Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:54:28 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người cùng quê - Tập 1  (Đọc 126334 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #120 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2016, 10:47:57 am »

*
*   *

Lò chữa ghè là cái miếu thờ hùm beo gì không rõ, nằm xa làng. Trong đợt luyện quân, các trung đội thay nhau ra đây trút sạch áo quần cho vào thùng nấu, tắm nước lá thầu dầu sắc đậm và kỳ cọ các vạt ghẻ đến bật máu, bôi thứ thuốc nam bằng dầu hạt máu chó trộn diêm sinh, chịu giam ba bốn tiếng đến khi thuốc trên thân và áo quần phơi ngoài trời đều khô hẳn.

Hôm Năm Chò cùng chữa ghẻ với trung đội ba, trời lại chơi ác kéo mây mù, mấy chục lính ta tồng ngồng trong miếu đóng kín cửa cứ réo gọi từng lúc, tay Dần cứu thương đại đội ở bên ngoài chỉ trả lời dấm dẳn là áo quần chưa khô, ráng đợi.

Đến lượt Năm Chò ghé miệng kêu qua khe cửa:

- Bác sĩ Đần ơi, nhốt tụi tao mấy ngày ?

- Vài tiếng thôi, trời đang ngó lại đó anh.

- Mày lục ba-lô tao, đưa cuốn sách vô đây, thêm cái đèn nữa, để tao làm công tác chánh trị cho lính nó đỡ la làng. Hễ thấy đàn bà con gái tới gần, mày kiếm cớ đuổi đi nghen.

Cuốn sách và cây đèn dầu được tuồn qua khe cửa, đóng và sập rất nhanh. Năm Chò ngả tấm thân đen trũi trên bệ thờ xây vôi, gọi cậu thư ký đại đội:

- Mày cứ đọc cái khúc Trình Giảo Kim là nhứt. Thằng Tần Thúc Bửu làm điệu thấy bà, Đơn Hùng Tín thì ỷ giàu, bỏ ráo đi.

- Lần trước tới khúc Giảo Kim giựt xe bạc của Dương Lâm...

- Thôi khỏi, mày cứ trở lại chỗ cha đó thoát ngục.

Năm Chò lượm được bộ sách Thuyết Đường trong xóm chợ tản cư, táy máy lật xem mấy trang, chẳng ngờ trúng chỗ Trình Giảo Kim nhăng cuội mà vớ bẫm. Từ đó anh mang nó theo như Tam Tạng mang kinh, nhờ anh em đọc cho nghe từng đoạn, chỉ mê mỗi một thằng cha Giảo Kim gần gũi với mình.

Cậu thư ký lật tìm một lát, bắt đầu đọc:

“Va mình cao tám thước, vóc cọp, lưng rồng, mặt xanh, râu đỏ, sức mạnh hơn người. Tuy rằng đồng học nghề văn với Thúc Bửu nhưng lớn lên chẳng thông một chữ. Sau khi phân rẽ với mẹ con Thúc Bửu, mẹ con trôi nổi nghèo nàn, buôn bán kiếm ăn, ngại vì không vốn, phài hiệp với bọn côn đồ mà buôn muối lậu đặng kiếm lời nuôi mẹ”...

Năm Chò lim dim mắt trên bệ vôi, buông một lời hình:

- Mẹ tao chết sớm, tội nghiệp lắm... Đọc đi, mày tốt giọng như nói trên đài...

“... Rạng ngày cửa ngục mở, tù nhơn lần lần kéo ra hết, duy có một mình Giảo Kim cứ ngồi làm thinh. Lính coi ngục hỏi rằng: “Trào đình ân xá tội nhơn, thảy đều ra hết, sao ông Trình còn ngồi đây làm chi?”. Giảo Kim nghe hỏi nổi giận, vả cho tên lính một cái xửng vửng mặt mày mà mắng rằng: “Quân súc sanh vô lễ ! Muốn ông ra thì phải dọn tiệc tiễn hành, ông ăn uống no say thì ông mới ra cho chớ, mi dám đuổi khan ông vậy sao ?”. Tên lính chẳng dám nói chi, lật đật chạy mua rượu thịt bưng vô một mâm ê hề, bước lại và xin lỗi và mời...”.

Anh đại đội trưởng vỗ đùi đánh đét, cười ha hả:

- Anh chị hết cỡ rồi đó. Hồi tao làm trùm xan ở Chí Hòa cũng chưa dám chơi lút ga thả xăng như lão Trình.

Chung quanh cười ồ, bàn xôn xao:

- Năm Phi Đao chịu thua là chẳng vừa đâu nghen !

- Lính gì như cục thịt thừa vậy ? Trúng Tây gác tù thử coi !

- Thằng cha cổ quái thiệt chớ, hì hì...

Có tiếng gõ mạnh vào cửa miếu, tiếp giọng cậu Dần cứu thương:

- Có giấy gởi anh Năm. Đút dưới cửa đó.

Cậu thư ký nhặt giấy, đọc: “Kính anh Năm. Em sắp ra học tiếp ở Liên khu Bốn, đi gấp tới thăm anh một buổi mà các đồng chí không cho gặp. Em sẽ chờ thêm một tiếng nữa chỗ tiểu đội liên trinh. Sáu Cam”.

Năm Chò chồm dậy, réo to:

- Ôi bác sĩ Đần ơi, đưa áo quần đây, thằng em tao ghé thăm được một lát thôi !

- Còn ẩm lắm, mặc vô ngứa da, bao giờ mới lành ghẻ ?

- Lành không lành kệ cha tao. Hay là mày lột bộ đang mặc, cho tao mượn... Máy móc thấy mồ. Cái điệu này, tàu bay tới bắn vô miếu, nó cũng giam cứng anh em mình cho chết ráo cạo.

Dần làu bàu gì đấy rồi hé cửa đưa vào một mớ áo quần khô, trên thân cậu ta chỉ còn một quần đùi. Năm Chò mặc vội bộ xi-ta quá dài, gấp gấu quần lên vài nếp, vớ nịt súng ngắn và túi dết, tất tưởi vừa đi vừa chạy.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #121 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2016, 10:52:33 am »

Trạnn gác của liên trinh đặt xa đại đội gần hai cây số để giấu chỗ đóng quân, không chừng Sáu Cam đợi lâu đã bỏ đi. Nhưng Năm vừa qua trước ngõ nhà đại đội bộ đã nghe Ba Dĩnh gọi:

- Vô đây, Năm !

- Tôi đi gấp cụ ơi. Thằng Cam tới…

- Thì coi thử ai đây ! Mình lượm được chỗ trạm, giải về lấy cung.

Năm Chò ngẩn mặt nhìn cậu lính trẻ trong nhà bước ra, miệng cười toét mà mắt chớp lia lịa, vươn hai tay chụp vai anh. Nó, đúng nó rồi !

- Thiệt mày hả Cam ? Sao khác quá vậy nhỏ ? Gặp ngoài đường, dám đánh lộn vài chục hiệp rồi mới nhận anh em đó !

Anh ôm ghì Cam, cố nuốt tiếng nấc đã trào tới cổ. Đợi cơn xúc động qua hẳn anh mới buông Cam ra, đặng hắng liên hồi, lấy lại giọng đùa giỡn:

- Đó, nữa, nữa... Râu rậm nửa cái mặt mà tánh nết y như cựu, con gái nặn lầm... Mới nhổ giò mà sao mày cao quá ể vậy em ? Ông Ba ngó thử, hồi Nam tiến nó chưa tới nách tôi, bây giờ hơn tôi nửa cái đầu !

Cam xấu hổ quệt vội hai mắt, vào nhà.

Trong khi Cam lúi húi mở ba-lô lấy thư và quà, Năm Chò ngắm thằng em không chớp mắt. Mới hơn hai năm xa nhau, nó lớn vụt lên dễ sợ, có lẽ cao một thước sáu lăm rồi - Năm quen đo người khi lựa lính, đoán ít sai - và còn lớn lên nữa, mới mười bảy tuổi thôi mà. Năm cũng nhận ra những nét giếng và khác nữa giữa Cam với anh chị em nhà Cả Chanh. Giếng nhau ở lông mày nét mác, mắt hơi xếch, cái cằm chẻ. Nhưng Cam khác ở nước da trắng hơn, mái tóc mềm hơi lượn sóng tự nhiên, đặc biệt là bộ râu quai nón mọc sớm và khá rậm. Các con trai ông Tư Chua đều có vóc người trung bình, da hơi nâu, tóc dựng cứng bàn chài, lớn lên hiện râu ba chòm lưa thưa.

Lá thư Cả Chanh chỉ viết chung chung rằng anh được nghỉ chữa bệnh vài tháng ở Linh Lâm, rủ Năm Chò hồi nào về họp tỉnh hay liên khu thì ghé chơi ít bữa. Nhưng dường như anh cố ý viết rõ rằng Năm Bưởi lấy chồng bộ đội đầu năm ngoái, sau khi sinh con thì được tin chồng hi sinh ở Tây Nguyên, nay cũng về Linh Lâm sống với anh và Hai Thùy.

Đọc xong lá thư anh Chanh, dưới có thêm mấy dòng thăm hỏi ghi thêm của chị Bưởi, Cam mới trách nhẹ:

- Anh Năm lại quên hết mặt chữ rồi hả ?

- Chưa quên, mà tao đọc chậm quá, mất hay... Cam nè, mày đậu tới cái bằng gì mà phải lặn lội ra tới Việt Bắc học tiếp ?

- Bằng gì đâu anh. Em học hết Trung học bình dân thôi, hồi Tây coi như đậu đíp-lôm. Gặp hồi chị Thùy bị bệnh, anh La Giang bàn tính đưa em ra khu Tư học tiếp trung học chuyên khoa, túc là ban tú tài. Em không muốn mà anh Cả bắt phải đi. Anh La Giang được chuyển về quê ở Hà Tĩnh, trường chuyên khoa cũng đóng gần nhà ảnh. Em xin nhập ngũ, các ảnh nhứt định gạt hết... Hay là anh Năm cho em ở lại... Em cứ bám đây, làm lính của anh như hồi xưa...

Trước mặt Năm Chò là cả một mớ quà miền núi: quế kẹp to gài những que tre ngang như nấc thang, thuốc nguyên lá Thượng vàng hườm, chè đọt xoắn móc câu, mít khô ngào với đường và mè, chuối khô ép nguyên quả, dứa khô xắt lát. Bà mẹ Tám chủ nhà bưng lên một mâm tú hụ không có chỗ đặt, kêu to:

- Dẹp chỗ đi bây. Mì Quảng nhưn heo rừng đây, đứa mô chê phải nói rõ, lần sau khỏi mời... Tổ đãi được con heo sụp hầm ngon thịt lắm, mì tao làm thừa chớ không thiếu, bây ăn lõa xê đi, có điều thứ nước cay giữ chừng một chai thôi.

Cam xếp được một ngày đi thăm anh Năm, tối nay phải về tới trạm liên lạc Bắc - Nam ở Trung Phước, một bến vạn lớn trong vùng tự do cách đây mười lăm cây số đường núi. Đoàn đi ra Bắc của anh La Giang dừng tại đấy để tắm giật, làm thêm lương khô, sáng sớm mai đi Bến Hiên. Họ sẽ vượt dãy núi ngang Hải Vân qua đường dốc Búk, một dốc cao nổi tiếng hiểm trở, mất hai ngày sẽ đến trạm Nam Đông thuộc tỉnh Thừa Thiên. Ước chừng non hai tháng đường núi mới tới Hà Tĩnh, nếu không gặp lũ lụt dọc đường.

Năm Chò nhăn nhó trong khi lùa vội tô mì Quảng rất ngon:

- Kế với hoạch, mấy cha nội đó làm bộ làm tịch hoài... Mày cứ ở chơi với tao ít bữa, các chả nhứt định đợi. Đi học xa phải đủ áo quần, thuốc men, tiền nong, mà cái ba-lô mày xẹp lép nằm kia.

- Khó lắm anh. Ai cũng có công tác gấp, em phải nhập học kịp ngày. Mà ta ở đây đang đại hạn, chớ trên núi mưa dông đã nhiều. Giao thông các trạm nói đoàn này ta tới khúc Quảng Trị chắc bị mắc lụt... Anh thấy sao, em ở luôn được không ?

- Nhận mày ngang xương, anh Cả mày dám tử hình tao lắm. Mày không nhớ cái trận ảnh làm dữ ở Quy Nhơn năm xưa à ? Tay mặt ảnh túm cổ tao đẩy trở về bộ đội Quảng Nam, tay trái ảnh chặn cổ mày bắt ngồi xuống ghế nhà trường, cấm không cho cãi oong đơ gì hết trơn trọi. Mà tao thấy mày sáng dạ, học hành tấn tới đi học tiếp là phải quá. Thôi thì vầy: mày đừng về bộ, đêm nay có ghe chở hai thương binh ngược sông về bệnh xá, mày quá giang lên Trung Phước cho khỏe. Để buổi chiều tao chạy thử, sắm được chút ít thì thêm vô... Tiền mày được bao nhiêu ?

- Ra ngoài, anh La Giang hẹn cho em hưởng sanh hoạt phí bộ đội, hay là thiếu sinh quân. Yên chí lớn !

- Phụ cấp một tháng chưa đủ mua một bánh xà-bông nội, lỡ đạp bể bánh tráng người ta phơi, mày cởi áo ra đền à ? Khai thiệt tao nghe !

- Đủ xài mà, anh Năm. Em có nhậu nhẹt gì đâu mà tốn.

Năm Chò “hự” trong mũi, ăn tiếp trọn bữa. Đợi khi Cam buông đũa kêu no kênh, anh lẳng lặng đến sau lưng Cam, nắm hai tay Cam bẻ quặt ra sau như cùm sắt, bảo Ba Dĩnh:

- Trời đánh tránh bữa ăn. Giờ cụ moi hết túi nó ra, đếm thử.

Sáu Cam chỉ có tất cả hai trăm sáu chục đồng Tài chính. Tờ tín phiếu liên khu Năm chỉ tiêu được ở vùng Nam đèo Hải Vân, vào trong xa kia sẽ giáp mặt tờ tín phiếu Nam Bộ. Tất cả các đồng chí đi ra Bắc đều được đổi lấy lại giấy bạc Bộ Tài chính do chính phủ ta in năm 1946, tiêu suốt từ Thừa Thiên đến Việt Bắc, chỉ khi qua vùng Pháp chiếm mới bị lúng túng giữa tiền Cụ với tiền Đông. Thế nhưng Cam kiếm đâu ra tín phiếu mà đổi !

Năm Chò buông tay em, khẽ nói ngậm ngùi:

- Nghe nói anh Cả chị Hai mày túng thiếu, đâu có ngờ lại nghèo quá quắt vậy. Thằng em đi học ba năm lên ông tú, xoay được có bấy nhiêu. Hai trăm sáu giấy bạc trâu xanh, được hơn hai chục ký gạo, tao ở đây biết giá cả khu Tư hơn mày... Ông Ba ơi, lính cũ đơn vị Nam tiến đi học xa, ông mở khóa quỹ đen được chưa ?

- Sẵn sàng. Ác cái, chỉ có tín phiếu với đum đum 1...

- Cứ đưa. Tối nay tôi lên Trung Phước với nó, mờ sáng về. Mụ Tài trên đó buôn hàng ngoại Thừa Thiên, thiếu gì bạc trâu xanh. Bỏ dum dum ra đổi tiền Cụ cho thằng nhỏ đỡ rách...

Năm Chò kéo Cam ra sông tắm trong khi Ba Dĩnh đi tìm quản lý.

Vào giờ trưa đứng bóng này, sông Thu Bồn sáng chói như tấm gương soi cắt cong queo. Bãi cát sỏi ven sông nóng rực, chân người bước ra khỏi chỗ rợp cứ như dẫm trên nền tro một nhà mới cháy, chỉ chạy lúp xúp mới khỏi bị thui chín. Một cặp cu đất gù gù đâu đó trong lá, giọng ngái ngủ như người ngáy to. Ven bờ cây ngũ sắc một con bìm bịp lách mình vào lá rậm, thoáng chìm mấy mảng lông nâu và đen. Suốt năm qua quân Pháp chỉ càn tới đây một lần, chưa đốt phá được nhiều, chỉ thỉnh thoảng bắn lên vài chục quả pháo 75 ly.

Năm chỉ cho Cam cái đồn Voi Quỳ mé dưới, cách chừng bốn cây số, màu đất nạo trụi trên chỏm càng hiện đỏ nhức mắt dưới nắng nung:

- Tao chưa hạ được thằng quỷ sứ mắt khỉ, chưa chịu đi nơi khác đâu. Nó sống dai như đỉa, cố bám vùng này cũng như đỉa. Nó treo giá đầu tao ba chục ngàn tiền Đông, khá lắm chớ.

Hai anh em rẽ vào chỗ bờ sông lở, tắm dưới bóng một chòm tre đổ nghiêng, ngâm mình thật lâu trong làn nước mát rượi không gợn phù sa.
Cả Chanh dặn em đừng kể hết chuyện nhà mình gặp khó, ngại Năm Chò động lòng sẽ bươn bả về giúp “đại ca”. Những năm ở đày tớ cũng dạy Cam biết giữ mồm miệng. Cam có thể thưa thốt cầm chừng với hết thảy mọi người, với cả vợ chồng anh Chanh chị Thùy rất mến phục, nhưng chẳng hiểu tại sao gặp anh Năm thì Cam cứ tồng tồng trút ra hết như với một cậu tri kỷ cùng lứa tuổi.

Cam chỉ giấu một điều là đã xoay gạo cách nào để đem về giúp chị Thùy.

Cảnh nhà tản cư mỗi người một gánh trên vai, đến khi chị Hai Thùy sinh bé Tuấn thì cả bốn chị em cùng khốn đốn. Cam học vượt lớp ngấu nghiến, thi lọt vào trường Trung học Bình dân chắc hẳn chỉ vì các anh chị quên nhiều còn Cam mới nhồi đầy óc. Bớt một miệng phải nuôi, chị Thùy cũng bớt hai bàn tay khỏe mạnh giúp chị hằng ngày. Cam định bỏ học tìm việc làm kiếm gạo, nhưng chị Thùy dỗ, dọa, khóc, không cho bỏ.

Ở trường hồi ấy có một số anh chị cán bộ được cảnh gia đình khá giả và không xa, thường nhận tiền, gạo, thức ăn từ nhà mang tới. Cơm tập thể quá kém, một nhóm bảy chị như thế lãnh sinh hoạt phí về nấu bếp riêng. Cần một cậu trai tráng góp sức gánh nước, bửa cùi, giã lại gạo, khi cần có thể đi chợ xa hay mua củi gánh về. Cam được các chị rủ vào chung nhóm vì khỏe, hiền lành, chăm học, lại nhỏ tuổi không lo tiếng đồn tầm bậy. Gặp lứa gạo nhà trường phát quá xấu, đem ra chợ bán sợ bị hiểu lầm là con buôn, các chị bàn cho luôn thằng em út. Nhờ đó vài tuần một lần Cam lại cuốc bộ bốn chục cây số khứ hồi, mang gạo về cho hai cậu em háu đói khi năm bảy cân, khi cả gánh nặng. Lượt lên trường, Cam lại gánh mắm, cá biển và các thứ mua hộ ở chợ Sông Vệ. Chị Thùy la rày mãi không được, đành nhận gạo của Cam. Và Cam không bao giờ dám thú nhận với mình rằng đây cũng chỉ là một kiểu làm thuê giữa những người học chung trường lớp của Cách mạng.

Một búng khói chợt phụt trên đồn Voi Quỳ, màu trắng sáng lấp lánh dưới nắng. Quả pháo 75 ly bay thẳng hướng hai anh em nhưng ngắm tầm gần, nổ bùng chỗ khuỷu sông cong, sau đó tiếng hú và tiếng đề-pa mới vẳng đến tai.

Tiếp một khẩu nữa bắn. Cả hai cây pháo cùng chúc nòng nã chéo dồn dập sang bờ Nam, dội tiếng vang giòn của những tấm tôn ném trên sân xi-măng. Năm Chò gắt một mình:

- Mấy chả lại rập rình vượt sông giấc trưa. Thằng Tây Bia có ngủ gật đâu !


---------------------------------------------------------
1. Tiếng lóng, chỉ giấy bạc Đông Dương của Pháp.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #122 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2016, 09:33:45 am »

Chương IV


Trước bốn chục cặp mắt ngước lên chăm chú, Hai Khánh nói những câu cuối trong bài giảng vỡ lòng dành cho tù binh Âu - Phi, kéo dài chừng hai tiếng.

Anh quen lắm với những bộ mặt tù binh mới từ mặt trận giải về, hết sức khác nhau về màu da, đường nét, sắc thái tình cảm, những ý định nằm chìm sâu trong đầu từ khi lọt vào tay Việt Minh. Những sĩ quan từ võ bị Xanh-Xia ra, mắt gườm gườm kiêu ngạo và căm hận, cố giữ chút oai phong sót lại trong bộ binh phục rách tướp. Những lính quân dịch Pháp run sợ, mặt mũi sưng húp vì khóc suốt dọc đường, luôn luôn mở mồm bằng câu “tôi bị động viên”. Lính lê-dương mang mấy chục quốc tịch cũ, vất bỏ tổ quốc và gia đình từ khi ký giấy nhận đánh thuê, giữ cái vẻ ảo não tuân theo định mệnh, sẵn sàng khai ra những bản lý lịch lâm ly kỳ ảo nhất. Lính A-rập gốc Bắc Phi vừa lo sợ vừa hi vọng, cố nhớ lại những chuyện cha ông kể về thời xưa chống Pháp xâm lăng để Việt Minh thương tình không treo cổ. Lính da đen Trung Phi, mặt để trơn bóng hay rạch những vệt dài bôi đỏ, đến đâu ngồi thừ ra đấy và lẩm nhẩm những lời khấn khứa gì đố ai hiểu. Lại còn những người nguồn gốc pha trộn nhiều lục địa và chủng tộc, nhảy vào đạo quân viễn chinh Pháp kiếm ăn, chỉ biết vạch một chữ thập lãnh lương và mấy tiếng Pháp đủ nghe khẩu lệnh...

Khánh cố nói giản dị, phát âm rõ, tránh những từ ngữ Pháp khó hiểu ngay cả đối với lính Pháp ít học. Anh khoan khoái nhận thấy những thái cực tư tưởng trên mặt bọn tù binh dần dần nhích lại gần nhau, tuy chưa nhập hẳn vào điểm trung tâm mà anh khoanh sẵn: tin tưởng ở chính sách khoan hồng và nhân đạo của chính phủ cụ Hồ Chí Minh. Chưa tin, rồi chúng nó sẽ tin...

Anh quay sang bên, nói tiếng Việt:

- Hôm nay bấy nhiêu là vừa, cho tụi nó nghỉ.

Đồng chí trung đội trưởng gật đầu, bước tới rập chân đứng nghiêm, hét: “Gạc-đa-vu”. Cả lớp vọt dậy, thẳng người. Khánh xoay lại đợi. Đáng lẽ làm động tác báo cáo để cấp chỉ huy ra về, đồng chí kia lại hô lệnh cho về trại: “Ô-căng!”. Nhắc mãi vẫn quên. Khánh hơi bực, bước ra khỏi bục giảng kết bằng tre, vẫy cậu Suyền thư ký riêng mang ngựa đến.

Chính trị viên trại tù hàng binh là một đồng chí ít học từ ngành công an đưa sang, một lần rụt rè đề nghị với anh Hai Khánh nên ở lại trong trại với trung đội bảo vệ, xảy ra điều gì rắc rối nhờ anh chỉ bảo giúp cho. Khánh cười nhạt:

- Đồng chí quên rồi. Tôi là phó ban địch vận tỉnh, vì thiếu cán bộ mới kiêm việc này, nằm chìm vào đây bỏ công tác toàn tỉnh cho ai ? Mà ban đêm chỉ có xin đi ỉa đái chớ rắc rối gì ?

Đồng chí chính trị viên chỉ còn biết gãi tai, nói lảng.

Trại tù binh Âu - Phi đặt trong một hóc núi rậm cây, xa làng, có hàng rào tre gai vây kín, được canh gác kỹ. Trại hàng binh lập ở mé ngoài, cách một quãng đồi trọc. Được phân công về nắm hai trại này, Khánh cố tránh cảnh sống chui rúc nơi hoang vắng, dạo quanh vùng tìm chỗ ở riêng. Anh chọn được nhà Bảy Suyền rất tiện lợi: cách trại chừng hai cây số, gần chợ và con đường tỉnh dẫn xuống thị trấn Tam Kỳ, nằm cuối xóm đông dân nhưng vẫn cách quãng vừa đủ giữ yên tĩnh, dừa mọc chung quanh cao vút che mắt máy bay quần tìm đích.

Đó là một nhà thờ họ khá lớn, được sửa lại theo kiểu nửa cổ nửa kim, nhác trông giếng cái đình với mái cong lợp ngói âm dương, xem kỹ mới thấy nhiều cửa kính và lá sách, nền lát gạch hoa sạch bóng, trên mái cũng lắp kính lấy ánh sáng. Chung quanh, tòa ngang dãy dọc khá nhiều. Tất cả nằm trong một khu vườn rất rộng trồng cây ăn quả, ngoài cùng có lũy tre dày bao kín.

Khánh mới hỏi ướm một câu, đã được chủ nhà sốt sắng mời vào, dẫn đi xem khắp nơi, nhường luôn cho một dãy buồng thoáng mát, đủ bàn ghế giường, tủ. Tuy ngờ ngợ trước lối đón rước quá vồn vã này, Khánh vẫn dọn đến ở cùng với cậu cần vụ được gọi ngọt là liên lạc. Cậu này rất ưng ý khi anh chủ nhà bảo chỉ cần gùi gạo và cùng ăn rau mắm với gia đình, khỏi lo bếp núc. Những mâm cơm ăn chung ba người được nấu rất khéo và luôn luôn đủ thịt cá.

Vài hôm sau, anh xã đội trưởng đến gặp Khánh cùng đồng chí chính trị viên tại phòng khách của trại, cho biết về Bảy Suyền.

Ông nội Suyền là chánh tổng giàu khét tiếng, mê cờ bạc bán dần ruộng đất, ấy chính là ông cụ tám mươi, râu tóc trắng xóa, đã lẫn nặng, mà Khánh không bắt chuyện được. Cha Suyền làm thầu khoán phát tài, khi nhận hương hỏa mới sửa lại ngôi từ đường theo kiểu tự nghĩ ra, chuộc lại ruộng đất được vài chục mẫu. Sau Cách mạng tháng Tám ông ta ứng cử vào Quốc hội, tốn khá tiền thuê người đi cổ động, vẫn không trúng. Ít lâu sau, ở quê có tin đồn ông ta dính vào ổ Quốc dân đảng phố Ôn Như Hầu, bị công an bắt tại Hà Nội. Gần ngày toàn quốc kháng chiến ông ta về nhà, rồi độ một năm sau lại biến đâu mất. Bà vợ kêu vùng này gần mặt trận, sợ bom, dẫn hai con nhỏ vào Quảng Ngãi, rồi cũng chẳng thấy tăm hơi nữa. Ba người chị của Suyền lần lượt dọn về ở nhà chồng. Ra vào khu nhà thênh thang ấy chỉ còn bốn người: ông nội, một bà cô bốn mươi tuổi không chồng, một người ở già trông nom ông nội, và người cháu đích tôn là Bảy Suyền mới ngoài hai mươi, chưa vợ. Ho sống bằng ruộng đất cho thuê, rất ít khách đến thăm, cổng thường khóa im ỉm. Bầy chó của họ dữ khiếp, hay chui rào ra đường đớp người, may nhờ lệnh giết chó mới dẹp được.

Cán bộ xã thôn lúng túng trong cách đối xử với gia đình này. Ruộng đất của họ không thể xếp vào loại vắng chủ để đem tạm cấp. Nhà họ thừa chỗ nhưng ngay cả đồng bào tản cư cũng ngại đến ở, nhà càng to càng dễ ăn bom. Suyền học cao, nghe nói gần đậu tú tài, nhưng được mời nhiều lần vẫn không nhận công tác gì, chỉ lâu lâu mới miễn cưỡng đi họp xóm vài tiếng. Năm bảy ngày một bận cậu ta đạp xe xuống Tam Kỳ hay ra Thăng Bình, chở về mấy thứ hàng ngoại khan hiếm với số lượng các trạm gác cho phép: vài, dầu lửa, thuốc tẩy, giấy vở... Các thứ khác, bà cô mua ngay ở các quán hay trong chợ.

Hai Khánh bật cười:

- Tóm lại, chẳng bới ra chứng cớ gì mà vẫn đáng ngờ, phải không ?

- Dạ, thiệt vậy. Cái hành tung của anh ta khó am tường hết sức. Cha mẹ ảnh, cầm chắc là nhảy về thành thị ở với Tây rồi. Phần ảnh có liên lạc gì không, lãnh việc gì bí mật không... Anh Hai về trú đóng ở đó phải giữ chừng súng đạn, tài liệu. Cũng nhờ anh để ý coi giùm thử...

Khánh đứng lên tỏ ý dứt chuyện, vỗ vai anh xã đội:

- Cứ yên bụng. Cậu xem, Tây trắng Tây đen hung hãn thế mà bộ đội ta còn trói giải về hàng xâu hàng xốc, chúng mình còn dạy cho nên người, kể gì cậu ấm gầy nhom, xanh rớt ấy !
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #123 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2016, 09:38:30 am »

Chiều hôm sau, Suyền từ Nam Kỳ về, lúi húi rót dầu vào đèn măng-sông, bơm lên thắp thử. Cậu treo đèn lên, cười tươi:

- Thua gì đèn điện, anh Hai ! Dạo này công an cho đi lọt mỗi người ba chai dầu lửa, em mới đem cái đèn hư xuống Tam Kỳ sửa. Mấy tháng trước, em bán lúa đem tiền về cho mẹ trong kia, người ta bán ba đồng vừa đúng một cái nắp bật lửa rót dầu chưa đầy!

Khánh cố tìm một nét gì khang khác trên nét mặt và trong giọng nói của cậu chủ nhà. Không thấy. Bà cô lặng lẽ bưng mâm cơm đặt trên bàn, hơi cau mày khi nhìn ánh đèn quá sáng, hất hàm về phía cổng. Suyền cười, khép cửa sổ lá sách:

- Thí nghiệm một bữa cơm thôi, ai dám xài bảnh để thiên hạ chửi. Anh Hai sao chẳng biết, chớ em thấy hòa mình với dân cày thiệt là khó. Hơi khác họ một chút là bị chê bị trách lập tức. Hồi mới nổ súng, du kích dọa đốt cả tủ sách nhà em, nói chứa sách Tây để theo Tây !

- Cậu để đâu, mấy hôm nay mình không thấy cuốn nào ?

- Lát nữa anh coi. Bây giờ mời anh uống chén thuốc cho khỏe, ăn ngon cơm.

Suyền thò tay xuống góc cột, nhấc lên một chai nước màu nâu nhạt có gắn xi trên nút, dán nhãn khắc gỗ: Nước vỏ dền - Chuyên trị sốt rét, thiếu máu, kém ăn ngủ - Xưởng bào chế K.12. Khánh xua tay: “Mình không sốt rét đâu”. Nhưng Suyền vẫn tủm tỉm cạy xi, dùng que xoắn lôi nút ra, rót hai ly. Khánh nhấc ly lên ngửi, bắt được ngay mùi rượu cất bằng nếp thơm nồng, nặng độ.

- Nhãn với khằn là để che mắt thế gian thôi. Đố ai tìm được cái xưởng K. 12 đặt ở đâu. Họ ngâm chút vỏ dền, thêm vị canh-ki-na, uống cũng đậm. Mời anh, linh động thử một lần !

Rượu rất ngon, nhắm với cá thu nướng Suyền mới mua về và món nộm đu đủ chua ngọt rất dẫn lửa, Khánh không quen uống mà nhấm nháp tới ba ly. Thấy đã hơi chếnh choáng, anh úp ly xuống mâm, xới cơm ăn, nghĩ thầm: “May cho mình, cậu liên lạc đi vắng, thằng ấy chúa thần là bép xép...”.

Chiều hôm sau nữa, Suyền mới đưa Khánh vào chỗ tủ sách. Bên cạnh mấy chục cuốn tiếng Việt in trước Cách mạng là cả một đống năm sáu trăm cuốn tiếng Pháp, xếp chồng chất trên nhũng tấm ván dài kê chân niễng, trong một buồng xép kín đáo. Xem qua các gáy sách, Khánh nhận ra đủ loại: văn học cổ điển, trinh thám, phiêu lưu, khiêu dâm, tôn giáo.

- Em mua trụm tủ sách của thằng cha chủ rạp xi-nê ở Đà Nẵng, hồi mới đảo chính Nhật xong, đám bồi bếp đang khuân đi bán làm giấy gói hàng. Thuê xe ngựa chở về chất đống. Ba em la một trận thất kinh, ổng đưa tiền biểu đi mua thứ khác mà !

- Hồi trước cậu học tới đâu ?

- Mới đang học trò anh. Gần hết xơ-gông 1 trường Khải Định thì bị đảo chính. Các bạn cũ của anh ở Huế còn nhắc tên anh, học giỏi, bơi giỏi, đẹp trai, các cô nữ sinh Đồng Khánh cứ mê mệt...

Khánh mỉm cười, đón một xúc động dìu dịu tỏa khắp người như gió mát trưa hè. Cái tên Hăng-ri Ung Viết Khánh vẫn còn vang đến lớp mới lớn ư ? Ấy là cậu này chưa từng nghe tiếng rì rào dội lên trong khán già khi Khánh từ sau cánh gà bước ra trong bộ áo quần của chàng Prince Chang ant 2 sắp đánh thức nàng Bạch Tuyết trong rừng, hay là vai hoàng đế Na-pô-lê-ông đối đáp với người lính gác, trong những vở kịch hát tiếng Pháp dịp cuối năm học...

Một thứ phản xạ nào đấy bên trong Khánh chợt lôi ngược anh lại.

Anh đã từng tô đậm trong nhật ký mấy dòng, còn gạch đít bên dưới:

Ta được ưu đãi trong quá khứ
Ta dứt khoát căm ghét quá khứ
Ta vĩnh viễn đoạn tuyệt quá khứ
Ta trở về với người lao khổ
Ta sẽ thành một người cộng sản.


Khánh hoàn toàn thành thật với mình khi viết những câu quyết liệt ấy, chưa một ai được xem, như con ve sầu lột xác khi thật vắng. Nhưng các thứ cám dỗ cứ đến từ mọi phía... Vade retro, satana ! 3

Anh quay lại, nghiêm khắc:

- Học khá thế, sao cậu không kiếm công tác gì phục vụ kháng chiến ?

- Anh coi đó, cán bộ quanh đây người mù chữ, người mới học bình dân...

- Các trường đang mở lại, cậu đi dạy được chứ ?

- Em là đứa sinh ra tiên thiên bất túc, các thầy thuốc chạy hết, nói không sống nổi đến tuổi lên ba... Bây giờ em đi dạy xa, ăn cơm trọ, chắc nửa tháng là gục luôn. Ước gì em được mạnh bạo như anh, em ra trận từ lâu...

------------------------------------------------------------
1. Năm thứ nhất cấp ba (phổ thông trung học, thời Pháp thuộc).
2. Hoàng tử Đáng Yêu, tên một nhân vật trong truyện cổ “Bạch Tuyết với bảy chú lùn” nổi tiếng ở phương Tây.
3. “Hãy lui đi, quỷ Xa-tăng !”. Lời của Chúa Giê-xu mắng quỷ trong Kinh thánh đạo Thiên chúa, bản La-tinh.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #124 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2016, 09:41:49 am »

*
*   *

Hai Khánh không nhận thấy gì khác thường trong những ngày tiếp theo. Lòng mến phục của Bảy Suyền không giảm sút, chỉ tăng thêm, nhất là sau khi anh giảng cho Suyền mấy đoạn khó trong thơ Va-lê-ri và văn siêu thực.

- Em mới gặp anh, chớ nghe tiếng anh từ lâu. Tụi Tây được anh dạy, trầm trồ khen anh ghê đi.

- Cậu gặp đứa nào ?

- Hai thằng Pháp, một tên là Mạc-xen, thằng kia không rõ, ghé ăn quán ngồi bên em. Thằng Mạc-xen nói anh giảng chính trị còn hay hơn ông giáo dạy văn của nó, bên Pháp... Dầu không nghe đồn, em cũng đoán được anh là ai. Anh mới xuống ngựa bước vô ngõ, em biết là trí thức bậc cao liền à.

- Ái chà, Khổng Minh tái thế !

Khánh gạt đi, nhưng hiểu cậu này không bịa, chỉ thêm dấm ớt. Hắn ta trẻ mà, quý ai thì bốc thơm lên chín tầng mây, ghét ai thì vùi dưới bảy lớp đất !

Vả lại Khánh cũng biết người khác nghĩ gì về mình. Mỗi người một phách, quá khen hay quá chê đều có đủ. Lấy ý kiến trung bình của số đông cán bộ thì Khánh là một trí thức trẻ, sớm tiến bộ, có tài, phải cái kiêu ngầm và thích sống cô độc. Riêng đối với các cô cậu học sinh mới rời ghế nhà trường theo kháng chiến, Khánh là thần tượng. Bước vào đêm lửa trại thanh nien, đến nói chuyện ở một trường trung học tản cư, ghé qua bệnh viện khám sức khỏe, anh thường lọt vào giữa những khuôn mặt ửng đỏ, những nụ cười cởi mở hay duyên dáng. Khánh nổi bật lên với vóc người cao và dẻo của lực sĩ bơi lội, bộ mặt đẹp trai đã trải sương nắng, lời đối đáp hóm hỉnh. Cộng vào còn thêm cặp áo quần ka-ki ngoại ép thẳng nếp dưới chiếu, đôi ủng da, cây súng Côn 45 trong bao Mỹ, con ngựa to lớn gõ móng đợi ngoài sân: Ban binh vận tỉnh chu cấp rất khá để giữ tư thế oai vệ cho người lên lớp tù binh Âu - Phi, còn dạy tù binh ngụy thì sao cũng xong...

Trong vùng tự do Nam Quảng Nam mọc đầy những dãy phố tranh tre nứa lá của đồng bào thành thị và các huyện Bắc tản cư vào. Lâu lâu, một trận bom đánh vỡ một khu nhà xúm xít, chỉ năm bảy ngày sau những chuỗi lều rời lại nối tiếp nhau hiện lên trên mấy khúc đường có ít nhiều bóng cây chung quanh đấy, người dân lìa quê thi gan chịu đựng để giữ lòng trung với Tổ quốc và Cụ Hồ. Các cô hàng quán nhớ mặt thuộc tên các anh cán bộ và bộ đội rất nhanh. Mỗi dịp đi đường, Khánh được nhận không biết bao nhiêu câu chào mời đon đả giàu ngụ ý, kèm ánh mắt nói nhiều hơn môi. Anh chỉ xin lỗi và giục ngựa đi gấp. Rất may là trong kháng chiến khó gửi thư, nếu không số thư gửi cho Khánh sẽ đọc không hết.

Kể ra, khi cuộc sống xô bồ chông chênh dưới bom đạn dễ khiến cho trai gái buông thả với nhau, giữ mình được như Khánh là giỏi. Một chàng trai hai mươi lăm tuổi rất khỏe mạnh, lại được lắm cô mê tơi, vẫn thường cẩm thấy cần đàn bà. Khánh cố cưỡng lại đòi hỏi ấy. Người đàn bà bước vào đời anh chỉ gây rối. Một Xi-mo-nét Mỹ Duyên cùng mối tình đầu rất éo le đã quấy đảo anh nhiều năm. Tiếp đó, một trận ốm và những cơn buồn chán đã đẩy anh vào tay Năm Bưởi, cô gái cùng làng.

Mỗi lần Năm Bưởi với đứa con trong bụng quay về ám ảnh, Khánh cố gạt đi, xua đi, quên đi. Anh không hề yêu Bưởi. Anh chỉ xiêu lòng khi một cô gái cố tình hiến thân. Có thai, cô ấy khoác cây súng kỵ binh Nhật lên vai, ra đi không một tiếng than thở... Nghĩ đến làm gì. Chỉ nên nhớ bài học của một lần trót dại...

Bảy Suyền xin giấy xã đi thăm người chị lấy chồng trên huyện Tiên Phước. Có lẽ được xã mật báo sao đó, trạm gác ở cuối huyện Tam Kỳ chặn xét cậu ta rất kỹ, cả hàng lẫn người. Suyền chỉ đèo sau xe đạp một gói to mắm ruốc, tôm khô, cá chuồn muối, kèm một chai dầu lửa, những thứ ai lên vùng trên cũng mang theo. Trong người không có gì đáng nghi. Ba ngày sau cậu trở về lắc đầu kể với Khánh vụ soát kéo dài hàng giờ, vẫn cười:

- Còn đỡ hơn hồi mới nổ súng. Cuốn vở học sinh in bản đồ Đông Dương trên bìa sau, kèm một cây bút chì xanh đỏ. Vậy là mấy ông du kích i tờ ghép tội mang theo bản đồ với cờ Pháp !... Thiệt may, em gặp bác nhà đi họp Mặt trận Liên Việt tỉnh, ở trọ nhà chị Tư em, gởi thơ với tiền cho anh đây.

- Bác nào thế ?

- Bác tú Đỉnh, ba anh chớ bác nào ! Anh không biết à, bác bây giờ là phó chủ tịch Liên Việt huyện Tây Quảng. Bác đem tiền với đồ tiếp tế cho anh, tính họp xong mang xuống đây, gặp em bác gởi luôn. Con ngựa Hường nhà anh già rồi, đi bước một như ta đi bộ thôi, bác chỉ cưỡi nó cho đỡ mỏi chân.

Suyền trao cho Khánh lá thư dán kín với xấp giấy bạc bốn ngàn đồng tín phiếu, kèm gói quà quen thuộc gồm các thứ thổ sản làng Linh Lâm.

Đã hai năm nay Khánh không về Linh Lâm tuy chỉ cách một ngày rưỡi đường bộ trong vùng xa địch, đi ngựa chưa hết một ngày. Anh ngạt cái không khí vay mượn gượng gạo trong ngôi nhà âm u nọ. Năm xưa người ta đóng với nhau những vai cha mẹ, con cái, chị em đã đầy ép uổng, gần đây lại đóng thêm vai nhân sĩ yêu nước, trí thức tiến bộ nữa, với điệu cười xởi lởi trước mặt mọi người và nỗi khinh ghét hằn học khi cửa đóng kín.

Quan phủ Đỉnh rời thành phố Quy Nhơn trở về quê với bộ râu năm chòm nuôi dài, cặp bà ba trắng giản dị, cùng niềm tin rằng chính phủ Cụ Hồ không truy tội cũ của giới quan lại. Ông ghé tìm Khánh ở cơ quan - lúc này anh đã về làm địch vận ở Quảng Nam - trao lá thư của bà Lợi Thịnh. Một lần nữa me Khánh lại chịu ơn ông chồng bước kế. Vừa đánh hơi biết thành phố sắp phải tiêu thổ, ông đã chạy bán được căn nhà hai tầng của tiệm buôn Lợi Thịnh, lấy toàn vàng diệp. Nửa tháng sau, những căn nhà liền phố chỉ tháo bán được cánh cửa và đồ điện trước khi dân quân đến đập tường. Me Khánh đưa các em lên tàu suốt ra thẳng Hà Nội, dựa vào mấy ông anh bà chị, ngoài ấy mới qua nạn đói nhưng có vốn vẫn kiếm được đủ ăn, còn trong Nam này chiến sự từ Nam Bộ cứ lan ra mãi. Thằng em Rô-be Chương không theo me, vác cây đàn ghi-ta nhập vào đoàn Văn nghệ nào đó ở Phú Yên. Từ đó Khánh thỉnh thoảng nhận thư gửi từ Hà Nội và Phú Yên, đến ngày cả nước nổ súng thì vắng hẳn.

Chỉ còn ông phủ Đỉnh ở Linh Lâm là người thân để Khánh lui tới. Tất cả những ai xa nhà đều cần một vài nơi để ghé qua tạt về trên những dặm dài công tác, dù chỉ để hưởng một tối được gọi bằng con, anh hay chú. Và nếu có được một bà mẹ nuôi thân thương, một người vợ đảm đủ sức tự túc nuôi con và tiếp tế cho chồng, ấy đã là hạnh phúc đáng thèm thuồng. Những người không biết rõ cảnh nhà của Khánh đều ngạc nhiên vì anh rất ít nhắc đến cha mẹ tuy vẫn nhận nhiều thư, quà, tiền gửi đến. Nhiều đồng chí rẽ thăm nhà Khánh, khi kể lại cụ tú Đỉnh tiếp họ niềm nở và tỏ ra học nhiều biết rộng trong khi trò chuyện, thường thấy anh nghe lơ đãng, không hỏi thêm, có lúc đứng dậy xin lỗi để đi việc gấp.

Khánh không về, ít viết thư trả lời, nhưng ông bố hờ chẳng lấy làm điều, giữ nguyên mối dây nối với anh.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #125 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2016, 09:43:58 am »

Lần này bóc thư ra xem, Khánh nghĩ về cái tên “cụ tú Đỉnh”. Ông ấy chưa từng đỗ tú tài, nho học cũng như tây học. A à, hiểu rồi... Ở huyện Tây Quảng ít nhà khoa bảng, người ta thường gọi tên những người đỗ đíp-lôm thời Tây lên ông tú, và nếu khao làng đủ lệ thì cũng được lý hương xếp ngồi cùng chiếu với các cụ tú lều chõng bút nghiên. Ông ấy khôn thật. “Ông Đỉnh” hay “ông Ba Đỉnh” nghe thấp kém quá, ngắn dài cũng đã nuôi được chòm râu. “Cụ tú” mới ra dáng trí thức chứ. Dù sao ông cũng học qua trường Hậu bổ ở Huế...

Đọc lướt những dòng thăm hỏi khá nồng nàn, Khánh bỗng giật mình dừng lại. Anh nhắm mắt vài tích tắc, mở mắt đọc tiếp:

“... Cùng về với vợ chồng ông Phan Chanh có cô Năm Bưởi. Cách hai tháng cổ sanh một đứa con trai to mập lắm. Cà nhà ông Tư nói là cổ lấy một anh bộ đội, cưới xa nhà ở Quảng Ngãi, mới có tin ảnh hy sanh ở Tây Nguyên, mà sao cả làng đều đồn đại đó chánh là con của anh Khánh, ảnh bỏ không nhìn. Ba chẳng bịt được miệng tiếng thế gian. Vậy nhắc để con giữ ý...”.

Bưởi đã khai cho con một lý lịch giả !

Trong chớp loáng, Khánh thấy lại cặp mắt mê đắm của Bưởi, giọng thì thào ngất ngư bên tai: “Trời sập em không sợ, nhứt đánh nhì đày em không sợ, chỉ sợ anh không thương em...”.

Cây súng kỵ binh trên vai, Bưởi đi dự chiến cùng bộ đội ở mặt trận Bà Rén, bị thương ở mông, vết thương lắt léo ấy buộc cô phải nằm bệnh xá hơn tháng. Cô sắp ra viện thì Khánh được khiêng vào, mê man vì sốt rét ác tính. Dạo ấy bệnh xá đang bị máy bay lùng riết, nhân viên thiếu, mà ca của Khánh cần người nâng giấc suốt đêm, ban ngày cõng ra hầm nhiều lần. Các thầy thuốc rất mừng khi Bưởi tình nguyện ở lại săn sóc đồng chí phó ban địch vận tỉnh rất nổi tiếng này, người cùng làng nữa càng quý.

Hai cánh tay quen đánh búa lò rèn của Bưởi không khéo léo mấy nhưng rất khỏe. Bưởi đào thêm một cái hầm ngay bên giường trọng bệnh, lót sẵn ván chiếu, khi cần cô xốc Khánh trên hai tay đặt xuống đây, lúc nguy cấp mới cõng Khánh theo đường hào ra hầm sâu ngoài vườn. Cô ngủ ngồi chập chờn bên Khánh đêm này qua đêm khác, chỉ cười khi thấy các cậu cứu thương le lưỡi phục dài: “Tôi ở du kích mà, thức đêm gác với tuần quen rồi...”. Bưởi cảm thấy mình đang truyền dần sức khỏe sang cho Khánh ngày một ít, như người ta tiếp máu; trong thân thể người con trai dần dần trở lại trẻ đẹp này có rất nhiều da thịt của cô. Chỉ cần nhận được một ánh mắt trông theo, một nụ cười biết ơn, một lời giục đi nghỉ, Bưởi đủ mạnh lên như uống sâm và được đền bù tất cả.

Cuối cùng, điều không cưỡng nổi đã xảy ra. Bưởi mê cuồng, Khánh chỉ yếu lòng và thương hại. Rồi họ chia tay lặng lẽ. Khánh trở về Ban địch vận, Bưởi ở lại bệnh xá làm cứu thương.

Ngót ba tháng sau, Bưởi đem thuốc đến trại tù binh, gặp riêng Khánh báo tin có thai. Trước vẻ hốt hoảng mà Khánh không kịp giấu, Bưởi chỉ cười nhạt:

- Cậu cử đừng lo. Con nhà nghèo hèn như tôi không dám đòi làm dâu quan phủ đâu, chỉ ghé chào cậu một tiếng cho trọn tình nghĩa đồng hương.

Bưởi thôi việc ở bệnh xá, biến mất.

Ít lâu sau, một nhóm dân công làng Linh Lâm đi lãnh muối, gặp Khánh dọc đường, cho biết Năm Bưởi đã lấy chồng bộ đội, anh này phải cưới gấp tại Quảng Ngãi để kịp đi chiến dịch. Đường sá cách trở, anh Cả Chanh thay mặt họ nhà gái, cũng như hồi ảnh cưới chị Thùy phải nhờ anh La Giang làm nhà trai. Cưới xong, vợ chồng cô Bưởi chụp hình chung kèm thư gửi về quê, ác hại sao mà bị lạc mất. Tới lá thư sau của anh Chanh, ông Tư Chua mới biết có con rể đại đội phó, cả nhà cũng ưng ý.

Đến nay sự thể đã hiện rõ: Cả Chanh ém nhẹm vụ em gái chửa hoang bằng một người chồng tưởng tượng. Nhưng đứa trẻ còn đấy, càng lớn lên càng giếng Khánh, mới hai tháng dân làng đã nhận ra...

“Cụ tú Đỉnh” biết thóp được chỗ yếu của Khánh rồi, chắc gì cụ để yên. Còn tay Bảy Suyền khó dò này nữa, hắn biết về Khánh tới mức nào, sẽ dùng những điều hắn biết vào việc gì ?

Khánh gục đầu xuống bàn, bưng trán.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #126 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2016, 09:45:29 am »

*
*   *

Lúa từ hàng binh cũ được giao về liên khu mới mươi hôm, lại một lúa mới kéo về, hầu hết là lính Phi: bọn ta-bo gốc Ma-rốc, lính mặt rạch từ các thuộc địa Trung Phi, cả một số Ma-đa-ga-xca có nét gần người Đông Á. Khánh bận rối mù vào những buổi lên lớp, lấy cung, lập hồ sơ. Anh quên nhanh vụ rối ren vừa rồi. Đánh giặc rầm rầm, thì giờ đâu mà loay hoay với những mối tơ lòng !

Quả là trại cần một thông dịch viên hằng ngày lui tới, chí ít cũng để giảng giải nội quy, chặn những tên du côn và dỗ mấy đứa tuyệt vọng chờ chết. Giao cho một tiểu đội trưởng đã từng đi lính thợ O.N.S. ở Pháp tới năm năm, chỉ mấy hôm sau Khánh đã nhận thấy anh này nói lua lua nhưng dịch sai toét. Thử một chiến sĩ trẻ từng học trường dòng với cố đạo Pháp, cậu này lại mắc cái tật chắp tay cúi đầu và thưa gửi quá hạ mình trước tù binh, không sửa được. Vài người nữa chỉ biết tiếng Pháp ở mức điểm chen vào tiếng Việt để vây vo trước cô hàng cà-phê cô-táp.

Không ngờ đồng chí chính trị viên lại gợi ý cho Khánh dùng Bảy Suyền làm thông dịch:

- Dụng nhơn như dụng mộc, anh à. Mình nói gì ảnh dịch nấy, có phải ảnh tự nghĩ ra đâu.

Khánh còn giữ ý:

- Anh hỏi lại các đồng chí địa phương coi thử, chưa chắc họ đã tin...

- Tôi hỏi rỏi. Họ nói nhờ anh Khánh kèm riết, chắc cậu ta chịu ra khỏi vỏ ốc, lần hồi mới theo kháng chiến.

Suyền chần chừ không nhận việc ngay:

- Cho em suy nghĩ thêm đã. Theo anh làm đồ đệ thì em muốn lắm, vậy chớ còn biết bao nhiêu ông cấp trên ra lệnh tới lui...

- Thì cậu làm thư ký riêng của mình là tiện nhất, chỉ có một cấp trên thôi !

Từ đó cậu chủ nhà niềm nở nhưng xanh gầy biến thành thư ký riêng của đồng chí phó ban địch vận tỉnh. Cậu ta đến trại đúng giờ, cần mẫn dịch viết các bản khai lý lịch và dịch miệng cho anh chính trị viên hỏi chuyện tù binh, hết giờ mới về, y hệt một học trò hay công chức chăm chỉ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #127 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2016, 09:50:26 am »

Chương V


Vừa bước qua chỗ rào trổ sau nhà, anh Bảy Quý đứng sững lại, mặt ngây ra.

Từ sau lớp phên tre không trát dội ra những tiếng hăm dọa. Tiếng đập, vỗ. Tiếng thở hầm hập và hừ hự trong mũi đầy hăm dọa. Tiếng chân dẫm đất và tay cào. Cả tiếng cười rinh rích của phụ nữ... Quái thật, vợ chồng tay bác sĩ Nhật giở trò gì đây ?

Anh Tô Xáng bước dấn tới, vòng ra trước cửa. Cả đoàn kéo theo. Họ thấy ngay một cảnh khó hiểu.

Cậu Ta-kê-đa mặc áo quần bà ba, thắt dải vải ngang bụng, đi chân đất, đang xuống tấn và vờn hai tay tới trước. Cô vợ Bích Thủy cũng mặc hệt như chồng, đứng trên chiếc chiếu rách với dáng điệu hoảng hốt. Bỗng Ta-kê-đa gầm lên:

- Ô-xa-ê kô-mi !

Bích Thủy nhảy lùi, cười rú:

- Mai-ta ! Em mai-ta rồi mà !

Chợt trông thấy đám người đứng trước thềm ngơ ngác. Thủy kêu rối rít:

- Khách đến kia, anh Đa ! Thôi, ma-tê, ma-tê, nghỉ thôi 1. Mời các anh chị...

Mặt còn đỏ rạng và mím môi cố nín cười, Thủy cuốn vội tấm chiếu dưới đất, kéo xềnh xệch chiếc bàn độc và cặp ghế dài trở lại chỗ cũ giữa nhà, trong khi Ta-kê-đa bước tới trước cửa, duỗi ép hai cánh tay cạnh sườn, cúi nhanh và ngửng nhanh:

- Tôi xin kin chao cac đôông chi ! Toi xin moi cac đôông chi vao nha !

Bích Thủy chạy ù vào buồng trong. Chị Sáu Lễ một mình bước theo, hỏi nhỏ:

- Gì kỳ vậy, em ?

- Hì hì, dạ... Ảnh tập võ nhu đạo cho em... buồn cười bỏ xừ... hay lắm chị...

- Tập võ sao lại tức cười ?

- Để sau em nói. Em thổi lửa pha nước cái đã. Hình như có anh Bảy, anh Xáng, đúng không chị ?

Mãi khi lửa đã cháy to dưới cái ấm đất. Thùy mới giảng cho chị Sáu: anh Ta-kê-đa hét Ô-xa-ê kô-mi là anh sắp đè ngửa đối phương trên chiếu, cưỡi sấp lên !

Trong khi ấy, anh Tô Xáng hỏi thăm công việc và cảnh sống của vợ chồng bác sĩ Tạ Kế Đa, tên mới của anh chàng sĩ quan quân y Nhật bị bọn quân phiệt kêu án tử hình vắng mặt. Khi thật bình tĩnh, Ta-kê-đa mới dần dà nhớ các dấu trong tiếng Việt, nói sõi giọng hơn và đỡ chen những tiếng Nhật lạ tai. Anh đã thuộc từ ngữ khá nhiều nhờ công Bích Thủy.

- Kính thưa thượng cấp, đời sống của chúng tôi không gặp sự khó khăn. Công tác của chúng tôi tại bệnh viện này là tốt. Tôi làm được sự giải phẫu các ki-dư... à, các thương tích... và tập rèn sự đánh trận cho tự vệ một chút... tức là các cá chiến đấu giáo huấn...

Ta-kê-đa xoa cái cằm bọc râu lún phún, liếc xuống bếp, chừng muốn cầu cứu vợ. Bích Thủy đang bận nhỏ to với chị Sáu Lễ, anh ta không dám gọi. Anh Bảy Quý đoán ngay cậu này sợ vợ vào loại khá. Kể cũng lạ, nghe bảo đàn ông Nhật coi vợ như người hầu hạ kia mà. “Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật”, dân mình đã đồn thế mãi...

- Tinh thần của nhân viên là tốt, của thương binh là tốt. Tuy vậy, nhưng mà, có lẽ... Tai-hen yô-cư đê-ki-ma-si-ta, kê-rê-đô-mô... chô-tô ket-ten đex nê…  Chúng tôi không có đầy đủ các ya-cư-đai... các thuốc men cần thiết cho sự lành vết thương. Tôi hiểu biết trong chiến tranh luôn luôn có sự thuốc men không đầy đủ, nhưng mà thượng cấp có thể ban cấp thêm cho bệnh viện của chúng tôi. Bởi vì nơi đây gần mặt trận Bắc Quảng Nam, chúng tôi thường xuyên phải chữa cho cả quân đội và nhân dân bị thương do bom đạn của địch gây nên, một vết thương chữa kịp thời có thể cứu được một mạng người hay một phần thân thể !

Câu cuối này Ta-kê-đa nói thẳng một lèo không vấp váp vì lựa chữ, chắc hẳn anh học thuộc lòng trong một bản viết nào đấy, tất nhiên là theo lệnh của cô vợ gốc Hà Nội.

Chị Sáu xách ấm đất từ bếp lên, chế nước sôi vào bình tích, liếc chồng:

- Thủy nó nói vợ chồng anh Chanh có tới đây khám bệnh một lần thôi, hơn nửa năm không thấy ghé lại. Bệnh viện này ở trung tuyến, không chữa được bệnh thần kinh, bệnh bao tử... Còn chị Xáng với hai cháu chống ghe vô vạn Linh Lâm mua cá. Sao, tối nay ta ngủ đây hay đi tiếp ?

Chị hỏi đùa, biết anh Bảy và anh Xáng sẽ giục “lên ba-lô”.

Anh Bảy Quý vào họp ở Nam Bộ, vừa trở về đến khu Sáu đã nhận được điện điều ra Việt Bắc, cả hai vợ chồng. Anh bàn giao gấp cho đồng chí bí thư mới, leo núi ra đến Quảng Ngãi gặp vợ. Sau vài tuần làm việc với Thường vụ liên khu ủy, ghép chung đoàn với anh Tô Xáng bí thư Quảng Nam cũng ra Trung ương để báo cáo, anh Bảy lại chống gậy đi tiếp chuyến vượt núi suốt cả chiều dài đất nước. Tất cả các đồng chí đều lo anh gục dọc đường, dẻo dai đến mấy thì cái tuổi ngoài năm chục không phải chuyện đùa. Anh Bảy cứ cười cười, gạt đi: “Mình leo dốc từ Cực Nam ra, anh em dẫn đường rớt lại đằng sau lu bù đó nghen ! Đừng cử người theo mình, đường rừng hay đường địch hậu đi từng nhóm nhỏ là gọn nhứt !”.

Anh Hồng Long tư lệnh liên khu phải bịa ra lý do: một số đồng chí gốc ngoài Bắc vào Nam chiến đấu đã lâu, muốn về gần quê, ghép chung đoàn với anh Bảy cho tiện thôi, chẳng lẽ anh cấm họ cùng đi ? Thế là, ngoài đồng chí bảo vệ rất khỏe và rất nghiêm khắc của mình, anh Bảy phải “đi chung” với một y tá trưởng đeo túi thuốc căng phình, ba cán bộ trung tiểu đội về quê mà lại mang theo tiểu liên. Tính họ lại hay tương trợ, cho nên ba-lô anh Bảy lúc nào cũng nhẹ bỗng. Cơm nước dọc đường anh chỉ được phép ăn chung với chị Sáu, anh Xáng, còn bộ đội có mâm riêng, chế độ riêng, chính quy mà ! Rốt cuộc rồi cũng cười xòa, không che mắt nhau nữa.

Nghe chị Sáu kể về vợ chồng Cả Chanh, anh Bảy giật mình. Anh định đến Ban tổ chức liên khu ủy hỏi kỹ thêm, rồi bận quá đành thôi, chỉ nhắn ông Hai Rề, Bảy Tộ cùng mấy anh em đáng tin cậy trong ngành hỏa xa đến gặp anh một buổi tối gần ga thị xã Quảng Ngãi, trong khi chờ tàu. Ra đến Quảng Nam, anh thức đêm viết thư gửi về liên khu bàn gỡ rối trong ngành hỏa xa, việc trước tiên cần làm là đưa Ba Mậu đi nơi khác, chấm dứt vai trò bí thư Đảng ủy và quyền giám đốc hiện nay. Cả Chanh đủ sức khỏe trở về ngành cũ được càng hay, nếu không thì nên chọn trong số ba bốn người do anh giới thiệu.

Đường giao liên ra Bắc có nhiều ngả. Anh Bảy chọn đi ngả Linh Lâm, hơi xa hơn nhưng có thế ghé thăm vợ chồng Cả Chanh, bởi anh đoán từ nay đến ngày hoàn toàn độc lập sẽ khó gặp lại người bạn tù khác tuổi đã giúp anh thoát chết bệnh trong nhà lao, người cán bộ cấp dưới đã bị anh đòi hỏi nhiều, phê bình nhiều, mà săn sóc trở lại rất ít. Biết làm sao được. Nay không còn là lúc cắm thuyền trên sông Cửa Đại dưới trăng, thì thào bàn chuyện khởi nghĩa và húp chén cháo cá nấu thật khéo của chị Xáng...

Anh Bảy rất mừng khi biết con thuyền tản cư lênh đênh của mẹ con chị Xáng đang dừng ở gần chợ Huề Bình, trên đường tới Linh Lâm. Chị Xáng đang làm chân tiếp phẩm cho bệnh viện tỉnh đóng tại đấy. Thế là anh “Bát Đập” cũng tiện dịp thăm vợ con trước chuyến đi Việt Bắc, có thể bảy tám tháng hay một năm mới về được.

Càng gần tới chiến khu Hai, tức xê-ca đơ, tức khu vực sông Linh đã khoanh thành cấm địa, anh Bảy càng đăm chiêu: anh sẽ gặp lại một Cả Chanh như thế nào ?


----------------------------------------------------------
1. Tiếng Nhật dùng trong võ nhu đạo. Ô-xa-ê kô-mi: đè ngửa. Mai-ta: xin hàng, Ma-tê: ngừng đấu
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #128 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2016, 09:53:03 am »

*
*   *

Qua khỏi cây càu gỗ lát sạp tre còn mới bắc ngang khe Cốt, anh Tô Xáng dẫn đường gặp một cô gái trẻ gánh đôi thùng tôn rỗng trên vai. Cô né sang bên, cười:

- Chào chú Xáng !

Đang cúi đầu leo dốc, anh Xáng chào lại vội vàng, đi tiếp. Anh nghe tiếng reo lanh lảnh đằng sau:

- Ôi, dì Sáu... bác Bảy nữa kìa... đông anh em quá vậy...

Anh Xáng quay nhìn, trong lúc anh Bảy Quý ghìm chân khựng lại, thốt ra một câu đặc sệt Quảng Nam:

- Ủa, thiệt mi đó hả Thùy ?

- Dạ, cháu có nhớ ai... Chào hết mấy đồng chí... Mời bác, chú, dì vô nhà cháu đã, gấp mấy cũng phải nghỉ chút chớ...

Mãi đến khi đã đặt ba-lô và rút quạt giấy ra quạt, anh Bảy vẫn chưa hết sửng sốt.

Cô gái hồng hào xinh đẹp trước mặt anh kia, đang bưng một khay gỗ đầy những bát nước chè đậm mời từng người trong đoàn, có phải là con Thùy mất trí như chị Sáu đã tả hay không ? Anh chưa hỏi vội, chỉ nghe thật kỹ...

- Anh Chanh đi săn dì ơi. Ảnh rán bắn con cọp ba chân về bắt trâu trên làng Bà-lam, nó khôn ghê gớm, gài kẹp mấy nó cũng né được hết... Dạ, cô Xáng đậu ghe ngoài vạn, tính mua cá về cho bệnh viện. Sáng mai làng đây đánh cá dẫy trên khúc vực dài, chắc được cả chục tạ đó dì. Lâu nay anh em xưởng Cao Thắng không ném mìn xuống sông nữa, cá lớn dồn về nhiều... Tàu bay thả bom bốn lần chú ạ, bà con xóm Chợ dời nhà ở tản ra, hư hại chẳng bao lăm. Dây giữa núi mà chú, nó bay cao chớ không dám chúi thấp, thả trật bật hết...

Một con gió núi chợt lùa vào nhà mát rượi. Anh Bảy ngùng quạt, ngắm quanh.

Nơi Thùy mời vào là một hội trường khung gỗ mái tranh, nằm dưới bóng những cây dầu lai cổ thụ đan cành vào nhau. Bàn ghế đều buộc bằng tre chôn xuống đất, xếp hình chữ U, đầu chừa trống có kê bảng đen và bàn ghế gỗ cho thày giáo hay người báo cáo, bên trên treo ảnh Hồ Chủ tịch vẽ tay tô màu khá đẹp cùng một tấm biển kẻ chữ đỏ tươi trên nền cót nhuộm vàng “Câu lạc bộ Thanh niên”. Cách hội trường chừng mươi thước, cũng dưới bóng cây là một nhà tranh nhỏ hơn, vách trát đất, nhà ở của vợ chồng Thùy.

Đợi khi Thùy đi lấy thêm nước chè, anh Xáng mới lắc đầu, bảo khẽ chị Sáu:

- Con nhỏ chưa tỉnh hẳn đâu chị.

- Sao anh biết ?

- Nó kêu anh Bảy bằng bác, lại kêu chị bằng dì, còn lộn xộn lắm.

Chị Sáu cười, lườm chồng:

- Hồi xưa nó đã kêu vậy rồi, riết thành quen không sửa được. Là tại tôi với anh Bảy chưa lần nào tới thăm vợ chồng nó cho đàng hoàng, đủ tay tư... Sao đó ông trưởng đoàn ? Anh Xáng chưa cặp vợ con. Cả Chanh đêm nay hay sáng sớm mai mới về đây, đồng chí bảo vệ cấm xuôi ghe ban ngày, mời ông hạ lệnh !

Ba anh chị quyết định rất nhanh: ở lại, chiều mai sẽ thuê đò đọc xuôi sông Linh và sông Thu Bồn, ngủ tại trạm Trung Phước, ngày kia bắt đầu leo núi.

Thùy reo khi nghe báo tin:

- May cho cháu quá. Cháu không giữ được khách, anh Chanh về lại rầy cháu tới chết ! Riêng chú Xáng thì không dám níu kéo đâu, nãy giờ thấy chú nhấp nhổm hoài, tội nghiệp !... Dạ, anh Chanh khỏe rồi, vài tháng nay không thấy đau bao tử. Là nhờ cụ Chín Chưởng vừa chữa vừa dạy thuốc nam cho, ảnh bu theo học miết. Cụ Chín ở chợ Huề Bình đó, hồi ta mới khởi nghĩa mời cụ làm chủ tịch làng. Cụ thương anh Chanh lắm, hai thầy trò lội rừng kiếm thuốc hoài. Cháu cũng nhờ thuốc cụ cho mới lại người đó dì. Cụ cứ than van muốn truyền nghề mà chẳng biết truyền cho ai, con cháu kéo nhau thoát ly hết, chung quanh thì trọng thuốc tây mà khinh thuốc ta, rốt cuộc nằm trên đống thuốc của ông bà mà chết bệnh...

Trong khi anh em trong đoàn xuống khe cốt tắm giặt, anh Bảy và chị Sáu sang thăm nhà Thùy. Họ đi từ ngạc nhiên này đến thích thú khác.

Cũng là nhà tranh vách đất cả thôi, nhưng nhờ bàn tay thợ của Cả Chanh, ông Tư Chua, của anh em xưởng Cao Thắng II nữa, căn nhà trở nên khác thường.

Ông Tư đưa thuyền xuôi Thu Bồn chở sắt thép khi ta bắt đầu phá đường sắt, cũng mua về nhiều kính cửa sổ ở các thị trấn tiêu thổ: buồng ngủ của vợ chồng Thùy rất sáng và thoáng. Cái bếp kiểu giường có đến bốn tầng để xếp than củi và sấy lắm thứ, còn lắp thêm ống tôn đưa khói ra ngoài và cho tản xòe vào những tán cây duối rậm lá. Một cặp heo choai ủn ỉn trong cái chuồng có máng rửa và hố chứa phân, bên trên thêm tầng nuôi gà và tầng để cám, bắp, thóc lép.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #129 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2016, 09:54:16 am »

Tiếng giã gạo dội đều đều mãi từ một gian nhà khác, không thấy bóng người. Thùy tủm tỉm chỉ cho xem cái cối giã gạo bằng nước lấy mẫu ở các lò chén bát. Dòng nước chảy từ một mạch ngầm trên sườn đồi, dẫn theo những ống tre to chạy luồn trong vạt tranh cao che mắt máy bay, đến một bể chứa bằng gỗ khá lớn đặt trên cháng ba cây, xối xuống rất mạnh bằng ống tôn, đầu ống lắp thêm một khúc vòi cao-su của máy bơm.

- Máy móc gì đây, Thùy ?

- Dạ, máy điện đó dì.

- Giỡn hả ? Bộ nhà mày xài điện thiệt sao ?

Thùy cười dài, nhấc đầu ống cao-su đặt sang một máng gốc khác. Dòng nước tuôn vào một thứ xe nước lắp trên giá gỗ làm nó bắt đầu quay. Một bóng đèn điện treo ngay trên đầu chị Sáu đỏ dần lên tới khi sáng trắng. Chị Sáu há miệng mấy giây mới bật lên thành tiếng:

- Quá tay ! Bảnh hết chỗ nói !

- Cũng tại cái máy này mà cháu phải làm quản trị câu lạc bộ đó... Cha cháu gặp cái xe gì ta phá, hất nhào ngửa dưới chân cầu, ổng tháo cái máy hư chở về, mấy năm bỏ chỗ góc lò rèn. Anh Chanh về sửa miết mới chạy được, đi xin đâu mấy khúc dây, mấy bóng đèn, bắc ra chỗ bãi trước nhà để thanh niên diễn kịch. Họ mê quá, mới xúm dựng luôn hội trường bên nhà cháu, đưa điện qua. Đêm nào cũng đông dì ơi, không ca hát cũng học hình dân, học bổ túc. Anh Chanh dạy toán một tuần ba đêm. Các anh bên xưởng Cao Thắng qua đọc bản tin, nói thời sự, thiệt tới vui. Các ảnh có đài to bắt được đài Trung ương mình, bị là chỗ bí mật quân sự không để bà con vô nghe được, chép tin rồi đem ra đây đọc thôi. Các ảnh còn hẹn sửa cho một cái ắc-quy nữa.

- Nó là thứ gì ?

- Dạ, nó chứa điện lại, máy không chạy cũng thắp đèn được, nghe nói vậy chớ cháu chẳng hiểu.

- Bây giờ dì hỏi, phải nói thiệt nghen... Cơm gạo nhà cháu ra sao, ruộng rẫy ở đâu, áo quần đủ không ?

- Làng đây đồng bào tản cư lên đông, hết chỗ làm ruộng. May có cái nà rộng của ông già người Tàu trong xóm Chợ, nhà buôn giàu lắm... à, ông Xâm Tô, ổng ghiền á phiện chịu không nổi, xin xuôi ghe về Đà Nẵng rồi. Nà của ổng coi như vắng chủ, ủy ban mình tạm cấp cho nhà cháu. Nông hội với Hội phụ nữ tới trồng trỉa giùm, lúa bắp lên tốt lắm. Cách nhà cháu vài trăm thước thôi, vừa đủ tránh tàu bay. Cô Năm Bưởi với anh Chanh làm nhiều chớ cháu dốt, chỉ biết may đồ thôi.

- Hồi dì tới thăm ở Sông Vệ, thấy máy may hư hết...

- Anh Bảy Tộ lén lấy hồi nào cháu không hay. Hồi cháu đang bị... vậy đó... các anh ở xưởng hỏa xa xúm sửa máy, anh Chanh với chú Sáu Cam rán gánh về đây cực thôi là cực. Giờ cháu nổi tiếng lắm nghen dì, cả khu xê-ca đơ có một bàn may của cháu trùi trụi, cháu làm không hết việc. Mỗi kỳ phát quân trang là cả trăm khách kéo tới bắt sửa gấp, nhờ có điện cháu làm đêm mới kịp, Năm Bưởi cũng phụ vô.

Chị Sáu Lễ không ngớt trầm trồ trong khi Thùy cho coi tiếp luồng nước vào bếp nấu ăn, dùng tưới vườn rau và rửa chuồng heo ra sao, phân heo dồn xuống hố hoặc ra ao cá tùy ý muốn. Ao cá rộng chừng một sào ta, chỉ là một chỗ trũng tự nhiên cách bờ khe Cốt bốn năm chục thước, có thể đưa nước mạch vào và tháo cống cho nước đổ xuống khe.

Chị Sáu vãi cám xuống nước, ngắm đàn cá nhô đầu lên đớp chen chúc sát bên chân, tuyền một thứ cá vảy trắng không ăn cá con và không ngoi rạch bỏ ao khi trời mưa lũ. Lứa cá này thả chưa bao lâu, mới bằng bàn tay... Chị đùa nghịch cầm vợt lừa xúc từng con, trong lòng cứ dâng lên mãi một nỗi thèm thuồng không cưỡng nổi. Dù sao chị vẫn là đàn bà. Người đàn bà nào lại không khao khát có chồng bên cạnh, có vài đứa con quấn quýt quanh mình, có căn nhà yên ổn với vườn rau, ao cá, mọi thứ nấu nướng may vá dưới tay, có nhiều người thân sẵn sàng xúm tới để chia sẻ vui buồn. Chị chưa từng được sống êm ấm trong vai người vợ, người mẹ. Ôi, một đứa con, một đứa thôi để chị bồng ẵm hôn hít thay thằng Mừng đã chết khi chị ở tù...

Anh Bảy Quý trở vào nhà từ nãy. Bóng điện trên đầu khá sáng, soi xuống chỗ bàn viết chân tre mặt gỗ có bốn năm chồng sách chất cao. Anh táy máy nhấc lên xem bì và trang lót: toàn sách kỹ thuật tiếng Pháp về xe lửa, cầu đường, cơ khí, điện, các loại động cơ, xem các chữ đề tay hoặc con dấu thư viện gia đình đủ biết Cả Chanh đã lùng mua góp khắp nơi. Một chồng sổ dày cộp xếp riêng, ghi đặc nét chữ của Chanh bằng nhiều màu mực trên nhiều loại giấy. Tay này tự học kinh thật !

Hai cuốn vở đặt trên cùng ít bị vết tay dầu mỡ hơn. Anh Bảy biết Chanh không viết nhật ký, cứ lật xem tự nhiên. Một cuốn đề “Tự học thuốc nam”, với dòng chữ đóng khung bằng bút chì đỏ “Thắng bệnh tật để thắng quân thù”. Một trăm trang vở ngoại viết gần kín kèm rất nhiều hình vẽ cây, hoa, lá, rễ. Cuốn kia mới viết non một nửa, chữ li ti. Anh Bảy rút kính lão đeo lên mắt. Đầu vở không đề gì, nhưng bên trong là chữ Lào, tiếng Lào được phiên âm sang chữ la-tinh, chú nghĩa tiếng Việt bên cạnh.

Không lầm được. Cả Chanh đang học tiếng Lào. Đọc những con số ngày tháng bên lề, anh Bảy biết Chanh theo món này đã gần hai tháng. Đến những ngày gần đây nhất, cậu chỉ chép những bài bằng chữ Lào ngoằn nghèo, chú nghĩa vài từ khó. Đó là những công văn, thư công tác, thư gửi bạn hay một gia đình thân quen. Chen vào đấy có những câu ca dao, tục ngữ, những bài hát kháng chiến hay giao duyên...
Quái lạ, cậu cán bộ hỏa xa này mưu tính gì ? Tính sang Lào là nơi không có thước đường sắt nào ? Bỏ nhiều công tự học như thế ắt không phải do bốc đồng, ham lạ.

Dưới tóc điểm bạc, khuôn mặt gầy và sớm nhăn nheo của anh từ từ sầm xuống. Chị Sáu Lễ hay trêu anh: “Một mình lo bảy lo ba, lo cau trổ muộn lo già hết duyên. Phải đổi tên anh là ông Bảy Lo mới đúng !”. Anh đùa lại: “Tôi cả lo thì mình cả tin. Bởi vậy ông trời mới xe duyên buộc nọ !”.

Suốt dọc đường đi gấp lên xứ núi Linh Lâm, anh lo phải gặp lại một Cả Chanh chán chường mệt mỏi, tuổi mới ba mươi đã lắc đầu kêu mãn mùa làm cách mạng rồi. Nãy giờ đi xem cơ ngơi rất đàng hoàng và nghe Thùy kể, anh lại băn khoăn nghĩ đến cái khó của người phải rời chăn nệm êm ấm để lao vào đêm mưa rét. Và bỗng dưng cuốn vở học tiếng Lào của Chanh mở hé cho anh thấy một góc kín tâm hồn nữa mà anh chưa ngờ tới. Lớp người nối tiếp vẫn luôn luôn dành cho anh những điều khó hiểu...

Năm Bưởi từ rẫy về, đang cùng Thùy và anh em trong đoàn soạn các thứ làm cơm chiều. Chị Sáu vẫn ngồi lặng một mình trên bờ ao, quay lưng vào nhà. Anh Bảy bước tới sau lưng vợ: “Mình nè...”. Chị Sáu giật mình ngoái cổ lại, anh Bảy thoáng thấy mắt chị ướt mọng. Chị luống cuống bỏ cây vợt cầm suông trên tay, rút khăn và nhếch miệng cười: “Con gì bay vô mắt, xốn ghê”.

Hai anh chị sang thăm lò rèn ông Tư Chua, sẽ vòng thăm luôn các xóm đồng bào tản cư mới dựng trên hai bờ sông Linh.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM