Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:49:45 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người cùng quê - Tập 1  (Đọc 126402 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #140 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2016, 02:35:13 pm »

Chương VII


Con sông La nhỏ hơn sông Thu Bồn nhưng cũng trong veo như thế, dễ yêu như thế trong những tháng xa mùa lũ lụt. Đã dâng lũ thì sông nào cũng đáng gờm như nhau. Có khác chăng chỉ là sông La có đê, sông Thu hình như không, Cam cố moi trí nhớ vẫn không hình dung ra một khúc đê nào ven bờ dòng sông quê hương.

Sắp chia tay với sông La rồi.

Sáu Cam rời cơ quan huyện đội Đức Thọ đóng gần thị trấn huyện lỵ, đếm bước trên con đường đá ven sông La đi lên phà Linh Cảm, nửa vui nửa buồn. Đã tới khu trường chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng với mái lá tường đất trên nền đắp cao phòng lụt, trong đó có lớp Đệ nhất văn học của Cam. Tám tháng trước, Cam ngập ngừng bước vào lớp trong bộ xi-ta xám độc đáo của liên khu Năm, với màu da tái xám và cặp môi thâm sốt rét, đèo thêm nỗi lo canh cánh sợ học đội sổ. Lặn ngòi ngoi nước hai tháng đường núi ra đến đây, được nhận vào một trong những trường chuyên khoa hiếm hoi của nước Việt Nam kháng chiến có đủ bốn ban và mỗi ban ba lớp. Cam sợ nhất cái thân phận học trò dốt vớt lên trượt xuống, bỏ thương vương tội.

Chuyến vượt núi của đoàn anh La Giang khá trôi chảy. Không bị phục kích, không nghẽn đường tới mức phải vòng xuống Cửa Việt hay bật lên lận A Ki trên đất Lào, chỉ gặp mưa lớn trên vùng tự do Bắc sông Gianh. Đến đấy Cam dầm mưa nặng mới nổi sốt rét, cũng là lúc cả đoàn dừng lại nghỉ vài hôm tắm giặt. Nhờ sức đang lớn, Cam lướt sốt nhanh, gượng dậy nhanh, không đến nỗi níu chân các anh ở lại đợi.

Trong vô số cái ngỡ ngàng của người lần đầu bước tới Nghệ Tĩnh, khó khăn lớn nhất đối với Cam là giọng nói và từ ngữ. Các anh từ đây đi Nam tiến đã cố sửa cách nói sao cho người trong Nam dễ hiểu, đến nay Cam mới ngớ ra khi nghe hàng tràng tiếng lạ, cứ giương mắt há mồm chờ các anh dịch lại. Sau đó phải nhẩm vài lần để nhớ “sương nác ngoài rào” là gánh nước ngoài sông (đừng loay hoay tìm giếng bên ngoài hàng rào), hay “mạn chển xuốc cươi” là mượn chổi quét sân. Quả là câu đố hiểm hóc khi anh La Giang bắt Cam tập dịch: “Mô rú mô ri mô nỏ chô: mô rào mô bể chô mô mồ”. Anh cười chán rồi mới giảng: “Đâu rừng đâu núi đâu không thấy, đâu sông đâu biển thấy đâu nào”. Bước vào xứ quê của anh “nhà không chái, đái không ngồi, nồi không quai”, anh La Giang vừa dịch cho đoàn vừa cười liên miên, như say chếnh choáng khi hít thở không khí vùng đất mẹ mà anh đã xa rời hơn chục năm qua.

Tiếp theo cái nạn ngôn ngữ bất đồng là những điều phải nhập tâm khi bước vào nhà đồng bào, bởi từ khi qua đò Minh Cầm đoàn bắt đầu ăn ngủ trong dân. Chớ có suồng sã xả láng theo kiểu trong Nam, phải chào cho khắp, chào trịnh trọng, đặc biệt đến bữa cơm phải mời chào tất cả những ai có thể trông thấy mình ăn. Phải nhanh trí xếp thứ bậc sao cho đúng bọ, mẹ, anh, ả, em, cháu, và tự xưng sao cho hợp. Nằm ngồi phải đúng hướng, đúng chỗ, chú ý đến bàn thờ và cửa giữa... Cam rối trí đến nỗi mãi về sau mới nhận thấy phụ nữ mặc váy nhiều hơn quần, và nhìn chung quanh thấy màu nâu ngự trị: nâu non, nâu sẫm, nâu ngả gụ ; rất khác liên khu Năm với màu đen của dân và màu xám của bộ đội.

Anh La Giang chăm lo cho Cam thật chí nghĩa chí tình.

Sau khi Cam được nhận vào trường Huỳnh Thúc Kháng, anh định xếp cho ở nhà bố mẹ mình. Xa nhà quá lâu, anh quên bẵng rằng ở quê người ta lấy vợ lấy chồng sớm và đẻ con nhiều. Trong hai căn nhà lá chung vườn của bố mẹ, có một anh, một chị, một em gái, với tất cả mười sáu đứa con trứng gà trứng vịt nô nghịch rầm rầm. Chịu thôi.

Học tại đây có hơn hai chục anh em liên khu Năm, ra đợt đầu vào dịp nghỉ hè năm 48, đợt hai chỉ trước Cam tí chút. Họ được xếp ở trong đình làng Tùng Ảnh, tổ chức thành Học xá miền Nam, tự bầu Ban trị sự và góp tiền thổi nấu chung, sống kham khổ nhưng nề nếp khá tốt. Cam rất muốn vào đấy, nhưng sau một đêm ở chơi tán chuyện lại thấy không nên để anh em nhường cho mình một chỗ nằm và một chỗ ngồi học trên những sạp tre bàn tre đã quá chật chội.

Chạy đôn chạy đáo mấy ngày liền, anh La Giang gài được Cam vào cơ quan huyện đội Đức Thọ, dưới cái ô che chở của anh huyện đội trưởng là bạn chăn trâu hồi nhỏ. Huyện đội trưởng ký giấy cho Cam “tái đăng” làm liên lạc viên, mỗi tháng chỉ cần đến cơ quan một lần để nhận gạo, tiền ăn và phụ cấp. Anh chọn nhà ở cho Cam còn kỹ hơn tiền trạm chọn nhà cho Ban chỉ huy, đưa Cam vào ở trong một gia đình bà con trong làng Đông Thái. Hai ông bà vừa làm nông vừa dệt lụa, chỉ hai con, cậu trai bước vào cuối cấp tiểu học cần thầy kèm, cô chị cũng thích được bày vẽ thêm khi học Bình dân buổi tối, dằn dà về sau hai ông bà dường như muốn anh học sinh bộ đội này ở rể hẳn nhà mình. Thật tình, cô Tơ làm ăn giỏi và khá xinh gái, phải cái hơn Cam đến hai tuổi, cả nhà lại xem điều ấy là tốt. Cam chỉ cười thầm khi nghe giảng xa xôi về “gái hơn hai, trai hơn một”, vẫn cứ một câu gọi chị hai câu mời chị, trong khi cô Tơ ngọt ngào xưng em, phần cháo sớm chè khuya dành cho Cam bao giờ cũng thêm huong vị của những nụ cười ánh mắt...

Mới đấy mà đã qua tám tháng, chóng ghê !

Cam đi học theo kiểu khác thường, từng đợt một, mỗi đợt đều mở đầu bằng cưỡng bức và kết thúc bằng ham mê. Năm xưa ở Quy Nhơn, Cam biết đọc biết viết và làm được bốn phép tính là do anh Cả Chanh làm dữ. Khi Cam về ở với chị Thùy, cả nhà đói rách. Cam định bỏ học kiếm việc làm, anh Cả long mắt nói như dao chém đá: “Tới mười tám tuổi thì mày tự do, trước mười tám mày phải phục tùng tao, mày phải học, phải học !”.

Học vấn tràn vào Cam như vỡ đê. Cam vào trường tiểu học ở Bình Định, trường Trung học bình dân ở Quảng Ngãi, trường chuyên khoa ở Hà Tĩnh, lần nào cũng kéo theo quả tạ tự ti của người học mót. Vài tháng đầu chăm lo lấp lỗ hổng, vài tháng giữa đạt mức trung bình, cuối niên khóa thường được xếp một trong mười học sinh khá nhất lớp. Cam luôn luôn ngạc nhiên khi thấy các bạn được học đủ ngày tháng phải tìm đến hỏi mình một thành ngữ Hán hay một từ tiếng Pháp, tiếng Anh.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #141 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2016, 02:38:59 pm »

Một tuần trước, anh huyện đội trưởng Đức Thọ bàn giao công tác để lên tỉnh đội. Huyện đội trưởng mới từ xã đưa lên, là một anh trung niên chỉ thích mặc bà ba nâu, vắt vai cái khăn trắng, ngồi xổm co hai chân trên ghế dựa và kéo theo mình cái giỏ chứa điếu cày, mớ que đóm, cái âu đất nung nhỏ đựng than hồng. Hễ vui câu chuyện, anh có thể kéo thông năm mồi thuốc lào mà không say gật gà.

- Mền bản chất nông din ưa nhít là sớm sớm hút mấy điếu thuốc, chè uống vài đợi nác mới, đánh con tru ra rọng... Đánh Tây mãn cuộc là mền về đi cày, nỏ ham chức tước chi !

Tân quan, tân chính sách. Anh soát lại công việc cơ quan huyện đội, đưa bớt bốn người về đại đội bộ đội địa phương huyện, trong đó có đội viên liên lạc Phan Cam. Nghe đồng chỉ huyện đội phó trình bày hoàn cảnh của Cam, anh lắc đầu quầy quậy:

- Rứa là ông La Giang cảm tình cá nhân ! Sắp sửa tổng phản công rồi, thân trai tráng lo vùi đầu học chữ mần chi nữa... Còn thiếu bốn tháng nữa mới đủ mười tám tuổi ? Thiếu niên nhi đồng còn giết được Tây nữa là... Cứ kêu hắn về đây, mền đả thông cho !

Anh chờ đợi một cuộc tranh cãi đầy lý sự lẫn hờn dỗi với cậu lính miền Nam (anh chưa hề qua khỏi đèo Ngang, không hình dung được miền Nam ra sao), lại ngoi lên học tới ban tú tài trong khi chính anh mới thoát mù chữ. Anh sửng sốt thật sự khi Cam tươi mặt đón quyết định đưa về đơn vị, còn hỏi bao giờ được đi. Chà, đám trí thức trẻ này thật khó hiểu... Anh thử thêm tí nữa:

- Ở đại đội đang thiếu cấp dưỡng. Anh em tân binh chỉ ham cầm súng, ngại nồi chảo nhem nhuốc, hay bị các cô gái làng chỉ trỏ chế giễu. Cậu xem làm được không ?

- Báo cáo anh, em không biết nấu nướng, nhưng cố học thì làm được thôi !

Cam rời cơ quan huyện đội trở về nhà cô Tơ ở thôn Tùng Ảnh với bản quyết định làm cấp dưỡng. Cam không biết rằng nửa giờ sau khi ký, anh huyện đội trưởng nói riêng với chính trị viên đại đội địa phương:

- Cứ thử xem hắn có kiêu căng bọ tịch gì không. Nặng máu tiểu tư sản thì thôi, hễ yên tâm gánh nồi thì cậu đưa hắn vô Đảng, cho đi học đào tạo lên cấp côi, về sau thay bọn già mền. Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn báo tin vài tháng nữa về tuyển sinh, hắn khá thì cho đi học. Mền có hơi gờm hắn chữ nghĩa đầy bụng, gặp một lát tự nhiên thấy thương hắn, lạ thiệt chớ !

Cái điều anh huyện đội trưởng thấy khó hiểu đang phơi bày khắp noi. Từ thị trấn Đức Thọ về trường Huỳnh Thúc Kháng, Cam đi qua hàng chục cổng chào bằng tre với cót tô đậm hàng chữ “Tích cực cầm cự, chuẩn bị chuyển mạnh sang TỔNG PHẢN CÔNG”. Ngay trước trường Huỳnh Thúc Kháng, dưới hàng hiên, cũng treo tấm băng to dài “Chuẩn bị TỔNG PHẢN CÔNG”, chữ giấy vàng trên nền nâu non.

... Cam dừng bước trước cổng trường, leo lên con chạch bên phải đường đê sông La. Mặt trời đã lặn một nửa. Những đàn và nhóm cò trắng lấy dòng sông làm cữ, vội vã đập cánh bay về Hương Sơn, Hương Khê tìm nơi ngủ. Trên sân vận động nằm giữa trường chuyên khoa và chợ Hạ, các trung đội tự vệ học sinh đã tan buổi tập chiều, đang ngồi hát, thi nhau hát thật to. Tất cả đều là những bài Tổng phản công.

... Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về...

... Về thủ đô, quân du kích súng dưới tay bước trên hè phố thênh thang…

... Ước mơ ngày mai diệt hết quân thù, ca vang lừng nhạc xuynh giữa thủ đô...

... Tổng phản công, ta mong từnq giây...


Một số cậu quản ca có sáng kiến cắt đôi cắt ba hài hát, chen vào những câu hô lớn “Chuẩn bị...”, và đơn vị thét đáp “Tổng phản công !”, sau đó hát tiếp.

Cam ham học, thèm học, đành rồi. Nhưng chẳng bao giờ Cam thoát mũi nhọn xoi xói như viên đạn từ mặt trận dội về, bay lạc qua bốn bức tường trình đất sét quét vôi trắng của trường chuyên khoa. “Mình đã từng nếm mùi bom đạn khi mười ba tuổi, từ Bắc Sài Gòn đến vùng cao-su Biên Hòa, sắp Tổng phản công rồi. Chắc hẳn Tổng phản công y hệt Tổng khởi nghĩa, cả nước rập một lần nổi dậy quật nhào thằng Tây, lần này còn thêm Hồng quân Trung Hoa tràn qua biên giới giúp sức nữa, coi như ăn chắc. Đến ngày hoàn toàn độc lập, lẽ nào mình chỉ ghi vào lý lịch rằng đã chúi mũi học văn hóa trong khi cả nước đổ xương máu đánh đuổi giặc Tây ?”.

Trong những ngày này, Cam thấy mình như cái thước kẻ dựng đứng trên bàn chờ một luồng gió thổi. Anh huyện đội trưởng mới đã phùng má thổi cây thước ngã về phía giết giặc. Và Cam biết ơn anh đã giải thoát cho Cam khỏi nghiêm lệnh của anh Cả Chanh cùng mọi sự sắp xếp chí tình của anh La Giang. Sẽ phải viết thư cho hai anh, giấu biến đi cái phần ngứa ngáy nhấp nhổm thèm ra trận của Cam, coi như đến tuổi cầm súng thì ắt phải rời ghế nhà trường. Anh La Giang mới chân ướt chân ráo về đến liên khu Tư đã bị điều vào bộ khung của đại đoàn 304 sắp ra đời, còn anh Cả Chanh chắc hẳn đã vượt biên giới sang Lào. Muốn thư đến nơi, Cam sẽ chép mỗi thư thành ba bản, gửi theo ba con đường khác nhau...

Mặt trời đã lặn hẳn phía thượng nguồn sông La. Các cô gái dệt và nhuộm lụa ngại nắng rám má hồng thường đợi xế chiều mới ra giặt vỗ phồm phộp bùm bụp trên các bực xây đá ven đê, đã gánh lụa về phơi trong vườn nhà. Tiểu đoàn tự vệ trường chuyên khoa tan buổi tập chiều, đã hô những khẩu hiệu tổng phản công cuối cùng, vác cây súng nứa và ôm xấp vở giấy rơm tự túc tản về nhà trọ nằm rải trong các làng Đông Thái, Tùng Ảnh, Linh Cảm.

Cam cũng về. Muốn ra đi thật lặng lẽ nhưng sợ mếch lòng. Còn phải đi chào qua học xá Bình Trị Thiên đóng trong nhà dân, ghé thăm vài chục anh em từ liên khu Năm ra, sống chung đói rách trong đình làng Tùng Ảnh, và phải thưa trình sao đó để cô Tơ rất đáng mến cùng bọ mẹ hiểu cho rằng thân trai đất Việt đã đến lúc xả thân vì nước, vẫn không hề quên bọ mẹ với chị Tơ đã săn sóc thương yêu...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #142 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2016, 02:41:15 pm »

*
*   *

- Báo cáo trực tinh, tôi, học viên Phan Cam, đại đội Hai trăm năm mươi lăm, có mặt !

- Nghỉ !

Cam hạ cây nứa dùi lỗ xỏ dây dùng làm súng tập, đứng nghiêm chờ lệnh.

Đại đội phó trực tinh tiểu đoàn cau mày, không ưng ý. Vị khách đến thăm học viên Phan Cam hôm nay là bà phó chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ miền Nam Trung Bộ, từ xa thẳm khói lửa ra đây, có một trung đội trưởng theo bảo vệ, một đại đội phó thuộc tỉnh đội Thanh Hóa hướng dẫn, còn mang theo một thư viết tay của ông chủ tịch tỉnh Thanh Hóa đề nghị hết sức giúp đỡ. Cậu học viên được thăm lại rách hơn tổ đỉa !

Trường Trung học lục quân Trần Quốc Tuấn, phân hiệu Trung Bộ, mở khóa 6 trong năm chuẩn bị Tổng phản công và quân số tăng vọt này, được phát quân trang quá chậm. Học viên từ các tỉnh kéo về với cái khăn gói quả mướp chỉ hơi nhỉnh hơn ruột tượng, các đồ đạc diện nhất để lại nhà hay đơn vị cũ, nhận quân trang xong sẽ cấm mặc thường phục, bởi nhà trường phải là mẫu mực về tác phong chính quy. Sáu tuần quần quật xây dựng doanh trại, tiếp hai tháng lăn lê bò toài vừa qua trên các thao trường đầy sỏi đá và gai góc chưa dọn hết, đã tạo nên những kiểu ăn mặc kỳ lạ nhất.

Đồng chí đại đội phó đứng trên thềm, rất chỉnh tề trong bộ ka-ki Nam Định, đi giày da vàng đế cộp có cổ, đội mũ bọc vải và lưới gắn sao vành vàng, còn đeo chéo qua ngực tấm băng rộng bản hai màu đỏ vàng của trực tinh. Đứng nghiêm dưới sân là một người đen như củ súng đến khó đoán tuổi, mặc bộ áo quần nâu đã bị bùn ruộng ngả sang màu gụ loang lổ từ chân đến ngực, vá chằng vá đụp bằng ba bốn thứ vải khác màu. Chân đi đất chắc hắn chai cứng hơn da trâu. Đặc biệt nhất là cái mũ khâu bằng mo cau hình ca-lô úp trên cái đầu cạo trọc bóng, có quai mây chằng dưới cằm. Hầu hết anh em học viên đều mặc na ná như thế, có khác chăng là ở màu vải nguyên thủy của áo quần, hay cái mũ mo chằm hình phễu, hình ống. Súng kíp hỏng dùng để tập chỉ đủ cho một phần ba quân số, súng nứa chiếm hai phần ba, mấy cây mút-cơ-tông gỗ anh em tự đẽo khi lao động phải bỏ xó; thà xấu đều hơn tốt lỏi.

Được cái, Cam vẫn không phạm quy định một ly lai nào. “Nhập gia tùy tục, nhập trường tùy quy định”, cán bộ khung nhắc mãi rồi. Ngay từ giờ đầu tiên ghép đơn vị, học viên đã học vỡ lòng hàng loạt quy định, sao cho hàng ngàn chiến sĩ ngày càng giống hệt nhau đến từng lời nói, từng cử chỉ. Áo quần xơ xác nhưng vẫn đủ cúc và cài hết cúc, tay áo xắn lên cách cổ tay đúng mười hai phân và nếp nấp tay áo rộng đúng bảy phân, cái biển tên hình chữ nhật trên ngực trái tự làm bằng bìa cứng vẫn đúng kích thước, đúng chỗ, đề rõ họ tên và đơn vị.

Vẫy Cam bước lên thềm, đồng chí trực tinh hỏi nhỏ:

- Cậu còn bộ nào nữa không ?

- Báo cáo trực tinh...

- Ấy, khẽ chứ, khách ngồi trong kia.

- Báo cáo, rách toang hết trơn. Chẳng có đồ lành mà mượn... Ôi chao, dì... dì Sáu !

Chị Sáu Lễ vừa hấp tấp bước tới sau lưng đồng chí trực tinh, giương to mắt trước cậu bộ đội dị hình:

- Thiệt em hả Cam ? Sao mà... coi khác quá vậy em ? ... Là chị nói em lớn lên ghê quá, cứng cáp ghê quá...

Chị vớt lại câu nói hớ khá nhanh đấy.

Vào trong phòng khách, một căn nhà tre nứa lá, đồng chí trực tinh mới phân trần vì sao bộ đội tả tơi đến thế. Tiểu đoàn đồng ý cho học viên Phan Cam đi phép ba ngày để thăm đoàn cán bộ liên khu Năm trên đường ra Việt Bắc. Quân trang mới đưa về mươi gánh đầu tiên. Cam sẽ được đặc cách nhận trước. Lặn lộn nơi đồi xa rừng vắng thì sao cũng được, bước ra làng xóm phải dễ coi một tí. Cam sẽ nhận quân trang tại tiểu đoàn, trở về đại đội để báo cáo và nhận tiêu chuẩn gạo, tiền ứng đi phép.

Nhóm chị Sáu đợi vài giờ nữa. Trở lại phòng khách là một chiến sĩ cao lớn, chững chạc từ đầu đến chân, trừ lớp râu quai nón chớm mọc lún phún chưa được cạo nhẵn, còn cái đầu ông sư mới gọt hôm kia thì tất nhiên không cần sửa sang gì. Cam chỉ vướng đôi chút vì bộ quân phục vải sợi đôi còn nguyên nước hồ chưa co lại cho vừa người, và đôi dép da trâu xoay bề nhám vào trong cọ rát da chân, chưa kịp ngâm nước cho mềm.

Chị Sáu lại xưng “chị” phủ đầu để bắt Cam thôi gọi bằng dì như hồi ở chung với Hai Thùy:

- Anh Bảy bị bệnh, đang nằm viện ở Nông Cống, cách đây bốn tiếng thôi. Ảnh muốn gặp em, nhờ các đồng chí ở tỉnh thu xếp giùm, chị đi theo coi người coi cảnh luôn. Bệnh viện cũng đóng xa dân, như trường em đây.

Ra khỏi vùng đồi rậm, họ đi trên đường đê nông giang, xuôi dòng nước từ đập Bái Thượng chảy xuống, qua hết huyện Thọ Xuân sẽ đến huyện Nông Cống.

Chị Sáu kể dài dài về chuyến vượt núi dọc Bình Trị Thiên, trong khi Cam nhìn chị chăm chú. Bà chị ngót năm mươi tuổi vốn béo trắng, giờ đã gầy bớt và gọn người hơn, mặt phủ một lớp rám nắng như bát sứ lấy từ giàn bếp xuống. Dễ thấy chị cố gắng bước nhanh hơn mức thường trong mấy tháng qua để khỏi níu chân anh em trong đoàn, khi vui câu chuyện chị đi chậm hẳn lại, rồi bỗng giật mình đi gấp lên.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #143 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2016, 02:45:12 pm »

Cam cố ghìm thói quen sải chân mỗi giờ sáu cây số, bật cười:

- Chị bây giờ phong trần lắm rồi. Hồi trước em tưởng chị khó qua nổi đèo Le hay dốc Giảm Thọ.

- Dân đồng bằng đặt nhiều cái tên rùng rợn thiệt. Qua Kèn Mẹ, Kèn Con tưởng đã cao lắm, tới dốc Búk mới thiệt là le lưỡi cóc ! Anh em mang giùm hết đồ đạc, chị hai tay hai gậy rán bươn theo, cứ nghĩ: đem cái tên hò Hơ đặt cho dốc Búk mới thiệt đúng chỗ. Anh Năm cõng ba-lô leo ào ào, còn quay lại đón chị nữa. Anh xài sức vậy mới sanh chuyện !

- Chuyện gì chị ?

- Ảnh nôn nả lắm, thúc đoàn đi nhiều nghỉ ít. Tới khúc Liên U Ba Rền bị phục kích, một cậu bị thương phải để lại trạm, bật lên đi dốc U Bò. Đoạn đường goòng máy Đò Vàng - Chu Lễ, đợi một ngày thì goòng sửa xong chạy được, ảnh cứ kéo đi bộ. Các anh liên khu ủy Bốn cố giữ, ảnh chỉ ở lại làm việc ba ngày, ra đi đã bắt đầu sốt. Tối địa đầu Thanh Hóa ảnh kiệt sức, gượng tới Tĩnh Gia là gục xuống mê man, phải khiêng đi bệnh viện. Thầy thuốc đoán ảnh trúng thương hàn. Nằm mươi hôm, mới hơi tỉnh tỉnh đã lật bản đồ, xếp lộ trình, chị phải giựt đem đi giấu. Em thấy tức ói không ? Chị đẩy anh Tô Xáng đi trước cho anh Bảy khỏi sốt ruột. Chị đi thăm em, phần muốn gặp em, phần nữa cũng bắt ảnh đợi chị để nghỉ thêm cho lại sức, đá còn đổ mồ hôi nữa là người ! Kéo tuốt một hơi từ Nam Bộ tới đây, sức bằng voi cũng nhào huống chi ảnh đã ngoài năm mươi !... Đói bụng rồi, ta ăn cái gì đi.

Chị huých Cam, chỉ vào tấm biển cót đề chữ to “PHỞ - tái nạm sụn gầu”:

- Em ra trước, biết nạm sụn gầu là món gì không ?

Cam cười xòa:

- Sụn, chắc là xương sụn. Hai tiếng kia em chịu.

- Chưa thử hả ?

- Dạ chưa. Hàng quán mắc cái tật là ăn xong đòi tiền, bậy hết sức !

Chị gọi hai đồng chí cùng đi vào quán, mời mỗi người hai tô tùy ý chọn, kết thúc bằng một quả chuối tiêu.

Càng đi xuôi nông giang, đồng bằng Nông Cống càng mở rộng, càng nổi xanh mơn mởn, với những nét thắng của kênh mương khoe công con người săn sóc đất. Nhiều con đường rộng lát gạch nghiêng dẫn vào những xóm làng chưa từng bị bom, lắm nhà ngói lấp ló sau tre, các nhà tranh trông ngoài cũng khá gọn sạch. “Được mùa Nông Cống, nuôi sống thiên hạ”, vùng vựa thóc này quả thật là giàu. Thế nhưng Cam vẫn chưa có mấy cảm tình với xứ Thanh, chỉ nhớ một số kỷ niệm ít vui qua những chuyến đi đường, ngủ nhờ, mượn nồi xin củi. Không chỉ riêng Cam mà hầu hết anh em từ Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên, liên khu Ba kéo đến Trường lục quân đều có ấn tượng rằng đồng bào ở đây hiểu Cách mạng quá ít, các nhà giàu coi khinh bộ đội ra mặt, chính quyền và các đoàn thể yếu ớt. Đã xảy ra mấy vụ xô xát trong đại đội khi anh em liên khu Ba nhại lối nói vùng Tây Thanh Hóa: “Cha tui đi cần, mẹ tui đi cấn, chị tui đi củn, tún mới viền”. Riêng Cam một lần suýt đánh nhau với một cậu quê ở Thanh Hóa cũng vì cái tội “chửi cha không bằng pha tiếng”. Bị anh em lôi lại, cậu còn dứ dứ hai quả đấm, quát:

- Nghe nói mi ở tỉnh Nam. Mi tưởng xứ Nam Định nhà mi báu quý lắm đấy. Sợ Tây, bỏ chạy vô xứ ni ăn mày hàng triệu !

Đang tức đỏ mặt, Cam bỗng bật cười hô hố, chung quanh đều sửng sốt.

Mãi ba giờ chiều họ mới về đến bệnh viện, đóng xa làng trong khu đồi còn nhiều rừng cấm.

Bị vợ giấu hết tài liệu, anh Bảy Quý nằm dài đọc báo, anh mượn được cả một chồng báo đủ loại của bệnh viện, nhiều nhất là hai tờ Vui Sống của ngành quân y và Quân Du Kích viết rất nhộn. Từng lúc anh tủm tỉm cười một mình.

Vốn gầy sẵn nên khi ốm dậy trông anh không hốc hác lắm, tuy phải qua nhiều ngày sống bằng nước cháo, sữa loãng. Anh lên kính rồi hạ kính, nhăn trán cố nhớ mà không nhận ra Cam, làn cuối anh ghé thăm Chanh và Thùy cách đây đã ba năm.

- Xin lỗi đồng chí nghen. Đồng chí ở viện đây hay là chỗ khác tới ?

Mọi người nói cười ầm ầm, anh cũng ngượng nghịu cười theo:

- Nhà tôi hẹn dẫn thằng nhỏ Sáu Cam tới chơi, đợi miết chẳng thấy nó tới. Sao mình, nó xin nghỉ phép được không ?

Chị Sáu gập đôi người, đỏ rựng đến tận cổ, cười đến phát ho sặc. Anh Bảy ngẩn ra nhìn vợ, rồi trố mắt ngắm cậu bộ đội đứng bên giường, ngập ngừng :

- Hay đồng chí là... nè, thiệt mi hả Cam ? Mi chớ ai nữa ?

Cam vồ lấy bàn tay gày cuộc chìa ra luống cuống:

- Tại cháu... tại em khác quá đó anh. Hồi xưa anh ít gặp, qua mấy năm anh ở Cực Nam, em lại ít giống anh Chanh !

- Ờ, phải, mi cao hơn anh, đen thui như dọn rẫy mới về, thêm râu ria nữa chớ...

Những cán bộ như anh Bảy Quý quanh năm tiếp xúc với vô số bộ đội và đồng bào, vẫn luôn luôn áy náy mỗi khi không nhận ra một ai đó vồ vập đến với mình. Chị Sáu biết tính anh, vội kể dồn dập về những phút mới đầu gặp Cam ở Trường lục quân. Cam cười thầm, nhớ lại câu dặn nhỏ của anh trực tinh: “Đừng kể chuyện khổ cực nhiều, nhân dân hiểu lầm trường ta để lính đói rách”.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #144 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2016, 02:47:27 pm »

Suốt hai ngày tiếp theo, chỉ trừ giờ khám bệnh và cho thuốc, Cam sống hẳn bên anh Bảy, giúp anh ăn uống, đi dạo, nhiều nhất là vừa xoa bóp vừa chuyện trò rủ rỉ. Có lúc anh Bảy nói bùi ngùi: “Mi làm tao nhớ thằng Chanh quá. Nhớ hồi ở tù...”. Anh không nói tiếp, nên Cam chẳng hiểu hồi xưa các anh sống với nhau ra sao. Anh Cả Chanh rất ít nhắc tới kỷ niệm nhà tù, có lẽ ngại chung quanh tưởng anh khoe công.

Anh Bảy hỏi nhiều, nghe kỹ, nhưng nói rất ít.

Một trong những câu hỏi đầu tiên của anh là: “Tại sao em bỏ học chuyên khoa, đi bộ đội ?”

- Tổng động viên mà anh. Tổng động viên để Tổng phản công, em cũng vừa tới tuổi cầm súng. Vô lễ để người khác đánh giặc miết, về sau em tọa hưởng kỳ thành ? Với lại em nhập ngũ năm ngoái kia, làm lính cậu, lính học trò riết rồi cũng dị dị...

- Trường chuyên khoa đóng cửa à ?

- Dạ không, khám tuyển hết thảy, nhưng ai không tự nguyện tòng quân cũng không ép, cho ở lại học tiếp.

- Em có thấy như vậy là bất công không ?

Cam ngừng tay xoa bóp, ngẩn mặt ra. Cam biết có nhiều bạn học cố né tránh con đường ra trận, nhưng chỉ thấy thương hại họ. Thắng Tây xong là suốt đời không còn dịp rèn luyện trong khói lửa, lập công dâng lên Tổ quốc, Bác Hồ. Mà ta sắp thắng Tây rồi còn gì !

Nghe Cam thú nhận nỗi ngứa đánh kéo dài, anh Bảy cười:

- Thử đoán coi, năm nào nước mình độc lập ?

- Ai cũng nói năm nay tổng phản công. Một lần đại tá phân hiệu trưởng đến tiểu đoàn em nói chuyện, nhắc là không được cắt cụt câu khẩu hiệu “tích cục cầm cự, chuẩn bị chuyển mạnh sang Tổng phản công”. Cán bộ tiểu đoàn, đại đội hớt bỏ hết khúc đầu. Đại đội trưởng bốc lắm, nói trước anh em: “Tôi được nghe đích xác rằng là Hồ Chủ Tịch đã dặn Võ Đại tướng: nếu như đêm ba mươi mốt tháng chạp chú chưa Tổng phản công thì sáng mồng một năm Năm mươi mốt chú cũng phải ra lệnh Tổng phản công !”. Bộ đội vỗ tay rầm trời. Thiệt vậy không anh ?

- À... ờ... đợi ít lâu nữa, may ra anh được kêu lên gặp Bác Hồ hay anh Văn, anh hỏi thử... Cam nè, nghe người ta đồn cán bộ Trường lục quân đánh phạt học viên gắt lắm phải không ?

- Dạ, đánh thì không. Khóa trước còn, tới khóa này cấm đánh, hết hẳn rồi. Phạt thì... thả cửa, lu bù, vô số !

Cam không thấy anh Bảy cười tủm tỉm, không biết câu chuyện đã bị lái ra khỏi cơn lốc say sưa của cuộc Tổng phản công đang đến sát nút với toàn thắng cầm chắc trong tay.

- Tại sao mà phạt ? Phạt cách sao ?

- Nhiều lý do lắm... Thường là phạm quy định nhà trường, chậm chạp, thiếu chỉnh tề, nội vụ lộn xộn... Cũng có khi chẳng cần lý do. Trường đề ra một tuần “Kỷ luật không lý do”, đụng đâu phạt đó. Tụi em sinh hoạt Đảng, chất vấn riết, chi ủy nói là tập cho học viên chịu phạt, cho quen với kỷ luật sắt của quân đội, xóa sạch tác phong lề mề dân chính, tự do du kích. Hay là “Tuần nhanh chóng” báo động liên miên, vô hồi kỳ trận, nửa đêm gà gáy hay là giữa bữa cơm, giờ nghỉ. Báo động cả đại đội, riêng từng trung, từng tiểu, có khi báo động một người. Có lần em bị báo động đêm tới ba lần sau phiên gác, chỉ ngủ được vài tiếng...

- Chà, sao vậy ?

- Tại em thôi. Gác hết phiên, vô đập kêu người thay gác hơi ồn, ông trực tinh đại đội nghe được. Ổng để cho ngủ lịm đi mươi phút mới đến bấm vô đùi, nói nhỏ “báo động cá nhân”. Lập tức cuốn mùng chiếu cột ba-lô, áo quần nai nịt hỏa tốc, chạy ra nghe lệnh phạt đứng nghiêm nửa tiếng vì làm ồn. Phạt xong trở về chỗ ngủ, thiếp đi một lát lại bị lần thứ hai, vì mùng căng không vuông vức, đeo ba-lô chạy tại chỗ nửa tiếng. Tới lần thứ ba, tại em buồn ngủ quá, vô mùng xong không cởi áo quần dài theo quy định, bò quanh doanh trại nửa tiếng. Phờ râu ông cụ !

- Nói thiệt anh nghe ... Em có tán thành cách rèn luyện bộ đội như vậy không ?

Anh Bảy đăm đăm nhìn Cam. Bên dưới lớp da tóc gọt trọc bóng, khuôn mặt sạm nắng đen trũi trở nên đăm chiêu. Cam mấp máy môi vài lần, không nói, bộ râu quai nón mọc sớm khẽ động đậy, đôi lông mày nét mác cau lại. Anh Bảy nghiêm chỉnh chờ nghe câu trả lời, và ưng ý khi thấy Cam suy nghĩ nghiêm chỉnh, ở lứa tuổi mười tám của Cam, anh chỉ là chú học trò nghèo, bồn chồn háo hức đấy nhưng hầu như không hiểu gì về đất nước, lịch sử. Lớp người thay thế ngồi trước mặt anh khác nhiều, khác quá xa. Thằng em nhỏ lon xon theo anh Chanh chị Thùy năm nào đã học vượt lớp lên cấp chuyên khoa, thành đảng viên dự bị, đang được đào tạo thành cán bộ chỉ huy, sắp bước vào đợt thử lửa thứ hai trong cuộc đời còn rất ngắn mà đã trải không ít chìm nổi. Anh không nhận ra nó khi mới gặp là phải. Không chỉ vì vóc dáng lênh nghênh và nước da dầu dãi, còn vì cái lối đi đứng dứt khoát, nói năng rành rọt với những lời chọn lọc, cái vẻ người trưởng thành đường hoàng và có lẽ hơi chín sớm nữa trong lò lửa kháng chiến. Ừ nhỉ, có lẽ nó chín sớm thật, nó hơi già trước tuổi. Ở mướn giữ ngựa, lần lút xin ăn, liên lạc trong bộ đội Nam tiến, những trường đời ấy quá khắc nghiệt đối với một đứa trẻ. Trong ba năm xa anh nó còn qua ba nhà trường khác nữa: Trường Trung học Bình dân học chung với cán bộ, trường Chuyên khoa, trường Lục quân. Nó cọ xát với không biết bao nhiêu đồng chí, đồng đội, đồng bào, đồng song, suốt dải đất Trung Bộ dài thượt này, lấn vào tận ngoại ô Sài Gòn, dễ sợ thật. Quả là hậu sinh khả úy...

Dựa lưng vào phên nứa, anh Bảy xoa cằm nghĩ dài dài như thế trong khi Cam xuống nhà ăn bưng xoong cháo hầm nhừ lên cho anh.

Khi Ban Thường vụ Trung ương Đảng thăm dò các liên khu ủy về danh sách ứng cử và đề cử vào Trung ương trong Đại hội toàn quốc lần thứ hai sẽ họp vào mùa xuân năm sau, anh Bảy Quý không có mặt nhưng đã được đề cử gần như nhất trí. Bởi thế, vừa từ Nam Bộ ra đến khu Sáu, anh đã nhận điện ra Việt Bắc rất gấp để báo cáo và góp sức soạn các văn kiện Đại hội. Nói cho thật tình, anh Bảy có mấy ngày vui thầm khi thấy mình được các đồng chí tin cậy, thấy mình có ích đối với cách mạng. Tiếp liền đó, rất nhanh, anh trở lại là “ông Bảy Lo”, lo phải nhận những việc quá sức mình. Ra đến Bình Định, họp liên khu ủy, anh nói hết những gì đã ám ảnh anh suốt dọc đường, xin rút khỏi danh sách đề cử và trở về khu Cục Nam Trung Bộ gian nan bậc nhất trong kháng chiến. Ý kiến anh bị bác bỏ thẳng thừng, anh bị buộc phải lên đường ra Việt Bắc. “Rút hay không rút tùy ông, có điều ông phải có mặt trong Đại hội. Ít nhứt ông cũng kể được trong ta đánh giặc ra sao chớ !”. Các đồng chí đùa vậy, anh nghe cũng có lý và đã biến chuyến đi dài dằng dặc thành một đợt tìm hiểu đất nước từ Nam tới Bắc...

Bát cháo gan băm Cam múc ra còn nóng quá, phải đợi nguội bớt. Anh Bảy lại tủm tỉm:

- Sao đó chú mày ? Phán một lời được chưa ?

Cam ngồi xuống giường, trầm ngâm:

- Dạ, cũng tùy người... Đại đội em có mấy đứa chịu kỷ luật sắt không nổi, đập bệnh xin về, cũng có đứa bỏ trốn... Số đông thì rán chịu, lỡ hứa hẹn “chưa hết giặc chưa trở về”, bây giờ mặt mũi nào gặp lại bạn bè, làng xóm. Với lại riết rồi cũng quen anh à, chạy thêm một tiếng hay bỏ vài vòng sân coi như tập thêm cho thuộc nhuyễn động tác, mùi mẽ gì.

- Nghĩa là em tán thành ?

Cam ngấc đầu, nhìn anh Bảy đăm đăm:

- Em nhớ hồi theo bộ đội anh Năm Chò vô Nam Bộ, các anh hăng hái lắm, nhưng mà rất... rất lộn xộn. Đơn vị bầu cán bộ rồi đuổi cán bộ, trên ra lệnh dưới cãi cù cua, kêu họp bảy giờ thì tám giờ mới gần đủ, có anh còn say mèm. Gây sự với du kích ủy ban hoài. Kỷ luật vậy làm sao đánh trận lớn được... Tới bây giờ kỷ luật rất căng, rất hắc, em nghĩ là đúng. Nhưng mà em không đồng ý cái kiểu phạt làm nhục, phạt lấy oai cho lính sợ chỉ huy. Có những anh cán bộ phạt nhốt hầm tròn giữa trưa nắng, phạt ngủ chuồng trâu không mùng cho muỗi đốt, phạt chạy sáu tiếng tám tiếng, đến nỗi anh em phát đau ốm, ngã ngất, lại còn đay nghiến là giả bộ.Có lần em đấu tranh trong chi bộ chống một cán bộ trung đội ưa làm phách kiểu đó, bị anh ta thù thiệt dai. May là ảnh đổi đi nơi khác rồi, dễ thở hơn... Nói cho cùng, em cũng không biết làm sao cho phải, kỷ luật vừa nghiêm minh vừa tự giác là hay nhứt... Chết cha, nói dông dài miết, cháo anh nguội ngắt rồi !

Anh Bảy húp từng thìa cháo ấm. Chị Sáu Lễ bước vào từ nãy, không lên tiếng, chỉ lặng lẽ ngồi gọt cam trên cái giường bỏ trống bên cạnh. Chị biết, anh Bảy đã rất nhiều lần nghe kể những điều na ná như thế và tệ hơn thế, anh chỉ hỏi để hiểu thêm một thanh niên đang háo hức đi giết giặc. Nom nét mặt tươi tỉnh của chồng, chị biết anh đang vui sau một câu chuyện không vui.

- Tóm lại, em chịu được tới mút mùa chớ ?

- Dạ, chịu được. Đời lính mà, phải tập chịu đựng hết thảy, kể cả những gian khổ ta gây cho ta !

- Cái thằng, lý sự như ông cụ non !
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #145 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2016, 02:52:30 pm »

Chương VIII


Năm 1950 sôi nổi chuẩn bị Tổng phản công cũng là năm rộn rịp nhất của làng Linh Lâm và vùng thung lũng sông Linh được gọi là Xê-ca-đơ, tức Chiến khu Hai.

Ba thôn có từ xưa là Linh Lâm, Linh Trung, Linh Hạ được ghép thêm một thôn mới ra đời là Linh Thượng gồm hơn một trăm gia đình từ vùng bị chiếm Bắc Quảng Nam tản cư vào, dựng nhà rải rác mé trên Linh Lâm chừng một cây số. Những ai nhấp nhổm tạm bợ, cả những người chưa thật đáng tin cậy, đã tự ý dời đi hoặc được khéo léo mời đi vào sâu hơn trong vùng tự do liên khu 5 để tránh bom đạn và dễ làm ăn. Bốn thôn ven sông Linh họp lại thành xã Linh Giang.

Linh Hạ sẵn nghề đánh cá sông, nay khá giả thêm nhờ đóng thuyền và trồng gai đan lưới bán khắp nơi. Linh Trung cắm trên vùng đất chật, vốn ít dân, bỗng đông nghịt lên khi xưởng dệt của bộ đội chuyển đến với một trăm rưởi thợ và ngót bốn trăm người nhà, dựng trại và đặt khung cửi trong các khu rừng già quanh làng. Đồng bào ở Linh Thượng làm nhà và vỡ đất trồng trỉa xong, thường xin giấy xuống đồng bằng buôn lên muối mắm và các mặt hàng khan hiếm khác, cũng làm thêm nhiều nghề từ quê gốc mang tới. Chỉ riêng xưởng quân giới Cao Thắng đóng tách rời chỗ đông dân, lọt thỏm trong rừng sâu với những khu trại to nhỏ, rất nhiều công nhân và gia đình họ, cho đến nay vẫn nằm ngoài quyền kiểm soát của ủy ban xã, chỉ liên hệ với bên ngoài qua một trạm đặt trên bờ sông.

Chỗ rốn của Xê-ca-đơ vẫn là Linh Lâm, điểm nút của đường bộ 56 xuống tận biển và đường thủy sông Linh nối vào nguồn Thu Bồn. Ở đây có cơ quan xã, vạn ghe, chợ và tiệm quán, gần đây mở thêm nhà y tế và trường tiểu học bốn lớp có đủ y tá và thầy giáo. Máy bay đến quần tìm nhiều lượt, chỉ thấy rừng xanh chen ruộng rẫy xanh, rốt cuộc đành trút bom xuống mấy dãy nhà ngói của đồn điền La-phạt và ngôi đình nằm lộ thiên trên gò, thường thả trượt vì vướng núi phải bay cao.

Linh Lâm tăng số dân, số nhà, cũng ngày càng đông khách qua lại. Các đơn vị bộ đội đi đánh trên Bắc Tây Nguyên hoặc lui về luyện quân, các đoàn dân công gánh vũ khí ra mặt trận Bắc Quảng Nam và đem chiến lợi phẩm về, các bộ phận tiếp tế và chuyển hàng cho quân giới và quân nhu, tất cả lũ lượt kéo qua Linh Lâm hầu như hằng ngày. Ủy ban và xã đội bàn lui tính tới mãi về trật tự an ninh, chạy thương lượng với các cơ quan, xin công an huyện và huyện đội cử người lên lập các trạm kiểm soát đường bộ và đường sông, cũng chỉ giảm bớt khó khăn một phần. Cuối cùng, xã đội trưởng Tám Doãn phải rút du kích và dân quân đi mở một con đường mới xuyên rừng, vòng tránh xa làng, từ truông Dơi tách xéo xuống quãng bờ sông vắng giữa Linh Lâm và Linh Trung, căng dây kéo bè bằng mây song và buộc lồng vào đấy hai chiếc bè to. Tiếp đó, lại sửa khu lán trại mà một đại đội đã dựng để luyện tập trong ba tháng, nhà và sạp nằm còn tốt, cách bến mới không xa. Để khách qua lại khỏi giận hờn, Tám Doãn dựng thêm một cổng chào với tấm biển chữ lớn: “Nhà khách xã Linh Giang”. Xóm chợ và bến vạn từ đấy đỡ tràn ngập người, nhưng lại xảy ra một điều rất không ngờ: khu nhà khách biến thành chợ.

Đồng bào các làng Kinh và Thượng làm ăn khá, thừa khoai sắn bắp và nuôi được nhiều heo gà, lại thiếu các thứ hàng vùng biển và bắt đầu ưa dùng hàng ngoại. Phong trào “bài trừ ngoại hóa” và bao vây kinh tế địch còn mạnh dưới vùng xuôi, đám con buôn lậu “chửa ở Tam Kỳ, vô Bồng Sơn đẻ” bị chặn bắt rất nghiêm. Ở nơi ven núi và gần địch này không có con buôn. Bộ đội và dân công đổi chút ít hàng mang theo người lấy thức ăn đỡ đói, ai mà dám ngăn cản !

Chợ phiên Linh Lâm vẫn họp hai ngày một lần, vào ngày lẻ âm lịch, nhưng người lui tới giảm đi nhiều. Bà con ngóng đợi những đoàn lớn kéo qua, hối hả mang đến khu nhà khách những thứ để dành sẵn: gà, trứng, thịt rừng khô và tươi, trái cây, nếp, bắp, khoai, sắn, đôi khi khiêng cả heo và đánh trâu bò tới, còn dân chài lưới dọc sông gặp con thuyền nào xuôi cũng hỏi ngay nhà khách vắng hay đông. Khách trút ra các loại thuốc tây, đá lửa, dầu lửa, ni-lông đi mưa, đôi khi cả áo quần ka-ki, đồng hồ, bút máy ngòi vàng. Mỗi người đem theo một ít, nhưng hàng trăm cái “một ít” gộp lại thành khối lớn không đếm xuể.

Một số gia đình tản cư quen bán quán bắt đầu mang quà đến nhà khách. Ban đầu chỉ là vài gánh mì Quảng, bánh tét bánh ú sơ sài. Về sau là những chiếc đò chở của ngon năm bảy món và những lều quán dựng sẵn có đủ bàn ghế tre và bếp than hâm thức ăn, đun nước. Tám Doãn chặn không nổi, và cũng không hiểu nên chặn hay để mặc, đành giao cho thôn đội Linh Trung cử mỗi ngày một tổ đến giữ trật tự, cấm đốt khói ban ngày, tịch thu hàng xa xỉ phẩm như rượu và thuốc lá Cô-táp, Bát-xtô. Anh thường nghe báo cáo về những vụ xô xát nặng nhẹ của dân quân với khách, chẳng bao giờ trông thấy các thứ bị tịch thu. Cứ thế, chính quyền xã chịu chấp nhận sự ra đời của chợ Mới, bến Mới chưa từng có trên bản đồ. Còn may là đường chuyển thương bệnh binh về quân y viện và đường dây liên lạc Bắc Nam chỉ đi qua chợ Huề Bình chứ không xuyên ngang Xê-ca-đơ.

Cuối năm ngoái, Tám Doãn nổi khùng gắt um lên khi nhận chỉ thị của ủy ban huyện Tây Quảng: tại Linh Giang sẽ đặt một cơ quan mật lấy tên là Trạm biên chính Hai, xã phải hết sức giúp đỡ làm nhà ở, kho tàng, tiếp tế và bảo vệ cho thật tốt.

- Nữa ! Thời đánh Tây, cơ quan nào mà không tối mật, công tác nào không tối khẩn ! Các chả quen nước sông công lính, quên mất tụi này ở xã chỉ có cơm nhà áo vợ nợ đùm đề !

Doãn làm huyện đội phó gần hai năm, bị đạn xuyên phổi trong khi chỉ huy một đơn vị du kích Tây Quảng đi dự chiến mé Trà Kiệu. Viên đạn nằm lì trong ngực khiến anh yếu hẳn, phải xin về xã, chẳng dè xã anh biến thành chiến khu với vô vàn công việc hóc búa. Nghe bảo cấp trên định tách Xê-ca-đơ thành khu quân sự trực thuộc tỉnh, lập Ban chỉ huy riêng, Doãn sốt ruột chờ ngày bàn giao để lãnh việc nhẹ hơn. Người thay không thấy tới, chỉ thấy việc mới dồn dập trút xuống đầu.

Anh tốc xuống huyện. Huyện đội trưởng là bạn cũ nghe cự nự một hồi, chỉ cười xòa, đưa anh xem mấy nghị quyết chỉ thị mới về khu đặc biệt Hạ Lào - Đông Bắc Miên và Liên quân Lào - Việt. Bộ phận hậu phương của khu này lấy tên là Phòng biên chính, đặt một trạm gốc ở huyện Tam Kỳ, trạm thứ hai ở Linh Giang, trạm ba sát biên giới, phục vụ cho các cánh quân của bạn và của ta đã chọc thủng biên giới, đang tiến đánh nhiều hướng.

- Nhiệm vụ quốc tế đó mày. Hết kêu rên chưa ?

- Tại tụi bay cứ úp úp mở mở...

Doãn đưa về xã một nhóm cán bộ, hai Lào ba Việt, dẫn họ đi xem thế đất, chọn chỗ đặt trạm hơi xa làng xa sông, trên mối đường xuyên núi đi về Bến Giằng. Du kích và dân quân cũng nhăn nhó như Doãn khi bị điều, nghe lọt tai mới bốc hăng, làm hùng hục: “Rõ rồi đó nghen. Tới khi tổng phản công là mình công tất cả Đông Dương, ào ào tới tới, thằng Tây hết chỗ rúc !”.

Các đơn vị Tây tiến lần lượt kéo qua, mang toàn súng ống tốt, mặc loại quân phục xi-ta chỉ đánh rất bền được gọi là xi-ta biên chính, đặc biệt là được cấp cả dép lốp ô-tô của hiếm. Có những trung đội nói toàn tiếng lạ, anh em phiên dịch giới thiệu là bộ đội Tây Nguyên, chỉ một số cán bộ xã biết là bộ đội Lào. Xen kẽ với bộ đội là những đoàn dân công gánh và cõng rất nhiều thùng vũ khí, kiện quân trang, sọt muối. Càng về sau muối tuôn lên càng nhiều, có thêm mấy con voi và những đàn trâu thồ, ngựa thồ nữa.

Trong mấy tháng cuối cùng ở Linh Lâm chữa bệnh, Cả Chanh hay đến Trạm biên chính Hai, cùng ăn ngủ và săn bắn với mấy đồng chí Lào ở đấy. Anh cố học tiếng Lào, chữ Lào, phong tục tập quán Lào, cách nấu nướng ăn uống Lào, những kiểu đi đứng nằm ngồi Lào, cùng với hàng trăm kiểu xoay xở tháo vát của người ở rừng và sống nhờ rừng.

Anh em Lào ở trạm rất khoái anh học trò vô cùng tò mò này, thi nhau dạy. Họ thường đến chơi nhà Chanh và lò rèn ông Chua, nơi có thế sửa vá quân trang hay đóng cán con dao găm, nhoáy cái là xong. Hai Thùy tập làm món lạp bằng thịt hay cá băm sền sệt ăn sống mà người Lào từ dân đến vua rất thích ăn bằng tay mỗi khi tiếp các bạn mới của chồng, nói được năm bảy câu chào hỏi dễ nhất trước khi nhường cho chồng tán dông dài hàng giờ bằng tiếng Lào và ngửa cổ cười hô hố. Khi biết tên Thùy, các bạn đem ghép tên hai vợ chồng và gọi Cả Chanh là ai Chăn-thi, xá-hải Chăn-thi 1. Họ tiếc mãi không có thì giờ và thiếu voi khôn, không thể đào hố bẫy để bắt những con voi rừng hay rống văng vẳng trên núi ông Tượng, đem về luyện cho chở người, lái hàng. Giá một con voi nhà trẻ khỏe mua bên Lào những hai ba chục ngàn Đông Dương chứ ít đâu !


----------------------------------------------------------
1. Anh, đồng chí
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #146 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2016, 02:56:04 pm »

*
*  *

Bà con Linh Lâm xì xào:

- Ba Mít đi hội dưới huyện về, coi bộ tơ tưởng lắm. Chắc có việc trọng đại.

- Xì, cha đó thì hồi nào chẳng trọng đại. Người ta kêu chả là anh “đại ngôn, đại thanh” xưa nay rồi.

- Hay là mụ gì mì Quảng bánh xèo ở Huề Bình đá đít ?

- Trời biết được...

Trong ủy ban xã Linh Giang, đồng chí Hùng Minh tức Ba Mít thường tự nêu gương là không hề có tư tưởng nặng gia đình, khác hẳn với số đông cán bộ xã, thôn, xóm luôn luôn kiếm cớ “ghé về chút xíu” để giọi mái nhà dột hay làm cỏ miếng ruộng trước ngõ. Một vợ bốn con của đồng chí cào bới kiếm ăn ra sao là việc riêng của họ. “Khuya ăn khoai đi ngủ, sáng ăn củ đi làm, trưa nhai mỏi hàm năm ba hột mít”, họ cứ vậy mà sống, trong khi đồng chí phó chủ tịch thường trực xã Linh Giang ngồi chễm chện giữa trụ sở ủy ban với mái tóc nuôi dài chải bóng và khuôn mặt rỗ hoa ngày càng béo trắng ra. Đồng chí ăn cơm tháng tại một quán gần đây, tiền cơm ngốn hết hai phần ba số thóc và tiền chi cho cơ quan xã, còn khi chiêu đãi cán bộ trên về thì đã có cụ tú Đỉnh rộng tay bao hết.

Đồng chí Hùng Minh hay than thở rằng ủy ban xã đùn hết việc cho mình. Sự thật cũng đúng như vậy.

Ông Tư Chua vẫn còn làm chủ tịch xã, nhưng mỗi lần hỏi tới công việc chung lại được nhận một tràng “nói chữ” của ông phó đến ù tai, đành quanh quẩn tới lui giữa xóm Mới, lò rèn và binh công xưởng Cao Thắng, anh em ở xưởng quen coi ông như người nhà. Tám Doãn mệt nhoài với trách nhiệm xã đội trưởng, chẳng mấy khi nhớ mình cũng là phó chủ tịch. Trong số bốn ủy viên còn lại thì ba người lo ngành của mình đủ bở hơi tai, chỉ có bác ủy viên kinh tài là Mười Áng chăm đến trụ sở nhất, làm việc ăn ý với đồng chí Hùng Minh nhất.

Khác với cụ tú Đỉnh nuôi bộ râu thật dài cho xứng với một vị nhân sĩ trí thức có tuổi, cũng khác với ông Tư Chua chừa hai chòm râu mép lơ thơ hai bên khóe miệng trông buồn cười như hề tuồng, bác Mười Áng ngồi đâu cũng rút cái nhíp hay lượm hạt thóc, sờ sờ nhổ trụi râu. Bộ mặt nhẵn nhụi với kiểu cười tít mắt làm rung cặp má sề sệ khiến cho bác Mười được coi là người dễ gần dễ thân hơn cả trong số cán bộ cùng lứa trên dưới năm mươi tuổi. Dân làng đã quên lối thưa bẩm năm xưa khi đến ông Cửu Áng nộp tiền xin áp triện, ai nhớ cũng chép miệng cho qua vì Cửu Áng ăn hơi nặng nhưng chẳng mấy khi đánh đập cùm kẹp ai. Trong năm năm sau Cách mạng, bác Mười Áng lần lượt làm trưởng ban Bình dân học vụ, trưởng ban Đỡ đầu dân quân, phó chủ tịch Liên Việt xã. Đồng chí Hùng Minh đưa bác vào Đảng năm ngoái, tiếp đưa vào ủy ban xã. Trong chi bộ Linh Giang số đông thấy ngờ ngợ, vài người phản đối thẳng thừng. Rồi những thắc mắc cũng nguôi lắng dần khi bác Mười tỏ ra vừa thạo việc vừa cần cù sổ sách giấy tờ phân minh mà xử sự với đồng bào cũng nhiều bề dễ dãi. Những ai xét nét nhất đều lần hồi đổi ý: đánh kẻ chạy đi chứ ai đánh kẻ chạy lại...

Cả Chanh sắp lên đường sang Lào cùng với một đại đội Tình nguyện quân nữa rút từ trung đoàn 108, đã được bổ sung và huấn luyện thêm trong vài tháng. Bà con bạn bè kéo đến thăm đầy nhà, có lúc ngồi chật cả Câu lạc bộ Thanh niên. Nhiều người đem biếu anh những thứ thuốc quý để dành: mật gấu, cao hổ cốt toàn tính, hột châu kết dưới đáy chai mật ong lâu năm, thuốc dấu gia truyền liền thịt liền xương. Anh em Cao Thắng sửa và tặng anh một súng ngắn Vích-ke cỡ chín ly, chuôi lắp hai má bằng ngà voi có khắc tên anh rất đẹp. Cha anh rèn cho một dao găm thép cực tốt, Năm Bưởi may cho cái bao da dâu láng bóng... Cả Chanh nhận một phần, lựa lời từ chối một phần, có lúc rớm nước mắt.

Hùng Minh đến chào anh với vẻ mặt lạnh lùng và lời nói nhát gừng. Trong những tháng sinh hoạt ghép với chi bộ Linh Giang, Chanh đã nhiêu lần góp ý với chi ủy và với riêng Hùng Minh, bị phàn ứng khi nhẹ khi nặng. Bây giờ Chanh lại kéo cậu cơ sở cũ của mình ra một góc, nhắc lại đề nghị mà anh đã nêu hai lượt trước chi bộ: cần xử lý số ruộng đất của tú Đỉnh, trước hết là thu lại phần “đất mơ hồ” bị bao chiếm và buộc lão phải giảm tô giảm tức theo chính sách đã ban hành năm 1949 - chi bộ không hề nghe nói đến chính sách này, cũng không biết ai đã ỉm đi, im lúc nào.

Chanh biết Hùng Minh sẽ khó chịu, nhung không ngờ cậu ta xấc xược đến thế:

- Anh cứ lo cái bản phận của anh cho trọn. Việc của tụi tôi để yên tụi tôi lo, anh đừng ôm rơm mà nhặm bụng !

Cậu nói xong bỏ đi ngay, không chào ai cả. Chanh đứng ngẩn ra ngó theo, không hiểu tại sao con người quanh năm nói hùng hồn về lập trường giai cấp và quyền lợi của dân cày lại đột ngột cáu tiết như vậy. Lão phủ Đỉnh đã mua được hắn hay đây chỉ là một cơn tự ái, sĩ diện ?

Chanh đi được vài hôm, Hùng Minh cưỡi xe đạp xuống huyện lần nữa. Chiếc xe này do ủy ban mua và sửa theo đề nghị của bác Mười kinh tài, vì cán bộ thường đi họp xa và mượn ngựa mãi của cụ tú Đỉnh cũng khó coi. Thật ra chỉ một mình Hùng Minh dùng nó, đi thăm họ hàng hay dự huấn luyện dài ngày cũng mang theo.

Cậu ta xuống đón đoàn cán bộ quan trọng do đồng chí Trà Đình Mậu tức Ba Mậu dẫn đầu, về chỉ đạo thí điểm xã Linh Giang. Bác Mậu dặn riêng cậu chỉ đón sau khi Cả Chanh lên đường, bởi “thằng cha đó tới đâu gây bè kéo cánh tới đó, phá quấy lung tung, mà dân Linh Giang cứ tưởng nó tốt mới thiệt rầy rà”.

Sau khi nhận quyết định “được phép rút” khỏi chức vụ bí thư Đảng ủy và quyền giám đốc sở hỏa xa, Ba Mậu trở về Quảng Nam. Bản nhận xét anh cầm theo chỉ nêu những mặt tốt chung chung và mặt yếu chung chung mà ai cũng có ít nhiều. Các đồng chí ở liên khu góp ý bằng miệng khá mạnh, nhưng khi đặt bút viết thì vẫn muốn nương nhẹ đối với một đảng viên kỳ cựu, vả lại Ba Mậu đã tỏ thái độ đau xót thành khấn mỗi khi gặp mặt. Tỉnh đưa anh trở về làm phó chủ tịch Tây Quảng như cũ, còn vào huyện ủy hay không thì sau sẽ tính. Tuy vậy, mỗi khi làm việc với cán bộ xã, thường kiêm cả công tác công khai lẫn bí mật, anh vẫn quen tuyên bố bằng giọng thấp và trịnh trọng: “Thay mặt huyện ủy và chính quyền huyện, tôi giao nhiệm vụ cho các đồng chí...”.

Chuyến đi hai chục cây số từ huyện về Linh Giang được tổ chức rất chu đáo. Cùng đi với Ba Mậu có một cậu mới tuyển vào văn phòng Nông hội tỉnh được xuống xã cho biết đó biết đây, một cán bộ kinh tế huyện, một tiểu đội phó cảnh vệ huyện, một chú em liên lạc, một con ngựa loét lưng mà bộ đội qua đường vừa đổi lấy bò thịt. Hùng Minh đạp xe vượt lên trước, ghé vào các ủy han xã dọc đường 56 báo tin đoàn sắp tới, phải sẵn sàng báo cáo và lo ăn uống nghỉ ngơi. Con ngựa không chịu cho đặt yên, đá hậu sa tiền chán lại lăn ngửa ra đất, đồng chí phó chủ tịch đành đi bộ với anh em, tay chống cây can cong đầu bằng mây uốn, cái ba-lô to tướng đặt trên lưng ngựa do chú liên lạc dắt cuối hàng, hành quân mỗi chặng độ bốn năm cây số từ trụ sở này đến trụ sợ khác. Tất nhiên một đoàn cán bộ tỉnh và huyện quan trọng như thế phải được đón tiếp trọng thể bằng những bữa tiệc xả láng diễn ra sau vài chục phút báo cáo tình hình.

Chiều ngày thứ hai của cuộc “lữ thứ hành quân”, đồng chí Hùng Minh đợi sẵn ở quán chị nhân tình bán mì Quảng bánh xèo tại chợ Huề Bình, dẫn đoàn về xã. Dọc đường cậu phân trần:

- Xã nghèo quá, chẳng có chỗ nào ăn ở cho đàng hoàng bác ơi. Quỹ xã thu vô bao nhiêu, Tám Doãn vét nuôi du kích ăn tập với dự chiến hết trơn. May nhờ cụ tú nhà khá giả, tánh khí cũng hào hứng, xung phong rước khách về nhà...

- Cụ tú nào, lâu nay không nghe nói ?

- Dạ, hồi xưa kêu là quan phủ Đỉnh đó. Giờ cụ làm phó chủ tịch Liên Việt huyện, người hiền khô mà trí lự lắm, chữ Tây chữ Tàu đọc ro ro. Bác về nghỉ nhà đó hay nhứt. Chắc bác ở liên khu lâu, ít gặp cụ tú ?

- Ồ, có gặp sơ sơ giữa hội nghị, ổng tới chào mình... Nhớ nhắc ổng xếp cho mình một buồng vắng vắng, đủ bàn ghế, cán bộ tới hội báo cho tiện, còn cái vụ quỹ xã túng thiếu thì chú mày khỏi lo, sắp thu thu vô không kịp ghi sổ, quên rồi à ?

- Dạ, cháu nhớ quá chớ bác !
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #147 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2016, 02:59:36 pm »

*
*   *

Trong cái ba-lô to sù bằng da bò thuộc của Ba Mậu có ba loại quần áo. Bộ com-lê xéc-giơ màu xanh trời kèm giày da, sơ-mi và ca-vát dành cho các buổi lễ, mít-tinh, họp nhân sĩ trí thức. Bộ bà ba đen vải nội dùng khi dạo thăm đồng với bà con nông dân. Hai bộ quân phục cùng màu xám, một bằng xi-ta chỉ đánh, một bằng pô-pơ-lin ngoại, hợp hơn cả với đợt công tác tại vùng chiến khu này, nơi bộ đôi qua lại trút áo quần ra đổi nhiều đến nỗi già trẻ lớn bé đều mặc đồ lính.

Cụ tú Đỉnh là người chu đáo và tế nhị. Cụ nhường cho đoàn cán bộ cả một nửa tòa chính đường, gồm có phòng khách đã đặt nhiều bàn ghế để hội họp, một phòng to kê thêm phản làm chỗ ngủ, còn buộc cô Huyền Tâm dọn sang ở chung với mẹ để nhường buồng cho ông phó chủ tịch huyện nghỉ và làm việc một mình cho yên tĩnh. Bà vợ cả cùng con cái đích thân xuống bếp điều khiển việc nấu nướng, các bữa cơm của đoàn đều sang và lạ miệng như giỗ tết. Cụ tú chỉ gặp cán bộ vào bữa ăn để tiếp khách, hoặc vào những tối rảnh rỗi quanh bàn trà cùng nhau đàm đạo dài dài về ta thắng Tây thua hoặc nhân tình thế thái. Được phép ông Ba, cụ cho người lùng mua thứ rượu sắn ngâm thuốc nam quý như tắc kè, tam xà, ngũ xà, các dược liệu bí truyền miền núi, mời vài ly trước bữa để anh em ngon miệng tăng sức, lại xếp sẵn vài chai cùng thức nhắm khô trong buồng ông Ba để đãi cán bộ đến làm việc. Cụ sốt sắng nhường con ngựa Hường ông Ba dùng, đốc người nhà đắp thuốc chữa loét lưng và tẩm bổ cho con ngựa còm của huyện. Tuy cũng là cán bộ cấp huyện hẳn hoi, cụ không bao giờ hỏi xem đoàn này sẽ làm gì ở Linh Giang, không tò mò hóng chuyện khi anh em bàn công tác bên cạnh cụ, lắm lúc kín đáo lui ra ngoài để họ được thoải mái. Cả đoàn đều tấm tắc khen cụ chủ nhà tốt bụng và khéo cư xử. Riêng Ba Mậu, có vốn Tây học khá nhưng thiếu phần Hán học, khen thêm phần kiến thức uyên bác của cụ.

Thêm một sự tình cờ thú vị nữa: đoàn về xã được bốn ngày thì anh Hai Khánh, con trai cụ tú, cũng về phép thăm nhà. Ba Mậu và Hai khánh quen nhau ở Huế. Khánh đọc mấy bài báo tiến bộ của “Người nhà quê Trung Kỳ”, nhờ bạn giới thiệu cho gặp tác giả để ngỏ lời cảm phục. Ba Mậu mến cậu học sinh trẻ măng, tài hoa và có chí, thường rủ đến chơi nhà và cho mượn sách báo. Nửa năm sau anh bị bắt và kết án tù cộng sản, Khánh càng kính yêu anh gấp bội, ghép thêm vào hình ảnh thầy Trà Đình Mậu vầng hào quang dành cho các bậc tuẫn tiết vì giống nòi Hồng Lạc.

Hai người bạn chênh tuổi gặp nhau, mừng khôn xiết. Mậu gạt ngay kiểu xung hô thầy trò, dù sao Khánh cũng là phó ban địch vận của tỉnh và đã vượt anh về trình độ học vấn. Họ ôn kỷ niệm xưa về xứ Huế thơ mộng, từng lúc ngả sang nói hàng giờ bằng tiếng Pháp, những lúc ấy chỉ có cụ tú Đỉnh và anh thư ký trẻ của Khánh là Bảy Suyền có thể hiểu và chen đôi câu đưa đẩy. Khi cần xem thực địa, Ba Mậu thường nhờ Khánh dẫn đường vì Khánh có ngựa riêng và Ba Mậu ngại đi bộ trên vùng rùng núi lắm dốc và vắt này. Một súng ngắn của Khánh cũng đủ bảo vệ, đồng chí cảnh vệ huyện đeo mút-cơ-tông ở nhà lo quét dọn, giặt giũ thôi. Từ đó, đồng bào các thôn ven sông Linh thường gặp anh Hai Khánh cùng ông cán bộ tóc hoa râm cưỡi ngựa xem địa thế, từng lúc ghé hỏi anh em cán sự thôn hay du kích về mùa màng, an ninh. Đôi người biết công tác của Hai Khánh, đoán rằng ta đánh ngày càng to, hẳn cấp trên định lập thêm vài trại tù hàng binh trong Xê-ca-đơ.

Không vội vã, Ba Mậu mỗi ngày một lần gọi từng nhóm cán bộ đến báo cáo, tùy nơi xa gần mà hẹn chiều hoặc tối. Anh nắm tình hình đảng viên luôn thể, vì hầu hết anh chị em có chút ít cương vị ở xã, thôn, xóm đều đã được kết nạp ồ ạt trong năm ngoái và đầu năm nay. Phó bí thư chi bộ Hùng Minh theo sát anh trong những cuộc tiếp xúc ấy, bí thư Tám Doãn quá bận cũng ưng ý, chỉ dè dặt khuyên đoàn anh Ba nên ở nhà khác thì hơn. Chọn mãi chẳng được nhà ai cả, được mặt này lại mất mặt khác: chật chội, đông trẻ con, không bảo đảm chính trị, thiếu người lo cơm nước. Chỗ Câu lạc bộ Thanh niên rộng rãi nhưng Hùng Minh gạt đi ngay, bảo rằng gia đình Cả Chanh sát bên cạnh chỉ có hai người đàn bà, một vắng chồng và một góa chồng, dễ sinh tiếng đồn nhảm. Đình làng và khu nhà đồn điền La-phạt bỏ trống đấy nhưng dễ ăn bom. Mấy tiệm buôn Tàu trong xóm Chợ luôn có người ra vào. Đành đóng trụ sở trong nhà cụ tú mà Tám Doãn vẫn quen miệng gọi là dinh quan phủ.

Sau mươi hôm nắm tình hình, Ba Mậu chỉ thị cho chi ủy mở cuộc họp chi bộ. Nghe Hùng Minh bảo họp trong phòng khách cụ tú, Tám Doãn nói rất xẵng:

- Họp Đảng mà đưa vô dinh quan phủ là dứt khoát tôi không dự, phê sao đó phê !

Liên tiếp mấy tổ trưởng thác bệnh hay bận việc rất gấp xin kiếu không đến, nhưng hứa sẽ báo cho đảng viên đến. Hùng Minh cho cắt nhiều khẩu hiệu giấy vàng trên vải đỏ, trang trí khá đẹp. Ba Mậu mặc quân phục còn nếp gấp, đeo súng ngắn Côn 45 mượn của Hai Khánh, ngồi sau trên ghế chủ tọa và lật lật xấp tài liệu chờ khai mạc, với đồng chí cảnh vệ chống mút-cơ-tông ngồi chéo mé sau. Các cửa phòng khách đều khép, gia đình cụ tú rút hết xuống nhà ngang hay ra vườn, phục dịch trà thuốc cho hội nghị đã có hai đảng viên tá điền ở xóm Ấp lo liệu.

Triệu tập tám giờ sáng, chín giờ mới có đảng viên thôn Linh Lâm đến lác đác, mười một giờ thì hết hẳn những người đến muộn. Kiểm lại, chi bộ hơn bảy chục chỉ 28 người đến họp, chi ủy năm đồng chí chỉ có mặt phó bí thư Hùng Minh và chi ủy viên Tư Chua, chủ tịch xã. Ba Mậu túc sôi lên, vẫn cố ngồi lật lật tài liệu trong khi đảng viên phì phèo những điếu thuốc Thượng cuốn nguyên lá to đùng, uống thứ chè quắn thơm ngon nhất của cụ tú biếu, tán gẫu chuyện rừng chuyện ruộng, thú núi cá sông, nhiều người giở mo cơm nắm ra ăn.

Cứ phải khai mạc thôi. Hùng Minh hùng hổ nói một tràng chữ chính trị về kỷ luật sắt của Đảng nghe nhức cả tai. Ba Mậu bình tĩnh lại, cắt ngang đà diễn thuyết của cậu ta, nói về tầm quan trọng cực kỳ của đợt học tập này. Những chủ trương mới của Đảng sẽ đem lại quyền lợi hết sức to lớn cho bà con ta, đặc biệt là nông dân nghèo khổ. Chi bộ bắt đầu nghe chăm chú, gật gù ưng ý khi anh cho hoãn ba ngày để các đồng chí kịp “kiếm thứ gì cho vợ con bỏ vô nồi”, bật cười vui thích vì nơi họp sẽ chuyển sang trường tiểu học - các cháu nhường lớp cho Đảng vài ngày chẳng hề gì. Mọi người hỉ hả ra về, còn Hùng Minh bị Ba Mậu xạc một trận rất đáng kể.

Ba ngày sau, chi bộ họp tiếp, lần này được sắp đặt kỹ càng hơn. Hai lớp của trường tiểu học nép dưới cây đề tán rộng đã được tháo dỡ phên liếp, kê lại bàn ghế, căng nhiều biểu ngữ lớn. Một thày giáo trẻ chưa vào Đảng họp các em học sinh ở nơi khác, cho ôn lại nhiều bài hát kháng chiến và vở ca kịch “Hội nghị Diên Hồng”. Ba Mít gọi họp riêng một số đồng chí lâu nay ăn ý nhất, dặn phải lên tiếng hưởng ứng nhiệt liệt sau khi cấp lãnh đạo nói xong, cũng nhắc lại lượt nữa phải nhớ cái tên Hùng Minh để gọi cho đúng. Đồng chí phó chủ tịch huyện thay mặc bộ bà ba đen, vắt vai cái khăn cũ như ông lão nông, không đeo súng ngắn, cho cậu cảnh vệ ra gác trước cổng để xua những người tò mò chứ không kè kè bên lưng cấp trên nữa. Và tất nhiên anh đi bộ đến chỗ họp, tán chuyện xuề xòa với mọi người trong khi chờ đợi.

Chi bộ tới gần đúng giờ và gần đông đủ, chỉ vắng sáu đồng chí đi dự chiến, đi dân công, đau ốm. Càng rõ trước đây họ nghĩ giống Tám Doãn: họp Đảng ở nơi trái khoáy quá thể, cãi cấp trên không được thì cứ né tránh phần mình.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #148 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2016, 03:01:44 pm »

Ba Mậu dành một giờ để nói về tình hình thế giới, trong nước, trong liên khu, tỉnh, huyện. Anh thường được khen là người diễn thuyết đĩnh đạc, hấp dẫn, luôn luôn làm chủ thời gian theo thói quen giảng bài. Không khí chung từ từ bốc lên, rộn rịp lên.

- ... Chẳng cần nói đâu xa, bà con xã mình đây quanh năm đưa đón bộ đội ra trận, quảy gánh đi dân công tiền tuyến tới sát địch ở Quế Sơn, Duy Xuyên, cũng thấy ta mạnh địch yếu. Một xã như vậy, toàn cõi Đông Dương cũng vậy. Thằng Tây kiệt sức rồi. Phía ta thì Hồng quân Trung Hoa đưa hàng triệu quân dồn tới sát biên giới, Bắc Triều Tiên đang tổng công kích ào xuống giải phóng nửa nước phương Nam. Liên bang Xô-viết sẵn sàng tung các thứ võ khí tối tân ra giúp ta giành độc lập...

Hội trường rào rào tiếng xuýt xoa, tiếng kêu khẽ vui thích. Ba Mậu tinh ý, cho nghỉ luôn mười phút để mọi người tha hồ bàn tán. Cả những ai ngại họp và hay ngủ gật nhất cũng bị cuốn vào cơn say chung, cười nói mỗi lúc một hăng.

Đồng chí đồng bào Linh Giang phải làm gì để Tổng phản công được toàn thắng ? Ba Mậu biết phải rèn nhanh khi sắt đang nung trắng. Giờ sau, anh lật ngửa quân bài giữ kín.

- ... Thanh niên trai tráng tòng quân giết giặc, vô du kích gìn giữ xóm làng, năm nay đông đảo bằng cả chục làn năm ngoái. Ai lo súng đạn cơm áo cho chiến sĩ ? Chính bà con ta lo. Chiến sĩ đông gấp mười lần, bà con ta phải đổ thêm mồ hôi, trút thêm của cải, tăng đóng góp lên gấp mười lần, chớ sao nữa ? Hay là người ở hậu phương cứ việc ăn no mặc ấm, để mặc kệ con em mình ngoài mặt trận nhịn đói cởi trần, đánh Tây bằng tay không ? Hay là đợi Tổng phản công xong xuôi, mình được hưởng độc lập rồi, được lãnh phần người cày có ruộng rồi, mới thắp cho các liệt sĩ một cây hương để giả bộ thương tiếc ? Hay là cứ bo bo ai lo đầy nồi nấy, tới mai sau con cháu lớn lên nó nhổ vô mặt mình, nói cha ông người ta để lại danh thơm cho gia đình, còn mình vô phước phải gánh chịu sự khinh miệt của làng xóm vì cha ông mình chui nhủi, trốn tránh khi Tổ quốc lâm nguy. Không, trăm ngàn lần không ! Bà con Linh Giang, Đảng bộ Linh Giang đã theo Đảng từ hồi bóng tối, cầm võ khí nổi dậy lập chánh quyền từ trước Cách mạng tháng Tám, tới nay vẫn giữ vững khu căn cứ bất khả xâm phạm này của Kháng chiến, sẽ dẫn đầu toàn huyện toàn tỉnh về tinh thần đóng góp nuôi quân, về cách làm ăn tập thể hoàn toàn mới mẻ !

Ba Mậu nói mỗi lúc một to, mặt đỏ bừng bừng, ngắt mỗi câu bằng một nhát chém mạnh tay vào không khí.

Cả chi bộ cũng hừng hực, sùng sục, hơi thở dồn dập và mắt long lanh, uống từng lời cháy bỏng như rượu nặng độ.

- ... Vì vậy, tỉnh và huyện chủ trương làm thí điểm hai việc tại Linh Giang, hai việc gắn liền với nhau. Thứ nhứt: lập quỹ Tổng động viên, mỗi gia đình sẽ góp vô đó một nửa tài sản hiện có, trừ ruộng đất chưa động tới. Quỹ ấy sẽ dùng một phần làm nghĩa vụ kháng chiến, phần lớn hơn sẽ phục vụ cho việc thứ hai: thành lập Nông đoàn sản xuất tập thể, làm chung hưởng chung. Chi bộ ta được nhận vinh dự lãnh đạo dân chúng Linh Giang làm thí điểm, mở con đường mới cho toàn huyện toàn tỉnh noi theo, quyết xứng đáng với lòng tin của Đảng và Chánh phủ !

Ba Mậu cho nổ quả bom giữa lúc người nghe say bốc nhất. Anh rất mừng khi thấy chi bộ không hề xao xuyến, không ồ à hay đưa mắt nhìn nhau phân vân. Bước khó khăn nhất đã vượt qua rồi, anh tiếp sang phần cụ thể.

Nộp vào quỹ một nửa tài sản đây chỉ là động sản, gồm lương thực, trâu bò, cày bừa cuốc thuổng dao rựa, nồi đồng mâm thau, chăn mùng... Những thứ động sản không đáng giá như chén, bát, đũa, hay những thứ chỉ hợp với từng người như áo quần cũ thì không phải nộp. Các loại bất động sản như ruộng đất, nhà cửa, ao cá, cây ăn trái chưa động tới, số thu được sẽ chọn một phần gửi ra tiền tuyến, như lương thực, chăn mùng, heo bò thịt. Còn lại sẽ là cái vốn ban đầu xây dựng Nông đoàn. Xã ta có khu đồn điền năm trăm mẫu tây của tên thực dân La-phạt, đã phát vỡ hoang trên ba trăm mẫu, trồng cà-phê, thuốc lá, chè, trẩu, cùng các loại cây khác chừng hai trăm mẫu, nay bỏ hư hỏng phần lớn. Nông đoàn dùng vốn do quỹ Tổng động viên cấp, vỡ hóa số đất đồn điền làm ra lương thực cho kháng chiến và cho mình cùng hưởng. Bước đầu chỉ chọn số nam nữ thanh niên khỏe mạnh để dựng trại, đào giếng, cày cuốc trồng trỉa, về sau cả gia đình sẽ chuyển tới định cư hẳn...

- ... Cứ vậy, xã Linh Giang sẽ phất lên lá cờ đầu làm ăn tập thể như các nông trang xã hội chủ nghĩa ở nước đàn anh Liên bang Xô-viết, từ khắp các nơi đồng bào sẽ kéo tới học kinh nghiệm của những người khai sơn phá thạch chúng ta, cũng như năm năm trước đã từng học kinh nghiệm xây dựng du kích Việt Minh !

Anh rút khăn tay lau mồ hôi trán, cho nghỉ lần nữa. Tám Doãn lầm lì suốt buổi, giờ rời ghế trên chủ tịch đoàn bước thẳng ra sân. Hùng Minh nhấc ly nước chanh trên bàn giục anh uống. Mười Áng túm tay ông Tư Chua kéo tới trước diễn giả:

- Dạ thưa, tôi hoan hô còn sợ mang tiếng lấy lòng. Bác Tư đây chánh thị là cách mạng nòi, bác tuyên bố: nghe anh Ba hô hào vậy, bà con nhảy vô lửa chẳng từ nan đâu. Bác hẹn bác xung phong mẫu mực trước, hề hề... trong nhà sót một hột muối cũng cắn đôi cho chiến sĩ, phải chưa bác Tư ?

Ông Tư vung tay oang oang:

- Y sì vậy đó. Người ta hi sanh cả tánh mạng, tự tay đốt nhà làm tiêu thổ, lưu lạc đói rách theo Chánh phủ đánh Tây, mình đây mới góp nửa tài sản đã ăn nhằm gì ! Đừng có tiếc thóc bồ trâu bầy, một trái bom là tiêu hết, chỉ còn cái hố với cái miệng thế gian chê cười ! Quý nhứt nhà tôi có bộ đồ rèn tích góp ba đời đó, tôi đem xắn đôi, lập cho Nông đoàn một lò rèn dao cuốc ngay tức thời, cần nữa thì thằng Tư này nhảy vô ngồi rèn cho bà con. Đâu xa không dám nói, chớ nội huyện Tây Quảng đây tay nghề đập búa không ai qua mặt nổi lão Tư Chua !

Ba Mậu hồ hởi siết tay ông chủ tịch xã chỉ thoáng gặp một lần. Lát sau anh sực nhớ lời Hùng Minh mách ông Tư là cha Cả Chanh, giật mình nghĩ: “Mình vô ý quá. Lão ta hùng hổ khoác lác vậy chắc có dụng tâm, không gây uy tín cá nhân thì cũng tính kế chạy chánh sách...”.

Trong phần thì giờ còn lại, anh giảng về những sai lầm lệch lạc có thể xảy ra, nặng nhất là dân chủ quá trớn, tự do vô chánh phủ. Anh nhấn đi nhấn lại rằng kỷ luật sắt của Đảng chỉ cho phép đảng viên bàn bạc để thi hành chứ không được bàn lùi, bàn ra. Thiếu phục tùng đa, hạ phục tùng thượng, quên điều đó là loạn, loạn to. Anh báo vắn tắt, coi như quyết định có sẵn từ trước, rằng đồng chí Hùng Minh được chỉ định làm trưởng ban quản trị quỹ Tổng động viên, và tài sản cụ tú Ung Viết Đỉnh sẽ được cấp trên định đoạt sau này, theo đúng chánh sách của Đảng đối với một phó chủ tịch Mặt trận huyện. Thay vì cho năm bảy người lên tiếng hưởng ứng nhiệt liệt như đã sắp xếp trước, anh đổi ý cho chuyển sang thảo luận tổ, để những phần tử đáng ngờ như Tư Chua không được dịp lấn lướt gỡ uy tín.

Trong bữa trưa có món thịt bò non nhúng dấm ngon tuyệt trần, Hùng Minh cùng cả đoàn nâng cốc chúc mừng buổi lên lớp rung chuyển lòng người của đồng chí phó chủ tịch. Cụ tú vuốt râu cười khà, đặt thêm vài chai lên bàn, bấm Hai Khánh cùng rút lui để anh em tha hồ bốc thơm nhau. Ba Mậu cao hứng dốc cạn nhiều ly đến lảo đảo, lăn ra ngủ suốt chiều, chỉ được mời dậy khi phải tiếp các tổ trưởng đến hội báo.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #149 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2016, 03:02:55 pm »

Chi bộ chia làm sáu tổ. Riêng tại Linh Lâm có ba tổ: cơ quan xã một, xóm Mới một, các xóm khác một. Ba thôn Thượng, Trung, Hạ mỗi thôn một. Các tổ trưởng Đảng lâu nay làm việc hăng, đáng tin cậy, Hùng Minh đã cam đoan với Ba Mậu họ sẽ “phục tòng ro ro”. Bây giờ, họ báo cáo rất bình tĩnh và lễ phép mà cứ như giội từng gàu nước lạnh vào mặt Ba Mậu cho tỉnh rượu.

Xếp sang bên năm bảy chục lời hỏi thêm để làm cho xứng ý cấp trên, còn một loạt câu căn vặn thật hóc búa.

Tám Doãn cùng tổ cơ quan đòi xem tận mắt bản nghị quyết của tỉnh và huyện mà anh Ba đã nói miệng. Thu một nửa tài sản của dân là việc lớn tày đình, không thể dựa vào lời nói gió hay. Lại nữa, đồng chí phó chủ tịch huyện chỉ là đảng viên thường, sao có quyền chỉ đạo chi bộ và chi ủy ? Ai giao quyền, quyền hạn tới đâu, xin cho xem văn bản !

Tổ Linh Lâm I tức tổ xóm Mới cương quyết không chịu để Hùng Minh làm trưởng ban quản trị. “Ảnh có chữ nghĩa, ăn nói lợi khẩu, làm giấy tờ thì được, chớ đùng để rờ vô chỗ gạo tiền”. Họ giới thiệu năm người, trong đó có Tám Doãn và cả chị Năm Bưởi, người đã bị Hùng Minh gạt ra ngoài đợt học tập này vì “có vấn đề đạo đức đang phải tra xét”, thật ra chỉ vì hay cãi lý chẳng biết nể ai.

Tổ Linh Lâm II đợi cụ tú Đỉnh nộp một nửa tài sản y như mọi người, để lại sau thì tẩu tán hết. Về điểm này số đảng viên xóm Ấp, hầu hết là tá điền của lão, cứ xói vào kể tội vợ chồng lão dù chủ tọa sốt ruột ngắt lời nhiều lần. Có người còn nói “đoàn ông Ba Mậu ăn xôi chùa ngọng miệng, che chở nhà giàu, chỉ vơ vét dân nghèo”.

Một nhóm đảng viên có máu mặt ở Linh Hạ bảo khi nào Cụ Hồ xuống lệnh toàn dân cùng nộp thì họ nộp, giờ chẳng tội vạ gì đem thân làm thí điểm trước. “Đó rồi hư việc thì ông Ba Mậu xách gói đi biến, lũ mình bị thí luôn. Ông khác về sẽ nói: thôi thôi, chuyện cũ cho qua, nay có chủ trương mới, đảng viên phải triệt để chấp hành...”. Ba người trong số ấy đã bỏ họp ra về.

Dè dặt nhất là bảy đồng chí tổ Linh Thượng. Từ quê xa đến được kết nạp cho đủ chỉ tiêu thi đua phát triển đảng, tài sản không có gì, họ “cứ là xin một lòng theo Đảng tới cùng”. Nhưng vì đã gặp quá nhiều cán bộ lưỡi dài tay ngắn trên những chặng đường tản cư, họ chỉ mong mỏi đồng chí phó chủ tịch huyện ở lại xây dựng Nông đoàn chí ít là một năm, đừng đem con bỏ chợ.

Cuốn sổ biên bản dưới tay cậu văn phòng nông hội tỉnh, thư ký của đoàn, đã kín tám trang chữ mà các tổ trưởng vẫn lần hồi nhớ ra thêm từng xâu thắc mắc. Dưới ánh đèn măng-sông ri ri sáng xanh rực - cụ tú Đỉnh đã hào hiệp biếu dầu lửa mua rất đắt tại khu nhà khách - dễ thấy mặt Hùng Minh tái mét. Ba Mậu vã mồ hôi đến sẫm hai nách áo.

Một cơn tức giận dữ dội đang bốc cháy trong Ba Mậu. Anh cố ghìm mình đến run tay nghẹn họng để khỏi đập bàn thét lớn: “Câm họng ! Cho phép bàn bạc dân chủ thì các người nói xóc óc, phá ngang, nhẹ không ưa cứ ưa nặng ! Để coi, mệnh lệnh cấp trên ấn xuống các người trốn đâu ? Hay là muốn khai trừ, giải tán chi bộ, lập chánh quyền quân quản ?”. Anh chịu không nổi nữa. Phải quát vào mặt chúng nó. Phải thẳng tay...

Anh bật dậy đi vội ra hiên, hít một hơi dài, cố xả ngọn lửa trong ngực qua mũi miệng. Sau lưng anh các tổ trưởng xin nhau thuốc hút, nói khẽ:

- Để ảnh nghĩ câu giải đáp...

- Đói hung rồi mấy cha. Trưa mới gặm mấy trái bắp luộc, lọt đâu mất.

- Học giỏi đi, cấp trên cho bò heo đánh một trận bế mạc, xực chết thôi ! Cả xã nộp nửa tài sản, làm gì cho hết !

- Chớ đó nghen. Dân chưởi nát mặt, ăn vô dễ, nhả ra khó...

Ba Mậu chắp tay sau lưng, đi thong thả vài vòng trên sân gạch xa ánh đèn. Người anh nguội dần, mát dần, nhưng một cảm giác lạnh mơ hồ lại từ từ thấm vào anh qua các lỗ chân lông, mỗi lúc một tăng. Anh ngửng nhìn mảnh trăng thượng tuần nhòe nét trên lớp sương mù, thấy nó nhợt nhạt như mất máu. Những con đớp muỗi nhào lộn chúi chồm, có lúc xẹt qua sát đầu anh, đang chơi trò chọc tức con người thù địch hay rình bắt chúng. Tiếng “bép, bép” vẳng từ xa của cọp gọi nhau giữa cuộc săn hay của con chim tơ-cang luôn theo đuôi cọp, các tay săn thú nói khác nhau. Tất cả chung quanh anh đều lạ mắt lạ tai, chứa đầy hăm dọa lẩn khuất. Tới đây đất nước lạ lùng, con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kiêng. Đừng nóng, đừng hấp tấp...

Anh quay vào chỗ hội báo, nét mặt đã trở lại tươi tỉnh:

- Sáng mai các đồng chí cho thảo luận tiếp. Nhớ nhắc anh chị em có thái độ xây dựng. Trên dưới cùng làm, cùng chịu trách nhiệm, phải chưa ? Đưa khó khăn ra thì nên nghĩ luôn cách vượt khó khăn. Chiều mai tôi giải đáp, giờ lo kiếm ba miếng đã !

Đêm ấy Ba Mậu thức gần trắng, chìm sâu trong cô đơn như trong mù rất đặc và lạnh. Hồi bước vào ngành xe lửa, anh được Cả Chanh đưa đi giới thiệu khắp nơi, chia sẻ cho anh rất nhiều mến phục của tập thể. Dần dà về sau anh thấy mình xứng đáng hơn Chanh, anh sắp xếp lại, anh lấn lên... Kể ra, mình cũng làm hơi quá một tí đấy, nhưng lại thêm cái nạn phù thủy khiến ít âm binh động nhiều, cũng không ngờ thằng Chanh bỏ đi dễ dàng như vậy... Chỉ hơi quá một tí thôi mà, các cha ở liên khu phê mình nặng lời kinh khủng, còn may mình giữ được bình tĩnh, giả dại qua ải cho xong… Kể cũng tội nghiệp, nó đang leo dốc theo hướng Tây kia, hướng con cọp kêu bép bép ban nãy. Nó rất thật thà, thật thà là cha đứa dại, mình thay nó là phải thôi, đáng lẽ nó ở lại giúp mình về nghề xe lửa thì hay tuyệt. Mình chỉ cần giữ chức giám đốc Sở hỏa xa vài năm cho xứng với công lao làm cách mạng từ thời Mặt trận dân chủ, sau sẽ nhường cho thằng Chanh hay ai cũng được, mình lên nữa càng hay, nếu lui về nghỉ thì cũng là cán bộ liên khu, đỡ bị coi thường. Cứ như về Đảng thì chán chết, mấy đứa mới nho nhoe đã được vào huyện ủy, mình chịu khó vận động mà vẫn trượt, hồi năm 47 ở ngay Tây Quảng đây thôi. May mà được mấy cha bạn cũ đưa về làm bí thư hỏa xa, không thì chỉ trụi thùi lụi một chữ đảng viên trong lý lịch !

Mãi đến gà gáy đầu Ba Mậu mới trở lại thanh thản, ngủ thiếp rất say.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM