Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:53:39 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người cùng quê - Tập 1  (Đọc 126572 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #250 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 02:26:29 pm »

*

Bị thúc giục từ mọi phía, Cam vẫn chần chừ chưa định về với vợ con. Cam thấy cần tập làm quen với nếp sống gia đình, bỏ dần những thói quen của người độc thân đang tới sát tuổi tam thập. Có lẽ vì xa nhà quá sớm, nên những thói quen ấy hằn sâu hơn người khác chăng.

Đời lính chiến kham khổ mà đơn giản. Cho gì ăn nấy, cấp gì mặc nấy, phụ cấp ít thì liều liệu mà xài, cả khi tóc dài cũng cắt cho nhau. Chiếc xe đạp tồng tộc mua rẻ của Cam chỉ mua nổi sau khi lĩnh phụ cấp chuyển ngành. Cam chỉ tập lo liệu cho mình thêm một ít, chứ ở ký túc chẳng phải nghĩ đến nhà cửa, điện, nước, hai bữa ăn trưa tối. Bây giờ khác nhiều, Cam phải lo cho mình và cho hai người kém sức hơn. Về sống với Lan, Cam không phải đạp xe đường dài, vác xe qua chỗ lầy lội, sớm tối quấn quýt bên nhũng người mà Cam thật lòng yêu quý, kể cả người vắng mặt là anh Thống.

Hoàng Lan thạo sắp xếp hơn, đã bàn với chồng: ăn sáng đơn giản, bước qua cổng sau là một dãy hàng bánh mì, bún, bánh cuốn cuối tháng cạn lương thì ăn khoai sắn. Cơm trưa tối của bộ ba sẽ báo hai suất rưỡi ở bếp tập thể, tự làm thêm một món dài ngày, đầu tháng là tôm thịt cá kho, cuối tháng là vại dưa cà. Cam cười xòa: qua đợt tiếp khách sau đám cưới, anh về.

Sau đám cưới, Cam không học được. Khách đông đến ngộp thở. Bạn của hai vợ chồng, bạn anh Thống, bạn đồng hương, anh Cam phải tiếp liên miên trong khi Lan đi làm và con đi học. Dù đã hạ mức chi tiêu xuống tới chè ba hào một gói và thuốc lá Bông Lúa rẻ tiền nhất, Lan vẫn phải giật lửa các bạn, vì tiền mừng hậu hĩ đã dùng để sắm thêm ít đồ gỗ, soong nồi, bát đĩa.

Thật ra Cam nghĩ nhiều mà chưa nói hết.

Cán bộ đi học, chỉ muốn học mà rất ngại việc lớp, việc nhà trường, việc chi bộ, chi đoàn. Cam bị tròng vào cổ quá nhiều việc: chi ủy viên, lớp phó (thường phải thay lớp trưởng thấp khớp Lê Tùng), cán sự bộ môn Lý luận văn học, thay mặt chi ủy theo dõi chi đoàn Thanh niên lao động, gần đây còn thêm chức đại đội trưởng tự vệ. Ở ký túc, có thể giải ngoáy một việc trong vài phút, trong khi cầm đũa khua bát xuống ăn cơm. Mình ra ở ngoài, trút việc lại cho ông Tùng mắt lồi, nên chăng?

Nói hết, chưa chắc Lan đã hiểu. Cứ khất lần hồi đã.

Cứ thế, Cam lại về nằm tầng hai trên giường ký túc, với ngọn điện đèn mờ đom đóm, với các bạn sinh viên trẻ luôn sẵn sàng dựng dậy trong giờ nghỉ trưa hay nửa đêm để kể vì sao phải cắt với cô Ngọc hay cô Hồng, để buộc anh giải quyết gấp bữa cơm không nuốt nổi hay vòi nước tắm chỉ rỏ từng giọt, để trạm gác bên cổng không đuổi một cô yêu nhất đời, khiến cô ấy thề không nhìn mặt cậu nữa.

Muốn bỏ việc cũng rất khó. Cam bị buộc phải nhớ mình là đảng viên, cán bộ. “Đồng chí định trút gánh cho ai?”

Ừ nhỉ, mình trút gánh cho ai? Cho thằng trộm cắp chưa bị khai trừ là tay Hóa chăng? Cho ông Tùng thấp khớp chăng? Cho anh chị em từ phổ thông lên, sống bằng học bổng, sợ bị trù dập? Cho những vị trong Ban giám hiệu mỗi năm đến thăm một hai lần với sự thu xếp mấy ngày trước?

Và Cam cứ ở lỳ trên ký túc, vài tối mới về một lần với vợ con, khi vắng họp. Nhiều chức phải họp nhiều, đến nỗi Cam phải kêu cứu trong khi họp chi bộ: “Lê-nin bảo học, học nữa, học mãi, chúng ta hiểu là họp, họp nữa, họp mãi!” Bài thơ chế giễu những người tự cưa đôi để họp nhiều nơi cùng lần của Mai-a-côp-xki được chép chữ to, đóng khung đỏ, dán lên báo tường khoa Ngữ Văn ở chỗ trang trọng nhất, để đấy suốt tháng không bóc. Nhưng các quan chức có để mắt đến báo tường bao giờ, lắm vị nhớ mang máng rằng Mai-a là nhà thơ Pháp thế kỷ 17!

Cán bộ giảng dạy vẫn báo động, số điểm dưới trung bình tăng đến đáng sợ. Đảng uỷ nhà trường phải nhiều lần nằn nì “xin điểm” cho sinh viên, gợi ý gần xa đến những sự khuyến khích công nông, cần tránh chủ nghĩa thiên tài, các quan điểm tư sản trong giảng dạy. Số cán bộ trẻ cỡ trợ lý, phụ giảng hay cả nể, nhưng các thầy kỳ cựu không nể, cả đảng viên cũng như ngoài Đảng, cả số tốt nghiệp Xoóc-bon, Ốc-phớt hay Mát-xcơ-va, Ki-ép đều nói gần giống nhau: “Chúng tôi cho điểm theo kết quả học tập, không theo lý lịch. Nhà trường và xã hội dùng sinh viên tốt nghiệp ra sao tùy ý, chúng tôi không có quyền can thiệp. Cố ghép chúng tôi vào tội chuyên môn thuần túy, xin chịu, mai sau sẽ xem ai đúng ai sai”.

Hắc-xì-dầu nhất là các “cụ” phó tiến sĩ ngữ ngôn học, chủ nhiệm khoa Sinh vật tiến sĩ Xoóc-bon, phó chủ nhiệm khoa Địa mới lập, cùng một loạt trí thức trẻ ở các khoa. Khoa Ngữ Văn của Cam luôn bị ám ảnh vì “cụ” bộ môn Ngữ ngôn, tuy cụ mới ngoài bốn mươi và rất ham đá bóng giao hữu với sinh viên. Đến mỗi đợt kiểm tra ngữ ngôn cụ biến thành pho tượng đá lạnh ngắt, cả khi sinh viên kêu to cho nhau: “Cụ moóc-phem đến đấy, liệu hồn mà ăn ngỗng”!. Cụ cho hai phần ba lớp ăn ngỗng, sau đó lại ra sân bóng làm trung vệ, cứ tỉnh bơ như vừa khiêu vũ rất dẻo với các cô sinh viên vừa bị cụ bắt thi lại và bắt học bù trong đợt nghỉ cuối học kỳ, không còn biết Tết biết Hè là gì nữa. “Sao thầy truy chúng em ghế thế? Thầy cho chúng em hưởng tí tuổi thanh niên với chứ!”.

Ông thầy mặc bộ com-lê mốt mới nhất, đang ôm lưng cầm tay cô sinh viên vào hạng đẹp nhất trong điệu tăng-gô dịu nhẹ và ru hồn nhất, chỉ dùng một trong sáu ngoại ngữ mà ông nói, đọc và viết thành thạo: “Tôi đòi hỏi nhiều ở các bạn trẻ, để tương lai các bạn không đầu hàng trước những đòi hỏi của đất nước”.

Cô sinh viên chỉ còn biết xoay người theo điệu van-xơ mới nổi lên trong vòng tay của ông thầy bị coi là máy móc. Cô bạo lên, ghé hỏi nhỏ bên tai thầy:

- Sao thầy không chịu lấy vợ?

- Tôi đang tìm con người lý tưởng, tiếc rằng chưa gặp.

- Con người lý tưởng của thầy, phác họa em nghe đi.

- Ôi, chuyện quá dài... Em bị điểm ngỗng, không giận à?

- Không, không... Em chỉ muốn gặp thầy nhiều, gặp mãi…

Cô sinh viên đến với thầy, đến nhiều, đến mãi, cho nên khi nhận thiếp báo cưới thì chẳng ai ngạc nhiên nữa, cũng như khi Cam và Lan cưới nhau.

Nhưng tỉ số cho điểm của ông thầy không tăng. Các tầng giường trên dưới ở ký túc ném cho nhau nhiều nhận xét khá ác. Nhưng học bù vẫn cú phải bù!

Cam đã tàm tạm có đủ tiếng Pháp để đọc tiểu thuyết “Những người sinh viên” của Yu-ri Tri-phô-nốp qua bản dịch, khi bí thì đọc thêm bản Nga. Các bạn Liên Xô xuất ngũ có thể đánh giá được các thầy dạy, còn Cam thì không, chỉ góp ý được về cách giảng bài, cách đối xử với sinh viên. Khối hiểu biết của Cam còn quá nhiều lỗ hổng phải lấp, chưa hiểu thì học hỏi chứ chưa được nói bậy. Ông chuyên gia Trung Quốc sang ca ngợi vô vàn cái mới trong Đại nhảy vọt, sinh viên Bắc Đại trong mươi hôm đã viết xong bộ Lịch sử văn học Trung Hoa với trình độ cao hơn hẳn các bộ cũ (ông giơ cho xem những tập mới in đỏ rực), gần đây lại rất lặng lẽ, kín tiếng. Các chuyên gia Liên Xô nhắc mãi rằng tất cả các nước xã hội chủ nghĩa sẽ cùng một lần bước qua ngưỡng cửa chủ nghĩa cộng sản, nay không nghe nhắc lại. Rốt cuộc, mỗi người cộng sản Việt Nam sẽ suy nghĩ bằng bộ óc của mình.

Và Cam, trên giường tầng, đắm mình trong các tập giáo trình, các bộ sách mới mua của Các Mác, Ăng-ghen, Lê-nin, Hồ Chí Minh, tự đi tìm chân lý của người lính cộng sản, tự định hướng cho nửa cuộc đời còn lại của mình.

Trong khi ấy, vợ con Cam mỗi ngày năm bảy lần nhắc đến chồng và chú vắng mặt, tươi vui ồn ào khi Cam về nhà.

- Má nói chú học khuya lắm, đi họp mãi thôi. Chú về ở nhà mình đi chú. Má bảo cháu gọi chú bằng ba, chú mới vui, chú về. Chúng nó có một ba, cháu có hai ba, càng thích. Chú về nhá?

Nó nói đặc giọng Hà Nội. Cam giở đủ các trò chơi của lính trẻ quen ở nhà dân đông con, quấn quýt suốt buổi tối. Nhưng sáng sớm, mở mắt ra gọi, ba Cam đã biến mất từ lâu, má cho nó ăn sáng với giọng rầu rầu:

- Con cứ kêu ba Cam bằng ba, kêu miết vậy nghen con.

- Dạ. Con thích ba Cam lắm má ơi. Chú hiền lắm, vui lắm.

- Sao lại chú?

- Con quên. Ba Cam... má có thương ba Cam không?

- Má thương lắm.

- Bằng đâu tới đâu?

- Bằng đây tới... ờ... rạp Kim Đồng...

Thằng Nhứt nguẩy:

- Thảo nào... ít quá. Bằng đây tới mặt trời mặt trăng cơ.

- Ăn đi con, má đi làm.

- Má thương ít quá.

- Ừ, ừ, má yêu bằng từ đây đến mặt trời.

- Thế chú Cam mới về. À quên ba Cam. Con cũng hỏi ba thương má bằng đâu đến đâu. Ba nghĩ lâu lâu rồi bảo: bằng thương con, thế là nhất nhé!

Nó cười rinh rích trong khi má chia cốc sữa đậu nành, nó được hai phần ba. Khi má dắt tay đi lớp võ lòng, nó vẫn nhắc mãi như nhẩm cho thuộc là phải gọi chú là ba.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #251 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 02:30:27 pm »

Chương 8


Cậu đội trưởng đội Võ trang tuyên truyền ở tù lâu quá, chẳng nhớ lính Cụ Hồ gọi nhau ra sao, cứ ra khẩu lệnh ang áng: “Nghiêm... phắt! Chào thượng cấp... chào!”. Rồi ai muốn chào bằng súng, nếu có súng, ai có mũ thì đưa tay lên vành mũ, ai không mũ thì nghiêng thân kiểu Nhật chừng vài chục độ tùy ý. Chẳng phải lúc bắt bẻ nhau, khi miền Nam đang nổi dậy đánh võ với Mỹ-ngụy, trong khi không có súng đạn trong tay.

Mười một người, với hai cây súng 1886-93 dài như sào vịt, ba cây súng săn một nòng nghe nói của dân vệ Mã-lai thải ra đem viện trợ cho dân vệ nhà Ngô, còn lại là ná tên, giáo mác. Đội Võ trang này moi được một hầm súng trường Matx của bộ đội tỉnh, vài chục khẩu, nhưng đều thép gỉ gỗ nát cả, không dám dùng. Lựu đạn thành đá cục, lính địch bị ném chỉ bầm ngực hay u đầu. Áo quần có gì mặc nấy, từ bà ba đen lụa Mỹ-Á đến đồng phục rằn ri của biệt động quân hay thủy quân lục chiến. Anh em được giao phát động khởi nghĩa ở ba xã vùng ven dãy Trường Sơn với mười bảy ngàn dân, với các sắc lính từ thôn vệ trở lên đến bảo an tỉnh cộng tới sáu ngàn, không kể các trung đoàn, sư đoàn quân chính quy đóng ở các quận, các khu chiến thuật, vùng chiến thuật Một, với hàng lô máy bay chiến đấu, trực thăng, xe tăng, đại bác từ các đồn giăng lưới lửa, chưa kể các thứ mới sẽ được Mỹ đem sang làm thí nghiệm đã được báo chí tung ra quảng cáo.

Đồng chí quyền bí thư tỉnh ủy Phan Thanh Trà không cạo bộ râu đen đã nuôi nhiều năm, nhưng thay mặc bộ quân phục ka-ki do Hai Thùy gửi Út Thanh Yên mang lên, chưa bị phai màu và ám khói củi. Suốt buổi trưa, Cả Chanh cứ phải nghĩ mình phải nói gì. Dường như tất cả đang bắt đầu lại từ đầu, tù khi đội du kích Linh Lâm lóng ngóng tuyên thệ trước lá cờ sai mẫu, khi sắp sẵn đi giành chính quyền năm 1945. Cũng vẫn những chàng trai cô gái thế này đây, cũng hăng say và vụng dại như thế, cũng nỗi thèm súng và đói rách như thế.

Tất cả cái vốn được xây dựng trong cả một cuộc chống Pháp trường kỳ, lẽ nào biến đi cả, để Đảng bộ miền Nam quay trở lại làm mức đầu tiên sau những năm bị tiêu diệt bởi chiến tranh một phía, chỉ có Mỹ-Diệm có quyền nổ súng?

- Tôi xin nói đôi lời trước giờ xuất phát...

Húúúú... oàng... phùng...

Quả pháo từ đồn Linh Lâm bắn lên nổ cách chỗ đội làm lễ lên đường vài trăm thước. Pháo 105. Ba bốn cậu nhào nằm sấp, hai cậu chạy xuống rãnh suối, đám đã hít mùi thuốc súng đứng yên. Chanh cũng đứng yên. Quả thứ hai nổ xa hơn đôi chút. Quả thứ ba xa hơn nữa. Các cậu chạy tìm hố núp đã quay lại, phủi áo quần, ấp úng phân trần.

- Thay mặt tỉnh ủy, tôi giao nhiệm vụ cho các đồng chí: móc nối với cơ sở ta trong các khu trù mật, diệt ác trừ gian theo danh sách đã được xét duyệt, cấm hẳn không được trả thù riêng, vận động cho nhân dân nổi dậy trở về làng...

Anh biết rõ chỉ thị sẽ được biến thành việc làm rất ít. Đội sẽ nổi vài phát súng thị oai, gọi loa “Hỡi đồng bào! Hỡi anh em dân vệ!”. Gọi là móc nối, cũng chỉ đủ sức nói rỉ tai. “Sắp rồi, anh em mình sắp về”. Sau đó là mở miệng bao bột mì viện trợ Mỹ, nhận gạo, khoai sắn khô, muối, có thể thêm chai nước mắm hay túi đậu phụng, và nếu là cha mẹ họ hàng thì thêm giấy bạc nhét túi. Đến hai giờ sáng lại bấm nhau lục tục lên dương lên gò ven núi, nghỉ một lát, chia nhau xấp bánh tráng với vài bát đường đen cho đỡ mệt, rồi lên hẳn trên núi, căng võng ngủ bù đến trưa.

Anh em thoát ly lên xanh, phải lao ngay vào làm rẫy, đêm xuống cõng gạo muối do cơ sở giúp, chỉ học lõm bõm được vài ba buổi chính trị, ít buổi quân sự, không đến nỗi gọi lầm mình là lính Giải phóng quốc gia, còn Việt Cộng là tàn quân Việt Minh biến thành thổ phỉ. Mười một người, có bốn mù chữ, ba mới tạm biết đọc biết viết. Theo Giải phóng, hai phần ba bảo rằng không muốn đánh nhau với cha anh đi tập kết, một phần ba để tránh nạn quân dịch.

Phương thức hoạt động là sao, cả đội trưởng cũng hiểu rất lơ mơ, chỉ “ăn đong lệnh trên”. Dẫn quân “đi huậy, đi quậy”, cho đám thôn vệ, dân vệ xã bớt lùng lội, cho đồng bào biết cách mạng còn đó, thằng nào ác ôn lì lợm nhất bị bà con ghét nhất thì cố mà diệt để dân mừng.

Tất cả lại phải bắt đầu lại từ đầu chăng?

Trung ương hứa chi viện, nhưng lại dặn phải tự lực cánh sinh. Các trạm giao liên ba bốn thanh niên Thượng chuyền vai nhau cõng vũ khí thuốc men vào, tháng vừa rồi tỉnh Quảng Nam được nhận bốn chục ký hàng: mười ký thuốc, ba chục ký đạn, lựu đạn, mìn. Thêm một trăm ngàn tiền ngụy Sài Gòn đổi ở nước ngoài nữa. Như muối bỏ biển cả thôi.

Chỉ còn bám dân mà sống, mà đánh giặc. Muốn được thế, phải chấm dứt cái tệ đánh mõ la làng, vác dao gậy và đèn gió đi săn Việt Cộng. Dân yêu cách mạng, quá rõ rồi, nhưng sợ địch cũng quá rõ. Tháo gỡ sao đây?

Chanh định cùng đi với đội này, nhưng đội trưởng và anh em đều can, bảo có một tổng đoàn dân vệ-khoảng một trung đội-đóng trong khu trù mật, hay đi phục kiếm thưởng, cả đội chưa quen đường, quen cơ sở. Cũng có thể họ không muốn anh thấy quá nhiều vụng dại của lính mới.

Chanh buộc võng nằm lại trong cái chòi rẫy, thắp cái đèn dã chiến bằng ve rượu bạc hà lên đọc xấp tài liệu mới. Con chó Dồ đã lon ton chạy trước, ngoảnh cổ lại thấy chủ không đi mà buộc võng, ngần ngừ quay lại, nằm gác trước cửa chòi cách vài chục thước. Nhưng Chanh đã giục cậu thư ký văn phòng đi với đội để hiểu thêm thực tế.

Chừng vài giờ sau, mé đồng bằng giội về hai loạt súng máy. Có lẽ tiếng đánh mõ la làng không vọng tới đây. Súng nhỏ chỉ nổ năm bảy phát, khác kiểu nổ giao chiến. Con Dồ gừ gừ, dòm đoán ý chủ, rồi đi gác xa hơn một quãng. Nó khôn đến tội nghiệp, đi đâu cũng được vỗ về, không ai nỡ gắt một câu. Ai cho ăn, nó còn đợi chủ gật đầu mới ăn, dù chủ nó họp tỉnh ủy, say cãi gì chẳng biết.

Chanh ngủ lịm đi, khi con Dồ sủa khẽ bên ngoài mới dậy. Tay trái vơ túi tài liệu khoác qua vai, tay phải túm nịt súng ngắn, chân bước êm vào góc nhà nghe ngóng: những cử động đã biến thành phản xạ.

Trăng hạ tuần soi đủ rõ để nhận ra anh em trở về, thổi lửa đun nước, thắp đèn. Mỗi người lễ mễ đặt xuống một bao nặng, nhìn bên ngoài cũng biết dưới gạo trên khoai. Cậu gần cuối buộc băng trắng trên bắp tay, treo tay bằng tấm bẹ chuối, cười khì:

- Đạn mới xẹt qua thôi chú. Bà Thím Thung rình coi biết chỗ tụi nó phục, thức ngó chừng, thấy bọn con đi qua ruộng, trăng mới ló, bóng in trên ruộng dễ thấy, bả chụp mõ đánh muốn toác, nổi la làng. Chòm xóm cũng nổi như ếch kêu sau mưa, lệnh tụi nó phải báo động liên hoàn mà. Thằng chỉ huy tổng đoàn tức quá, thụi bả nhào vô bụi chuối. Lão thôn trưởng dẫn tụi nó ra soi bờ ruộng, thấy rõ ràng cả mớ dấu dép, nó mới chịu lý, rút quân.

Các cậu thi nhau tiếp thêm:

- Tụi nó ngủ gật, bắn ăn nhằm gì chú.

- Trước khi về, con bò vô nhà bả, cười với nhau miết. Bả còn cứ nhao nhao: không báo động là thân Cộng, đánh mõ cũng là thân Cộng, bây giờ chỉ thân trong vợ chồng con cái thôi.

- Số cảm tình trong khu trù mật trách bác Cả đó. Các ông bà nói hờn: có Cả Chanh về tao mới tin là cách mạng thứ thiệt, tụi bay tao chưa tin, biết đâu tụi bay là quân Quốc dân đảng chưa ra hàng? Mà thôi, tao theo Phật, tụi bay đói tao cho ăn. Sau đừng chỉ mặt tao khai tội tiếp tế Cộng sản nghen.

- Nói lẫy thì vậy, lát sau lại đổi: Thằng Cả Chanh cao bao lớn, to bao lớn? Bằng cỡ đứa nào trong tụi bay? Ờ, được, tao gởi cho nó bộ bà ba thằng con mới may đây, mà cấm nó không được cho ai hết. Thêm một chục cá chuồn gành đây nữa, ít chục bánh tráng ăn nhúng, nhớ hâm lại...à, đưa tiêu với vị tinh đây cho mẹ, gói riêng ra, hâm rồi nêm sau... Mà bay phải bắt nó về đây, dạo một vòng cho bà con thấy mặt chút xíu thôi, chớ tụi hội đồng xã cứ rao là bắt nó rồi, giết nó rồi, chòm xóm không tin mà cứ nóng ruột hoài. Thấy nó một lần, đủ biết tụi kia láo khoét, từ đó nói gì cũng không tin nữa. Cái hay là ở đó, mấy con à.

Cá chuồn kho ngọt, bánh tráng nhúng, thêm mớ rau muống bứt dọc đường về, thêm khúc thịt heo luộc chừng nửa ký, thêm nước mắm ngon ngâm sẵn ớt tỏi, cả đội cùng liên hoan một chầu xả láng với bí thư tỉnh ủy, và con Dồ cũng được hưởng  phần xứng công nó.

Chanh chưa muốn anh em mất vui, sáng hôm sau mới hỏi đội trưởng đội phó xem đã làm được gì trong công tác.

- Thưa thiệt với chú, chưa tới hàng rào đã bị bắn, chưa kéo vô khu trù mật được. Tụi nó bị dân làm dữ mới chịu rút. Anh em bò vô xin tiếp tế, được khá lắm, chú coi đó.

Thôi đành, bài học đầu tiên của đội Vê-tê-ba là biết dân mình vẫn là của mình, dần dà sẽ học thêm, hiểu thêm. Chỗ đáng lo là đồng bào ta vẫn cứ nghĩ: có gặp ông Chanh mới đúng là gặp cách mạng thứ thiệt, gặp từng đại đội lính mặc xi-ta mới đúng là quân mình. Ừ căn cứ cách mạng lâu năm, họ chưa tin hẳn ở nhóm trẻ mặc đồ táp nham và mang mấy cây súng tèng xí của thôn vệ, tự xưng là lính nhưng chỉ gọi loa mà không dám đánh cho ra đánh, khi tuyên truyền thì ấp úng cà lăm. Quân mình hồi chín năm đánh Tây có như thế đâu!

Khổ nỗi, lũ trẻ ấy là những kẻ cuối cùng sót lại dám chống quân Diệm, dám chọi với ác ôn Diệm. Đành liều lĩnh mà giúp chúng nó vậy! Ít nhất, chúng nó cũng dám tự nhận là theo Cụ Hồ, là do ông Cả Chanh phái về!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #252 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 02:54:54 pm »

*

Huyện Tam Kỳ giữ được mấy xã ta làm chủ ven núi, nhưng thọc xuống vùng sâu chưa đủ mạnh. Huyện Tiên Phước dựa lực lượng võ trang hơn sức mình, chọc thủng vòng vây quá yếu. Huyện Quế Sơn hầu hết còn trong tay địch.

Huyện Thăng Bình vùng trên bị kìm kẹp gắt, nhưng vùng dưới quốc lộ Một địch còn bỏ lỏng, rút hết quân lên chống Việt Cộng nơi ven Trường Sơn, đánh nhiều trận dữ dội chung quanh thị trấn Việt An.

Cả Chanh trở về vùng Nam Quảng Nam, đước đặt ngay trước hàng loạt câu hỏi như thế, phải có quyết định dứt khoát. Bộ máy chính quyền Nhà nước không còn, bộ máy Mặt trận mới lập còn yếu, tất cả trút lên vai bộ máy của Đảng, phải tự quyết định và gánh chịu trách nhiệm dù muốn hay không. Anh Tô Xáng hay Cả Chanh lắm lúc thèm thuồng nhắc lại cái thời ủy ban với hàng loạt cán bộ chuyên môn, kể cả người nước ngoài, tự giải quyết những gì tỉnh ủy mù tịt. Trung ương hứa gửi cánh chuyên môn về giúp, nhưng họ chịu về hay không, và chia về cho Quảng Nam được bao nhiêu thì đố ai biết. Anh Xáng hay dỗ dành Chanh:

- Thôi đành, ba anh thợ giày thành Gia Cát Lượng..

- Ba trăm anh thợ giày chỉ khiêng được xe tăng Mỹ thôi, làm sao cho nó nổ máy?

- Dựa vào trí khôn tập thể chớ biết gì hơn?

- Tập thể một trăm sợi bún không thay được một khúc dây thép!

- Xin thua, xin thua thua. Tao biết nghề xe lửa, một thợ giỏi làm một tiếng hơn cả trăm thợ phụ lớ ngớ chạy quanh. Nghề chài của tao cũng vậy, bao giờ cũng kiếm một ông lão ngư biết coi trời mây, mưa nắng, gió xuôi gió trái. Mà kiếm đâu ra cái số thạo việc như mày nói đó?

- Cố kiếm từ đồng bằng lên, xin miền Bắc cho vô. Anh nhớ phần trách nhiệm đó nghen, phải nói hết mức trước Đại hội Ba.

- Mấy chục dây tròng trách nhiệm làm tao nghẹt thở rồi... ừ mà tao nhớ, nhớ nghim gút đây, lo vừa thôi khỉ ạ. Ngáy đi mày!

- Thì cũng phải cùng kỳ lý vậy…

- Mời “cụ Thượng” ngơi để đàn em chiêm bao một lát. Râu dài tới rốn mà cứ bốc máu đấu đá hoài!

Chanh về Tam Kỳ mở lớp học thêm về Nghị quyết Trung ương 15, các nghị quyết của tỉnh ủy, kinh nghiệm đồng khởi của Bến Tre, các tỉnh Nam Bộ, của khởi nghĩa Trà Bồng và Phú Yên, cho cán bộ từ xã trở lên, riêng thành thị được cử cơ sở vững đi học. Liên khu ủy cũng cử một khu ủy viên và nhiều cán bộ đến, vì Tam Kỳ là huyện lớn, đông dân, có đủ ba vùng: núi, đồng bằng, ven biển, nay có thể gọi là bốn vùng vì thị xã Tam Kỳ và các thị trấn đều phình lên rất nhanh, dễ nắm tình hình các mặt.

Mới nghe nói anh khu ủy viên sắp về là anh Sáu Phụ, bí danh là Vạn Lý, cán bộ đảng viên đã rúng xương hết. “Ngoáy sẵn tai mà nghe chửi!”. Hồi chống Pháp, anh là ủy viên thường vụ tỉnh ủy Quảng Nam nắm Tuyên huấn, hay đi giảng ở các lớp chính trị, giảng bài một mà chửi tới mười, rốt lại ai cũng phải nhận mình là quá xấu, quá tệ, gần như là đứa phản động chui vào Đảng, vào kháng chiến để phá từ bên trong. Qua bấy nhiêu năm, anh không đổi tính nết. Dường như “làm cho người sợ” là cách lãnh đạo số một. Cả Chanh cùng số tỉnh ủy viên bị anh Sáu chửi phủ đầu.

- Các đồng chí đòi đánh miết, trách móc khu ủy đủ điều. Bây giờ trên cho đánh, các đồng chí lại không dám đánh, chỉ đi vác loa kêu “hỡi hỡi”, xong là xin gạo muối đầy bao cõng về. Các đồng chí là con rùa, lấy núi làm mu rùa, gỗ trên lưng là con rùa rút sạch vô vỏ cứng, cả đầu đuôi tay chân.

Tất cả những người dự họp đều quay nhìn Cả Chanh, người bạo mồm nhất, cũng là người thay anh Tô Xáng đi họp tận Trung ương.

Chanh đã nổi máu “Quảng Nam hay cãi” từ trước, đang cố nén, theo cái lệ “không bao căng” khi đánh bóng chuyền hay chơi bóng đá. Anh lờ đi trước những đôi mắt đòi hỏi, cầu cứu. Các đồng chí trong nhóm tỉnh ủy Nam Quảng Nam rụt rè lên tiếng, tiếng sau mạnh hơn tiếng trước.

- Đề nghị anh Sáu giúp chúng tôi gỡ bí...

- Nam Quảng Nam là vùng tự do hồi xưa, địch nắm hết lý lịch mỗi đảng viên, cán bộ, hội viên, đoàn viên.

- Hồi cấm võ trang, ai còn mang một trái lựu đạn đập cũng bắt phải ném cả xuống vực, dân canh chĩa giáo ra phải chịu giơ tay cho trói, để khỏi “vi phạm”. Bây giờ biểu tụi tôi tấn công, tấn công dũng mãnh, liên tục. Lấy gì mà tấn công?

- Xin mời đồng chí Vạn Lý đi phá khu trù mật với anh em, vài đêm thôi. Đồng chí đem theo cả tiểu đội bảo vệ, đứng xa mà coi, chắc không bị đạn bị mìn gì đâu, đừng ngại.

Sáng hôm sau, khi lên lớp trước những người từ khắp nơi về, anh Vạn Lý chửi ít hơn, chỉ nhấn mạnh “hoa nở trong lòng”, “không lệ thuộc lực lượng ngoại lai” và “ tự lực giải phóng”. Ấy cũng là mong muốn cháy ruột của tất cả các cán bộ đảng viên trong huyện đông dân này. Chỉ vài tháng sau, anh được chỉ thị ra Bắc xếp việc khác, có thể cho về hưu. Tình cờ, điện Trung ương đến trong khi Chanh đang dự họp liên khu ủy mở rộng. Anh Vạn Lý nghỉ vài ngày để sửa soạn, trong các giờ nghỉ hay la cà qua các lán, chào hỏi những người quen. Khi từ biệt Chanh, anh nói một câu xã giao trong giới cán bộ:

- Trong công tác, tôi có gì sai sót, mong đồng chí thông cảm cho qua, cũng là vì dân vì Đảng cả.

- Úi, không dám, anh vì dân và Đảng, tụi tôi tội lỗi đầy mình, thoát được cái nhãn “phản dân phản Đảng” là mừng hết lớn rồi. Anh lên đường mạnh giỏi nghen.

Về sau, Chanh hối vì những lòi mỉa mai ấy, thấy mình quá độc miệng. Anh Vạn Lý với mình hiểu dân và Đảng khác xa nhau nhưng cùng chịu khổ cực như nhau, chưa đến nỗi hành hạ nhau vì bám thế hay hốt bạc. Anh ra Bắc với cái bao lưng nhẹ bỗng, giấy giới thiệu để giao liên đường 559 mang hộ ba-lô chỉ được chìa ra khi anh nổi sốt rét dọc đường chống gậy nhấc từng bước trên dọc Trường Sơn.

Báo cáo về kinh nghiệm phát động quần chúng là một chính trị viên tiểu đoàn, hồi chống Pháp chuyên ở vùng sau lưng địch nên giỏi làm dân vận. Anh cùng vài cán bộ nữa được cử vào tận Bến Tre và nhiều tỉnh khác để tầm sư học đạo, từ khi ra đi đến khi trở về mất hẳn một năm. Liên khu ủy đúc tất cả mặt hay mặt dở thành tài liệu, được gọi tắt là “Bảy khâu công tác”. Hội nghị đùa ngay:

- Sợi xích có bảy khâu, đứt một khâu giữa nó rớt làm hai!

Càng nghe càng mê. Định làm hai buổi, sau thêm một tối, thêm sáng hôm sau nữa, vẫn chưa hết câu hỏi. Khí sắc chung lên rõ, tuy cũng có số ít lắc đầu không tin:

- Học thì sáng như đèn, về xã thì đen như mực!

Tam Kỳ trước đây thuộc vùng tự do, không quen làm hầm bí mật, móc nối cơ sở bí mật. Các đội được đổi tên là Võ trang công tác, kẻo anh chị em cứ tưởng mình chỉ đi tuyên truyền là đủ. Mở ngay một đợt thi đua đào hầm, bám dân không kể tối trời hay trăng sáng, móc nhiều cơ sở, rút thanh niên lên núi lập bộ đội huyện, còn ở xã thôn thì lập du kích mật. Hai tháng sau chấm giải, phần thưởng là võ khí, từ tiểu liên đến mìn, lựu đạn, còn máy thu thanh bán dẫn thì nhân dân đã cho đủ dùng..

Mức thi đua đặt vừa sức thôi, nhưng các đội quyết vượt nhau, máu trẻ ưa chơi trội mà. Các đội liên tiếp báo về những tin đánh úp dân vệ thu được súng, giật mìn bom lép diệt bót gác, dồn tề không ác đi “chỉnh huấn” mấy đêm liền, số ngày đêm bám dân tăng vùn vụt cũng như số cơ sở mới.

Thăng Bình đang cho nhiều mũi xuống khoắng vùng sâu, khi địch đang dồn quân lên vùng ven núi, chặn cộng sản tràn xuống đồng bằng. Vùng cát Thăng Bình khá rộng đang vắng các sắc lính mạnh. Huyện ủy Thăng Bình xin cho nổ ngay kẻo “phong trào nguội” mất. Sau một ngày bàn cãi, soát lại sức địch sức ta, Cả Chanh cùng nhóm tỉnh ủy viên nắm cánh Nam thấy ta còn quá ham tiến mà chưa tính nước lùi, chưa biết giữ thành, không cho nổ sớm.

Tiên Phước, Quế Sơn, Tây Quảng đều chưa sẵn sàng nổ. Các huyện ủy đưa ra vô số lý do, nhưng lớp lãnh đạo quen “bắt mạch phong trào” như Chanh đều hiểu ngầm rất nhanh: Đảng bộ chưa quyết tâm. Có nơi huyện ủy quyết mà dưới chưa quyết, có nơi ngược lại, cấp dưới đòi mà trên sợ trách nhiệm nếu cuộc nổ thất bại.

Lắm lúc Chanh cảm thấy đầu mình muốn vỡ toác trước bấy nhiêu rắc rối.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #253 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 02:57:31 pm »

Anh gọi con Dồ rất trung thành theo mình ra con suối gần nhất, tự xát xà phòng cho nó tắm thật sạch, vừa chà xát vừa vuốt ve, cho nó lên rùng lông phơi nắng mà vẫn nằm xa chủ vài chục thước, quay đuôi về phía chủ, dỏng tai căng mắt về chung quanh, gác cho chủ tắm tiếp. Ông Cả tắm lâu, mặt trầm ngâm, tức là ông Cả không vui. Con chó đã hiểu tính người, tiếng người tới mức nghe kêu “anh Cả”, “chú Cả” là chạy tới ngay xem chủ vui hay buồn, sai bảo gì không. Nếu ai đó sừng sộ, quát tháo, vung quả đấm vào ông chủ, nó sẽ lao vào cào ngực, cắn xé, có thể cắn đứt cổ họng, chỉ ngừng khi nghe tiếng quát: “Dồ, thôi, nằm xuống”. Nó lùi, nằm bén chân ông Cả mà vẫn gừ gừ tỏ ý sẵn sàng lao tới lần nữa, liệu hồn, chỉ cần ông Cả chỉ một ngón tay và quát: “Dồ, xung phong!”.

Và phần thưởng của nó chỉ là lúc ông chủ tắm cho nó, hay vuốt đầu nó đôi lần, vỗ lưng, khen giỏi. Nó được ông chủ khoe nhiều lần với các ông bà khác, nó hiểu qua ánh mắt và lời giọng dịu dàng khi các ông bà cùng nhìn nó. Nó dựng tai nghe đôi chút, len lén đến bên chỗ ông Cả ngồi, sực nhớ đến vai trò lính gác mới chạy ra ven rừng. Nó chỉ xem kỹ ông Cả cười hay nghiêm, ai thân và ai giận dữ với ông.

Ông chủ ngủ trên võng, ít ngủ sạp. Tối khuya, con Dồ mới rời chỗ gác, vào nằm sát bên võng, ngủ chập chờn như chỉ nhắm một mắt, cụp một tai và dựng tai kia. Gần sáng, ông chủ đi tiểu, nó chạy theo trông chừng, và nhận phần thưởng bằng đôi lần vỗ đầu: “Tội nghiệp con Dồ”. Đôi lần ông ôm đầu nó, thì thào gì đó chẳng hiểu. Nó run lên trong nỗi vui không chờ đợi, khó hiểu, chỉ biết rằng mình được thương yêu. Nó chỉ cần được thương yêu. Sinh trên núi, nhiều năm lớn lên trên núi, cha mẹ dần dà coi nó là kẻ dưng, lũ chó làng thỉnh thoảng gào thét xông vào con chó khác tầm vóc lông  lá, nó quen tự kiếm ăn ngoài rừng, quen đánh nhau, quen nếp sống một mình. Nó chỉ gặp những người tốt bụng từ khi ông Cả nhận nó về, nó vâng lời chịu theo ông có râu mép lâu nay. Nó được trở về với ông Cả, rất mừng, mà ông Cả cứ thương nó như xưa. Nó cố đoán ý chiều lòng chủ, để được thương mãi mãi. Ôi tội nghiệp con Dồ! Nếu nó được biến thành người thì Cả Chanh xin nhận ngay làm con. Mà ngay bây giờ anh đã coi nó là con.

Giữa lúc cơ quan tỉnh bị đói, có người bàn xẻ thịt con Dồ, anh Tô Xáng đã cự: “Nó là con nuôi Cả Chanh, lại có công với cơ quan, đói quá thì làm thịt tao chớ đừng động tới nó!”. Chẳng ai dám ho he nữa. Đem áo quần đi đổi chó ở các làng Thượng là chuyện thường, anh em đánh chén tự nhiên, xẻ thịt con Dồ thì không nỡ nuốt. Cũng như chỗ khác nhau giữa con trâu cày đã làm giàu cho cả một nhà nông với con trâu hoang phải rình bắn, giữa con voi tải hàng có huân chương với con voi rừng về phá rẫy phá làng, giữa con mèo lạc hóa cáo chuyên trộm gà với con mèo khôn biết ngồi gác mâm cơm không lồng bàn cho chủ.

Sau một lần kiểm tra nữa, nhóm tỉnh ủy viên ở Nam Quảng Nam bật đèn xanh cho vùng cát Thăng Bình nổ, nhân khi địch đóng thưa thớt và chưa ngờ bị đánh sau lưng. Dù bị can ngăn, Cả Chanh nhất định xuống đấy trước và sau vụ nổ nhiều xã. Anh mặc bà ba, giữ nguyên bộ râu dài, gài cây súng  ngắn ba nòng vào lưng quần-có thể vùi hay ném nó khi bị phục, bóp cò khi bọn địch lèo tèo, khai mình là dân bị ép đi phá rào, lấp hào chông. Và anh phải giao hẹn với huyện ủy là mình chỉ đi xem.

Đột phát động ở đấy khá mạnh. Một chục cổng chào căng khẩu hiệu của ta, nhân dân biểu tình từng xã trên số ngàn, đèn măng sông từ các tàu thuyền rớ đem lên sáng rực, chỉ phải xử hai tên ác ôn đã được duyệt án.

Đồng chí bí thư tỉnh ủy chỉ khoanh tay xem huyện xã làm ăn ra sao, không chịu “cho ý kiến”. Và huyện ủy phải trả lời một loạt căn vặn ráo riết của “cụ Thượng” về cuộc càn quét không tránh khỏi của địch, có thể đến cỡ trung đoàn. Ba ngày sau, địch tung quân đến “giập lửa” thật ra là tung lửa, đốt hơn một trăm nhà bị nghi “che giấu Việt Cộng” đốt bảy chục tàu thuyền lưới của các gia đình “bảng đen”, bắt chừng hai trăm dân bị ghép tội “ủng hộ Việt Cộng”. Chúng làm dữ đến nỗi bọn tề, dân vệ, địa phương quân phải kéo nhau đi kiện đòi thả người nhà, dân cùng làng xóm. Cha mẹ vợ con họ cũng phải sống yên lành gây thù kết oán mãi thì ai chịu đòn cho?

Vụ kêu kiện sau đợt khởi nghĩa kéo dài nhưng thành công. Địch phải thả số dân bị bắt, bồi thường những nhà cửa thuyền lưới bị đốt, tuy chua đủ số tiền nhưng cũng kha khá. Du kích các xã tăng gấp rưỡi, các đội Võ trang công tác đông vọt lên, biệt kích và dân vệ đêm đêm vào đồn hay tìm gò cát ngủ, “nhường dân cho Cộng”, khi sợ quá thì mỗi đêm đổi chỗ ngủ vài lần.

Hoa nở trong lòng thế là tàm tạm được. Các nơi khác sẽ làm được không?

Cả Chanh lại đi tiếp với mảnh khố và tấm bản đồ nhuộm chàm qua các huyện, kể kinh nghiệm khởi nghĩa các xã vùng sâu Thăng Bình. Con Dồ chạy trước một trăm thước, tới giao liên, tới “cụ Thượng”.

Cứ thế mà đi một đợt phát động Nam Quảng  Nam, trước khi trở ra cánh Bắc để làm những việc anh Tô Xáng đã giao, cũng chẳng ít hơn số thòng lọng mà Chanh đã tròng vào cổ anh Xáng trước khi anh ra Bắc.

Anh Xáng ra Hà Nội, đã có một rừng việc chờ sẵn. Anh biến ngay vào khu nhà của Trường Nguyễn Ái Quốc trung ương, và lời đầu tiên của ban tổ chức là “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Các đại biểu từ miền Nam ra, nếu phải tiếp khách thì mỗi ngày tiếp mười hai tiếng chưa đủ, nói chi đến làm việc, nghỉ ngơi. Có hôm, các đoàn Trị Thiên Huế, Liên khu Năm, Nam Bộ có đến năm sáu trăm khách, chỉ vài ba chục người lọt được tới chỗ thường trực vì buồng tiếp quá nhỏ, còn bao nhiêu dựng xe đạp bao vây ngoài cổng như biểu tình ngồi, gửi tiền cho nhau mua bánh mì, nước chanh cam, kiên nhẫn cắm trại chờ khi ngớt họp để may ra hỏi được tí chút về gia đình, đồng chí, đồng bào ở trong kia. Bà con tập kết nhậy thật, chỉ cần một ai đó trong Ban đồng hương lỡ miệng hay rỉ tai một người thân, là đủ cho tin bay như gió, tất nhiên là Hà Nội trước, các tỉnh sau.

Các đồng chí miền Nam đọc cả tập dự thảo văn kiện được đóng dấu “Tối mật, thu hồi sau Đại hội”, đọc nhiều lần cho thuộc. Sau phần Đại hội công khai, họ phải đáp lễ hàng loạt nơi đã mời, không thể dứt áo ra đi ngay, dù họ sốt ruột đến mấy cho nơi quê hương đang đổ máu từng phút. Mất một giờ để nghe bà vợ của một ông tập kết nào đó kể dây mơ rễ má về căn buồng bị phân cho người khác, người được nhờ can thiệp lại có nhà cửa bị đốt, vợ con bị nhốt trong khu dồn và lang thang đói rách, thật là thử thách chẳng vừa.

Nhưng anh Tô Xáng đã kịp nhắn cho Sáu Cam và Hoàng Lan viết sẵn thư để anh mang về Nam, một tối nào chưa hẹn trước anh sẽ đến lấy, có thể là sau ngày liên hoan lớn của Đoàn thanh niên mừng Đại hội Đảng thành công.

Từ đó Cam về nhà Lan tất cả các tối. Anh Xáng đến, ngơ ngác trước anh chàng cao kều, râu quai nón, mặc bộ đại cán ka-ki Liên Xô màu sẫm. Không có gì giống với thằng nhỏ mà anh gặp đôi lần hồi chống Pháp, cũng rất ít những nét giống ông Tư Chua và Cả Chanh, cả giọng nói cũng gần với Hà Nội hơn Quảng Nam. Lan thì anh chưa gặp, hay gặp mà không nhớ nổi. Anh hối hả trả lời tới tấp chuyện nhà, chuyện làng xã, chuyện phong trào trong tỉnh, trong liên khu. Còn may là Chanh hay kể rành rọt chuyện nhà cho anh nghe như với người anh ruột, anh không đến nỗi ấm ớ.

Trong ba-lô trở về Nam của anh Xáng có thêm một xấp thư và gói quà nhỏ. Lan ở Hạ Lào không lâu, cũng chưa một lần gửi quà về nhà sau khi mẹ và em chết bom, đã gói một gói to tướng áo quần bánh kẹo định gửi cho nhà chồng. Cam trông thấy, kịp ngăn:

- Em bắt anh Xáng cõng bấy nhiêu thứ, leo Trường Sơn hàng tháng về Quảng Nam à?

- Em đã ở Quảng Nam bao giờ đâu mà biết!

- Dốc Quảng Nam, gan cộng sản, đường sá lên Hạ Lào còn dễ hơn ra Bắc.

Lan đi bán lại các thứ vừa mua, còn Cam vét tiền tiết kiệm mua được ba lạng sâm Triều Tiên, gửi cho cha mẹ, vợ chồng anh Cả, chị Năm Bưởi bị tù và tra tấn nhiều chưa khỏe hẳn. Tính mua thêm một chỉ vàng nhưng không đủ tiền.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #254 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 02:58:51 pm »

Anh Tô Xáng đến lần thứ hai trước khi lên đường, vui lòng nhận mang thư và quà về quê. Lần này anh nhờ bạn đèo xe đạp, khỏi sốt ruột vì anh lái xe cùng với xe con Vôn-ga mới tinh nhé-phải chờ ngoài cổng sau bệnh viện. Hai anh cùng thưởng thức chầu mì Quảng của Lan làm, uống bia Trúc Bạch, cà rà tán chuyện xa gần.

- Nè Sáu, hay gặp anh Bảy Quý không?

- Em tới dinh anh Bảy hai lần. Vi-la sang lắm, lính gác ngoài cổng không cho vô, lần đầu là vì ảnh đi vắng, lần sau là ảnh dặn có giấy giới thiệu mới cho vô. Quan lớn rồi anh à!

- Mày tự ái hả Sáu?

- Tự trọng đúng hơn. Em nghĩ tình cũ đến thăm, công an tới bảo vệ tới văn phòng tới thư ký đều coi mình là thằng ăn mày. Có thể anh Bảy cũng coi em như ăn mày... Em đợi tới khi ảnh về hưu, mặt trời lặn em tới thăm, chớ bây giờ mặt trời đang rực lửa, càng gần càng nóng!

Anh Tô Xáng lên đường, còn kịp nhắc những lời gay gắt của Sáu Cam với anh Bảy Quý trước khi rời Hà Nội.

Chẳng ngờ, vài ngày sau, anh Bảy Quý cùng chị Sáu Lễ đến thăm Lan và con trong khu tập thể bệnh viện. Chẳng biết ai là ai, Lan cuống quýt thu dọn căn buồng. Đi xe Vôn-ga đến, có người báo trước và gác ngoài, chắc là các ông to bà lớn. Chị Sáu Lễ kéo Lan và con lên ô-tô, đi về ký túc Phúc Xá. Chiếc xe qua vùng bãi rác nồng hôi, lại lội bùn ngập nửa bánh, đến cổng ký túc. Cam đi vắng bị gọi đi họp xử lý vụ trồng khoai ở Gia Lâm và trồng ngô trên bãi sông Hồng, bị mấy tay quản lý ăn chặn-gần hết rồi vợ con họ đem luộc bán lại cho sinh viên ở ký túc ăn sáng theo giá chợ!

Trên đường về, hai anh chị nói thật tình là không biết có Cam đến thăm. Khách của anh chị mỗi ngày ít nhất vài chục, công an gác chẳng biết ai là ai, làm nhiều người phật ý chứ không phải riêng Cam. Nhờ anh Tô Xáng báo mới biết địa chỉ vợ chồng Cam, anh chị vội đến ngay. Lan không thấy chị kín đáo nhét một gói gì dưới gối thằng Nhứt đã ngủ say từ trên xe. Lan chỉ thấy nó khi buông màn, sửa gối. Có lẽ anh Xáng bảo Cam lấy vợ gần đây thôi, đã một con, nên chị Sáu Lễ đã mua quà cho cháu đầy tuổi tôi: lụa hoa màu sặc sỡ, đồ chơi nhựa cho trẻ mới biết đi, thuốc bổ cho phụ nữ đang cho con bú, kèm theo mảnh giấy nhỏ “Tặng cháu và Cam-Lan” kèm số điện thoại và câu tái bút: “Khoảng 8 giờ tối trở đi anh chị thường rảnh, các em tới chơi nhé, nên gọi điện báo trước để anh chị đón”. Quà của chị Sáu chắc là do chị nào đấy chọn giúp, chứ chị mới sinh con đã bị bắt ngay, và đứa con đã chết trong khi anh chị ở tù nơi xa. Khổ thân chị, đã từng nuôi trẻ đâu mà biết!

Anh Tô Xáng leo dốc tuột dốc một tháng rưỡi thì về đến cơ quan tỉnh ủy Quảng Nam. Bộ tổng tham mưu đã cấp lệnh cho giao liên đường 559 mang cho anh một gùi hàng hai chục ki-lô, tưởng là thừa thãi, anh chỉ cần ung dung chống gậy đi người không. Chẳng ngờ số thư và quà lên đến gần bốn chục ký, không kể số gạo muối phải mang thêm trên những chặng đường thiếu tiếp tế. Anh lại phải cõng nặng chẳng kém giao liên.

Trong cuộc họp tỉnh ủy mở rộng tiếp liền đấy, các gói thư, ảnh, quà được giao cho cán bộ để mang về trao tay cho các gia đình, bị anh Xáng bắt ký nhận vào sổ như bưu điện. Anh chị em nhấc nhấc từng gói trên tay:

- Chỗ này ít nhứt là hai chục sải lưỡi cước.

- Nhà này tôi biết, hạng khá giả, phải con heo nửa tạ.

Cả Chanh ngờ nghệch hỏi tại sao, họ cười ồ:

- Cụ Thượng ở núi lâu, quên hết lệ làng. Các gia đình có chồng con tập kết hay ở lại ngoài Bắc sau Giơ-ne, nhận được thư quà gởi vô, mừng hết lớn, hay tìm cách tạ lại cách mạng, nhiều ít tùy tâm. Mới đây có chủ tiệm thuốc Tây tặng cách mạng cả lô thuốc bị cấm, trụ sinh với chống sốt rét, chỉ xin ta giúp liên lạc với hai con đi tập kết. Nhà nghèo thì gánh lên một gánh mắm, cá chuồn muối, họ biết địch bao vây muối vùng mình.

Đoàn anh Xáng mang về rất nhiều kinh nghiệm quý. Ngoài các nghị quyết Đại hội, các anh còn tìm gặp các đoàn miền Nam khác, nói một lát thì hai bên cùng bốc, lắm khi quá nửa đêm mới đi ngủ. Bác Hồ và các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban bí thư cũng gặp nhiều để hỏi và bàn việc. Mệt quá, ngủ ít quá, chẳng ai lên cân được tuy tẩm bổ rất khá. Lại thêm đường về vất vả, các anh đều gầy và đen trũi.

Một câu hỏi được nhắc nhiều lần:

- Trung ương đánh giá Đảng bộ tỉnh ta và toàn miền Nam ra sao? Hay là coi thống kê, tưởng hầu hết đảng viên đã đầu hàng đầu thú? Số còn sót thì lên núi sống như Bá Di, Thúc Tề, Giới Tử Thôi đời xưa? (ý này do một huyện ủy viên tóc bạc nói).

Hội nghị định họp hai ngày, phải kéo thêm một ngày đêm nữa. Các đồng chí ra về hãy còn thòm thèm.

Từ giữa năm 1961 đến cuối năm, các đội Võ trang công tác bỏ dần kiểu vác loa đi đêm gọi “hỡi, hỡi”, xong lại leo lên gò lên núi với những ba-lô đầy ắp, đánh chén xong lại ngủ dài. Anh chị em quen dần với hầm chìm hầm nổi và nếp bám dân dài ngày, kể cả những ngày đêm mưa dầm nước ngập đầy hầm và những trưa hè ngột thở dưới cát nóng như rang. Dân cho ăn đến mấy cũng khó nuốt khi sống như thế.

Nhưng bấy nhiêu khổ cực được đền bù khi xã mình, khu vực mình “khởi” được, khi người dân được “phát” mãi đã “động”, khi cả tề lẫn lính ra hàng hoặc kéo nhau chạy vào đồn to xin được che chở, khi hàng ngàn dân họp mít tinh mừng ủy ban và đội du kích ra mắt, và kéo biếu tình rầm rộ qua các thôn, đánh thức nốt những ai đang còn ngờ vực, bàng hoàng, gờm cộng sản.

Các sông suối luôn luôn có dòng nước ngược hai bên bờ, kéo theo các thứ rác cùng bọt bèo ứ đọng. Các đội du kích vẫn còn người ra hàng địch với súng hay tay không. Dân trụ bám tại chỗ, dân vùng dưới chạy lên, cũng không ít dân sợ tàu bay đại bác chạy xuống vùng địch, sống vất vưởng trong các khu dồn dân, trong cái thế ngày nay chưa biết ai thắng ai. Ai cũng tiên bố mình sẽ thắng!

Có một đôi điều cấp trên dặn mãi là phải đẩy đấu tranh chính trị lên, đừng “cà nhắc một chân”. Nhưng lời dặn ấy xuống đến xã thôn thường rơi rụng hết, mà cứ làm như hồi chống Pháp: địch càn thì dân gánh gồng bồng bế nhau chạy về nơi vắng tiếng súng, du kích và cán bộ cố cản địch, lùi dần từ hàng rào kháng chiến vào các tuyến giữa, tuyến sau, bí hẳn thì xuống hầm bí mật, thường được gọi đùa là hầm bí. Khi huyện và tỉnh sạc mạnh, họ phân trần:

- Nói miết là phải giữ thế hợp pháp, không đấu tranh được nhiều cũng chặn được giặc đốt nhà, bắn trâu bò, mà bà con cứ nghe súng nổ là soạn gánh tản cư, cấm sao được!

Những đợt “khởi nghĩa từng phần, du kích cục bộ” ở Quảng Nam đã mang lại những xã thôn giải phóng đầu tiên dưới chân dãy Trường Sơn, mở những mũi chọc thủng đầu tiên từ vùng núi xuống đồng bằng, và vùng biển, tạo nên những cơn say sưa bốc đồng trong tất cả nhũng ai đang góp sức giải phóng miền Nam. Chỉ thẳng một lèo thế này là làm chủ hết vùng núi, nông thôn đồng bằng, và hái các thành thị như quả chín nẫu tự rụng.

Trong khi ấy, các chuyên gia chống Cộng của Mỹ và Diệm, của Anh, Mã-Lai, Phi-lip-pin, đang xúm lại cùng phân tích chiến lược chiến thuật qua hàng ngàn trang ghi được ở mỗi tỉnh, mỗi vùng có Việt Cộng. Kế hoạch “Bình định miền Nam Việt Nam trong mười tám tháng” thành hình. Hoa Kỳ sẵn sàng trút vũ khí, cố vấn cùng mọi thứ phí tổn khác vào cho Diệm, nhiều gấp bội.

Ngọn đòn quật lại của địch sẽ dữ dội và đột ngột. Nhưng xuống đến dưới xa, nó biến thành lời chế giễu:

- Hồi đen tối nhứt thì các ông biểu phải tin tưởng, lạc quan. Bây giờ anh em mình phóng xe rượt ác ôn trên quốc lộ Một thì các ổng lại nhắc đừng chủ quan khinh địch mà khốn. Chỗ nào giỏi đấu tranh chánh trị, cứ làm. Tụi tôi quen làm như hồi đánh Tây, miễn sao giải phóng được đất nước, xin đừng ép.

Không phải chờ đợi lâu, địch đánh trả ta trên toàn miền Nam. Tất cả những ai đã chế giễu lời căn dặn, đã đặt nải chuối cắm hương khi xuống hết dốc núi và làm lễ ly sơn đùa bỡn, nay hầu hết phải chay lên núi cao hơn trước, trừ một số ra đầu hàng địch vì quá đói hay vỡ mộng.

Phong trào Quảng Nam đành lùi bước. Khó lường trước là một hay nhiều bước khi phải lùi. Trước mặt là quân bộ, xe thiết giáp, pháo nhiều tầng, sát sau lưng là trực thăng từng bầy đổ quân, sau xa hơn là máy bay giội bom đạn, và ngay trong ruột đã có sẵn những tề và điệp giấu mặt.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #255 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2017, 02:43:54 pm »

Chương 9


Hai Khánh mặc thường phục, lái chiếc Vexpa trở về khu nhà sĩ quan, mặt còn giận bừng bừng.

Mỹ Duyên đúng hẹn đến căn buồng anh thuê trong khu người Tàu, đưa cho Khánh một triệu đồng do lão Lê-ông La-phác-sơ trả công sau một chuyến buôn lậu hê-rô-in trót lọt. Duyên không nhận phần chia của mình:

- Em có huê hồng rồi, anh chia cho đám không quân thôi.

- Em được bao nhiêu?

- Kha khá, biết vậy thôi.

Duyên vẫn giữ kín phần đòi riêng của mình, chỉ cho biết làm phóng viên cho các hãng thông tấn và các báo nước ngoài, được tin cậy và trả lương khá.

- Thiệt tình, em là ai, Duyên?

- Là nhơn tình của thiếu tá Khánh, chưa chồng, đúng hơn là chưa muốn lấy chồng. Còn anh là ai?

- Em biết rõ anh như lòng bàn tay...

- Lầm to. Em ghét coi chỉ tay lắm, mấy cha thầy tướng nói dựa để hù dọa không hà. Em biết một chuyện thôi: anh là khúc cây chuối cắm hương cúng.

- Ồ!

- Họ ép anh nhận lon để chi? Các thứ truyền đơn với tài liệu tố cộng anh viết đó, ai làm chẳng được. Họ dùng anh làm mồi để câu cộng sản. Anh được vinh thăng thiệt dễ, vì các sĩ quan biết anh không đánh họ, chỉ dạy tù binh thôi, lại có ông phủ làm tỉnh phó. Phải như người khác là cán bộ, đảng viên, từng cầm súng xả đạn vô họ, thì cứ tra nhừ tử, liệu chừng phun ra hết thì cho đất lấp mặt hay vô bao mò tôm. Còn anh, họ vái như vái củ chuối cắm hương, chưa biết ngày nào ra đống rác!

Duyên nói những lời cay nghiệt ấy khi hai người đứng bên cổng vắng. Trong khi Khánh ngẩn ra, tức nghẹn họng, Duyên đi thoăn thoắt đến chỗ chiếc tắc-xi đợi sẵn chỗ đầu hẻm, giật cửa lên ngồi bên tài xế, và chiếc xe vù đi ngay.

Về đến trước cổng khu sĩ quan, Khánh gặp một trung sĩ dắt tay một đứa con trai chừng mười lăm tuổi, khá cao to, máu chảy thành dòng từ trán xuống mặt và ngực áo vá. Anh nhận ra bác hỏa đầu quân già, thuộc giới di cư răng đen thuốc lào, bị bắt lính muộn nên ngót mười năm mới ngoi đến trung sĩ. Bác này tính hơi khờ khạo, mang vào Nam đến hai vợ chín con, nằm chen chúc trong căn buồng lợp tôn của hạ sĩ quan trong khu gia đình mà bác quen gọi là “căng ma-dê” như hồi Pháp và Bảo Đại tóm cổ bác đi lính trong một trận càn ở Thái Bình. Đi đâu bác cũng khen thiếu tá Khánh là bình dân, là biết thương hạ cấp nghèo khổ, chẳng biết rằng mỗi lời khen như thế tạo thêm một vết đen vào lý lịch của Khánh trong hồ sơ của An ninh quân đội vốn rất đa nghi.

Bác trung sĩ nhà bếp trình thiếu tá rằng cậu Chung con thiếu tá đã dùng quả đấm sắt, thật ra là quả đấm đu-ra lồng vào tay, đấm thẳng con bác đến chảy máu. Cậu đốc gác nghe kiện thưa đã ra ngoài cổng, cũng nhận có thật như vậy.

Khánh đang cơn nóng, quát to:

- Lôi cổ thằng Chung ra đây!

Đốc gác rập chân chào kính, vào lôi được thằng Chung đang uống bia với nem chua, phì phèo thuốc lá Xa-lem với các bạn.

- Sao mày đánh bạn đổ máu?

- Tại hắn nói con là nửa Việt Cộng, nửa quốc gia.

- Bấy nhiêu thôi, đủ cho mày đánh nó chảy máu mặt à?

- Ai cộng sản, ai quốc gia, kệ họ, con nghe chướng tai là phát chưởng. Tiên hạ chủ vi cường, ba không biết à? Mà con ném đá chớ không đánh. Nó đô lắm, dại gì a vô cho nó uỵch!

Bác nấu ăn hốt hoảng: “Trình thiếu tá, cháu nó bé dại trót nhỡ... Còn ăn vạ đấy à? Rồi mày chết đòn với ông”. Bác túm tay lôi con xềnh xệch. Khánh gọi lại, rút ví ra đưa bác hai ngàn đồng:

- Biếu bác để buộc thuốc cho cháu, đừng đánh cháu. Nó chẳng bé dại đâu, nó nghĩ sao nói vậy là tốt.

Bác kia không để ý đến giọng mỉa mai của Khánh, chỉ sáng mắt lên khi khúm núm đưa hai tay đón xấp giấy bạc, cảm ơn rối rít. Lũ con bác lành thịt, ngày nào cũng có đứa ngã sứt trán hay toạc đầu gối, chỉ bôi tí thuốc đỏ cũng khỏi. Hai ngàn, những ba tạ gạo, chỉ vì bác để nguyên cho máu chảy ri rỉ, chờ thiếu tá về thực mục sở thị! Thêm những ba tạ gạo cho lũ tàu há mồm chen chúc trong căn trại lợp tôn của bác!

Khánh rẽ về nhà mình, vào ngồi trong phòng khách. Thằng Chung đã cùng các bạn nó chuồn ngả sau đâu mất, chị bếp đang thu dọn vỏ chai và quét tàn thuốc lá. Khánh mở tủ rượu, pha một cốc huýt-xki xô-đa, thêm đá, ra ngồi xa-lông, chống tay lên cằm, nhắm mắt.

Thế đấy. Chỉ trong vòng nửa tiếng, anh bị Mỹ Duyên mắng là khúc chuối cắm hương, con anh bị gọi đốp là nửa quốc gia nửa cộng sản. Anh được gọi là thứ gì trong hồ sơ tối mật của an ninh quân đội hay mật vụ của triều Ngô? Bao giờ anh sẽ ra đống rác? Chỉ cần các ngài triều Ngô quên lời phán xét cũ “Kháng chiến có công, cộng sản có tội, vì cướp công phản thực bài phong của toàn dân”, Khánh không vào tù cũng bị thải hồi. Duyên làm cố vấn cho anh, nhắc mãi: “Em giúp anh làm giàu để khi ra rìa anh không đến nỗi phải bán cháo phổi ở ba bốn nhà trường tư, làm nghề Godautre”.

Còn thằng Chung nữa. Mới mười hai tuổi, ai bày cho nó nói những câu bụi đời? Nó lìa mẹ như một đứa bé nhà quê, mặc một bộ bà ba quá chật và ngắn, có người đùa ác bảo nó thổi tắt đèn điện nó cũng bắc ghế lên rướn cổ thổi. Nay nó uống bia Mỹ, phì phèo thuốc Xa-lem, đi xem phim con heo, “cúp cua” liên tiếp đến nỗi trường tư cũng dọa đuổi. Ôi đứa trẻ xinh đẹp đã ám ảnh Khánh bấy nhiêu năm, ôm ghì mẹ Năm và “mẹ Xùi” ở Linh Lâm, đến nỗi Khánh phát ghen, khi về với ba nó lại thêm hư mỗi ngày một ít, cứ như nó bị nhiễm một thứ thuốc độc ngấm dai nào đấy.

Còn mình thì sao?

Mình là kẻ lừng khừng, chao đảo, ngả nghiêng. Nuôi ảo tưởng là đứng trên mọi cuộc loạn đả. Cố giữ tâm hồn kẻ sĩ, an bần lạc đạo, rốt cuộc thì bần không chịu nổi, mà đạo thì bị xói mòn mỗi ngày một ít. Bông mai bạc trên vai đang héo dần. Đang gắng gượng kiếm tiền bằng buôn lậu ma túy, không dám gửi tiền các ngân hàng vì sợ lộ tẩy, phải nhờ Mỹ Duyên mua vàng để chôn, nhưng chôn thấp thỏm vì sợ đảo chính, sợ mật vụ, sộ trộm cướp...

Chị bếp nói đâu đó, rụt rè giọng Huế:

- Thưa ông, cơm dọn rồi, ông thời cho nóng sốt.

- Thằng Chung về chưa?

- Dạ thưa chưa. Cậu hay đi chơi trái giờ.

- Chị cứ để đó. Tôi mệt, chưa ăn.

Cậu hạ sĩ hộ vệ đứng ngoài cửa, chào kính, xin phép về ăn cơm. Khánh đổi ý, gọi cậu ta vào ăn với mình. Vì độc thân, chẳng có ai chờ cơm, cậu vào giúp chị bếp dọn mâm. Khánh lấy trong tủ lạnh một chai bia, bát đá, chai cô-nhắc Pháp, đến ngồi vào bàn và tiếp người hộ vệ như khách quý, còn buộc chị bếp ngồi vào ăn chung. Anh nói như hồi chống Pháp, sau khi chạm cốc:

- Tụi mình gặp nhau đã lâu mà ít được dịp nói chuyện tâm tình. Nhờ các bạn nói giùm: tôi có làm gì bậy bạ sai sót đối với các bạn, với hàng xóm trong khu này không?

Hai người khách luống cuống ngó nhau, không mở miệng. Họ đã quen “thủ khẩu như bình” tránh mắc vạ miệng. Khánh chợt thấy mình vào đề quá đột ngột, vội giục:

- Mà ta ăn uống đã chứ. Vầy đây: chị vô bếp, khuân hết các thứ này ra cho đàn ông tụi tôi nhậu, có thiếu thì mở thêm vài hộp thịt cá nữa. Tụi tôi tội lỗi đầy mình, không dám vô chỗ vương quốc của chị đâu.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #256 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2017, 02:46:53 pm »

Nửa giờ sau, khi rượu và bia đã ngấm, họ mới khai khẩu:

- Trình thiếu tá...

- Thiếu tá nào ở đây? Tôi mời hai bạn, kêu tôi là anh Hai là quá rồi.

- Dạ, thưa anh Hai, bà con khen anh Hai hiền như ông thầy tu, anh Hai thương người, từ bà già tới con nít. Vậy mà họ còn nghi anh Hai đó. Họ nói anh Hai sống theo kiểu Cụ Hồ. Còn mấy ông tướng tá khác cứ làm giàu như điên...

Chị bếp không quen chất men, đỏ mặt từ nãy, chêm vào:

- Họ còn nói thiếu tá... ờ, anh Hai, không lấy vợ, thiệt không anh Hai? Nhà trống hoang, thằng Chung hư rõ ràng, phải có đờn bà coi ngó...

- Em là lính chiến, đụng mấy thằng mật vụ tới hỏi dò đời thiếu tá, nhiều lần rồi đó, em nói ông Khánh là số rách trong số sĩ quan được phong tá. Tin hay không tùy tụi nó. Hễ anh Hai vô số đen thì em cũng khó thoát tàu bay tàu ngầm, thà nói thẳng vậy hay hơn. Hồi đảo chánh hụt, tiếp dinh Độc lập bị bom nặng, mật vụ nó rình hết thảy... Em hỏi thiệt nghen anh Hai: hay là anh Hai nghi cả tụi em ăn ở hai lòng? Anh Hai... mời ăn, đổ rượu cho say... để thử bụng nhau... Thằng này mạnh rượu lắm… không say... càng uống càng tỉnh... Đây, thiếu tá coi...

Cậu ta tự rót thêm một ly nữa, dốc cạn, líu lưỡi lè nhè thêm những gì không rõ. Khánh biết cậu ta tính bộc tuệch, đang tán tỉnh chị bếp lớn hơn cậu hai tuổi, nhưng  trông còn rất trẻ. Chị lấy một trung sĩ, góa chồng vài chục ngày sau lễ cưới, chồng chết vì xe vấp mìn trên đèo Hải Vân, xác văng xuống vực nào không tìm thấy. Chị được an ủi bằng một chân nấu ăn, ban đầu trong nhà một đại tá, nhưng không chịu nổi “tánh nết quan lớn” của bà chủ, được chuyển sang cho Khánh để tránh một vụ đầu độc vì cáu giận.

Bây giờ chị len lén rút chai cô-nhắc khỏi mặt bàn, giấu vào một góc kín, lấy hai chai bia trong tủ lạnh kèm hai cốc đá trước hai người đàn ông, một say mèm và một chỉ hơi ngà ngà, vẫn giữ đôi mắt sắc sảo ngắm hai người hầu gần gũi nhất:

- Thiếu tá đừng chấp ảnh, uống vài ly là rượu nói thay người. Tụi em như khúc gỗ lăn tròn, đui mù chuyện chánh trị, sức mấy mà nói chuyện lớn. Có điều thiếu tá cứ tin là tụi em dân nghèo kiếm ăn, chẳng muốn theo ai hay phản ai. Tụi em là dân đen, chẳng biết phe nào là phe nào, em nấu cơm cho sĩ quan ở vi-la hay ở tù cũng vậy thôi...

Khánh bật cười, rõ ra cười gượng:

- Không ai thử ai đâu chị, đừng nghi oan cho tôi. Vui nhậu với người nhà một lát thôi. Các thứ chị cứ úp lồng bàn để đó cho thằng Chung về vét nồi, chị mở giường xếp cho hạ sĩ ngủ đây.

Dù đôi mắt chị Bếp đã ngả sang hờn giận, Khánh vẫn lẳng lặng vào buồng mình. Chị ấy muốn gài Khánh vào một vụ bê bối buộc phải cưới, nhưng Khánh không chịu mắc bẫy. Cậu hạ sĩ non choẹt kia là con mồi dự trữ, trượt thiếu tá thì đành lấy hạ sĩ chứ biết sao, mỗi năm một tuổi như đuổi xuân đi!

Hai Khánh chợp mắt được nhờ hai viên gác-đê-nan uống cách quãng. Gói tiền một triệu không làm anh quên được những lời cay nghiệt của Mỹ Duyên. Dù giận tràn hông, anh vẫn phải nhận là Duyên nói không sai. Chỉ cần một lần đảo chính nữa, dù thành hay bại, phe phái nào nắm quyền cũng ném anh vào góc rào, có khi cho vào máng  heo ăn nếu còn hơi tươi. Tất nhiên, ngài tỉnh phó sẽ cho ra một trong hàng trăm mưu mẹo để thoát thân một mình. Me anh gửi thư từ Sài Gòn ra, cho biết có tin đồn ông phủ Đỉnh sắp lấy vợ khác, tuy đã gần sáu mươi nhưng cái máu “ba mươi lăm” còn khá đậm. Bà mới này là vợ góa của một quan Tây, có hai đứa con lai, được hưởng của chồng để lại nên rất giàu, chăm đi mỹ viện nên nhan sắc không quá héo.

Ông phủ rất ít gặp Khánh, chỉ sai thư ký gọi điện thoại đến nhà hoặc chỗ làm việc của Khánh nói đôi lời thăm hỏi. Khu ruộng vườn mà dân làng Linh Lâm cứ nhất định gọi là “ấp ông Hường” rốt cuộc đã lấn sang khu đồn điền La-phác-sơ bên kia sông Linh, tăng thêm chừng hai trăm mẫu tây chỗ đất tốt nhất và dễ tưới nhất bằng nước suối Blam có đập ngăn. Chỗ còn lại được giao cho dân di cư làm nương rẫy. Canh gác cho vùng đất tốt nhất và mới của ngài tỉnh phó có một đồn lính bảo an mới lập chỗ đường 56 gặp sông Linh, hai đồn dân vệ, sáu điểm gác của thôn vệ và dân canh, còn thêm một trung đội dân vệ biệt kích của xã và các tiểu đội vệ sĩ của các thôn công giáo di cư. Quản lý đồn điền của ngài là ông Cửu Áng, mà ngày nay ai cũng gọi lại cái tên hồi làm lý trưởng nắm triện đồng trước khi Việt Minh lên cầm quyền. Ông vẫn giữ cung cách lý trưởng bình dân như xưa, luôn luôn nheo mắt cười hề hề, hay đến lò rèn ông Tư Chua để cà rà chuyện “bạn già với nhau”, khi vắng thì ngả sang “bạn cũ kháng chiến với nhau”. Cửu Áng ăn cắp không thua lão Huần ngày trước coi đồn điền La-phạt, nhưng kín hơn, khéo hơn nhiều, vì biết bản lĩnh của ngài tỉnh phó cao tay ấn hơn lão Tây nghiện hút, lâu nay chỉ về Linh Lâm một lần, dạo xem đất cũ vài ba tiếng, lại đi ngay...

Bốn giờ sáng, chuông điện thoại réo từng hồi dài, muốn lờ cũng chẳng được. Khánh nghiêng mình, nhấc máy.

- Thưa, có phải thiếu tá Khánh không ạ?

- Đúng tôi đây. Có việc gì?

- Xin cầm máy, đại tá cần nói chuyện.

Cũng được. Nếu định bắt giam, chỉ có một tốp an ninh quân đội kín đáo đến chặn cổng trước cổng sau, bấm chuông gọi, đưa lệnh bắt, thu súng ngắn, cho ra xe cây đóng kín, xong.

Đại tá tư lệnh sư đoàn chỉ nói máy câu:

- Xừ tới gặp tớ ngay nhé. Phòng Thần phong trong phi trường, tớ không ở nhà đâu. Cần cho xe hộ vệ không? Đường vô phi trường chẳng có gì rối. Việc gấp, xừ đến ngay nghe.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #257 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2017, 02:52:52 pm »

Khánh đánh thức cậu hộ vệ để đi gọi lái xe, sau đó mới mặc quân phục, đeo quân hàm trên ngực theo kiểu ra trận.

Thì ra đó là một trận hành quân quét Việt Nam cộng hòa, với khá nhiều cố vấn Mỹ đi theo. Mũi chính chĩa vào huyện Tây Quảng, bản đồ tham mưu gắn nhiều mũi tên chĩa vào các làng ven sông Linh, chỗ hội tụ là cái làng Linh Lâm mà Khánh rất quen, được đánh dấu xanh biển trên bản đồ tham mưu.

Đại tá nói thêm:

- Địa đồ này tớ đã gửi cho không quân, lơ mơ thì tụi nó bom cả quân mình, cả ấp cụ Đỉnh, cả khu di cư. Xừ cứ yên chí lớn, tớ đi theo thiết giáp xa mà cầm máy hăm bốn trên hăm bốn, ấp cụ via chả bị lầm đâu... Phần xừ Khánh rất nhẹ: xừ cho thu tiếng vào băng, chửi Việt Cộng hăng vào, in ảnh vào truyền đơn gọi cán binh Việt Cộng ra hàng, xừ ngồi trên trực thăng hay L.19, xem nổ phát đòn tâm lý chiến tốt không, mạnh không. Đừng như hồi đầu năm, tụi không quân phát loa vùng Thượng mà nói tiếng Kinh, máy nổ rầm rầm chẳng ai nghe được, mà truyền đơn mửa ra lại bằng tiếng Ăng-lê, kỳ cục hết cỡ!

Đại tá nhìn Khánh xoi mói:

- Phần việc thế, có phiền gì không, xừ cứ nói. Hay xừ còn sợ dân nó chửi, các đồng chí cũ trả thù, sợ mất con đường lui khi muốn chạy sang bên kia?

Một luồng nước lạnh buốt chạy dọc xương sống Khánh. Đến cái lão võ biền di cư kia mà nói trúng tim đen anh đến thế, ắt hồ sơ của anh ở an ninh quân đội, mật vụ, tổng nha công an cảnh sát đã dày lắm rồi... Khánh vười gượng, cố lấy giọng  thơ ơ nhất:

- Đại tá đa nghi quá. Tôi xin tuân lệnh ngay tắp lự.

- Xừ khá lắm, chưa quên lối nói Hà Nội. Thế này nhé: xừ làm rất gấp năm bảy cái băng thu tiếng, viết nhanh một truyền đơn có in ảnh, đưa cho tụi kỹ thuật bắt làm hỏa tốc từ giờ đến trưa.

Tớ đi theo chiếc C.47 chỉ huy, hễ quân bộ dồn Vi-xi tới bờ sông Linh, quân blocking force 1  xuống trực thăng chặn đứng sau lưng tụi nó, tớ gọi ra-đi-ô về thì xừ cho hai L.19 cất cánh ngay, chiếc trước phát loa, chiếc sau rải truyền đơn. L.19 chở ít mà máy êm, chẳng như đám trực thăng ồn nhức tai. Tớ cho lệnh rồi đấy, hai “Cô Liên mười chín tuổi” đặt dưới quyền xừ, cẩn thận thì mang theo ít tiểu liên với lựu đạn khói chỉ điểm. Hurry, hurrry up ! 2

Khánh trở về bàn mình trong dãy phòng tâm lý chiến, soạn giấy bút ra, ngồi thừ một lúc. Thế là rõ. Đâm lao phải theo lao. Một liều ba bảy cũng liều. Đã qua rồi cái thời đóng vai quân tử Tàu, vai thức giả, vai bề trên chế giễu những người dốt nát mà mình hạ cố cùng làm cuộc kháng chiến, vai thầy giáo cao ẩn chốn thị thành mà chẳng được yên.

Mình đã đầu hàng từng bước, lún sâu từng bước. Triều đình họ Ngô biết rõ mình còn vương vấn tí chút với bên kia, họ cứ dùng, vì đã thấy rất nhiều người kháng chiến cố chuộc tội khi theo quốc gia, và không thân Pháp, không muốn dính vào các vụ đảo chính, cũng là một nét hay của số ra hàng.

Ba bông mai vàng cấp đại úy được thay khá nhanh bằng một bông mai cấp thiếu tá cho dù lớp sĩ quan chai sạn từ thời đánh Việt Minh và sớm theo cụ Ngô đánh phe thân Pháp còn hậm hực, kêu Ngô tổng thống vắt chanh bỏ vỏ. Nhưng triều Ngô đủ khôn để tạo nên một lớp sĩ quan mới đã từng phản thực bài phong, và luyện cho họ đứt hẳn những tơ lông còn dính với cộng sản. Quen ăn thì không quen nhịn, họ phải bám chắc Ngô triều để sống còn.

Nay đã hết những ngày chìm trong bóng tối để soạn tài liệu tố cộng, viết những tờ “tâm thư” cho các vị tướng, vị tỉnh trưởng, vị tư lệnh ký tên. Họ đòi thiếu tá Ung Viết Khánh phải chường mặt ra chống cộng, bằng truyền đơn có ký tên và in ảnh, bằng tiếng nói thu ri-coóc-đơ có xưng tên, buộc mình phải nhúng tay vào chàm cho hết đường lui. Cũng như họ ép các cảnh sát phải ăn gan uống huyết phạm nhân, đám đầu thú phải tự tay tra tấn hoặc bắn chết đồng chí cũ, ít nhất cũng phải xé cờ cộng sản và ảnh Cụ Hồ trong các mít-tinh đông dân, để cắt hẳn đường trở về. Khánh được coi như trí thức, của khá hiếm trong quân lực Việt Nam cộng hòa, họ không làm quá như thế, chỉ cần Khánh xuất đầu lộ diện.

Không thể lùi được nữa rồi.

Khánh sang bộ phận nhiếp ảnh để chụp mấy kiểu 4x6, hẹn lấy gấp để kịp in. Nháp vội một “Lời kêu gọi các bạn đã cùng tôi theo kháng chiến”, với cái điệp khúc chính thức của triều Ngô chưa thay đổi: “Kháng chiến chống thực dân là có công, cộng sản là có tội cướp công kháng chiến”. Vừa cho đánh máy xong bản truyền đơn ngắn, ảnh của Khánh được mang tới. Ghép vào nhau xong chỉ mới hơn tám giờ sáng. Bộ phận kỹ thuật đã nhận lệnh in gấp, thu gấp, tới mười giờ sáng đã xong một việc, cũng như hai “Cô Liên 19 tuổi” sẵn sàng nổ máy ở đầu đường bay. Lệnh đại tá vẫn chưa đến. Các phi công nhìn Khánh và cậu trung úy trẻ bằng cặp mắt lạnh lùng khi họ hỏi nhận dù, nói giữa hai quân bài đánh dưới cánh máy bay:

- Thiếu tá tới hỏi bọn “bò sát” mà lấy. Tụi tôi chỉ được phát mỗi đứa một dù.

Khánh lóc cóc đi tìm đám phát dù. Cậu thiếu úy đòi cho xem lệnh cấp dù của không quân, bởi lục quân đi trực thăng không mang dù. Khánh không có giấy lệnh, được xin lỗi và bị bỏ trơ ra đấy. Cậu trung úy lấy xe Gip đi tìm ông chỉ huy sân bay, bị quân cảnh chặn nửa đường và đuổi quay lại vì thiếu giấy phép đi lại trong cái sân bay rộng như thành phố này.

Cái bông mai bạc cài trên ngực Khánh lúc này nặng như cục chì. Họ muốn giết mình thì quá dễ, chẳng thí cho rơi một chiếc L.19 đâu, chỉ cần lấp khúc dây bở dế đứt vào đầu nút của nịt bụng, về đến gần sân bay thì cho máy bay lộn ngửa một vòng quen thuộc, mình sẽ thành bãi phân trâu dưới đất, và sau đó họ đổ cho hệ thống lái bị trục trặc. Năm ngoái một trung tá dính từ xa vào đảo chính đã bị xử êm như thế.
Khánh gọi điện về chỗ mình, gọi một thiếu úy đến gấp, giao lại tất cả mọi thứ để đi thay mình, vừa xong thì lệnh đại tá cũng đến, gọi tâm lý chiến lên đường ngay. Khánh chỉ kịp dặn thêm hai cậu trẻ măng kia:

- Lên chỗ khu chiến, hễ đại tá hỏi tại sao tao không đi, mày nói tao đau bụng ỉa chảy. Chắc ổng hỏi đó. Nhớ kỹ tần số, mật hiệu là “Em Liên kêu Cua thép Một”. Đi tốt nghe, hai cưng!

Quá trưa, hai chiếc L.19 về đủ. Chiếc thứ hai dành chỗ ngồi sau cho Khánh bị một tràng dài đạn nhỏ dưới đất bắn lên, không hỏng máy nhưng cậu thiếu úy đi thay Khánh bị nát cả hai đùi, xương lẫn với thịt, chắc phải cưa cả hai chân trên đầu gối.

Trong xắc-cốt của Khánh có một bộ đạn lép của các cỡ súng thường dùng. Anh rút ra đút thử vào các lỗ đạn. Cỡ 7,5 ly của trung liên 24-29 Pháp không lọt, cỡ 7,62 ly của Brao-ning Mỹ cũng không lọt. Cuối cùng, cỡ nhỏ nhất của M.16 vừa các lỗ. Thứ này Mỹ mới đưa sang dùng thử, mỗi sư đoàn được phát mươi cây, và chưa cây nào lọt vào tay cộng sản. Số lỗ đạn trên thân máy bay nhiều hơn số hai chục viên của một băng M.16, như thế đã có vài ba cây cùng bắn, và bắn khi máy bay xuống thấp, không đề phòng. Chỗ ngồi đằng trước của phi công không có vết đạn.

Có thể tin đến chín mươi phần trăm rằng các ông chiến hữu quý hóa không muốn tái bản cái trò đứt dây bảo hiểm đã gây quá nhiều xôn xao trong hàng sĩ quan, nhưng họ đạo diễn vở kịch mới còn vụng lắm.

Khánh sẽ mua những ngày sống sắp tới bằng cách nào?




--------------------------------------------------------
1. Lực lượng khóa đuôi.
2. Nhanh lên, vội lên.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #258 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2017, 03:00:57 pm »

*

Vừa đẩy đi trót lọt được món hàng bốn chục ki-lô ma túy đắt tiền nhất-hê-rô-in loại 4-lão Lê-ông La-phác-sơ nhận được điện khẩn của Gia-nét đánh đi từ đồn điền cao-su ri-sô, gọi lão về ngay có việc rất gấp. Không báo rõ việc gì.

Lão hối hả vào Sài Gòn, đẩy bớt mấy triệu đồng vào chi nhánh ngân hàng Thụy-sĩ ở đấy sau khi đổi ra phrăng Thụy-sĩ. Ngân hàng Pháp quốc cũng có chi nhánh, nhưng chẳng ai dám gửi vì chiến tranh An-giê-ri gây rối ren và lạm phát dữ dội ở chính quốc. Rồi lão cùng gã da đen Rơ-nê lái chiếc xe đua trá hình vọt lên đồn điền của con gái và con rể.

Một tin sét đánh đang chờ lão: đứa con trai của lão, trung tá Pi-e La-phác-sơ đã chết, hay như cách nói triệu lần như một của giới nhà binh là “đã ngã trên trường vinh dự”. Kèm theo giấy báo tử là bản sao quyết định tặng cho Pi-e huân chương “Chữ thập chiến tranh”. Gia đình có thể nhận các thứ của trung tá tại thủ phủ An-giê hay qua bưu điện.

Lê-ông dựa ngửa đầu trên ghế bành, nhắm mắt, đầu óc xoay tròn. Lúc này Gia-nét mới thấy cha mình héo hắt đến chừng nào. Tóc cha chỉ còn một phần ba vành khăn chạy qua hai mang tai và sau gáy, bạc gần hết. Cha bao nhiêu tuổi nhỉ? Sáu mốt... sáu lăm? Gia-nét từ lâu không còn nhớ ngày tháng năm sinh của cha, chỉ nhớ những dịp kỷ niệm của mình, của chồng, của ba đứa con, trong khi cha không quên một ngày nào, luôn đánh điện chúc mừng mỗi dịp sinh nhật kèm theo một tấm séc, gần đây nhất là điện và séc nhân ngày cưới của Ang-đrê và Gia-nét, giúp vợ chồng Gia-ry-nét sắm thêm được một máy xén cỏ trong đồn điền cao-su. Con tệ bạc khủng khiếp, phải không cha? Mỗi lần nhận điện và tiền, con chỉ điện cảm ơn, đôi chữ thương nhớ, nhưng vài giờ sau con quên sạch, chỉ còn biết tới mình, chồng, các con nhỏ.
Anh Ăng-đrê đang phát phì với cặp má tròn, ba lớp cằm, cái bụng ngày càng đùn mỡ thành phệ, dáng đi khệnh khạng rất oai của ông chủ đồn điền. Khi nhận điện báo Pi-e chết, anh chỉ im lặng một lát như mặc niệm người chết. Khi ăn tối anh mỏi nói: “Vậy là gia tài vào tay Gia-nét cả rồi, liệu mà ăn ở với ông cụ. Nghiện ma túy không sống được lâu đâu”. Gia-nét hãi hùng ném dao nĩa vào đĩa ăn, kêu nhức đầu đi nằm sớm, không cho chồng con vào buồng ngủ.

Lão Lê-ông chỉ uống một bình sữa chua, đi vào căn buồng được dọn riêng đón lão, tự tiêm một liều hê-rô-in gấp đôi mức thường để chìm vào ảo mộng, nhưng trong tất cả mộng mơ đều thấy thằng Pi-e hiện hình. Nó chế giễu, đòi hỏi, mở tròn mát nghe lời lão răn dạy, cảm ơn lão nhiều lần vì đá nhồi tiền vào ví nó, đòi thêm nữa khi nó chuyển sang Bắc Phi, rồi gửi thư cho lão với những dòng thắm thiết: “Con ngày càng nhận thấy Ba là người duy nhất trên trái đất này nghĩ đến đứa con bất hạnh nơi xa, dù đứa con hỗn xược và phá của ấy đã gây cho Ba rất nhiều cơn đau lòng”.

Gia-nét bồng đứa con thứ ba vào xem cha ngủ nhiều lần. Cha nằm như lịm đi, thở rất ít, chỉ thỉnh thoảng lẩm bẩm đôi môi thâm như mớ không thành tiếng. Gia-nét cũng thấy trên môi mình dồn ứ một câu hỏi: Ai sẽ đi An-giê-ri dự lễ truy điệu và tìm cách đưa Pi-e về chôn ở Mác-xây theo nguyện vọng Pi-e đã nhắc vài lần trong thư, và nhận tất cả các thứ Pi-e để lại?

Ăng-đrê? Chắc chắn anh ấy không đi. Hai người đàn ông ngày càng ghét nhau, xa nhau như sừng với đuôi tuy cùng ghép vào một thân con bò. Ăng-đrê đang mê say làm giàu, gần đây bắt nhân tình với một ả gái nhảy người Tàu lai Pháp ở Sài Gòn, Gia-nét biết rõ nhưng không dám nói gì. Định xén bớt những món tiền cha gửi cho, cũng không dám. Định gửi thư cho cha xin đổi cách khác: thay vì dùng séc, xin cha cứ trao tay cho một bà Pháp, cũng là chủ đồn điền nhưng con đã lớn, bà về ở Sài Gòn, đều đều mỗi tháng một lần về đồn điền thăm các cháu nội. Bà ta sẽ ghé ngang đồn điền Ri-sô để bí mật đưa lại cho Gia-nét. Sắp xếp vừa xong, chưa kịp viết thư gửi cha thì ngói đã sụt xuống đầu...

Đành để cha tự định đoạt.

Sáng hôm sau, Lê-ông uống vội ly cà-phê sữa, lật xem lịch bay của tất cả các hãng hàng không, bỗng hối hả gọi Rơ-nê xách va-li ra xe, chưa kịp ăn. Có một chuyến bay của hãng Air France vào năm giờ chiều nay. Phải đi gấp mới kịp rút tiền, mua vé bằng bất cứ giá nào, thu xếp công việc. Gia-nét dắt các con ra hôn ông ngoại, và rỉ khẽ vào tai:

- Ba đừng đem cái món... món ba thường dùng ấy mà... lỡ họ khám thấy... con lo lắm...

- Không đâu, ba chỉ đem tiền. Như người Việt nói, có tiền mua tiên cũng được. Đi nhé, Ăng-đrê. Chúc cả nhà khỏe.

- Rơ-nê, đợi tí.

Gia-nét gói các thứ ăn sáng kèm bốn chai bia và xô-đa, nhét cả vào túi lưới. Tất cả những ai quen đều nhận rằng Gia-nét trẻ rất lâu, đã ba con mà như gái một con. Họ không biết vợ chồng Gia-nét đang ngấm ngầm chán nhau. Chán vợ nhưng không chán tiền, Ăng-đrê cứ nhét túi gọn những tấm séc của cha vợ, để mặc cho vợ đánh điện hay viết thư cảm ơn, vọt về Sài Gòn bảo là để lo việc làm ăn, nhưng dường như chỉ để bao thêm nữa cho ả gái nhảy trẻ đẹp, đổi lấy chút tình hờ rất đắt tiền.

Những người gần gũi Ăng-đrê đều biết anh ấy mê gái mà không dám nói. Dại gì mà nhét ngón tay vào giữa vỏ cây và thân cây. Người quản lý trước là Mô-ham-mét A-li, biết ông chủ lấy nhiều của cha vợ mà đưa rất ít tiền cho vợ nuôi con, thường xén bớt các món bổng ngoại của ông chủ để đưa lén cho bà chủ. Từ khi An-giê-ri rục rịch nổi dậy chống Pháp, Ăng-đrê sợ nuôi ong tay áo nên đuổi thẳng con người đã tận tụy giúp mình làm giàu. Ăng-đrê kén mãi mới nhận vào làm một đại úy quân đội Sài Gòn bị thải vì dính ấp gì đấy vào chính trị, trước đây đã làm quản lý đồn điền cho một thiếu tướng giàu sụ. Gã này nói thạo tiếng Pháp và Anh, làm ăn giỏi, nhưng không thương hại bà chủ tuy rất lễ phép, kiếm thêm được gì gã bỏ túi sạch, êm.

Cha đi khỏi một lát, Ăng-đrê xồng xộc đi vào khi Gia-nét đang cho con bú. Anh thắt nịt đạn súng săn vào bụng, nhấc cây súng hai nòng khỏi đinh treo, còn mở ngăn kéo lấy thêm khẩu súng ngắn 6,35 ly nhỏ xíu đút vào túi quần. Gia-nét lo lắng hỏi chồng:

- Có gì mà anh... cẩn thận thế?

- Con bò sữa tốt nhất nhà ta bị mất trộm. Mấy đứa cu-li đồn điền trông thấy, không ngăn cản. Nhóm trộm không mang súng, chắc là dân làng thôi. Chúng nó đang đói, kiếm thịt về ăn.

- Hay là... anh nhờ cảnh sát người Việt tìm hộ... Chính quyền Sài Gòn không ưa người Pháp... anh hứa thưởng kha khá... đỡ phiền về sau...
- Để xem... cũng được... nhưng anh báo trước, em có thể sẽ nuôi con bằng sữa hộp phồng dộp đáy...

Ăng-đrê miễn cưỡng treo súng săn và nịt đạn vào chỗ cũ, chỉ giữ trong túi khẩu 6,35 ly, ra sân quát gọi cậu quản lý và một người gác-dạo này đồn điền đã tăng số gác lên bốn người có súng săn vì dân Việt bị giam đói trong các “khu trù mật” lẻn ra trộm cắp quá nhiều. Bọn gác cũng ăn cắp, nhung cộng cả lương và số gà vịt heo chúng lấy vẫn chỉ bằng một nửa số bị dân làng chui rào ra ăn trộn đêm. Giúi tiền cho mấy thằng cảnh sát Việt tìm hộ tiện hơn.

Ngay tối hôm ấy, tay cảnh sát trưởng đến đồn điền với vẻ mặt đầy hãnh diện, xách theo một bao tải gồ ghề. Ăng-đrê đã biết tiếng Việt kha khá, không cần phiên dịch, mở chai huýt-xki ra mồi. Đám cảnh sát không phân biệt được các loại huýt-xki loại Xcốt-len, loại Ken-tấc-ki Mỹ, loại dỏm Chợ Lớn, chỉ cần thấy mác huýt-xki là thấy sang lắm rồi, dù giá rẻ hơn rượu gạo mua tại chỗ vẫn tấm tắc khen ngon, nhất là khi nhắm kèm phó-mát và dồi chín, đều là made in Cholon trá hình.

Tay cảnh sát trưởng lôi trong bao tời sọc xanh ra một cái đầu bò đã róc hết thịt, bốc mùi hôi:

- Con bò ông Ri-sô còn lại bấy nhiêu. Xương bò ném xuống sông suối hết, tôi lượm lại cái đầu còn sừng. Ông Ri-sô coi thử, chắc đúng nó. Ông hẹn thưởng khá lắm, tụi tôi lùng riết.

Ăng-đrê làm sao nhớ được sừng mỗi con bò trong số tám chục bò sữa và bò thịt của đồn điền. Nhưng hứa là hứa, anh lẳng lặng đi vào buồng trong lấy tiền, vẫn chưa tin bộ xương đầu hôi rình kia là con bò sữa giống Hà-lan đã cho sữa tươi nuôi các con mình bấy nhiêu năm qua. Thôi đành, thí cho bọn Da vàng tí chút để giữ đường sống về sau.

Tên cảnh sát trưởng nhận hai chục ngàn tiền thưởng cho khối xương đầu, cảm ơn rối rít, mươi phút sau lại xin thêm cho lũ đàn em. Ăng-đrê khinh khỉnh ném ra thêm năm ngàn nữa, hẹn thêm là chỉ thưởng cho những vụ trộm cắp thu lại được tang vật trả cho chủ, không phải bộ xương đầu như lần này.

Tên cảnh sát trưởng xã đã ngà ngà, thề làn sau sẽ khác. Gia-nét ôm con nhỏ, hỏi qua loa:

- Với cái đám ăn trộm bò, ông xử thế nào?

- Ồ, bà ơi, xử chi cho phiền rầy. Trói chân tay, vô bao tời, cột đá, thả xuống sông là xong, xong hết.

- Lạy Chúa tôi, giết người vì một con bò ư?

- Ghép vô Việt Cộng thì ai trách được tôi với ông bà? Xin kiếu nghen. Lần sau ông cứ báo liền tay, tụi nó không kịp cắt cổ bò. Một con bò bị cứa cổ, vài ba đứa đền mạng. Ưng chưa?

Đêm ấy, Gia-nét hỏi chồng thêm về vụ con bò. Ăng-đrê đáp giống tên cảnh sát trưởng người Việt, còn thêm:

- Tại nó ăn tiền cắt cổ lẫn nhau, ai ngăn được? Em khuyên anh tung tiền ra thay đạn, đúng, cảm ơn. Nhưng khi bọn Vàng nổ súng vào nhau thì sẽ phiền phức đấy. Sống ở đất Đông Dương này cứ như làm xiếc đi trên dây thép. Khốn nạn cả một lũ!

Gia-nét nghĩ ngay: người tình của anh không xếp vào khốn nạn! Ý nghĩ ấy không kéo dài, vì đứa con thứ ba nổi khóc đòi bú trong buồng bên cạnh, và chị vú em chắc đã ngủ say đến sùi bọt mép, bị dựng lên lại nằm vật xuống như người bị thuốc mê.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #259 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2017, 03:14:18 pm »

Chương 10


Trận càn quét lớn vào vùng ven núi hai huyện Tây Quảng và Quế Sơn kéo dài nửa tháng. Sau năm ngày đánh phủ dầu dữ dội bằng tất cả số quân và vũ khí có trong tay, địch rút bớt một số tiểu đoàn về, chắc để đi càn nơi khác, chỉ để lại những đại đội lo dồn dân và đốc thúc dân xây nhiều đồn mới.

Hai mũi biệt động quân phóng lên dồn dân hai làng Blam và Blin xuống bên bò sông Linh bị xóc chông sa bẫy nhiều. Du kích làng Blam đánh khá, tuy chỉ có ná tên. Du kích làng Blin yếu hơn, lại bị mấy ông già làng, thầy cúng, thầy đồng cản mũi kỳ đà, vì sợ địch trả thù ném bom giết cả làng.

Địch cay cú vì chông bẫy quá nhiều, lùa dân Blam rất gấp, bắt khiêng đám lính bị thương, khiêng cả heo bò gà mà chúng đã cẩn thận bắn chết. Tên chỉ huy tiểu đoàn này rất khôn, hắn biết các loài dân Thượng nuôi đều thả rông nên tự tìm đường về làng về nhà rất giỏi, dân bị dồn thường lén thả dọc đường, đã có số du kích và thanh niên lánh vào rừng trở về cho súc vật ăn. Vì cần lùng sục kỹ cả khu vực Xưởng quân giới cũ nên chúng chưa đốt làng, chỉ bắn số trâu ăn rong mò về làng kiếm muối, dò dẫm đi vào “hang ổ cộng sản” mà ngày xưa Pháp biết rõ nhưng không đưa quân tới được, đại bác bắn cũng rơi đạn dưới rất xa, máy bay ném bom không trúng lần nào.

Làng Blin đánh yếu, dằng co với địch càng yếu. Các ông lão làng già nhất và nhát sợ nhất là nạn nhân đầu tiên. Tên tiểu đoàn trưởng chỉ chọn để dồn những người trẻ khỏe, cả đám con nít sẽ lớn lên. Hắn lọc ra vài chục ông bà già nhất, nói mấy câu xì xồ tiếng lạ với tên thiếu úy, và tên này dẫn số mắt lòa chân chậm vào rừng. Mươi ngày sau, đội du kích nghe ngớt tiếng súng mới lò dò từ núi cao xuống làng, theo mùi thối và dấu chân đi tìm, gặp hơn chục cái xác rữa nát đã bị thú dữ xé từng mảnh rời đi ăn, bỏ xương rải rác. Làng bị đốt ngay sau khi dân bị lùa, tro than đã nguội từ lâu. Trâu heo gà thấy bóng người là chạy biến vào rừng: các ông bà chủ bỏ chúng không cho ăn nữa, bắn vào chúng, xin để chúng tự kiếm sống trong rừng núi, từ bỏ loài người độc ác và bạc bẽo.

Các đội Võ trang công tác và các đội du kích đã chọc xuống tận quốc lộ Một, được dân cho và tự mua những ba-lô nặng trĩu vải ka-ki, máy thu thanh bán dẫn và pin, vị tinh, ni-lông dầu làm võng, ni-lông-mút may áo quần, bị địch vỗ mặt và chặn lưng giữa lúc ít ngờ nhất, đã vất cả ba-lô, xe gắn máy và xe đạp để rượt ác ôn và chạy liên lạc, chạy dạt lên các gò đồi hay rừng núi tùy nơi nào gần nhất được coi là yên thân nhất. Anh chị em đay nghiến nhau khi nhắc lại những lời căn dặn từ trên dội xuống: “Phải đề phòng khi địch phản kích mạnh theo kế hoạch Xta-lây Tay-lơ bình định miền Nam trong mười tám tháng”. Lác đác có những đội viên vác súng ra hàng địch.

Cả Chanh đi vội về Tây Quảng khi trận càn mở đầu.

Cơ sở trong sĩ quan ngụy chỉ được biết về trận phản công Việt Cộng vài giờ trước khi trực thăng cất cánh, báo tin không kịp. Cơ quan huyện Tây Quảng đóng gần làng Blam, gọn nhẹ, chuyển lên núi cao chẳng khó khăn gì. Các đội võ trang công tác từ núi tỏa xuống đồng bàng, ắt sẽ vọt trở về nơi ra đi. Cũng có thể một số đội trụ bám dân, nhất là ở vùng sâu gần biển đã sắp xếp được hầm chìm hầm nổi sau lưng địch.
Anh Tơ-rin vạm vỡ, nay đã điểm tóc bạc, được bầu làm bí thư Đảng ủy xã và huyện ủy viên Tây Quảng, đón Chanh ở trạm giao liên mới đổi chỗ trong càn. Anh vuốt ve con chó Dồ con mà anh đã nuôi từ khi mới đẻ, chưa quên ông chủ đầu tiên có mùi lạ khác mấy ông chủ sau này. Nó ngửi một lát, bắt đầu liếm bàn tay ông chủ cũ đặt trên lưng nó. Nồi sắn tươi trên bếp đã bốc hơi.

- Anh Cả đừng lo. Dân ở núi khác tui không biết, chó dân làng Blam tui biết, không dồn được mô. Tụi nó dọa giết quá phải đi, lần hồi họ trở về hết cho coi. Đốt làng cũ thì rút vô chỗ thiệt kín dựng làng mới, dân tui xưa tới nay dời làng cả trăm lần, khó chi mô. Lệ làng tui hễ rẫy xấu, bịnh nhiều, chết nhiều là dời làng. Tỉnh ủy với Cụ Hồ lo nhiều, thương nhiều, quý lắm đó, mà dân làng tui cũng phải lo cho mình nữa chớ! Đợi trên lo giùm hết, mình như con nít đòi bú mẹ, xấu lắm lắm!

Suýt nữa Cả Chanh đã lao qua đống lửa trong hang đá để ôm ghì người đồng chí hết sức đáng yêu.

Dần dà, góp từ nhiều nguồn tin, Cả Chanh đã làm được báo cáo về trận càn hung hãn nhất từ ngày đình chiến tới nay. Các đội Võ trang công tác và du kích xã cộng dồn hai huyện chỉ chết ba, bị thương tám, bị bắt hai, ra hàng một có súng săn một nòng. Phía địch, biệt động quân bắt dân khiêng về hai mươi bảy đứa xóc chông sụp bẫy, có lẽ không chết vì du kích được chỉ thị chưa dùng tên ná hay chông tẩm thuốc độc. Hai lính chết vì đạn. Cay nhất là trung đội vệ sĩ thuộc các thôn di cư Linh Thượng và đồn điền Tây: vừa được phát xong vài chục cây súng loại phế thải, phía núi. Hai chiếc T.18 bay tới, chẳng biết mô tê nào cả, lao xuống nện xuống đầu họ bốn quả bom diệt bộ binh, cả trung đội chết, bị thương, vất súng trả “quốc gia” hết sạch. Các cha cố chạy gấp lên an ủi con chiên, nói tội ấy là của phi công theo đạo Phật, theo Tin Lành, theo Việt Cộng, không ai cãi mà chẳng ai tin. Thôn Linh Hạ lâu nay hiền lành bị đại bác bắn lầm, chết bảy và cháy mười tám nóc nhà.

Việc còn lại sau càn: chổng dồn dân, phóng các đội trở về vùng hoạt động cũ xuyên qua lớp đồn bót chằng chịt mới mọc lên sau trận càn lớn.

Đợi quyết định cuối cùng của anh Tô Xáng “cai lục lộ” thì quá lâu, “cụ Thượng” Cả Chanh cho in ngay một chỉ thị bằng rô-nê-ô gửi đến từng chi bộ. Phải quyết bám dân không rời, mất dân là mất hết. Dân đi đâu, đảng viên phải theo tới đó, bị gián điệp, tố cáo thì cố chịu đòn tra tấn cho hồ sơ trắng, lại trở về bám dân mà hoạt động cách mạng.

Chanh tự biết chữ ký của anh trên tờ rô-nê-ô có sức nặng không nhỏ, chỉ vì anh đã từng làm những gì anh đòi hỏi ở các đồng chí. Các anh chị có tuổi sống trong vùng địch hay nhắc con cháu: “Đừng tin ngay mà khốn, quốc gia giả cộng sản nhiều lắm. Có ông Cả Chanh về mới là cách mạng thứ thiệt. Bây mới lớn lên chưa biết mặt ổng, chớ tao chưa quên. Đợi tao coi trước đã”. Nhiều ông bà giả đi buôn Thượng, lên dò tin và kiếm cách gặp ông Chanh, đã đi qua trước mặt “cụ Thượng” mà không nhận ra Chanh. Mỗi khi về gặp cơ sở, Chanh phải tháo búi tóc giả, các mảnh ngà voi kẹp tai, quấn khăn che miệng để giấu bộ râu không nỡ cạo, đeo súng ngắn và máy bán dẫn ra ngoài áo bà ba. Gián điệp đưa tin ông Chanh cộng sản gốc cứ phải kèm theo một dấu hỏi trong ngoặc đơn, để về sau nếu sai khỏi bị quốc gia bắt vạ.

Vùng núi được rắc đầy truyền đơn có chữ ký và ảnh của Hai Khánh gọi các đồng chí cũ ra hàng, “trở về với chánh nghĩa quốc gia”. Các loa phóng thanh trên máy bay L.19 hay trực thanh H.34 tuôn xuống đất những lời thống thiết của thiếu tá Ung Viết Khánh.

Cả Chanh nổi xung điên khi nghe lần đầu tiếng Khánh trên loa, đọc tờ truyền đơn đầu tiên có ảnh và chữ ký của Khánh. Chanh đã trót dại tin ở lương tâm của một trí thức đã giúp Việt Minh trước khởi nghĩa 1945 chăng? Gã trí thức ấy, chao đảo ngả nghiêng mãi hồi chống Pháp, nay đã quay lưng với các đồng chí cũ, dốc lòng thờ Mỹ-Diệm làm chủ? Lá thư phân trần mà Khánh gửi cho Chanh trước khi nhảy về vùng tề, chỉ là một trò lá mặt lá trái nữa ư? Và mình đã khờ dại tin ở lương tâm của một kẻ không có lương tâm? Chanh đã gặp quá nhiều đứa lựa gió phất cờ qua bấy nhiêu năm cách mạng thăng trầm, sẵn sàng giết đồng chí cũ để lập công chuộc tội.

Rồi Cả Chanh lắng tai nghe giọng Hai Khánh đến lần thứ tư qua loa phóng thanh ghép cạnh sườn máy bay tâm lý chiến như cái bướu. Lời lẽ trong truyền đơn chống cộng rất khác lối nói hằng ngày của cậu sinh viên Luật khoa Hà Nội mà anh đã quen nhiều năm, giọng nói cũng pha Nam Bộ:

- Chánh quyền của chí sĩ Ngô Đình Diệm, cùng các vị thân cận hơn hết, là chánh quyền hợp pháp ở miền Nam Việt Nam, được Hoa-kỳ quốc, Anh quốc, Pháp quốc, cùng nhiều quốc gia khác thừa nhận và viện trợ. Tôi xin góp một lời kêu gọi các chiến hữu phản thực bài phong với tôi năm xưa, hãy cộng tác với chúng tôi để Tổ quốc Việt Nam thiêng liêng của chúng ta được độc lập và thống nhứt, thoát khỏi mọi sự đô hộ của ngoại bang và sự chia cắt non sông ngày nay...

Kể ra, cậu ta cũng chưa quá tệ, không gào thét chống cộng, cũng không muốn mất lòng các ông chủ mới. Nhưng khi tình thế căng thẳng hơn thì cậu ta sẽ lùi thêm, lùi mãi đến tận chân tường, với một đống tội phản dân hại nước. Cô Mỹ Duyên, qua những báo cáo miệng, đã đoán trúng mặt tốt mặt xấu của anh chàng này, nhưng chưa moi được những bí mật quân sự vì chính Hai Khánh cũng bị gạt ra ngoài cái nhóm được tin cậy. Hai Khánh sẽ ngả sang phía nào? Chưa biết, và cũng khó đoán trước.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM