súng lục ổ quay ra nửa chừng, lật qua lật lại xem hai mặt, lại đút vào xắc-cốt và gài kín nắp. Khánh trông thấy ánh thèm muốn lóe lên trong đôi mắt anh bạn đang tìm mua súng, khẽ lắc đầu, nói ỡm ờ:

- Lại súng không đạn, chuyên dùng để tống tiền, bắt cóc!

- Cậu đúng là Tào Tháo tái thế! Mang súng lắp sẵn đạn để bọn Nhật nó rạch bụng ra! Súng không đạn còn chối quanh được là mới nhặt đằng kia, đang đi trình hiến binh... Hay là tớ bớt cho cậu dăm chục, lấy cái tình là Quí.

Khánh vẫn lắc đầu:

- Mình rước của nợ ấy làm gì. Tưởng rẻ thì mình mua đi bán lại kiếm mấy chục bạc lãi uống cà-phê chơi. Cậu biết đấy, thứ chó lửa Chiêu Hòa của Nhật, rất sẵn đạn, ô-tô-ma-tíc cực kỳ ngon, chúng nó chỉ chào hàng tới ba trăm, hôm qua có đứa chịu giá hai trăm một súng với năm chục đạn. Thấy chưa?... Này, lên cơn sao mà ngáp ghê thế? Còn hút ở Tiên Cánh nữa không?

Gã kia bị đè bẹp dưới cái giọng lõi đời kẻ cả của Khánh, lại bị cơn nghiện đục khoét trong xương, đành chịu lép vế hoàn toàn. Cây súng với ba chục đạn được ngã giá đúng một trăm đồng, đưa trước năm chục, khi nhận đạn mới trả đủ. Gã vồ lấy năm tờ giấy bạc trên tay Khánh, nhỏm dậy định đi ra. Khánh lại cười:

- Đợi mình tí. Mình mượn xà-cột, đem cái của nợ đi giấu luôn, kẻo rồi hiến binh ập đến khám...

Anh bấm nhẹ vào vai Thạch Sơn ra hiệu cứ ngồi yên, lấy xe đạp phóng đi rất nhanh. Mươi phút sau anh quay lại. Gã bán súng bị cơn nghiện hành hạ đã chuồn gấp, nhắn Khánh gửi cái túi da cho bà chủ quán.

Anh bạn Việt Minh luồn tay bóp mạnh vào đùi Khánh:

- Chịu cậu... chúa thật đấy. Những như mình thì toi với nó bốn trăm chứ bỡn. Mà sao cậu đi vội thế?

- Sợ nó phản thùng, đi báo hiến binh hay là bọn Đại Việt quốc xã bắt quả tang. Ta-kê-đa vẫn chưa đến à?

- Có thể lộ. Quá hẹn bốn mươi phút rồi, nên đợi nữa không?

- Đợi chứ. Muốn được cá to phải chịu khó câu dầm. Bà chủ đây quen với loại khách uống một ly ngồi một buổi, cậu đừng ngại. Mình đóng vai dân chạy áp-phe được đấy chứ?

- Tuyệt diệu! Cậu buôn súng bao giờ mà thạo ghê thế?

- Ha ha, mình phịa tất! Hà Nội đang có cái mốt khoe súng, khoe hội kín, đứa nào cũng ra vẻ ta đây biết vô số bí mật quốc gia, thật ra đứa nào cũng mù tịt cả. Mình lòe những là súng Chiêu Hòa, giá hai trăm, chứ có xem kỹ cây súng Nhật nó ra sao đâu! Cứ lấy tên Thiên Hoàng đặt bừa cho súng, anh cu lác mắt!

- Thế mà khi học với nhau, mình cứ tưởng anh em Nam Kỳ rất là mộc mạc, da rám nắng, luôn luôn xài lớn, nóng mũi là nện luôn. Trông cậu chả có vẻ gì là Nam Kỳ cả, đặc Hà Nội...

- Ấy là vì mình không phải dân Nam Kỳ! Mời cậu ôn lại cuốn địa dư lớp Nhất: Quảng Nam và Bình Định thuộc xứ nào?

Tiếng giày đinh lộp cộp bên ngoài khiến họ im bặt, quay đầu ra. Viên trung úy Nhật bước qua cửa, đảo mắt nhìn quanh, một vòng, nặng nề đi tới bàn của Khánh trong góc. Gã không ngồi xuống ngay mà hất hàm về phía anh bạn ra ý hỏi. Khánh nói luôn bằng tiếng Anh:

- Đây là người mà các anh muốn gặp... Anh dùng cà-phê pha rom như cũ nhé?

- Anh gọi cho tôi một chai cô-nhắc Pháp. Nguyên cả chai.

- Ồ, Ta-kê-đa!

- Này Khánh, đừng dạy phép vệ sinh cho thầy thuốc nhé. Anh biết vì sao tôi uống đấy. Nên nhớ tôi có quyền phân phát rượu mạnh trong quân đội, hàng trăm thùng một lần, nhưng tôi thích cô-nhắc Pháp hơn xa-kê Nhật. Hãy để cho kẻ chiến bại là Pháp phản kích bằng rượu ngon đến khi quân Nhật ngã gục!

Trận bom lửa khủng khiếp dội xuống Tô-ki-ô đêm mồng chín tháng ba đã giết mẹ và hai em nhỏ của Ta-kê-đa. Đã thế, cô người yêu lại đi lấy chồng, một ông chồng già nhưng giàu sụ. Mới hơn một tháng mà viên trung úy trẻ tuổi già sọm đi, mắt hõm và đục lờ, càng uống nhiều càng lầm lì không nói.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM