Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:51:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người cùng quê - Tập 1  (Đọc 126570 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #20 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2015, 12:38:24 pm »

Đợi cô hầu bàn đi khỏi, Ta-kê-đa tợp một hơi cạn nửa cốc, đưa tay quệt mấy giọt rượu đọng trên mép, nói luôn:

- Ông đại tá muốn hỏi ông đại diện Việt Minh một câu thôi: các ông định mua súng để đánh ai? Nếu để đánh Pháp giành độc lập thì chúng tôi bán. Nếu để đánh Nhật, như các ông đang làm trên vùng rừng núi kia, thì chúng tôi không bán. Rõ chứ?

Khánh nghĩ thầm: một câu hỏi hóc búa đây. Anh bạn Việt Minh nghĩ trầm ngâm mấy phút trước khi đáp:

- Chắc chắn sắp tới chúng tôi phải đương đầu với Pháp quay lại chiếm Đông Dương. Chúng tôi mong quân đội Nhật sẽ giữ thái độ trung lập, không cản trở hoạt động của Việt Minh.

- Thế tại sao Việt Minh lại đánh chúng tôi? Oa-rui, tai-hen oa-rui-đex1!

- Anh xem lại tin tức: Tất cả các trận đều xảy ra khi quân Nhật đánh vào các vùng giải phóng. Anh đoán nước Nhật sẽ thua trận, sẽ rút khỏi Đông Dương, Việt Minh là lực lượng mạnh nhất và chính nghĩa nhất. Như thế đáng lẽ các anh cố giúp đỡ Việt Minh nắm chính quyền mới phải, đằng này lại hành binh đi đánh Việt Minh tít trên núi cao. Bộ tư lệnh Nhật đã xử sự sai lầm!

Khánh chăm chỉ dịch đúng từng chữ, tuy cảm thấy bạn nói hơi căng. Ta-kê-đa tự rót đầy cốc thứ hai, uống nhấm nháp, hai gò má bắt đầu ưng ửng.

- Xa, đô ka oa ka-ri-ma-xen2... Có thể ông nói đúng. Toàn bộ cuộc chiến tranh này là một sai lầm khổng lồ. Thái độ đối với Việt Minh cũng sai lầm nốt... Trước mắt, ông đại tá có thể bán vài chục súng mút-cơ-tông và anh-đô-si-noa thu được của Pháp, mỗi súng kèm dăm chục đạn, thanh toán bằng vàng thật chứ không dùng giấy bạc. Có thể chúng tôi sẽ chở bằng thuyền trên sông, các ông phục kích cướp thuyền nhưng để cho lính chạy thoát...

Khánh bật cười:

- Anh vừa trách Việt Minh bắn vào Nhật đấy!

Ta-kê-đa cười hô hố, lại im ngay. Một tên lính Nhật dựng xe đạp cạnh cửa, hối hả bước vào, đứng nghiêm chào, nói gì một tràng dài, Viên trung úy sầm mặt, nói rít răng:

- Ti-ki-sô! Đa-ma-rê!3

Tên lính gượng nói thêm vài câu nữa, chào, quay lui, để chiếc xe đạp lại đấy. Ta-kê-đa cười buồn, nhét chai rượu đã vơi một nửa vào xắc-cốt, đứng dậy:

- Người ta gọi tôi về gấp để lập biên bản cho chôn hai cái xác. Hai sĩ quan nổ súng vào đầu, một chết ngay, một còn hấp hối. Chết kiểu ấy sạch gọn hơn tục ha-ra-ki-ri4, đổ ruột ra bẩn lắm, lại phải nhờ người khác chặt hộ cái đầu để chóng chết... Các anh về tính giá cả đi, chiều mai lại gặp nhau.

Một chiếc xe tải rì rì chạy đến. Thấy viên sĩ quan dắt xe đạp tới mép vỉa hè, nó dừng hẳn lại. Hai bên thành xe treo hai tấm băng vải viết chữ Việt và Nhật trong quán nhìn ra có thể đọc một tấm “Đại Đông Á vạn tuế!”. Trên xe có chừng mươi gã mặc quần áo giống lính Nhật, không đội mũ để phơi đầu cạo trọc, hai gã đeo trống cà-rùng trước bụng, còn lại đều cầm loa sắt tây. Một gã hét khàn khàn:

- Ban-dai Đai Níp-pông!5
- Bandai! Ban-dai!

Ta-kê-đa khoát ngang một tay, có thể hiểu là vẫy chào hay xua đuổi đều được. Trên xe nổi một hồi trống như quảng cáo vở tuồng mới, xe lại chạy tiếp, các miệng loa chõ vào hai bên phố hát như gào bài ca Đại Đông Á:

- Ta là người sanh trong cõi đất Á-tế-á
Sống ngày ngày dưới ách quân Âu, ta bao xiết thương đau. Mau mau ta ra đi, mau ta ra tỉnh cơn say...
... Nào cùng đứng lên cùng hô: tàn sàn quân trời Âu!


Đợi phố vắng hẳn, hai người mới đến quầy trả tiền, và méo mặt nhìn nhau: chai cô-nhắc mọi hôm đắt nhất cũng chỉ vài ba chục nay được tính cắn cưa năm chục, bà chủ còn kể ân huệ:

- Lùng khắp Hà Nội mới kiếm được một chai Mác-ten cũ đến tám tuổi, định để dành bán chén cho khách quen, tôi nể ông quan Nhật với hai cậu quá phải đưa ra... Đại sự bất câu tiểu phí, các cậu ạ. Tôi kiếm lãi cò con một năm không bằng các cậu trúng áp-phe một giờ... Liệu chắc ăn thì cho chị đây góp vốn với nhá!

Khánh nháy nháy một bên mắt ra vẻ ăn ý. Bà chủ càng tin mình nói mò mà trúng tim đen hai chàng buôn lậu, cầm xấp giấy bạc lại rút đưa trả Khánh mười đồng:

- Chị biếu các cậu lấy may, lấy khước. Cứ dẫn nhan đến đây nhé, chưa sẵn tiền thì uống ghi sổ, về khoản bí mật thì chị cứ là nhất thế giới. Gớm, cậu đẹp giai này học tiếng Nhật bao giờ mà nói như cháo chẩy, giá đi làm cho Nhật chắc lên quan to rồi đấy. Muốn sống ngoài vòng cho dễ ăn chơi chứ gì, tướng này là thượng hạng đào hoa đây!

Khánh bật cười khà khà, kéo tay anh bạn đi ra, vẫy bàn tay kia sau gáy ra hiệu tạm biệt lối dân chơi.

-----------------------------------------------------------
1. Tiếng Nhật: xấu, rất là xấu!
2. Tiếng Nhật: Chà, tôi chẳng hiểu gì
3. Tiếng Nhật: Đồ xúc vật! Câm họng!
4. Tiếng Nhật: mổ bụng (tự sát)
5. Tiếng Nhật: Đại Nhật bản vạn tuế!

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #21 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2015, 12:57:41 pm »

Trời đã nhá nhem tối. Đèn phủ chao đen chỉ đủ đánh dấu lòng đường. Họ đi sát bên nhau trêu vỉa hè vắng về phía đường Cô-lông gần ga Hàng Cỏ, Khánh dắt xe chứ không đạp vì muốn nghe bạn nói dứt khoát việc mua súng. Thế nhưng  anh này chỉ hứa “xin chỉ thị của thượng cấp”, lo lắng vì phải trả bằng vàng.

Khánh đột ngột dặn Thạch Sơn:

- Cậu cứ đi tiếp tới ga Hàng Cỏ, đợi mình trước thềm. Mình rẽ vào nhà quen lấy cây súng ru-lô ban nãy giao luôn cho cậu, đạn kiếm sau.

Anh phóng xe theo đường Cô-lông về căn gác ở trọ. Cây súng được giấu ngay trên trần buồng anh, nhưng Khánh rất ít khi đưa bạn hoặc nhân tình về nhà. Tự do trên hết, anh không muốn ai chen vào đời tư của mình.

Khánh gói súng cẩn thận trong ba bốn tờ báo Đông Phát - tờ Đông Pháp mới đổi tên chớp nhoáng sau đảo chính - đạp xe ra ga trao cho bạn, hẹn chiều mai lại đến quán cà-phê quen.

Trở về nhà, Khánh sửng sốt khi thấy đèn sáng trong buồng mình. Anh nhớ rõ đã tắt đèn, khóa cửa kia mà. Hay là mật thám phá cửa vào soát nhà? Anh lách xe sang bên kia đường, nép vào bóng tối sau trụ đèn, lắng tai dò động tĩnh. Không có tiếng động nào đáng ngờ. Chị thợ khâu đang thuê buồng gần cửa ra vào vẫn cặm cụi may bên cửa sổ, miệng hát ru con và kéo sợi thừng đưa nôi bằng hai ngón chân. Có tiếng cười trong phòng khách của chủ nhà. Có vẻ yên ổn cả.

Anh mở cửa chính, dắt xe thẳng vào sâu sau, khóa cẩn thận trước khi quay trở ra và bước vào phòng khách. Năm sáu bộ mặt tươi nở đón anh cùng với mùi mực khô nướng xốc thơm vào mũi.

- Chú rể về kia!

- Vợ đẹp như tiên non bồng mà kín tiếng thế!

- Khao nhé, anh Khánh! Chưa khao thì cấm lên gác!

Trên mặt bàn lát đá hoa bày một bó mực khô khá to, một đĩa mực nướng xé vụn. Cô em út trong nhà đang nướng mực trên bếp điện, cả nhà đang nhai mực tóp tép. Chị con gái đầu lòng ẵm đứa con thứ ba, xua tay và nói thay cho cả nhà:

- Mãi đến nay mới biết vợ anh Khánh là cô Nết...

- Cô Xi-mo-nét, tên đầm đấy!

- Ờ, ờ, thời buổi bom đạn này mà lặn lội từ Sè-goòng ra thăm chồng, còn mang theo vô khối là của ngon vật lạ, mới biếu nhà một bó mực Bắc Hải đây này...

Cô Ba đang học đệ tứ liền bẻ chị ngay:

- Không phải Sài Gòn mà Tu-ran, ở phía Nam đất Thần Kinh. Không phải mực Bắc Hải bên Tầu mà mực Quảng Nam, chị cứ lẩm cẩm!

Khánh gượng cười tươi, đối đáp qua quýt và tránh đôi mắt hằn học của cô Hai muộn chồng, xin phép rút lui êm lên gác. Mỹ Duyên quả là chúa liều, đuổi theo anh đến tận Hà Nội. Anh chưa trao địa chỉ này cho Duyên bao giờ, sao cô ấy tìm ra nhỉ...

Mỹ Duyên mặc quần áo ngủ trong veo, đang ngồi đọc sách trên chiếc ghế xích đu đặt cạnh đèn bàn, trên mặt vẫn giữ nguyên son phấn. Cô đặt cuốn sách, thong thả gập một tờ đánh dấu chỗ đang đọc, ngước nhìn Khánh bằng cặp mắt xoi mói:

- Anh bị một keo đứng tim hả? Phân trần với chủ nhà có khó lắm không? Xin lỗi nghen, em phải xưng là vợ anh mới lọt vào hang ổ của luật gia được.

Khánh nuốt khan nước bọt vài lần mới hỏi khản giọng:

- Em ra... có việc gì gấp thế?

- Cứ yên chí lớn, ông phủ cùng bà Cả bà Hai đều thường như thường. Chỉ riêng bà Ba hơi rắc rối, trẻ người non dạ quá mà... Nhà em ở bãi biển Thanh Bình bị bom sập rồi, anh biết không? Lão phủ ra coi, kêu không đủ tiền sửa, kéo em vô ở phủ Thăng Bình, giao em làm quản gia kiêm đầu bếp, mỗi ngày lãnh mươi đồng tiền chợ với hai bài học sáng và tối về sự tu thân và tiết kiệm. Em đá tung hê, bỏ đi chẳng cần ô-voa... Sau đó, em ở đây tự lo cơm ăn áo mặc, chịu nửa tiền nhà, anh chứa được bao lâu?

- Duyên!

- Duyên nợ cái gì... Tính em xưa nay ưa sòng phẳng, cả tiền lẫn tình. Hễ anh thấy phiền, em sẽ thuê nhà riêng, trở lại nghề ca-va, dù sao cũng ít bị kiểm soát hơn nghề gái bao. Nghe nói nhà cửa Hà Nội dễ thuê lắm, người ta sợ bom bỏ về nhà quê lu bù. Tụi Nhật nhảy tồi mà lại ưa học đòi chơi kiểu Tây, trả khác lắm. Em thử vài lần mặc ki-mô-nô đóng vai trà nữ, được khen nức nở, ấy là mới lõm bõm mấy chục câu tiếng Nhật thôi đấy. A-na-ta oa nip-pông ngô ô ka-na-si-max ka?1

Khánh ngồi lặng trước mặt cô gái thua anh ba tuổi mà tính quái đến dễ sợ. Tiếng nói lanh lảnh lùi ra xa lắm, nhưng vẫn xóc vào tai anh đến đau cả màng nhĩ:

- Nằm trên tàu em đọc mãi cuốn này, kịch Lôi Vũ của Tào Ngu. Bà vợ kế là Phồn Y yêu con trai riêng của chồng, hóa điên. Bà ta khờ một cây. Em thì chẳng điên khùng gì hết, em cứ sống cuộc đời của em cho lút ga thả xăng, bao giờ quá ngán thì a-lê, nhờ bánh xe lửa hay tàu điện đưa vào hư vô...

Chẳng hiểu bằng cách nào, Khánh đã lao tới ôm ghì Duyên trong tay. Họ không nghe tiếng còi báo động réo to dần phía Nhà hát lớn, tiếng còi hơi nước the thé của xe lửa rít dồn dập phía ga. Mãi đến khi những quả bom đầu tiên nổ ầm ầm phía Gia Lâm, Mỹ Duyên mới lười biếng vươn cánh tay trần ra tắt ngọn đèn bàn bên đầu giường.

Mãi về sau, Khánh mới biết là Mỹ Duyên nói quá lên cho câu chuyện thêm lâm ly.

Một đoàn tàu biển của Nhật đâu từ Tân-gia-ba - đổi tên là Chiêu Nam - ngược lên hướng Bắc, đã ghé vào đậu nép trốn máy bay Mỹ ban ngày dưới chân bán đảo Sơn Trà, phía Đông thành Đà Nẵng. Có lẽ vì địa thế khó đánh, bọn Mỹ đợi đến tám giờ tối, đoàn tàu mở máy ra khơi mới cho mấy chục máy bay thả đèn dù sáng trưng mặt biển, giội bom xuống túi bụi. Vài chiếc tàu đằng đuôi cuống cuồng quay lại cửa sông Hàn, bị đuổi đánh tiếp. Một quả bom rơi lạc xuống gần căn nhà hai tầng Mỹ Duyên thuê, làm xô mái ngói và nứt trần. Chủ nhà thấy của nổi không bằng của chìm, không chịu bỏ tiền ra sửa. Ông phủ Đỉnh rối ruột vì Việt Minh đang dậy và bị dân kiện tứ tung, đưa xe ra đón Mỹ Duyên về ở trong phủ. Không đèn điện, không nước máy, đêm nóng phải quạt tay phành phạch, Duyên chịu được một tuần đã ngấy đến cổ, bắt chồng chạy tiền cho vào Sài Gòn thăm nhà, để vọt ra Hà Nội ở với Khánh ít lâu.

Sáng hôm sam, các gia đình thuê chung nhà với Khánh đều biết cô Nết là vợ  anh Khánh, hằng ngày đi chợ và nấu nướng cho chồng tẩm bổ, người đâu trong Nam xa lắc mà khéo ăn ở được lòng mọi người.

----------------------------------------------------------------
1. Tiếng Nhật: Anh có nói tiếng Nhật không?
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #22 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2015, 01:01:55 pm »

9.

Vào khoảng giữa miền Trung, ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Kon Tum gặp nhau ở một vùng rừng núi mênh mông và hiểm trở vào bậc nhất trong nước ta, với đỉnh Ngọc Linh vút lên cao hơn ba ngàn mét. Vùng núi ấy đẻ ra vô vàn khe suối chảy đi các hướng. Một trong những dải nước tí xíu chưa được đặt tên kia sẽ lớn lên thành con sông dài, đẹp, giàu sức sống nhất của Quảng Nam. Đó là dòng Thu Bồn.
Từ bé, sông Thu Bồn đã khôn và bướng.

Nó nhất định đi ngoằn ngoèo theo hướng Nam lên Bắc, không chịu đổ tuôn ngay xuống biển Đông đang dang rộng tay sẵn sàng đón. Nó không muốn giành, gấp lấy một cửa nào đó và tự xóa tên luôn trên bản đồ. Bao nhiêu lần vùng đất đồi trung du mở những thung lũng mời ra biển, nó cứ vừa đi vừa lắc đầu, không bước xuống thấp hơn. Nguồn Thu Bồn đón nhận nhiều sông suối khác dọc đường, lớn lên thành con thủy lộ vạm vỡ mà không đổi hướng cũ, dường như muốn thi sức chảy kéo dài với hai dòng bạn đồng hành song song hai bên.

Trên thế đất hình mái nhà của Quảng Nam, con sông Giằng trẻ và dữ vừa tiến lên Bắc vừa nhảy điệu múa đâm trâu của mình gần sát trên đỉnh nóc, trong khi dải nước mặn Trường Giang lười biếng duỗi mình dọc bờ biển như cái máng dài hứng nước chỗ rìa mái, Thu Bồn ta một mình uốn lượn nhởn nhơ ở quãng giữa, không vội. Nó bồi đắp những mảnh đất nà màu mỡ hình bánh quai vạc ven bờ để làm chuỗi hạt cườm trang điểm, xoi đường qua Hòn Kẽm Đá Dừng hùng tráng đến lạnh xương sống người chèo thuyền qua, lúc vui thì mở vực và nấn ná lâu, lát sau chán lại hóa thác vọt đi ầm ào. Nghe lời rủ rê của suối khe, nó rẽ đến thăm tất cả những nơi có thể luồn lách vào được. Nó dạo chơi rông như đứa trẻ 15 dại trốn học nhưng không tìm ra bạn, ngại về lớp và về nhà, nghêu ngao cho hết buổi.

Áng chừng bước vào quãng đất trũng từ Phú Gia tới Trung Phước, nó mới nghĩ rằng sau khi đã thu vào bấy nhiêu nước thì phải trả lại ít nhiều cho đất và người chứ. Những chiếc xe nước đầu tiên rì rào quay trên sông, càng về xuôi càng phình to và xếp lớp dày đặc, ngày đêm múc nước sông rót vào đồng ruộng. Thu Bồn đã lớn và chín chắn hơn, đi đứng xem chừng chỉnh tề hơn, biết chăm lo cho họ hàng bạn bè hơn, bắt đầu gọi người đến bên mình để mở bến, lập chợ, xây làng to.

Thế nhưng, đến khi đổ tới đồng bằng Đại Lộc nó mới quyết định hẳn đời mình. Nó rẽ ngoặt sang tay phải, đi tìm biển. Nó hồ hởi nhập vào các nhánh sông trên núi - lúc này đã bằng lòng xoay chiều để họp chung thành dòng Vu Gia - cùng nhau tỏa rộng trên vùng đất phẳng Bắc Quảng Nam, cùng kéo xuống gặp ông bạn nước mặn Trường Giang không được phép leo ngược lên núi. Cuộc thi chảy dai sức của ba con sông Quảng Nam chấm dứt ở nơi hòa hợp Cửa Đại, tạo nên thị xã Hội An xưa kia lừng lẫy chỉ kém đế đô, nhưng vẫn để dành một nhánh lớn đi tiếp lên hướng Bắc, mở thêm một cửa khác ở Đà Nẵng, cửa sông Hàn.

Kiểu đi ôm bọc mé trên đổng bằng của Thu Bồn, trong khi tưới nhiều cho nửa tỉnh phía Bắc, tạo đường thủy từ Đà Nẵng và Hội An ngược rất xa lên vùng núi, đã bỏ lại nửa tỉnh phía Nam thiếu sông ngòi. Ở đấy đi về phía Tây chỉ có những khúc đường tình và huyện tách ra từ quốc lộ Một.

Con đường tỉnh số 56 chạy xuyên qua huyện Tây Quảng, ngoi mãi lên cao. Nó gặp sông Linh, một nhánh nhỏ nối vào thượng nguồn Thu Bồn. Ở chỗ gặp nhau ấy mọc lên làng Linh Lâm. Nhích thêm một đoạn ngắn nữa, đường 56 kiệt sức đừng lại, không leo nổi tới quốc lộ 14 đang từ thị xã Kon Tum chật vật rướn mãi về Đà Nẵng mà chưa giáp mối.

Linh Lâm nằm trên một khoảng đất lòng chảo lọt giữa núi. Đó là làng người Kinh cuối cùng trên đường 56, cũng là làng người Kinh cuối cùng khi ngược dòng sông Linh bằng thuyền. Dù bị các quan trị nhậm huyện Tây Quảng gọi khinh bỉ là cái làng “nằm dưới đít mọi”, Linh Lâm vẫn cứ đóng vai một cửa khẩu giao lưu giữa Kinh và Thượng, nối liền vùng rừng núi trùng điệp với đồng bằng Nam Quảng Nam bằng đường bộ, với các hải cảng Bắc Quảng Nam bằng đường nước.

Những điểm đầu mối như thế thường phình to. Khách lạ đi lên núi, qua những xóm làng ngày càng heo hút, qua những truông đèo khỉ ho cò gáy và có khi điểm thêm tiếng voi rống cọp gầm, những tưởng càng ngược xa càng đi vào nơi ma thiêng nước độc, sẽ sửng sốt và vui thích khi từ trên thuyền hoặc xe ô-tô bước xuống vạn1  Linh Lâm, chợ Linh Lâm. Thuyền bè cắm sào đậu san sát trên sông Linh, nhà ngói, nhà tranh chen chỗ đứng trên bờ cao, người tấp nập trong chợ phiên đang mua bán các thứ hàng nội ngoại từ Sài Gòn hay Hà Nội chở về, cánh lái buôn hốt bạc đang cười sằng sặc trong tiệm ăn Tàu bên chợ. Và tất nhiêu ở nơi đầu mối này phải có đám lính đồn bắng nhắng đi kiếm chuyện để kiếm ăn, có quan Tây ở đồn binh hay đồn kiểm lâm chống ba toong dạo qua khệnh khạng, có các ông chánh tổng, phó tổng, đề lại cưỡi ngựa hay nằm cáng buông rèm kín về xem xét dân tình, vét bổng ngoại.

Linh Lâm sống nhờ ruộng rẫy, làm giàu nhờ nguồn lợi Thượng du. Vùng Thượng mênh mông trút của xuống đây. Thượng thấp có trầu, chè, thuốc lá. Thượng cao có quế, rất nhiều quế, thứ vàng mười hiện hình dưới dạng vỏ cây khô. Biết bao nhiêu người chịu bỏ quê hương tìm lên ở đất này chỉ vì mùi thơm nóng của quế. Trúng vài mùa quế là đủ xây nhà gạch, mua chức ông trùm ông xã. Lỗ vài mùa quế thì bạch đinh lại hoàn bạch đinh, mất gì mà sợ. Những người dân cày cực nhục nhất của huyện Tây Quảng gánh gồng bồng bế kéo nhau lên đây kiếm sống, vỡ ruộng phát rẫy cho có một thứ gì đấy giúp vợ con thoát đói, sau đó bắt đầu “đi rừng, đi mọi”.

Đi rừng dễ nhất. Bước ra khỏi làng một quãng là gặp rừng, chỉ cần hỏi các cụ già xem rừng nào của quan Tây đồn điền, rừng nào thuộc ấp quan phủ để tránh cho xa. Lấy gỗ, mây, tre vất vả hơn mà về xuôi bán được giá, củi, nứa dễ kiếm nhưng rẻ tiền. Ai sẵn nghề thì đốt than luôn chở đủ một chuyến bè thả xuôi sông Linh vào nguồn Thu Bồn, xuống phố Hội bán xong sẽ trở về bằng xe khách.

Góp nhặt được ít vốn và học lỏm được ít mánh lới của thương lái rồi, người trai tráng bắt đầu “đi mọi”. Đầu tiên họ đi các làng thượng ở cách một buổi hay một ngày đường, cõng theo muối, vải, rựa đổi các thứ thuốc nguyên lá, trầu, chè tươi. Dần dà, sau nhiều lần thử sức, họ mới đi “mọi cao”. Đó là các làng Thượng ở cách xa bốn năm ngày đường, có tiếng nói khác, phong tục lạ, có rừng quế mênh mông và những con heo nanh dài một gang, hằng năm có mùa kéo nhan đi đâm chém làng khác. Từng đoàn người Kinh mang hàng hóa lên đổi lấy quế nguyên cây, ở lại bóc vỏ làm quế khô luôn, cõng về làng những bó quế lớn chồng lên nhau vượt xa đầu người.

Ấy thế nhưng chính những người trồng quế trên núi và cõng quế về xuôi lại cứ nghèo mãi, cứ kiệt sức dần đi. Dân Thượng bị lừa phỉnh và ép giá, đổi quế quý lấy những thứ hàng tồi tệ được gọi chung là “hàng đổi mọi”, người Kinh không ai dùng. Trai làng Linh Lâm đi mỗi chuyến quế cực nhọc hàng tháng trên núi, đem quế về cân cho các nhà buôn, quả có nắm trong tay một mớ tiền mà con nhà ruộng rẫy không thể kiếm nổi. Các chủ nợ đã chực sẵn: nợ mua hàng đổi, nợ đong gạo để lại cho vợ con ăn, nợ mua thuốc chữa bệnh sốt rét, nợ ông thầy cúng xả ngải2 và với những anh chàng liều mạng thì còn hàng đống nợ nơi hàng quà, quán rượu, sòng bạc, tiệm hút nữa, cân quế xong phải trốn biệt. Rốt cuộc, miếng ăn hằng ngày của cả nhà cũng chỉ trông vào vài thửa ruộng núi và mảnh đất gò trồng sắn, khoai.

----------------------------------------------------------
1. Bến sông có xóm làng.
2. Do mê tín, người đi rừng núi mắc bệnh sốt vàng da kéo dài thường cho là mình bị dân Thượng bỏ ngải (như bùa, ếm) phải thuê thầy cúug xả ngải (giải bùa, ếm)
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #23 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2015, 01:12:54 pm »

Tất cả tiền và quyền ở Linh Lâm nằm trong tay bốn gia đình. Địa vị và vốn liếng của họ khác nhau, đôi lúc họ cạnh tranh xô xát nhau, nhưng động đến những việc sinh tử thì họ bó kết với nhau rất chắc.

Đồ sộ nhất là đồn điền của gia đình Lê-ông La-phác-sơ. Hắn vốn là tên đội lê dương giải ngũ, được cử làm trưởng đồn kiểm lâm ở nơi đầu nguồn này, chuyên chặn đánh thuế các thuyền bè xuôi sông Linh và xe hàng lên xuống đường 56. Thấy đồi núi Linh Lâm trồng cà-phê và nhiều loại cây công nghiệp lên tốt hắn cậy cục xin trưng khẩn một vùng rất lớn từ sông Linh đổ lên phía Tây. Sở đạc điền cử người về vẽ bản đồ, quan huyện lên tận nơi gọi hương lý ra đình cho xem tờ giấy tô màu xanh đỏ ghi đặc chữ Tây, thế là giang sơn riêng của “ông Tây La-phạt” thành hình vào khoảng năm 1933-34. Đồn kiểm lâm giao lại người khác, vẫn đóng ở chỗ ngã tư đường ô-tô gặp sông trấn giữ một góc đồn điền La-phạt. Vài năm sau, nhân có mấy vụ “động mọi” do người thượng nổi dậy chống đi phu đắp đường trên núi, hắn lại chạy chọt kéo được bốn chục lính khố đỏ và một viên quản lên đây lập đồn binh, lo canh gác mặt Tây của đồn điền.

Hắn kinh hoàng sau vụ thằng Pi-e con hắn bị thằng bé Năm Chò trong làng giết hụt, từ ấy đi đâu cũng kéo cả nhóm có súng. Dân Linh Lâm thường gặp một bộ ba cưỡi ngựa kéo qua làng: La-phạt cao lênh nghênh và gầy đét đeo súng săn, thằng con trai vạm vỡ hơn đeo cây súng Đức bắn voi, lão Huần quản lý cũng giắt lưng con dao găm và cầm ngang yên một cây rựa bén, cả ba đều gườm gườm như vào đất thù địch. La-phạt cố ý chừa một bộ râu xồm rậm rì như cố đạo để lấy oai, chịu khó học tiếng Việt để ra lệnh và nghe thưa bẩm mà không phải dựa vào lão Huần. Hắn không hề chờ đợi một ai thương yêu hay thật bụng với hắn trong vùng này, trong cả nước này. Một phút người ta ngừng khiếp sợ là cha con hắn mất đầu ngay.

Sau khi Nhật vào Đông Dương, ông chúa đất Linh Lâm mau chóng xuống dốc. Hắn ngừng trồng cây, mỗi năm chỉ thuê phát dọn sơ sài khu vườn cũ, những dãy nhà dành cho “cu ly” thường rỗng. Hắn nghiện thuốc phiện ngày càng nặng, mỗi bữa kéo tới năm chục điếu mới dậy được, bỏ luôn cái thú săn bắn mà chỉ cho thuê cây súng săn hai nòng lấy một nửa con thịt rừng kiếm được. Đồn binh bỏ trống, nhân viên kiểm lâm chỉ còn hai người Việt không có súng, lão Huần làm quản lý đồn điền ăn cắp nhiều hơn trước. Vài năm trước khi Nhật đảo chính, Lê-ông rất ít về Linh Lâm, cứ nằm lỳ ở Đà Nẵng, chỉ phái thằng Pi-e lâu lâu lên xem đồn điền và thu hoa lợi, nạt nộ lão Huần khi thấy gian lận quá quắt. Nghe đâu hắn dạm bán đồn điền rất rẻ mà không ai mua: tất cả các thứ hàng xuất khẩu đều dồn ứ lại, ở Linh Lâm quế chất đống như củi, nói chi đến cà-phê!

So với vùng đất trưng khẩn hơn năm trăm mẫu tây của Lê-ông La-phạt - nếu tính cả những đồi núi xung quanh không khoanh vào bản đồ nhưng hắn cứ nhận bừa là của hắn thì có thể tới ngót một ngàn mẫu - cơ ngơi nhà ông chủ Ung Viết Đỉnh xem chừng khiêm tốn hơn nhiều, sổ bộ chỉ ghi phần ông có xấp xỉ sáu chục mẫu ta ruộng và ba chục mẫu ta vườn chè, ở đây tính xấp xỉ một mẫu ta bằng nửa mẫu tây. Tất cả đều nằm ở mạn phía Đông con sông Linh, gần như đối xứng với khu đồn điền qua dòng sông nhỏ chảy theo hướng Nam - Bắc.

Lý hương quen gọi khu này là ấp quan phủ, nhưng dân làng cứ nhất định gọi là ruộng ông Hường. Các cụ già kể rằng xưa kia khu đất ấy lắm voi cọp, không ai dám đến vỡ ruộng, chỉ ở xúm chùm chung quanh vạn và xóm chợ. Khi ông Hường Hiệu về huyện Quế Sơn lập Tân tỉnh chống Pháp1, tính kế đánh lâu dài, bèn cho một đoàn nghĩa binh ngược sông Thu Bồn tìm chỗ đất tốt trồng trọt nuôi quân. Vị tướng cầm đầu nghĩa binh chống thuyền ngược lên đến đây, nhìn lên bờ thấy một bầy voi rừng đang lần lượt quỳ xuống như xin quy phục. Lên một quãng nữa lại gặp một bày cọp xếp hàng bên sông, gục đầu như xin tha tội, rồi len lét bỏ đi. Ông cho là điềm lành, bèn dừng quân nơi thung lũng này, lập trại khai hoang. Voi cọp dạt hẳn sang bên bờ Tây sông Linh. Mới một mùa đầu trại đã gửi được hàng chục thuyền lúa bắp xuống Tân tỉnh theo nguồn Thu Bồn. Ông Hường nghe trình chuyện lạ, bèn đặt tên chữ cho làng này là Linh Lâm thôn, ấy là để tạ lại rừng núi đã quý trọng người nghĩa sĩ, mà cũng dựa vào tên hai làng Thượng ở gần đấy là Bà-linh và Bà-lam.

Sau ba năm gần như làm chủ tỉnh Quảng Nam, nghĩa hội ông Hường Hiệu bị đánh tan. Quân Tây và Nam Triều bận đối phó lắm nơi, không kéo tới Linh Lâm. Số nghĩa binh ở đây nhập vào dân làng, nhiều người về quê đón vợ con lên ở hẳn. Bẵng đi khá lâu, bỗng quan huyện cho đề lại và lính lệ kéo lên truy tội cũ. Chúng bắt đánh nhiều người, ăn hối lộ đầy túi, sau đó khoanh hết vùng ruộng ông Hường làm trại ấp tư của một cụ Thượng ở triều đình Huế.

Có người còn nhớ việc này xảy ra vào năm Khải Định nguyên niên.

Chưa ai trông thấy cụ Thượng đầy cai quyền ấy đến nhận trại ấp nào cả. Chỉ thấy những viên quan trẻ tự xưng là ông Huyện, ông Hậu, ông Thừa, con cháu họ hàng của cụ Thượng đến Linh Lâm để tạo lập dinh cơ cho cụ. Họ đặt mua gỗ gạch ngói, rước thợ từ Hội An lên, xây cho cụ một dinh cơ không lớn lắm nhưng đầy đủ vẻ bệ vệ của nhà quan. Dinh cụ Thượng ở nơi thượng nguồn này vẫn có tấm bình phong đắp nổi hình cọp đằng trước, một vọng lâu cho lính gác trên cổng, bốn bức tường cao vây quanh gắn đầy mảnh chai, và những nhà bên trong xếp hình chữ môn tề chỉnh. Tòa chính đường xây mái cong và đắp lưỡng long tranh châu, phải cái bên trong chẳng có gì đáng giá cho mấy, dường như tới đấy thì cụ Thượng hết tiền.

Dinh xây xong, người đến ở lại là một người con gái gầy như con cá khô, bụng chửa vượt mặt, suốt ngày ru rú trong buồng. Chỉ có ông chồng trẻ măng chịu khó đi thăm xóm làng cho người ta trông thấy, được gọi là ông Hậu vì đang học trường Hậu bổ ở Huế. Chẳng bao lâu dân làng đã dò ra tung tích của cặp nọ: cô Tôn Nữ Tuyết Trinh, con đầu lòng cụ Thượng chửa hoang với một anh lính lệ, đã được ông Hậu Đỉnh cưới làm vợ với ấp Linh Lâm làm của hồi môn. Có lẽ vì cố phá thai nhiều lần nên bà Tuyết Trinh đẻ ra cô Tôn Nữ Ung Huyền Tâm quanh năm ốm đau quặt quẹo, nói một câu lại điểm một tiếng thở dài.

Tuy vậy, ruộng ông Hường ăn nước đập vẫn tốt đều, vườn chè hằng năm vẫn đưa về xuôi hàng trăm sọt chè khô, dân tá điền ở dồn trong xóm ấp vẫn nộp tô và phục dịch cho dinh quan huyện rồi dinh quan phủ. Cụ Thượng về hưu vẫn chăm lo đường hoạn lộ cho con rể, dù ông này đã lén lấy vợ hai và vợ ba. So với đồn điền La-phạt bên kia sông, giang sơn ông phủ Đỉnh rất ít lên voi xuống chó.

Tiếp tới nhóm thứ ba, dường như nắm tiền nhiều hơn quyền, thật ra hai mặt đều vững ngang nhau. Ấy là nhóm các chú, những nhà buôn người Tàu trong đó đứng đầu là ông Xâm Tô, trong sổ đinh ghi là Thái Tam Đa. Ông này đã ngoài sáu mươi, ngày đêm nằm bên bàn đèn thuốc phiện, mỗi tháng chỉ vài lần ra khỏi nhà để đi lễ chùa. Ở nơi hốc núi này, chỉ với một cái bàn tính gỗ lên nước bóng và một cuốn sổ con, ông nắm được và điều khiển được giá quế từ các làng Thượng trên cao tít cho đến các cảng biển Đà Nẵng, Hội An. Ông có họ hàng ở tận Hải Phòng, Sài Gòn, Hương Cảng, Tân-gia-ba. Trừ những món lãi lặt vặt, không ai dám qua mặt ông Xâm Tô khi thương lượng những mối buôn lớn nếu không muốn ông chơi lại một đòn quỷ quái cho sạt nghiệp. Các lái buôn người Tàu thần phục ông đã đành, lái người Việt rủa ông nhưng đều chịu thua ông. Ngay chủ đồn điền La-phạt hay quan phủ Đỉnh cần mua bán gì cũng đến tận nhà nhờ ông làm môi giới mới khỏi bị hớ hênh.

Hạng thứ tư trong làng là gia đình ông Cửu Áng hay Xã Áng. Đó là một người mập lùn trạc ngoại tứ tuần, hai gò má chảy xệ, chừa râu mép quặp, có thể gọi là người vui tính nhất làng. Với bất cứ ai ông ta cũng có câu chà pha đùa bỡn và tự mình cười hi hi trước. Đầu làng cuối xóm chỗ nào ông cũng đi tới, can một đám chồng đánh vợ, dắt ông lão say về nhà, xua con trâu thả rông ăn lúa. Mỗi tháng ông chỉ ăn cơm nhà chừng mươi hôm, luôn luôn có nhà nào đó mời ông đến “uống nước” theo lối nói nhũn nhặn ở đây. Nếu không phải quan hôn tang tế thì cũng là cuộc nhậu mừng “đi mọi” về bình yên hay xẻ thịt con heo rừng mới mắc bẫy kẹp. Ông càng uống càng pha trò đậm đà cho vui bữa tiệc, ra về còn nhớ chắp tay vái trước bàn thờ nhà chủ. Người ta mời ông lý trưởng và mời được luôn ông khách dễ dãi và tươi tỉnh. Ông chỉ cầm roi mây hay tay thước khi có quan trên về làng thúc thuế, bắt sưu, miệng hò hét mà con mắt nheo nheo bảo rằng mình chỉ đóng tuồng vậy thôi.

Ông nội Cửu Áng bị nghĩa binh cụ Hường Hiệu đâm chết khi đang làm chánh tổng, theo Nguyễn Thân chống quân Cần vương. Cha Cửu Áng thua bạc, tiêu lạm của công, bị dân kiện đi tù và mất triện đồng lý trưởng. Ông Cửu suy ngẫm sự đời, thấy ở nơi sơn cùng thủy tận này không thể thi thố quyền uy như dưới xuôi, phải biết nhu nhiều hơn cương, giáo nhiều hơn trị. Ông biết đóng đủ các vai: ông chúa làng bản xứ khi gặp chủ đồn điền La-phạt, viên lý trưởng khúm núm khi sang ấp quan phủ, một tay thương lái lõi đời khi thăm ông Xâm Tô bên bàn đèn, và ông xã vô cùng bình dâu hồ hởi khi dạo quanh làng.
----------------------------------------------------------
1. Ông Nguyễn Duy Hiệu cùng các ông Phan Bá Phiến, Nguyễn Thành đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Cần vương tại Quảng Nam năm 1885, lập nghĩa hội, xây dựng nghĩa binh, đặt Tân tỉnh ở tổng Trung Lộc huyện Quế Sơn, chiến đấu rất oanh liệt, đến 1888 mới tan rã.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #24 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2015, 01:18:30 pm »

Một việc bất ngờ đối với các cụ trong làng xảy ra sau đảo chính Nhật: đích thân ông Cửu Áng đứng lên mời anh Ba Mít nổi tiếng ngang bướng làm xã thủ lãnh thanh niên, một chức mới đặt ra khi vua Bảo Đại tuyên bố “dân vi quý”. Tiếp tới hôm làng họp bàn việc tế Xuân, ông Cửu lại lễ phép thưa làng rằng ông hương kiểm nghiện nặng khó lo bề trị an, xin mời ông Chanh, chính danh là ông Tư Chua, ra gánh vác việc làng giúp cho bà con ta an cư lạc nghiệp. Cả hội đồng ngũ hương cùng các cụ lão làng trố mắt nhìn ông Cửu. Ai cũng biết Tư Chua thợ rèn là kẻ chửi bới hương lý quanh năm, lại có con đầu là Cả Chanh, chánh trị phạm bị tù rất lâu không biết sống hay chết. Không ai dám mở miệng cãi ông Cửu. Người ta sợ ông thì ít mà sợ mắc vạ miệng với cha con Tư Chua là phần nhiều.

Làng Linh Lâm hôm nay vào đám tế Xuân.

Cứ như những năm phồn thịnh xưa kia thì các cụ bày vẽ ra tới ba đám. Tế đình là tế ông thành hoàng tược sắc phong làm thần. Tế miếu là quải cụ tiền hiền có công quy dân lập ấp. Còn một lần nữa tế âm hồn cô hồn ở miếu âm cô ở ngay gần đấy nhằm tránh mọi sự quấy nhiễu. Riêng số người Tàu còn lập riêng một cái chùa con con của họ, gọi là chùa Tiều, cúng vái vào mùa Xuân cũng chẳng ít.

Năm nay gặp thời hoạn lạc, dân làng cùng cánh thanh niên ồn ào đòi cải lương hương tục, các cụ đành chịu làm chung ba cuộc lễ vào một ngày. Các bài văn tế được chép lại bằng chữ quốc ngữ, ông chủ xướng bỏ bớt đi nhiều đoạn hưng, bái, bình thân, phục vị các cụ chánh tế bồi tế đỡ mỏi gối đều bằng lòng. Tế đình xong sang ngay miếu tiền hiền, sau đó đồng dân hội ẩm tận xế chiều, khi cúng âm cô thì số đông đã nói líu lưỡi và đi xiêu vẹo, rượu lậu xứ núi Linh Lâm vốn quật voi cũng ngã.

Ông thợ rèn Tư Chua đến chiều đã ngà ngà nhưng vẫn tề chỉnh.

Nhậm chức hương kiểm, cai quản mấy chục tuần đinh, ông sửng sốt mất một buổi rồi thấy đắc ý. Bọn người chiếu trên đã chịu nể mặt ông. Lão Cửu Áng chuyên cười cợt kia phải đến nói khó trước với ông để ông khỏi từ chối. Ngày xưa chạy tiền mua chức nhiêu quèn cũng bay đi vài ba sào ruộng, nay ông nhảy vào hội đồng ngũ hương có thực quyền trong tay mà chẳng khao làng xu nào, Cửu Áng còn túm tay ông ông kéo lên chiếu nhì trong cuộc hương ẩm.

Ông mặc áo dài đen, đội cái khăn đóng mượn trong xóm chợ, thắt ngang lưng dải khăn điều, mặc quần trắng cháo lòng - lệ thường mượn áo chứ không ai mượn quần - đi đôi guốc mộc hằng ngày chỉ dùng để rửa chân trước khi ngủ. Ông định cầm lưỡi mác cho oai, sau thấy không hợp với ngày tế lễ lại gửi vào nhà quen cạnh đình, đổi cầm sợi roi cày mà ông chặt cụt bớt đi cho giống con roi ngựa.

Miếu âm cô lập ngay ở góc vườn đình, đỡ phải đi xa. Dân làng đánh chén no say đã về nhà gần hết; ông Tư chẳng cần hò hét giữ trật tự như buổi sáng. Ông vung vẩy cây roi đi qua lại sân đình cho mọi người tha hồ ngắm và nhớ từ nay phải thưa gửi với ông Hương Chanh chứ không được gọi xách mé là lão Tư rèn như trước.

Miếu xây chật, phần lớn các cụ đứng ngoài vái vào. Anh tư chúc viên đậu bằng sơ học yếu lược, dốt chữ nho, vẫn đọc được bài văn tế viết chữ quốc ngữ bằng giọng thống thiết và lè nhè của thầy cúng:

... “Sĩ nông đẳng lưu, công thương các nghệ
Du đãng chi đồ, huê nương chi kỹ,
Năng u năng minh, viết thần viết quỷ,
Hoặc đọa sơn lâm, hoặc trầm lưu thủy
Hoặc ngộ xà thương, hoặc phùng hổ tỷ...


Ông Tư gật gù. Tay trai trẻ này đọc khá hơn các ông lão biết chữ nho nhưng đã lòa mắt run giọng. Chỉ ngại là các âm hồn cô hồn chết từ xưa không được học chữ quốc ngữ, sau khi đốt văn tế e rằng đọc không ra..

... Hoặc trầm thuyền thất phách thăng, hoặc tử lộ tam hồn phản vị,
Hoặc phùng lôi đả vị đào, hoặc bị hỏa thiêu nan tị,
Hoặc sản nạn nhi chung thân, hoặc ôn hoàng nhi yểu thế...


(Lược dịch: ... Làm các nghề học trò, cày ruộng, thợ thuyền, buôn bán; là trộm cướp, gái điếm; ở chỗ tối hoặc nơi sáng, kẻ gọi là thần người bảo là quỷ: bị đày rừng núi hoặc chết đuối giữa dòng; bị rắn hoặc cọp vồ; chìm thuyền mất bảy vía hoặc chết đường mất ba hồn; gặp sét đánh không trốn được hoặc bị lửa cháy khó tránh; chết khi đẻ khó hoặc bị bệnh dịch chết non.)

Thấy chung quanh yên ắng, ông Tư dừng lại bên gốc cây đa to, trầm ngâm nghe tiếp bài văn mà ông hiểu lõm bõm. Ông chưa già mấy, mới 45 tuổi thôi, mà đã thực mục sở thị biết bao nhiêu cuộc đời chết oan chết ức. Bấy nhiêu mâm xôi thịt cúng sao cho đủ, phải làm như người ngoài Bắc Kỳ đổ cháo trên lá đa thì mỗi âm cô mới được một miếng thơm thảo...

Hóa xong văn tế là lễ tất. Anh tư chúc tươi tỉnh bước ra, khom lưng xoa tay trước mặt ông Tư:

- Dạ, để xin mời bác Hương..

Ông giật mình, trịnh trọng trong đầu:

- Phải.

Ông đĩnh đạc đi thẳng lên chiếu nhì, không đợi Cửu Áng kéo tay như hồi trưa. Ông đã nhập vai hương kiểm ở cái làng ven núi lắm vụ xô xát và voi cọp này. Như lời Cửu Áng đến nhà nói riêng với ông, trong thời buổi nhiễu nhương loạn lạc, phi tay ông thì chẳng còn ai đủ sức vỗ yên dân chúng, nghe cứ mát rượi lỗ tai.

Tan cuộc rượu chiều thì mặt trời đã lặn. Dãy núi ông Tượng bên kia sông đổ bóng sang làm mặt đất sẫm đen, trong khi nền trời và những mảng mây trắng trên cao vẫn còn sáng rực, soi đường cho bày chim muộn bay hối hả về núi. Ngang tầm ngọn cây trỏ xuống, chim đớp muỗi kéo đến mỗi lúc một đông, chao qua lách lại, đuổi theo làn mây muỗi đang bị ánh đuốc hút tới chỗ sân đình. Từ truông Dơi đã bay ra những con dơi kếch xù nhào lộn trên cao hơn, trông hệt những lá bàng khô cuốn trong gió xoáy. Tiếng voi thi rống vẳng đến từ rừng chuối dại trải rộng trên đường lên làng Blam của người Thượng, báo hiệu có thể động rừng sớm hơn mọi năm.

Lửa đuốc từ các ngả kéo tới sân đình mỗi lúc một nhiều. Người nhà quen lệ đi đón các ông chức dịch sau mỗi dịp tế tự, nhất là ở nơi xứ núi càng phải tránh đi đêm mà thiếu giáo mác đèn đuốc. Lứa con trai choai choai hay tranh làm việc này: chưa đến tuổi ra ngồi mâm nơi đình miếu, chúng đi dìu cha hay ông say rượu khật khưỡng về, nhặt những thứ khăn và guốc thường bị bỏ quên, nhất là nhận gói xôi thịt bánh trái chia phần mà chúng ngóng chờ từ trưa.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #25 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2015, 01:20:13 pm »

Ông Tư bước ra sân, nhìn quanh mãi không thấy thằng Bòng nhà ông cầm đuốc tới đón. Ngại mình say hoa mắt, ông gọi to:

- Thằng Bòng đâu? Ớ Bòng! Đứa nào thấy thằng Bòng nhà tao không?

Không đứa nào thấy cả. Từng cặp hay từng cụm người rời sân đình theo bó đuốc sặt cháy phừng phừng dẫn đầu, hắt xuống mặt đường những bóng đen nghiêng ngả. Vài anh tráng đinh không ai đón hú gọi kẻ đi trước chờ mình, tất tưởi đuổi theo với cái áo đen vắt vai và đôi guốc cầm tay, thả rơi lại một tiếng chào ông Hương gọi là có.

Dù hơi men bốc ngùn ngụt lên mặt, ông Tư vẫn nhớ rằng ông là người duy nhất trong số dân xóm Mới được dự phần chấp sự và ăn cỗ chiều, bây giờ ắt sẽ về một mình. Đường từ đình làng về xóm Mới lại hay gặp rắn hổ mun, tinh mắt đến mấy cũng khó thấy chúng nó trong đêm mồng một này. Ông lầm bầm chửi thằng con một câu, rẽ sang căn nhà rách gần đình, nơi ông gửi cây mác sáng nay. Tuy uống khá nhiều nhưng ông không quên một thứ gì mang theo.

Anh chủ nhà là tá điền của của nhà giàu trong chợ, cũng là chân tuần đinh, lại thường đến đặt ông rèn lưỡi rìu và rựa đi “đổi mọi”. Anh ta sốt rét không ra đình, lúc này đã cất cơn, ngồi gọt cây cán rựa bằng khúc cau rừng bên đĩa đèn dầu lai. Thấy ông đưa trả cây roi cày chặt cụt, anh ta xẵng giọng:

- Sao không để roi dài mà quất cho sướng, ông hương kiểm?

Lòi lẽ có vẻ ngọt, nhưng cái giọng xách mé ấy không lẫn được, ông Tư cười xuê xoa:

- Mai kia tao đền vài chục cây. Cho xin khúc đuốc về đường đây, Chín!

- Tôi nằm run miết, lấy ai đi chặt sặt bó đuốc!

Ông Tư chưng hửng. Thằng này mọi hôm vẫn chú cháu với ông, nay bỗng trở chứng lạ không. Ông gắt anh chàng bằng giọng người lớn trong nhà, bởi chưa quen nạt nộ như đám hương chức:

- Làm trò gì vậy Chín? Mày tiếc khúc đuốc với chú Tư à?

Anh kia bật cười, buông đoạn cán rựa gọt dở xuống, đi ra hiên sau. Ở đây mọi nhà đều trữ hàng ôm những cây đuốc dài khô nỏ, treo dọc dưới mái đằng sau, cũng cần thiết như cái đồng la và cây giáo sắc trong những đêm chộn rộn. Anh đưa cây đuốc, vẫn cười:

- Thổi bễ cho chú rèn, nghe chú rủa miết mấy cha lý dịch trong làng, cháu học thói bướng của chú chớ của ai! Nghe nói chú nhảy lên chiếu trên, tụi này hẹn với nhau: hễ còn chú Tư lò rèn thì còn lui tới, hễ phách lối thì rào đường rấp ngõ luôn. Chú tính sao  đó mặc lòng!

- Cha chả, tao đã hóa hùm đâu mà bay chĩa mác! Để lần khác tao nói bay hiểu, khuya rồi, về đã.

Ông hạ thấp cây đuốc bước ra khỏi nhà, cơn đắc ý cũng như cơn say đều tan mất một nửa.

Lát sau ông về đến ngõ. Con chó Đồ nhận ra ông từ xa đã đón sẵn ngoài đường, rít khẽ trong họng và nhảy dựng lên vài cái, chào chủ theo kiểu chó săn nòi không bao giờ liếm chân và sủa nhảm. Ông giụi đuốc bên ngõ cho tàn lửa khỏi bay vào lá khô rơm nỏ trong vườn, đi thuộc đường qua hết vườn, vào sân.

Trong nhà đèn đĩa thắp sáng, bếp đỏ lửa. Nhiều người đứng ngồi lố nhố. Một người ngồi trên giường đang kể câu chuyện gì đấy bằng giọng tỉnh khác, chung quanh bật cười rộ.

Ông bước lên thềm, dựng cây mác và hỏi đột ngột:

- Rèn thứ gì gấp hay sao mà...

Tiếng nói tắc trong cổ. Người kể chuyện vừa đứng vọt dậy, gọi lắp bắp:

- Cha!

Ông hớp một hơi, ho mạnh một tiếng mới kêu được:

- Ôi, thằng Chanh... Mày về đó hả con?

Đôi guốc và cái khăn đóng xỏ vào bắp tay rơi xuống đất. Ông run rẩy chụp lấy hai vai Cả Chanh, lắc mạnh, lại nắn bóp hai bắp tay Chanh, nói hổn hển:

- Lạy trời, nó còn đây... Cha cứ sợ mày tiêu rồi, tù đày sao mà không đánh về được một chữ vậy con... ừ mà nó còn nguyên, không sứt mẻ gì....

Rồi chợt nhận thấy mình mủi lòng quá, ông bật một tiếng “è hèm” thật to, khoát tay:

- Ngồi, mời bà con ngồi xuống, ôi chao, thằng Cam nữa à? Sao cứ chỗ tối núp miết vậy con? Nhà mình về đủ hết rồi đó bà. Ông khách nào đây? Cơm nước chưa? À mà có gói xôi đem về cho sắp nhỏ...

Các con ông nói nhiều, cười nhiều. Ông chỉ nghe loáng thoáng trong khi mải ngắm Cả Chanh. Nó giống ông nhất nhà với cái trán cao, đôi mày nét mác, cặp mắt hơi xếch, cái cằm nẻ đôi, đến vóc người cũng từa tựa như ông. Nó là đứa con đầu lòng nết na, thông minh mà ông đã chắt bóp cho ăn học hơn ba năm chữ nghĩa trước khi học nghề sửa máy. Ông gửi gắm tất cả hy vọng vào nó, chẳng ngờ nó phụ lòng ông, theo chúng bạn làm hội kín đến nỗi chịu tù đày. Gì thì gì, nó vẫn là đứa ông thương nhất.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #26 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2015, 01:26:13 pm »

10.

Ở Hà Nội được nửa tháng, Mỹ Duyên lần đầu phải lo nghĩ.

Một cô bạn ở gần nhà viết thư cho Duyên, nhờ người đưa tận tay, báo tin ông phủ Đỉnh ra Đà Nẵng truy hỏi con Sen một trận hết vía, dọa đưa nó đi tù nếu nó còn giấu những vụ lăng nhăng của cô chủ. Lần này thoát nhưng khiếp đảm, muốn thôi việc. Ông phủ còn dùng thế quan quyền buộc chủ nhà sửa gấp căn nhà thuê cho Duyên, nay sắp xong. Rất có thể ông đã gửi thư vào Sài Gòn hỏi bà má và cô em ruột của Duyên xem người vợ lẽ ngổ ngáo có vào thăm họ thật không.

Đợi Hai Khánh xem thư xong, Mỹ Duyên cười khẩy.

- Vậy là anh chưa bị nghi. May cho anh đó. Em đang trù tính giúp anh làm đảo chánh!

Khánh giương mắt dò hỏi, Mỹ Duyên rót xong nước sôi vào hai cái phin cà phê, đặt thìa và đường xong mới nói rành rọt:

- Em tính đưa anh lên làm chủ một trăm mẫu ruộng vườn ở Linh Lâm. Bấy nhiêu còn ít, về sau sẽ mở thêm, đất lu bù...

Dù ngạc nhiên đến mấy, Khánh vẫn quen giữ vẻ điềm tĩnh rất Ăng-lê, đợi Duyên nói hết. Và anh sửng sốt thật sự khi Duyên vạch ra cả một kế hoạch lớn, lâu dài, đã được trù liệu đến từng chi tiết vụn vặt nhất. Tất cả đều nảy sinh trong đầu và nói ra từ miệng một cô gái nhảy chuyển sang gái bao.

- Không có đồng tiền trong tay thì thời buổi nào cũng chỉ ngang hàng con Ki-ki. Anh biết đó, ba em mới nằm xuống người đã từ hôn chị Phượng, đến nỗi chị phải nhảy sông lặn đủ ba ngày. Má em bán hàng xén thua lỗ, em đang học trường đầm phải bỏ đi học nhảy đầm, từ Sài Gòn nhảy ra thấu Tu-ran, vui ghê đi... Bây giờ tới anh. Hăm hai tuổi đầu, sống nhờ đôi chút tiền lời của tiệm buôn Lợi Thịnh, học ngốn hết luật tây đến luật ta, nay coi bộ phải dở dang... Chịu khó nghe hết nghen. Biết anh là người hùng kiểu Lê Văn Trương, nhưng anh không thể sống bằng nước lạnh và không khí. Lúc này anh đang thất bại, nhưng có thể chuyển bại thành thắng. Thiệt chớ. Cứ yên chí lớn là con Duyên nó thạo xoay tiền hơn  anh, nó nắm chắc việc gia đình phủ Đỉnh hơn anh trăm lần!

Mỹ Duyên đang hăng, má ửng hồng và mắt long lanh, trông đẹp hẳn ra. Khánh dán mắt vào cặp môi lúc này không tô son mà vẫn đỏ chót, nghe chăm chú.

- Lão phủ mới bốn mươi sáu mà không có con được nữa, thứ bệnh tim la chữa vụng trộm nó vậy. Lão xài sâm nhung với yến sào nhiều quá mới cần đàn bà đó thôi. Bà Cả tới năm mươi rồi, cô Huyền Tâm như lá cải úa vẫn ế chồng, mà có lấy chồng cũng chẳng được xơ múi gì, ruộng vườn Linh Lâm đứng tên lão phủ hết. Văn tự ký vào đúng ngày cưới, anh thấy lão khôn không? Mấy năm gần đây mẹ con bà Cả thì thào với nhau những sự báo ân báo oán, lập bàn thờ Phật, còn tính chuyện cạo đầu đi tu nữa. Lão phủ khuyên họ cứ tu tại gia để trông coi trại ấp ít lâu nữa, sẽ xây riêng cái am cho hai mẹ con tu chung ở đâu tùy ý. Tới đó lão sẽ mở rộng ấp qua bên kia sông, chiếm lần lần hết đồn điền La-phạt...

Khánh bật kêu lên:

- Em về Linh Lâm bao giờ mà sành sỏi thế?

- Lão cho em xem bản đồ. Lão còn khoe bây giờ hết sạch quan chức Tây rồi, thằng chủ La-phạt chỉ mong sống sót là may, quân Nhật lo đánh nhau, quyền hành về tay Nam triều hết. Có thể lão lên Án sát Quảng Nam đó. Nếu em thiệt ngoan, chí thú giúp lão làm giàu, em sẽ là bà Án... à quên, cô Án, cai quản đồn điền quan Án Đỉnh. Bảnh chưa? Vinh hoa phú quý chưa?

Khánh cười xòa, nhấp xong ngụm cà-phê mới giở cái giọng trêu chọc hàng ngày:

- Dì Ba được lên cô Án thì dính dáng gì tới thằng con riêng của bà Lợi Thịnh?

- Dính vô vàn. Dính suốt đời. Lặng im mà nghe dì Ba giảng cho đường đi nước bước... Em nằm khuyên nhủ lão mấy đêm liền. Trại ấp của lão nằm ở chỗ cùng trời cuối đất, già gan thì giàu tấy lên, non gan thì sập tiệm chẳng mấy hồi. Đàn bà con gái như em, giỏi lắm chỉ làm được cái vai ghi sổ sách, giữ tay hòm chìa khóa cho lão, chớ bước ra khỏi nhà là thiên hạ bóp mũi luôn, chết không kịp trối vái. Cai quản cơ đồ của lão phải kiếm được người cao tay ấn kia. Đợi khi lão thiệt bí em mới nhắc tên anh. Anh giỏi luật, nói làu làu tiếng Pháp tiếng Anh, cưỡi ngựa bắn súng như tài tử xi-nê, biết nói ngọt mà cũng biết quất roi gân bò... Lão ngần ngừ lâu rồi mới nhận anh là bậc nhứt. Chỉ sợ anh đang cố giựt cái bằng cử nhân luật, không chịu về Linh Lâm. Sau đó lão phàn nàn rằng anh ít ưa lão, anh coi lão như khách lạ. Đúng vậy không  anh?

- Đúng trăm lẻ một phần trăm!

- Anh dại! Anh chịu khó mềm dẻo một chút, hai đứa mình sẽ làm chủ ấp Linh Lâm, đồn điền Linh Lâm.

- Làm cai cu-li chứ chủ quái gì!

- Nơi rừng núi có thể xảy ra vô số tai nạn chết người!

Khánh cảm thấy một luồng nước đá chảy nhanh từ gáy xuống dọc xương sống. Anh nhấc ly cà-phê lên tợp một ngụm to, thấy nóng ran trong họng và ngực. Mỹ Duyên đã rót rượu rom vào cà-phê lúc nào chẳng biết, rất đậm. Đôi mắt lóng lánh đang nhìn anh như thôi miên. Anh lại uống, ngoảnh mặt đi tránh cái nhìn thách thức ấy.

- Sao, anh dám không?

Đầu Khánh xoay xoay mỗi lúc một nhanh. Những ý nghĩ lộn xộn cứ bước tới và giật lùi như sóng biển vào bờ, nhưng nước thủy triều là Mỹ Duyên tràn mãi vào anh không ngừng, anh sắp bị chìm ngập rồi,  anh khó cưỡng nổi...

- Nếu lão phủ biết điều, chúng ta có thể sống tay ba được. Trong cái nội các ở Linh Lâm, anh sẽ làm thủ tướng, lão phủ làm ngoại giao, em nắm bộ tài chánh. Chúng ta sẽ giữ thể diện cho lão, chi tiền và kiếm gái thoải mái cho lão, với điều kiện lão không được mưu mô đảo chánh hai đứa mình.... Anh sẽ là ông chủ đồn điền tân tiến như trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn. Một ông chủ biết lái xe hơi và nhảy đầm, biết giá cả hàng hóa trên thế giới, biết điều khiển hàng trăm hàng ngàn phu phen mà cũng biết mua máy, mở xưởng, lập công ty, biết ra oai cho người sợ mà cũng khéo làm phước cho người yêu. Thằng Tây La-phạt nó nhìn xa trông rộng hơn lão phủ nhiều lắm, không bị Nhật đánh thì trước sau nó cũng nuốt sống trại ấp của lão thôi. Bây giờ cả ngàn mẫu đất đồn điền coi như vô chủ, ta không nhảy gấp vô là bỏ lỡ cơ hội làm giàu. Để ít lâu nữa, một thằng đảng phái thân Nhật nào đó ném ra mươi lạng vàng đút lót, lập một công ty ma trơi để cung cấp hàng cho quân đội Thiên hoàng, vậy là chúng mình lại y nguyên như cũ là thằng học trò kiết và cô gái nhảy! Anh học đến ho lao ho tổn, chi bàng ra sức làm giàu rồi vất một ít tiền lẻ mua cái bằng, gì chứ bằng cử nhân luật thì quá dễ! Sau đó anh đừng hám thứ tri huyện tri phủ già nua lẩm cẩm, cũng chớ có theo nghề công chức ba cọc ba đồng. Anh làm nhà kinh doanh kiêm chánh khách, dân biểu hay là hội đồng kinh tế, mặc sức mà lựa chọn...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #27 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2015, 01:27:54 pm »

Điện trong gian buồng nhỏ bỗng tắt phụt. Ngoài cửa sổ điện đường cũng tắt, nhưng xa hơn phía ga Hàng Cỏ vẫn sáng đèn và không có còi báo động, chắc chỉ hỏng một đoạn đường dây.

Bóng tối giúp Khánh thoát khỏi đôi mắt sắc cứ chòng chọc như một mảnh chai bén gí mãi vào tinh mũi anh. Anh bước lại đẩy rộng thêm cửa sổ, hít mấy hơi gió đêm mát dịu, lại nín ngay khi bãi rác bên kia phả vào gió một luồng hơi nóng và hôi. Gian gác gỗ mười hai mét vuông này được giảm giá cũng vì bãi rác ấy, bà chủ còn cho mượn thêm một bàn và hai ghế dựa khập khiễng mà không tính tiền. Chỗ ngủ rất dễ, một chiếc chiếu trên nền nhà, đêm trải sáng cuốn.

Trong ngày đầu tiên ở Hà Nội, Mỹ Duyên đã đi chợ trời mua ngay một quạt bàn cũ, một chiếu đôi, một ít soong chảo bát đĩa để nấu thêm thức ăn phụ vào hai suất cơm trọ do bà chủ nấu, còn màn đôi và tấm ra đắp thì cô đã cẩn thận mang theo từ Đà Nẵng. Các gia đình khác thuê chung nhà đều là công tư chức hạng nghèo, họ vui thích khi chị Khánh lột ngay bộ cánh lộng lẫy hôm mới đến, cắp rổ đi chợ cùng các bà các chị trong bộ áo quần giản dị, mua gì cũng nhờ các bà mặc cả hộ. “Đàn bà trong Nam thế đấy, ra đường cứ như bà hoàng, thật ra cũng phải chắt bóp từng xu như ta ngoài này”. Khánh nghe lời đồn ấy chỉ bấm bụng cười thầm, không cải chính. Chỉ riêng anh biết tiền mua kem Véc-giê-nôn mà Duyên xoa quanh bụng mỗi tối cho tan mỡ, giữ eo, đã cao hơn lương tháng của ông ký có bộ râu ghi-đông ca-rê dưới nhà.

Mỹ Duyên đến bên cửa sổ, đối mặt với anh. Lặng im khá lâu cô mới tiếp:

- Chị Phượng em chết vì đàn ông. Em đã giúp chị trả thù ít nhứt một tá đàn ông. Em liếc nháy cười cợt cho họ mê mẩn, buộc họ quỳ gối dâng tiền cho em xài, xui người này nện người kia. Rốt lại em sa vô tay anh, em cần xin từng chút thương yêu xu lẻ của anh, em.. em biết ơn vì trong khi em ở Hà Nội anh không lui tới với cô thợ thêu ở phố Bờ Sông nữa... anh dành cho em hai tuần trăng mật như vợ chồng... vậy là hết cỡ rồi, em đi...

Trong đôi tay ghì chặt của Khánh, Mỹ Duyên vẫn quay mặt tránh môi  anh.

Hôm sau, chị Khánh tươi tỉnh đi chào tất cả các gia đình trong nhà để về quê, che mặt xấu hổ khi các bà chúc cuối năm sinh con trai, không cò kè khi trả tiền cơm trọ tăng gấp rưỡi mỗi suất ăn và cả tiền điện nước tăng thêm vì một người thành hai. Bà chủ vốn có tính ăn cho buôn so.

Mãi đến khi sắp bước lên xe lửa, Mỹ Duyên mới nói thêm một điều cuối cùng:

- Em khuyên  anh vất sạch đi những thứ luân thường đạo lý cổ lỗ đời xưa. Lão phủ với anh chẳng phải cha con, em với anh đùa nhau là dì con thôi. Hồi trước thái tử lên ngôi là xài ngon mấy ngàn cung tần mỹ nữ của vua cha, kể số gì đâu. Tạm biệt, cũng có thể là vĩnh biệt!
Khánh biến thành người không hồn sau cuộc chia tay. Hà Nội rỗng không. Bom đạn va cao xạ không đủ đánh thức anh. Những cô xanh đỏ lượn lờ chỉ là bóng ma. Trường Luật lui về quá khứ. Anh miễn cưỡng đi làm thông ngôn cho mấy anh bạn Việt Minh mua súng qua người trung gian là Ta-kê-đa, nhưng chỉ cặn kẽ mà chẳng còn đầu óc nào làm quân sư nữa.

Hà Nội đã đầy nghẹt những người chạy đói ra tỉnh ăn xin, ngày càng thêm những xác đen quắt gục chết ở các bãi chợ. Gạo lên mỗi ngày một giá, mọi thứ hàng đều nhong nhóng theo gạo mà lên. Sau khi hết hy vọng kén chồng cho cô con gái thứ hai, bà chủ ngọt ngào báo tin rằng tháng tới Khánh sẽ phải trả một trăm hai mươi đồng tiền cơm và tiền trọ, ấy là tính giá chỗ thân tình.

Khánh còn gắng gượng được thêm một tuần nữa với những anh bạn ăn ít nói nhiều, càng thất nghiệp càng tỏ ra bận rộn, cho đến khi phải ra chợ trời bán xe đạp để đủ tiền mua vé tàu về Quy Nhơn giá chợ đen.

Việc mua súng vẫn tiếp tục với một cô thông ngôn mới, nói tiếng Nhật ấp úng như nhai kẹo cao-su. Ta-kê-đa dành chút quà cho Khánh: một khẩu súng ngắn 7 ly 65 với ba chục đạn thu của Pháp, kèm một bản “thân phận chứng thư” của hiến binh cấp để anh có quyền đem súng theo. Các bạn gói riêng cho anh một gói báo chí và tài liệu Việt Minh trong cái bao tải rách, lên tàu sẽ giấu vào một chỗ hơi xa người.

Ngoảnh mặt nhìn ra ngoài cửa sổ toa xe, Khánh còn phân vân chưa biết mình về quê để làm gì. Chạy đói, bám theo Mỹ Duyên, hoạt động Việt Minh, hay là giành lấy sản nghiệp của ông bố hờ? Có thể cả bốn việc cùng một lần?

Chuyến tàu ỳ ạch càng nhích vào gần Đà Nẵng, Khánh càng bị Mỹ Duyên ám ảnh ngày đêm. Một ngọn bút chì nào đó cứ tô đậm thêm mãi những đường nét của Duyên trong anh.

Một họa sĩ vẽ tranh tố nữ sẽ không bao giờ mượn Duyên làm mẫu. Mười hai bà mụ đã thi nhau nghịch ngợm khi nặn ra cô gái này: trên mặt và người cô tất cả đều mất cân đối, đều “quá một tí”. Tóc quá dài, mày quá rậm, trán quá dô, mắt quá to, mũi quá hếch, môi quá đỏ, miệng quá tròn, ngực quá nở, eo quá nhỏ, đùi quá dài, da quá trắng.. Bấy nhiêu thứ “quá” cộng lại làm nên sức cuốn hút lạ lùng của Duyên, ấy là chưa kể bộ óc thông minh đến mức tinh quái và rất nhiều kiểu ăn chơi tài hoa hết sức bất ngờ mà Duyên chỉ tung ra khi thật cao hứng. Yêu Duyên luôn luôn là khám phá, là xuôi thuyền trên con sông đầy thác ghềnh, khác vô cùng với những bà vợ hiền như con kênh phẳng lặng.
Khánh không thể hình dung ra mình là chồng Mỹ Duyên, bởi khó tưởng tượng được Duyên trong vai người vợ đảm đang chung thủy. Anh chỉ biết lúc này Mỹ Duyên đang yêu anh, sẵn sàng liều vì anh - cái liều ấy dữ dội gấp ngàn lần cô gái nhà lành dám trốn lén đi xem xi-nê với trai - và mỗi vòng bánh xe đang đưa anh về với vòng tay của nàng.

Khi tàu dừng ở ga Đà Nẵng, anh ngẩn người một lát rồi hối hả vác va li, xách bao tải tài liệu, đi vội ra ngoài ra, bỏ luôn đoạn đường vào tiếp Quy Nhơn tuy vé tàu phải mua gấp năm lần giá chính thức. Anh gọi xe kéo về thẳng nhà Duyên, chẳng cần biết có thể chạm trán lão phủ Đỉnh ở đấy hay không.

Hai mươi phút sau, Duyên đã nấc lên trên ngực Khánh:

- Em biết... anh phải về với em..

- Sao thế?

- Vì trên đời này không ai yêu anh bằng em cả.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #28 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2015, 01:29:50 pm »

Phát-xít Đức đầu hàng không điều kiện. Hồng quân chiếm đóng Bá-Linh. Hít-le chết! Phía chân trời Tây súng ngừng nổ.

Cả Chanh nhận được cái tin động trời ấy khi đi bộ ngược đường 56, ghé qua nhà một huyện ủy viên gần bến phà Huề Bình. Anh đọc vội tờ giấy đánh máy không dấu, một chỉ thị hỏa tốc của tỉnh ủy: các cấp phủ huyện, tổng, làng phải xây dựng rất gấp lực lượng võ trang và sẵn sàng đón lệnh khởi nghĩa toàn quốc cướp chính quyền. Ăn vội xong bữa tối, anh kéo Năm Chò và Cam đi luôn qua truông Dơi bước ngang những dấu chân cọp bằng cái bát in trên bờ khe, về lò rèn của cha theo đường tắt tránh xóm.

Trong đêm gặp lại ấy, cả nhà thi nhau hỏi và nói, chỉ trừ bà Tư quen nết không chen vào câu chuyện giữa đàn ông với nhau, chỉ nghe và thỉnh thoảng lau mắt sụt sịt. Vắng mặt Tư Quýt và Năm Bưởi đi rừng đốt than chưa về. Con Thanh Yên mới được hai năm ngủ say từ sớm.
Bởi tên là Chua, ông Tư đặt tên cho con bằng tất cả các thứ trái cây chua trên đời: Chanh, Quýt, Bưởi, Cam, Bòng, Thanh Yên là bốn trai hai gái còn sống, mất đi một trai hai gái là Bứa, Khế, Me bị yểu bệnh. Đặt tên xấu dễ nuôi, ai cũng thấy là phải, nhưng ông cố ý đặt những tên có thể giữ cả đời mà không cần sửa lại tên chữ.

Khi tính tới chuyện ăn ở trước mắt, ông Tư rất bốc:

- Không việc gì phải trốn núp. Tao dấu thằng Chanh với thằng Chò ra giữa đình làng, kêu hết lý hương lại cho họ bái phục tụi bay. Năm Chò đây, còn nhỏ xíu đã biết đánh nhào con Tây xô xuống sông, đáng mặt hảo hớn chưa? Còn Cả Chanh nhà tôi đây, người khác lo luồn cúi các quan, nó hy sanh vì đất nước ông bà, bây giờ lật đổ được Tây rồi, nước mình được Nhựt trả độc lập rồi, công trạng của nó to lắm lắm. Tao cứ vậy tao nói, tao vểnh râu cho mấy cha đó cụp mặt, hà hà hà..

Chanh bấm bụng cười thầm. Anh định căn vặn cha mấy việc: cho thằng Cam đi ở mướn tận Quy Nhơn, nhận làm hương kiểm dưới quyền Cửu Áng, thêm câu chuyện cha nói với cô Hai Thùy trách anh dại dột theo cộng sản. Nhưng thấy cha đang hồ hởi,  anh chưa khui ra vội.

- Đó, bay cứ yên bụng, tao làm hương kiểm ở cái làng này, đố đứa nào dám qua mặt tao mà quấy rầy tụi bay!

- Vậy lính huyện nó lên trói luôn cả hương kiểm thì sao?

Ông Tư ngớ ra, rồi cãi lấy được:

- Trói tao, tao chống chớ! Giáo mác để chi?

- Một mình cha chống sao nổi?

- Tao la làng. Ai chớ bọn trai trẻ làng này chẳng vừa đâu. Nội bà con nghèo ở cái xóm Mới tứ chiếng đây, họ ấm ức lâu lắm rồi, lão Cửu Áng cố rước tao vô ngũ hương là để dỗ ngọt dân xóm Mới đó. Mai kia mày gặp thằng Ba Mít thử coi, nó ăn nói ngang như cua mà lên thủ lãnh thanh niên cái rốp!

Ông sa vào lý lẽ của con trai mà không biết. Người nghèo phải bênh vực nhau, muốn vậy phải bí mật gặp nhau, bàn mưu tính kế trước cho rập ràng. Khi thật mạnh rồi mới ra mặt, giáo mác ná tên chĩa ra như con nhím dựng lông, bọn người chiếu trên chẳng những cụp mặt mà còn sụp xuống lạy như rái giỗ cha mà sướng cái bụng!

Dân ngụ cư tứ chiếng đồn Linh Lâm làm ăn khi tất cả đất vỡ ruộng đã vào tay chủ Tây La-phạt, ấp phủ Đỉnh, các nhà giàu hoặc khá giả trong xóm Chợ. Họ chỉ còn một hướng để loang ra: ngược dòng sông Linh và các khe suối chảy vào sông Linh, bám nguồn nước để phát rẫy lấn mãi lên vùng núi Ngọc Linh hiểm trở. Người đến sau dựa vào đất người đến trước cho đỡ lạnh lưng nơi hẻo lánh, người đến trước rủ rê giúp đỡ người đến sau lập trại mới làm bình phong và có nơi nhờ cậy nhau khi tối lửa tắt đèn. Ông Tư nói đúng: đâu chứ ở xóm Mới này, dù ích kỷ đến mấy cũng phải châm đuốc cầm mác chạy tới khi nghe la làng, không thế thì về sau anh bị cọp vồ ngay trước mắt người ta cũng chẳng thèm động ngón tay cứu anh.

Trước kia ông Tư trồng trọt ngay chung quanh lò rèn cho dễ trông nom. Sau đất xấu dần, ông phải vỡ xa hơn, nhưng vẫn bám dòng suối gọi là khe Hội vì từ dương Hội chảy ra. Ở đây các đồi núi gần làng xóm đều gọi là dương, và cái tên dương Hội ghi lại cái tích ngày xưa dân làng cùng với nghĩa binh ông Hường Hiệu mở hội vây cọp ở đây, đâm chết một con hùm xám nghiện thịt người, nó chẳng nể quỷ thần đã nhường dải đất mạn Đông sông Linh cho người khai khẩn.

Năm ngoái ông Tư phát rẫy xa nhà chừng nửa cây số, năm nay trước lễ tế Xuân đã phát dọn lại rẫy cũ ấy. Cả Chanh quyết định sống trên rẫy, không ở nhà. Năm Chò chẳng cần giấu mặt, sẽ ra mắt đám lý hương và xin phép ở với ông Tư học nghề rèn. Trong làng không ai biết chuyện thằng Sáu Cam đi hoang vì lão phủ Đỉnh giấu biệt, chắc cũng sợ mang tiếng là đem trẻ con bỏ chợ, coi như êm.

Tờ mờ sáng, cả nhà ông Tư kéo nhau lên rẫy, gánh theo ba gánh tranh cắt phơi sẵn định lợp lại chuồng trâu. Chỉ trong một ngày, Cả Chanh đã có một chòi rẫy mới dựng sát bìa thay cho cái chòi cũ quá gần con đường mòn. Từ chỗ anh ở anh có thể trông thấy những ai băng qua rẫy đi tới chòi. Ông Tư rất khoái khi thấy anh tự buộc một bộ bàn ghế để ngồi viết bằng tre, mây và những cọc chôn xuống đất.

- Ờ, ờ, người có chữ ở nơi thảo lư cũng cứ ra người có chữ. Ai tới gặp họ phải nể mình, trượng mình.

Thấy Chanh băn khoăn tìm chỗ cất giấu tài liệu sao cho khỏi ướt và mối xông, ông nghĩ một lát, tức tốc chạy về nhà. Chẳng nói chẳng rằng, ông trút bừa cái thạp đựng đậu phụng ra giường, xách luôn cái nồi rang bằng đất và một chiếc quang bằng dây thép đang dùng để treo trã cá dưới mái nhà, đi vội ra rẫy.

- Đây, bay coi tao giấu các thứ giấy tờ hay nhứt thiên hạ. Hồi năm Ngọ, con Bưởi mới đi men, cộng sản dậy dữ lắm, quan lính đi soát nhà hốt hết cả gia phả, phủ chí, khế ruộng, còn xăm nát nhà tìm súng với cờ cộng sản. Người ta giấu vầy đây mới thoát.

Ông đi vào rừng mươi bước, chọn một cây rậm lá, úp cái nồi rang trên miệng thạp sành, đặt cả vào quang, leo lên treo vào cành cây, leo xuống nói oang oang:

- Lính nào leo cây soát xét hết rừng này, tao đi đầu xuống đất!

Ông chẳng cần biết con ông làm cộng sản, làm Việt Minh hay không, theo vua Bảo Đại hay theo ông lớn nào. Nó về với ông đây rồi, gầy yếu đi nhưng không đui què mẻ sứt, sửa được tới cái xe lửa to bằng đình mà lại học lắm chữ nghĩa đến nỗi dạy cả mớ học trò trong tù, như lời Năm Chò kể trong khi làm chòi. Nó về làng để cứu giúp dân lành khỏi bị những sự ép bức, ái chà chà! Được lại một đứa con như vậy, lính tráng nào chĩa súng vô nó thì ông phanh ngực ra đỡ đạn cho nó lập tức!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #29 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2015, 01:32:00 pm »

*
*    *

Lắm kẻ chưa bao giờ thấy ma nhưng rất sợ ma. Cửu Áng chưa hề thấy một thứ gì của Việt Minh cộng sản nhưng đang trải qua những cơn sợ rợn gáy.

Dường như trong làng đang có nhiều thay đổi bí hiểm.

Quán mì Quảng bánh xèo của bà Hai sẵn rượu lậu ngon cứ ngày một vắng. Sòng xóc đĩa của trùm Bân xưa nay chia tiền hồ cho ông Cửu rất đều, nay đến báo đã dẹp hẳn vì ế ẩm, thu hồ không đủ dầu đèn, trà nước. Anh hương sư bỏ dạy đi buôn từ lâu bỗng tình nguyện mở lớp dạy đêm theo kiểu Hội Truyền bá quốc ngữ. Lại có những nhóm trai trẻ xúm chùm bàn thì thào, thấy ông cửu đến chợt ồn ào rủ nhau đi đánh cá sông. Ghé vào nhà nào đấy, thỉnh thoảng trẻ con trả lời rằng cha hay anh đi đâu chẳng biết. Một tốp tuần đinh kéo qua thưa rằng đi tuần, nhưng ông Cửu hút hết ba điếu thuốc nguyên lá to tướng vẫn không nghe chó sủa ở đâu cả, tuy trong làng nuôi rất nhiều chó.
Tình thế này, nếu có thứ gì phải giấu, ấy chỉ có thể là hội kín. Việt Minh chưa từng treo cờ rải giấy gì nhưng ông cảm thấy họ lẩn khuất đâu đây như bóng ma sau lưng ông. Ở nơi thâm sơn cùng cốc này, khi họ kéo dân nổi dậy thì lạy van nộp triện là thượng sách, đành chịu mất toi mấy sào ruộng đã bán để giật cái triện ấy về mình.

Ông đã bạo tay chơi liên tiếp hai con bài Ba Mít và Tư Chua. Đám dân ngụ cư tứ chiếng coi bộ bớt hằn học với ông sau khi có người của họ lọt vào hàng hương chức. Bây giờ phải chơi tiếp.

Tư Chua mỗi khi gặp ông thường hỏi Nhà nước đã bắt được Cả Chanh chưa, để biết nó còn không. Hỏi thật hay giả khó hiểu được, nhưng mỗi lần gặp Tư Chua ông lại xởi lởi mở chuyện trước.

Sáng nay cũng vậy, ông kéo Tư Chua vào nhà mình:

- Nghĩ mà phục hết cỡ đó ông Hương. Là tôi nói anh Cả nhà ông chớ ai. Giữa hồi quốc phá gia vong mà ảnh liều thân đi lo việc nước, làng mình chẳng có ai nuôi chí lớn tới vậy.

Ông mời chén trà điếu thuốc, xoa tay thì thào:

- Chưa có tin gì đâu, ông Hương. Coi như ảnh đang tung hoành ngoài vòng cương tỏa. Mai sau không biết chừng ảnh cầm quân về làng như ông Từ Hải, mặc sức tụi này lo bề rước xách! Tới đó ông nhớ tôi nghen, chỗ bạn già với nhau!

Cũng trong buổi sáng nay, Hai Khánh thả lỏng tay cương cho con ngựa đi bước một qua xóm Chợ. Anh chịu khó chào tất cả những người gặp dọc đường, riêng đối với các cụ già còn kèm một lần cúi rạp trên lưng ngựa.

Anh biết cả làng Linh Lâm này không ai ghét anh. Ghen anh tốt phước thì có, ghét hẳn thì không.

Từ khi ông Phủ Đỉnh thôi giấu vụ lấy vợ lẽ, anh thường về ấp nghỉ hè. Bà Tuyết Trinh với cô Huyền Tâm ốm yếu vừa gờm vừa lôi kéo anh, bởi anh có thể lên làm chủ ấp mà cũng - nếu Trời Phật xui khiến - có thể làm chồng cô Tâm bạc phận. Anh dửng dưng mọi sự, chỉ mải mê vác súng hơi đi bắn chim, bơi sông, phi ngựa, có hôm sang đồn điền La-phạt cùng đi săn thú lớn với cha con thằng Tây. Nhiều lần bà Cả nhờ anh đi coi gặt chia đôi vụ tháng Năm, anh dễ dãi để cho tá điền gánh tăng phần lúa tô rẽ về nhà họ mà không nhận lễ tạ riêng cho mình. Lang thang đi bắn,  anh gặp những người lén đến những khu rừng đã khoanh vào ấp để đốn cây chặt củi, chỉ cười cười xua tay: “Của rừng núi mà, các ông bà cứ lấy”.

Nông dân ở đây thấy ông phủ hách dịch, bà phủ riết róng, riêng cậu Hai Khánh là biết thương dân nghèo. Khánh cứ của người phúc ta, chẳng vạ gì mà làm con ma xó cho một gia đình mà anh miễn cưỡng gọi bằng ba với mẹ dù không hề mang giọt máu nào chung với họ.

Chiều ý Mỹ Duyên, anh đã về Thăng Bình và gây cảm tình với phủ Đỉnh.

Quan phủ đang lúc hết sức bối rối. Một nhóm trí thức thân Nhật nhảy vào nội các Trần Trọng Kim đang cố lắp người của họ vào những chỗ then chốt của bộ máy Nam triều. Ở tỉnh Quảng Nam, số trí thức nửa mùa lựa gió phất cờ cũng cố ngoi lên, đòi thay tất cả các quan lại đã từng làm tay sai cho Pháp. Ngay trong phủ này đám nhãi nhép như hương sư, thầy lang, cai đội về hưu cũng rục rịch bàn nhau “đi khiêng ông phủ” trả cho tỉnh. Các chánh phó tổng, lý trưởng phó lý lên trình quan mà mặt mày thất sắc, báo toàn những sự Việt Minh treo cờ rải giấy, xui dân làm loạn, có nơi đánh trống họp làng để tuyên truyền “đánh Tây đuổi Nhựt”. Họ lạy van xin trả chức, ít nhất cũng xin trùm mền nằm im ít lâu. Quan phủ vừa dỗ vừa dọa mới giữ được họ nắm triện chờ thời. Toàn phủ lúc này chỉ có ba chục lính lệ với mười hai cây súng mút-cơ-tông và bốn chục đạn, đem bắn thử thì hai viên nổ một, còn kẻ cầm súng thì chỉ quen quạt hầu châm đóm, nghe đạn mình nổ cũng són đái trong quần. Lấy gì mà chống Việt Mình?

Phủ Đỉnh ngờ ngợ một buổi mới nhận ra Hai Khánh có vẻ trọng nể mình hơn trước, bớt lầm lì dè giữ. Sau đôi lượt hàn huyên, ông càng tin mình đoán đúng. Gã con trai này chịu xuống nước vì tắc mất hoạn lộ, mẹ nó không nuôi báo cô được mãi, nó đang cần dựa vào ông, mà ông cũng rất cần dùng nó làm cánh tay phải để mở con đường lui.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM