Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:45:08 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người cùng quê - Tập 1  (Đọc 126596 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #260 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2017, 03:17:40 pm »

Hơn mười cái đồn mới cắm ở Tây Quảng cùng hàng loạt ấp chiến lược mọc lên đã làm cho các đội Võ trang công tác và du kích rúng xương, quay về bám chắc rừng núi, bước xuống đồng bằng là thấy địch vây bốn phía, chỉ vội vã kiếm gạo muối đầy bao đầy gùi là chạy lên xanh.
Chính lúc này, lớp dân trung kiên phải dỗ dành những người rời nhà theo cách mạng:

- Rán chịu cực nghen con. Con ra đầu thú, khai báo lung tung, chết dân cả làng, tội nghiệp lắm. Khổ mấy cũng chưa bằng hồi “bể hiệp thương, bể tổng tuyển cử”, mấy năm sau đó nữa, cán với dân lớp chết, lớp tù, lớp bị đòn tới, cả đời thân tàn ma dại... ừ, thì nó đóng đồn chớ sao. Nó đóng trên gò cao, mình đi né tránh lại dễ hơn năm xưa nó ăn chung ở lộn trong làng. Bọn con trai lãnh súng vô thôn vệ, dân vệ, là để kiếm ăn với trốn quân dịch đó thôi. Các con đánh được vài trận như hồi bộ đội mình đánh Tây, làng xóm hù dọa ráo riết, là nó rã đám liền hà. Dân bị nhồi nhét vô ấp chiến lược đói kém lắm, phải tháo đòn tay nhà mà nộp làm hàng rào, bỏ làm ăn đi đào hào, cắm chông, dựng tường, đắp lô cốt. Tụi hội đồng xã nói miết là xây ấp chiến lược hay xây đồn cũng vậy, xong thì mới thôi, không tính ngày công như xâu cộng đồng kiến thiết. Bà con kêu đói quá làm không nổi, tụi nó mới chịu trả mỗi ngày hai lon gạo, lon gạt đó, hai lon chừng nửa ký cho cả nhà còn ăn hết nhịn. Các con cứ nổ súng, kêu loa, ra lệnh cho dân đốt rào ấp, ai nấy trở về làng cũ nhà cũ, là bà con ríu ríu làm theo hết, không phải như hồi bên mình kiêng kỵ nổ súng... Nó đốt làng giết dân à? Đâu xa chẳng biết, chớ làng này kêu rập một giọng: cả trung đoàn Việt Cộng mang đủ súng lớn nhỏ, chĩa súng bắt dân phá ấp về làng cũ, làng với lính chạy ráo, dân tôi tay không dám chống lại à?

Lúc này vai trò đang đảo ngược. Năm xưa cán bộ cố khuyên dân bình tĩnh chịu đựng. Nay bà con chòm xóm phải khiêng cán bộ và du kích đừng hoảng sợ, chớ ra hàng giặc, và nhịn ăn mặc để nuôi đám trẻ nhảy núi chưa quen chịu cực.

Út Thanh Yên bị đứt liên lạc, tự ý mò lên núi, còn may không trúng chông bẫy. Làng Blam bị dồn xuống ven sông Linh, nhưng lớp trai gái trẻ rút vào núi sâu đã trở về bám làng cũ vẫn bị đốt trụi sau khi quân địch rút hẳn. Cô em đồng chí huyện ủy viên Tơ-rin dẫn Thanh Yên vào chỗ ở mới của huyện ủy Tây Quảng, Cả Thanh đang còn ở đấy, sắp ra cánh Bắc Quảng Nam.

Vừa thấy anh Cả, Thanh Yên đã nhào tới ôm ghì anh, nức nở không nói được. Chanh vỗ về cô em út, đợi em báo nhiều tin dữ.

- Út ơi, nói đi, nhà mình… có chuyện gì?

Thanh Yên lắc đầu, khá lâu mới kéo một góc tấm dồ Thượng mà anh Cả đang khoác trên thân, lau mắt, giọng bớt nghẹn:

- Không gì đâu anh. Cha mẹ, chị Thùy theo bảng A cô lập mà tụi nó không bắt. Chị Năm Bưởi ho hen miết, cũng được ở nhà với cha, chị Thùy. Anh Tư Quýt có nhà với lò rèn chỗ xa xóm Mới, bị dồn vô ở xóm Chợ với nhà vợ, che cái chòi lò rèn trong góc vườn, cả nhà chị Song coi ảnh như đứa ăn bám vợ ở xó chuồng heo... rầu nhứt là anh Bảy Bòng...

- Nó ra sao, Út?

- Ảnh hư rồi, hư quá sá... Đi học một lớp tố cộng nửa tháng về, người ta hẹn hễ lập công diệt cộng tốt thì họ cho lên thứ gì úy đó, chưa kể phần thưởng tiền, mề-đay. Đi đâu ảnh cũng bô bô: “May là cha tôi với chị Năm Nhím đã đầu hàng quốc gia, chớ còn ho he tôi chặt đầu. Ông Chanh là anh ruột, nắm đầu được tôi cũng không tha”. Nói vậy thì còn chút máu mủ gì. Vài anh dân vệ quen nhà mình ghé nói giống nhau: họ nghe lén hội đồng xã họp, soát lại cách xử sự với số gia đình có người nhảy núi, tập kết. Lão Ba Mít nhứt quyết làm dữ, đẩy mấy nhà loại B lên loại A cô lập.

Ông Cửu Áng, vừa quản lý ấp phủ Đỉnh vừa làm ủy viên kinh tài xã Tây Giang, ổng biết Việt Cộng chẳng vừa đâu, anh Cả về thì lãnh đủ một loạt súng máy. Chính anh Bảy Bòng nhà mình chê lão nhát gan. Cãi một hồi, anh Bảy chịu cho chị Năm học tố cộng ở xã vì đã được huấn chánh trong mấy năm ở tù, giam nữa chắc chết trong tù. Còn anh Tư Quýt mập ú ra, cứ xuống quận học tố cộng cho xuống ki-lô cũng hay. Tư Quýt đã mang khăn gói quả mướp xuống quận lỵ Tây Quảng, và chị Song vợ anh vội đi rao khắp nơi rằng ai làm nấy chịu, chị không dính tới việc của chồng...

Anh Bảy nói trong hội đồng xã: cha tôi bị ông Ba Hùng Minh đây, hồi còn làm chủ tịch, bí thơ, hất cẳng cho về vườn trước đình chiến lâu lắm, ghép vô loại A cô lập là quá rồi. Mẹ tôi một chữ bẻ đôi không biết, chẳng tội vạ gì. Chị Thùy mắc bệnh điên, chữa lành thì lo may đồ nuôi cả nhà, họp làng họp xóm cũng ở nhà giữ sắp nhỏ, tới nay chưa biết là chồng tập kết hay ở lại trên núi, cộng tác viên công an đi lùng miết không gặp. Hễ gặp thì các ông bắt, tôi cũng hô bắt, mà phải nộp về cho quận, tỉnh, tòa đại diện Trung phần, có khi phải giải vô tới Sài Gòn để tổng thống với ông Nhu xét hỏi, ai giết ổng hay để ổng tự tử thì cầm chắc vô nhà đá nghỉ mát. Trên xuống lệnh vậy, tôi là cảnh sát trưởng cứ lệnh mà làm. Chắc ông Hùng Minh với ông Cửu chưa ưng bụng, trước đây lập công với Việt Minh, bây giờ quay ngược mặt sau ra mặt trước, giết cộng sản càng nhiều càng được tin cậy, tùy ý các vị. Tôi nói cắn cưa, ai chống cứ chống, thằng này không sợ...

Cả Chanh ngập ngừng hỏi:

- Nó... thằng Bảy... có làm gì quá quắt không Út?

- Em nghe nhiều tin đồn, chưa chắc đúng... Ảnh về Linh Hạ, tra tấn hai đảng viên cũ, một chết liền, một bị gẫy xương sườn, dập phổi, mắc bịnh cả năm chưa lành... Họ còn đồn ảnh... uống huyết pha rượu, quế bột, gừng, ăn gan xẻo mật anh thôn đội trưởng hồi chín năm Việt Minh, cụt chân không đi tập kết được, ở Linh Trung... Em chưa tin đâu anh Cả, mà sao cứ ngờ ngợ... biết đúng biết sai ra sao… Cái miệng ảnh độc địa vậy, thêm đám chống cộng chung quanh khích vô, đổ rượu thêm vô, dám chác ảnh làm như lời...

Giữa những câu run rẩy, Út Thanh Yên vẫn nhớ soạn các thứ đem cho anh Cả được vùi dưới đáy hai giỏ to đan bằng tre mà dân làng thường gánh khi đi cắt lá độn chuồng trâu. Chừng mười ki-lô muối, hai bộ bà ba, thuốc trụ sinh và thuốc sốt rét clô-rô-kin, toàn những thứ bị địch cấm bán lên vùng “mất an ninh”. Cả nhà trước Cách mạng tháng Tám, Thanh Yên đã lớn lên thành cô gái mười chín tuổi, da hồng hào và dáng người gọn chắc, khá xinh đẹp, có lẽ trong nhà về phần nhan sắc chỉ thua chị Hai Thùy thôi. Thùy vẫn được xem như hoa khôi Linh Lâm tuy đã hai con, như cái boong-ke cố thủ không chịu ly hôn, và được những họng súng vô hình của ông Cả Chanh cũng như súng dài ngắn của Bảy Bòng sẵn sàng nổ vào những ai muốn cưỡng hiếp.

Chanh đùa một chút cho em gái bớt buồn:

- Út ơi, em chưa nói chuyện riêng với anh. Đã thương ai chưa, có bồ bịch gì chưa?

Thanh Yên đang lau mắt bỗng bật cười:

- Ở cái chỗ tối mịt, đen thui, em bắt bồ với ma quỷ à? Mà em nói thiệt với anh Cả, anh không cho em nhảy núi thì em ra Huế, vô Quảng Ngãi, xin thoát ly cho gọn, chẳng cần anh cho phép, nhà mình cũng khỏi bị liên can gì. Nói thiệt đó anh!

- Úi chà, khoan đã út. Em chưa bị nghi, rán chịu lâu lâu nữa, bên mình gài được một cơ sở trong vùng địch khó quá em à. Tới khi em bị lộ, anh cho người xuống đón em liền một khi, đừng ngại.

Thanh Yên không cãi, mà rõ ràng sẽ làm theo ý mình. Thùy cũng nói gần gần như thế. Năm Bưởi cũng đòi lên xanh, nhưng còn lo bệnh tật sẽ làm phiền các đồng chí. Con đường Thống Nhứt ra Bắc đã mở, nh­ững ai đủ sức leo núi vài tháng mới dám đi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #261 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2017, 03:19:38 pm »

Ba giờ sáng, gà rừng đã gáy te te lảnh lói, Thanh Yên mói chịu ra về, theo sau cô em đồng chí Tơ-rin.

Cả Chanh ngả lưng trên tấm sạp tre, kéo tấm dồ Thượng trùm kín thân, trong khi đống lửa trong hang đá ngớt cháy nhưng còn tỏa khói đủ xua muỗi. Anh chưa ngủ được ngay. Cuộc sống hỗn tạp đầy rối ren đang chen vào gia đình anh ngày càng sâu, xốc xói lên những thứ đau xót tưởng đã chìm sâu dưới đáy trong thời chống Pháp: mẹ chồng nàng dâu, anh em ruột giành gia tài, chị mang lựu đạn đi lùng em, em để mặc cho chị ở tù... Út Thanh Yên đã dọa thêm: em lấy chồng ác ôn đó nghen, tội vạ gì mà không hưởng của nhà Ngô. Hay là chị Hai Thùy chịu ký ly hôn, tái giá, em cũng mặc kệ, không vun vào cũng chẳng cào ra, anh tính sao đó tính.

Xã hội miền Nam đang phân hóa ngày càng gay gắt. Không ít đồng chí ở núi lâu hay từ Bắc về đã trả giá rất đắt vì không thể tưởng tượng một đảng viên lâu năm biến thành gián điệp, một người gần gũi trong nhà lén chỉ hầm bí mật cho địch khui, anh mang súng ra hàng trong khi em đang bắt mối để lên xanh. Những tiếng “đầu thú, cơ sở phản, đào ngũ” đã ngớt một dạo, sau trận càn lớn lại được truyền miệng nhau như hồi đen tối nhất sau đình chiến.

Các đội Võ trang công tác và các huyện ủy viên trẻ đang dần dần thay thế lớp đảng viên cao tuổi, đã ngán ngẩm hay kiệt sức. Trong đại hội một Đảng bộ huyện, tuổi trung bình của đảng viên là bốn mươi, nhưng qua bỏ phiếu kín thì lứa tuổi trung bình của huyện ủy mới là hai mươi lăm, bí thư mới hai mươi bốn tuổi, Út Thanh Yên đang được đội Tây Giang rất tin cậy, đưa vào cảm tình Đảng, có thể kết nạp ở tuổi tròn mười chín, cũng không sớm lắm so với nhiều anh chị em khác.

Cả Chanh chợt bật cười khẽ, khiến con Dồ gác ngoài cửa hang quay đầu rướn cổ dòm... Buồn cười thật, mình mới ngoài bổn mươi mà đã suy nghĩ theo kiểu ông già, tính bàn giao cho con cháu!

- Mình nuôi bộ râu dài để giả làm ông già Cửa Đợi, cái đầu tưởng thiệt cũng già theo!

Anh Bảy Quý đã đùa như vậy trên chiếc thuyền liên lạc của chị Xáng, khoảng mười bẩy năm trước. Đến lượt Cả Chanh nuôi râu làm “cụ Thượng”. Lứa tuổi nối tiếp có phải đóng kịch như anh không, hay là sẽ mặc com-lê, xách cặp da, bước vào ô-tô du lịch?

Đồng chí Tơ-rin hẹn sẽ đến đón rất sớm, vì đồn lính bảo an giữ bờ Tây sông Linh hay cho quân đi phục ban đêm và luồn rừng ban ngày, đánh úp ta và vét nốt những xóm Thượng đã rút vào rừng sâu. Chanh lại búi tóc, rắc thêm phấn cho thành hoa râm, kẹp ngà voi vào tai, hay mặc cái khố đã bạc màu chàm, nhét cây súng ngắn ba nòng vào lớp khố quấn quanh bụng. Thằng địch quyết dồn dân Thượng xuống gần đồn nhưng gặp người già đi lẻ không súng thì chúng chặn bắt, chưa giết thêm nhiều, sợ bị “trả đầu”.

Con Dồ nhỏm dậy, gừ gừ trong mũi, rồi rên rên đón ông chủ cũ đã nuôi nó từ khi mới đẻ. Họ lại ra đi theo thứ tự quen: con Dồ trước xa, giao liên đeo lựu đạn cầm ná, anh Tơ-rin vác cây trường Mátx đã sứt đầu ruồi và cõng bớt các thứ sách báo cho Chanh, Cụ Thượng cõng gùi và cầm giáo dài, đi khóa đuôi.

Cả Chanh lại trở về nắm các huyện Nam Quảng Nam. Anh Tô Xáng cùng đoàn đại biểu Quảng Nam chia nhau đi các nơi kể chuyện Đại hội Ba, gọi họp từ chi ủy viên trở lên. Thiếu gạo muối, chỉ họp hẹp và ngắn thôi, nhưng người nghe không chịu thường phải kéo dài thêm một ngày đêm nữa mà hãy còn thòm thèm.

Cánh Nam Quảng Nam được chia của một tổ điện đài, mật mã, do anh Tô Xáng xin được và dẫn về, tầm liên lạc chỉ đến cánh Bắc và khu ủy Năm. Một trong những bức điện đầu tiên là chỉ thị của khu ủy, đánh ba lần liên tiếp: “Đ/c Thanh Trà ra ngay cánh Bắc”. Cũng thêm một điện của cánh Bắc gọi anh Thanh Trà trở ra hỏa tốc, tuy mới chia tay nhau chưa đầy hai tháng. Có chuyện gay go rồi.

Vẫn theo đuôi con Dồ, theo lưng giao liên Thượng, Chanh đi hỏa tốc theo con đường xuyên núi đã dời lên cao hơn. Đường mới phát đầy những gốc nhọn và lúc nhúc vắt đen, nâu, vắt lá leo lên tận cổ và nách mới chịu hút máu. Đi từ tờ mờ đất đến tối mịt phải thắp đuốc, mỗi ngày vượt hai ba trạm, Chanh vẫn mất bốn ngày mới đến huyện Giằng, vùng dân tộc Cơ-tu, để nhận cái tin sét đánh: anh Tô Xáng bị địch giết!

Thật không, anh ơi, “ông Bát Đập” ơi?

Anh em đã can không để anh xuống vùng ven biển Hòa Vang, anh chỉ cười cười: “Tiếng nói của Đảng mình chỉ loan tới vùng núi thôi à?”. Anh cứ đi, cứ gặp đảng viên và cơ sở vùng sâu, dù chỉ vài ba người anh cũng tỏ bày cặn kẽ như trước những đám đông hàng vạn người hồi chống Pháp. Trên đường về, anh rơi vào vòng phục kích, một loạt đạn cắt ngang người. Bọn dân vệ ngu đần đến nỗi buộc dây vào chân anh, kéo về nộp cho xã và quận một cái xác đã nát mặt mày, gọi ai đến xem đều nói người lạ. Các điện đài ta sợ lộ, không nói rõ cái điều mà địch chưa biết, vợ con anh Tô Xáng bị đẩy đi dinh điền Cao nguyên Trung phần cũng chưa biết.

Một điện mới nữa từ khu ủy Năm phóng về: “Bắc Ân cử Thanh Trà thay người đã khuất, sau sẽ bầu chính thức”.

Thay anh sao được, anh Xáng ơi?

Tôi đã tính những người thay tôi làm “cụ Thượng”. Nhưng có bao giờ tôi nghĩ phải thay “ông cai lục lộ” với bộ ka-ki vàng và bộ râu mép rậm rì với cái cằm nhổ trụi?

Anh Xáng ơi, mộ anh chôn đâu em chưa biết, chỉ xin cúi đầu tưởng nhớ anh trong lễ truy điệu hôm nay. Em tiếp bước theo anh, sẵn sàng hi sinh như anh, dù mai sau có nhiều kẻ bĩu môi chê chúng mình khờ dại, thời xưa gọi là “ngu trung”, ngày nay có kẻ xếp vào “cuồng tín”. Chúng mình đã qua nhiều trận cãi nhau nẩy lửa và kéo dài khó dứt. Cãi trong hội nghị chán rồi kéo ra rừng cãi tay đôi, cãi ngày chưa đủ lại treo võng bên nhau cãi đêm, đúng cái máu “Quảng Nam hay cãi”. Thế nhưng chưa bao giờ anh với em giận nhau, lạnh mặt nhau, bởi hiểu lòng nhau chỉ vì dân vì nước, chẳng hề mưu toan gì cho riêng mình.

Anh Xáng ơi, tại sao em không được thế mạng anh?

Một đồng chí trong thường vụ tỉnh ủy được cử vào nắm cánh Nam thay Chanh. Anh ở lại cơ quan tỉnh ủy, quyền bí thư. Làng Linh Lâm và huyện Tây Quảng trở nên xa vời vợi.

Địch không biết rõ cái xác bị buộc chân kéo lê đến nát mặt có phải là “tên cộng sản ngoan cố Tô Xáng tức Bát Đập” hay không. Cứ để cho chúng nghi ngờ chán, xác quá thối phải đem vùi. Cả Chanh thay anh đang làm quen với các huyện cánh Bắc, sửa soạn họp đại hội tỉnh sắp tới.

Khi mình bị giết, ai sẽ thay? Câu hỏi ấy nhoi nhói ngày đêm trong lòng đồng chí quyền bí thư tỉnh ủy. Và các đồng chí còn lại-sống sót-trong Thường vụ tỉnh ủy cùng an ủi: tới đó tụi tôi sẽ lo bầu đúng người, việc chi anh phải nghĩ xa?
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #262 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2017, 03:22:14 pm »

*

Các đội Võ trang công tác, du kích, các chi bộ bí mật trong vùng địch đã hoàn hồn sau trận càn dữ dội để lập đồn và xây ấp chiến lược. Những con đường liên lạc và tiếp tế phải thay đổi, nhưng vẫn là đường. Nơi ẩn náu của các đội phải đổi chỗ, nhưng vẫn ẩn náu được. Cơ sở giấu mình trong vùng địch vẫn là nơi đưa tin, cho gạo khoai, càng xuống vùng sâu càng ít rung chuyển.

Làng Linh Lâm, cũng như các làng khác ở ven núi, được biến thành “hàng rào chống cộng”. Địch biết không thể đóng đồn trên núi cao thăm thẳm, chỉ lùa dân xây ấp chiến lược “hai sông ba núi”, giam đói cộng sản trên vùng không người, tát cạn nước để bắt cá. Bản đồ Linh Lâm được vẽ lại khác hẳn. Trên bờ Tây sông Linh mọc lên hai đồn lính bảo an, một đồn dân vệ, năm bót dân canh, chặn hết các ngả từ vùng núi xuống. Thêm một thôn mới ra đời, thôn Linh Sơn gồm dân Thượng hai làng Blam và Blin vừa bị dồn xuống, kẹp giữa các đồn bót to nhỏ.
Trên vùng đất phía Đông sông Linh, được coi như dễ kiểm soát hơn, được giao cho hai đồn dân vệ cùng bốn bót dân canh, người và súng ít hơn lính bảo an.

Trong đám con cháu ông Tư Rèn, chỉ có Tư Quýt bị dồn. Công lao giành vườn, giành đất, giành đồ rèn của Tư Quýt bị đổ xuống sông cả, chỉ vì cái tội ở nơi khó kiểm soát. Vợ chồng Tư Quýt chạy đôn chạy đáo, tốn rất nhiều tiền đút lót và nói tình nói lý chán chê mà chẳng được ai bênh, cả chú em là cảnh sát trưởng Bảy Bòng cũng ngoảnh mặt. Hắn nói thẳng thừng: “Thà theo cộng sản hết lòng như anh Cả hay chị Năm, tôi coi như thù mà còn coi trọng, bắn chết rồi tôi còn quỳ gối lạy anh chị. Còn anh Tư chỉ bám đáy quần vợ, vơ vét cho mình, tôi coi như rác, để chết bỏ”. Lò rèn Tư Quýt dời về góc vườn nhà vợ, chẳng ai đến đặt rèn, cả nhà vợ lườm nguýt khinh rẻ, tiếp đó lại phải bán đi những thứ kìm búa vét được của cha để có tiền đi học tố cộng hai tháng ở quận Tây Quảng.

Căn nhà và lò rèn ông Tư, bà Tư cùng dâu con trong vườn dầu lai cổ thụ được để yên vì bọn dân vệ đóng gần, đi tuần đêm cần có chỗ ghé vào uống bát nước, nhờ nấu nồi cháo khuya, thường là với những thứ chúng kiếm chác được khi trút trộm các đăng đó, nò tôm, hốt ổ gà, có khi cả heo con bị chụp bao tro vào đầu chặn tiếng kêu. Bù lại, có đứa không quá xấu còn đến giúp sửa nhà, cưa bớt cành dầu lai cho quả khỏi rụng xuống đầu trẻ con, giúp ông Tư thổi bễ hay gọt cái cán rựa. Dân xóm Mới, được coi như ổ nuôi cộng sản, phải dời nhà ra bờ sông, cắm lều ở từ lò ông Tư đến xóm Chợ, mất nhiều ngày công và tre gỗ rào ấp chiến lược, lại phải rào hết ruộng rẫy chống heo rừng, nai, mang, vì ban đêm ấp bị khóa cứng, không ai được ở chòi rẫy để canh thú rừng. Bẫy kẹp, thò, chông đều bị cấm, coi như gài chống quốc gia, chừa lối đi cho cộng. Lên núi đốn cây về rào ấp cũng phải đút tiền cho ông Kinh tài là Cửu Áng, xin giấy phép.

Linh Lâm ngạt thở. Chưa chết hẳn cũng khó sống nổi.

Dân di cư đến chiếm đóng đồn điền La-phạt, làm chủ vùng đất các gia đình quân giới CK.II vỡ hoang sẵn, nay đã rõ mình chỉ là cây gậy chống cộng trong tay chí sĩ họ Ngô. Đồng đạo mà không đồng lòng, đồng tình. Họ kết thân với dân sở tại ngày càng gắn bó, dù các cha cố vẫn rao giảng về hiểm họa cộng sản, nghe mãi đến chán ngấy. Đòi di cư xa hơn nữa, không được. Đòi nới bớt ràng buộc, không được. Trong chín bót dân canh, họ được coi như chỉ điểm, nòng cốt, xin được giảm bớt số đêm canh gác, không được. Các cha đã giảng rằng Ngô tổng thống che chở. Nhưng cụ Ngô chỉ cho họ sáu tháng gạo ăn, mấy tấm tôn lợp nhà, vài bao xi-măng, hết, may dùng họ như nô lệ da vàng!
Một chuyện lạ đang diễn ra: dân di cư xin được giấy nhập lâm, gặp cộng sản và nghe họ tuyên truyền, về hẹn nhau giữ kín: “Ai phản bà con đi báo cáo, người khác sẽ mời cách mạng về cho ăn chì lập tức”.

Hàng rào chống cộng vùng ven núi mới dựng lên đã ruỗng nát từ bên trong.

Nhưng nó vẫn chĩa bộ mặt lởm chởm đầy hăm dọa về vùng núi phía Tây. Các đội công tác và du kích, bật lên núi trong cuộc phản kích của địch, nay dò dẫm trở về bám dân trong tâm trạng khiếp sợ: cái gì đang chờ giết họ đằng sau bấy nhiêu lớp hào chông, rào lông nhím, rào kẽm gai? Chông cỡ to có ngạnh phải dùng thuổng đóng sâu, dưới đáy gài mìn chống nhổ? Rào kẽm gai xoắn ruột gà, rào hình cũi heo, có mìn nhảy mìn đèn khắp nơi? Và những cây súng chực sẵn, mấy chục lần nhiều hơn nhũng thứ góp nhặt của họ, viên nổ viên lép? Và pháo cối từ các đồn xa gần giội tới, máy bay thả đèn dù và thả bom trên lưng?

Tỉnh ủy, các huyện ủy, tiếp tới các Đảng ủy và chi bộ xã phải dẫn đầu các mũi chọc qua hàng rào chống cộng, thuốn xuống đồng bằng. Chết nhiều. Chết rất nhiều. Truy điệu mỗi tháng năm bảy đồng chí, đến nỗi người đọc điếu văn thuộc lòng lời phải nói.

Rốt cuộc, những người cộng sản và thân cộng từ núi rừng miền Trung vẫn chọc thủng vành đai “ngăn cộng” để tuôn xuống vùng đồng bằng và ven biển.

Tất cả đã khác trước nhưng sắp xếp lại gần như trước.

Còn Thùy nữa...

Chị Hai Thùy, chị Chanh, hay gọi theo tên con đầu lòng còn sống là chị Bình, tùy ý mỗi người quen, cũng là người khác thường ở Linh Lâm. Gọi là con tin, là gái cứng đầu không chịu ly hôn với chồng cộng sản, là hoa khôi gàn dở, là người khó động đến, gì cũng được.

Trong xã chỉ có Ba Mít muốn trị chị Thùy để phô bày “lập trường chống cộng”. Cảnh sát trưởng Bảy Bòng đã dọa bắn đứa nào động đến bà chị hiền lành như Quan Âm. Cửu Áng vốn quen “tôi ở giữa, tôi chữa đôi bên”, làm chứng rằng chị Thùy chỉ biết may vá, giữ sắp nhỏ cho cả nhà đi họp làng xóm, ngoài cái vụ lấy anh chồng cộng sản gộc thì chẳng có tội tình gì với quốc gia.

Thùy bị gọi lên xã vài lần vì không ký ly hôn. Chị không lý sự dài, chỉ cười nhẹ:

- Hồi nhỏ tôi đã nghe các cụ các bác dạy “tòng nhứt nhi chung”, phận gái chỉ một đời chồng. Cha tôi thờ Chúa, nhà chồng thờ Phật, mà các cụ thờ đức Khổng Tử cũng dạy vậy. Bây giờ các ông biểu tự tôi bỏ chồng, tôi không dám, sợ trái cái đạo duy linh của cụ Ngô, về sau đâu dám ngó mặt ai?

Và cứ thế, chị ra về tươi tỉnh, còn ghé chợ mua bánh cho con và cháu.

Cả Chanh nghe kể, nghẹn lời khó nói. Em ơi, người vợ và người yêu trọn đời của anh ơi, sao em lại chọn anh làm chồng để rước lấy khổ vào thân, vì anh với cả nhà anh chịu những cái eo xèo trong nhà, nỗi cay cực kiếm chén cơm ghế khoai sắn nuôi và thăm nuôi bấy nhiêu người ở nhà, ở lớp tố cộng, ở tù, ở núi? Sắc đẹp của em, trỗi dậy sau cơn đau ghê gớm đến loạn óc vì đứa con đầu xinh xắn của chúng mình bị cháy thui, vẫn làm cho anh chàng Hai Khánh giàu sang và tài hoa kia mê mệt, cũng như lắm kẻ quyền cao chức trọng phải thèm thuồng. Nhưng em chỉ dành riêng em cho anh, một ông lão người Thượng đóng khố và đầy râu tóc.

Mỗi lần lên rừng gặp anh, em hay báo trước là rất sợ có thai, địch đánh chết thì con cháu không ai nuôi. Chỉ nửa giờ hay một tiếng sau, em đã tự lao vào tay anh, tự hiến thân cho anh như một cô gái trinh lần đầu biết ái ân. Và anh cũng không cưỡng nổi mình, anh quên hết, quên rằng tất cả tội vạ sẽ do em lãnh đủ. Thùy ơi, có trách anh ích kỷ không em?

Sau mỗi cơn cuồng loạn, khi anh trằn trọc hối hận, em lại ôm ghì anh, dỗ dành như quen dỗ trẻ trong nhà:

- Anh đừng lo. Hễ có mang, em khai là lỡ dại chịu với anh buôn quế hay thằng biệt động quân trẻ trai nào đó. Vợ vắng chồng lâu quá, gặp hồi yếu đuối, tránh sao khỏi...

Nhiều chị em không chịu bỏ chồng nhưng có một hai đứa con “tự túc”, là chuyện thường mấy năm qua. Những cái tên mới ra đời ở mỗi làng xóm đã hay chưa giải phóng là “chị Ba tự túc, chị Sáu hai riêng, chị Tám lỡ dại” được đặt cho những chị có chồng tập kết hay lên núi quá lâu, lo hết lứa tuổi sinh nở, tự kiếm đứa con phòng khi về già. Chẳng có thư từ gì suốt bấy nhiêu năm, người chồng lấy vợ khác hay chưa không biết, các chị chỉ cần một đứa con làm bạn. “Con tôi đi kiếm về đây muốn cho nó gọi bằng thầy thì cho”. Thầy là cha là ba, theo kiểu nói người Bắc.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #263 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2017, 03:25:23 pm »

Anh Tô Xáng mang về rất nhiều chuyện ngoài Bắc. Anh em cười bò ra khi nghe chuyện “vợ tôi khuất núi rồi”. Một anh muốn lấy vợ Bắc, làm bản khai có câu như trên. Cụ trưởng Ban đồng hương tỉnh hiểu theo nghĩa xưa, ký xác nhận là anh ta góa vợ, tái giá chẳng có gì sai luật Hôn nhân gia đình. Cấp trên không đủ sức theo dõi hàng chục vạn người tập kết, cũng ký cho phép. Sau hàng chục lá thư của chị vợ chính thức gửi ra Bắc, Ban đồng hương gọi anh ta lên kiểm điểm, anh nói gọn trơn: “Khuất núi là ở nơi xa, núi sông cách trở, không gặp nhau được, tôi chẳng hề nói vợ tôi ở miền Nam đã chết!”. Và đành cho qua, sau thống nhất các đương sự sẽ tùy lòng tính với nhau!

Thùy của anh ơi, em biết không, trên núi này có rất nhiều cô văn công, cô y tá, cô thư ký, cô giao liên trẻ măng xinh đẹp muốn làm vợ anh bí thư tỉnh ủy? Nhưng anh vĩnh viễn đã thuộc về em rồi, Thùy ơi, người đã nuôi anh trước Cách mạng tháng Tám, người đang nuôi anh sau bấy nhiêu năm đen tối của miền Nam, thà nổ súng vào đầu còn hơn phụ bạc em!

Trước khi ngủ thiếp đi dưới lều nhựa, trên võng, trùm tấm dồ Thượng ở quãng rừng vắng nào đó, Chanh vẫn dành cho Thùy những ý nghĩ cuối cùng. “Thùy ơi, vợ anh ơi, chúng mình sẽ có ngày sum họp, em cứ tin thế nhé. Anh sẽ bế hay dắt tay con mình, ba chúng ta cùng chụp hình ở công viên nào đó, em sẽ đẹp rạng rỡ trong áo dài màu và trong hạnh phúc chiếu sáng từ trái tim nồng nàn...”

Ước mơ đẹp đưa đến những chiêm bao đẹp, để mỗi sáng sớm Chanh tỉnh dậy theo tiếng gà rừng hay vượn hú, lại phải đón nhiều nỗi đau mới trong lòng và trên thân thể.

Số đồng chí còn lại từ thời chống Pháp bị giết và bị bắt đang tăng lên đến mức báo động, khi dẫn các mũi nhọn thọc xuống các vùng sâu. Anh chị em tập kết trở về còn ít và hiểu rất chung chung về xã hội miền Nam, còn số trai gái trẻ mới đưa vào các đội được cái hăng, bốc, nhưng chưa tùng được học gì về chính trị, quân sự, hầu hết mới thoát mù chữ hay đang còn mù chữ. Móc lại số đảng viên cũ đã xuất thú trong những  năm đen tối đầy thất vọng, phần lớn cú lừng khùng, cùng lắm chỉ gửi ít tiền hay cho gạo muối, còn dặn lớp trẻ “đừng làm căng quá, tụi nó giết hết dân lành”.

Sau Đại hội Ba của Đảng, miền Bắc đưa người và của vào mạnh hơn, nhiều hơn, nhưng mỗi ngày mươi gùi hàng cõng trên lưng cho nửa nước đang mặt đối mặt đánh Mỹ-ngụy chỉ là muối bỏ biển. Súng đạn tước được của dân vệ, thôn vệ, thanh niên diệt cộng chỉ là những thứ thải bỏ, làm sao diệt được quân chính quy dùng toàn súng Mỹ tối tân, hay bọn bảo an của tỉnh để lấy những thứ kém chút ít nhưng vẫn khá, đỡ trục trặc?

Còn cái xác phàm của Chanh này nữa... Sức người có hạn, đá tảng còn đổ mồ hôi nữa là người. Những cơn sốt rét quật anh ngã từng đợt, ngày càng kéo dài và khó chữa. Các thứ bệnh khác cũng thừa cơ nổi loạn: những thang thuốc nam của cụ lang Huề Bình vô cùng tốt bụng dường như không nghiệm nữa khi anh lên cơn đau dạ dày, và chứng thấp khớp từ Hạ Lào mang về sau những năm lặn lội trong vùng bưng lắm đầm lầy và đá ong đang tấn công gắt hơn sau những năm ở hang, nằm núi ẩm ướt, ngay trên tỉnh quê mình.

Bốn mươi tuổi mà chịu đầu hàng bệnh tật ư? Không sợ Pháp, không sợ Mỹ, mà lại sợ các thứ vi trùng vi khuẩn đục khoét xương thịt mình? Chanh cố chống đỡ bằng mọi cách. Anh chịu bớt gương mẫu trong nghĩa vụ sản xuất-được quy định mỗi ngày một buổi cho cơ quan tỉnh, và anh từ chối không nhận miễn giảm-dành thêm giờ tìm hái thuốc nam, tự sao tẩm và sắc, tán, uống thuốc nước khi ở cơ quan, thuốc tễ khi đi đường dài, ngoài cái tên “cụ Thượng” lại được phong thêm chức “cụ Lang”, vì chữa lành được những bệnh nhẹ cho cơ quan và dân các làng Thượng ở gần.

Soạn các tài liệu anh Tô Xáng để lại, anh gặp ba bức điện đánh ra Trung ương đề nghị đưa đ/c Thanh trà ra Bắc hay sang các nước bạn chữa bệnh và an dưỡng ít lâu. Anh Xáng ghi rõ: phải có chỉ thị, Trà mới chịu đi.

Nước mắt Chanh đã chảy nhiều khu truy điệu ông “cai lục lộ”, không chảy nữa, nhưng anh vẫn úp các bản điện tín vào mặt hồi lâu, nấc nhẹ trong cổ, khi tỉnh hẳn mới đọc lại và hiểu rằng người cãi vã với mình nhiều nhất vẫn là người yêu quý mình thắm thiết nhất. Điện anh Bảy Quý trả lời rất gọn: “Cố thuyết phục Thanh Trà, vì lợi ích lâu dài CMMN”. Thằng Chanh cứng đầu không nghe lời thuyết phục, nay đang phải thay anh Xáng ở chỗ đứng đầu Đảng bộ Quảng Nam, đùn đẩy cho ai mà ra Bắc?

Những nỗi đau như thế từng ngày, từng ngày xói mòn thân xác và tim óc của Cả Chanh, thuốc nam hay bắc đều bó tay lần lượt, các thứ thuốc tây thứ thiệt hay thú “dởm” xin chịu chàng thu cả các thang thuốc gia truyền của cụ lang Chín trao lại kèm theo câu đùa: “Người khác tôi chẳng tin đâu, với chú Chanh thì tôi chịu úp niêu cơm bí mật gia truyền để chú lành bệnh, lo giúp cho dân mình”. Và quả thật cụ Chín đã giúp Chanh cầm cự với bệnh tật mãi tới nay. Có lẽ các loại bệnh đã lờn thuốc hay sao, dù Chanh đã tra cứu các sách Đông Tây y để gia giảm cho hợp với mình. Với chút tiền của Thùy gửi cho, anh nhờ các đội và cơ sở vùng bị chiếm mua thêm các vị chưa tìm thấy, như đỗ trọng, ngưu tất.

Không phải ai cũng hiểu rằng Chanh cố chặn bớt các bệnh để bám chiến trường, chỉ đợi có người thay là đi chữa. Một số đồng chí từ thành phố lên hay từ miền Bắc về, hồng hào béo tốt, hay xì xào chê anh Chanh thiếu gương mẫu, lo cho thân xác mình quá nhiều, cố bám địa vị quyền bí thư tỉnh ủy, chưa chịu rút lui. Trong một cuộc họp chi bộ cơ quan tỉnh ủy, vài đồng chí đã nói rõ. Chanh chỉ chống tay lên cằm, ngồi nghe, buồn tê tái. Tôi khao khát rút lui từ lâu lắm rồi, sao các đồng chí không bầu người khác cho tôi được nhờ? Trong đại hội Đảng bộ tỉnh, tôi từ chối không nhận đề cử vào tỉnh ủy, tại sao hầu hết đại biểu lại bác bỏ không cho tôi rút? Tôi ra Bắc, có thể được chữa bệnh, xếp lương, trở về với nghề xưa đường sắt, với con tôi được học tiếp và vợ tôi vào một xưởng may nào đó. Tôi đâu có tranh giành gì ở đây? Tôi bám quê hương, bám đất, bám dân, bám Đảng, đâu có bám cái ghế đói khổ của một quyền bí thư sống nay chết mai, với người bạn thân nhất là con chó Dồ luôn chạy trước chủ, với tất cả gia tài là một cái gùi trên tấm lưng cởi trần đen thui!

Những thứ bom pháp từ phía địch giội tới, những mũi kim nhọn chọc sau lưng, Cả Chanh đều cố chịu, cũng như cố chặn mỗi đợt phản kích của bệnh tật đang quật lại mình từ bên trong.

Nhưng anh sẽ chống chọi được đến bao giờ?

Đi đêm rồi cũng có ngày gặp ma. Anh chị em dần dà quen với mỗi chiều “cụ Lang” cõng gùi cầm rựa ra đi hái thuốc với con chó Dồ không đợi gọi cũng tự ý chạy vượt lên trước chủ. Hôm ấy anh chợt nhớ đến một cụm gân voi ở hơi xa cơ quan, thứ củ của nó sắc uống chữa đau khớp cũng khá lắm. Anh gọi thêm cậu y tá, học nghề ở Đà Nẵng nên không biết thuốc nam, vác cái thuổng cùng đi để biết cây biết củ.

Giữa lúc Chanh đang chỉ cho cậu trẻ kia nhận ra thân và lá, con Dồ chạy sục chung quanh bỗng đến cào móng vào chân chủ, ngoảnh đầu về phía con suối khô cách chừng trăm thước, gừ gừ khẽ, lại cào chân anh. Có chuyện rồi. Thú dữ rình chăng? Anh vỗ đầu con Dồ, nhìn vào mắt nó, nhưng nó cứ cào, gừ, quay đầu về hướng suối, trong mắt hiện rõ nỗi lo và đau khổ vì không biết nói.

Cậu y tá có hai quả lựu đạn Mỹ da láng xanh đeo thắt lưng. Chanh có súng ngắn ba nòng. Anh cẩn thận nhét lưng khố túi đạn dự trữ. Cả hai cầm giáo và rựa rón rén theo con Dồ. Nó cố ý đi thấp chân giống kiểu gặp địch để ông chủ hiểu, không một tiếng động.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #264 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2017, 03:28:14 pm »

Họ bắt gặp sáu tên biệt kích mặc đồ rằn ri trên bờ con suối chỉ còn chảy bằng một dòng nước máng tre vào làng. Chúng đang ăn cơm sấy đóng bao với đồ hộp Mỹ, uống bia lon pha huýt-xki Mỹ, rì rầm nói gì với nhau chẳng rõ. Chúng được trực thăng thả xuống tìm cơ quan tỉnh, không nói cũng biết.

Chanh liếc nhìn cậu y tá mặt tái xanh, tay run, miệng hớp hớp như cá lên cạn. Anh bò đến gần, rỉ tai:

- Đưa lựu đạn đây, cả hai trái. Cậu rút thẳng về cơ quan, báo động, nhớ nói rõ là chưa có lệnh đổi chỗ.

Chỉ còn anh với con Dồ đánh tốp biệt kích.

Anh thong thả cắn chốt cả hai quả da láng, xem lại cây súng ba nòng đặt bên tay phải, cây giáo sắc để tự vệ cuối cùng, trước khi tấn công.

Hai quả lựu đạn nối nhau rơi nổ giữa mâm cơm biệt kích, chúng hét vang ầm khi chạy tản. Hai tên gác đầu và cuối chỗ mâm ăn, vừa chạy xô tới vừa gào. “Việt Cộng”, cùng bị hai phát đạn ria vãi xòe như hai nong sạn hắt tưới vào thân, úp chụp lên những tên kịp nhào sấp xuống tránh mảnh lựu đạn. Một tên ăn xong trước, qua bên kia suối chừng để đi ngoài, chộp vội cây tiểu liên Tom-xơn, nép sau một tảng đá, đảo mắt tìm. Hắn lỳ mà dốt: đáng lẽ thu hình kín và rướn cổ bên phải chân tảng đá cho dễ xem và dễ bắn, hắn lại nhô đầu trên đỉnh vật che đỡ, nhờ đó Chanh không bị thấy trước, quét đạn trước, vẫn nằm sấp, anh kê súng ngắn trên rễ cây to, ngắm kỹ, bấm cò nòng thứ ba. Viên đạn trường. Anh trượt trên đá, nòng cưa ngắn bắn khó trúng, nhưng vẫn bật lên xóc vào mặt tên lính rằn ri. Hắn rít một tiếng ngắm, thả rơi tiểu liên, ngã vật xuống.


Chanh vỗ lưng con Dồ, cầm giáo và cây súng rỗng chạy thục mạng, vẫn nhớ tạt qua các bụi gân voi ban nãy để lấy gùi, rựa, thuổng, vác tất cả chạy về cơ quan, chỉ dừng vài phút để lắp đạn vào súng ngắn ba nòng, lại chạy nữa.

Cậu y tá về trước đã báo động. Nói lắp bắp sao đó, anh chị em lại tưởng anh bí thư bị địch vây bắt rồi, chúng đang dò đường vào cơ quan tỉnh.

Vài người nhát sợ nhất đã xốc ba-lô định lủi êm. Anh chánh văn phòng và cậu bí thư chi bộ, một già một trẻ, phải nhảy ra chỉ huy. Người đang sốt rét, già yếu, phụ nữ vướng con mọn, phải thu dọn các thứ tài liệu, các máy chữ và thu thanh, lùi xa ít nhất một buổi đường núi, đợi nhau ở căn cứ Hai. Điện đài tách một nửa cõng máy theo nhóm này, một nửa ở lại đánh. Nồi soong dìm xuống vực, heo gà mở chuồng thả vào rừng, chúng sẽ tự trở về nếu vắng tiếng súng. Địch vào đốt phá mặc chúng, ta về làm lại nơi khác khó tìm hơn.

Con chó Dồ, con cưng của mọi người, lon ton chạy về, chỏm đứng hai chân trước cậu bí thư chi bộ, quẫy đuôi rất vui như báo tin mừng với những người hiểu nó. Cậu bí thư chi bộ đang lắp thêm đạn vào băng Tuyn cải tiến - dùng đạn K.50 thay đạn chín ly của Pháp, từ miền Bắc gửi vào, đã được cẩn thận đeo trên ống tản nhiệt một vỏ đạn K.50 rỗng cho khỏi dùng sai đạn to hơn nòng - chợt nhận ra những nét mừng mà con Dồ cố làm cho người hiểu.

Mươi phút sau, Cả Chanh trở về giữa bấy nhiêu tiếng thở phào nhẹ nhõm, với gùi, giáo, súng ba nòng, bộ dạng ông già Thượng không hề sứt mẻ. Cậu bí thư trẻ lao ra sân ôm ghì anh:

- Thấy con Dồ chạy về một mình, cả cơ quan lạnh ngắt xương sống hết, chắc chú bị gì rồi. Đang xếp quân đi giải cứu chú. Có phải tản cư chưa chú?

- Chưa cần. Anh chị em đã xếp gùi cứ lùi ra sau cơ quan cho chắc. Số trẻ mang võ khí đi dò lại chỗ suối cạn mà Chanh đã một mình đánh úp toán biệt kích.

Chúng bỏ lại ba xác chết, bốn tên bị thương, cái máy bộ đàm bị lựu đạn phá võ toác, bốn cây tiểu liên và các-bin còn tốt, một súng ngắn Côn 45, một súng bắn pháo hiệu có nhiều đạn màu, chín cái ba-lô đầy những tăng võng và đồ hộp.

Một tên đeo lon hạ sĩ không đợi hỏi, đã hối hả khai để chuộc mạng. Chúng ra đi từ đồn quận Khâm Đức, mười hai tên tất cả, sục rừng tìm mật khu cộng sản cấp tỉnh đã ba ngày, báo trước cho trực thăng sáng mai tới đón vì chưa tìm ra, phải về quận vì lội leo quá mệt. “Khi bị quý ông vây đánh, toán biệt kích tui đã yên trí vùng này không có cộng sản, chỉ cần tránh chông bẫy của “bọn mọi” là yên ổn về đồn”. Trừ số bảy tên bị bỏ lại, còn năm tên thoát, kể cả lành lặn hay bị thương nhẹ còn đi được. “Chắc hẳn chúng theo bản đồ trở về Khâm Đức thôi, quý ông theo dấu chân là bắt trụm hết”. Tên hạ sĩ cay cú vì bị vất lại, muốn đưa hết số đồng đội phản phúc kia vào trại giam chung với mình.
Cậu bí thư chi bộ trẻ tuổi muốn kéo ngay đội tự vệ đuổi theo dấu chân những tên sống sót. Ông chánh văn phòng tóc hoa râm cản ngay: “Nhiệm vụ chúng ta là bảo vệ Thường vụ tỉnh ủy chứ không phải truy lùng biệt kích. Lỡ khi mình say máu rượt theo tụi nó, một mũi biệt kích khác đánh úp vô cơ quan, bệnh xá, điện đài, giết cán bộ với thương binh, lấy sạch tài liệu tối mật? Rõ ràng là lợi bất cập hại”.

Và tất cả đội tự vệ cơ quan khiêng đám biệt kích bị chết đi chôn, cắm biển tạm bằng gỗ đề tên người, lại khiêng các tên bị thương về bệnh xã chữa chạy, khuân vác mọi thứ chúng bỏ lại đến còng lưng. Còn may vô vàn là giới y tế vừa nghe kinh nghiệm của dân Thượng dùng loại dây leo lôông tơ-uyn, có tính kháng sinh rất cao, đun nấu đến thành cao đặc cũng không đổi tính, có thể thay cho các loại xi-lin hay my-xin trong tây y trong những năm bị địch bao vây thuốc này.

Trong bốn tên bị thương, khi được chữa lành, hai đã xin ở lại với cách mạng. Hai nữa xin về thăm nhà, sau đó một trở lên căn cứ, chỉ một gửi thư xin được yên thân làm ăn vì đã ba con, xin thề suốt đời không hề phản Cụ Hồ, chống “quý ông giải phóng”. Tay này đút lót trốn lính cho bọn tề thôn xã, cho Quân vụ thị trấn được hơn một năm thì cùng kiệt, phải đùm túm cả nhà sáu miệng ăn đi dinh điền đâu tận phía Nam tỉnh Đắc-lắc, không dám gửi thư về quê nhằm tránh bị giấy đòi quân dịch rượt theo. Nhà khá giả cho con trốn lính ngay trong làng, trong nhà, nhà nghèo phải trốn thật biệt tăm tích mới thoát, chỉ mất một lần tiền mua giấy tờ giả là xong.

Đồng chí quyền bí thư tỉnh ủy Thanh Trà, sau khi được gọi là “cụ Thượng, cụ Lang”, nay được thêm tên mới là “đơn vị một người”. Năm tên biệt kích sống sót đưa nhau về đồn quận Khâm Đức, theo cơ sở nội tuyến báo lại, đã khai bị sa vào vòng vây của một đại đội Việt Cộng có đủ súng moóc-chê, đại liên, còn thêm thứ súng tối tân hắt đạn vào thân như mưa đá. Chỉ đường cho đại đội ấy là một tên “Việt Thượng cộng phi” đóng khố vác giáo, râu tóc lòa xòa, thuộc rừng núi như lòng bàn tay. Lính ngụy ở Khâm Đức hầu hết là số không đủ tiền nộp để làm “lính ma, lính kiểng”, ghi tên ở Khâm Đức nhưng thân xác gửi ở các snack-bar từ Sài Gòn ra đến giới tuyến Bến Hải. Sống hay không sống? To be or not to be? Thằng nào dại cứ kiếm lon, kiếm thưởng, kệ mẹ cha chúng mày, tao mãn hạn quân dịch là về cày ruộng, xới vườn, buôn chuyến, đợi khi có dịp là tao bay vù đi đâu mặc kệ, miễn là không nằm sấp giữa hai làn đạn chiu chiu trên gáy.

Mỗi khi nghe cái tên dài mới được phong, Cả Chanh lại lắc đầu, vỗ vỗ con chó Dồ:

- Công lao phải chia ba. Con Dồ tìm ra địch, cậu y tá đem hai trái lựu theo, mình có công nổ lựu đạn, nổ súng. Chia ba là phải. Phần con Dồ, cho nó ưu tiên, ăn khá, thưởng bằng khen nó chẳng đọc được, tội nghiệp thân nó!

- Giỡn chi vậy anh Cả, lập công mà không được khen thì anh chị em khác cũng bị cụt hứng, chẳng ai muốn xông lên tấn công như anh nữa...

- Có lý. Vậy các bạn viết cho mình ký ba cái giấy khen: đồng chí Thanh Trà khen đồng chí Thanh Trà là một, khen cậu chó Dồ là hai... Ôi, sao lại cười? Nhớ thử coi, hồi xưa trên hành lang từ Quảng Nam lên Hạ Lào-Đông Bắc Miên có mấy con voi được thưởng huân chương đó nghen. Khi chở hàng, muối hay súng đạn, mình chẳng có cân to, hễ chất lên bành quá nhẹ hay quá nặng thì các ông voi đó quất vòi ra sau, cứ quỳ phục bốn chân không chịu đứng dậy, rống theo kiểu riêng mà quản tượng mới hiểu. Chưa hết đâu. Khi làm lễ mừng chiến thắng, mấy ông đó thấy thiếu cái huân chương buộc dây dài nhằng qua cổ là cứ đứng dẫm chân và rống dài dài, đợi đeo xong huân chương mới tới dự lễ gật đầu đưa vòi chào các quan khách rất là đàn anh… Con chó Dồ không biết nói, mà nó hiểu hết đó... Coi kìa...

Con Dồ nghe tên nó được nhắc nhiều lần với cái giọng trìu mến, đã bò bốn chân rất khiêm tốn đến giữa hai chân ông chủ mà nó nhớ được gọi là ông Cả, anh Cả, nói rất nhiều tiếng lạ khiến nó rối óc, chỉ biết rằng ông chủ này luôn thương nó.

Cả Chanh đùa, đánh trống lảng cho qua cái trận cò con. Mà không thoát. Khoảng một tháng sau, nhóm phái viên của Quân khu 5 về nghiên cứu chiến trường trọng điểm Quảng-Đà, bàn mảnh sao đó với chi ủy cơ quan tỉnh, mời tất cả cơ quan họp một tối nghe tình hình chung trong khu. Tất nhiên Chanh đến dự. Các ông khách đột ngột đưa ra một bằng khen của Quân khu 5 tặng đồng chí T. đã đơn độc tiến công một đơn vị biệt kích, giữ an toàn cho các đơn vị ở hậu cứ của tỉnh.

Tới đó mà từ chối mãi cũng khó coi. Chanh đứng lên nhận, nói đôi lời hiếu hỉ cho xong chuyện. Dứt cuộc sinh hoạt đêm, anh gọi cậu văn thư đến, ghi thêm mấy chữ vào dưới tấm bằng, bảo cậu ghép vào hồ sơ anh Tô Xáng để trong kho mật. Cậu kia trở về lán mình, châm cây nhựa thông dùng thay đèn, đọc dòng chữ Cả Chanh đề dưới góc: “Quân khu 5 truy tặng đ/c T. tức Tô Xáng, đã hi sinh anh dũng vì dân vì nước”.
Sức mấy mà cãi lại “cụ Thượng”. Đành phải làm theo thôi!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #265 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2017, 03:25:10 pm »

Chương 11


Trời Hà Nội đang kỳ rét lộc và mưa phùn, đường phố phủ bùn nhem nhép lỏng. Đàn ông đi dép bốn quai hay giày vải có cổ còn đỡ bẩn, các bà các chị ngại trơn trượt phải đi guốc cuốc bộ, mỗi lần gót guốc nẩy lại hắt thêm năm bảy giọt bùn to nhỏ lên ống quần đằng sau, chỉ qua vài trăm thước là đủ hiện rõ hai mảng bùn hình tháp nhọn, dưới đậm trên nhạt, đỉnh lên tới nửa đùi dù đã cố rón rén.

Nền mây đệm bông xám trên đầu tỏa xuống một ánh sáng hoàng hôn kéo dài suốt buổi chiều. Điện đường đợi đúng giờ mới bật, lúc ấy trên phố đã có nhiều xe đạp vấp nhau, kêu oai oái. Và điện đường chỉ để lại bóng to ở các phố chính, đã thay bóng nhỏ ở hẻm các phố nhỏ, tháo bớt bóng để soi cách quãng trong các hẻm và khu nhà tập thể gần ngoại thành, chỉ đủ đánh dấu con đường chứ không soi sáng, vì điện thế xuống quá thấp, lắm lúc bóng dây tóc chỉ đỏ lên như hòn than củi. Các nhà có con đi nước ngoài nổi rõ lên vì ánh sáng chơi trội, nhờ những bộ tăng áp gửi về, tuy nằm lọt giữa một khu tập thể “quạt chạy lờ đờ, đèn mờ đom đóm”, ấy là khi không bị cúp điện.

Hoàng Lan xếp hàng đến gần bảy giờ tối thì mua được số gạo và ngô xay theo số lương thực. Đang loay hoay buộc hai cái bao tự may bằng ống quần cũ của chồng vào chỗ đèo hàng xe đạp, Lan nghe tiếng kêu than và la hét dội lên trên cái đuôi dằng dặc đang xếp hàng. Không cần nhìn lại, Lan đã biết là bảng “hết hàng” đã treo, cửa nhận hàng đã đóng, nhưng bao giờ khách hàng cũng kịp thấy những bao tải đầy căng còn xếp cao bên trong cửa hàng lương thực trước khi các vị “nội trợ của nhân dân” đóng cửa ghi-sê trước giờ bán đã quy định lại.

Vài năm trước, khi bắt đầu bán theo định lượng, ngành lương thực đưa ra các loại tem phiếu, tiếp tới sổ lương  thực, một cân gạo bốn hào. Dân ngại xếp hàng, mua gạo chợ đắt hơn vài hào nhưng tùy ý chọn, gạo ngon hơn, đỡ mất thì giờ. Đến khi gạo và thịt cấm bán tự do ở chợ, họ mới đổ xô tới chịu xếp hàng ở mậu dịch. Cửa hàng gần bệnh viện Việt-Đức cứ nhất định bán và nghỉ theo giờ hành chính: “Chúng tôi là cán bộ công nhân viên Nhà nước, phải làm và nghỉ theo giờ Nhà nước chứ sao!”.

Những người ăn lương Nhà nước nếm đòn trước tiên. Giờ đi làm không thể bỏ, cả nhà vắng, lấy ai đi xếp hàng. Các bà mậu dịch dùng sổ giờ vắng khách ấy để bán từng bao, tùng chục bao tải gạo, mì sợi, ngô xay cho bọn con phe. Số này ngày càng đông, ngày càng trắng trợn, ngày càng giàu, vung tiền ra mua các vị cấp trên và công an khối phố, ăn lãi tăng theo cấp số nhân.

Dân phố nói ngọt không nổi, tự tổ chức các cụ về hưu, nhờ góp sổ đi mua hộ cho nhiều nhà, có tiền thù lao. Một ả hàng quà rong mới được chồng thu xếp vào làm mậu dịch để “cải tạo tiểu thương”, đã hất cả một xấp sổ do cụ vụ trưởng tóc trắng đã hưu đưa vào ghi-sê.
- Cấp trên đã bắt chúng cháu không được bán nhiều sổ một lần, bảo là tránh ăn lãi trung gian, nhà nào tự mua phần nhà ấy thôi.

Cãi qua lại một hồi, tới lượt ông cửa hàng trưởng ra oai:

- Tôi biết cụ trước đây là cấp trên của tôi. Hồi ấy cụ ra lệnh thì cấp dưới phải răm rắp, không  phục tùng thì cụ trị cho nhừ xương. Bây giờ cấp trên của tôi ra lệnh thế đấy, mời cụ lên Cục lên Bộ mà kiện, cãi ở đây là cản trở công tác của cửa hàng.

Phải mất bốn tháng điều tra, ngâm cứu, đợi xét duyệt từng cấp, đợi các vị lãnh đạo bận đi nước ngoài, đi nằm bệnh viện, đi nghỉ mát, hay có mặt tại chỗ nhưng họp nhiều đến nỗi không giải quyết chuyện vặt là giờ bán hàng và nạn phe phẩy, thì cách bán được thay đổi: sáng, năm giờ đến chín giờ, chiều, bốn giờ đến tám giờ. Dân có thì giờ mua, mà nhân viên bán cũng còn dư thì giờ để tuồn hàng cho con phe, đan len, tán gẫu, ăn quà vặt, chạy theo những đứa con bám mẹ. Các cụ hưu được xét cấp giấy phép mua lương thực cho nhiều hộ, về chia nhau.
Và đến khi chia, lại nổi bật lên cái chuyện “Cân đong đo đếm”. Mậu dịch đong nhiều bao loại năm cân, mười cân, chỉ ném ra đủ số cho người mua trút vào bao mình, đem về cân lại bị hụt năm cân thành bốn, mười cân thành tám hay tám rưỡi. Lại họp dân ký kiến nghị tập thể, lại công an được cử điều tra người ký xem có vụ “Chống chế độ” nào lọt vào chăng. Lại qua rất nhiều điều tra, ngâm cứu, xét duyệt nữa, với nhiều đoàn kiểm tra đi lướt qua, mức ăn bớt xén giảm đôi chút rồi trở lại như cũ.

Các thứ tem phiếu khác đều bị cắt cổ như thế. Chất đốt, thịt, dầu mỡ, sữa trẻ em, cả xì dầu và mì chính nữa, đều trở thành mồi ngon của “con phe ngoài” hay “con phe Nhà nước”. Ăn, cố ăn, chia nhau ăn, nộp phần ăn cho người có chức quyền, nếu bại lộ thì Nhà nước chỉ bắt làm kiểm điểm hay cùng lắm là đưa ra khỏi biên chế, số vốn kiếm được đã đủ để buôn lậu với tấm bình phong hợp pháp của một quán nhỏ hiền lành, với lãi buôn lậu bằng trăm lần những đứa ăn lương Nhà nước. Và phải luôn nhớ không ngớt mồm kêu đói khổ vì thuế nặng, chỉ bán lèo tèo chè chén với kẹo lạc mà các ông ấy không tha, chắc phải giẹp cái quán vỉa hè này thôi. Chỉ ít lâu sau, bà bán chè khốn đốn ấy kín đáo mua được một mảnh vườn, giỡ bỏ căn nhà tranh của chủ cũ, xây luôn một nhà gạch mái đúc bê-tông hai tầng, bên trên còn tua tủa những cây sắt nhọn để đón tầng ba. Lâu lâu gặp người quen, bà lại thở dài: “Dầm mưa dãi nắng mãi đến rạc người, mới phải ngậm bồ hòn mà thuê chỗ bán tí ăn uống mới sống tạm qua ngày”. Lúc nào cũng rên rỉ, nhưng mỗi giờ khuya đếm tiền bà lại tươi như hoa: bà mổ họng khách hàng ăn phở, uống cà-phê, bà thít cổ các cô thất nghiệp xinh giờn, bà trốn thuế, bà thuê nhà của chính bà. Mỗi ngày lãi của bà bằng lương tháng của một kỹ sư hay bác sĩ cỡ lớn đã bạc tóc trong nghề, còn đám mới ra trường chỉ bằng con số lẻ, bà hay vất cho lũ con ăn quà sáng.

Hoàng Lan không dám cưỡi xe đạp vì thồ nặng và đường trơn, đèn tối, chỉ hì hụi đi bộ thồ hai bao gạo ngô và thùng dầu lửa về nhà. Chả cần ai cười chê, Lan xắn hai ống quần quân phục cũ bạc màu lên quá gối, đi giép cao-su đen, lật cái nón lá cũ ra sau gáy, từng lúc kêu to: “Tránh nhé, xe đây nhé” khi xe đạp khác lao tới trái đường. Các bà các chị dặn mãi là có thai đến tháng thứ ba rất dễ sẩy, phải giữ thân rất kỹ. Giữ thân rất dễ, nuôi thân mới khó. Anh Cam chắc đã về, lau xe đạp xong đang nấu cơm canh, luộc rau. Thằng Nhứt ăn tạm mấy mảnh bít-xcốt làm bằng bánh mì thừa sấy khô, đang chơi và nghe phát thanh bên hàng xóm. Hai vợ chồng đã dành dụm mua được một quạt bàn nhỏ Ma-re-li loại rẻ tiền không có trục xoay, thường dành cho con trong mùa nóng cho nó đỡ rôm sảy, đang tiến tới bước hai là mua một máy thu thanh, cũ cũng được, cho khỏi nghe nhờ hàng xóm và khỏi lạc hậu tin tức.

Đúng như Lan đoán, anh Cam đã lau qua xe đạp và nhấc vào buồng tránh mưa, đang ngồi trầm ngâm trên cái đòn thấp trông chừng bếp trấu hâm canh. Bếp được đặt trên một mảnh sát tây gỉ cho khỏi hỏng nền buồng lát gỗ, hàng viện trợ.

- Giúp em tí, anh!

Cam giật mình, chạy ra cửa, xuống ba bậc cấp gỗ, xốc tất cả các thứ vợ mua về trên hai tay, đem xếp vào góc căn buồng chật.

- Em đi gọi con về ăn, anh lau xe, để ướt chóng gỉ lắm.

Tám giờ tối, bộ ba mới ngồi vào mâm. Thằng Nhứt vừa ăn vừa ngủ gật, hai lần đánh thức nó mới ăn đủ hai bát với canh, mấy con tôm rang mặn, vài sợi rau muống luộc mà nó rất ghét. Cam phải xốc nó trên tay khi bắt uống nước rau muống, súc miệng nước muối, rửa hai tay và kỳ cọ hai chân nó phết bùn đến gối, khi Lan rửa bát đĩa xong vào thì Cam đang cài chăn, buông màn cho đứa con đã lịm đi như ngấm thuốc mê.

Chín giờ tối, hai vợ chồng mới thực sự gặp nhau kể từ mờ sáng. Cam trách nhẹ:

- Anh đã bảo đến chủ nhật anh đi mua các thứ. Em đang có thai tháng thứ ba...

Lời trách ấy lại như làn hơi ấm quạt vào Lan trong đêm rét lộc này. Lời trách mà là lời khen, lời biết công vợ. Nhung Lan chỉ kịp nghĩ ra một câu đáp ngớ ngẩn và hơi xẵng:

- Ngày nghỉ của anh phải dài tới bốn mươi tám tiếng. Bạn chiến đấu cũ tới thăm, bạn giảng dạy đến bàn việc, bạn miền nam hỏi tin tức, sinh viên nhờ phụ đạo, bà con họ hàng phía em phía anh cần nối dây tình cảm… Trốn đâu được, anh Sáu?

Sáu Cam nín lặng. Sự thật là thế. Anh không còn chút thì giờ nào để đưa vợ con đi giải trí ở rạp Kim Đồng dành cho thiếu nhi, hay đi dạo ở những nơi mà anh đã gánh đất xây dựng như công viên Thống Nhất hay đường Thanh Niên-ngày xưa là Bảy Mẫu và Cổ Ngư.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #266 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2017, 03:29:35 pm »

Cam tốt nghiệp Đại học tổng hợp vào hạng nhất lớp. Sinh viên hay đùa nhau là “bỏ biển xanh, giành biển đỏ”. Trường dập biển tên đeo trên ngực hình chữ nhật để bảo vệ tiện kiểm soát, chỉ khác ở màu sơn nền: nền xanh là của sinh viên, màu đỏ là của cán bộ giảng dạy và tất cả các loại công nhân viên chức khác. Cam không muốn ở lại trường, nhưng phải phục tùng sự phân công như đã ghi trong đơn dự thi bốn năm trước. Các cơ quan đã đọc các bài Cam viết về Nguyễn Đình Chiểu và Lục Vân Tiên, về dân ca Nam Trung bộ, về thơ văn miền Nam hồi chống Pháp, đều đánh giá là biết nghiên cứu loại khá, đã cho người đến tìm hiểu thêm và làm công văn xin Cam về chỗ mình. Nhà trường từ chối cả. Khoa ngữ văn vừa lập thêm một bộ môn mới để nghiên cứu và giảng dạy văn học miền Nam sau cách mạng tháng Tám, đã quyết định Cam ở lại trường làm nghiên cứu sinh và trợ lý giảng dạy thuộc bộ môn này. Đưa ý kiến ý cò ra chán rồi đành nhận việc chứ sao. Và chỉ vài tháng sau, Cam bị bầu vào Đảng ủy Khoa học xã hội, làm phó bí thư chi bộ khoa Ngữ văn. Năn nỉ xin rút khỏi danh sách đề cử, không được.

Tính Sáu Cam xưa nay vẫn thế: từ chối không được thì phải nhận việc, và đã nhận việc thì phải làm hết mình. Làm hết mình là mất nhiều sức khỏe, mất tự học và nghỉ ngơi, mất giờ giúp vợ và dạy con, phải gánh thêm không ít lời cằn nhằn, mỉa mai chế giễu trước mặt và cả đòn ngầm ác hiểm sau lưng, ở đâu cũng có những người như thế: năng lực chuyên môn kém thì cố ngoi lên bằng thăng quan tiến chức, gọi mỹ miều là công tác Đảng, công tác quản lý, hay cao hơn nữa là công tác lãnh đạo. Nhưng ở trường đại học thì phải giỏi chuyên môn mới có uy tín, họ đi rỉ tai khắp nơi mà khi bỏ phiếu kín vẫn dẫm vỏ chuối. Lấy mình làm thước đo, suy bụng ta ra bụng người, họ tin rằng thủ đoạn kẻ kia cao tay hơn mánh lới của mình, những ai lạy van không nhận đề cử chỉ làm như Tào Phi ngày xưa ba lần từ chối không nhận ngôi vua, nhưng vừa ngồi vào ngai vàng đã lập túc đuổi vua cũ đi đày và trị dằn mặt lũ em ruột để trù hậu hoạn!

Ông bí thứ Đảng ủy nhà trường, tú tài hồi Pháp, đã hoạt động Việt Minh trước Cách mạng tháng Tám, đã nhất quyết không chen vào những vụ tranh cãi về học thuật. Một trường với rất nhiều khoa, cả tự nhiên lẫn xã hội, hay xảy ra nhũng vụ kiện như thế, và giới cán bộ giảng dạy thường ép Đảng ủy xử kiện, nếu không muốn bị coi như bù nhìn. Trong mỗi khoa lại có lắm trường phái tùy nơi đào tạo: Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, các giáo viên cấp ba lâu năm được đưa lên vừa học thêm vừa dạy, các nghiên cứu sinh và trợ lý mới tốt nghiệp đại học vài năm gần đây.

Sáu Cam bị bầu làm phó bí thư ở đấy, thấy mình là con cá bỏ giỏ cua. Thì giờ bị xé vụn tơi tả. Ở trường, đang soạn giáo trình cho bộ môn văn học miền Nam-cụ chủ nhiệm bộ môn suốt đời chưa hề vượt khỏi Đèo Ngang-bị gọi giật đi họp, đi hội ý, đi xử khiếu nại về đời sống hay lủng củng nội bộ. Về nhà, chưa kịp tắm rửa ăn cơm đã có ai đó đợi sẵn hay đổ bộ đột ngột, xin lỗi cô vợ mấy tiếng gọi là, bảo cần gặp Cam vài phút thôi. Vài phút ấy kéo thành vài tiếng với những lời dỗ dành hay gay gắt, có khi đập bàn đến đổ cốc chén: hữu khuynh, mũ ni che tai, coi khinh ý kiến đồng chí đồng nghiệp, cực đoan, phiêu lưu, tiền phong chủ nghĩa, kiêu căng ngông nghênh... Ban đầu Hoàng Lan hoảng hồn định chen vào can, liên tiếp gọi chồng đi ăn cơm kẻo cả nhà chờ. Mãi rồi quen, Lan chỉ xách một xô nước úp chậu thau và treo khăn mặt lên trên, để phần cho chồng trên mâm đậy lồng bàn, riêng cơm thì lót giấy báo và trùm chăn ủ nóng trong nồi.

Lan sợ nhất khi bà Ất béo đến. Gọi là dạy bảo người cháu dâu cũ đã đi bước nữa, nhưng bà nói quên dừng lại, như vòi nước ban đêm ai đấy quên khóa. Chồng con và bạn bè chán bà “nói dai, nói dài, nói dại”, bà mở máy trong nhà bà chỉ năm phút đã vắng khách. Đến nhà Lan bà không bị khách nghe bỏ trốn. Lan cứ giặt giũ, nấu ăn, giặt đến nửa giờ hay nấu nửa giờ bên ngoài, bà vẫn kiên nhẫn giữ thằng Nhứt tuy nó cũng muốn chạy sang xóm nghe nhờ ca nhạc thiếu nhi hay sân khấu truyền thanh, nếu được một cô chú nào cho nhập bầy con đi xem phim Kim Đồng thì tuyệt. Lan vào nhà, Cam đi họp đêm về, cái đĩa hát vô tận vẫn ra rả không ngừng.

Chính cái bà nặng ngót một tạ ấy, chiếc ghế nào bà đặt mông không gãy cũng rên ấy, đã gây nên một vụ cãi cọ khá găng giữa hai vợ chồng nạn nhân. Lan mở đầu trước:

- Bà Ất trách anh mãi. Thấy bà ấy đến là anh mắt trước mắt sau kiếm đường chuồn.

- Thì anh đã giao hẹn rồi mà. Anh sẽ chào hỏi lễ phép, pha nước, gọi vợ con ra chào, mười lăm phút sau sẽ xem đồng hồ và hối hả xin lỗi đi họp kẻo muộn giờ.

- Nói dối mãi cũng lòi đuôi...

- Em biết rõ anh đi đâu. Anh Lê Tùng treo biển trước cửa buồng “Xin lỗi, tôi đi vắng”. Tấm các-tông lật mặt chữ xanh là giả vờ vắng để yên thân làm việc, bạn rất thân như anh và em gõ cửa đúng tín hiệu ảnh mới ra mở. Mặt chữ đỏ là vắng thật.

- Bả nói anh coi khinh bả là coi khinh anh Thống, coi khinh thằng Nhứt. Em là đứa bạc bẽo, hưởng của vun đắp của chồng cũ để nuôi con chồng mới...

Cam vọt đứng dậy, chén nước trong tay chao xuống nền nhà một mớ giọt:

- Cô có thấy thế không?

- Em không thấy, mà người ngoài thấy. Bả đòi đưa thằng Nhứt về bả nuôi, em không chịu. Bả bắt anh phải lập bàn thờ anh Thống để hương hỏa giỗ quải. Em không hứa gì hết. Bả nói treo ảnh anh Thống chỉ là che miệng thế gian thôi, ít nhứt phải đặt làm bài vị, không cúng thì đưa bả đem về cúng.

- Cô trả lời thế nào?

- Em có hứa làm theo ý bả.

Cam đi qua lại trong buồng hẹp, hai tay đút túi quần. Trong túi còn sót một điếu thuốc Bông Lúa đã dúm dó, loại ba hào một gói rẻ tiền nhất. Cam lập cập đánh bốn que diêm Cầu Đuống, xấu quá, que thứ tư mới chịu cháy. Cũng thêm thì giờ để tự trấn tĩnh.

- Lan nghe đây nhé. Anh Thống khi còn sống đã chế giễu cái bà trong họ xa đến nỗi pháo 155 bắn không tới, dặn Lan đừng nghe lời cái bà cám hấp đến cái độ chồng con phải trốn xa, còn nhớ chứ?

- Nhưng bà ấy là chỗ bà con họ hàng...

- Bà con họ hàng không phải là một thứ bằng cấp được nhận từ khi sinh ra, chết đi vẫn còn giá trị. Thiếu gì kẻ ăn chơi dông dài, theo cờ bạc rượu chè chán lại theo ngụy quân ngụy quyền, sẵn sàng giết tươi những người bà con gần nhất theo Kháng chiến, kể cả anh chị em ruột. Đến lúc bí nhất, bỗng sực nhớ tói những kẻ mình đã giết hụt, cố moi ra cái tình ruột thịt máu mủ để dù xa tới mức chưa hề gặp nhau, nhờ cứu nguy không được thì chửi như Chí Phèo, đợi về sau sẽ chửi tất cả bọn cộng sản hay treo cổ cộng sản trong một cuộc bạo loạn nào đó như Hung-ga-ri. Tới đó chắc không ai trưng ra cái bằng “bà con họ hàng” mà cô thấy là thiêng liêng nữa. Anh rất quý trọng anh Thống, chính anh nhắc cô mỗi năm phải một lần tưởng niệm ảnh theo ngày sinh hay ngày mất tùy ý, và phải nhắc thằng Nhứt kính yêu ba Thống cũng như ba Cam...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #267 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2017, 03:31:46 pm »

Cam rót uống một cốc to chè pha loãng, nhận thấy mặt Lan khi đỏ khi tái. Lan đang cố nén cơn tức. Giận mất khôn, lại sắp cãi chày cãi cối đây. Cam cứ nói chẻ hoe ra, con đi vắng, phải dứt điểm một lần với cái bà muốn làm lãnh tụ mà không ai bầu kia:

- Làm bài vị với mua bát hương không tốn mấy, nhưng nó cũ đến mục nát rồi, chẳng ai làm thế. Bà ấy được đàng chân lân đàng đầu, sẽ bắt cả nhà chúng ta góp tiền làm giỗ, lạy trước bài vị đủ bốn lạy, bắt chúng ta coi cái bà cám hấp kiêm cường hào ấy như bà mẹ, gọi đâu chạy đấy, lo liệu cho cái gia đình bị bà ta phá cho rối tinh. Sai vặt không được thì nói xấu, thì chửi, coi chúng ta như nô lệ da vàng, bả không biết hãm phanh bao giờ đâu!

- Em không ngờ anh máy móc, khô khan, nghèo tình cảm đến thế!

- Xin cứ tự do đánh giá. Trong vụ này, có lẽ anh với anh Thống nghĩ giống nhau, cô với bà Ất hợp ý nhau. Quy tội cho nhau chẳng ích gì. Tốt nhất, anh sẽ vắng mặt mươi ngày nửa tháng để cô có thì giờ suy nghĩ. Sáng mai báo trước cho anh Tùng kê thêm giường trong căn buồng độc thân của ảnh, chiều mai anh đi.

- Anh cố lánh mặt cả em với con à?

- Đúng! Tạm ly thân ít lâu, nếu thấy không hợp nhau thì nên ký giấy ly dị. Chúng ta chưa có con chung, chẳng rắc rối gì mấy. Con nhà lính cả hai, miệng nói tay phải làm, anh không quen nói suông.

Chiều hôm sau, Lan run rẩy ra vào, trong khi Cam thu dọn về ở với ông Tùng lớp trưởng mắt lồi, cán bộ biên tập nhà xuất bản Sự thật. Áo quần chỉ đủ cho một ba-lô chữ nhật của quân đội, nhưng sách báo tài liệu phải đầy ba thùng bìa cứng, tất cả chở xích-lô, Cam đạp chiếc xe cọc cạch theo sau, không một nét xúc động khi chia tay. Lan cài cửa xong, gục đầu khóc nức nở. Hàng xóm tò mò hỏi, Cam chỉ nói qua loa: phải làm gấp một công trình nghiên cứu ở xa Hà Nội, mang theo bấy nhiêu tài liệu vẫn còn thiếu.

Sau một tuần, Lan không chịu nổi nữa. Tuy vẫn oán anh Cam khô khan máy móc, Lan vẫn đến nhà xuất bản gặp anh Tùng.

Phòng làm việc kê ba bàn của tổ anh đang vắng, anh Tùng gọi Lan lên đấy. Anh pha nước, gạt chồng bản thảo sang bên, kiên nhẫn nghe Lan kể khổ đến bốn mươi phút, chen những cơn thổn thức nghẹn lời. Anh bạn vong niên của vợ chồng Lan lặng lẽ chống cằm hút thuốc, không ngắt lúc nào, cho đến lúc Lan nhìn chiếc đồng hồ báo thức đặt trên bàn mà anh đã xoay mặt về phía Lan. “Mình nhiễm cái thói nói quên ngừng của bà Ất mất rồi”, Lan thoáng nghĩ thế.

- Lan nói hết chưa?

Câu hỏi đượm mỉa mai không cố giấu. Lan hơi đỏ mặt, lắc đầu.

- Đã muốn nghe ý kiến anh chưa? Nếu chưa, thì để hôm khác, anh đang bận, không nói tỉ mỉ như Lan được đâu.

Lan cảm thấy mặt mình nóng hơn, đỏ hơn. Mình đang bị coi rẻ, quá rõ. Một mụ đàn bà tái giá, chỉ biết chê trách, đòi hỏi, muốn đè đầu cưỡi cổ ông chồng sau rất biết điều.

- Anh cần cân nhắc thêm. Tối mai anh đến nhà Lan, khoảng bảy rưỡi, được chứ?

Lan chỉ đủ sức gật đầu, đứng dậy vơ xắc tay và cầm nón. Một người tốt bụng và thẳng thắn như anh Tùng mà phải dè dặt đến thế, ắt chẳng phải chuyện lành. Trong khi mở khóa xe đạp, chợt lóe một ý nghĩ khiến Lan lạnh người: tối mai, anh Tùng sẽ đến với lá đơn ly hôn mang sẵn chữ ký của anh Cam, ghi rõ lý do là “tính nết và quan điểm khác xa nhau không thể hòa hợp”. Dù đã nén tự ái, Lan vẫn phải ký, và mất luôn đời chồng thứ hai. Bà Ất Béo sẽ thống trị nặng nề hơn, thằng Nhứt sẽ chán mẹ nó, đời chồng thứ ba sẽ làm mất hết mọi mối dây tình cảm gần xa, mất cả đứa con ghét mẹ... Lan khóa xe lại, định chạy ào lên buồng anh Tùng, mới đi mươi bước lại dừng khi nhớ cái giọng lạnh lùng mỉa mai khi chào tiễn.

Qua hai ngày một đêm nặng nề thao thức, anh Tùng đến đúng hẹn theo nếp quân sự, nay được gọi là “tác phong công nghiệp”, dù bên ngoài đang mưa dầm. Anh treo áo mưa vải bạt và mũ cối cạnh cửa, ngồi bên bàn nước và nói ngay:

- Đừng pha nước nhé. Anh nói ngắn và nói thẳng: anh đã nghe và cân nhắc lý lẽ cả hai bên, anh thấy Cam đúng và Lan sai. Ý kiến riêng thôi nhé, muốn nhận hay bỏ tùy lòng... Tất cả những ai đến gặp vợ chồng Lan đều thấy lạ: người chồng kế luôn luôn coi người chồng trước là mẫu mực, là người anh cao quý cho cả nhà noi gương. Chuyện ấy rất hiếm có. Lan vẫn chưa vừa ý, bị bà Ất xúi bẩy đến cái mức buộc chồng làm điều quái gở, quý vợ như Cam cũng phải nổi loạn. Cái kiểu quan hệ đại gia đình phong kiến quá lạc hậu kia, hai người gặp nhau lần đầu phải cùng tính sổ hàng giờ như kế toán mới biết nên gọi nhau bằng gì, và kết luận lắm khi quái ác: ông già bảy mươi gọi thằng bé mười sáu bằng bác, xưng cháu, một chị ba con bồng một đứa bé mới biết bò trên tay và dỗ: “Ơi ời để cháu ru bà trẻ ngủ nhé”. Là tại sinh vào ngành trưởng hay ngành thứ, chi trên hay chi dưới. Anh có nghiên cứu xã hội Trung Quốc thời phong kiến: quan hệ bà con của họ không tỏa rễ to nhỏ dài ngắn quá quắt đến thế đâu, dù Trung Quốc là cái gốc phong kiến của Châu Á. Châu Âu càng đơn giản hơn rất nhiều. Ý anh là thế đấy.

Lan tắc họng, dặng hắng mãi mói nói được:

- Anh... anh Cam ... nhắn gì em không?

- Có. Anh ấy báo cứ để Lan cân nhắc thêm một tuần nữa, nếu thích thì mời bà Ất đến ở chung, nên nghe tiếng chuông từ các phía. Anh ấy không muốn làm lành theo kiểu gượng gạo, che giấu, trong mo ngoài đất. Nếu không ai nghe ai thì sẽ bàn với Lan làm đơn ly hôn. Tính cậu ấy đã nói là làm, anh biết.

Lại một cơn nóng đầu nữa bốc lên tận chân tóc Lan:

- Em sẵn sàng ký đơn. Chắc anh Tùng cũng thế?

- Ly hôn là do tòa án quyết định. Anh chỉ làm chứng khi kết hôn. Nhưng anh nói rõ là anh thấy quyết định của Cam không sai. Chào Lan, anh về nhé.

Lan cài chốt cửa, vào ngồi gục đầu xuống hai bàn tay ngửa. Suốt mấy năm qua, anh Tùng được vợ chồng Cam coi như người anh chồng hết sức vô tư và tốt bụng, chuyên nói tình cảm. Khi vợ anh làm y sĩ ở Hải Phòng nghỉ phép lên chơi, chị nói riêng với Lan rằng anh Tùng chỉ có lỗi là lo cho vợ con nhiều quá, lo cho mình ít quá, tuy các thứ bệnh kháng chiến còn hành hạ mãi. Chị nhờ Lan thỉnh thoảng thăm anh và khám sức khỏe qua loa, Lan là y tá quân đội chắc dễ hiểu các thứ bệnh của lính cũ.

Bây giờ, anh nói với Lan hai lần đều cứng lạnh như tảng đá hoa cương, và anh Cam cứ lù lù đi tới theo hướng mình như chiếc xe tăng hạng nặng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #268 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2017, 03:34:18 pm »

Lan chịu kém ăn và mất ngủ thêm một tuần nữa, chịu đựng hai buổi lên lớp nữa của bà Ất Béo về tội thằng Cam chiếm đoạt tài sản của thằng Thống, và kinh nghiệm của đàn bà cầm cương chồng con sao cho vững. Lần đầu Lan ngắt lời bà ba bốn bận, nhẹ nhàng thôi. Lần sau thì Lan nổi loạn thật sự. Đến cuối Lan trừng mắt, gằn giọng:

- Bây giờ tôi mới thật hiểu vì sao anh Thống trước kia hay dặn tôi: giúp đỡ bà thì cứ giúp, nhưng chớ nên theo lời bà. Ảnh từ biên giới về, vợ con túng thiếu tới mấy ảnh cũng dành phần quà đến giúp bà, vì thương hại bà đông con và gia đình bà rối ren, bà lại tưởng ảnh giàu, ảnh phải triều cống bà vì một mối dây họ hàng nào đó do bà nêu ra chứ ảnh không nhớ. Bà làm mất gia đình bà chưa đủ sao, còn muốn phá quấy vợ chồng tôi nữa? Tài sản anh Thống hả? Có. Phần ảnh có nửa cái xe đạp tôi đang đi, cái tủ lưới bằng gỗ thùng phế phẩm, mấy cái ghế đẩu, ảnh về thăm nhà tự đóng lấy. Gia tài để lại cho thằng Chung bấy nhiêu, hễ bà có di chúc của ảnh thì tôi xin giao hết cho bà. Nếu không có, xin mời bà về!

Lan vào ngăn buồng  trong, đóng sập cửa sau lưng, nghe tiếng bà Ất chửi rít răng, rồi các bậc gỗ bước từ sàn xuống rồi rên rỉ dưới những bước chân vốn đã nặng lại dẫm mạnh hơn lúc thường.

Lần này bà Ất không viết thư hay tìm gặp cấp trên của Cam và Lan nữa, vì biết mình đã già néo đứt dây, cũng sợ Cam và Lan phản công thẳng tay. Bà biến hẳn khỏi cuộc đời của bộ ba không ưa bà.

Vợ chồng Lan làm lành. Lan được một bài học thấm sâu.

Nhưng Cam vẫn mất thì giờ không ít, trong những trường hợp êm ả và thân thiết hơn.

Các cụ các bác hưu trí bao giờ cũng ít nhiều bị “sốc” khi chuyển từ những ngày bận việc rối mù sang cuộc sống quá nhàn rỗi. Các cụ ở miền Bắc có thể lo giúp bầy con cháu, làm việc nhà. Các cụ miền Nam tập kết khổ hơn nhiều. Đã buồn vì xa vợ con họ hàng-số có tiêu chuẩn đem vợ con theo rất hiếm, ví dụ trong quân đội phải là tiểu đoàn phó trở lên-buồn vì ngày thống nhất ngày càng lùi xa và địch khủng bố gia đình những người tập kết ngày càng ác, lại buồn hơn nữa vì cô đơn trong cảnh thiếu thốn và già yếu. Mỗi lần được báo họp đồng hương, các cụ đi rất đông, nhưng các cuộc gặp mặt chay tịnh ấy cứ thưa ra mãi vì cứ phải kể cho nhau những tin đau lòng, cùng những chuyện bực mình vây quanh.

Tìm nghề vừa sức để kiếm thêm tí chút bù vào lương hưu đã nhỏ lại teo nhỏ thêm vì hàng thiếu, giá tăng, tem phiếu chỉ đủ cầm hơi: phần lớn chỉ biết làm nông, không biết hay không làm nổi trăm thứ nghề ở thành phố. Kể ra làm ông gác cổng hay bà bán trà chén vỉa hè cũng được thôi, nhưng... nó cứ sao sao ấy. Từ ông bí thư Đảng ủy hay bà trưởng phòng tụt dốc đến đấy, lý đúng mà tình khó thông. Thà đóng cửa buồng mà tập làm hàng gia công cho mậu dịch hay hợp tác xã, đóng sổ hay dán túi ni-lông, hỏng mãi rồi cũng phải được, mệt đâu nghỉ đấy, mỗi tháng thu vào không bằng một ngày của cô bán hàng ở buồng bên, cô này phất tay lên nhờ buôn tem phiếu.

Những cụ không kiếm ra việc phụ thường kết thành tùng nhóm theo địa phương, theo nơi ở. Sáng ra, gặp nhau chỗ vỉa hè hay bãi tập thể dục, về nấu một soong cơm ăn sáng và trưa, hâm nửa phích nước nóng còn lại cho đủ sôi để pha ấm nước uống sáng bằng loại chè mậu dịch bốn hào mà cô mậu dịch bên cạnh đem về bán với giá bảy hào một gói nửa lạng, hâm luôn cái soong con có cá tép kho với dưa cải già muối chua, món mặn này được cái qua nhiều lửa càng dễ ăn bằng độ răng lung lay khấp khểnh. Nếu còn đủ dầu lửa thì trưa và tối sẽ thêm tí canh hay rau muống luộc cho dễ nuốt.

Khoảng tám hay chín giờ các bạn già sẽ đến chơi, hay mình đến nhà họ. Pha thêm chè, bày ra đĩa thuốc lá sợi, xấp giấy quấn sâu kèn, ngả bàn cờ tướng ra, thế là đủ cho một buổi tán gẫu và giải trí. Nhà nào có máy thu thanh thường được đón các bạn già nhiều nhất. Để chủ nhà khỏi thiếu thốn vì mình, các cụ thỉnh thoảng đem đến biếu một gói chè rẻ tiền hay một lạng thuốc lá sợi nâu.

Tuy vậy, các cụ gặp nhau mãi cũng chán, nghe chuyện quê hương thời chống Pháp mãi rồi thuộc lòng, những tin tức hiếm hoi về miền Nam đã cũ mòn đi. Các cụ tìm đến lớp trẻ để hỏi chuyện thời thế và dạy bảo vô số điều hay lẽ phải.

Sáu Cam được các cụ xếp vào hàng con em tập kết có chí, có tài, là một trong những bộ đội trẻ của Quảng Nam và Liên khu Năm sớm tốt nghiệp đại học, trong khi hầu hết đồng đội tập kết còn loay hoay với những lớp bổ túc cấp I hay mới vào trường Bổ túc công nông cấp II, cấp III. Các cụ gặp Cam rất ít, nhưng phần lớn đã từng đi toa xe lửa công hành của Cả Chanh hỏa xa. Ngày càng nhiều cụ đến làm quen với Cam. Theo các cụ thì cán bộ hay gì gì cũng chỉ làm việc ngày tám tiếng, buổi tối và chủ nhật là lúc nghỉ ngơi, chuyện vãn. Chẳng có luật lệ nào ép phải làm thêm hay học thêm ngoài giờ hành chính cả. Cụ nào cũng tưởng chỉ mình hay vài người nữa lâu lâu đến nói chuyện nhân tình thế thái và hưởng không khí gia đình với vợ chồng thằng Cam một buổi tối.

Cộng dồn ba chục cụ đến nhận người cùng tỉnh, bạn của anh Chanh và bà giáo Hạnh, bạn bộ đội và cơ quan của hai bên vợ chồng, cả bạn anh Thống nữa, đã xấp xỉ con số mỗi tháng một trăm khách đến nhà. Treo bảng hai màu như anh Lê Tùng không được, Cam trốn vào buồng trong cũng khó yên, Lan học lớp ban đêm bổ túc lên y sĩ đến phải bỏ học mất. Ngân sách gia đình từ giữa tháng trở đi bắt đầu rối loạn vì các bạn từ khu Tư ra hay biên giới về không đủ tiền ở nhà trọ, không thích ở trạm đón tiếp quân đội, ghé ở với hai vợ chồng vài ba ngày, và cũng nghĩ như các cụ: hàng năm mới có bạn cũ tạt vào, chúng nó chả khó khăn gì mà ngại.

Bàn đi tính lại mãi, Cam và Lan quyết định: tan tầm chiều sẽ về hối hả làm mỗi người một việc, sáu giờ mang tất cả các thứ cần cho buổi học đêm hay làm ngoài giờ, khóa cửa đi ăn cơm ở nhà ăn tập thể có bán phiếu lẻ, Lan mang theo một lọ tôm kho mặn hay muối vừng để ăn cho đủ bữa. Cơm xong, không về nhà mà chia tay luôn tại chỗ. Cam đạp xe đến nhà Lê Tùng; Lan đưa con đến gửi chị cấp dưỡng có bầy con năm đứa hay ốm vặt đã được Lan đến săn sóc lâu nay chẳng kể nửa đêm gà gáy, chị đền ơn bằng cách mua hộ con cá mớ rau mà vẫn áy náy, nay được dịp giữ hộ bé Nhứt buổi tối mới yên tâm. Lan gửi chị một chồng tranh truyện trẻ em, một bộ chữ cho lớp võ lòng chơi chung suốt tối. Lan trốn vào gian trong tí xíu của buồng y tá trực, đã kê sẵn cái bàn con bên giường chân niễng, đóng cửa ngồi học. Giờ hẹn gặp lại cả nhà là chín rưỡi.

Cam và Lan đều nghĩ thương các bạn từ xa đến áo đầy bụi và quần đẫm bùn, thương các cụ lập cập đếm bước đến chơi. Biết làm sao, khi phải làm và học thêm mỗi ngày vài ba tiếng. Lan cố tìm một chỗ nào cho chồng thức đêm trong khu bệnh viện, thì bỗng một anh bạn học cũ của Cam ở trường chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng được chuyển đến làm bác sĩ thực tập ở khoa Huyết học, thu xếp được cho Cam làm việc ở phòng ngoài, nơi có mùi cồn nóng và máu tanh, nhưng lắp quạt và đèn nê-ông chong suốt đêm. Cam giữ riêng một chìa khóa ngoài, không phải đạp non một cây số dưới mưa đêm đến quấy ông bạn Tùng mắt lồi nữa.

*

Những đêm mưa và tối thế này, Cam ở nhà để cùng nấu một bữa tươi gia đình và chơi với con một lúc trước khi nó ngủ lăn ra. Thằng Nhứt không chịu ăn cơm trước khi mẹ về, nó biết ba Cam xót ruột lo con đói sẽ lấy mấy cái bánh bích-quy trong tủ ra cho nó ăn tạm, thứ này làm bằng bột mì pha nhiều bột sắn khoai, cứng và nhạt, mua không cần phiếu. Ba hay quấy thêm cho nó một cốc nước chanh bằng thứ đường vàng gọi là hoa mai hay hoa mơ gì đấy. Hết bích-quy vẫn có bít-xcốt tẩm đường. Tội nghiệp thằng bé, hàng tháng chỉ được ba bốn lần ăn nửa bát phở hay bún riêu cua thay vào bát cơm tối qua hấp lại hay mấy củ khoai chấm muối vừng mỗi sáng. Được cái nó ít ốm và không đứng “chầu mồm” khi trẻ khác ăn bánh bao và uống sữa ca-cao.

Tối nay ở nhà, nó chơi xếp chữ hay tô màu tranh truyện một mình hàng giờ, mãi mới đến ôm đầu gối Cam:

- Ba chơi với con một tí nhá.

Cam giật mình, nhìn đồng hồ báo thức: đã một tiếng rưỡi anh quên bẵng nó để chim sâu vào một tập thơ nôm đã phiên âm và đánh máy, chua công bố, một anh bạn chỉ cho mượn đọc trong hai ngày và nhờ sửa lỗi đánh máy luôn thể. Cam xốc con đặt ngồi trên đùi:

- Ờ, ờ, ba thích chơi với con lắm chứ.

- Ba để con chơi mãi một mình...

- Con thấy đấy, ba bận lắm lắm, bao nhiêu là giấy là sách. Con chơi gì nào? Đua ngựa nhé, hay làm ảo thuật trên tường? À, chắc con thích chơi xếp chữ, dựng nhà?

Hỏi gì thằng bé cũng lắc đầu. Nó rỉ tai Cam như sợ bị nghe trộm:

- Ba cho con tập nấu cơm, luộc rau, hâm canh.

- Úi, con còn bé thế...

- Bên nhà bác Dự, đứa năm tuổi đã biết luộc rau hâm canh. Đứa lên sáu nấu cơm ro ro. Con chả biết gì, chúng nó cứ chế là công tử bột, ngượng lắm. Ba dạy con vài lần, con thuộc, con nấu ngon cho chúng nó nác mắt ra. Nhé ba nhé?

Nó đã lây giọng Thái lọ của bà cấp dưỡng rồi. Chẳng sao. Nhưng để cho một đứa bé sáu tuổi rưỡi mó vào lửa và nước sôi, lỡ bị bỏng thì những kẻ độc miệng sẽ rao lên là Cam hành hạ con riêng của vợ, sức mấy mà đi phân trần.

Thấy ba ngần ngừ, thằng Nhứt vòng tay ôm cổ Cam, thơm thật to vào má. Nó biết ba thích được thơm, cũng như nó. Cam thơm trả vào má con, cả hai bên, rồi hẹn chung chung:

- Hễ mẹ bằng lòng thì ba cũng bằng lòng.

- Ba bảo mẹ bằng lòng đi.

- Ồ, con bảo chứ. Việc của con cơ mà.

Thằng Nhứt phụng phịu nhưng không hờn dỗi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #269 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2017, 03:37:11 pm »

Từ ngày ba Cam đến ở chung, nó bớt hờn hỗn với mẹ, chỉ còn hay vùng vằng. Với ba, nó ngoan hết sức. Ba không yêu thì nó mất đi chơi các trò ở Bách Thảo hay Thống Nhất, không được đèo xe đi xem phim thiếu nhi, không ai đi mượn sách Kim Đồng ở thư viện Hà Nội về cho nó xem tranh truyện. Mẹ bận luôn tay luôn chân, ngày làm tối học, chủ nhật đi mua hàng tem phiếu, giặt giũ, tiếp khách, sức đâu mà lo cho con được chơi.

Cam ở nhà đã gánh được hai thùng nước ở khu điều trị về để sẵn. Buổi tối là giờ cao điểm ở khu tập thể. Lắm nhà lén đun bếp điện tuy đã bị cấm, nước trong đường ống bị lấy dọc đường không đến được khu nhà viện trợ chỗ cuối dòng.

Rửa bát xong, Lan vào nhà khi Cam đã tém chăn buông màn cho con và quét dọn gần xong. Cam kể vắn tắt câu chuyện thằng Nhứt muốn tập làm bếp. Lan gạt ngay:

- Anh lo vậy là phải, trẻ con trái chứng hơi đâu mà cưng mà chiều. Miệng thế gian em không lo, mà lo nó bị bỏng nặng hay làm cháy nhà, cháy lây cả khu này mình lấy gì bồi thường?

Cam trầm ngâm một lát mới nói:

- Kể ra, hồi lên năm anh đã nấu trọn bữa cơm cho cả nhà, lũ trẻ nhà chị cấp dưỡng nay cũng thế... Hay là ta bước đầu cho nó tập đóng bếp trấu, mùn cưa, quét nhà?

- Cũng được, nhưng phải bắt nó đeo khẩu trang, làm xong nhớ rửa tay... Tối nay ai đến không anh?

- Có ba lần. Hai cậu bạn cũ anh Thống ghé thăm Lan, vội lắm không đợi được, biếu Lan chai mật ong kia kìa. Một cô nghiên cứu sinh đến phàn nàn chính sách, ba sinh viên nhờ phụ đạo, anh đều hẹn sáng mai làm việc ở trường. Các cụ không thấy đến, chắc ngại mưa.

- Với lại chúng mình tản cư đêm đã hơn tháng, khách đến vài lần không gặp cũng nản.

- Anh băn khoăn nhiều. Thôi đành chịu chửi, biết sao.

Tiếp đó hai vợ chồng cùng chúi mũi trên nhũng trang giấy in và giấy viết, ai đi ngủ trước thì người còn thức lấy báo che một góc đèn.

Thằng Nhứt tạm bằng lòng với bước tập được cho phép. Nhưng nó muốn tránh tiếng đoảng, mỗi chiều nó lễ mễ bưng cái bếp trấu xuống nền đất trước nhà, lên xách tiếp bao trấu và cái chai, đóng bếp rất kỹ trước mắt tất cả lũ trẻ trong khu, đút bếp xuống dưới sàn nhà gỗ. Rồi nó quét dọn trước sân khi có mặt bạn, bạn về mới quét trong nhà. Nó còn nói khoác rằng đã thạo làm bếp chẳng thua ai. Còn cái khẩu trang mẹ nó bắt đeo, nó chỉ đeo ở cổ chứ không chịu bịt mũi mồm.

Trong nhũng ngày ấy, Cam vẫn trầm ngâm kéo dài, rất ít nói cười. Lan đoán chồng vướng chuyện rối rắm gì ở trường, hay được tin xấu từ miền Nam gửi ra. Lan coi chồng là “con người thủy tinh” như đã thấy trong triển lãm y tế, chứa gì trong đầu trong bụng là trông rõ cả, dù anh thốt ra dịu hay xẵng, thô lỗ hay lịch thiệp. Đợi lâu quá, Lan phải hỏi:

- Anh gặp chuyện buồn phải không?

Cam giật mình:

- Không, không... gọi là vui đúng hơn... nhưng kèm một mối lo...

- Anh hay nói thẳng kia mà!

- Ừ thì thẳng. Anh đang cân nhắc. Trường anh được Liên Xô cấp mười học bổng nghiên cứu sinh trong  ba năm, ở Lô-mô-nô-xốp. Khoa anh được chia hai suất, những chín người muốn đi, chẳng ai chịu nhường ai. Anh sẵn sàng nhường, tập thể không chịu. Cụ chủ nhiệm khoa cho bỏ phiếu kín để thăm dò, anh được nhiều phiếu nhất. Sáng hôm sau, cụ gọi anh lên khoa xát xà-phòng một trận:

“Đưa người đi học để lo cho dân cho nước, cho khoa học. Anh chị em bỏ phiếu thế là tinh đời đấy. Mình biết, lắm cậu đi để sống khá hơn, có thùng quà gửi về nhà, học tại chỗ thì bảo vệ luận án tại chỗ, còn mong được điểm hữu nghị, chiếu cố. Học ở Việt Nam, đi thi ở các nước xa lắc, trước một hội đồng chưa hề đến nước ta... Mà thôi, mình chỉ muốn cậu đừng từ chối bai bải như tối qua nữa. Cả chục thư gửi gắm ký tên từ thứ trưởng trở xuống, đây này!

Cụ đập tay vào một tập giấy viết nhiều nét chữ trên bàn. Anh xin một tuần để cân nhắc thêm, cụ bằng lòng...

Lan bật kêu:

- Muộn mất còn gì!

- Không. Học sinh phổ thông sang học Liên Xô phải học tiếng Nga một năm. Nghiên cứu sinh thì tùy người, vào học sau vài ba tháng hay năm sáu tháng cũng được, chỉ cần kiểm tra đủ điểm.

- Vậy đó... anh còn lo gì nữa?

- Anh lo cho Lan, cho nhà mình. Em có thai ba tháng. Thằng Nhứt ngoan đấy nhưng còn nhỏ. Đời sống ngày càng khó, em thồ hàng như tối nay trong tháng thứ ba, dễ sẩy lắm...

Lan cố nén mình mỏi không lao vào ôm ghì chồng, chỉ nói bông đùa:

- Hơi đâu lo con bò trắng răng hả anh? Em đẻ trong bệnh viện, bạn bè xúm xít, nhờ một tiếng là hai ba người chạy giúp. Anh quên em là y tá, đã một lần sanh rồi mà. Chị cấp dưỡng góa chồng, một mình nuôi năm đứa thì sao!

Cam đăm đăm nhìn khuôn mặt gầy của vợ, càng gầy thêm khi mang thai, đôi má từ màu hồng của gái một con chuyển đần sang tai tái, mấy chiếc áo đo may trước đây nay rộng hẳn ra. Cam biết vợ kín đáo nhường miếng ngon trong bữa cho chồng con, dùng đồng lương của Cam cho mình và con rất dè xẻn, giấm giúi gửi tiết kiệm mỗi tháng năm bảy đồng phòng khi cơ nhỡ.

Có lần Cam nhận nhuận bút được những hai chục, độ nửa tháng lương y tá, cao hứng đưa vợ con đi ăn một chầu phở tái và sủi cảo, cửa hàng tư. Nửa chừng Lan sực nhớ, đi xem bảng giá, quay lại hốt hoảng:

- Họ chém quá anh ạ. Sủi cảo nước là nước tính bảy hào, phở tái bò dai như quai guốc cũng tám hào!

- Ồ, ta bảo vệ sức kéo, chỉ cho thịt lứa bò già phế thải. Ăn mậu dịch thì rẻ, mà chỉ có phở lợn, phở ếch, phở cá.

- Lần sau anh muốn ăn gì, đưa tiền em làm ở nhà. Bảo đảm ngon, sạch, rẻ.

Trả tiền xong, Lan còn kéo chồng đến cửa nhìn xuống bếp: vì thiếu nước máy, cô rửa bát chỉ có bên mình một xô nước lều bều những thứ vét chưa hết trong bát, nhúng bát vào lắc một làn, đưa lên lau bằng một cái khăn đen bẩn hơn khăn lau bàn, xếp vào chồng bát sạch. Cả hai đang xem tiếp, bỗng bị một cánh cửa mở vào bên trong giập đánh sầm, suýt đập vào mặt, kèm một câu chửi tục.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM