Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:24:17 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người cùng quê - Tập 1  (Đọc 126430 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #30 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2015, 01:35:55 pm »

Đêm đến, ông đuổi lính hầu ra, gài chặt cửa, pha ấm trà sen, bày khay rượu Mai quế lộ dầm sâm và chùm nem chua, bàn việc nhà với Khánh:

- Ba thấy con về quê là phải, Hai à. Đang hồi sóng gió này, thầy trò ai lo phần nấy, bụng dạ nào mà dạy với học. Con nghỉ vài năm, tới khi thái bình thịnh trị con lại học tiếp, học luật mới, có thể là hiến pháp mới. Hễ ba chưa về hưu chắc cũng phải học lại hết, luật La-mã với Quy-giát 1, luật Hồng Đức với Gia Long của ba xưa quá rồi... Con về Qui Nhơn thăm mẹ với các em ít ngày cho vui. Nhưng mà ở hẳn Qui Nhơn thì không nên đâu con. Mẹ con buôn bán, có các em giúp là đủ, con chen chúc với đám thương nhơn đa trá chắc là chịu không nổi, uổng phí mất tài năng đi. Ba trù tính vầy, con nghe thử coi: con về trên ấp Linh Lâm giúp mẹ trông coi ruộng vườn một thời gian. Ba nhắm giữa hồi hỗn quan hỗn quân này, ta lấn qua đồn điền thằng La-phác-sơ được đó. Lâu nay ba mới thăm dò mà chưa nói gì với cụ Thượng, tại ba dính chân ở cái phủ chó ăn đá gà ăn muối này, không lên thu xếp tại chỗ được. Hễ con chịu ra tay thì ba chạy đủ giấy tờ, cũng lẹ làng thôi Hai à...

Khánh hơi rùng mình khi cảm thấy sức mạnh ghê gớm của Mỹ Duyên. Nàng đã nói trước tất cả những điều hôm nay ông phủ nói, dặn trước những câu mà Khánh phải đáp lại. Khánh sẽ làm ra vẻ do dự, sẽ cảm thấy khó xử trước mẹ con bà Cả, sẽ xin khất mấy hôm để suy nghĩ... “Bấy nhiêu cái đã, rồi anh ra đây bàn tiếp với em, lấy cớ đi vô Tam Kỳ thăm bạn. À, anh nên khuyên lão phủ đưa em về ở với lão nghe chưa. Lý do: dì Ba còn trẻ, ở một mình e rằng có kẻ dòm nom. Lời khuyên đến tai em, em sẽ lồng như ngựa chứng, nói rằng thằng Hai Khánh nó ỷ học cao, con này dù thân gái nhảy cũng vô bậc bà dì mà nó dám coi khinh, vân vân. Nhớ hết chưa đó?”

Sinh ra sớm vài thế kỷ, tiến vào cung vua, Mỹ Duyên rất có thể lên tới ngôi thái hậu buông rèm trị nước!

Mọi việc diễu ra gầu đúng y mưu mẹo của Duyên, chỉ khác một chút là đôi trai gái rời nhau không nổi. Khánh ở lỳ trong một phòng trọ kín đáo tại Đà Nẵng đến mươi ngày mới trở lại phủ đường của ông cha hờ, nhận việc.

Phủ Đỉnh hớn hở ra mặt. Ông bỏ hẳn một ngày đêm để cùng với Khánh nghiên cứu địa thế Linh Lâm trên tấm bản đồ lớn 1/20.000 của sở đạc điền Pháp, tự tay sửa những tên đất bị in sai, lập danh sách những ai cần mua chuộc, cần cô lập, cần trừng trị. Trong số đáng trừng trị có ông Tư Chua. Cả Chanh chính trị phạm thì gặp đâu bắt đó, thằng cộng sản gộc ấy nguy hiểm nhất. Nó là dân Trung kỳ, án tù của nó là do Nam triều phán quyết chứ không phải của chính quyền Bảo hộ cho nên còn giá trị, vì vượt ngục nó không được hưởng nghị định ân xá của nội các Trần Trọng Kim, tờ trát tróc nã nó vẫn dùng được.

Khánh nghĩ thầm: “Và nó cũng là người đầu tiên mà tôi phải bắt liên lạc tại huyện Tây Quảng”. Anh suýt bật cười, lại nín kịp, tự khen mình đóng kịch khá.

Sáng hôm sau, phủ Đỉnh cho xe hơi của mình đưa cậu cử lên thẳng Linh Lâm. Lính vệ vác va-li anh xếp vào thùng xe, trong va-li có một gói to tài liệu Việt Minh và khẩu súng lục 7 ly 65 của Ta-kê-đa.

Khánh đã tự mình đưa súng ra cho ông phủ thấy. Ông hơi tái mặt, lại hồng hào nhanh sau khi xem tờ chứng thư của hiến binh Nhật viết tay đóng dấu: không đọc được chữ thảo hi-ra-ga-na của Nhật, nhưng phần chữ Hán chen vào đủ rõ nghĩa. Ông còn cố nheo mắt đọc chữ trên con dấu đỏ: Đại Nhật Bản, Nam phương quân, Hiến binh đội, Hà Nội. Vẻ kính phục của ông hiện rõ đến nỗi Khánh nhìn đi chỗ khác cho ông khỏi ngượng. Người giúp việc của ông quả là cao tay ấn, ngoặc ngay được với nhà cầm quyền mới!

Trong khi tài xế đổ cồn vào xe, ông giúi vào tay Khánh một phong bì to:

- Ba mới kiếm thêm được một ngàn nữa, con cầm mà tiêu... Ồ chào, khách khí gì vậy Hai! Thì coi như ba cho vay, về sau chắc con trả ba gấp mười. Hậu sanh khả úy mà!

Khánh nhét tiền vào túi mà áy náy thực sự. Đối với con người mập lùn và khá to bụng đứng trước mặt đang ngửa cổ nói chuyện với anh, Khánh bắt đầu thấy có chút gì đó như thương hại. Dù sao ông ta cũng tin mình, muốn được lòng mình. Với lại đã cắm sừng lên trán ông ta mà còn nhận liên tiếp hai ngần bạc, anh thấy mình... đểu đểu thế nào.

Mãi đến khi xe đã đi khỏi phủ đường khá xa, Khánh mới giật mình nhớ lại những câu chuyện của Duyên. Lại Duyên! Nàng dặn:

- Lão sẽ nói tình cảm với như để ruột ngoài da, sẽ trả giá đắt để mua anh. Sau đó lão cử tay chân rình mò anh từng chút, nếu anh phản thì kêu mật thám xích tay anh liền. Chưa hết đâu. Anh vào tù, lão sẽ vào xà-lim khóc sụt sịt thương anh, bước ra lão bấm khẽ tụi mật thám biểu tra điện anh thêm mươi lần nữa, sức anh còn chịu nổi!.

... Khánh đã cưỡi con Hường đi hết một vòng xóm Chợ, bến sông, đã chào đến trăm người là ít. Anh lưỡng lự một phút rồi rẽ cương sang xóm Mới.

Anh cán bộ Việt Minh ở Đà Nẵng dặn anh đừng tới nhà Cả Chanh trong vài ngày đầu, đừng để lộ ra là cố ý đi tìm. Anh viết lá thư giới thiệu bằng một thứ hóa chất không màu, trên tờ nhãn thuốc bọc quanh ve dầu Nhị thiên mà lúc này Khánh đang bỏ trong túi áo blu-dông.

Lò rèn ông Tư Chua vắng tanh. Con chó lao vào sủa dữ. Một bà chừng ngoài bốn mươi đang cuốc đất ngoài vườn hối hả bước vào, giật mình đứng sững khi thấy người cưỡi ngựa. Con chó không nghe chủ cất tiếng mắng, chồm đứng lên ngay, nhào tới chực cắn vào chân ngựa. Khánh vừa đạp chân nâng bước xuống vừa cười:

- Chắc đúng nòi chó săn... Bác không nhìn ra cháu à?

- Ai như cậu Hai Khánh hả? Tôi bây giờ mắt mũi lèm nhèm... Mời cậu vô chơi.

Giọng bà lạnh ngắt; mời mà như xua. Hỏi một câu bà trả lời đúng một câu, không hơn. Ông Tư đi việc làng. Mấy đứa đi chặt củi đốn than, cảm ơn cậu, nhà cũng thường thường.

Khánh biết không nên hỏi thêm, chào vội, nhảy lên ngựa trở về ấp. Có thể chính Cả Chanh sẽ được lệnh bắt liên lạc với  anh, chứ anh cố tìm cũng vô ích.


----------------------------------------------------------
1. Jacques Cujas, nhà luật học nổi tiếng của Pháp, thế kỷ 16
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #31 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2015, 07:39:38 am »

11.

Sau mươi ngày bận đốt rẫy, trỉa lúa, hầm than, ông Tư Chua lại nổi lửa rèn tiếp.

Không cần đến xem, dân xóm Mới cũng nhận ra đủ ba thứ tiếng búa. Búa đập choang choác lộn xộn là của người làng đến tự tay sửa một đồ dùng gì đấy bị hỏng nhẹ. Búa gõ đều và giòn là đám con cháu ông Tư làm nguội các loại hàng rèn xong. Tiếng búa quan trọng nhất của lò rèn nổi lên từng đợt gấp rút, nghe nặng và mềm như chày nện đất, ấy là khi thợ cả kẹp tấm sắt nung đỏ đặt trên đe lớn và hai thợ phụ lực lưỡng đánh búa to thật nhanh trước khi sắt nguội, phải vùi trong lò, thổi bễ phì phò năm bảy phút nữa cho dẻo lại.

Chín năm trước, ông Tư đưa vợ con lên Linh Lâm kiếm sống, bộ đồ rèn chở nặng một chuyến đò. Quê gốc ông ở vùng cát huyện Hòa Vang, người đánh cá và trồng khoai ít cần đồ sắt, khó làm ăn. Năm đầu ông lo phát rẫy, làm nhà, chỉ rèn qua loa những thứ rìu rựa cho lái buôn “đổi mọi”, chẳng kể xấu tốt. Đột ngột ông nổi tiếng khi tung ra bán những chiếc bẫy kẹp heo nai loại dưới mười ki-lô, chỉ hai chục đồng một chiếc. Vài nhà mua về dùng đầu tiên được lãi rất to, mỗi tháng ăn vài con thịt là thường, trong khi cha con ông Tư chỉ gài hai bẫy quanh nhà cũng được năm sáu con thú đến phá rẫy. Người ta ùn ùn đến mua kẹp heo, ở tận dưới Trà Linh, Dùi Chiêng cũng lặn ngòi ngoi nước lên đặt rèn và đợi lấy mang về.

Đến khi tất cả những giống nai, mang, heo rừng chồn cáo trong vùng đã biết và khiếp đôi hàm răng sắt của bẫy, ông Tư lại vang danh lần nữa khi bắt được con cọp đầu tiên bằng cái bẫy kẹp loại năm chục ký, chưa ai dám mua với giá bảy chục đồng tức là xấp xỉ hai mươi tạ gạo. Dân làng kéo đến xem con cọp, xem bẫy đều lè lưỡi: khiêng bẫy đi đặt phải hai người khỏe, ép được đôi cánh bật của nó xuống phải dùng hai cái ê-tô mua tiệm Tây tận ở Tu-ran. Thấy thiên hạ trầm trồ mãi mà chưa bỏ tiền ra. Ông Tư bốc máu chơi ngông. Được con cọp thứ hai, ông không nối giáo đâm chết ngay. Ông gọi đám trai trẻ đến, chặt nhiều cây tre dài đè chịt nó xuống, thả dây trói nó lại như bó giò, chừa cái miệng cho nó gầm gào thả sức, khiêng về để trước sân nhà mình suốt hai ngày đêm. Cả làng xách rượu và đồ nhậu đến, ôm theo cả trống, mở hội ngay ở lò rèn với rất nhiều già trẻ say rượu hát bội mần tuồng, trong khi bà Tư phải ẵm con đi ngủ nhờ xóm Chợ và tất cả chó trong xóm Mới trốn sạch chẳng còn con nào. Chơi chán ông mới giết và đem biếu mỗi nhà một chùm nem thịt cọp, khá ngon vì trúng con cọp cái tơ.

Rèn bán tới chiếc bẫy cọp thứ tư - trong làng chỉ bán được một chiếc cho phủ Đỉnh - thì gặp chiến tranh. Thép tốt lên giá gấp mấy chục lần, mà ông giữ tiếng không muốn làm hàng tồi, bèn thôi rèn bẫy. Tuy thế những người mua bẫy của ông vẫn thỉnh thoảng cho con xách tới biếu ông một tảng thịt kèm chai rượu lậu mỗi khi được thú rừng.

Ông thợ rèn tài hoa ấy lại là người dễ dãi. Khách từ xa đến còn phải ngã giá trước, chứ trong làng xóm cứ liều liệu chín bỏ làm mười, khất nợ đến mùa quế hay mùa lúa trả ông cũng xong. Sửa chữa vặt thì khỏi tốn tiền, về sau đi rừng đem về biếu bà Tư ít mật ong hay cho con ông mấy quả ổi, lấy cái tình là đủ. Ai cò kè bủn xỉn quá thì lần sau ông không giúp, vậy thôi.

Dần dà lò rèn ông Tư biến thành nơi họp xóm. Đình chùa có thể vắng, chứ lò rèn đã dậy tiếng búa thì tất cả đàn ông không quá bận đều thu góp những thứ sút cay gẫy cán trong nhà, giắt lưng túm chè ngon, chiết một chai con rượu nếu có sẵn, lần lượt kéo đến. Trên lò than luôn luôn treo sẵn cái ấm đồng to hưởng hơi lửa thừa, tiện ai người ấy pha chè cùng uống. Hôm nào không có thức nhắm mang đến, bà Tư sẽ moi trong cái bồ treo trên giàn bếp lấy ra mớ thịt sấy khô, ngon thì nai mang, xoàng cũng là thịt voi thái mỏng giần mềm. Ông Tư vừa rèn vừa góp chuyện. Đến khi nghỉ tay uống nước, ông ghé ngồi xổm bên cái nai đặt trên đất, cùng nhấm nháp với bà con vài chén. Không biết bao nhiêu câu chuyện trên trời dưới đất đã được kể giữa hai đợt đánh búa, trong tiếng bễ và lửa phùn phụt vui tai. Nếu ông bận rèn vật khác thì khách cứ xếp các thứ hư hỏng vào góc lò, xong việc chính ông sẽ sửa hộ và ném lại đấy, về sau đến chọn mà lấy.

Hôm nay ông không ngồi lò, mà giao cho anh Tư Quýt rèn. Ông gật đầu chào bà con kéo đến, lại chăm chú nhìn từng cử động của Quýt, thỉnh thoảng nhắc một câu cụt ngủn. Quýt đang dựng đứng một lưỡi rựa mới rèn thô xong, nung đỏ lại, dùng một cây đục thép kẹp vào cán ngang như cái rìu chẻ dọc rựa ra để lắp một tấm thép mỏng và hẹp bản, sau sẽ đập lại cho sắt ép ăn liền vào nhau. Rựa được rèn kiểu ấy rất khó gãy vì có hai má bằng sắt dẻo, khi mài lại bén như dao cạo nhờ tấm thép cứng nằm giữa lưỡi cắt.

Người đánh búa trong kiểu rèn phức tạp này lại là Năm Bưởi, em gái Tư Quýt.

Con gái ở lò rèn chỉ chuyên thổi bễ, gánh nước, tiếp than, cùng lắm thì giũa hay mài những lưỡi rèn xong. Bưởi lâu nay vẫn làm như thế, cho đến một hôm bị Tư Quýt chê nặng: “Con gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu, ngồi trên ghế bễ mà cứ trô trố con mắt ngó trai, thúc kéo bễ cả chục lần không nghe. Thà tao thuê con nít còn hơn!”. Bưởi vốn tính ngang tàng, lập tức nhờ một chị đến sửa cuốc thổi bễ hộ, giành đánh búa cho cha rèn. Sau mấy buổi trầy trật, mệt đứt hơi, đau khắp thân như bị đòn hội chợ, Bưởi đã đánh búa khá thạo, còn báo trước sẽ ngồi lò như thợ cả! Ông Tư can nó nhưng vẫn thấy khoái cái tính dám liều rất giống ông, thường gọi nó đánh búa khi rèn những thứ cần người thợ phụ khéo tay hơn là mạnh sức, biết xem vật rèn đã tới đâu để hạ nhát búa nặng hay nhẹ, đứng hay chếch, nhặt hay khoan.

Ông Tư Chua lơ đãng cầm lấy điếu thuốc Thượng quấn nguyên lá vàng hườm, rất to, lại lơ đãng châm vào hòn than bồng mà ai đó kẹp đưa trước mặt. Vẫn nhắc con bằng những tiếng cộc lốc, ông miên man nghĩ đến tất cả chúng nó, bốn trai hai gái còn lại của nhà ông…

Đã rõ ràng là con Năm Bưởi sắc sảo hơn thằng Tư Quýt. Con Bưởi không đến nỗi xấu xí, nhưng cái mặt hơi nhọn và nhất là hai gò má nhô cao thường bị chê là tướng sát phu... Tư Quýt đã hai mươi tuổi, nếu gặp đứa ưng ý chắc nó cũng bằng lòng lấy vợ. Thằng Cả Chanh hai mươi sáu tuổi ta, vào làm thợ máy tính lại tuổi tây là hăm lăm, nói sự vợ con là nó gạt phắt, muốn có cháu nội, chỉ trông vào thằng Tư thôi... Giữa hai đứa ông bỏ mất thằng Hai Bứa chết khi chưa đầy tuổi tôi, con Ba Khế chết bệnh bảy năm trước, có người ác khẩu nói nó buồn chết héo vì bị ép duyên, ông nghe mà tức ói máu. Tới năm Mùi, tức hai năm trước, con Tám Me lại cướp công cha mẹ, ra đi khi mới lên bảy:

- Chẻ dài thêm đầu mũi!

- Cho phía cay sâu nữa, Quýt!

- Nhẹ nhẹ, Bưởi. Gõ xéo cho đục vô eo!

- Đổi búa!

Thằng Tư ngồi lò đã gọn gàng. Cũng như những đứa con khác, nó biết làm ăn cùi đày. Nghề rừng, nghề mộc, nghề ruộng rẫy, gì nó cũng trải qua đôi chút, ở đất này phải vậy. Nhưng nó thiếu cái nết ham học và bộ óc linh lợi của thằng Cả. Dạy thằng Cả thì suốt ngày phải trả lời hàng trăm câu hỏi, lắm lúc ông phát gắt. Còn thằng Tư ngược lại cứ lặng thinh, biểu gì làm nấy và chỉ làm vừa phải, cầm chừng. Thằng Cả rời tay búa là vớ cuốn sách học chữ, thằng Tư chỉ đi chơi rông và ngủ. Gặp việc gì khó, thằng Cả nhào vô thử sức ào ào, thằng Tư lẩn tránh hoặc khoanh tay ngồi chờ người giúp. Bởi vậy, tuy không nên chia ra con thương con ghét, ông vẫn yêu và nhớ đứa con đầu lòng hơn. Trong bấy nhiêu năm nó làm thợ và ở tù, ông đưa nó ra làm mẫu hoài hoài khiến cho thằng Tư nổi cáu: “Phải, ảnh thì cái gì cũng giỏi cũng tốt! Ảnh lo bay nhảy một mình, còn dở như tôi lại bị sai vặt cả ngày, la lên rầy xuống!”

Ai đó nữa bưng mời ông một bát to nước chè rất đặc. Ông gật đầu nói hú họa: “Phải á”, mắt vẫn không rời lưỡi rựa đã nung trắng lại và đang nện búa dồn dập cho liền sắt thép. Con Năm đánh búa to, thằng Tư cũng đập búa tay. Rựa được lật qua lại liên tiếp cho sát miết xuống thật đều hai má. Nó ngả sang đỏ tươi, đỏ bầm, đỏ nâu, đen dần đi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #32 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2015, 07:41:55 am »

Năm Bưởi hạ búa, đưa ống tay áo quệt mồ hôi đọng thành giọt to trên trán và chót mũi. Tư Quýt nhấc lưỡi rựa định ném sang chỗ làm nguội, đã nghe cha gọi:

- Thêm lần nữa, Quýt!

Anh khẽ nhếch mép cười, xóc rựa vào lò than hồng. Anh vơ cây chổi cán đài bó bằng những sợi vỏ cây tước nhỏ, dũi vào hố nước bùn, đưa lên quét tấp lò than cho phủ kín rựa, nghĩ:

- Con rựa này, chắc ông già tự tay làm nguội và trui lại cho coi. Rèn cho anh cả mà!

Không ngờ ông Tư đặt bát nước, uể oải bước tới chỗ ngồi lò, nói có vẻ thờ ơ:

- Xê chỗ, tao coi lại thử...

Quýt và Bưởi cùng cười thành tiếng, bỏ sang chỗ uống nước. Rèn cho anh Cả có khác, ông già sẽ tự đập búa tay kỹ lưỡng như gò tôn, đến khi mặt sắt trơn láng bằng đồ thép đúc của Tây mới thôi. Anh khách hàng ngồi trên ghế bễ kéo và đẩy đều hai tay, chép miệng thèm thuồng:

- Mình được một lưỡi như cái này thì xài đến đời cháu!

- À, rèn dùng mà.. Dao dựa trong nhà tụi nó làm sứt mẻ hết, thợ rèn ăn dao lụt hoài, tao ngán... Vừa đó.

Một giờ sau, mọi người trong lò xúm lại trầm trồ xem cây rựa đã gọt má, giũa lưỡi cắt, tôi lại, cắm cán dài một thước tây với năm cái khâu siết cứng, mài bén lần cuối cùng. Một ông khách kêu lên:

- Bác Tư phải đặt đúc con dấu thép, đóng vô đồ bác rèn cho thiên hạ khỏi lầm thứ giả. Biết chắc đồ của bác, họ dám mua giả gấp ba gấp bốn, liều một khi.

Ông Tư Nhấp một hớp rượu, nhai miếng thịt nai khô tẩm mật ong và gia vị trước khi phơi sấy, nướng lên rất mềm và thơm:

- Rèn dùng thôi... sắt thép mấy năm nay khó mua quá, ai đem thứ sắt gì tới tôi dập thứ nấy, đâu dám đóng dấu vô cho người ta chê cả đời.

- Cũng phải. Thấy mụ Chín bữa trước đưa khoe con dao bác rèn bằng lưỡi cuốc cùn!

- Đó, đó. Hồi nào yên giặc, tôi xuôi xuống Hàn, xuống Phố 1, lựa mua sắt thép năm bảy mác về chất đống sẵn, đặt món nào tôi lựa đúng mác đó rèn cho anh... Bây giờ nói tình thiệt nghen, ai sửa thứ gì thì biểu thằng Tư sửa nội nhựt hôm nay cho xong, sáng mai trở đi tôi mắc rèn hàng đổi cho mấy cha nhà buôn ở Trà Linh mới đem sắt lên đặt làm gấp. Chà, chà, cọp beo về nhiều hay sau mà dân mọi cao đổ quế với thuốc ngon ra đổi giáo mác... Uống hết đi chớ, để dành rượu cúng ai?

Cạn thêm một ly nữa, ông đứng dậy vươn vai, cầm cây rựa mới, nói bâng quơ:

- Thử coi chẻ chặt đẽo gọt có ra gì không, mắc tật thì sửa luôn..

Ông đi thong thả xuống khe Hội, giả vờ không nghe một người đang hỏi về tay thương lái nào ở Trà Linh mới lên mà kín tiếng quá đỗi, không dám đậu ghe ở bên vạn, giữ mối lợi ăn một mình hay sao.

Con đường mòn ra rẫy đã bị ổng chặt những cành gai bớm rào bít lại, còn cẩn thận làm thêm dấu hiệu “có đặt bẫy” bằng một cây cọc cao đến ngực buộc chùm lá trên đầu, Ông lội dọc lòng khe chừng trăm thước, tới chỗ vũng sâu mới gặp đầu mối con đường vừa mở, chân bước trên đá và thân người lách qua một vạt cây rù rì mọc chen chúc, ai đi ngược khe tát cá bắt ốc cũng không trông thấy dấu vết của mối đường. Cả Chanh dặn ông giữ bí mật, ông trổ tài bí mật cho nó thấy.

Có lẽ ba người trong chòi rẫy đã nhậu ra ông từ khi ông băng qua rẫy đi lên. Họ chỉ chào sơ qua bàn tiếp. Ba Mít đang bực dọc chuyện gì, khuôn mặt rỗ đỏ ửng, nói gằn giọng:

- Thượng cấp biểu bắt liên lạc với thằng Khánh là lầm quá đi. Đưa con nhà quan vô Việt Minh, nó giả bộ hăng hái cho mình tin, về sau nó dẫn lính về bắt trụm hết cho coi. Hôm kia nó cưỡi ngựa đi dòm ngó khắp làng như mật thám, còn tới hỏi dò nhà bác Tư đây nữa. Không tin,  anh Cả cứ hỏi hết bà con xóm Mới đủ biết nhà phủ Đỉnh có ai theo Cách mạng không...

Cả Chanh ngồi trầm ngâm trên sạp tre. Người thứ ba là một chú tuần đinh có cái bụng báng hơi to, thấp giọng nói gì đó. Ông Tư hơi cụt hứng. Những tưởng ai cũng sẽ xúm vào xem cái rựa mới rèn xong, gại gại ngón tay vào lưỡi và thử cạo lông trên bắp tay để trầm trồ khen nó sắc hơn dao cạo... Ông đặt cây rựa xuống sạp, buông gọn:

- Rèn cho mày đó, Cả. Lát rồi coi ưng ý không.

- Dạ, cha để cho con.

Ông Tư bước ra ngoài, tiện tay giật các đầu dây đuổi chim một hồi. Rẫy mới trỉa, chim xuống từng bầy bươi đất ăn hạt giống, ông đã dựng rất nhiều cây tre chẻ làm mõ và treo những mo cau vẽ mặt người trừng trợn. Người coi rẫy ngồi trong chòi chốc chốc thò tay lên giật dây là khắp rẫy sẽ dậy lên tiếng đánh mõ và lao xao những bộ mặt hung dữ từ trên trời ập xuống. Ngay sau lần kéo dây đầu tiên, ông đã thấy hàng trăm con vẹt từ mặt đất bay vù lên, kêu “kéc kéc” inh ỏi. Ông lẩm bẩm mắng thằng Cam. Anh cả nó bận dạy việc quốc sự cho người ta. Năm Chò mắc lo chạy giấy tờ, còn nó biến đi đâu mà bỏ rẫy cho chim bới?

-----------------------------------------------------------
1. Tên gọi của địa phương. Hàn: Đà Nẵng; Phố: Hội An.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #33 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2015, 07:43:57 am »

Ông Tư thong thả quay về lò rèn.

Trong khi ấy, Năm Chò với Cam đang ăn nhậu bên bờ khe Hội, cách rẫy một tiếng hú.

Mấy hôm trước, Năm Chò mặc bộ quần áo lính khố đỏ, đi giày đinh và gắn cả lon cai hình chữ V trên tay áo, theo ông Tư Chua đến gặp Cửu Áng xin ở học nghề. Lão cửu pha nước mời đàng hoàng, tự tay điền vào cái biên lai thuế thân, đóng triện vào thật rõ:

- Ai chứ bác Hương đây nói một tiếng thì mười con triện tôi cũng áp. Anh Năm không biết chớ, hồi anh hạ sát thằng Tây con, tôi sướng quá thể đi, tối về đánh nhào luôn một chai lậu hai phần lít. Hồi anh Cả Chanh thoát ngục cũng vậy, tôi hét vợ làm gà ăn mừng.

Về vụ Năm Chò có thể lão nói đúng, hồi ấy lão chưa giành được chân lý trưởng. Còn khi Cả Chanh vượt ngục thì chính lão dẫn lính huyện tới lò rèn ông Chua tra xét, soát nhà, viết biên bản rằng “tên Phan Chua, phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc con trai mình là Phan Chanh, tục danh Cả Chanh, đã đào tẩu ngoài vòng lao lý trước khi mãn án”. Đến nay lão đoán rằng ông Chua vốn tính phổi bò chắc đã quên chuyện cũ, hoặc có nhớ thì lão sẽ cãi bay luôn: “Bác ở vô hoàn cảnh như tôi, bác cũng phải làm y vậy thôi!”. Lời nói chẳng mất tiền mua, lão cứ nói phứa phựa đi.

Có giấy tờ rồi, Năm Chò được giao nhiệm vụ “dét-tê xa”, tức là đi giao thông các nơi xa, trong khi Sáu Cam là “det-tê gần”, chuyên đi liên lạc trong làng và mấy làng lân cận. Sáng nay Năm Chò mặc bà ba cháo lòng mượn của Tư Quýt, vác cái đòn càn có buộc cuộn dây và cặp rọ như lái buôn heo, đi xuống bến phà Huề Bình để liên lạc chuyến đầu tiên với đồng chí huyện ủy viên ở đấy. Anh mang về một lá thư mật cùng mấy tờ báo in đá giắt kín bên hông, cứ băn khoăn tại sao anh Cả tính đánh du kích mà lại lo giấy mực mãi vậy.

Xong việc, Năm Chò đi xuống nối. Cam đã đợi sẵn, kéo anh lội ngược dòng.

Nó nhận giữ kho rượu của  anh, lại vừa đánh bẫy được con sóc to và bắt được một mớ ốc đá, mấy con cua. Nó lén xách dao, nồi đất, bùi nhùi rơm và muối ớt đi tìm chỗ vắng, luộc cua và ốc đã chặt đít, còn con sóc thì nó thui và xát muối nướng trên lửa than. Đây là bữa đầu tiên nó đãi anh Năm từ ngày gặp nhau ở Quy Nhơn.

- Chà, thằng nhỏ về đây như thả cọp về rừng, chơi sành điệu quá ta!

Cam nhấc hòn đá bịt miệng cái hốc nhỏ trong có một bi-đông và hai chai rượu lậu mà nó mua giúp anh Năm trong xóm chợ, đúng thứ rượu nhứt của bà Còng có hai người con chuyên nấu rượu trong hang núi. Nó chỉ hút ốc cầm chừng, rất khoát khi anh Năm xé nhai hết cả con sóc và bắt đầu nhai cua rau ráu, sau vài miếng lại tu một hơi rượu, khà một tiếng “Ngon, ngon hết cỡ!’’, rồi anh bỗng đặt bi-đông rượu xuống, lắc đầu thật mạnh:

- Nghe đây Cam. Anh hư thì mặc kệ anh nghe chưa. Mày con nít mới lớn, lo học theo anh Cả Chanh cho nên người, chớ có bắt chước thằng khố đỏ đầu không chằng đít không rễ!

 Anh cởi hết khuy áo, phơi bộ ngực phủ lông xoăn và xăm đầy bùa chàm, cà rà hỏi chuyện thằng em nuôi khi có còn ở làng. Và Cam cũng kể cà rà như ông lão bên mâm nhận, cốt sao anh Năm thong thả ăn hết nồi cua với ốc của nó mời.

Nếu tóm gọn mười ba tuổi đời của Sáu Cam, có thể tô đậm một tiếng Sợ. Nhưng nó không tóm được như thế, nó chỉ kể từng mẩu cóc nhảy chợt hiện ra trong đầu.

Nó không phải trưởng nam để được cha nể, không phải gái út cho mẹ thương riêng. Trước nó đã có hai ông anh ra đời giúp cha, một bà chị giúp mẹ. Tất cả những người lớn trong nhà đều nhiều hay ít mắng nó là hỗn, hư, lười biếng, tham ăn, gì gì nữa nó không nhớ hết.  Anh Cả Chanh sớm đi vắng không để lại kỷ niệm gì rõ rệt, còn lại anh Tư Quýt hay phát vào đít khi nó nhỏ, bạt tai khi nó hơi lớn lên. Chị Năm Bưởi thường mách mẹ. Cha chỉ thỉnh thoảng hỏi đến nó để nạt nộ, không hề nói với nó một lời thương yêu, còn dặn mẹ phải cho nhiều roi vọt. Mẹ thương nhưng giấu giếm, lén lút, khi có người thứ ba thì đổi ngay ra giọng sừng sộ với nó. Nó rất thèm thuồng khi thấy cha và anh nói cười với nhau trong bữa cơm, nhưng hễ nó chen vào một tiếng sẽ lập tức trừng mắt: “Con nít không được nói leo!”. Chị Bưởi với mẹ chải tóc cho nhau, nó sán lại gần thì bị đuổi ngay: “Đừng quấy rầy người ta!” Nó luôn luôn cảm thấy mình là thừa.

Đôi lúc nó cảm thấy con chó Dồ sướng hơn mình. Người lớn vỗ đầu, bắt rận, đùa với con Dồ mà không ngại chó hư. Còn nó là đứa trẻ, dường như nói ngọt một câu, khen một tiếng là nó sẽ hư ngay, nó dại hơn con chó hay sao ấy. Người lớn dặn nhau: “Thương con thì thương sau lưng”, trong khi họ dám thương chó trước mặt. Nó không hiểu nổi vì sao.

Bảy tuổi nó bắt đầu chăn trâu nhà, con Bỉnh trâu cái rất hiền. Trẻ chăn trâu lớn hơn ban đầu ăn hiếp nó, sau cho nó nhập bọn, bày nhiều trò chơi rất vui. Nó ham chăn trâu chỉ vì được ra khỏi nhà, sống với bạn, nhưng vài ngày lại bị đòn một lần vì mải chơi để trâu ăn lúa. Đến khi con Bỉnh đẻ ra nghé thì nó khốn đốn thật sự. Nghé nhảy loăng quăng khắp nơi phá chẳng sót thứ gì, nó vừa đuổi theo vừa khóc hu hu. Roi quất và tiếng chửi tăng vọt. Người hiền lành nhất cũng chỉ dỗ nó một câu: “Bằng tuổi mày tao còn cực gấp mấy!”. Đố biết họ nới thật hay giỡn chơi với con nít. Cho dù hồi nhỏ bị đánh mắng nhiều, ai ép họ phải đánh mắng lại những đứa trẻ sinh sau?

Lên chín nó được đi học với ông hương sư trong xóm Chợ, ngày một buổi. Ông dạy mười sáu đứa trẻ chia hai lớp. Ông sai vặt và đánh đòn học trò nhiều hơn dạy, nhưng sau nửa năm nó cũng nhớ được mặt chữ, thuộc vần xuôi, bắt đầu đánh vần ngược. Ông giáo chán vì làng không trả lương, cha mẹ học trò khất nợ học phí, bỏ đi buôn hẳn. Nó quay về chăn trâu.
Thằng Bảy Bòng chỉ thua nó một tuổi, hổi mới sinh quặt quẹo khó nuôi nên được cưng hơn. Khi thằng Bòng lên mười, giữ được trâu mẹ nghé con - nghé đã xỏ sẹo mũi, dễ giữ - thì Cam lại thừa. Phụ rèn hay làm ruộng rẫy đều chưa đủ sức, học xa thì thiếu tiền cả nhà bàn đưa nó đi ở giữ ngựa cho phủ Đỉnh, tập làm ăn.

Ấp quan phủ có hai ngựa, giao cho một anh trai tráng giữ. Khi quan đổi về Thăng Bình, ngay trong tỉnh một chú lính lệ lên ấp nhận con Tía trẻ và cao lớn như ngựa Tây, đem xuống phủ cho quan dùng. Còn lại con Hương nhỏ xác hơn và đã về già. Bà phủ chuyển ngay anh trai kia sang giữ trâu bầy, thuê thằng Cam thay.

Người lớn ở đâu cũng vậy, nói rập một giọng là nó phải chịu cực cho quen, tập làm ăn cho quen, học lễ phép nết na cho quen. Tất cả những cái nó phải quen ấy được nhân lên gấp đôi gấp ba khi nó về ấp. Các anh chị ở mướn trong nhà đùn nó ngủ cạnh chuồng heo, hôi thối và lắm mạt gà đốt sinh ghẻ. Cơm thường ghế nhiều khoai sắn,các anh chị cầm rá cơm sàng mấy cái và xúc phần cơm cho nhau, bỏ sắn khoai lại cho đứa giữ ngựa, ở nhà cha mẹ, khách đến rèn đôi khi giúi cho nó chút quà, ở đây tịnh không. Mãi đến nay nó còn rùng mình khi nhớ cái giọng đay nghiến rít răng của bà phủ luôn luôn nhắc rằng nuôi nó làm phước chứ nó ăn như hùm mà làm như mèo.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #34 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2015, 07:45:31 am »

Lâu lâu có một ông chánh phó tổng, thầy đề thầy thông nào đó về làng cho người đến mượn ngựa quan phủ. Thật ra là thuê, vì khi trả ngựa bao giờ cũng kèm một món quà hoặc tiền.Những hôm ấy thằng Cam phải “chạy ngựa”, làm phần việc của những  anh mã phu lực lưỡng. Nó đeo trên mình mo cơm nắm, ống nước, cái liềm, bộ dàm buộc thừng dài, chạy sau đuôi ngựa. Mỗi khi khách xuống ngựa vào nhà, nó lại hối hả tháo cương lắp dàm và dắt con Hường đi ăn, còn cắt gấp thêm cỏ cho ngựa no trước khi đi tiếp. Một lần nó chạy ngựa theo một quan tham đạc điền đi khắp các làng từ Linh Lâm đến phà Huề Bình trong ba ngày. Ông này nhắc hương lý cho đứa chạy ngựa ăn ngủ tử tế, cho ngựa ăn thóc đỡ phải cắt cỏ, sau khi trả ngựa còn cho riêng Cam năm cắc và xoa đầu khen nó rất chịu khó. Ổng đi rồi, bà phủ gọi nó lên bắt nộp lại đủ năm cắc: “Không có cái lệ ăn cơm nhà tao mà đi làm thuê lấy tiền cho thiên hạ!”. Về sau, mỗi khi nhận xong quà hoặc tiền thuê ngựa, bà lại nhắc khéo:

- Bác muốn cho thằng nhỏ chạy ngựa chút gì thì để tôi giữ giùm nó. Con nít mà, tiền chưa nóng túi đã rớt mất hay là người ta dỗ lấy mất. Đứa biết giữ thì lại tiêu hoang nó hư thân đi.

Bà giàu đến thế mà vẫn nhớ thu từng cắc của thằng nhỏ. Cũng có thể nhờ vô sô cắc bạc ấy mà bà giàu.

Sau một trận đòn vì ngựa bứt dàm vào phá đỗ, nó lẻn về lò rèn khi nhà vắng cả. Nó khóc kể một hồi,vạch lưng cho mẹ xem những vết roi ngang dọc. Mẹ nó nổi khóc theo:

- Nhà đã túng đói gì lắm mà để họ hành hạ con mình quá sức vậy, trời ơi là trời!

Mẹ giữ nó lại, xoa bóp và nấu xôi cho ăn. Cha về nghe cả mẹ lẫn con than vãn một hồi, mặt hầm hầm không nói. Rồi ông bước ra mái hiên, rút con roi cày dài đặt lên bàn, gằn giọng:

- Thằng Cam nghe đây. Cái sự họ tàn tệ với mày để đó tao liệu. Tao vẫy vùng ngang dọc đã từng cọp voi quỷ thần chẳng hề sợ, tao sợ chó gì con mẹ chửa hoang với con con chết héo bên ấp phủ Đỉnh. Tới phần mày, lại khác. Tao cho mày đi ăn cơm góp của họ không phải tại thiếu gạo nuôi mày mà để mày học khôn, học chống chọi với đời...

Bà Tư bật kêu to:

- Chưa khôn mà đã ốm nhom, xanh lét. Chưa chống chọi mà đã nát mình mẩy ra...

- Câm họng!

Như mọi ngày thì bà đã nín thít. Lúc này bà gào lên:

- Con tôi mang nặng đẻ đau, tôi không câm! Ông đem con cho thuê lấy tiền thì cho đứa lớn, để nó ở nhà tôi nuôi. Hay ông muốn đi làm thuê cho nhà quan mặc kệ ông, cứ đi đi..

- Thằng Cam, về ấp ngay tức thì!

- Mày cứ ở đây! Ổng ăn tiền của họ để ổng đi làm trả nợ, chẳng dính tới mày!

Ông Tư quất mạnh roi cày vào lưng vợ. Bà chồm ra sân, nổi la làng. Ông càng đánh bà càng la dữ:

- Ối làng xóm ơi, thằng Chua nó giết tôi, nó giết mẹ con tôi! Thằng Chua nó trở mặt, giết vợ bán con đây bớ làng.

Vừa lúc các con về nhà ăn trưa. Năm Bưởi nhào tới giật cây roi, bẻ ngay làm đôi làm tư. Tư Quýt đứng sau ôm ghì cha. Mấy nhà gần chạy tới can, kéo luôn ông Tư đi cho khuất. Thà rằng ai khác đánh vợ ba ngày hai trận, chồng quen tay và vợ quen miệng rồi, chứ vợ chồng ông Tư ăn ở theo nề nếp phu xướng phụ tùy từ xưa, bà Tư vâng lời chồng như cái bóng... Cả xóm Mới được một mẻ ngạc nhiên. Thằng Cam trốn biệt bên ấp, cả tháng sau mới dám lẻn về nhà khi biết cha mẹ đã làm lành.

Dù sao, vụ nổi loạn của bà Tư cũng làm ông Tư choáng váng. Các con lạnh nhiều với ông. Những phút trò chuyện cởi mở biến hẳn một dạo, nhà như có tang, ông thành khách lạ ngay trong nhà mình.

Không chịu nổi cái không khí ám khói khó thở, ông theo thuyền xuôi xuống phố Hội, vừa mua sắt thép vừa tìm chỗ gửi thằng Cam học chữ. Cả Chanh đi tù rồi, Tư Quýt mắc phụ rèn, ông lo gây dựng cho thằng Cam là phải. Ông biết mình có lỗi với vợ con, nhưng lùa dao cạy răng ông cũng không nói một tiếng nhận lỗi, ông chỉ làm việc gì đó để sửa lỗi.

Đem con về, dù sao cũng phải nói qua với chủ thuê một lời phải quấy. Ông đáp xe ngựa vào Thăng Bình vào gặp phủ Đỉnh. Quan phủ là người khéo ăn ở với đồng hương, cho đội lệ ra mời ông vào trà nước đàng hoàng, giữ ông lại ăn trưa chung mâm. Rượu vào ngà ngà, ông mới kể chuyện thằng Cam giữ ngựa, chẳng giấu chút bất bình nào, sẵn sàng sửng cồ ném đũa nếu quan phủ lên giọng kẻ cả. Thế nhưng quan cười xòa, vẫy lính rót rượu đều tay cho ông:

- Chào ồi, anh Tư còn lại gì tánh nết đàn bà. Tôi la rầy miết mà mụ cả không chịu bỏ cái tật vắt cổ chày ra nước... Tôi tính giùm vầy đây anh Tư. Gởi con học ở Phe-phô, anh tốn nhiều đó, hồi này thóc cao gạo kém quá mà. Gởi gạo nhà xuống cho con thì mười phần còn sáu bảy, tôi lạ gì đò dọc Linh Lâm... Tôi có mụ Hai ở Quy Nhơn buôn vải, cả mớ con nhỏ đang đi học,  anh cứ thả thằng gì...à thằng Cam.. chung vô đó, học hành với nhau cho có bạn, gà con chung bầy chẳng tốn kém gì đâu anh. Hồi đưa thằng Chanh vô Quy Nhơn học nghề anh không hỏi tôi, chớ biết thì tôi xếp việc cho nó tử tế, dẫn tới gặp bang tá dặn dò từng chút, có đâu về sau phải rầy rà tới anh. Mụ Lợi Thịnh nhà tôi được cái nết nhỏ nhẹ, biết dạy con, anh coi thằng Hai Khánh mỗi lần về ấp có dám hỗn hào với ai đâu.. Lệ!

- Dạ.

- Chiều nay mày đưa bác Tư đây ra bến xe, nói là người nhà quan phủ, phải xếp chỗ thiệt tốt cho bác về Linh Lâm... Ngu như heo, qua huyện Tây Quảng, qua phà Huề Bình chớ đâu xa. Lớ ngớ không xong việc thì liệu hồn!

Ông Tư xin kiếu, bỏi cần về Hội An thu xếp các thứ chở theo người. Khi đứng dậy quan phủ còn lắc mãi tay ông, hẹn mươi ngày nữa sẽ cho lính lên đón thằng Cam.

Chuyến ấy ông Tư mua quà cho tất cả mọi người trong nhà. Cam cũng có phần. Ông kể tỉ mỉ câu chuyện của phủ Đỉnh, gật gù khen lão ấy khôn nứt não ra. Hà hiếp vơ vét chín phương, lão vẫn để dành một phương để về hưu. Gây oán khắp nơi nhưng giữ cái ân nơi bản quán cho yên tuổi già, quan lại xưa nay đều vậy. Cả nhà đều tin thằng Cam vào Quy Nhơn sẽ được ăn học đến nơi đến chốn, nào ngờ...

Sau nhiều ngày nể “đại ca” phải nhịn thèm, hôm nay Năm Chò dốc cạn hết bi-đông rượu nhứt. Anh bẻ một chùm lá lau miệng và tay, lim dim mắt nghe Cam kể những mẩu cóc nhảy, điểm vào những tiếng ồ, à, mẹ tổ nó, chó thiệt, phải vậy chớ. Dựa lưng vào tảng đá, anh bắt đầu ngáy.

Cam ngừng kể, nhưng cả bầy kỷ niệm nhỏ bé lộn xộn của nó cứ nhảy lao xao mãi trong đầu như nhái gặp mưa dông. Nó ngồi thừ ra, hai cánh tay khẳng khiu ôm gối, mắt đờ đẫn nhìn mà không thấy gì trước mặt ngoài những hình ảnh dễ sợ nằm đằng sau mắt.

Nó chợt thấy mặt mình lạnh. Nó đưa tay vuốt mặt, thấy tay ướt rượt. May quá, anh Năm không thấy nó chảy nước mắt.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #35 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2015, 07:48:40 am »

12.

Anh Xáng trong Thường vụ tỉnh ủy gửi thư giục đồng chí Thanh Trà “Hãy khẩn bách thành lập đội du kích quân, cho luyện tập ngay, khí giới có gì dùng nấy”.

Cả Chanh gọi Ba Mít tới chòi rẫy bàn thêm. Cậu ta không coi chỉ thị thượng cấp ra gì cả:

- Mấy ông trên biết cóc khô gì đâu. Đổ bể thì các ổng trốn mất tiêu, mình ở tù. Anh nếm mùi năm năm rồi đó!

Cậu này hăm bốn tuổi, khi mới đậu sơ học yếu lược đã làm thư ký cho hội đồng ngũ hương đâu nửa năm, sau bất mãn bỏ đi buôn đò dọc, buôn bè tre gỗ. Cậu ta chừa một vệt râu mép trên khuôn mặt rỗ chằng chịt, để tóc gọng kính ngoặc tai như đám thương lái đã trải mấy chục năm trong nghề. Trong một chuyến buôn xuống Hội An, cậu được ông chú nói cho vài tiếng đồng hồ về Việt Minh, giao việc tuyên truyền “đánh Tây đuổi Nhựt” tại Linh Lâm.

Chưa làm được gì thì gặp đảo chính. Cửu Áng vời cậu ra nhậm chức xã thủ lãnh thanh niên, liên tiếp đi họp với huyện thủ lãnh, có lần bắt tay cả tỉnh thủ lãnh. Khi đọc lá thư của ông chú bảo anh Cả Chanh sẽ lãnh đạo vùng núi huyện Tây Quảng, Ba Mít tự hẹn: cứ gặp coi thử anh chính trị phạm này ra sao, đáng phục thì phục, không đáng thì lờ luôn.

Qua mấy lần bàn việc, Ba Mít thấy anh này vừa hút vừa đẩy, vừa gần vừa xa. Sức hút của anh ở chỗ anh đi nhiều biết rộng, có nguồn giao thông nào đó mà anh giữ kín, rất có thể là nguồn riêng của Đảng Cộng sản nằm trong lòng Việt Minh, cậu ta chỉ nghe loáng thoáng chứ không biết rõ. Anh đẩy ra xa vì cứ nhất định coi Ba Mít này là hạ cấp, coi đám thanh niên dưới trướng Ba Mít là thuộc quyền anh lãnh đạo. Một lần, Ba Mít nói trắng:

- Hồi xưa tể tướng bái huyện, quan là thường đó anh. Tể tướng lo chung cả nước, không biết rõ từng chút như quan nhỏ ở tại chỗ!

Cả Chanh cười dài. Ba Mít thấy cần nói sát sạt hơn:

- Ví như anh với tôi đây nè. Anh lăn lộn lo việc nước lâu năm, nhưng mà về làng thì tôi hiểu hơn anh. Cứ để tôi lựa chừng ba bốn người chắc chắn nhứt, anh giảng tài liệu Việt Minh cho họ, cắt máu ăn thề với nhau, vậy là làng mình có tổ Việt Minh rồi. Anh làm tràn lan nhứt định đổ bể hết cho coi.

Ba Mít cứ bị ám ảnh đổ bể, lại bám riết vai trò xã thủ lãnh mới được Cửu Áng phong cho. Cậu ta trước bất mãn vì địa vị, nay dùng cái địa vị cỏn con của mình để đòi ngồi chiếu trên bên trong Việt Minh. Vẫn theo cách mạng đấy, nhưng theo có điều kiện, có mặc cả tính giá hẳn hoi, đúng kiểu con buôn!

Cả Chanh quyết định phải làm mạnh, làm thẳng những gì Ủy ban khởi nghĩa đã căn dặn trong những đêm nằm đò ở Hội An.

Trong số hơn hai mươi người đã gặp Chanh ở chòi rẫy có mười bốn thanh niên, năm trung niên. Anh cho Sáu Cam đi gọi từng người, báo cho họ giả đi rừng để dự lớp chính trị. Nơi học là một bãi cỏ dưới gốc cây si to, mé sau chòi rẫy chừng vài trăm thước, khi mưa có thể chạy cả vào chòi. Một ngày học Chương trình mười điểm của Việt Minh, ngày thứ hai chỉ thảo luận một câu hỏi: “Vì sao phải thành lập du kích, sửa soạn khởi nghĩa?”.

Gọi mười chín người, bớt hai đi vắng và một đang sốt rét, nhưng số người dự lại đến hai mươi mốt. Nhiều người rủ thêm anh em hay bạn thân “Đi nghe Việt Minh hiểu dụ”. Một ông già ngót sáu mươi cũng theo con đến, túm tay Cả Chanh nói liên chi hồ điệp, anh phải gỡ ra để bắt đầu lên lớp.

Tuy tất cả đều biết anh là quốc sự phạm đang bị truy nã, nhưng Cả Chanh vẫn soạn một chỉ thị có đủ đầu đuôi dựa vào thư  anh Xáng, dưới ký chung chung là Tỉnh bộ Việt Minh, trong đó đồng chí Phan Chanh được chỉ định làm chỉ huy du kích quân kiêm trưởng ban xây dựng căn cứ địa Tổng An Sơn, thuộc huyện Tây Quảng. Anh rút giấy ra đọc rồi đút vào túi cho khỏi lộ nét chữ của chính mình.

Ba Mít mới khăng khăng chống việc lập du kích đấy, bỗng đến bên anh và đợi sẵn. Anh vừa đọc hết bản chỉ thị, cậu ta vung tay nói lớn:

- Tiếp lời đồng chí thượng cấp, tôi rất là hô hào các bạn thanh niên hãy xứng đáng là rường cột nước nhà .. e hèm... hãy vô Việt Minh hết thảy... ờ,... ờ, hãy cùng nhau nâng cao trình độ dân chúng. Tôi cũng xin đại diện cho thanh niên Linh Lâm tuyên thệ với cấp chỉ huy... chúng tôi rất là con chán Lạc Hồng, rất là tỏ chí nam nhi...

Cậu ấy xoay xở nhanh đấy. Thôi cũng được, còn hơn phá ngang, Cả Chanh bắt đần giảng giải từng điểm trong chương trình Việt Minh.

Ngày thứ nhất, không khí cứ trầm trầm như họ nghe quan về hiểu dụ thật. Ngày thứ hai họ nói năng rầm rộ hẳn lên. Ông cụ kêu đau lưng mà vẫn đến nghe tiếp, đưa ra hàng loạt sáng kiến: lập Tân tỉnh ở Linh Lâm, xây đồn đắp lũy chặn đường bộ ở truông Dơi và đường sông chỗ Ba Thác, tìm cho ra thằng Tây La-phạt về chém đầu tế cờ... Đám trai trẻ cười lăn ra.

Cuối ngày thứ hai, đội du kích được thành lập, gồm hai tiểu đội. Tiểu đội Một chọn toàn người khỏe và gan góc, sẽ trực tiếp đánh giặc. Tiểu đội Hai yếu sức hơn sẽ lo vót chông, rào đường cùng với việc cơm nước được đặt tên là vận lương cho dễ nghe. Tất cả các đội viên sẽ tự sắm một thứ khí giới gì đấy mình quen dùng nhất, tự lo gạo ăn để học tiếp ba ngày quân sự do đồng chí Nguyễn Văn Chò huấn luyện.

Để cách quãng năm ngày cho anh em kiếm võ khí và chạy gạo, cũng để đợi luôn đêm có trăng. Năm Chò bắt đầu mở lớp.

Tiếng tăm của Năm Chò ở Linh Lâm cũng vang dội chẳng kém Cả Chanh, riêng đối với thanh niên còn hấp dẫn hơn. Ghét Tây hả? Oánh! Oánh thí xác! Nói nhựt trình dài dòng nghe mệt óc lắm, vác đá đập đầu Tây như Năm Chò là sướng nhứt!

Năm Chò học chung hai ngày chính trị với anh em, đã làm cho mọi người thỏa mãn tò mò và quí mến mình. Bởi thế đến ngày mở đầu đợt quân sự, số người dự lên đến ba mươi lăm, có cả ba cô gái làng và cô Năm Bưởi nữa. Cả Chanh lúng túng. Đưa con gái vào du kích chưa tiện, đi đêm về hôm sẽ bị cha mẹ tra vấn bắt khai thật, lộ hết. Các ông bà cao tuổi dù không nghi ngờ hẳn cũng ít ưa cái cảnh trai gái chung đụng, cười cợt... Rồi anh phải để tất cả cùng dự. Dân làng này, nhất là bà con xóm Mới chiếm hai phần ba lớp học, đã quen rủ nhau đi săn thú, đánh cá, đốn gỗ củi, leo núi cõng quế, nay rủ nhau đi học quân sự với Việt Minh cũng là thường tình. Anh chỉ nhắc rất nghiêm kỷ luật bí mật để cho đội du kích khỏi bị pha quá loãng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #36 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2015, 08:12:59 am »

Mới mở đầu, lớp học đã ồn lên khi Năm Chò bước ra trong bộ áo quần khố đỏ gắn lon cai chữ V, giày đinh và ca-lô chỉnh tề, nay thêm cái thắt lưng to bằng da trâu sống và dây thép mà anh mới tự làm. Anh dập gót một tiếng cốp, đưa tay chào kiểu nhà binh Pháp. Anh nói thật to bằng cái giọng Quảng pha Sài Gòn, lên xuống bổng trầm như kép hùng trên sân khấu:

- Tôi xin có mấy lời trình với đại ca, với quí đồng chí. Tôi là thằng Năm Chò lưu lạc bấy nhiêu năm, có thêm cái tên là Năm Phi Đao. Nay được về bổn quán cùng làm việc nghĩa với bà con mình, thiệt là vui hết sức, vui vô số kể. Bị cái tôi dốt chánh trị lắm, ăn một cục nói một hòn, một chữ bẻ đôi chẳng hiểu, đại ca đây dạy dỗ nhiều mà chưa khá. Thôi thì tôi biết gì bày nấy, anh em cứ ngó theo đó mà làm... Trước hết, xin mời bà con coi trò ném phi đao!

Cả Chanh suýt cười to. Chỉ thiếu “tả lớ” và một hồi chiêng trống tùng phèng nữa là thành gánh xiếc rong.

Năm Chò đến lật một tấm ván dựng sấp mặt vào gốc cây. Mặt sau vẽ một hình người bằng than, giữa ngực có vòng tròn và điểm đen. Anh đã luyện tay dao cho dẻo lại, lần này diễn vẫn có bái tổ nhưng bỏ bớt mấy câu thần chú mà chính anh cũng chẳng tin, chỉ quen đọc cho đủ lệ.
Lớp học reo ầm ầm khi năm lưỡi phi đao từ xa hai chục thước bay vút đến, cắm phập vào đúng chỗ đã được hét báo trước, Cả Chanh sửng sốt, anh chỉ nghe đồn mà chưa biết rõ cái tài ấy của Năm Chò. Ba Mít đang hậm hực vì không chen vào được một lời hiệu triệu nào, cũng vỗ tay thật to và phục thật tình. Huống chi Năm Chò nhổ xong năm lưỡi dao lại chập chúng lại, cắn vào miệng, chổng chân lên trời, đi bằng hai tay trở về chỗ cũ!

Tuổi trẻ Linh Lâm bị chinh phục hoàn toàn. Quả anh Năm Phi Đao là tay giang hồ nghĩa hiệp, đáng mặt ông thầy võ ở xứ núi quanh năm cầm giáo mác này.

Tới phần tiếp theo thì Năm Chò lúng túng. Anh chỉ quen hô khẩu lệnh bằng tiếng Tây. Ta là du kích Việt Minh, ai lại hô “gác-đa-vu... phích” hay “rờ-pô!”, nghe nó chướng quá đi. Cả lớp bàn góp xôn xao, sau chọn khẩu lệnh như Thanh niên Phan Anh: “Nghiêm... phắt!” và “nghỉ!”. Thỉnh thoảng đồng chí huấn luyện có hét lầm tiếng Tây vào cũng chẳng sao, thời buổi Tây Nhật lẫn lộn này phải quen nghe đủ thứ tiếng lạ.

Mỗi người tự đẽo một súng gỗ theo mẫu của Năm Chò để tập. Chưa biết Giải phóng quân Việt Minh ngoài Bắc kỳ chào súng kiểu nào họ tạm tập chào như lính Pháp với tay phải bồug súng đứng và bắp tay trái khuỳnh ngang trước ngực, trông cũng được mắt. Cả lớp đều ước ao có một cây súng thật để tập, dù là súng hư, ít nhất cũng phải biết đóng mỏ quy-lát ngắm qua đầu ruồi thế nào chứ. Vài cậu trai làng đã từng theo cha con La-phạt đi săn thú lớn bằng cây súng Đức Mô-de chế theo kiểu súng trận, tả nó cho các bạn nghe, chỉ gợi thèm khát tăng thêm. Nếu có nguồn mua súng, đắt mấy cũng được, mọi người sẵn sàng bán lắm thứ trong nhà góp tiền mua ngay một cây. Học đứng bắn, quỳ bắn, nằm bắn, lấy đường ngắm, đâm lê, lại càng sốt ruột.

Cả Chanh và Năm Chò đều thấy bí. Học như nhà binh Pháp khi trong tay anh em chỉ có giáo mác, coi bộ không thiết thực mấy. Rất may, cuối ngày học thứ hai ông cụ lắm lời đều xem tập, mách cho Chanh con trai ông biết đánh đại đao, mã tấu, đưa bè xuống phố Hội vừa trở về Linh Lâm. Mỗi người trong lớp đem đến một cây mác, không tin mượn thứ gươm người Thượng vùng này có hình dạng như cây mã tấu cán dài đốc nhọn cũng được, con ông sẽ đến bày cho.

Anh con trai tên là Tám Doãn, hai mươi hai tuổi, đã theo một ông thầy võ học suốt một năm quyền, côn, kiếm, đại đao. Chuyên nghề chống bè chống đò trên sông dữ, người anh sắt lại và dẻo như một bó gân, tay chân nhanh nhẹn hơn người cày ruộng rất nhiều. Anh nhờ cha đến xin cho học quân sự, được phong ngay làm thầy.

Chiều thứ ba, đội đu kích được tổ chức lại thành ba tiểu đội. Cả Chanh đã được mấy lời thề tóm tắt để làm lễ tuyên thệ trước cờ: Trung thành với Tổ quốc, phục tùng mệnh lệnh của Việt Minh, chiến đấu dũng cảm kiên cường, không bao giờ đầu hàng khai báo, tuyệt đối giữ bí mật. Năm Bưởi được giao may lá cờ Việt Minh, nhớ lầm sao đó đã cắt một ngôi sao vàng sáu cánh nhỏ tí gắn giữa nền đỏ, Cả Chanh không sửa kịp.

Cờ được treo đứng trên thân cây. Đội du kích hai mươi tám người, với Năm Chò làm đội trưởng và Tám Doãn làm đội phó, đã xếp ba hàng ngang ngay ngắn, súng gỗ chống xuống đất. Ông Tư Chua nghỉ rèn đến dự lễ, đã mang theo cái lư đồng và đốt cả nắm trầm thơm nức.
Sắp bước ra làm lễ tuyên thệ, Cả Chanh chợt thấy tim mình đập quá mạnh. Anh đứng im, khép mắt nín thở một chút cho đỡ hồi hộp. Lứa quả đầu tiên. Vụ gặt đầu tiên. Lớp người võ trang đầu tiên ở làng anh. Sẽ có cuộc chạm trán đầu tiên...

Anh quen lắm rồi với những lời thì thào nơi vắng, những thư mật viết bằng hóa chất, những tờ báo in đá và truyền đơn in mực tím trên thạch trắng, những lớp học Mác-Lê ngồi bó gối tay ba tay tư trong nhà giam, những ước mơ cháy ruột gan của người con trai xả thân vì nước nhưng chỉ có thể thi gan chịu đòn tra tấn trước khi ngất lịm... Nay là lúc ta quật lại nó. Nay nó bắn ta, ta lao vào đâm lại. Nay không chỉ cố giữ khí tiết cộng sản nữa, mà ta xông lên giết giặc cứu nước, nó đánh ta thì ta bắt nó xối máu đền tội. Với nhúm người vụng về lóng ngóng này, Đảng Cộng sản từ bóng tối quẫy mình vươn lên như chàng trai Phù Đổng, quật đòn gậy sắt giữa trán quân thù. Một đòn chưa gục thì đánh nữa, đánh nữa, đánh mãi…

Cả Chanh lắc đầu, đặng hắng trong mũi, ngửng mặt, bước tới đứng cạnh lư hương trầm đang bốc khói ngào ngạt, xòe tờ giấy trên tay, bắt đầu đọc. Sau mấy tiếng đầu hơi run, tiếng anh cứng lại và vang to:

- Trước lá cờ đỏ sao vàng thấm máu các liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, chúng tôi là đội du kích Linh Lâm xin trịnh trọng tuyên thệ...

Chiều ấy không mưa giông. Mặt trời trước khi khuất núi tỏa lên một vầng đỏ rực khắp nửa bầu trời, phía núi ông Tượng cũng vắng hẳn tiếng voi rừng thi rống trước khi ngủ. Rừng núi Linh Lâm như ngừng thở, nhận vào lòng lời thề trang nghiêm nhất của những người khởi nghĩa.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #37 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2015, 08:16:51 am »

*
*    *

Dù lời thề thứ năm là giữ bí mật, tin đồn về đội du kích vẫn chạy khắp Linh Lâm. Không ai nghĩ mình đang vi phạm lời thề nếu kể lại với cha mẹ hoặc vợ rằng mình đã vô du kích Việt Minh, ít nhất cũng đỡ bị cằn nhằn vì bảo đi rừng kiếm ăn mà hôm nào cũng về tay không.

Cả Chanh cùng với Năm Chò và Tám Doãn sục sạo vùng rừng rậm mé trên Linh Lâm, tìm chỗ lập trại bí mật cho đội du kích. Họ chọn được hai chỗ tốt. Nơi gọi là căn cứ A nằm trên bờ phía đông sông Linh, cách chòi rẫy ông Tư Chua chừng một cây số xuyên rừng, sẽ là chỗ họp đội, luyện tập. Còn căn cứ B sẽ đặt bên kia sông, tít trên sườn núi ông Tượng dọc đường lên làng Blam của người Thượng cách căn cứ A đến gần ba cây số, là nơi cất dấu võ khí, lương thực, săn sóc người ốm hay bị thương. Chòi rẫy ông Tư Chua chỉ còn là trạm liên lạc.

Đội du kích chia nhau đi dựng trại ở hai căn cứ chỉ một ngày rưỡi là xong cả. Hàng ngày có ba bốn người đến phụ rèn với ông Tư.

Khắp Linh Lâm chẳng ai còn tin ông Tư đang làm hàng đổi cho lái buôn. Ông rèn hàng loạt những con dao theo kiểu lạ, hơi giống thanh gươm ngắn có mũi nhọn, sống dày, lưỡi bén. Cắm cán ngắn và thêm miếng che tay thì nó là gươm hay dao. Lắp vào cán dài, nó là cây giáo có thể đâm và chém chặt được. Ông có sẵn một cây giáo như thế từ trước, đi rừng cầm theo giữ thân và có thể phát chỗ đường rậm rạp, anh em du kích rất thích mẫu vũ khí này. Còn được mớ thép tốt dự trữ, ông đem rèn hết, được lưỡi nào ông cho đem ra rừng mà mài, đóng cán, đừng để dồn trong lò rèn cho người lạ trông thấy. Ai thích dùng mã tấu thì ông sẽ rèn sau, nhưng khuyên họ nên dùng thứ gươm Thượng của người Cà-dong lợi hại hơn nhiều.

Đội du kích mở một đợt tập bắn ná Thượng. Phần lớn các nhà ở Linh Lâm đều có ná, người hay đi săn thường tự làm hoặc mua sắm tới hai ba cái, to nhỏ khác nhau, có thể bắn từ cu đất tới heo nai. Tên độc thì phải mua của người Thượng, họ biết các thứ mủ cây và giấu rất kỹ, chỉ bán tên độc làm sẵn cho những người Kinh mà họ biết là tốt bụng.

Ông Tư Chua tài hoa luôn luôn nghĩ ra cái mới. Kiểu ná ở đây không làm ông thỏa mãn. Mé sau cái lẫy ná chỉ có một khúc chuôi đẽo hình đuôi cá dài chừng một gang. Lẫy lại chế theo hình chữ công, hai nét ngang, một nét đứng. Người bắn giơ ná lên trước mắt, hai bàn tay nắm đối xứng nhau, kéo lẫy bằng hai ngón trỏ cùng lôi nét dưới của chữ công. Ông khuyên anh em nên làm lại thân ná có báng tì vào vai như cây súng, làm lẫy chữ đinh - nét ngang ở trên, nét dọc chạy xuống dưới thành cái cò súng - dễ bắn trúng vì ná khó rung. Lần lượt từng người tự đẽo gọt lại thân ná và khen kiểu ná mới bắn ngon hơn nhiều. Có người mới tập vài buổi đã găm vào ngực cái bia hình người đặt cách ba chục thước tây luôn ba mũi tên.

Cao hứng, ông Tư còn tính chuyện tự rèn súng. Ông đã từng nghe nói cách rèn súng của người Thổ hay Mèo của vùng núi Bắc kỳ, nghe đâu họ có quyền mang theo súng hỏa mai hay súng kíp trong khi người dân Trung Kỳ bị cấm ngặt không được để trong nhà bất kể thứ súng gì. Cân nhắc tới lui rồi ông chưa làm vội:

- Khó nhứt là cái nòng. Đứa nào đi Phố đi Hàn đặt xưởng người ta khoan được cái nòng tốt, về đây tao làm súng cho mà bắn thả cửa!

Đội du kích thèm súng đành tạm bằng lòng với cây giáo cầm tay và ná tên đeo sau lưng, với cơm nhà áo vợ và nỗi háo hức được nổi dậy làm chủ đất Linh Lâm.

Tình hình mới tới đấy, bỗng một cậu tá điền trẻ tuổi từ xóm Ấp - xóm nhỏ vài chục nóc nhà cạnh dinh cơ phủ Đỉnh - tất tưởi chạy đến lò rèn báo tin dữ: “Lão Phủ đưa một xe lính về làng”. Ông Tư cùng nhóm thợ phụ hối hả mang những thứ đang rèn đi giấu. Cậu ta chạy tiếp ra chòi rẫy gặp Cả Chanh, lần này nói cả một xe đầy nghẹt lính có súng. “Chao ôi, dữ dằn lắm, tôi không về ấp được đâu!”.

Năm Chò đang nấu cơm chiều, định bỏ đấy đi báo động cho du kích rút cả vào căn cứ. Cả Chanh ngăn lại, căn vặn người đưa tin một lúc. Cậu ta càng bị hỏi càng bớt vẻ quan trọng. Rốt lại, đó là chiếc xe du lịch sơn đen chở được nhiều nhất năm người, lần này về có phủ Đỉnh, cô vợ ba lâu nay chỉ nghe thấy tiếng mà không thấy mặt, với hai người lính lệ mang theo một súng trường. Bấy nhiêu thôi!

*
*    *

Con đường mòn của người hái củi cắt lá ngoằn ngoèo rướn lên đỉnh dương Nai, nằm sau lưng vườn chè của ấp. Ấp là vùng “đất mơ hồ”, ông phủ không trưng khẩn nhưng cứ nhập nhèm ghép vào ấp của mình, cũng như các vùng đất mơ hồ khác mà thằng La-phạt quen vơ vào đồn điền của hắn, không phải nộp thuế.

Hai Khánh giật cương thúc gót mãi, con Hường cứ bước chậm dần, thở hồng hộc. Anh đành xuống ngựa, dắt nó đi mấy chục thước cuối cùng lên đỉnh.

Khánh chẳng có việc gì phải leo dốc cả. Anh đi chỉ để khỏi ở nhà, khỏi nghe giọng rít răng của bà Cả nói với đầy tớ và những tiếng thở dài của chị Huyền Tâm ế chồng. Qua bấy nhiêu đảo lộn trên thế giới, hai con người ấy hầu như không thay đổi, kiểu làm chủ ấp của họ cũng y nguyên như cũ. Họ bám cứng lấy dòng dõi tôn thất, vai vế nhà quan, sửng cồ khi thiếu một tiếng thưa bẩm. Họ bỏ ba mươi mẫu chè mọc cao thành rừng với tay không đến lá, để mục từng lẫm thóc tốt, lại lo đi giành giật từng bó lúa chia tô rẽ đôi, đặt làm hai cái ang 1 hơn kém tí chút để thu tô và bán thóc, mắng chị bếp khi sắn ghế trong cơm người làm có vẻ hơi ít hơn mọi bữa.

Đối với Khánh, họ gờm nhưng không dám chống. Đọc thư ông phủ gửi về dặn hai mẹ con phải làm những việc cậu cử sẽ đưa ra, họ thất sắc, riêng chị Huyền Tâm tí nữa ngất. Dần dà họ bớt lo vì chẳng thấy cậu cử làm gì cả, dong ngựa đi chơi chán lại về lôi sách ra đọc. Trong ngôi nhà tối được gọi tôn lên là chính đường họ là hai ngọn đèn hiu hắt vẫn cháy, người đàn ông cao lớn và đẹp trai chẳng làm gì cả để gây gió mạnh, chỉ bỏ đi tìm không khí trong lành ở bên ngoài.

Cơm của Khánh được dọn riêng mâm, vì gần đây hai mẹ con đều ăn chay trường. Khánh nghĩ: tu cái khẩu cho cái tâm được nhàn, nhưng xem ra tâm chẳng yên mà khẩu vẫn cay nghiệt như thường.

Từ trên đỉnh dương Nai nhìn xuống, sông Linh như người đứng dạng hai chân, đầu hướng về Bắc, và con đường 56 chạy về Tây in hình hai cánh tay giơ ngang. Bên kia sông, khu nhà bỏ hoang của đồn điền La-phạt đã ngả màu sẫm đen, mặt sân đất đỏ đã phủ cỏ xanh gần kín. Phủ Đỉnh giao cho anh sửa soạn lấn sang đấy. Cứ tưởng bỏ!

Dân Linh Lâm chưa ào tới chiếm đồn điền vì còn bỡ ngỡ, nhưng không ít người đã dạo qua nhắm chỗ đất tốt và gần nguồn nước. Nhà gạch trong đồn điền thì họ ít cần, xứ này chẳng thiếu gỗ tranh làm nhà. Khánh đã thử thăm dò thầy Huần, tay quản lý cáo già đang vét nốt những gì vét được để cuốn gói về quê: Huần giục  anh làm nhanh lên và chớ quên công lão. Đến Cửu Áng thì dè dặt hơn, gãi đầu hồi lâu mới nói mình không dám dính vào, dân ở đây hung dữ, quan phủ làm sao được êm thấm thì làm. Gặp lão Xâm Tô bên khay đèn thuốc phiện, lão khoe mới lấy được lá tử vi tốt lắm, thời thế này sẽ phát tài phát lộc. Trong khi ấy những tin đồn về du kích Việt Minh cứ ồn ồn lên mãi...

-----------------------------------------------------------
1. Đơn vị đo lường địa ph ương bằng 24 hoặc 30 lon ống sữa bò
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #38 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2015, 08:21:18 am »

Anh Phan Chanh đang ở đâu? Tại sao không chịu chắp mối? Đợi vài hôm nữa nếu cứ vắng tin thì Khánh sẽ về Đà Nẵng hỏi lại người giới thiệu, ghé thăm Mỹ Duyên luôn.

Khánh lên ngựa, giật cương cho xuống núi bằng đường khác, đến bến đò của ấp. Từ vạn Linh Lâm xuôi dòng, thuyền đi qua bến đồn điền có xây nhiều bậc đá khối và xi-măng, xuống một quãng nữa đến bến kiểm lâm, có đồn kiểm lâm trên bờ cao nhìn được cả vùng rộng. Bến đò ấp đối diện với bến kiểm lâm, nằm ngay trên khe cửa Sặt chảy sát sau lưng khu dinh cơ phủ Đỉnh. Khánh thường đến đấy bơi buổi chiều, ngược khúc sông khá sâu và chảy chậm lên đến tận vạn Linh Lâm, bơi trở về mỏi tay thì đã có dòng nước xuôi đưa trôi thong thả, nằm ngửa làm tấm ván cũng về đến bến ấp.

Vừa đến bến, Khánh gặp luôn một con đò từ bến kiểm lâm chống sang. Bảy Huần mặc sơ-mi bỏ ngoài quần bà ba đen, rướn cái cổ ngẳng hú một tiếng ngắn, chống sào mạnh hơn. Mũi thuyền trượt lên lưỡi cát bên cửa khe Sặt.

- Cứ sợ cậu Hai phóng ngựa đi thẳng, biết đâu mà tìm. Có chút việc muốn hỏi cậu gấp..

Khánh lặng lẽ xuống ngựa, đợi lão cắm sào và lên bờ. Anh không ưa lối suồng sã của Huần. Lão bợ đít Tây mãi, tự coi như một thứ quan không đeo bài ngà, trong khi nói tiếng Pháp chẳng hơn bồi bếp là bao và chỉ thạo nghề bớt xén.

- Chuyện bí mật đây nghen, cậu giữ kín tôi mới nói.

Khánh buông sõng:

- Ông chưa tin, tìm tôi làm gì?

- Ơ hơ, thì cũng dặn cho chắc... cậu có muốn mua súng không?

- Súng gì?

- Hai cây súng của đồn điền chứ súng nào!

Khánh ngạc nhiên quá, không chú ý giữ khoảng cách với lão nữa, hỏi vội:

- Thằng La-phác-sơ mang đi hết rồi mà... ông nói cả làng đều nghe....

- Ơ hơ, thì cũng phải nói vậy, lỡ tụi Nhựt lên soát xét phiền lắm. Một cây ca-líp du hai nòng đúng mác Xanh-tê-chiên, cậu mượn bắn mấy lần rồi đó. Một cây Mô-de bắn voi xuya số một.

- Còn cây súng lục ru-lô?

- Nó ném xuống Tu-ran, chắc tụi Nhựt lấy rồi, cũng tiếc. Mà thứ đó đeo chơi chớ săn bắn gì... Cậu lấy tôi để rẻ cho cả hai.

- Đạn khá không?

- Ơ hơ, chỗ đó thằng Tây khôn. Mới rục rịch chiến tranh mà nó mua đạn để dành thiệt nhiều, bắn hà tiện, bắn đâu giữ vỏ lại đó, tính chuyện nhồi lại mà xài. Không kể vỏ, cây ca-líp còn bảy chục đạn, cây Mô-de năm chục hơn, đựng trong hộp sắt tây hàn kín. Cận cứ thử mặc sức, viên nào nổ thì lấy, ơ hơ hơ!

Kiểu cười cầu tài của lão vô duyên thật, nhưng hai cây súng lão giấu được quả đáng thèm. Hồi ở Hà Nội, dù đã trả bằng vàng diệp, mang được súng ra khỏi trại Nhật còn phải dùng bao nhiêu mưu mẹo che mắt. Hai cây súng ở đây chỉ có việc xách về nhà mình!

- Ông cứ nói giá, liệu đủ tiền thì tôi mua. Không đủ để ông đem về quê.

Hai người nhìn nhau một cái nhìn dài, và hiểu rằng chẳng ai đần hơn ai. Khánh biết Bảy Huần không thể đem súng theo, nhưng trả giá quá rẻ thì lão sẽ trét đầy đầu mỡ đem chôn, được giá mới bán. Huần biết Khánh không muốn mua đắt nhưng ham súng và có thể xoay được giấy phép dùng súng.

Bảy Huần đắn đo, lại bật tiếng cười quen miệng:

- Ơ hơ, cậu liệu mà trả... Để rẻ cậu hai ngàn đó.

Khánh đưa tay ngoặc dây cương lêu cổ ngựa, vịn yên như sắp leo lên:

- Tiền bạc mà ông nói như lá rụng!

- Cậu cứ trả sao cho phải giá...

- Bán cả cái thân tôi cũng chưa được hai ngàn, lấy gì mà trả! Ông vô xóm Chợ bán cho lão Xâm Tô đi!

Khánh đạp chân nâng, vọt lên yên luôn. Bảy Huần không cười nữa, túm giây cương nói hối hả:

- Thôi thì một ngàn, rẻ như cho rồi cậu à. Không mua tôi chở đi thiệt đó.

- Về quê ông bắn chim sẻ bằng Mô-de à?

- Ồi chào, xuống mấy làng dọc nguồn Thu Bồn đây thiếu gì người rước!

- Họ bắn súng không ai nghe tiếng à? Giấy tờ đâu?

- Cùng lắm, tôi bán cho Việt Minh! Họ đang mua súng ào ào. Tiền trao cháo múc, một phút là xong hết.

- Phải, họ trả ông một cái giấy nợ, đợi khi đánh Tây đuổi Nhật xong hết họ sẽ trả tiền.

Mồ hôi đổ lấm tấm trên trán Bảy Huần. Té ra cậu cử non choẹt nói giọng Hà Nội này cũng trí trá chẳng vừa. Lão phác qua mấy cách xử sự, đều thấy không ổn cả. Bọn Liên đoàn 1 hay khám ghe thuyền tịch thu ngũ cốc, có thể tìm ra súng. Chôn giấu lại nơi xứ núi này, biết bao giờ mới quay trở lên, và đào lên thì bán cho ai ngoài cha con quan phủ? Bán cho Việt Minh thì biết họ ở đâu, đưa tiền không hay lấy luôn?

Thấy lão vẫn nắm cương nhưng thần mặt ra, Khánh chơi luôn lá bài quyết định:

- Nói vậy chớ tôi mua súng cũng phải giấu kỹ như ông, đố dám hở cho ai thấy...

- Sao vậy?

- Ông không nghe Việt Minh đem quân về xung quanh núi Linh Lâm à. Giữ súng của Tây, họ tịch thu còn đỡ, sợ họ ghép cho cái tội tay sai thực dân thì mất cái chỗ đội mũ!

Bảy Huần lắp bắp:

- Thôi cậu đưa năm trăm, lấy đi!

- Hai trăm.

- Công tôi cất giấu bao nhiêu lâu... Bốn trăm là cho không rồi...

- Tôi còn lưng vốn hai trăm rưởi, đưa hết cho ông. Coi như đánh bạc với trời!

Khánh kéo cương cho ngựa quay đầu, thúc hai gót, vừa nghe gọi với sau lưng:

- Lát nữa cậu qua lấy hay tôi đưa tới ấp?

Khánh ngoái cổ lại:

- Ông tới ấp lấy tiền luôn chứ!

Tám giờ tối, Bảy Huần khệ nệ vác sang ấp quan phủ một bó nặng, trên lưng thêm một cái gùi nhỏ. Khánh đóng cửa buồng xem súng thật kỹ, đếm đạn, trao tiền, mời lão về ngay để khỏi nghe lão kể ơn nghĩa. Không lau bớt dầu mỡ, anh đưa súng đạn ra sau dương, thả xuống một hố đất nẻ, gạt lá khô lên phủ dày, cười một mình khi nhớ lại cuộc đấu trí ban chiều.

Trưa hôm sau, khi chiếc đò dọc có mui nhổ sào rời bến đồn điền xuôi sông Linh, chở theo thầy quản lý Huần với những hòm xiểng cuối cùng, chiếc xe hơi hòm kín sơn đen của phủ Đỉnh rời đường 56 rải đá rẽ sang quãng đường vào ấp. Bà Ba Mỹ Duyên đang ngủ gật dựa vai chống bị xe xóc mạnh giật mình mở mắt nhìn quanh ngáp rút ngay cái gương con trong ví đầm ra soi cười khẽ:

- Để đó mình coi, em làm dâu bà Cả cứ là ngọt hơn đường cát mát hơn đường phèn!

----------------------------------------------------------
1. Tổ chức độc quyền thu mua lương thực của Nhật
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #39 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2016, 02:47:25 pm »

13.


Đợi nhắc đến lần thứ ba, Mỹ Duyên mới khép nép ngồi ghé xuống chiếc ghế dựa đặt trước cái đi-văng kiểu Tây, trên đó bà cả ngồi chễm chệ. Cô Huyền Tâm đặt ghế ngồi phía chân đi-văng, ở vị trí con ngồi hầu mẹ. Cả hai mẹ con đều diện như bà hoàng với áo dài gấm Thượng Hải, quần cẩm châu trắng, hài cườm, vòng xuyến đầy tay và nhiều lớp kiềng vàng trên cổ. Ai tinh mũi có thể đánh hơi thấy mùi hạt tiêu từ áo quần họ bốc ra: băng phiến dạo này khó mua, chống gián nhậy bằng hạt tiêu kiếm ngay tại chỗ rẻ hơn. Trời nóng, cả hai bắt đầu đổ mổ hôi.

Trước mặt họ, Mỹ Duyên giống hệt một cô gái thất nghiệp đến xin làm người ở.

Bước xuống xe hơi, Mỹ Duyên đợi mãi mới được bà Cả buông một tiếng lạnh lùng: “Chào cô Ba!”. Bà ngoảnh đi ngay, rít răng quát người nhà dọn chỗ cho quan ngơi. Tuyên chiến rồi đây. Xin nghênh chiến - Mỹ Duyên cười thầm khi theo chị ở sau nhà rửa mặt, tẩy sạch các thứ phấn son. Nàng vào buồng lột hết hoa tai kim cương, dây chuyền mặt ngọc, đồng hồ vàng, thay mặc bộ áo trắng quần đen đã dùng ở Hà Nội khi đóng vai chị Nết vợ anh Khánh. Trong khi ông phủ nóng nẩy vẫy Hai Khánh ra buồng khách để hỏi chuyện làm ăn nàng nhờ chị ở vào thưa bà lớn cô Ba xin vô hầu chuyện, và nghe rõ giọng Huế trong buồng bà lớn nói to: “Biểu cô Ba vô!”.

Bà lớn nổ súng phủ đầu:

- Cô Ba quen ở nhà lầu, đi xe hơi, nằm quạt máy về chỗ quê mùa chắc là chịu không nổi mô hè?

- Dạ bẩm bà lớn, em không dám...

- Nói chi mà khiêm cung quá rứa, cô kêu tôi bằng chị là quá rồi. Biết có được làm chị hay không...

Mỹ Duyên cúi mặt, chửi thầm con mẹ không biết liệu hồn cứ cố gây sự.

- Dạ bẩm bà lớn, em hiểu phận em lắm chớ. Em con nhà mồ côi cha, bơ vơ đất khách quê người, mong được chỗ gửi thân là may. Quan lớn trị nhậm xa nhà thiếu người hầu hạ, cho em vô chỗ phú quý, thiệt là em có phước...

- Cô nói rứa là quá. Vợ cả với vợ ba, cho dù gốc tích sang hèn khác nhau, cũng là chị em hết thảy chớ.

- Dạ bẩm, bà lớn thương em bà lớn dạy vậy, thiệt tình em đâu dám. Quan lớn với bà lớn kết duyên với nhau là nhờ cụ lớn Thượng rủ lòng thương, đủ thứ lễ nghi cưới hỏi. Còn cái thân em... xin bà lớn tha lỗi... mang tiếng lấy chồng mà chẳng có giá thú, coi như má em bán con làm nàng hầu...

Mỹ Duyên úp mặt vào cái khăn tay vừa rút vội, bắt đầu sụt sịt:

- Quan lớn với bà lớn thương ngày nào... em ở được ngày đó... hết thương... thì em lại tứ cố vô thân...

Duyên cảm thấy rõ nước mắt mình trào ra thật. Quái lạ, mình chỉ giả bộ thôi mà, mình nhập vai quá sâu làm gì... Một nỗi căm giận dữ dội từ từ bốc lên chặn ngang cổ khiến nàng nghẹn ngào thật. Con đĩ già chửa hoang kia, tại sao tao phải đóng kịch trước mặt mày? Ban đầu tao tính trổ tài cho mày vào bẫy, giờ mới thấy mày chưa đáng coi tao diễn trò đâu. Hai vợ chồng nhà mày chỉ đáng mỗi đứa một cái tát đổ máu mũi, tao với Khánh sẽ khoác tay nhau ra khỏi nhà này, đi tìm hạnh phúc với nhau...

Thấy người vợ lẽ bưng mặt ngồi im lâu, bà Cả đặng hắng, nói nhẹ giọng hơn:

- Dì đi đường mệt, thôi để dì nghỉ cho khỏe rồi chị em đàm đạo sau. Bày ra quà bánh chi cho tốn rứa!

Cô Huyền Tâm dìu Mỹ Duyên về buồng quan phủ. Bà Cả soạn mâm quà ra xem, gật gù: không phải những thứ đắt tiền nhất nhưng rõ ra người biếu đã cố đón ý chiều lòng. Cô Tâm bước nhanh vào thì thào trong khi cởi áo gấm cho đỡ nóng:

- Cô ta khóc dữ lắm, mạ ơi. Hỏi chi cũng lắc đầu nức nở không nói được.

Cô thở dài. Bà Cả hỏi rất khẽ:

- Coi bộ thiệt hay giả?

- Thiệt chớ mạ (thở dài). Con gái mười chín tuổi lấy lẽ ông chồng bốn mươi sáu, chắc là bị gả ép (thở dài).

- Ép tiền chớ ép chi! Thôi được, hắn chịu phận nàng hầu thì mạ con mình rộng lượng che chở hắn làm phước... Hắn sắm đồ lễ ra mắt cũng khéo đây. Biết mạ con mình thờ Phật, hắn lựa được thứ dễ dùng.

Cô Huyền Tâm trải nhiều năm không về thành phố mua sắm, nay được mẹ giảng cho các mặt hàng vải trên mâm: lụa Bom-bay màu mỡ gà, the La Cải nâu, cẩm tự đen may quần, nửa cân len Pháp thứ thiệt màu boóc-đô, một sợi dây chuyền vàng tây có mặt đúc hình Phật ngồi tòa sen đựng trong hộp nhung, hai hộp trà Long tỉnh. Toàn là những thứ nay rất khan hiếm, giỏi lùng và chịu trả đắt mới mua được. Cô Tâm đeo dây chuyền vào cổ, cầm gương to lên soi, rất bằng lòng với cô nàng hầu biết điều, về sau có xuất gia tu chùa, chắc cô vẫn đeo sợi này được.

Ông phủ mới về đã cho hai người đi mời ông Cửu Áng và thầy Huần. Hỏi sơ qua việc ấp, ông hậm hực. Bọn đàn em dưới trướng ở Linh Lâm quá nhát gan, làm lỡ cơ mưu mà ông dày công sắp đặt. Người nhà về báo thầy Huần xuôi thẳng, ông Cửu xin đến tối sang hầu quan, ông càng cáu tiết.

Bữa cơm chiều ở ấp được dọn sớm hơn ở phủ. Dì Ba lặng lẽ xuống bếp giúp xào nấu, bưng dọn, mẹ con bà Cả đã cởi bỏ hết các thứ giàn cảnh trên người khi đón cô gái nhảy được phong làm dì. Bà Cả không chừa được thói riết róng, chỉ cho thắp một ngọn tọa đăng dầu lửa - thứ đó ở Linh Lâm chỉ bán để rót vào bật lửa từ đầu chiến tranh - gặp cái lừ mắt của chồng, phải gọi thắp thêm cây đèn thứ hai. Trên cái bàn dài, hai mâm cơm được dọn rời nhau. Mâm ông phủ với cậu cử là cơm mặn, có lính lệ quạt và một người ở xới cơm. Mâm chay của mẹ con bà Cả có dì Ba trông nom. Bà vừa thời hết chén cơm to bằng vỏ liến của nhà quan xứ Huế, đã thấy dì Ba giơ hai tay kính cẩn đón xới. Dì đã xin được thụ trai với bà Lớn và cô, ăn ít mà lo hầu nhiều.

Ông phủ lì lì đăm chiêu, tự rót uống liền ba li rượu sâm, ăn lặng lẽ. Cậu cử chỉ uống một li cho phải phép, và cơm với điệu bộ con nhà lành, nhưng thỉnh thoảng vẫn liếc xéo sang mâm đàn bà.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM