Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:48:13 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người cùng quê - Tập 1  (Đọc 126397 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #90 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2016, 02:24:51 pm »

Những người bạn tốt bụng không lôi kéo được Khánh và quá bận, vắng bóng dần. Người kiên nhẫn nhất là Thạch Sơn bỗng dưng biến mất, giữa lúc Khánh rất cần gặp. Trong một cơn buồn chán, Khánh xộc thẳng đến hỏi chỉ huy trưởng tự vệ Thành mới biết Thạch Sơn được điều đi Công an xung phong trong vùng Quốc dân đảng chiếm dọc đường sắt từ Vĩnh Yên lên Lao Cai, anh không gặp được nữa.

Một lá thư từ Quảng Nam gửi ra khiến Khánh bồi hồi xúc động. Đồng chí Phan Chanh, phó chủ tịch tỉnh rồi đấy, vẫn tưởng Khánh ra làm cách mạng ở Trung ương, nhờ Khánh tìm hộ cho một số thợ nguội giỏi nghề để lập các binh công xưởng trong tỉnh, cho vào càng sớm càng hay. Anh định gửi trả Khánh súng ngắn, đồng hồ, bút máy, nhưng sợ lạc nên đang giữ tạm. Anh thợ xe lửa ấy tốt bụng và thật thà đến nỗi Khánh không dám làm anh thất vọng, chỉ viết thư hứa chung chung sẽ cố gắng. Ôn lại những ngày sôi nổi ở Linh Lâm, tất cả những kỷ niệm của Khánh được đúc lại chung quanh con người tầm thước có đôi mày nét mác trên mắt xếch và cái cằm nẻ đôi. Chỉ học trong tù thôi mà Cả Chanh viết chữ khá đẹp, rất đúng chính tả, không lẫn lộn cả dấu hỏi ngã, n và ng, c và t ở cuối chữ, ấy là điều hiếm thấy ở người miền Nam. Khi buộc phải dùng tiếng Pháp, anh cũng viết rất đúng những từ chuyên môn. Đọc xong lá thư lần thứ hai, Khánh nghĩ rằng nếu có một ai gần gũi mà anh có thể phục cả tư cách lẫn trí thông minh, đó chỉ có thể là anh cán bộ Việt Minh đau dạ dày kinh niên kia.

Bạn bè của Khánh ở phía đối địch không chối cãi rằng Cộng sản có một đội ngũ đảng viên vững mạnh, được dân tin yêu, đáng làm gương cho các đảng phái quốc gia noi theo. Nhưng không phải vì thế mà chủ nghĩa cộng sản là chân lý!

Một hôm lang thang trên đường Cổ Ngư, Khánh gập một người béo lùn, khá to bụng, đeo kính râm và đội mũ phớt úp tận mắt, ngồi trên ghế xi-măng quay sang phía trường Bưởi và khu thủy phi cơ của Pháp trước kia trên hồ Tây. Anh ngờ ngợ một lát mới nhận ra anh Tô Trọng Huân, thư ký tòa Khâm ở Huế, đoàn trưởng đoàn Hướng đạo sinh Ngô Tòng Châu, năm 1942 bỗng dưng biến mất và sau đó bị Pháp truy nã vì tội “hội kín”. Mừng quá, Khánh đến ngồi sát bên cạnh:

- Anh Huân, quên em rồi à? Huynh trưởng nhận ra đoàn sinh Ung Viết Khánh chưa?

Người kia giật mình, thọc nhanh tay vào túi áo bờ-lu-dông, rồi khẽ bật cười rút tay ra, dựng ba ngón kín đáo chào kiểu Hướng đạo:

- Quên ai chớ không quên Khánh đâu. Học giỏi, bơi giỏi, diễn kịch giỏi, nổi tiếng Khải Định mà. Giờ em học ở đâu, làm gì?

Anh Huân hỏi rất nhiều mà chỉ nói về mình vài câu vắn tắt. Anh ngẫm nghĩ lâu trước khi dặn Khánh chiều mai đến thăm anh tại nhà một cụ Bá trong khu Ngũ Xã, phía đông hồ Trúc Bạch. Khánh trố mắt:

- Nghe nói khu ấy lập chính quyền Việt quốc, tuyên bố tự trị phải không  anh?

- Khắc đến, khắc biết. Ai hỏi, em nói là anh Trọng Béo bảo đến.

Hôm sau Khánh mượn xe đạp lên Ngũ Xã đúng hẹn. Qua khỏi cây cầu gỗ đi vào cái làng đảo lắm thợ đúc đồng này, Khánh chợt nghe tiếng lên đạn róc róc và tiếng quát hung dữ:

- Đứng lại! Giơ tay lên! Quay đằng sau!

 Anh thả xe đạp ngã vào bờ rào, làm theo lệnh. Ai đó đứng sau lưng anh vuốt nắn từ đầu đến chân tìm vũ khí. Mặc xác mày. Thế nhưng khi chiếc ví trong túi quần sau bị moi ra, Khánh bắt đầu tức:

- Trong ví có bao nhiêu tiền, tôi đếm rồi đấy.

- Câm ngay, ông cho một phát bây giờ! Quay lại! Giấy giới thiệu đâu?

- Không có. Anh Trọng béo bảo đến nhà cụ Bá.

Khánh cố ý kiểm lại ví để chọc tức hai người gác, một cầm súng thất cửu và một đeo gươm Nhật, đều mặc sơ-mi và nói giọng du côn như nhau.

Cụ Bá chỉ là mật hiệu của trụ sở Việt quốc, đặt ngay trong đình làng. Cờ sao trắng trên nền xanh treo giữa, bên dưới có ảnh ông Nguyễn Thái Học trong khung bài vị, với một súng trường và một thanh gươm dài dựng chéo như giá đỡ. Hai bên chính điện treo hai băng vải đỏ dán chữ giấy trắng: “Tự do dâu chủ, công bằng xã hội”, và “Đả đảo Việt Minh độc tài cộng sản”.

Khánh khóa xe xong, bước vào đầu nhà bái đường, đứng nhìn quanh bằng cặp mắt ngờ vực và cáu kỉnh, sẵn sàng cự bọn này một mẻ và ra về. Trong đình kê năm cái bàn nhưng chỉ hai bàn có người, một đánh máy cò mổ và một cặp đang đếm tiền, không ai ngửng lên. Một người gác nữa ngồi trên ghế bành kê ngoài hiên đang ngoẹo đầu ngủ say, cây trường Nhật cắm lưỡi lê hình gươm dựng vào khung cửa.

- Khánh đấy à? Sang bên này!

Anh Huân đứng ngoài sân sau lưng Khánh vừa gọi. Khánh ngạc nhiên thêm một lần nữa: Anh Huân mặc một bộ đồ đồng phục giống hệt thằng Sĩ Ca tức Si-ca-gô mà Khánh trông thấy hôm mới đến Hà Nội, ông cụ hàng nước gọi đấy là lính Việt Quốc. Hoàn toàn không phải như hôm qua anh đóng vai thám tử vẽ trên bìa sách.

- Chắc là đang cáu với lũ trẻ vọng gác phải không? Công an Việt Minh xộc vào bắt người nhiều lần, chúng nó khiếp, soát người đến ngấy tận cổ. Đi với mình!

Khánh theo anh Huân lách qua năm sáu lớp hàng rào vườn, đến một ngôi nhà ngói cổ. Nhà đóng kín cửa trước, họ vào đằng cửa ngang khép hờ. Mươi người ngồi chung quanh hai cái bàn kê nối nhau đang nói chuyện rì rầm, có già và trẻ, có âu phục sang và áo the khăn xếp, có hai cậu sơ-mi soóc như mấy nhóc gác ngoài kia. Cửa sổ mở rộng nhìn ra hồ Trúc Bạch nước xanh màu gỉ đồng và tanh mùi đồng.

Anh Huân kéo ghế mời Khánh ngồi, lại quay trở ra. Khánh nhìn quanh, thấy toàn những bộ mặt lạ, không muốn chào ai và cũng chẳng ai bắt chuyện với anh. Trên bàn đặt mấy chai rượu cô-nhắc Mác-ten, mới nhìn đã thấy ngay là hàng giả bởi cái nhãn bắt chước in quá vụng, mấy đĩa lạc rang húng lìu, hai bộ ấm chén. Khánh tự rót uống liền hai chén nước trong khi chờ đợi. Cái gì sẽ diễn ra trong khung cảnh chán ngấy này? Dưới nhà ngang vẳng lên những tiếng thì thào, và mũi Khánh chợt bắt mùi khói thuốc phiện hôi và beo béo.

Anh Huân đưa vào một vị khách nữa, mặc sơ-mi trắng bỏ ngoài quần, mặt đỏ bừng, nói to khi bước qua ngưỡng cửa: “Chào các đồng nghiệp yêu dấu!”. Vài người khẽ gật đầu chào lại, dáng hờ hững. Ai là đồng nghiệp của ai?
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #91 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2016, 02:39:55 pm »

Từ nhà ngang bước lên ba người mặc âu, vừa đi vừa vuốt lại áo vet-tông hay nắn sửa ca-vat, rõ ra mới rời bàn đèn. Họ đến ngồi xuống các ghế chừa trống ở một đầu bàn, anh Huân cũng ghé đến bên người ngồi ở chỗ chủ tọa:

- Báo cáo anh, các vị mời đã đủ, xin anh khai mạc.

Anh Huân ngoảnh nhìn cử tọa, nói dõng dạc:

- Kính thưa quý vị nhân sĩ trí thức! Thành đảng bộ Hà Nội của Việt Nam Quốc dân đảng vô cùng cảm kích trước thịnh tình của quý vị đã hưởng ứng lời mời, quá bước đến cho chúng tôi được hầu tiếp vài chén rượu nhạt. Trước tiên, xin trân trọng giới thiệu văn sĩ Khái Hưng, nhà đại văn hào đã từng làm say mê hàng triệu độc giả nước ta, thay mặt tòa soạn báo Việt Nam thưa chuyện cùng quý vị.

Người ngồi đầu bàn đứng dậy, dặng hắng, bắt đầu nói khàn khàn. Khánh biết Khái Hưng chỉ qua cuốn “Hồn bướm mơ tiên” đọc vội, nhưng đã nghe nhiều bạn học trầm trồ khen văn sĩ này. Anh ta có hàm răng hơi vẩu, mái tóc chừa dài phủ nửa tai, thỉnh thoảng đưa tay lên vuốt. Khánh chú ý nhất đến cặp môi loang lổ đậm nhạt của người nghiện thuốc phiện. Cái núm cổ nhọn chạy lên xuống dọc cái cổ gầy cũng của người nghiện trong khi anh ta nói.

- ... Chúng tôi xin lỗi, không dám giới thiệu quý tính phương danh cùng trọng trách của quý vị, bởi vì chưa biết quý vị sẽ chọn bút danh nào khi cộng tác với báo chúng tôi, tờ báo duy nhất dám nói lên sự thật trần trụi dưới chế độ độc tài cộng sản. Chúng tôi cũng xin quý vị miễn chấp đã đón tiếp quý vị ở nơi thôn dã thuộc ngoại ô Hà Nội, sau khi vài vị tỏ ý dè dặt chưa muốn đến trụ sở báo Việt Nam ở số nhà 80 Quan Thánh, giáp phố Bua-ranh, nơi xưa kia các anh Nhất Linh, Hoàng Đạo đã cùng tôi hiến tất cả tinh hoa của đất nước trước khi thực dân Pháp ra tay khủng bố! Âu cũng là một dịp để quý vị chứng kiến tinh thần quật khởi của dân chúng đã biến khu Ngũ Xã này thành pháo đài bất khả xâm phạm của tự do dân chủ, bất chấp mọi sự hăm dọa phía Việt Minh cộng sản...

Thì ra đây là cuộc chiêu đãi của tòa soạn báo Việt Nam để mời cộng tác viên. Trong khi Khái Hưng đang nói, hai chú khách trú cởi trần phơi bụng phệ lễ mễ khiêng vào một cái mâm gỗ to bằng mặt bàn chữ nhật, có chân và bốn càng như băng-ca khiêng người ốm, xếp đầy những liễn, âu, đĩa, bát, chai, cốc. Một a múi mặc áo Thượng Hải không tay và xẻ dọc đùi giúp bày các món rất sang, được chở bằng thuyền từ hiệu cao lâu bên kia hồ tới đây, Khánh nhìn qua cửa sổ thấy họ cập bờ, khiêng mâm lên với vẻ rất quen thạo.

Anh chàng đến cuối cùng đã say ngất ngưởng. Anh ta đứng vọt dậy, lắc lư cái đầu đỏ tận gáy, ngắt lời diễn giả:

- Thưa hiền huynh...hiền huynh trô xong thả cửa, đàn em đây đang chịu cực hình của Tăng-ta-lơ với bàn cỗ bày dưới mũi thế này. Xin cho đệ tóm tắt: các huynh cứ ra đề, chúng đệ chấp bút, chửi ai khen ai xin chiều lòng trăm phần trăm, cúi mong các lãnh tụ chi tiền Đông Dương kha khá vào, đừng giúi cho một nắm quan kim. Ai ý kiến ý cò gì xin để chốc nữa, không cái ăn nguội cả!

Khái Hưng sầm mặt cười gượng, vẫn giơ hai tay ra hiệu mời chung trong khi mọi người che miệng cười.

Quan khách cầm đũa lúc ba giờ chiều, một thời điểm trái khoáy, cũng trái khoáy như nơi mời đến và cách đón tiếp. Thế nhưng không ai làm khách, tất cả đều chén thật lực, và Khánh cũng chả buồn giữ ý gì với mấy tay đũa hăng hái bên cạnh. Cô a múi đi vòng rót rượu Mai quế lộ qua vai khách. Hai chú khách phơi bụng và rốn bên trên cái thắt lưng da đeo ví tiền và bao kính tiếp thêm các món gà luộc, vịt khô Triều Châu, lợn quay sơn đỏ, nói bô bô rằng món cá chép chưng mộc nhĩ ăn nóng và món hải sâm chỉ có mỗi người một suất thôi.

Một giờ sau, mọi người đều say nghiêng ngửa, Khánh nhấp một hớp gọi là, lắng tai nghe khẩu khí của quý vị nhân sĩ trí thức, tinh hoa của đất nước.

- Mẹ bố nó chứ, ông viết mửa mật ra, nó ký tên đồng tác giả mà đòi chia năm mươi năm mươi, ông gí vào!

- Đểu nhất vẫn là thằng xuất bản Hiện Đại. Nó khai in năm nghìn với I.P.P. hồi Tây, nó thì cho tớ nhuận bút một nghìn, bốn nghìn bán giấy chợ đen. Tớ dọa kiện, nó chịu vất cho tớ hai trăm nữa, dè xẻn mới hút đủ một tuần lễ.

- Ăn đong, tao chủ trương ăn đong thôi. Tao sẽ ký hai bút danh, một thằng chửi một thằng bênh, tao cãi vã với tao!

- Mình dặn lũ đàn em rồi đấy: động vào ai chứ đừng chạm vào Cụ Hồ, gái hàng hoa hay trẻ đánh giầy cũng xúm vào nện cho vỡ cái chỗ đội mũ.

- Khái Hưng nó ranh tổ mẹ, sắp viết thuê cho Việt quốc, nó còn đi xin phép Việt Minh. Xem đấy, nó về Nam Định chơi thoải mái, Ty tuyên truyền đưa nó đi trô đi hốc, còn cho xe đưa về Quan Thánh.

Người ngồi bên Khánh đã lột ca-vát nhét vào túi vét-tông, lột vét-tông vắt trên lưng tràng kỷ, phà hơi thở hôi nồng vào mặt Khánh:

- Toa viết cho ai? Làm như moa đi, viết cho cả hai bên, báo Cứu Quốc có bài của moa đấy nhá. Nhưng toa nhớ đụng dính vào cái khoản bắt cóc, tống tiền, ám sát, cũng đừng viết kêu gọi đình công, bãi thị, biểu tình cướp chính quyền. Sau này Việt Minh xách cổ ra tòa còn đường mà chối!

Chắc hẳn Khánh còn đủ kiên nhẫn để nghe thêm một lát nữa nếu  anh Tô Trọng Huân không cầm cốc rượu ghé ngồi trên chiếc ghế trống bên cạnh. Khánh trông thấy anh thì thào vào tai mấy vị có vẻ tai to mặt lớn, sững sờ khi nhận ra dáng bộ xun xoe của anh thư ký tòa Khâm hiện quá rõ. Anh dấn thân đi làm hội kín là hi sinh vì nước kia mà, một người dám liều mạng sao còn giữ cái vẻ nịnh bợ kỳ quặc thế kia. Nhân lúc  anh ngà ngà, Khánh hỏi:

- Hồi năm bốn mươi hai, anh Huân đi đâu mất?

Anh cười xòa, uống một hơi cạn nửa ly, gật gà:

- Anh đi học lớp tiếng Nhật. Tây nó dọa ghê quá, anh nhảy luôn vào trại Nhật, anh Chu Bá Phượng đưa vào Đại Việt. Bây giờ Vũ Hồng Khanh đang đắc thế nhờ quân Tàu kéo vào, nhưng anh Nhất Linh đang lèo lái. Chưa biết mèo nào cắn mỉu nào em ạ. Cụ Nguyễn Hải Thần đang kéo anh, không mất lạng nào anh cũng lên tỉnh trưởng như chơi, đợi mà xem, chẳng chịu làm thằng cạo giấy như xưa đâu. Khánh chịu khó phò tá anh nhé, vài năm là lên tỉnh phó ngon ơ.

Anh túm vai Khánh, thấp giọng lè nhè:

- Tin mới toanh. Cụ Hồ phải chịu lập chính phủ liên hiệp rồi, cụ Nguyễn làm phó chủ tịch nước. Phó chủ tịch tỉnh bổ ghế tỉnh trưởng khó quái gì. Lão Đinh Bưởi bỏ ra mấy mươi lạng được cụ phong sẵn làm bộ trưởng Tài chính rồi, chắc còn phải nộp thêm. Ông Lạc Long hiến cái nhà chỗ 21 Hàng Bún Trên, cụ Nguyễn định cho cái cố vấn chính phủ, lão già rồi chả làm bộ trưởng được đâu. Hôm nào anh dẫn Khánh đến chào cụ Nguyễn ở 23 Quan Thánh, xem cụ nắm được gì thêm không...

Anh quay sang một ông lớn tuổi vừa gọi, vâng dạ hối hả, bỏ đi thu xếp bàn tĩnh và thuốc phiện chính hiệu anh điêng cho quý vị làng bẹp. Khánh kín đáo bước ra ngoài, nhìn kỹ những chỗ lách hàng rào, quay trở về đình lấy xe đạp. Trước thềm đình không còn người gác mà chỉ có một nhóm trẻ con đang rút bất ăn tiền. Gần chiếc cầu gỗ, một cặp trai gái ngồi tán gẫu trên bờ cỏ. Cái pháo đài bất khả xâm phạm của Việt quốc là thế này sao?

Từ đó Khánh, không quay trở về Ngũ Xã lần nào nữa.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #92 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2016, 02:42:49 pm »

Nhưng anh Huân không buông tha cậu đoàn sinh cũ. Anh ta tìm đến chỗ Khánh ngủ nhờ ở phố Hàng Lọng, kéo đi dự những buổi gặp mặt, tiếp đón, diễn giảng của phe chống đối, tuy biết Khánh đã dự lớp nửa tháng với Việt Minh Hà Nội. Hình như anh cố làm cho Khánh nhúng tay vào chàm để Việt Minh không dám tin dùng hay sao ấy.

Cậu bạn trường Luật cùng với vợ lạnh mặt hẳn đi với Khánh sau mấy lần anh Huân đi chung xe với lính chữ Sát đến đón Khánh. Rồi một tối vợ chồng đem con đi chơi, để ông bố vợ nói thẳng với Khánh là nhà ông chỉ biết làm ăn lương thiện chứ không dính dáng với Tây Tàu, xin mời Khánh nghỉ nơi khác tiện hơn.

Anh Huân đến tìm Khánh sáng hôm sau, ngạc nhiên khi Khánh xách va-li ra xe, nhờ chở luôn đến ga Hàng Cỏ để về Đà Nẵng. Anh hỏi dồn dập, Khánh chỉ nói bận việc nhà phải về gấp. Mặc kệ, xe cứ đưa Khánh về 80 Quan Thánh để các “anh trên” căn dặn thêm cái đã. Anh làm như Khánh đã cắt máu ăn thề vào Việt quốc và nhận làm đồ đệ của anh không bằng!

Ngôi nhà hai tầng mang số 80 ấy nằm ngay trên ngã tư, xây thụt vào trong, có khoảnh sân hình thước thợ bao mé ngoài. Tường hoa che phên, liếp kín mít. Chòi gác ngoài cổng xếp bao cát gần kín chung quanh, lính gác đeo súng máy Xi-ten và mặc quân phục giống như cậu Si-ca-gô dạo trước. Anh Huân rút đưa một tờ giấy to viết nửa chữ Hán nửa chữ quốc ngữ, đóng tới nắm cái ấn vuông đỏ.

Người được gọi là liên lạc chạy ra xem giấy, mở hé cổng sắt cho hai người vào trong khi xe chở ba tên lính Tàu chạy thẳng.

Bên trong tường hoa cũng chất đầy bao cát, chắn đạn cho một nhà dài cột gỗ mái tôn dựng cho đơn vị gác, chứa cả dãy mô-tô cùng hai chiếc ô-tô sơn màu đất sét. Chung quanh chân tường nhà chính xếp bao cát tới ngang đầu người, các cửa sổ và cửa ra vào đều có bình phong cát. Nhà tối om, thắp điện cả ban ngày. Tất cả những người mặc quân phục Việt quốc quân hay áo quần thường đi lại đều có vẻ mặt mệt mỏi, lo lắng, đầy nghi ngờ, không ai có nụ cười hay cử chỉ thân mật với ai.

Một người đeo kính trắng xem giấy kỹ hơn, trả lời dấm dẳng. Hỏi tên ai cũng bảo đi vắng. Muốn trình anh cả thì đợi đấy, nhưng phải tháo súng giao cho liên lạc, Khánh hỏi lại mới biết anh cả là lãnh tụ Nguyễn Tường Tam đang khai hội bên trường Đỗ Hữu Vị, lát nữa ghé qua đây.
Khánh tò mò nhìn quanh tầng dưới, thấy bày ba cái máy in, một máy xén, có bốn người thợ xếp chữ đang xếp uể oải bên các cửa sổ, hai bàn cho người chữa bản đồ nhưng bỏ vắng. Một bộ xa-lông tiếp khách đặt ở góc, có ấm trà thơm và gói thuốc lá Phi-líp Mo-rít màu tím bóc để sẵn. Ở đây không ai ăn đói mặc rách, nhà cửa xe cộ áo quần đều có thừa, chắc là tiền tiêu được trả hậu hĩ, mà ai cũng lừ đừ như lên cơn nghiện hút.

Có tiếng còi ô-tô ở cổng hậu, phía đường Bua-ranh. Giày da gõ lộp cộp trên cầu thang mé sau. Anh Huân hối hả chạy ra đấy. Chừng nửa giờ anh mới trở lại, hãnh diện đưa tờ giấy có mấy dòng viết tay nguệch ngoạc:

- Anh Cả tự tay chỉ thị cho đảng bộ Quảng Nam đây. Trong ấy anh Cả uy tín ghê ghớm. Để anh đóng ấn tín...

Nghĩa là Khánh chưa đáng gặp mặt cái ông lãnh tụ không rõ ai bầu kia, ông ta đi thẳng lên gác. Anh thư ký tòa Khâm lăng xăng gọi cậu kính trắng đang ngủ trong buồng ra cộp vào thư hai con dấu vuông đỏ khắc toàn chữ Hán, đi thu xếp một cuốc xe đưa Khánh đến ga. Khánh buồn cười: anh sẽ trở về quê với giấy giới thiệu của Việt Minh Hoàng Diệu và của bí thư trưởng Việt Quốc bỏ chung trong túi. Mặc kệ ông Trọng Béo đấy nhé. Khánh chỉ cảm thấy mỗi lúc một thêm ngạt thở trong khu nhà bịt bùng này, nó trái ngược một cách đáng tởm với cảnh sống ồn ào, hồ hởi, rối rít ở trụ sở Ban chỉ huy tự vệ thành Hà Nội, nơi người ta cười to, nói vội, đi như chạy, nhảy cầu thang ba bậc một, chia nhau những bát cơm gạo hẩm chan tiếng đùa quấy nhiều hơn canh rau muống loãng, từng giờ phút cố làm thêm một tí xíu gì đấy cho đất nước mình.

Mình là ai?

Câu hỏi ấy quá mênh mông. Hẵng tách nó ra từng vế nhỏ. Các câu trả lời tỉ mẩn ghép lại sẽ cho lời giải cuối cùng. Nào, ta bắt đầu từ chỗ bắt đầu.

Vì sao mình ra đời? Chúa tạo nên, định mệnh xui khiến, một linh hồn chưa thoát luân hồi phải đầu thai kiếp khác? Một sự chắp ghép của những nguyên tử hay tế bào mà khoa học chưa tìm ra quy luật nhưng hứa sẽ tìm ra? Buồn cười thật, mình lại rơi vào câu hỏi quả trứng có trước hay con gà có trước... Tắc tị ngay từ khởi điểm rồi, Khánh ơi!

Ngủ. Cương quyết ngủ. Một, hai, ba, bốn... không nhảy lung tung nhé... năm sáu bảy tám chín... gà đâu trong thành phố mà gáy sớm thế.. mười, mười một, mười hai... Tây chúa là kiêng con số mười ba, người mình cứ phớt bơ... mười bốn mười lăm... tao giết mày bằng được, con rệp quái quỷ, này, này...

Khánh đập bốn năm lần liền trên mặt chiếu, chỗ con rệp có thể chạy xuống sau khi đốt. Gà lại gáy, một con trống nào đó giọng chưa vỡ hẳn còn te te như còi nhựa trẻ con thổi. Khung cửa sổ chợt thong thả sáng hồng lên trong hừng đông nhất, mươi giây sau từ từ tối lại, như ông trời mở mắt ngái ngủ khi nghe gà gọi, lại nhắm mắt nằm lơ mơ thêm dăm phút nữa, khoảnh khắc thú vị nhất bởi cảm thấy chẳng ai có quyền dựng mình dậy, mình chỉ thức giấc khi muốn thức đấy thôi.

Mọi nhà trong hẻm nhỏ lần lượt bật đèn. Cái xóm buôn gánh bán bưng này bao giờ cũng sáng đèn trước hết chỗ bếp, nhen vội lên ngọn lửa than đá hoặc trấu vùi âm ỉ qua đêm, làm sôi gấp lên một nồi gì đấy mở đầu cho ngày kiếm ăn trên các hè phố, trong khi Khánh quen nằm ườn ra ngủ đến bảy tám giờ sáng, đợi Mỹ Duyên giả vờ đi chợ đến đánh thức tận buồng.

Gió bấc lùa mạnh qua cửa sổ xốc màn căng tròn như buồm. Khánh hất chăn, chỉ mặc cái áo may-ô in chữ ESEPIC trên ngực, đến ngồi bên cửa sổ mở toang cho gió lạnh châm kim vào mặt và thân, hai tay nắm hai chấn song run nhẹ từng lúc. Khánh đang thèm tự hành hạ mình, tự chà đạp chửi rủa, tự trừng phạt thật khắc nghiệt. Đã bỏ hai bữa cơm trưa và tối qua, thức trắng một đêm, bây giờ nếm mùi lạnh, chỉ tiếc cái lạnh Đà Nẵng chả thấm vào đâu... Khánh úp trán trên bắp tay, cười gằn: mình tạo ra bão táp trong một cốc nước, mình hèn nhát, mình là con sâu con sứa, mình tồi tệ nhất trong những đứa tồi tệ. Hãy dám xưng tội thử một lần xem nào...

Từ khi ra đời mình chỉ chuyên ăn bám đàn bà. Hồi nhỏ ăn bám mẹ cho tới khi ra Huế học hết trường Khải Định. Làm bộ cao thượng, người hùng ghét đàn bà, vẫn ăn bám Mỹ Duyên. Chuyến vừa rồi ra Hà Nội lại cố moi tiền của mẹ con bà cả, hai nghìn đồng mất giá nhưng vẫn là của đàn bà bố thí. Đúng, là mình chưa từng phè phỡn theo lũ con nhà quan, nhưng mình cũng chưa hề đổ mồ hôi sôi nước mắt làm ra xu nhỏ nào. Hãy xem con bé lên mười vừa ngáp vừa lê bước qua đây, mỗi nách tay nó ôm chồng ba chiếc ghế con, theo mẹ nó ra đầu hẻm bán khoai luộc với canh hến cho dân nghèo ăn sớm đi làm... Mình loay hoay với những câu hỏi triết lý từ thời Pla-tông với A-rít-xtốt, trong khi anh phu xe kéo hạ càng xe đái vào chân tường kia sắp ra ga hay bến ô-tô tìm khách, còn bác khuân vác vắt cái bao tải trên vai và bập bập điếu thuốc rê tổ bố đang tất tưởi xuống bến tàu đón những chuyến ghe bầu chở gạo từ Qui Nhơn ra. Mình vô dụng, vô dụng, vô dụng...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #93 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2016, 02:48:24 pm »

Cả Chanh nói theo cộng sản là theo luôn. Anh em du kích Linh Lâm gặp Việt Minh lập tức cầm giáo mác ná tên tuôn vào rừng. Cậu Thạch Sơn lao theo lý tưởng mới như phát đạn rời nòng. Cô Năm Bưởi giành cho được cây súng kỵ binh Nhật khi ấm ức trở về làng chỉ huy du kích. Và Mỹ Duyên nữa, cô gái nhảy mà Khánh đã nâng niu như một thức đồ chơi đắt tiền được pha tẩm thêm chất men say của trả thù và vụng trộm đối với lão bố dượng, Duyên yêu điên cuồng mà cũng dám cắt ngang quyết liệt khi trở về Sài Gòn và biến mất tăm luôn trong khói lửa...Chỉ còn trơ lại cái thằng Hai Khánh lừng khừng lơ láo này thôi, đóng vai trí giả chưa vội dấn thân, chỉ muốn đứng trên cuộc đời thấp kém, nay một mình trơ ra như người khách chậm chân khi chuyến phà rời bờ và không thèm quay lại. Đón chi một kẻ ăn xin ở bến đò!
Khi khóa cửa buồng ra đi, Khánh ngạc nhiên thấy mình lảo đảo, hai chân bước, khó nhọc. Vì đói, rét, mất ngủ? Vì một phần nghìn phần vạn trong những khổ cực của bộ đội Nam tiến? Hay vì chưa tìm được chỗ đứng trong xã hội ngày nay cho nên chỉ muốn ngồi và nằm, hỡi cái thằng tồi tệ kia?

Khánh đi thẳng xuống con đường ven sông Hàn trước dựng biển là đường A-mi-ran Cuốc-bê, nay đổi thành đường Bạch Đằng. Càng đến gần sông gió càng quất mạnh như búng vô vàn gai xương rồng vào da. Càng hay, khỏi phải quất roi trên thân như kẻ tu kín sám hối... Rồi Khánh bỗng giật mình, bước chậm, dừng lại: Lỡ mình ốm thì sao? Đầu và tim đang bệnh hoạn nếu cái xác phàm này gục xuống nốt thì biết vất nó vào đâu? Vào nhà thương làm phúc hay xuống sông Hàn? Tỉnh lại đi Khánh, mày đang tự hủy hoại đấy!

Bước gần như chạy, Khánh xộc vào một quán nhỏ bán xôi cháo nằm lọt trong chỗ đầu hẻm khuất gió, len đến ngồi cạnh bếp lò than đá, đón hơi nóng phả vào khuôn mặt tê dại và đôi cánh tay nổi da gà run rẩy. Chị bán quán trố mắt nhìn anh, kêu:

- Chu cha, gió bấc cóng xương mà thầy mặc áo lót!

Anh chồng nhìn kỹ những chữ in trên ngực áo dệt ngắn tay của Khánh, giảng cho vợ bằng giọng kính nể:

- Ổng là lực sĩ đó, sức vóc chẳng phải như mình đâu, có ông lựa ngày sóng to gió lớn mới nhảy xuống bơi qua lại cửa Hàn cả chục lần. Ê-dê-pich là trường dạy lực sĩ đâu trong Phan Thiết, ông nào ra cũng thành vô địch hết... Dạ, thầy mời thứ gì?

Khánh gọi cháo cá. Những thìa cháo nóng bỏng vừa thổi vừa húp trôi qua cổ tỏa ấm trong ngực và trong bụng, ngon đến đau cả những sợi gân hai bên quai hàm. Bát thứ hai ăn xong, Khánh vẫn còn thòm thèm. Đã lâu lắm Khánh chưa được ăn món cháo cá nào ngon đến thế, chắc là phải đắt tiền, mà tiền chẳng còn bao lăm. Anh gọi bát nữa và hỏi giá luôn. Chị bán quán nói như xin lỗi khách:

- Dạ, thứ gì cũng mắc quá thầy ơi, phải bán tới năm cắc. Ai muốn ăn hai ba cắc cũng múc. Thầy mới đi tập về, hay để thầy mời đĩa xôi thịt hèo một đồng cho chắc bụng.

Xôi đậu xanh ăn với thịt kho cũng ngon và rẻ như thế. Ly nước chè xanh cuối bữa thơm và chát rất vừa miệng. Tất cả chỉ tốn hai đồng, giá tiền của một tô phở xoàng. Khánh chợt thấy đắng trong họng khi nhớ lại cái lần vung tiền mua bi mang đến tiệm hút ở ngõ Phất Lộc, thết tay ủy viên Trung ương Quốc dân đảng để nghe lão kể ba hoa chuyện trên trời dưới biển bên bàn đèn.

Anh chủ quán bưng hai tay hai cốc đen đậm đến trước mặt Khánh, ngồi đối mặt, niềm nở:

- Cái này riêng tôi mời thầy. Trà đường đó, ở tiệm người ta quảng cáo là trà tàu với đường tây, thiệt ra là của xứ mình hết. Thầy khuấy cho tan... Chắc thầy ở bộ đội chớ?

Khánh cười cười, gật đầu. Quái lạ, sao ai cũng đánh giá mình cao hơn tốt hơn con người thực của mình thế nhỉ?

- Biết mà, coi tướng thầy tôi biết là chỉ huy trong bộ đội liền hà. Nhờ thầy nhắm giùm như tôi xin đi cầm súng đánh Tây, mấy ổng có nhận không?

Chị vợ đang đơm xôi cho khách, ném tới một câu dấm dẳn:

- Cả bầy con rồi, ai thèm nhận anh mà cà rà hỏi hoài!

- Thầy đừng nghe mụ tôi. Bữa đó chắc gặp anh chỉ huy khó tánh, ảnh cảm ơn biểu tôi về tăng gia nuôi bộ đội hay hơn. Có điều tôi tính đánh thắng thằng Tây cái đã, sau về lo lúa khoai cũng được. Chẳng dấu gì thầy, vợ chồng tôi ở nhà quê bị bè lũ thực dân phong kiến nó gian ác quá tay phải bỏ đi làm muối, làm chài, lưu lạc tới cái ngõ phu phen thợ thuyền này, chưa được một chút gì gọi là vì dân vì nước hết trơn. Vậy tôi mới trù tính đi đánh giặc ít năm, có xả thân nơi sa tràng thì con cháu cũng thơm lây, mụ tôi ở nhà đắp đổi nuôi bốn đứa nhỏ rau cháo xong thôi, cực mấy cũng hơn cái hồi còn Tây ngồi trên đầu mình. Thầy có quen mấy ông lựa lính, à quên, mấy ông tuyển quân đó thì nói giùm tôi một tiếng...

Đang nghe những lời khẩn khoản, Khánh bỗng mở to mắt nhìn phía cửa. Một cặp trai gái vừa bước vào quán, tần ngần nhìn quanh, rẽ vào chỗ góc vắng nhất. Anh chủ quán bước tới, nói qua lại với cô gái, trong khi Khánh trân trân ngắm anh con trai.

Anh này cao trung bình, mắt một mí và gò má gồ, da trắng, râu lún phún bọc nửa mặt dưới theo kiểu lười cạo chứ không cố ý chừa, dựa nghiêng vào cột tre, châm một điếu thuốc MIC và lim dim mắt nhả khói. Anh mặc bộ quân phục ka-ki vàng của lính Bảo an, đặt trên bàn cái mũ cối đính quân hiệu tròn nền đỏ sao vàng của bộ đội chủ lực, dận giày da dơ-cu-lơ mốt trai trẻ thành phố, thấp giọng thì thào những câu ngắn với cô cùng đi. Cô này mặc sơ-mi trứng sáo với áo len không tay màu boóc-đô phủ ngoài, quần lụa đen, có khuôn mặt tròn và môi bậu, dáng phúc hậu kiểu con nhà lành. Có thể gặp khắp nơi những cặp vợ chồng trẻ hay người yêu thăm nhau, tiễn đưa nhau như thế. Nhưng cặp này quả là đặc biệt: viên trung úy Nhật Ta-kê-đa cùng với cô thông ngôn Bích Thủy vì sao hiện ra trên phố Đà Nẵng?

Đợi anh chủ quán đặt xong hai đĩa xôi với hai phin cà-phê trước mặt khách và đi xuống bếp, Khánh bước tới cạnh bàn, cười khẽ:

- Kon-ni-chi-oa, mi-na-xan! Ô-nghen-ki đex ka? 1

Annh con trai giật nẩy người, lắp bắp:

- Ghen-ki đex, a-ri-nga-tô...Ô ô ô ô, Khanh, Khanh-xan! 2

Anh chụp lấy bắp tay Khánh vừa ghé ngồi xuống tuôn một tràng dài tiếng Nhật. Khánh giơ hai tay lên nửa chừng làm bộ chịu thua:

- Oa-ta-si oa Nip-pông-ngô ô oa-ka-ri ma-xen. Ây-ngô ô ha-na-si-ma-sô! 3

Bích Thủy che miệng cười rúc rích trong khi họ chuyển sang tiếng Anh. Cô mừng đến sáng cả mắt và má, thỉnh thoảng chen vào một câu tiếng Việt với Khánh và tiếng Nhật với Ta-kê-đa.

Một nhóm thợ mộc trên đường đi làm ghé vào. Khánh nói vội:

- Mời các bạn ăn xong về nhà trọ của tôi, nói chuyện tiện hơn.


------------------------------------------------------------------------
1. Tiếng Nhật: Chào quý ông bà! Mạnh giỏi không?
2. Tiếng Nhật: Mạnh giỏi, cám ơn... Ồ, Khánh, ông Khánh!
3. Tiếng Nhật: Tôi không hiểu tiếng Nhật. Chúng ta hãy nói tiếng Anh!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #94 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2016, 02:52:09 pm »

Nửa giờ sau, Khánh gài cửa buồng trọ, pha trà mời các bạn Hà Nội đã chia tay trước ngày tổng khởi nghĩa. Bích Thủy nhắc đến lần thứ mấy không nhớ:

- Phúc đức quá mất, lại vớ được anh Khánh ở đây. Bắt đền anh đấy nhá, tự dưng anh đùn việc mua súng cho Thủy, anh trốn biệt. Chúng em vào Nam cứ như chim chích vào rừng, đang lo phải trở ra Hà Nội, ngượng với bạn bè đến chết mất...

Câu chuyện tay ba bằng ba thứ tiếng lại tiếp tục, lần này Bích Thủy kể nhiều hơn.

Sau khi Khánh về Đà Nẵng, Ta-kê-đa vẫn làm trung gian để Việt Minh Hà Nội mua súng của Nhật. Mua được nhiều nhất và rẻ nhất là sau khi Nhật đầu hàng không điều kiện và quân Tàu chưa sang đến nơi, riêng Ta-kê-đa chuyển được tới năm trăm súng các loại. Tàu sang, anh vẫn làm tiếp, đường ô-tô bị kiểm soát thì chở bằng thuyền. Chẳng biết có thằng phản động nào báo tin mà bọn Tàu cho hàng trăm quân chặn trên sông Hồng, cả phục trên bờ lẫn dùng thuyền chở lính. Ta-kê-đa cùng một tiểu đội tự vệ đánh trả một trận rất dữ, ba thuyền súng đạn đều bị bắn chìm, anh bị bắt khi đang cố bơi vào bờ. Quân Tàu thu hết giấy tờ, nện một trận chí tử, giam trong điếm canh đê. Nửa đêm anh giỡ mái trốn thoát, nhằm hướng chạy về Hà Nội, nói ấp úng khi dân quân bắt: “Tôi Việt Minh... Cho tôi Việt Minh”.

Bị giải qua nhiều chặng nhiều cấp, rốt cuộc Việt Minh Hà Nội đón được anh về, đem giấu trên Sơn Tây. Thế nhưng bọn Lư Hán cay cú vì lính chết nhiều, đem giấy tờ của Ta-kê-đa ra bắt bọn tướng Nhật đền mạng. Tên đại tướng Txư-si-ha-si, tư lệnh Nhật toàn Đông Dương, phải tuyên án tử hình trung úy quân y Ta-kê-đa A-na-mi. Các đơn vị quân Tưởng nhận được ảnh phóng to và lệnh bắt hoặc giết Ta-kê-đa, lũ phản động người Việt muốn kiếm thưởng cũng rình mò khắp nơi.

Lánh né mãi đâm chán. Ta-kê-đa xin vào Nam làm công tác kêu gọi binh lính Nhật theo chính phủ Cụ Hồ. Bích Thủy xin cùng đi. Cả hai cùng nhập ngũ một lần, theo một đoàn quân Nam tiến, nhưng ấm ớ thế nào lại trúng chuyến tàu chỉ vào đến Đà Nẵng, nghĩa là chưa ra khỏi vùng đóng quân của bọn Tưởng. Họ nhờ Khánh kiếm tàu xe cho đi tiếp, ít nhất cũng vượt vĩ tuyến 16 vài chục cây số về phía Nam cái đã, sau đó sẽ tính.

Khánh cười xòa:

- Việc ấy quá dễ. Tôi sẽ đưa hai bạn đến thị xã Hội An, nhờ các anh em trong chính quyền thu xếp.

Bích Thủy vỗ tay reo như trẻ con, đôi mắt cô lại không nhìn Khánh mà đăm đắm vào mắt Ta-kê-đa. Rõ ràng cô vào chiến trường không phải trăm phần trăm vì nhiệm vụ.

Một giờ nữa qua. Chiếc xe ngựa do Khánh thuê bao đưa cả ba chạy bon bon trên quốc lộ Một vào Hội An, băng qua trạm gác Tàu phù cuối cùng mà không bị hỏi giấy, ở đây chúng nó nhũn nhùn nhùn sau khi mấy tên hăng cướp phá nhất lần lượt biến đi không để dấu vết.
Ta-ka-đa bóp mạnh bàn tay Khánh:

- Đối với anh, con đường đời hiện ra thẳng tắp hẳn anh khó hiểu được tâm trạng của những người Nhật như tôi. Người ta túm cổ tôi lôi ra khỏi phòng thí nghiệm, vất tôi vào chiến tranh, buộc tôi chết vì một ông Thiên hoàng vớ vẩn nào đó. Ở nhà bom đạn giết mẹ và hai em tôi, người tôi yêu bỏ đi lấy một lão già giàu tấy lên nhờ chiến tranh, người Nhật càng chết nhiều lão ta càng phát tài to. Và để thưởng cho bấy nhiêu hi sinh, người ta tặng tôi một án tử hình vắng mặt... Quân Tàu lùng bắt tôi, có nghĩa là tôi bị Đồng minh đang làm chủ thế giới này cố giết. Tôi không còn một chỗ đứng nào nữa trên trái đất, anh thấy chưa? Chỉ còn một nơi để sống, đó là vùng đất của chính phủ Hồ Chí Minh, đó là hàng ngũ Việt Minh. Tồi không hiểu gì về chính trị, về dân tộc Việt Nam, nhưng tôi biết chắc một điều là tôi sẽ sống nếu Cụ Hồ thắng, tôi sẽ chết nếu Cụ Hồ bại... Anh đừng tưởng tôi quá sợ chết. Tôi sẵn sàng chết khi đi kêu gọi lính Nhật buông súng, cái chết ấy sẽ làm cho dòng máu Nhật và Việt bớt chảy. Nhưng tôi sẽ không sao nhắm mắt nếu bọn châu chấu, bọn đỉa đói, bọn giun sán tự xưng là Đồng minh chiến thắng kia đem tôi ra treo cổ và cười ầm ỹ với nhau...Chắc anh thấy khó hiểu phải không?

- Tôi hoàn toàn hiểu anh, Ta-kê-đa!

Bích Thủy ngồi soi gương chải tóc, đến đây bỗng chen vào bằng tiếng Việt, đọc rời từng tiếng thật rõ:

- Anh Ta-kê-đa phải nói tiếng Việt, không được nói tiếng Anh nữa. Anh là bộ đội Việt Nam, phải học tiếng Việt. Hiểu không?

- Tôi xin lỗi bà...

- Sai rồi!

- Tôi xin lỗi cô Thủy. Tôi sẽ cố gắng nói với ông...

- Sao lại ông?

- Gô-men, gô-men 1. Em Thủy thân mến, tôi sẽ..

Thủy bưng mặt cười ngặt nghẹo trong khi anh bạn Nhật nhíu mày nhăn trán, cố nhớ từ ngữ và những dấu uốn éo không hề có trong tiếng Nhật..

Xe dừng trước tòa sứ Hội An lúc mười một giờ. Khánh rủ đi ăn trưa vì đã thấy đói, bữa sáng no kềnh chưa đủ bù hai bữa nhịn hôm qua.

Nhưng Bích Thủy rất lo bơ vơ, quyết gặp cho được cấp lãnh đạo của Quảng Nam càng sớm càng hay. Ba người chìa giấy cho bác thường trực ghi sổ, xin gặp đồng chí Phan Chanh phó chủ tịch tỉnh.

Họ ngồi đợi chỉ năm phút trong phòng khách thì Cả Chanh đã hấp tấp bước ra.

- Đâu, Khánh đâu? Ôi chao, chút xíu nữa mình hụt. Gói sẵn các thứ gởi ra cho cậu đây nè!

Anh giúi vào tay Khánh một gói khá nặng. Không kịp tháo ra xem, Khánh giới thiệu luôn hai bạn đồng hành. Chanh mở to mắt, há miệng:

- Các đồng chí... thiệt là trên trời rớt xuống!

- Sao thế anh?

- Mới có điện khẩn, biểu tụi tôi kiếm những người biết tiếng Nhựt, tiếng Pháp, tiếng Anh, gởi gấp vô mặt trận Nha Trang làm công tác địch vận. Địch có ba thứ quân nói ba thứ tiếng đó dồn cục ở Nha Trang đông vô số kể. Tụi lê dương còn thêm số lính Đức nữa, có rồi, một tay hàng binh chạy qua mình là người Đức biết tiếng Anh, đang ở Hội An đây. Cậu về đúng lúc quá Khánh ơi! Để lo cơm nước cái đã, chiều nay ta bàn công tác. Hà Nội vô tới đây, ai cũng kêu buồn ngủ hết!

Chanh tất tưởi chạy đi xếp chỗ ăn nghỉ. Khánh mở cái gói anh vừa trao, chợt thấy mắt mình cay xè: cây súng ngắn, đồng hồ, bút máy, gói đạn rời, những thứ Khánh cho mượn đi giành chính quyền được trả đủ, kèm theo một lá thứ cảm ơn và giục kiếm hộ thợ giỏi cho ngành quân giới Quảng Nam, “cần nhứt là thợ đúc với thợ tiện”. Con người tốt bụng kia nào biết Khánh đã lang thang chao đảo đến những nơi nào đâu, anh không thể hiểu được cho đến sáng nay Khánh còn vật vã ở Đà Nẵng như đứa mất hồn, anh tin ở Khánh đến cái độ không ai nỡ phụ lòng anh, anh cứ buộc Khánh phải lây đôi chút lòng yêu nước yêu dân của anh, sao mà thương quá chừng anh Chanh ơi!

Bữa cơm trưa được dọn ngay cạnh bếp và khá độc đáo. Bên cạnh những cái liễn và đĩa bằng sứ Xe-vơ-rơ in hoa chạy nét vàng lóng lánh của quan sứ Tây, đựng cơm gạo đỏ và rau muống luộc, có thêm những cái chén đất đĩa tre xấu xí mới sắm sau cách mạng. Sau khi họ cầm đũa, bác thường trực hối hả đem đến một gói lá chuối đựng chả lụa, thịt quay, tim gan luộc vừa mua ngoài phố. Chanh đóng vai chủ nhà niềm nở mời, nhưng anh ăn rất ít.

Chiều ấy, cuộc họp cán bộ địch vận có thêm cậu Lin-đoóc-phe hàng binh người Đức. Mọi người đều thấy Hai Khánh làm tổ trưởng tổ địch vận đi Nha Trang là khỏi cần bàn, chỉ bàn sôi nổi xem nên in truyền đơn ở đâu, kiếm loa điện hay dùng loa sắt tây, cần bao nhiêu vải để làm những băng cờ thật to căng trên phòng tuyến ta. Khánh và Bích Thủy thay nhau dịch cho đồng chí phó chủ tịch, và Chanh cũng bàn góp rất hăng.

Đêm ấy, khi ngả lưng trên tấm ván kê chân niễng trong nhà khách của ủy ban nhân dân, Khánh sực nhớ tới lá thư đóng hai con ấn chữ Tàu của lãnh tụ Nguyễn Tường Tam. Anh vén màn bước xuống, mượn bật lửa của Ta-kê-đa, châm đốt mảnh giấy mà lắm kẻ thèm có để làm bùa hộ mệnh một khi quân Tàu lật đổ chính phủ Cụ Hồ. Một thế kỷ đã trôi qua giữa Khánh sáng nay và Khánh tối nay. Anh ngủ thiếp đi như đứa trẻ được mẹ xoa rôm đều tay trên lưng.


------------------------------------------------------------------------
1. Tiếng Nhật: xin lỗi, xin lỗi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #95 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2016, 02:57:13 pm »

24.


Sau một trận cãi nhau khá găng giữa anh Bảy Quý trong thường vụ xứ ủy và anh Tô Xáng phó bí thư tỉnh ủy. Cả Chanh được phép vào lại Quảng Nam thêm hai tháng để góp sức xây dựng ngành quân giới và thành lập đại đội Nam tiến thứ hai của tỉnh, sau đó mới chuyển sang ngành đường sắt. Cãi nhau chán chê rồi anh Quý kéo Xáng và Chanh đi đánh một chầu mì Quảng không hạn chế để làm lành, tiếp đó anh Xáng lại kéo một nhóm anh em bạn tù cũ xuống chiếc đò của vợ con mình, ăn cháo cá trên sông Cửa Đại dưới trăng cho đầu óc đỡ căng.

Chanh, không tiếc hai tháng ở lại ấy. Anh chạy khắp nơi kiếm thợ, bòn vét tất cả các thứ máy có thể sản xuất ra võ khí, lập được ba binh công xưởng trên vùng núi, trong đó có xưởng Cao Thắng II đặt ngay trong làng Linh Lâm, chọn được mươi cán bộ đáng tin cậy để nắm các xưởng và Ban quân giới của tỉnh. Anh thúc giục ủy ban tỉnh mua vải xi-ta tốt và đặt may quân phục cả ngắn lẫn dài gửi gấp cho đại đội Nam tiến thứ nhất, cho người chở vào giao tận tay quyền đại đội trưởng Lê Dĩnh, thay Năm Chò đã bị cách chức và bỏ về Qui Nhơn ở với nhân tình. Trời chẳng phụ lòng người hay sao ấy, anh vớ được một kho đạn và lựu đạn bị bỏ quên, do Pháp chuyển lên một đồn binh vùng núi để chống Nhật, chất đống trong nhà ở của tên trung úy, cán bộ xã không biết là những hòm gì nên không báo cáo. Anh run lên khi đọc những chữ in đen trên những thùng đạn ĐAM, lựu đạn tấn công và phòng thủ, lựu đạn phóng, đạn súng cối 60 và 81. Vất tuột đi mươi cuộc hẹn gặp và hội họp, anh cùng hai cán bộ đem mọi thứ ra thử, tất cả còn tốt nguyên!

Nhờ đó, Chanh lên đường đi mặt trận Nha Trang cùng đại đội Nam tiến Hai với cái vốn rất đáng mừng: ngoài số súng đạn quần áo cấp đủ cho đại đội Hai, còn ba trăm bộ quân phục và bốn chục thùng đạn các cỡ mang cho đại đội Một đã sấp ngửa lên đường khi Pháp đánh chiếm Sài Gòn, thiếu thốn đủ thứ, chịu cực như tất cả những người khai sơn phá thạch, lại còn phải chịu thêm lời chê trách của lớp người đi sau.
Dù nghĩ rất nhiều đến cô Thùy con ông Hai Rề trong những giờ ngửa người lim dim trên ghế xe lửa, Chanh vẫn cố gạt phút gặp gỡ riêng tư ấy đến ngày trở về. Trước hết phải đưa mọi thứ đến mặt trận cái đã, sau đó mới tự cho phép nghỉ xả hơi, thăm anh em thợ đề-pô xe lửa Qui Nhơn, thăm cô gái đã nuôi mình và ám ảnh mình bấy nhiêu lâu.

Một lần nữa anh gặp rủi và may cùng một lần.

Đoàn xe lửa đến ga Diêu Trì phải đổi đầu máy. Chiếc đầu máy thay thế vừa sửa xong tại Qui Nhơn lại trục trặc, phải đợi ít nhất sáu tiếng mới lên đường được. Cậu Bảy Tộ lái chiếc đầu máy nhỏ Cu-cu chạy con thoi từ Qui Nhơn lên Diêu Trì để lôi mấy toa hàng xuống cảng, nghe nói có anh Cả Chanh đi chuyến này, tất tưỏi chạy tìm và hét rầm rĩ:

- Anh Cả không xuống thăm đề-pô Qui Nhơn là anh em oán tới chết. Đi lập tức, đừng oong đơ gì hết, theo đầu máy mới trở lên chạy tiếp, không lỡ tàu đâu mà lo. Đang thừa một toa xe-phanh phải kéo xuống Qui Nhơn, anh muốn chất ai lên tùy ý!

Bộ đội đã tản vào các nhà chung quanh ga xin củi mượn nồi nấu cơm. Cả Chanh rủ tổ địch vận theo mình, đoán chắc Hai Khánh muốn về thăm mẹ và các em ở tiệm Lợi Thịnh, nếu kéo theo bộ ba Ta-kê-đa, Lin-đoóc-phe và Bích Thủy cũng chẳng phiền gì một bữa cơm trưa. Riêng anh cần tìm Năm Chò và gặp thoáng qua cha con ông Hai Rề mấy phút gọi là trông thấy nhau. Anh ngạc nhiên thấy Khánh ngần ngừ hơi lâu trước khi gọi tổ địch vận lên chiếc toa con móc cuối đoàn tàu ngắn của Bảy Tộ.

Riêng Chanh không lên đấy mà đứng chen bên Bảy Tộ trên đầu máy. Tộ không đợi hỏi, vừa cho đầu máy lui tới tháo toa móc toa theo hiệu còi, vừa kể huyên thiên những chuyện xảy ra từ khi Chanh rời Qui Nhơn, chòm râu mép rậm và ngắn của cậu nhảy nhót uốn éo trông rất hề, ngay cả khi kể những chuyện ít vui.

Đội tự vệ ngành Hỏa xa ra đời hai tháng trước tổng khởi nghĩa, thu góp lần hồi được tới ba chục súng và năm chục lựu đạn, đi giành chính quyền rất hăng. Sau đó bị lủng củng vì bỗng dưng Việt Minh hiện thành hai phe, phe này chửi phe kia là Việt Minh giả, cứ như là Tôn Ngộ Không với Bạch cốt tinh...

- Ông Hai Rề chẳng biết ai giả ai thiệt, biểu anh em cử đại biểu đi tìm cho được Cả Chanh vi-dít-tơ về, ảnh là cộng sản chánh hiệu con nai vàng, ảnh đứng phe nào mình theo phe nấy. Anh em hỏa xa đồng ý cái rốp, dân thợ không theo cộng sản thì còn biết theo ai! Tới khi hỏi ông Hai tìm anh Cả ở đâu thì ổng bí luôn. Em chọc ổng: hay là tìm trong buồng cô Thùy nhà bác? Ôi chao, ổng chửi em vuốt mặt không kịp!

Cả Chanh cười đến đau ruột trong khi Bảy Tộ cứ tỉnh khô, kéo còi hơi và mở ma-nét ga cho tàu chạy qua ghi, rẽ xuống Qui Nhơn.

- Mấy ông cán bộ cấp trên về xử, sau bộ đội kéo tới tước võ khí của nhóm thằng Tài. Thằng ranh ghê, mới nghe Việt Minh nổi dậy ở Quảng Ngãi, lấy hết tỉnh huyện rồi, vậy là cha nội kéo một mớ lăng nhăng đi kêu gọi đồng bào khởi nghĩa. Hồi đó bà con mình sùng sục quá, hễ ai phất cờ đỏ tự xưng là Việt Minh là rút dao phay rựa bờ chạy theo lập tức... Êm vụ đó rồi, tới vụ khác. Mấy ông tỉnh đến thăm hỏa xa, về đưa ra mấy cái giấy trái ngược nhau: ông quân sự lệnh cho hơn một trăm tự vệ hỏa xa nhập ngũ hết, ông hành chánh thì biểu anh em phải bám xe bám máy chớ không được đi đâu, tiếp tới ông quân giới quyết định chuyển một nửa số thợ nguội ở đềpô qua sản xuất võ khí cho chiến trường Nam Bộ. Kỳ cục một điều là nghe đọc cái giấy nào anh em cũng hoan hô, tại vì thấy việc gì cũng hay cũng cần. Sau ông Hiển chủ tịch tỉnh tới họp anh em lại, ổng giải thích hay mà giải quyết cũng hay. Nước mình ít công nhân quá, phải dùng cho đúng nghề, không được xài ẩu. Anh em là vốn quý thành thử ngành nào cũng muốn giành phần. Bây giờ việc thứ nhất là lo bảo đảm xe chạy đủ chuyến đúng giờ, tăng được càng hay, đưa bộ đội với đồ tiếp tế vô Nam, chở đồng bào tản cư ra. Thứ nhì là lấy thêm thợ mới vô, lập một xưởng võ khí ngay bên đềpô, chế súng đúc đạn anh em rán làm thêm giờ, sửa máy móc cũ mà dùng cho hết. Thứ ba là ai thiệt mạnh, đang làm các việc phụ thì lựa mươi người cho đi học lớp quân chính rồi đi chiến đấu... Ông Hiển xử sự vậy, đúng không anh Cả?

- Đúng quá đi chớ!

- Cũng chưa êm. Tới khi lựa người đi bộ đội, ổng nhận được hơn một trăm đơn, ai cũng khai đang làm việc phụ hết! Em cũng xin đi mà chưa được. Anh Cả có quen, nói giùm, một tiếng...

Cậu lái xe lửa lúc này bỗng biến thành một anh nông dân thời cũ và với giọng nói van nài kèm bàn tay gãi gãi mang tai, cái đầu hơi cúi. Chanh đấm vào sườn Tộ:

- Mày tính bỏ cái Cucu này cho ai?

- Dạ trời sinh voi trời sinh cỏ chứ anh..

- Dân thợ máy mà nói như bà già trầu! Xin một thằng trẻ, lanh lợi, tinh thần cao, cho nó đi theo mày, đêm chịu khó dạy lý thuyết thiệt kỹ, nó lái được thì mày bàn giao!

Bảy Tộ thần mặt ra, đổi tay qua gãi gáy, nói rầu rĩ:

- Xong chừng nấy việc thì Tây chạy về nước hết rồi, em giao đầu máy để đi cuốc đất chớ ai cần bộ đội nữa...

- Mày không nghe Cụ Hồ kêu gọi trường kỳ kháng chiến à? Cụ tính phải đánh lâu, Cụ mới dạy tụi mình vậy chớ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #96 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2016, 03:00:30 pm »

Bảy Tộ qua ga Tuy Phước chỉ tút còi và chạy chậm chứ không dừng, bởi không kéo toa chở khách. Cậu ta chuyển sang chuyện Năm Phi Đao lúc này đang ở Qui Nhơn cùng với Sáu Cam.

- Em tới chơi hai lần. Nó kể chuyện đánh Tây hay lắm, tối nào chòm xóm cũng qua nghe chật nhà, họ tưởng nó bị thương bị bệnh được về nghỉ nhà vợ là con Tư rượu lậu, tưởng thằng Cam là em nó thiệt. Ban ngày nó đi đánh cá, đi cất rớ, phần nhậu phần bán, kiếm khá tiền anh ơi. Nể em quen cũ nó mới nói thiệt là bị hạ tầng nhứt cấp xuống trung đội trưởng, trả trở về Quảng Nam, nó vừa tức vừa xấu hổ với bạn bè, bỏ hết về làm dân thôi. Ba đứa nó ăn ở với nhau cũng vui vẻ. Thằng Cam đi học tư một ngày hai buổi, có bàn riêng đèn riêng học bài ban đêm, sắm áo quần mới đàng hoàng. Em chê thằng Năm vô kỷ luật, nó nhăn răng cười, nhận hết, mà coi bộ chẳng muốn sửa đâu.

Mỗi khi nghĩ đến Cam, Cả Chanh lại buồn nhức nhối. Là con trưởng nam, anh được cha lo cho học chữ học nghề nhiều hơn, với hi vọng là đứa trước rước đứa sau, con béo kéo con gầy. Nhưng anh không giúp được gì cho em út cả. Anh nhận mà không trả, đúng hơn là chỉ trả cho Tổ quốc mà gần như bỏ mặc các em. Anh cố tìm thằng Cam đưa về quê, thu xếp cho ăn học, rốt cuộc nó bỏ đi với nỗi đau tủi của đứa trẻ gánh nước thuê không đủ trả tiền cơm trọ. Người duy nhất đã và đang đùm bọc nó là một anh cai khố đỏ chứ không phải người cha làm chủ tịch Linh Lâm hay ông anh làm phó chủ tịch tỉnh. Nó đã từng nghĩ rằng cha nó đem con bán cho lão phủ Đỉnh lấy tiền uống rượu, nó đang nghĩ về anh Cả nó chễm chện trong tòa sứ tỉnh Quảng Nam? Chao ôi, nó có hiểu cho anh rằng sau bấy nhiêu năm tra tấn tù đầy, đau dạ dày nôn ra máu, vẫn chỉ được hưởng mỗi ngày hai bữa cơm hẩm với rau luộc chấm nước muối?

Đưa thằng em trở về Quảng Nam, nó sẽ càng vất vưởng bởi Chanh đã chuyển sang ngành đường sắt, lang thang từ tỉnh này qua tỉnh khác với ba lô trên vai, quyền khá to đấy nhưng gặp cơn đói chỉ dám nhảy xuống ga, tìm chỗ vắng mua mấy củ khoai ăn tạm khi chưa có nơi dừng lại nấu cơm. Chanh đã đọc cả xấp đơn kiện hay mật báo về ngành đường sắt bán vé chợ đen, buôn lậu, ăn cắp máy móc dụng cụ bán cho các chủ xưởng tư, đủ cho anh sợ hãi và lẩn tránh mỗi khi được mời một bữa cơm sang hơn mức sinh hoạt phí mà anh trả rất sòng phẳng. Thà chết đói chứ không dây mình vào đồng tiền ma quỉ kia, để về sau há miệng mắc quai!

Thế nhưng thằng em lưu lạc ấy, anh làm sao biết được nó sẽ nhiễm những gì khi sống với cậu Năm Chò bất mãn cùng ả nhân tình buôn rượu lậu mà anh chưa hề gặp? Anh không sao quên được đôi mắt nó nhìn anh đầy đau khổ và hoài nghi khi mới gặp lại ở Qui Nhơn, nỗi mừng siết lòng của nó khi anh hứa cho đi học. Anh em cách nhau mười hai tuổi, nó coi anh gần như cha chú, nó vâng lời anh như theo một đồng chí lãnh đạo. Anh sẽ làm gì cho nó? Làm gì?

... Đến ga Qui Nhơn, Chanh chia tay với tổ địch vận, hẹn giờ gặp lại, xốc cái ba lô dính bụi than đi vào khu sửa chữa mà anh nhớ rõ từng mảng tường, lối rẽ, Bảy Tộ giao đầu máy xong, tất tưỏi chạy theo, giới thiệu những khuôn mặt lạ mà họ gặp dọc đường. Hầu hết là thợ mới, Chanh nhớ tên không xuể.

Tổ gác cửa vào đề pô, hai cậu tự vệ trẻ, nhất định không cho Chanh vào tuy Bảy Tộ giới thiệu anh là thợ cũ về thăm xưởng. “Thăm viếng ở nhà chớ không được vô chỗ làm việc. Các anh coi nội quy đây nè!”. Bảy Tộ bắt đầu sừng sộ trong khi Chanh rất vui thích. Công việc ở đây đã thật sự vào nề nếp. Anh phải chìa ra tờ giấy giới thiệu của Trung Bộ. Trong khi cậu gác vẫn cầm ngang cây súng anh-đo lắp lên chặn cửa, cậu đốc gác đọc to: “Đồng chí Phan Chanh, thanh tra ngành Hỏa xa toàn Trung Bộ, chỉ huy trưởng tuyến hỏa xa từ Đà Nẵng đến Phan Thiết. Nhân dạng: cao một mét sáu mươi, mắt hơi xếch, cằm nẻ đôi..”. Cậu ta nhìn Chanh từ đầu đến chân một lần nữa. Anh bộ đội mặc áo quần xi-ta xám và mang cái ba lô da trâu sống này giống người tả trong giấy, nhưng không có súng lục, gạc đờ co  hay xe ngựa gì hết, lại dính đầy than trên áo quần và dép cao-su đúc, có vẻ thợ đốt lò hơn là thanh tra. Cậu lễ phép mời Chanh đợi một lát, tất tưởi vào trong xưởng, trong khi Bảy Tộ mở to mắt nhìn Chanh.:

- Chà chà, anh Cả lên cấp cao vậy mà giấu em. Nãy giờ cứ tưởng anh là thợ đi lính, rủ anh về chơi Qui Nhơn thôi chớ!

- Thì tao theo mày về chơi vài tiếng đây nè. Tại cậu kia bắt trình giấy, tao sợ bị bắt mới đưa... Chết cha, hình như anh em tốp máy ngừng việc hay sao đó, nghe thử Bảy.

Tiếng búa gõ, máy rèn rẹt, hàn hơi xìn xịt thưa dần đi trong xưởng, thay vào là tiếng gọi nhau ý ới. Anh em thợ kéo ra từng tốp, vừa đi vừa lau tay. Chanh bị ngập rất nhanh trong đám người lọ lem, mặc áo quần xanh vá chằng vá đụp, cười nói oang oang bởi quen át tiếng máy:

- Tưởng mày chết nơi góc xó nào rồi, Chanh!

- Anh được đi bộ đội rồi hả anh Cả?

- Đừng bỏ nghề xe lửa nghe chú em. Cầm súng tí lâu rồi về cầm búa...

- Được thằng vi dít tơ kha khá, lại đi tù mất tiêu tới bây giờ...

Cả Chanh luống cuống trả lời những câu hú họa, cười nhiều, cố bắt cho hết những bàn tay nhem nhuốc chìa ra. Anh em còn nhớ mình, thương mình như thương nhớ người bạn thợ đi tù cộng sản năm xưa. Anh đưa tay áo quệt mắt rất nhanh, vừa lúc ông phó ga cũ người Việt đi tới, vẫn đội cái mũ cát két có phù hiệu CFI của sở hỏa xa Đông Dương ngày xưa, vẫn ưỡn cái bụng phệ vượt mặt chừng nửa tấc. Ông cầm tờ giấy giới thiệu của Chanh trên tay, vẫy vẫy gạt anh em tránh ra, nói dõng dạc:

- Hôm nay toàn thể công nhân viên chức chúng ta vô cùng hân hạnh được đón chào đồng chí Phan Chanh về thanh tra khu vực Qui Nhơn...

Ông đọc giấy giới thiệu của Chanh giữa những tiếng ồ và ngạc nhiên, rồi lật mũ cầm ngửa với điệu bộ trịnh trọng nhất:

- Đáng lẽ chúng tôi phải tiếp rước vị chỉ huy trưởng chu đáo hơn, nhưng mà anh em công nhân hâm mộ đồng chí từ lâu đã tự động ra nghênh tiếp. Xin mời đồng chí quá bộ vô thăm chỗ giai cấp công nhân đang lao động quên mình về nền độc lập của nước nhà...

Chanh nghe giọng nói quá dẻo ấy bỗng thấy gờm sợ. Lại thêm cả xưởng tốp máy kéo ra đón nữa, hại việc nhiều quá. Phải tìm lối thoát ngay. Chộp ngay một ý thoáng qua, anh nói với ông phó ga:

- Đề nghị bác cho tôi nói chuyện với anh em vài phút.

- Dạ, để anh em thay quần áo, rửa ráy sạch sẽ. Mời đồng chí vô phòng khách. Cũng tại bác Hai Rề nghe tin đồng chí tới, hào hứng chạy đi báo cả xưởng, chúng tôi không kịp tổ chức cuộc nghênh tiếp...


-----------------------------------------------------------------------
1. Tiếng Pháp: người hộ vệ
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #97 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2016, 03:02:52 pm »

Chanh chán quá, đi thẳng vào trong xưởng, vành tay lên miệng kêu to:

- Mời anh em tới chỗ phờ lát phoọc số hai cho rộng rãi, tôi xin gặp một chút rồi phải đi gấp.

Bảy Tộ đã kể rằng các cuộc mít-tinh công nhân trong xưởng đều làm chỗ bãi bằng số hai. Chanh đi thẳng tới đó, thấy đặt sẵn một bục gỗ cao lắp lan can sắt, có thanh gỗ leo lên. Anh không thoát khỏi ông phó ga theo bén gót. Thợ từ các nhà bên vẫn tuôn qua các cửa vào nhà chính của đề pô, Chanh nhác thấy một nhóm chị em tóc dài mà trước kia ngành xe lửa không có. Chỉ sau năm phút, chỗ bãi bằng trong lòng xưởng sửa chữa đã ngập người, vẫn ông phó ga nhanh miệng hơn mở đầu mít-tinh bằng lối nói kiểu cách:

- Anh chị em công nhân thân ái! Hôm nay lực lượng công nhân trung kiên của nhà ga Qui Nhơn được vinh dự...

Trong khi ông ta đếm ra các chức vụ của Chanh, anh nhìn lướt rất nhanh những bộ mặt ngước lên chăm chú, thấy ông Hai Rề đứng chỗ góc nhà với các đầu ngửa ngửa theo thói quen từ xưa. Anh Quý xứ ủy nói ông được bầu làm trưởng ban lãnh đạo đề pô xe lửa ở đây kia mà, sao ông phó ga to bụng cứ một mình dẫn quả bóng khắp nơi? Và ông định làm mất thì giờ chung suốt buổi hay sao? Chanh nhẩm sẵn mấy câu mở đầu, rình chộp một chớp nhoáng sơ hở nào của ông để ngắt lời, nói ngắn, chuồn gấp.

Nghe xong một loạt lời ca tụng, công nhân vỗ tay rào rào. Thời cơ đã đến! Chanh giả vờ coi mình như được nhận bóng, khoát hai tay mời im lặng và nói luôn:

- Xin thành thật cảm ơn ông trưởng ga (anh đã kịp hỏi một người không quen đứng cạnh mình trên bục về ông phó cũ) và tất cả các đồng chí lãnh đạo ngành hỏa xa tỉnh Bình Định. Xin cảm ơn toàn thể anh chị em công nhân. Thiệt tình là tôi có được giao trách nhiệm thanh tra và chỉ huy trong khu vực. Nhưng tôi đi chuyến đầu tiên này để làm quen với công việc mới những người mới, coi thử tình hình chung ra sao. Mấy tiếng nữa tôi phải theo đoàn tàu Nam tiến vô Nha Trang đánh giặc. Tôi nhớ ga mình, anh chị em mình ở Qui Nhơn, chạy xẹt xuống đây thăm một chút cho đỡ nhớ (các khuôn mặt ngửng lên đều cười hỉ hả). Tôi quen các bác, các anh chị lâu năm ở ga mình, còn anh chị em mới thì chưa biết, thôi, trước lạ sau quen. Đi một tua vô trong kia, tới khi quay trở ra tôi xin hẹn ở lại lâu hơn, ta mặc sức tâm sự với nhau chuyện cũ chuyện mới. Tôi chỉ xin nhắc bà con mình chút xíu này thôi: Tổ quốc đang cần rất nhiều đoàn tàu tốt, súng đạn tốt. Tụi mình làm rán thêm một phút, đổ thêm một giọt mồ hôi, chiến trường trong kia bớt đổ một dòng máu tươi, đờn bà con nít sống thêm một mạng. Các đồng chí thấy đúng vậy không?

Đám đông kêu lên lộn xộn:

- Đúng rồi!

- Phải quá đi chớ!

- Hay! hay!

- Vì vậy, tôi rất ấy náy từ nãy tới giờ đã làm các đồng chí mất nhiều phút trong giờ làm việc. Xin đề nghị vầy nè: thằng thợ cũ về thăm bạn bè, mỗi người làm giúp cho nó mươi phút nữa để nó ra đi khỏi băn khoăn trong bụng. Đồng ý chưa?

Mấy trăm con người cùng kêu to “đồng ý”, bật cười ồn ào. Chanh biết mình được lòng anh chị em, họ đã coi anh như người cùng hội cùng thuyền.

Anh bắt chước cử chỉ của anh Quý, nắm hai bàn tay vào nhau đưa lên lắc mạnh, ra hiệu bắt tay chung tất cả, xong bước nhanh xuống khỏi khán đài.

Ông trưởng ga không kịp diễn thuyết nhiều hơn bởi công nhân đã ùn ùn kéo về chỗ làm việc của mình, cười nói râm ran, khác hẳn những cuộc mít tinh cực kỳ trang trọng kéo dài ba bốn tiếng trước đây. Ông túm lấy mấy cậu ở văn phòng, dặn sửa soạn bữa tiệc mời đồng chí thanh tra thật đàng hoàng, lái xe đổ thêm cồn để đưa đồng chí đi bất cứ đâu. Một viên thư ký hổn hển chạy tới:

- Báo cáo, ông Chanh đi rồi... ổng biểu thằng Bảy Tộ đèo xe đạp ra phố...

- Ổng đi đâu? Sao không mời lại?

- Dạ, ổng nói đi thăm xưởng cũ chớ chưa thanh tra. Đúng hai giờ ổng trở lại, theo đầu máy mới sửa lên Diêu Trì.

Ông trưởng ga đổi lệnh mới cho văn phòng đừng dọn tiệc mà gói thật nhiều thức ăn khô để biếu ông Chanh mang theo dọc đường, lái xe sẵn sàng đưa ông ấy lên Diêu Trì, không để ông ấy đứng hít bụi than cùng với thợ đốt lò. Ông trở về văn phòng với nỗi lo lắng kéo dài: có gì thất lễ khiến cho vị thanh tra bực tức bỏ đi đùng đùng như vậy? Lơ mơ là ông ấy cách tuột chức tước từ trưởng ga trở xuống...

Ra khỏi ga mấy trăm thước, Chanh chợt vỗ vào lưng Bảy Tộ:

- Dừng lại Bảy, tao hỏi chút... Mày còn việc gì ở đề pô không?

- Em còn vài tiếng ma nơ nữa là hết ca. Nhờ thằng bạn làm rồi, anh khỏi lo.

- Vậy mày cho tao mượn xe đạp. Mày trở lại ga đi, đừng để anh em hiểu lầm tao. Hai giờ chiều tao trả xe ở đề pô, được chưa?

Bảy Tô lại gãi tai:

- Em không đưa đón mới bị anh em hiểu lầm là đứa bạc bẽo. Thôi tùy ý anh Cả, dùng xong anh quăng xe vô chỗ gác cho em.

- Nè, ông Hai Rề với lũ trưởng ga sao coi bộ cách biệt quá vậy ta?

- Nói sao hè... Ông Hai tốt thiệt mà chẳng biết lãnh đạo là cái gì. Cha trưởng ga thì nửa nạc nửa mỡ, à quên, đến ba phần tư mỡ. Muốn được lòng xếp Tây, được lòng ủy ban mình, được lòng công nhân, còn công việc chung có bê trễ cũng mặc kệ. Cái đầu máy đang xộc xệch cũng ký giấy cho kéo tàu Nam tiến, ông Hai với tụi em phải tới bàn giấy chặn lại, bắt sửa kỹ, không thì chết cứng dưới chân đèo Cù Mông chớ chưa tới đất Phú Yên đâu!

- Mẹ cha, nguy hiểm vậy á?

Chanh rút cái đồng hồ quả quýt - quà tặng của tỉnh ủy Quảng Nam trước khi chia tay - xem giờ, tần ngần một tí rồi dặn:

- Mày nói giùm lão trưởng ga tao sẽ làm việc với lão từ một tới hai giờ chiều, mời cả các sếp a lơ li ê nữa... kêu bằng gì hè? Tao mới chuyển qua hỏa xa mà.

- Quản đốc phân xưởng. Có mít tinh công nhân không?

- Chết, đừng, để lần khác hẹn giờ nghỉ ta làm.

Cả Chanh chỉ còn hai tiếng nữa để tìm gặp một người bạn bất mãn, một đứa em mất lòng tin, một cô gái chưa hiểu bụng dạ ra sao.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #98 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2016, 03:04:23 pm »

Rút cầm tay mảnh giấy vẽ sơ đồ nhà chị Tư rượu lậu, tên đầy đủ là chị Trịnh Thị Toản, do một anh bạn ở ga Diêu Trì soạn sẵn, Chanh luồn lách rất lâu trong các xóm nhà lá mới tìm được một căn nhà mái tranh vách đất còn mới, dựng trên một gò cát gần biển, trông cũng khá gọn sạch.

Chị Tư đang nấu cơm dưới bếp, đon đả chào khách, mời lên nhà trên, rót nước, bày diêm thuốc. Bộ mặt nhiều tàn hương lấm tấm đổi sắc ngay khi Chanh xưng tên. Đôi mắt sắc lẻm nhìn xói vào mặt anh:

- Hóa ra ông là ông Cả Chanh đó. Hứ! Ông đã lên ngôi vua chưa mà trảm công thần liền tay vậy ông?

- Kìa, chị Tư...

- Tôi cũng khen ông khéo rủ rê đó. Anh Năm đang bị thương đi cà nhắc, tôi ra sức nuôi ảnh, thuốc men mắc mấy cũng chạy vạy cho đủ, ảnh nghe ông về Quảng Nam làm cách mạng, lên rừng cao núi thẳm đánh du kích, lại nghe lời ông đưa bộ đội vô tới Sài Gòn chọi với giặc, tử sanh chẳng nề. Vậy mà ông kiếm chuyện đuổi về ngang xương, coi như đồ Việt gian bán nước, tới thằng Cam là em ruột ông cũng tức xung điên, theo về luôn...

Chị càng nói càng hăng máu, tuôn xối xả như xay lúa những lời rỉa róc, hai gò má nhọn đỏ rựng và nhô cao hơn, hai hàm răng mọc lộn xộn buộc phải hở ra để nói trong khi chỉ muốn nghiến lại.

- Hai anh em bò về tới đây, coi tợ hồ hai cái xác chết trôi bị cá nhám gặm. Có thứ gì đáng tiền tôi bán hết, nuôi cả tháng mới nên hình ảnh, ảnh đi làm được, thằng nhỏ đi học được. Tôi trách là trách anh Năm không biết thân nhân lại cứ chơi trèo, là thằng cai khố đỏ dốt nát mà cứ ưng bắt chước ông cách mạng nòi, ông xịt đâu chạy đó, bây giờ ổng chán ổng đá đít là đáng đời hết sức chả kêu ca gì nữa.

Chanh bật kêu lên, khổ sở:

- Thì chị cũng để tôi nói câu chuyện với anh Năm cái đã.

- Tối nay cả nhà đông đủ, ông muốn nói gì cứ nói, thử coi có cù rủ anh Năm được nữa không. Chưa chắc thằng Cam nó chịu theo ông đâu nghen! Tôi có lời khuyên ông vầy cho gọn: vợ chồng con rượu lậu lấy thằng khố đỏ, nuôi giùm ông thằng em ở đầy tớ, xứng bộ với nhau quá rồi, để ông chủ tịch lo việc quan việc nước cho đáng mặt cao sang chớ...

Không sao chen nổi một câu phân trần vào giữa cái thác oán hận của chị con buôn lắm điều. Cũng khó hi vọng gặp được Năm Chò với Sáu Cam trong chốc lát ở lại Qui Nhơn giấc trưa này.

Chanh dắt xe đạp đi ra đường, cảm thấy mỏi khắp người như sắp lên cơn sốt rét rừng, khi ký sinh trung bắt đầu nhấm các khớp xương, sợi gân.

Mười lăm phút sau, Năm Chò cùng Sáu Cam về nhà.

Cam học lớp cấp tốc dành cho học sinh lớn tuổi, gần chỗ Năm đang xe gạch thuê cho chủ thầu làm nhà. Buổi nào tan học nó cũng ghé vào chỗ đang xây, đợi anh Năm xong chuyến cùng về với nhau.

Đó là lúc nó nói chuyện với anh Năm thoải mái nhất, còn ở nhà thì chị Tư giành nói hết, nó vào ngồi học một mình trong góc, xong bài nhà trường nó sẽ khảo anh Năm học chữ. Anh học kiểu ấy cũng đã đọc và viết được tàm tạm.

Chị Tư mặt còn bừng bừng, vừa bày mâm cơm vừa kể chuyện ông Cả Chanh cho hai anh em nghe chăm chú. Cơm xới xong, Năm Chò vẫn không cầm đũa, chỉ nhắc cộc lốc:

- Tiếp đi!

Chị Tư kể nữa, kể nữa. Anh Năm cứ tái mặt dần đi, Cam trông thấy nhưng chị Tư không để ý.

Anh đưa hai tay bưng trán, rồi bóp trán, buông một câu nặng nề:

- Vậy là hết tình nghĩa!

- Chớ sao nữa! Tình nghĩa gì với cái hạng đó.

- Không, tôi nói tình nghĩa tôi với cô.

- Anh... gì lạ vậy?

Năm Chò ngửng đầu lên, mắt anh đỏ ngầu:

- Cô nói đã ngán chưa? Có muốn nghe không, hay là đang ham nói thì xin mời.

Chị Tư há miệng nhưng không thốt ra tiếng, như người ăn khoai mắc nghẹn.

- Phải như hồi tôi còn là thằng khố đỏ, tôi là tống cho cô mấy trái đấm bể mặt. Tôi được anh Cả Chanh dạy dỗ miết mới chừa thói xấu. Cô gặp may đó. Cô nghe lỏm chuyện tôi nói với bạn bè, câu nọ xọ câu kia, cô hiểu theo kiểu riêng của cô. Mâm cơm thành nồi cháo heo, cô đem hắt vào mặt anh Cả, ảnh là người cao thượng không thèm bắt bẻ, cô được nước cứ chửi tới tới. Cô cứ nhất định làm con Tư rượu lậu, mặc ý cô, còn tôi là chiến sĩ Vệ quốc, tiệt nọc khố đỏ rồi. Thằng Cam cũng không ở đầy tớ cho ai nữa hết, nó vô du kích, theo bộ đội, bây giờ là học sinh. Chúng tôi không muốn ghép chung với cô Tư rượu lậu... Cam, mày ở hay đi với tao?

Cam đã nép vào góc nhà từ khi nghe anh Năm nói, bằng cái giọng gằn gằn dễ sợ. Khuôn mặt dài và gầy, bắt đẩu nổi lang ben của nó cũng tái xanh.

- Lâu nay tôi để dành tiền, đánh hai chiếc nhẫn cưới để ăn ở lâu dài với cô. Bây giờ cô hiện hình ra rõ hung rồi, tôi xin đưa hết tiền với nhẫn để tạ ơn cô giúp đỡ khi đau ốm, anh em tôi đi nơi khác.

Anh đến mở cái rương con trên giàn, lễ phép đặt trên bàn hai chiếc nhẫn với một xấp bạc, bẻ đôi một chiếc đũa đặt lên trên. Anh vơ áo quần trên giường nhét vào rương. Cam vội run tay thu dọn sách vở trên bàn cho vào cái túi vải trong khi chị Tư bắt đầu khóc rất to tiếng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #99 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2016, 03:06:08 pm »

*
*     *

Thùy tất tưởi về gấp sau cuộc họp kéo dài. Nhà vắng hết, cơm trưa không ai nấu, hai đứa nhỏ tan học lại hờn với chị Hai cho coi. Phần cha khỏi lo, bốn giờ chiều cha mới hết ca. Trời hơi lạnh nhưng Thùy đi như chạy, đến gần nhà phải cởi cái áo sợi không tay mặc ngoài áo trắng kiểu bà ba.

Trước hiên nhà nhà có kê một chõng tre cũ để ngồi hóng mát. Ai đó tự mở dây buộc cổng, đang ngồi đợi trên chõng, chiếc xe đạp dựng vào thềm. Một anh bộ đội ba-lô vẫn đeo trên lưng, dựa vào vách ngủ ngon lành. Chắc đến bàn việc với cha. Mũ cứng kiểu lính Bảo an úp sụp che nửa mặt, hở ra cái cằm nẻ đôi. Thôi cứ để anh ấy chập chờn một lát, tội nghiệp, bộ đội cực trăm đường.

Thùy đi vòng ra mở cửa hông bấm khóa, nhấc cây ngáng cửa trước, mở rộng cho sáng. Tiếng kẹt cửa đánh thức  anh bộ đội. Anh giật mình ngồi thẳng lên, giụi mắt, sửa mũ, quay đầu vào trong. Thùy bật kêu:

- Ôi chao, anh... anh Chanh!

- Thùy!

Anh đứng vọt dậy, bị cái ba lô nặng trên lưng giật lại, hơi loạng choạng một chút, kịp níu tay vào khung cửa giữa. Như cái máy, anh tuột quai ba-lô ra, đặt nó xuống chỗ chõng, bước vào nhà. Thùy run rẩy lùi, lùi nữa, đến khi lưng chạm vào cột gỗ. Cô dựa vào cột, cả đầu và thân tê dại đi, mặt lạnh buốt, hai gối nhủn ra như sắp ngồi luôn xuống đất. Cô nhắm mắt, đợi một cái gì hằng mơ ước và rất đáng sợ sắp xảy ra trong đời, khi anh Chanh trở lại tìm cô...

Loáng thoáng đằng sau đôi mắt nhắm, Thùy thấy lại tất cả những hình ảnh đã hiện ra trong những đêm trằn. trọc. Anh ôm Thùy vào ngực, thủ thỉ nói anh yêu em suốt đời. Anh gập gù xoa cằm, bảo vấn đề này sẽ thảo luận trong kỳ họp sắp tới. Anh trừng mắt bảo Thùy là đứa mất nết, người ta lo làm cách mạng mà nó chỉ nghĩ chuyện lăng nhăng trai gái. Khủng khiếp nhất là khi anh nói: xin lỗi, tôi đã có vợ ngoài Quảng, Thùy đã tự hành hạ biết bao nhiêu từ khi không nén được nước mắt trước, bác Quý già đến thăm, từ đó cứ hối mãi, lo lắng mãi...
Im lặng, im lặng kéo dài.

Mặt Thùy bớt lạnh, Thùy từ từ tỉnh lại, mở mắt.

Người con trai đứng cúi đầu trước mặt cô, bàn tay phải bóp bàn tay trái, mặt đỏ như vừa uống rượu, cái núm cổ chạy lên xuống mà không đẩy ra được một tiếng nào. Bỗng  anh ngước mắt nhìn Thùy. Nét mặt anh lộ vẻ sợ sệt quá rõ: không thể lầm. Anh sợ gì trước mặt em? Hay là... lẽ nào... anh sợ phải nghe một lời xua đuổi?

Máu trong tim vụt bốc lên mặt Thùy đến choáng váng. Trước người con trai yếu đuối, Thùy mạnh lên bừng bừng. Anh ấy yêu mình, đợi mình cho phép nói một tiếng nào đó. Nói đi anh. Em đợi tiếng ấy lâu rồi. Kìa, sao lại nhát gan vậy, anh của em? Anh quá thật thà rồi đó...

- Thùy ơi!

Thùy chỉ thốt được một tiếng dạ không ra khỏi cổ.

- Em... em có nghĩ tới anh... chút nào không?

Thùy không gan được nữa, úp hai bàn tay lên mặt, nấc dồn dập.

Hai cánh tay gân guốc của người con trai đã ôm vòng quanh vai Thùy. Anh nói gì nóng rực bên tai không rõ. Thùy níu vào hai vai anh, úp mặt vào ngực anh, trong khi anh luống cuống hôn vội vàng vào má, vào tai, vào cổ Thùy. Thùy vừa ngước mặt lên, anh hôn luôn vào trán, vào mũi. Anh của em vụng về ngốc nghếch, sao mà dễ thương không chịu nổi. Em chỉ sợ thức dậy, thấy em chiêm bao. Phải chi anh cắn em thử coi. Chắc anh không dám, thôi để em cắn anh thiệt đau cho anh tỉnh trước...

Thùy cắn thật. Anh bật cười, vòng hay tay kéo đầu Thùy ngửa ra:

- Hồi đi khỏi Qui Nhơn, anh buồn ghê.

- Sao anh buồn?

- Em chào đúng một tiếng, bỏ đi mất tiêu...

- Em xuống khóc một mình dưới bếp, em không gan như anh. Còn anh cứ cười miết... Anh Chanh ơi, thiệt không? Anh thương em thiệt không? Anh chọc ghẹo rồi bỏ, em không sông nổi đâu.

- Đừng bỏ anh nghen Thùy. Rán đợi anh về rồi cưới.

- Em lo anh có vợ...

Hai tay người con trai siết cứng Thùy đến ngạt thở, không nói được nữa. Thùy muốn anh siết mạnh hơn.

- Có rồi. Anh có một cô ở Qui Nhơn đây. Anh lo vợ anh không đợi được. Anh yêu em khủng khiếp. Thùy ơi, nhứt định cưới nhau nghen Thùy? Nói đi em. Hẹn cắn cưa đi em, cho anh yên bụng.

- Em bằng lòng...
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM