Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:49:43 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người cùng quê - Tập 1  (Đọc 126654 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #270 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2017, 03:40:01 pm »

Từ hôm ấy Cam không một lần khen các cửa hàng tư là nấu ngon và niềm nở nữa. Muốn khao cả bộ ba-trung bình mỗi tháng một lần-Cam đưa tiền cho vợ, thường là tí nhuận bút còm của một bài đăng báo. Cam đóng lò, bổ củi, gánh nước, nhặt rau, đi xếp hàng mua một bi-đông bia hơi, pha nước chanh cho con. Lan cố nhớ lại những cách nấu rất tuyệt đã được bà mẹ dạy cho hai chị em khi bà còn sống, nay Lan chỉ còn nhớ mang máng sau bao nhiêu năm ăn cơm bộ đội và tập thể.

Trong giới cán bộ công nhân viên, có con đi học Liên Xô hay Đông Âu coi như tăng ít nhất hai bậc lương, đi nghiên cứu sinh còn cao hơn nữa. Lan nghĩ ngay đến chuyện ấy, nhưng không dám nói. Từ khi rời giường hai tầng ở bãi Phúc Xá về ở với mẹ con Cam, anh phải lo cơm áo gạo tiền và chạy việc vặt nhiều gấp bội. Xa vợ con mấy năm, chắc anh sẽ dồn thì giờ vào nghiên cứu, dồn tiền rúp mua sách, khác xa một số sinh viên lo buôn nhiều hơn học, bóc lột cả những người rất ngại đi lùng hàng như anh Cam, đến bữa ăn chỉ gặm vài lát bánh mì kẹp dồi, mắt vẫn dán vào trang sách.

Đã lên phòng nằm, Cam vẫn vắt tay trên trán quên tắt đèn. Lan chờ mấy phút, Cam mới nói ngập ngừng:

- Trong Nam thiếu cán bộ quá chừng. Anh hy vọng họ khám lại sức khỏe... cho đi...

- Tay trái anh chỉ còn năm chục phần trăm, ai cho đi?

- Năm kia họ khám theo tiêu chuẩn lính chiến. Bây giờ anh vô có thể dạy văn hóa, viết báo, sưu tầm văn học dân gian để làm luận án... làm được chút gì đó phụ giúp với đồng chí trong Nam. Đang khi nước sôi lửa bỏng, mình ở đây mà còn thao thức “ngày Bắc đêm Nam”, huống chi bỏ đi tới chỗ yên ổn, khá giả...

- Thôi, anh ngủ đi. Còn ngày rộng tháng dài, thả sức mà đắn đo. Riêng phần em, đẻ nuôi thằng Nhứt một mình còn lóng ngóng, tới đứa em nó thì thạo nghề làm mẹ lắm rồi. Bạn em hay nói được ưu tiên số một so với chúng nó. Ngủ đi, chóng ngoan!

Lan thức dậy lúc một giờ sáng như lệ thường, ra buồng ngoài đánh thức con dậy đái vào bô, nó thỉnh thoảng vẫn còn đái dầm. Cam cũng lồm ngồm ngồi dậy, châm một điếu thuốc, đêm nay anh hút đến điếu thứ ba rồi.

Không muốn nhắc nhở chuyện hút thuốc, Lan chỉ chêm thêm một ý mới nảy ra trước khi ngủ thiếp:

- Anh tính thêm coi. Sau ngày giải phóng, ai sẽ giảng văn học kháng chiến trong các trường miền Nam? Chắc phải nhờ các vị học ở Âu Mỹ về, nói tiếng Việt như “ông Tây An Nam” trong vở kịch xưa anh cho mượn đọc đó, nhắc tới văn học cách mạng là bĩu môi hay tròn mắt: “Cách mạng mà cũng có văn học à?”. Tới đó anh mới cáp sách trở về trường, lo học ôn chưa kịp, nói chi đến luận văn luận án!

Hết một tuần, Cam mới trả lời chủ nhiệm khoa, nhận đi nghiên cứu sinh. Ông chủ nhiệm bộ môn tham công tiếc việc muốn giữ Cam lại nhưng chỉ có thể than thở bóng gió và đi tìm trợ lý khác thay Cam. Thay rất khó, vì số cán bộ và bộ đội tập kết tốt nghiệp ngành Ngữ văn đã ít lại không  thích về trường, nơi vừa nghèo vừa hay rối.

Lớp bổ túc tiếng Nga mở trên đường vào Hà Đông, gần khu Cao-xà-lá, gọi tắt ba xí nghiệp cao-su, xà-phòng, thuốc lá cùng các nhà ở kèm theo. Cam chỉ đến học mấy buổi đầu rồi xin học tại chức, vì trình độ cao hơn nhiều so với học sinh phổ thông rất kém ngoại ngữ, dẫm chân tại chỗ mãi với xát là vườn, đom là nhà. Thầy giáo đọc lá đơn viết bằng tiếng Nga của Cam, chỉ sửa hai chỗ sai biến cách (nỗi khiếp sợ của người học tiếng Nga), ghi dưới: Ya xô-gla-xen (tôi đồng ý). Anh này trẻ hơn Cam ba tuổi và đã biết tiếng Cam từ trước.

Cam vẫn đến trường, giúp thầy chủ nhiệm bộ môn một ít trong khi chưa có người thay, thường tìm chỗ vắng mở bộ đĩa kèm sách dạy tiếng Nga ra tập phát âm, các bạn dạy Nga văn ở trường cũng đến tập cho đối thoại. Cam dần dà bỏ thói quen nghĩ bằng tiếng Việt rồi tự dịch trong đầu ra tiếng Nga, luyện cho mình nghĩ bằng tiếng Nga, cho các ý hiện hình trong đầu với thân hình và áo quần Nga trước khi tuôn ra ngoài.

Mỗi lần kiểm tra định kỳ nửa tháng, có dịch xuôi, dịch ngược, hỏi ngữ pháp, đối thoại thầy trò, Cam lại khiến cả lớp ngạc nhiên và thích thú. Kiểm tra viết quy định hai tiếng, thường phải kéo dài ra hai tiếng rưỡi hay ba tiếng, riêng Cam chỉ cần vài chục phút đã nộp bài và nhận điểm cao nhất. Giờ đối thoại hơi buồn cười: thầy cao hứng hỏi những điều rất xa chương trình, Cam trả lời vẫn lưu loát và khá chuẩn. Lứa trẻ từ phổ thông lên kính phục đã đành, các bạn nghiên cứu sinh khác cũng sửng sốt: “Cậu ta học bao giờ mà tài thế!” Rất nhiều lần các em trẻ đứng lên đề nghị hai thầy đối thoại thật lâu để chúng em quen nghe nhiều giọng. Cam đùa luôn bằng tiếng Nga: “Và để rút ngắn số phút kiểm tra miệng của các bạn chứ gì?”. Chỉ có vài nghiên cứu sinh hiểu và bật cười, còn cả lớp ngơ ngác.

Bởi phải tốn rất ít thì giờ cho tiếng Nga nhưng vẫn phải đợi cùng đi chung đợt, bộ môn đã có trợ lý khác thay Cam, Cam lao vào săn lùng văn học dân gian miền Nam, kiếm tư liệu cho luận án sẽ viết tại Liên Xô. Trường đại học không chi tiền sau khi chuyển lương sang chế độ lưu học sinh, Cam phải tự xoay xở lấy. Ông Mạnh Thường Quân của Cam là anh Năm Chò đã vào Nam, Cam phải tự túc khoản này, đi tìm gặp anh chị em tập kết. Cụ chủ nhiệm khoa tốt bụng chỉ có thể giúp Cam bàng giấy giới thiệu, mặc cho ông phó can mãi là sai nguyên tắc. Các cụ hưu giúp được rất ít: nói chính trị mãi rồi cũng bị méo mó nghề nghiệp, rất ít cụ còn nhớ tục ngữ, cao dao, dân ca. Cam phải đạp xe đi rất nhiều nơi chung quanh Hà Nội, tìm cho ra những ông bà sống gân suốt đời ở nông thôn, góp nhóp mỗi nơi một tí. Được nhiều nhất là khi gặp các bà ít chữ, cấy hái ở làng và tập kết theo chồng con làm cán bộ. Hết gần đến xa, Cam tìm về các nông trường miền Nam, ghi đêm này qua đêm khác bên các ông bà từ trung niên đến phụ lão. Tiền tiết kiệm vơi dần trong những chuyến đi xa ấy, trong khi số vở ghi tăng lên mãi.

Lan nắm tất cả tiền lương của hai vợ chồng, chỉ đưa lại ruột ít cho chồng tiêu vặt. Rất may là được ở trong khu tập thể, tiền nhà, tiền điện, nước trừ vào lương rất nhẹ, nên Lan chắt bóp gửi tiết kiệm mỗi tháng được năm bảy đồng. Số bạn gần xa, hay chỉ người quen sơ sài thôi, suốt mấy năm thường vay Cam rồi chày bửa không trả, đều bị Lan chặn lại không cho vay tiếp, nói nhẹ nhưng dứt khoát thay cho ông chồng rất cả nể và đãng trí khi cho vay hay cho mượn sách vở, đồ dùng.

Khi tiền tiết kiệm từ một trăm sáu tụt xuống tới dưới năm chục, Lan mới báo cho chồng biết. Cam lâu nay chỉ biết chìa tay hỏi tiền, lúc này trố mắt, gãi bộ râu quai nón tua tủa chung quanh cái cằm chẻ đôi, bật cười:

- Mất khá tiền, nhưng được mấy trăm trang tư liệu mang theo làm vốn đây. Qua mấy chuyến đi, anh khai thác về Liên khu Năm với Nam Bộ đã tàm tạm. Tạp chí Nghiên cứu văn học mới đăng bài của anh về ca dao Quảng Nam, chắc cũng được vài chục. Để anh đi lấy.

Cam bơm xe, đạp xe Thống Nhất cọc cạch ra đi. Trưa Lan về, thấy Cam đang ngồi viết với xấp giấy bạc năm đồng chặn hòn cuội trên bàn. Cam hí hửng rất trẻ con:

- Họ chi rất khá, bốn chục đấy, ông tổng biên tập còn gạ anh viết luôn một xê-ri bài nữa, anh chưa dám hứa. Ông nói bài mới ra đã được giới nghiên cứu đánh giá cao, nhuận bút tăng thêm một chục nữa cho xứng công sức tác giả.

- Anh viết ba ngày đêm bàng em làm cả tháng...

- Ba ngày cộng với hàng chục năm chiến đấu, học hành, moi tiền tiết kiệm đi ngao du tứ xứ...

Cam không nói tiếp được vì Lan đã cúi xuống ôm ghì chồng, ép má mình bịt miệng chồng, thì thào:

- Chào thua ông quỷ sứ từ lâu rồi mà.

Cam vòng tay qua vai vợ, hôn thật kêu như khi thơm thằng Nhứt. Cũng chính lúc ấy thằng Nhứt từ lớp vỡ lòng về, xô cửa vào, bật cười rúc rích:

- Ô kìa, ba cũng thơm cả mẹ nữa!

Vợ chồng luống cuống rời nhau. Lan đi thu xếp cơm trưa với mặt đỏ bừng, mắt lóng lánh ướt. Cam chìa hai tay đón con, nó trịnh trọng nói theo lệ thường: “Con chào ba, con chào mẹ”. Cam đáp: “Ba chào con”. Lệ ấy do Cam đặt ra, thay cho những câu phủ đầu đốp chát mà Lan cũng quen nói như các bà mẹ khác đợi con về để kể tội đánh bạn hay hỗn với cô giáo.

Thơm nhau mỗi bên đủ hai bên má, Nhứt lại vặn:

- Mẹ lớn thế mà ba cũng thơm như trẻ con à?

- Ờ, ờ… mẹ bảo ba thơm con chưa to, ba phải tập...

- Tại mẹ chủ quan... Ba xem sổ liên lạc. Các điểm học tập đều trên trung bình. Khuyết điểm hay chòng bạn giảm một phần. Tật nói chuyện trong giờ học chưa sửa chữa được mấy.

Cơm xong, thằng bé không ngủ trưa, chạy xuống sân chơi với lũ bạn, thường là bi hay đánh quay. Cam chỉ giữ lại mười đồng, còn đưa hết cho Lan:

- Anh đi Phủ Lý chuyến nữa thôi, gặp một đơn vị Trị Thiên-Huế, nhiều nhất ba ngày. Sau đó là chúi vào thư viện quốc gia lùng sách cũ, phòng sách tham khảo mới có. Số vốn tư liệu trực tiếp đã hòm hòm rồi đấy.

- Anh định mua gì mang sang Liên Xô?

- Mua gì? Áo quần ấm được cấp, va-li cũng thế. Sang bên kia có học bổng rồi.

- Mấy chị ở đây bày cho em mua các thứ đồ mỹ nghệ, sang đấy bán kiếm ngoại tệ được khá lắm, mua hàng công nghiệp gửi về lại lãi thêm lần thứ hai.

- Quái, anh đi nghiên cứu chứ có đi buôn đâu! Hay là anh ngồi xổm trên vỉa hè Mátxcơva, đặt một chồng giỏ mây giỏ cói, bày một mớ rèm tre với sơn mài Đồng Xuân, mời chào khách qua đường dẻo như kẹo kéo?

Lan biết lặng im đúng lúc. Mình sẽ gửi tất cả cho vài cô bạn ở Mátxcơva, nhờ tiêu thụ hộ, bảo anh Cam là quà biếu nhiều nơi nhờ bạn phân phối, ảnh mới chịu mang theo. Khó, người đâu mà thiếu đầu óc thực tế đến thế!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #271 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2017, 03:43:48 pm »

Chương 12


Hai Khánh mở mắt hồi lâu mới nhận ra mình nằm trên bệ xi-măng của xà-lim biệt giam. Lại nhắm mắt một hồi nữa, ôn lại những gì xảy ra trong hai ngày qua. Ba lần tra điện đã làm đầu óc rối tinh.

Thằng gác ngục mở bật cái lỗ vuông trên cửa sắt, quát:

- Dậy đi cha nội, tám giờ sáng rồi không thèm mở mắt hả?

- Tao mệt. Mày cút đi!

- Bộ muốn ăn thêm vài chục dùi cui hả? Dậy!

- Mày cứ vô dọn dẹp. Cấm nói hỗn. Không biết thiếu tá Khánh à? Tao ra khỏi đây thì liệu hồn!

Bấy nhiêu thôi. Mươi phút sau có hai tù thường phạm vào rón rén đổ thùng tiêu, bưng thau nước để thiếu tá rửa mặt, tên cai ngục rập chân đứng nghiêm: “Trình thiếu tá, dọn dẹp xong, lát nữa mời thiếu tá điểm tâm”. Khánh khoát tay: “Cho lui”. Đang thời buổi rối mù này, hết đảo chính hụt đến đảo chính thật, hàng loạt tướng tá đang thét ra lửa bỗng vào tù, hàng loạt tù bước thẳng lên ghế chỉ huy hay tỉnh trưởng, quận trưởng. Cứ như tuồng hát bội hay cải lương, vừa tháo gông cùm đấy lại đeo râu làm vua.

Suất cơm tù vẫn như hôm qua, gồm “cơm giòn, cá chiên”, nghĩa là cơm hẩm đầy sạn và khô mặn cá bò, cá cơm đầy giòi, xếp trên tấm tôn dẹt kê bếp than đá cho giòi bò ra bớt, có bữa thêm vài sợi rau muống loại thái cho heo.

Khánh buộc lòng phải ăn nhấm nháp những thứ ôi thối ấy, chợt cửa xà-lim lại mở. Tên gác ngục rút chìa khóa bỏ đi luôn. Một thiếu úy An ninh quân đội bước vào buồng, quát:

- Phạm nhơn Ung Viết Khánh đi lấy khẩu cung!

Khánh đáp mệt nhọc:

- Tên tao vậy đó, mà tao không phải phạm nhơn, tao không đi.

Tên thiếu úy lại quát:

- Cho phép phạm nhơn ăn cơm mười lăm phút!

Hắn bước ra cửa ngó quanh, vào khép cửa, rỉ tai Khánh:

- Thiếu tá đọc giấy mau đi, rồi ăn thứ khác. Bà Duyên gởi đó.

Đúng chữ Mỹ Duyên trên mảnh giấy rất mỏng: “Họ không có chứng cớ gì, vu cho anh là Cần Lao để kiếm hối lộ thôi. Đòi hai triệu, em chưa chịu. Rán giữ hồ sơ trắng xóa. Em sắp tới gặp MD”.

Tên thiếu úy đã trải tờ báo trên bệ xi-măng, bày ra bốn chiếc bánh bao, một mớ giò chả và pa-tê gan thái sẵn, một chai bia Xan Mi-ghen cổ lùn. Khánh hết lo bị đầu độc, ăn thật no để bù hôm qua chỉ uống nước, uống mấy cũng không hết cơn khát sau ba lần tra điện. Gã thiếu úy đợi Khánh ăn uống xong mới thu dọn mọi thứ cho vào cái cặp da xách tay, hết dấu vết. Gã ngắm lại Khánh từ đầu đến chân trong bộ py-gia-ma nhàu nát mặc khi bị bắt. “Xin phép thiếu tá...”. Gã móc tay vào chỗ rách nhỏ ở ngực, xé rách tới gần thắt lưng. Gã giật cổ áo cho văng cúc áo trên cùng, phơi nửa ngực. Rồi gã lấy ra cái còng hai vòng rời kiểu Pháp, bấm cho hai tay Khánh ép sát vào nhau, buông xuống sợi xích lòng thòng trước bụng. “Thiếu tá chịu khó chút, cho phóng viên họ chụp hình. Nhớ đi kiểu bị tra tấn gần chết nghen thiếu tá”.

Rẽ qua lại nhiều lần qua những hành lang và bậc cấp hôi bẩn, gã thiếu úy mở một cánh cửa gỗ dày, xô mạnh Khánh vào, hét sau lưng:

- Vô mau! Mới nhảy dựng sơ sơ mà làm như hấp hối!

Nhiều ánh chớp loe lóe trước mặt Khánh. Anh chưa kịp hiểu gì, chỉ nghe tiếng giày đinh bước qua bên mình. Một cái tát nổ to sau lưng Khánh. Một giọng quen chửi to:

- Đ.mẹ, ngu hơn heo! Tụi bây dám hành hạ thiếu tá ra vầy há? Muốn ra tòa án binh, tao cho ra liền một khi! Mở khóa!

Các ánh chớp tắt hẳn khi tên đại tá sư đoàn trưởng cũ của Khánh dìu anh đến ngồi xuống ghế dựa, tự tay mở khóa còng tay rót bia vào hai cốc, ấn một cốc vào tay Khánh, giơ cao cốc của mình như chúc tụng gì đấy. Một ánh chớp lẻ loi phóng tới. Khánh đã đủ tỉnh táo để nhận ra một trung uý tâm lý chiến vừa chụp ảnh, trong khi bốn năm người khác cầm máy ảnh ngồi yên. Khánh còn khát, uống cạn nửa cốc và đặt xuống, chờ đợi, chợt nhận ra Mỹ Duyên trong nhóm phóng viên ngồi hình vòng cung chung quanh một đầu bàn của người hỏi cung và khán cung.

Đợi viên tư lệnh từ đại tá mới lên chuẩn tướng nhờ ngả theo phe đảo chính trước một buổi, đeo lon một sao mới tinh-bọn gác tù kháo như thế-trở về ngồi chỗ khán cung, Mỹ Duyên mới đứng dậy, nghiêng mình chào chuẩn tướng và ba quan chức khác ngồi sau bàn dài, nói chậm và rõ:

- Kính trình chuẩn tướng và các vị, tôi là Trần Mỹ Duyên, phóng viên hãng AFP và của một số tờ báo Pháp, Anh, Mỹ, Úc-đại-lợi, Nhật Bản. Tôi được cử làm đại diện nhóm đồng nghiệp hiện diện hôm nay. Xin trân trọng giới thiệu ông Giêmx Kít-man, hãng UPI (một người cao to đứng dậy, mặc sơ-mi ngắn quần soóc phơi lông nâu từ ngực đến chân tay, chỉ khẽ gật đầu kẻ cả). Tới ông Sác-li Braonơ, hãng Roi-tơ (một người cao gầy không râu không lông hơi nhấc đít, ngồi xuống ngay), ông Oa-ta-na-bê đặc phái viên báo Yô-mi-u-ri Sim-bun (một cậu trẻ, má tròn và mắt một mí, đeo hai máy ảnh và một máy ghi âm, đứng lên gập nửa người chào rất lễ phép). Còn hai bạn đồng nghiệp Úc-đại-lợi và Phi-luật-tân nữa, xin phép đến muộn mươi lăm phút vì đang quay một số cảnh đường phố sau cuộc cách mạng mồng một vừa toàn thắng...

Mỹ Duyên nhuộm tóc màu vàng sáng, mặc một bộ tay-ơ xám nhạt rất nổi màu da trắng, đi giép da cao gót cùng màu áo váy. Duyên dặng hắng, cười tươi:

- Chúng tôi vô cùng cảm ơn ngài chuẩn tướng đã cho phép chúng tôi được dự thính buổi khẩu cung hôm nay. Chúng tôi đã phỏng vấn rất nhiều hạng người, hôm nay là lần đầu được nghe lời khai của một thiếu tá tâm lý chiến đã phục vụ đắc lực cho chế độ Diệm-Nhu, hình như đã bị Việt Cộng mưu sát khi đi máy bay L.19 làm nhiệm vụ kêu gọi chúng ra hàng. Một lần nữa chúng tôi xin ngỏ lời tri ân ngài chuẩn tướng.

Khuôn mặt núng nính mỡ của viên chuẩn tướng mỗi lúc một đỏ, mồ hôi vã ra lấm tấm. Y lấy khăn tay lau vội. Bọn ghen ăn ghét ở cố phá mình đây.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #272 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2017, 03:47:38 pm »

Chiều qua, trong cuộc nhậu động trời tại câu lạc bộ sĩ quan có máy lạnh, y say quên hết trời trăng. Ai đó đến rỉ tai nói gì không  rõ, chìa trước mặt y một tờ giấy đánh máy. Y hoa mắt, không nghe gì đọc gì được, cũng không nhìn mặt người đưa giấy, đón cây bút bi ký ào luôn, quay lại cười hô hố với các bạn nhậu:

- Các xừ coi đó, moa làm việc theo kiểu lính chiến, không quan dạng như cánh Lệ Xuân-Nhu-Diệm đâu nghen.

Một trung tá trung đoàn trưởng đứng dậy, ngất ngưởng nâng cốc. Các cô hầu bàn hối hả rót đầy các cốc đã vơi trong khi gã kia lè nhè:

- Anh bình dân quá đó, anh Hai...

- Anh Bảy chớ!

- Đối với tụi em, anh là anh Hai, là bởi anh đứng đầu... Anh được vinh thăng lên ông tướng, tụi em mong anh thả neo miết ở vùng Một chiến thuật này cho tụi em phò tá, có đi Sài Gòn họp Hội đồng tướng lãnh thì chớ có đơn đao phó hội, mà phải để tụi em đem vài trăm quân cảm tử theo. Còn phần anh Hai thì xin nhớ con chị rị con em, con béo kéo con gầy... Một lần nữa, mời các chiến hữu cạn chén chúc mừng một ông sao trên trời mới giáng hạ xuống vai anh Hai!

Tất cả đứng lên chen tới chạm cốc với chuẩn tướng. Không ai nghe những lời xì xào trong khi đám đông xúm xít: “Nó nịnh khéo ghê-Ông Bảy lên tư lệnh vùng, thì nó cầm chắc cái sư phó-Mới ba mươi, đánh ít nịnh nhiều, nhảy qua đầu tụi mình-Nhảy qua còn khá, nó ngồi luôn trên đầu mới khốn nạn-Nó nợ mình ba trăm ngàn, đòi năm bảy lần chưa được-Bao con bồ ca-va chưa đủ, còn thêm bài bạc nữa-Lão Bảy tin nó lắm mới giao cho nó kiếm gái, buôn lậu...

Viên chuẩn tướng ngồi ghế chủ trì khán cung lúc này đang lơ đãng nghe những lời tri ân vắn tắt bằng tiếng Anh, do Mỹ Duyên dịch lại bên tai y, lơ đãng nhìn Hai Khánh đang uống nước suối mà không động đến các thứ đắt tiền.

- Xin mời chuẩn tướng huấn thị cho vài lời trước khi lấy cung.

Viên chuẩn tướng đã quyết định hẳn. Y bật cười to:

- Trước hết, phải xin lỗi quý vị vì một loạt hiểu lầm liên tiếp, rất đáng tiếc. Cuộc cách mạng nào cũng có lộn xộn rối ren không tránh được. Thiếu tá Ung Viết Khánh... è hèm... là bạn tôi từ khi rời ghế giáo sư ngoại ngữ vào quân lực ta, làm sĩ quan tâm lý chiến rất giỏi, rất mẫu mực... Ác hại, tôi nhận được điện mật phải tạm giữ thiếu tá vì đã hết lòng phục vụ chế độ nhà Ngô, lại thêm cụ thân sanh làm tỉnh phó rất được lòng họ Ngô. Bọn đàn em quen thói cũ của Nhu-Diệm-Cẩn, “không có đánh cho có, đã có đánh cho chừa”, bắt ai thì đánh dằn mặt lập tức. Tôi chưa kịp ra lệnh cho tụi nó bỏ cái thói phản dân chủ ấy đi... Sáng nay cũng vậy, biểu kêu thiếu tá lên gặp các phóng viên quốc tế, tụi nó dốt đui, lại xích tay thiếu tá dắt đi lấy cung. Mong thiếu tá cùng quý vị cảm phiền cho qua. Xin thiếu tá cứ chuyện trò xả láng với giới báo chí quốc tế.

Vừa lúc ấy, hai người một Âu một Á hối hả bước vào, được Mỹ Duyên giới thiệu là phóng viên Úc-đại-lợi và Phi-luật-tân. Họ xin lỗi vắn tắt, bước tới góc buồng, ngây mặt nhìn những vết máu khô và ướt trên tường, lặng lẽ khiêng chiếc ghế dài đến cạnh các đồng nghiệp, rút mấy tờ báo ra lót ngồi. Không thấy họ mang máy quay phim, hẳn đã gửi người phụ tá mang về nhà để khỏi bị tịch thu phim và máy. Họ chỉ rút máy ảnh và máy ghi âm ra.

Các phóng viên hỏi bằng tiếng Anh. Mỹ Duyên thấy bốn vị trong quân lực Việt Nam cộng hòa ngây mặt trong khi Khánh trả lời cũng bằng tiếng Anh. Duyên tinh ý nhấc chiếc ghế dựa đến ngồi đằng sau viên chuẩn tướng và một thiếu tá An ninh quân đội:

- Trình chuẩn tướng, mỗi nước nói tiếng Anh pha giọng riêng, khó hiểu lắm. Em nghe quen, chuẩn tướng cho phép em dịch lại.

Viên chuẩn tướng được gỡ bí, làm bộ thờ ơ:

- Ừ, phải... nhờ cô dịch cho mấy đứa nó nghe.

Cậu thiếu úy thư ký lấy cung vội nhấc ghế đến bên Duyên, kê cặp da trên đùi ghi theo lời dịch.

Biết đám sĩ quan võ biền kia chỉ đủ mấy tiếng ô-kê, oeo oèo, gút, theng kiu để làm le với gái nhảy và bán xì-néc-ba, Duyên dịch đúng các câu hỏi, nhưng vo tròn bóp méo những câu trả lời của Khánh, giũa mòn tất cả các góc cạnh gay gắt đối với bọn giam mình.

- Tôi là trí thức, bị đòn tù phải buộc vào quân lực. Tôi đứng trên mọi sự tranh giành phe phái...

Duyên dịch:

- Tôi nguyên là giáo sư, do hoàn cảnh khó khăn phải vào quân lực. Tôi làm việc chăm chỉ, không theo đảng phái nào.

- Tôi bị đối xử như con bò vào lò mổ. Một trận roi đòn, ba lần tra điện đến hấp hối.

Duyên dịch:

- Quả thật, tôi có bị hiểu lầm như chuẩn tướng đã nhận, có bị bạc đãi bởi những người gác chưa giác ngộ.

Khánh nghĩ thầm: “Gớm, cô ả ranh khiếp. Bọn tướng tá đọc biên bản sẽ rất yên tâm. Các phóng viên gửi bài về nước, dù các ban biên tập cắt xén xào nấu lại để khỏi mếch lòng nước đồng minh, vẫn còn một số mũi nhọn tố cáo. Bọn ác ôn này có bao giờ đọc báo nước ngoài đâu mà biết. Bọn tâm lý chiến ở trung ương tinh hơn, phát hiện được, nhưng giữa lúc lộn tùng phèo này sức mấy mà vươn tay ra tới vùng Một chiến thuật, tận đèo Hải Vân!

Qua một giờ nghe đối đáp qua lời dịch, viên chuẩn tướng che miệng ngáp, rồi đứng dậy:

- Chắc quý vị cũng như tôi, rất bận trong tình hình mới. Trước khi chấm dứt... ờ, ờ... cuộc phỏng vấn này, tôi xin hứa hẹn vài lời. Thiếu tá Khánh sẽ được chuyển sang nhà tạm trú của sĩ quan cấp tá, ăn uống theo mức sĩ quan đồng cấp, có người đem đến tận phòng. Thiếu tá có quyền mặc quân phục nhưng tạm cất quân hàm, tiếp người nhà và nhận quà mỗi tuần bốn lần tại phòng riêng. Những đứa đã đối xử không tốt với thiếu tá sẽ bị trừng trị. Riêng tôi, là người quý trọng thiếu tá, tôi... è hèm… mong Hội đồng tướng lãnh xóa hết nghi ngờ, để thiếu tá mau mau về cộng tác với chúng tôi.

Từ đó, Khánh được chuyển từ xà-lim biệt giam sang chỗ giam lỏng thường dành cho sĩ quan bị gọi về chờ xét kỷ luật. Buồng kê hai giường nhưng chỉ một mình Khánh ở, được quét dọn hơi quá kỹ: người dọn buồng xốc cả chăn đệm ra sân đập giũ, bắc ghế lên quét nóc tủ, xếp lại tập báo trên bàn cho đúng thứ tự ngày tháng, cầm những cuốn sách trinh thám tiếng Pháp và Anh lên vỗ cho sạch bụi. Bàn ghế là loại dã chiến khung nhôm, nếu có ngăn kéo chắc hắn cũng rút ra dọn hàng giờ. Khánh cười thầm trước kiểu làm ăn vỡ lòng của bọn an ninh, hay mật vụ chẳng biết.

Hay đến nhất là chị bếp, mang đến những đồ dùng và áo quần của Khánh, chị vẫn ở trông nhà và cơm nước cho thằng Chung. Nó kéo cả chục đứa trong cái băng bụi đời của nó về nhà, mở nhạc điếc tai cả xóm, uống bia, hút thuốc đầu lọc, bỏ học hoàn toàn. Nó lấy đồ trong nhà đi bán lần hồi, chị bếp can bị nó chửi rát mặt. Mà nó mới mười bốn tuổi! Chưa lần nào nó đến thăm ba nó tuy không ai cấm.

Đến thăm ít hơn nhưng có ích hơn là cậu hạ sĩ hộ vệ. Rất kín đáo, cậu ta giúi cho Khánh một xấp tiền kèm thư của Mỹ Duyên. Quà công khai chỉ có bia và đồ hộp Mỹ.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #273 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2017, 03:53:53 pm »

Sau hơn chục ngày giam lỏng, Khánh nhận được lá thư thứ hai của Duyên, viết trên giấy rất mỏng:

“Lão Bảy đánh hơi anh kiếm ra tiền, muốn bắt anh tạ ơn lão xếp đại úy cho anh từ đầu, sau lên thiếu tá mà chút quà cũng chẳng có. Lão quanh co miết, sau nói thẳng nhờ em nhắc khéo “ông bạn chung của chúng ta”, lão chỉ biết phần em tới mức đó. Lão khuyên anh chưa sẵn tiền thì mượn ông cha dượng hay bà mẹ trong Sài Gòn, sau trả không khó, thời buổi nhốn nháo này giàu sang mấy hồi. Phần lão được lên cấp sau ngày 1-11-63 cũng nhờ nộp gấp hai chục triệu cho Hội đồng tướng lãnh.

Phần anh, lão hẹn nộp triệu rưởi thì ra tù, phục hồi danh dự và cấp bực. Một triệu thì cũng ra tù nhưng ra khỏi quân lực luôn, coi như được mãn hạn động viên. Em đang giữ của anh gần ba triệu, khỏi phải vay. Em khuyên anh bí mật cò kè với lão, thí một triệu chắc lão cũng nhận cho phục chức. Ra làm thường dân, bán cháo phổi trường tư, rầy rà lắm anh ơi. Một thằng phường trưởng, một đứa mật vụ giả hay thiệt đều có thể gây sự, vu cho anh là ác ôn cần lao nhơn vị, tay sai hạng nặng của Nhu-Diệm, buộc anh chi địa mập 1 , cứ nấn ná ít lâu nữa cho qua sóng gió rồi tính sau. Chiều chủ nhựt em tới chỗ anh-À quên, em gặp lão Bảy ở nhà riêng lão. Ra tới gần cổng chính, hai thằng an ninh chặn soát em rất kỹ, còn sai con điếm nào đó dẫn em vô buồng trong soát cả người nữa. Nói là khám võ khí, em biết coi có bí mật ghi băng recorder lời lão Bảy không. May em không mang máy ghi, không một chữ trong bloc-note. Gặp nhau, chúng ta sẽ nói như người thăm nuôi gập tù, chuyền giấy mật. Chắc buồng anh có đặt máy thu tiếng, họ mới cho anh ăn ngủ và tiếp khách trong buồng”.


Khánh đếm tiền xong, đẩy về phía cậu hạ sĩ bốn ngàn đồng, chia làm hai xấp, nói to:

- Tôi bị bắt oan, may có hạ sĩ với chị bếp coi ngó dùm nhà cửa, giữ cho thằng Chung đỡ phá. Chắc ít lâu nữa tôi được về nhà, sẽ kiếm chút ít tặng cậu với chị tiêu thêm. Cảm ơn nhiều nghen.

Khánh kín đáo khoát tay, rồi dựng hai ngón để báo cho tiền hai người. Anh vào buồng tắm đốt lá thư trong hố xí, khi ra thì cậu hạ sĩ đã đi. Anh bước ra thềm, khẽ huýt sáo và búng ngón tay. Cậu đốc gác, cũng là lính quân dịch lên hạ sĩ như cậu hộ vệ, tươi mặt chạy vào lãnh phần quà thăm nuôi. Khánh dựng một ngón tay trên môi ra hiệu im lặng, vừa nói vừa đếm tiền:

- Tôi còn mấy đồng dính túi, an ninh thấy không đáng thu, nhờ hạ sĩ ra căng-tin mua dùm mấy gói Ru-by với vài chai bia, còn đủ thì mua một ít rượu, tôi tiếp bạn bè (Khánh đẩy tới xấp tiền dày hơn). Còn mấy đồng lẻ thì cho luôn mấy cô xec-via, chẳng đáng gì (Khánh đẩy xấp tiền mỏng hơn, chỉ vào tay đốc gác, hất hàm. Cậu kia rập chân chào kính, nhét tiền vào hai túi khác nhau, ra vội).

Khánh vào buồng tắm, gài chốt, đếm số còn lại được hăm hai ngàn. Để dành vất cho cái thằng quét dọn hai ngàn, nó đỡ xốc xới. Khánh gói số còn lại vào túi ni-lông, bắc ghế leo lên giấu trên trần gỗ dán, đậy nắp thông hơi như cũ.

Y hẹn, Mỹ Duyên đến vào giờ thăm nuôi chiều chủ nhật.

- Kính chào thiếu tá. Tôi được phép tới thăm thiếu tá, coi thử số phận một sĩ quan theo đảng Cần Lao ra sao.

- Rõ khổ, tôi chưa hề được Đảng Cần Lao để mắt tới...

Duyên liếc nhanh qua cánh cửa để mở, giơ trước mặt Khánh một tờ giấy viết chữ to: “Nên đồng ý phục chức. Em mặc cả lâu, lão chịu một triệu rồi. Anh còn nhiều, đừng lo”.

Khánh ngần ngừ lần cuối, rồi gật đầu. Mỹ Duyên nói ngay:

- Tháng mười một mưa dầm, mà mấy ngày nay nắng khô, bụi đường bay mù sau xe. Vô phép thiếu tá, tôi rửa chân tay chút xíu.

- Xin mời bà...

Duyên vào buồng tắm đốt tờ giấy, vừa ra ngồi chỗ cũ thì một trung sĩ an ninh xách giỏ quà thăm nuôi vào đột ngột:

- Thưa bà, kiểm soát xong.

- Không có đồ quốc cấm? Không chứng cớ buộc tội thiếu tá?

Tên trung sĩ nhũn nhùn, xoa tay:

- Thiếu tá ra khỏi đây lại cầm đầu tụi em, ai dám hỗn.

Khéo nói vậy, nhưng khi Duyên trải tấm nhựa và bày quà ra bàn, thì khúc dồi thịt chín đã bị xắn làm tư, gói bích-quy đã bị xé miệng, chai cô-nhắc ba sao bị rách lớp thiếc mạ vàng bao quanh nút cổ chai, chỉ có gói thịt chà bông và mấy chai bia còn nguyên dấu, tảng pho-mat Hòa-Lan xắt sẵn thành miếng mỏng cũng vậy. Duyên đưa mu-xoa chấm mắt, cố cười thành tiếng:

- Lệ thường, phóng viên chúng tôi phải thù lao cho người trả lời phỏng vấn. Trong hoàn cảnh thiếu tá hiện nay, không được nhận tiền người ngoài, xin thiếu tá nhận cho chút tặng vật...

Bàn tay Duyên dưới bàn khẽ vỗ vào đầu gối Khánh. Anh luồn tay xuống, đón một xấp giấy bạc nữa. Duyên xòe năm ngón tay: năm chục ngàn. Rướn người tới nói rất khẽ: For the guards, piecemeal 2 . Khánh gật, nhét túi áo lót, tiễn Duyên xuống đến sân, cúi đầu cảm ơn bà Xi-mo-nét đã quá bước đến thăm một người bị nạn.

Tối hôm ấy, tất cả tiểu đội lính gác khu nhà giam lỏng các sĩ quan tạm bị lột lon được mời vào buồng Khánh hưởng chung quà thăm nuôi. Khánh còn nhắn gọi cả tên an ninh mặc đồ thường, đeo tạp-dề vào quét dọn hằng ngày. Khánh nói rất kẻ cả:

- Lâu nay mấy chú em nhọc mệt với qua, gởi xác trong rừng, mà cực vì lo qua với mấy ông tá úy ở đây biến mất. Lính mà, đứa chó nào không biết nhảy tường, ném chăn đệm vượt kẽm gai, bò hỏa lực, né hỏa châu? Mấy cưng nghe phải chưa?

Bọn lính cười ồ, lại suỵt nhau khẽ mồm.

- Thỉnh thoảng bị cấm trại lâu quá, quan với lính thay phiên nhau rúc rào đi kiếm gái, qua biết mà cũng nhắm mắt. Bị cái đang khi minh oan, qua đoán chắc sẽ đeo lon như cũ, dại gì làm rắc rối cho mấy cưng, cho qua nữa... Bà nhà báo Xi-mo-nét chẳng biết luật lệ gì, đem tới trả cho qua hai chục ngàn, đền công qua trả lời nhiều câu hỏi của các báo ngoại quốc. Người Âu Mỹ trả cao mà sòng phẳng lắm. Đem nộp cho trại trưởng e nó bốc hơi mất, ta nhậu với nhau thôi. Qua chỉ huy nghen: chú mày gác cứ gác, cầm chai bia với ít đồ nhậu ra chỗ bót nhấp sơ sơ, nửa chừng qua cho người ra thay. Chú nhỏ này bảnh trai, cầm tiền ra ve mấy cô căng-tin sao cho tụi đào tơ chịu vô mở kho, lấy heo quay xúc xích ra bán, chớ về đêm tụi nó chỉ bán giải khát với bánh kẹo thôi. Cùng lắm vác đồ hộp về, đủ nhậu là được. Còn ông bạn dân sự rất tận tụy đây, quen xếp dọn cả giang sơn này, nhờ ông mượn-pông-sô hay thứ gì về trải ngồi, mượn ly cốc chén đũa, vài bộ cà-mèng ăn cơm lính... Mấy đứa còn lại khiêng bàn ghế ra ngoài thềm, quét dọn. Quick, quick!

Bọn lính bật cười khi nghe tiếng giục “nhanh lên”, tiếng đầu lưỡi của hàng chục ngàn cố vấn Mỹ đi kèm các đơn vị, rối rít làm theo lệnh người tù. Khánh vẫy tay hạ sĩ tiểu đội trưởng ra thềm:

- Tụi bây có đứa nào mới cưới vợ không?

- Thằng Sùng cưới tháng trước. Nó hiền mà hơi khờ, nghe đánh rắm cũng “dạ có tôi”.

- Được, hễ bọn tuần tra tới gây sự, bây cứ nói mượn buồng tao để bắt nó khao, rồi kéo bọn đó vô cho hưởng rượu cặn đồ thừa để trám họng.

- Dạ, em hiểu.

Vài chục phút sau, Khánh đã ngồi xếp bằng với đám lính:

- Mời các chiến hữu nâng cốc... chúc mừng cách mạng đại thắng... chúc mừng qua cùng các chiến hữu, ở tù và gác tù, đều được làm lính kiểng, khỏi ra trận!

Cười rộng miệng nhưng ít ồn ào. Cốc chạm nhau lách cách. Rượu trước để nhập khẩu vô tang, xong chai nào vất vỏ chai ra ngoài rào ngay. Uống suông kiểu ấy mau say. Cuộc nhậu nửa chừng hết rượu, thực khách bắt đầu ăn nhồm nhoàm, từng lúc chép miệng vì chưa đủ nghiêng ngả. Khánh hất hàm ra hiệu. Tên hạ sĩ gật đầu, bước ra ngoài với cái túi dết. Rất nhanh, hắn trở vào xách một túi phình to gồ ghề. Hắn mở năm chai bia cao, rót đầy một lượt vào các ca sắt to úp khuôn dưới các bi-đông Mỹ, để dồn năm vỏ chai bia một chỗ. Hắn rút trong túi dết ra ba chai đế trong veo, một cái phễu, búng ngón tay, trỏ vào tên an ninh và một lính nữa, lại trở vào buồng tắm. Lát sau trên mâm hiện ra năm chai bia loại bốn mươi lăm độ, và thêm ba vỏ chai rượu nữa bay qua hàng rào. Khánh uống rất ít, tỉnh táo nhắc hạ sĩ cho thay gác và đốc gác “để hai chiến hữu nữa làm cốc bia mừng cách mạng”. Bọn lính gác chỗ thâm nghiệm này quen thủ khẩu như bình, dù say đến mấy cũng không hở miệng, lỡ lời thì cũng bị đồng đội thúc cùi tay vào sườn đau điếng. Đã có đứa quá say nói bậy, chặn không nổi, chúng phải trói tay chân, nhét giẻ đầy mồm, đem bỏ ra góc rào vắng, trùm pông-sô như mớ bao cát dự trữ bên lô-cốt.


------------------------------------------------------------
1. Trả nhiều tiền.
2. Cho bọn gác, từng ít một.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #274 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2017, 03:57:16 pm »

Mười giờ tối, giờ Sài Gòn vẫn giữ cho chạy trước giờ Đông Dương một tiếng, rượu bia đã ngấm, đồ nhậu đã gần cạn. Hai tên được lệnh thiếu tá chạy ra nhà mụ Thỉ gần đấy kiếm thêm rượu thịt, mụ là vợ một thượng sĩ già luôn có rượu lậu và đồ nhắm trong buồng kín. Chúng mang tiền và vỏ chai bia rỗng đi, xách về năm chai đế và một mớ thịt cá hộp, cả một cốc đầy tôm khô ngâm dấm và hành kiệu muối.

Bữa tiệc lại tươi lên lần nữa. Bọn lính tấm tắc khen mãi thiếu tá Khánh hết sức bình dân và chơi đẹp, không một lần đánh chửi lính, sống như ông thầy tu thứ thiệt.

- Nghe đồn thiếu tá biết bảy tám thứ tiếng, đúng không?

- Tao đã dặn, lon rụng rồi, kêu tao là anh Hai, anh Haaai!

- Đâu dám... è... thòi buổi này biết đâu mà lường... è...

- Chừng được gắn lon lại, thiếu tá đừng quên tụi em nghen. Coi đó, tụi em đâu dám hỗn hào... Híc! Híc!

Chợt có tiếng còi bấm hai tiếng ngoài cổng, một chiếc com-măng-ca Uy-lítx đỗ xịch. Tên hạ sĩ chạy vội ra trong khi tên gác mở khóa, cả hai kéo đôi cánh cổng có lưới kẽm gai bọc mặt ngoài. Chiếc xe gắn biển một sao của chuẩn tướng vòng đến sát thềm. Viên tướng bước đến cửa buồng, đứng cau mày, trong khi tất cả giơ tay chào kính. Y hỏi xẵng:

- Làm gì mà kéo vô đầy buồng thiếu tá, hả?

Tên hạ sĩ nói dẻo hơn kẹo kéo:

- Trình chuẩn tướng, tiểu đội em có thằng tửng này, thằng Sùng, binh nhứt, mới dại khùng cưới vợ. Nhà nó bằng cái lỗ mũi, ở dinh trại, nó nằm giường tầng ba, chẳng có chỗ nào mời các chiến hữu. Dạ thưa, cưới xin mà không trình làng thì bị chưởi thúi mả cả họ. May nhờ thiếu tá đây hoan hỉ cho mượn buồng chốc lát để nó mời anh em uống lai rai la-ve củ kiệu, mừng nó có nhợ cột chân, có gông đeo cổ. Thiếu tá đây cũng hạ cố cụng ly mừng cách mạng toàn thắng, mừng chuẩn tướng vinh thăng...

Viên chuẩn tướng liếc nhìn hai tấm pông-sô chỉ bày những chai bia và vài thứ đồ hộp hiền lành, do dự vài tích tắc nữa, rồi bật cười rất dễ dàng:

- Thiếu tá cho phép thì các chiến hữu cứ tự nhiên... anh em mình hay giỡn là xin đại tiện... Cho moa một cốc để mừng chú em sa vô vòng kẽm gai của đờn bà, để chúc thiếu tá mau ngồi vô ghế cũ, hay lên ghế cao hơn!

Tên hạ sĩ hối hả rút bi-đông nước chè ra tráng gấp hai cái ca sắt, đổ vào chậu đặt góc buồng trước cặp mắt gườm gườm của tên hộ vệ. Hắn khui bia cao thứ thiệt rót đầy hai ca.

Sau đảo chính, tất cả các tướng tá đều ra rả nhắc rằng mình rất dân chủ, rất thương lính thương dân. Tất cả những vụ giết, cướp, đốt, hiếp lâu nay là do cộng sản bày đặt hay do chế độ gia đình trị họ Ngô gây ra, quân lực Việt Nam cộng hòa ngăn chặn không xiết mới phải lật nhào Nhu-Diệm với bọn Cần lao. Viên chuẩn tướng xuê xoa nâng cốc:

- Nào, ta uống mừng cách mạng, mừng một chiến hữu có bạn trăm năm... Chúc thiếu tá được Hội đồng tướng lãnh mau chóng ra quyết định phục hồi danh dự, chức tước! Mà sao tụi bây cứ đứng như trời trồng vậy? À, chắc hết bia. Thôi khuya rồi, đi mua thêm không kịp, moa cụng ly tượng trưng với thiếu tá thôi!

Bọn lính hối hả dọn dẹp, giấu trước hết những chai rượu giả bia. Lão Bảy sai đưa ra chỗ góc sân vắng hai chiếc ghế; “Để chỗ cho tụi nó sắp đặt. Gớm, khói thuốc ngột như đốt rơm!”. Lão cho tên hộ vệ ra gác thêm bên cổng, vẫy Khánh ra ngồi đối mặt, nói vừa đủ nghe:

- Tụi Sài Gòn kêu điện ra bắt moa coi lại biên bản cuộc phỏng vấn của toa. Các báo đăng lời toa khác xa biên bản, Mỹ Anh đưa tin ngắn thôi, báo Pháp viết dài mà hằn học lắm. Hay toa với bà Duyên chơi xỏ moa?

- Trình chuẩn tướng, kể gì mấy tờ lá cải. Khẩu hiệu tụi đó là “nghe lời thiên hạ, viết theo ý mình”. Gửi bài về còn bị thông dịch viên dịch sai, đả tự viên đánh máy sai, biên tập viên xào nấu lại, tới tổng biên tập gạch sửa thêm bớt lu bù. Bọn em làm tâm lý chiến, biết nghề đó lắm! Như cái bài “Hà Nội khởi nghĩa đòi tự do” là bịa chữ đầu tới chữ cuối!

- Ờ, thôi được. Moa cho sao gửi biên bản vô cho cái lũ bới lông tìm vết… Mà toa đừng chơi trội nữa, cho tụi lính nhậu qua loa một lần đủ rồi... Bà Duyên nói với toa chưa?

- Thưa, nói rồi.

- Nói to trong buồng hả?

- Thưa không, bả viết giấy, em đọc xong đốt liền. Em gật ngay. Nhân đây em cũng xin lỗi chuẩn tướng, được đặc ân mà quên cảm tạ bề trên...

- Xí xóa, cho qua... Có điều mình nghĩ lại giật mình: cũng cần trám miệng tụi an ninh, lỗi phải đôi chút với thằng sư phó. Hay là vầy: toa đưa thêm hai trăm, moa lo dùm chuyện đó. Phần moa nhận ra một thông báo minh oan, phục hồi danh dự cho toa, gửi cho tất cả các sĩ quan trong sư đoàn, tất nhiên là khen toa hết mức. Ngon xơi rồi đó, chịu đi!

- Trình chuẩn tướng, em chưa dành dụm được gì, vay mượn khắp nơi may ra mới đủ một tê nộp tạ ơn chuẩn tướng...

- Thì vay của ông cụ!

- Ba em trốn biệt tăm rồi.

- Yên chí lớn, ông cụ luồn lách giỏi hơn con lươn, hồi Diệm lật Bảo Đại khối đứa đi tù mà ổng từ quận trưởng lên tỉnh phó. Ổng vô Sài Gòn tìm quý nhân phò trợ chứ đi đâu.

Lão Bảy càng nói nhiều càng chuyển sang giọng Bắc.

Khánh phân vân. Chịu ngay thì lão thấy dễ, lại cố moi nữa, đào nữa. Mỹ Duyên dặn rất có lý: cứ dằng dai cò kè. Ở đây mất tự do nhưng chẳng kham khổ gì, bọn lính ngại chính trị nhưng sai đâu chạy đó, kiếm puộc-boa hậu hĩ.

- Xin chuẩn tướng cho em tính lại thử coi vay đâu cho đủ số, em bí quá.

- Ừ, đành thế. Toa cứ dùng bà Duyên làm đầu mối, thu góp đưa cho mình. Tính mình dễ, toa gặp thằng khác thì phải hai ba tê mới thoát. Moa đang cần gấp, bảo bà ấy mỗi tuần đưa một phần ba moa cũng nhận. Toa thêm hai trăm mà được tiếng thơm, nhất toa đấy. Moa đang nợ đìa ra đây, ông sao trên vai nặng cân vàng lắm, khổổổ!

Lão bóp mạnh tay Khánh, bước nhanh ra cổng, lên xe.

Sáng hôm sau, viên thư ký của lão ghé vào chỗ Khánh, rút ra một mớ giấy viết thư, phong bì, tem, bút bi, cả hồ dán:

- Lệnh của chuẩn tướng: thiếu tá được phép viết thơ tự do cho bà con bạn bè, chỉ trừ các phóng viên ngoại quốc. Đốc gác sẽ đưa ra bỏ thùng thư bên cổng. Chào thiếu tá.

Gã không rập gót chào kính vì Khánh không đeo lon.

Suất ăn sáng của Khánh tăng gấp rưỡi so với các bữa trước. Bánh mì nướng giòn, ba quả trứng tráng, bơ, pho-mát mềm trắng, hai bình cà-phê và sữa riêng kèm lọ đường để tự pha chế. Anh ăn nửa chừng đã thấy lính gác bưng và một bộ đồ trà, bình thủy nước sôi, một hộp trà Thiết Quan Âm chưa khui, một chai rum nhỏ để rót vào cà-phê hay trà tùy thích. Cuối bữa, anh đang nhấm nháp cà-phê rum, tên quét dọn vào, khúm núm lấy trong làn ra một khay nhựa tròn có chân cao, xếp lên đấy cả mớ chuối, quýt, táo tây, nho ngoại.

Ái chà, lão Bảy mua mình đây. Lão chẳng cần chi xu nào, ra lệnh là có tất, tiền Nhà nước chịu. Cứ xài xả láng, thiếu gì đô-la Mý trút vào vỗ béo các sĩ quan Việt!

Khi cả bọn đã rút lui, Khánh mới trầm ngâm bày giấy bút ra. Nghĩ cách viết sao cho hợp pháp, vì bọn Phòng nhì và An ninh quân đội sẽ bóc xem. Thứ hồ chúng phát, Khánh đã dùng từ lâu: xếp cả lô thư vào thùng, mở một luồng khí trong bình sắt có ký hiệu mật, tất cả các bì thư đều bật nắp dán tanh tách. Thông thường tụi Phòng nhì đốt bỏ một phần tư đến một phần ba số thư kêu đói khổ, trách cấp trên kéo dài hạn quân dịch, tuôn lời bất mãn.

Khánh viết thong thả, cân nhắc từng chữ:

- Thân gửi bà Tuyết Trinh, Hội thông thiên học Đà Nẵng

- Kính gửi chị Ánh Mai, chủ nhân vũ trường Boston Đà Nẵng.

- Kính gửi bà Mỹ Duyên, chi nhánh AFP Huế - Đà Nẵng.

Các địa chỉ ấy đều do Mỹ Duyên nói và bắt Khánh nhớ thuộc lòng.

Phần ruột mỗi thư đều là năn nỉ vay tiền rất gấp, sẵn sàng trả lãi cao hơn ngân hàng, nhờ bà Duyên ký giấy bảo lãnh và đem vào hộ cho Khánh để trả một món nợ thua bạc cay cú.

Chỉ qua một tuần, Duyên đã gom đủ và trao tay cho lão Bảy sáu trăm ngàn. Còn lại một nửa. Duyên hứa chỉ giao khi nhận được bản thông báo về Khánh, không phải chỉ in rô-nê-ô mà đăng rộng rãi trên các báo bên ngoài. Lão Bảy bị nợ thúc réo, phải ký vào-một thông báo gần giống như tuyên dương công trạng. Lão đích thân đến gắn lại lon cho Khánh, đưa về tận Phòng tâm lý chiến để Khánh ngồi vào ghế cũ.

Đến đấy Duyên mới chịu đưa sáu trăm ngàn hẹn trước. Dần dà mới rõ, bằng hăm dọa và bắt bớ, lão Bảy thu được bốn chục triệu, nghĩa là một vốn một lãi. Sau lại biết thêm, lão chỉ nộp mười ba triệu tất cả. Lão vỗ tuột chỗ còn nợ khi phe Dương Văn Minh bị phe Nguyễn Khánh làm “chỉnh lý” lật đổ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #275 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2017, 03:18:20 pm »

Chương 13


Cả Chanh vẫn chưa nhận ra giờ này là sáng hay chiều. Anh chỉ thấy một lớp sương mù đậm đặc trắng pha vàng, với những quả bóng đỏ xanh tím bay nhởn nhơ gượng đưa tay lên dụi mắt, vẫn nguyên những màu sắc cũ. Chống cả hai tay xuống sạp tre mục, cố ngồi lên, anh không nhấc nổi cái đầu, nó quá nặng.

Dường như khối thủy ngân nằm im trong đầu anh bắt đầu rung rinh sau những cố gắng ấy. Anh nhỏ dần từ gần đến xa, hẹp đến rộng.

Cô Tơ-bon, em đồng chí Tơ-rin, tìm thấy Chanh nằm mê man bên bờ suối, đã dìu anh đến cái chòi cũ này, nấu cho anh một ống tre nước lá mâm xôi, một nồi sắn, trước khi đi bắt liên lạc với đội du kích và những ai sống sót sau trận tập kích vào cơ quan huyện ủy. Cô đi đã ba ngày chưa thấy về. Có thể bị bắt đâu đó. Đội du kích làng Blam và Blin cũng chẳng thấy đâu.

Xuân năm ngoái, trận càn lớn “tát nước bắt cá” đã lùa dân các làng Thượng mé trên sông Linh xuống làng định cư Linh Sơn kẹp giữa các đồn bót và các thôn xóm di cư. Đội du kích làng Blam còn 12 người, chỉ sau mấy ngày đã móc nối được với bà con đang dựng ấp chiến lược, mượn cớ vào rừng lấy tre gỗ để đem gạo muối cho du kích. Lảng vảng quanh các làng rút vào bí mật mà địch với tay không tới, chỉ khổ vì thiếu muối, sắt, vải. Hai cán bộ thôn bỏ cuộc, đem vợ con nhập vào làng nào có họ hàng nhiều, dựng lều phát rẫy, coi như mãn mùa cách mạng.

Cái chòi bí mật này là của du kích làng Blin, nằm kín trong những lùm mua và sim gần con suối nhỏ. Họ chỉ dám xuống “trung châu” tới đó, cách thôn Linh Sơn chừng bốn giờ leo dốc và lội ngược suối. Nồi, củi, gạo giấu trong một hốc đá còn kín hơn. Cô Tơ-bon biết chỗ vì nhiều lần tới liên lạc, lần này không gặp ai, không tìm ra gạo, chỉ hối hả mót trong một rẫy cũ được một ít sắn lưu niên đầy xơ để nấu cho anh bí thư tỉnh ủy.

Những bước vùn vụt đi lên sau ngày Diệm đổ đã gây một cơn bốc đồng mới. Các rào ấp chiến lược cháy suốt đêm, dân phá đồn trở về ngày càng nhiều, tề điệp co lại, ác ôn mới xế chiều đã lên đồn ngủ nhờ. Tiếp tới cuộc chỉnh lý của Nguyễn Khánh nữa, cán bộ và du kích Tây Quảng đã bốc lại càng bốc. “Quyết chống chần chừ do dự, không bỏ lỡ thời cơ”. Các chỉ thị của liên khu nhắc mãi “tiến công mặt trước, giữ vững mặt sau”, bị quên vế thứ hai. Kéo hết xuống đồng bằng, đánh rốc một chiến dịch lấy hết nông thôn đồng bằng, chỗ nào chưa đánh trốc được thì vây đồn bắn tỉa, giam đói giam khát, buộc ra hàng.

Huyện ủy Tây Quảng đã thông qua một nghị quyết giống lời Hịch tổng phản công như thế trong cuộc họp say sưa. Đồng chí Tơ-rin cũng tán thành. Thọc sâu xuống đồng bằng là giải vây cho miền núi đang khốn đốn vì địch cố chặn nguồn tiếp tế, một con gà mái ấp chỉ đổi được hai thìa muối, một heo choai mới được một lưỡi rựa sắt non.

Các đồng chí trong huyện ủy đều kéo xuống đồng bằng, dù tự nguyện hay miễn cưỡng, dù đi cuối hay đi đầu các đội võ trang công tác. Cả đám y tá, thư ký, in li-tô, liên trinh, bảo vệ đều đi tiến công mở ra. Chỉ còn lại ở cơ quan huyện ủy Tây Quảng một phó bí thư đang sốt rét nặng, chị nấu ăn, cậu tiếp phẩm khỏe mạnh chuyên đi cõng lúa “đảm phụ giải phóng” và xay giã rất khuya, xong lại xuống trạm tiếp tế mật cõng muối về, đôi khi được thêm vài hộp vị tinh hay một bình mắm cô.

Tháng ba năm nay, 1964, bùng ra trận càn lớn gấp bội năm ngoái vào “mật khu Đỗ Xá” của liên khu 5, kèm theo cuộc càn ác liệt vào miền Tây của các huyện Tây Quảng, Trà Mi, Tam Kỳ. Địch chặn dưới, khóa trên, cho Việt Cộng hết chỗ chạy, quyết bắt trụm cả các bộ máy của khu và tỉnh. Bắt về khai thác được là tốt nhất, chặt đầu mang về là nhì, cùng lắm là xua vào chỗ chết bệnh, chết đói, chết vì chất độc hóa học rải khắp nơi.

Cả Chanh về Tây Quảng mươi ngày sau khi địch đánh lớn, thọc sâu. Cơ quan huyện dời xuống ở hẳn trong làng Linh Trung được giải phóng mùa thu năm ngoái, bị bom mảnh bom lửa rất nặng, phải bật lên rừng cách vài cây số, chỉ để lại vài giao liên bám làng, giữ các mối dây dưới lên và trên xuống.

Các thôn xã giải phóng xa chỗ trọng điểm càn không bị hại nhiều, còn nhân lúc địch gom quân mà lấn tới làm chủ nhiều nơi. Cộng cả vùng đồng bằng và ven biển của ba huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, có mười bảy xã liên tiếp khởi nghĩa “hoa nở trong lòng”, áng chừng địch chỉ líp lại được một nửa. Tam Kỳ giữ được vùng giải phóng nhưng tiến công chậm. Tiên Phước dựa vào bộ đội tỉnh hơi nặng, du kích và bộ đội huyện yếu, dù sao cũng giữ nổi phần lớn bốn xã trung du bị lấn chiếm cuối năm ngoái. Tây Quảng đang là cái lá chắn cản địch từ đồng bằng cố lên hợp quân với các tiểu đoàn lính dù và biệt động được vô số trực thăng trút xuống Đỗ Xá, sục khắp núi rừng tìm diệt các cơ quan thuộc liên khu.

“Bí thư phải có mặt chỗ gay go nhứt”. Anh Tô Xáng hay nhắc vậy, Chanh cũng ghi nhớ vậy. Giao công việc của tỉnh ủy cho phó bí thư và các đồng chí khác xong, anh ra đi theo thứ tự nối đuôi xưa nay: con Dồ trước xa, cậu giao liên Thượng cầm ná và đeo lựu đạn, cậu bảo vệ mang tiểu liên Tuyn cải tiến đã rút báng và đựng băng kèm ba lựu đạn chày từ miền Bắc đưa vào-thứ này ném được xa hơn nhiều so với các loại da láng da khía của Mỹ. Đến Cả Chanh, đã cạo râu và tạm trút lớp vỏ cụ Thượng từ khi cách mạng tràn xuống đồng bằng. Anh len lỏi giữa các ấp chiến lược, các đồn và cánh quân phục kích, lách qua các trận càn, và gặp may hơn anh Tô Xáng là chưa hề dính đạn, dù xuống tận mép, sóng biển hay luồn tới ngoại ô các thị xã.

Đến huyện ủy Tây Quảng, Chanh không bằng lòng ngay từ đầu. Cơ quan đóng trong một trại huấn luyện tân binh khá rộng, có cả sân bóng chuyền, đường ra vào băng qua đồi tranh rất lộ liễu. Lúc này có tới gần hai chục đội viên võ trang công tác và cán bộ các ngành các xã bị bật lên núi. Đã chạy tránh giặc mà còn làm phách, họ cứ đốt lửa thả giàn, vãi súng đạn đồ đạc lung tung, mở đài oang oang tỏ ý chẳng biết sợ là gì. Ai nhắc cảnh giác thì họ xì xịt, bĩu môi, cười khẩy. Ở đâu cũng có những người như thế: cán bộ bỏ dân mà chạy vẫn làm bộ coi giặc rất xoàng, bộ đội mất tinh thần rút lui vẫn cố đánh thằng tù binh vài cái tát để tỏ ra căm thù đế quốc, tất cả đều theo kiểu rẻ tiền nhất. Ngay trong tỉnh ủy cũng có vài người như thế: hò hét tiến công và tiến công, tiếp đó ép tay trên ngực ho khan để các đồng chí hiểu cho mình ốm yếu, rất tiếc không lao vào khói lửa được.

Chanh khuyên họ làm như bộ đội đánh đồn hay phục kích: giấu mình thì giấu hết sức kín, “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”, khi nổ súng thì long trời lở đất. Vây vo như nơi này, ích gì?

Anh phó bí thư ốm khặc khừ. Cậu chánh văn phòng, chỉ quen nếp bàn giấy, cho giao liên cõng tài liệu mật ra giấu kho mật. Số tản cư lên núi được lệnh về bám dân, chỉ bám từ nửa đêm đến một hai giờ sáng, đủ thì giờ để ăn đẫy và xin gạo muối cõng về.

Đồng chí bảo vệ có mang theo một bộ câu cắm, vài chục que tre già vót nhỏ và mềm, nối nhau bằng sợi cước dài phồng cá to đớp lôi bật cần câu. Cậu ta đi mốc mồi cắm câu lúc sẩm tối, trong đêm đi gỡ cá thay mồi hai lần, Chanh nhận gỡ cá lúc mờ sáng vì quen dậy theo vượn hú. Mỗi đêm được vài cân cá, nấu với rau ranh hay măng cũng đỡ háo.

Sáng hôm thứ ba Chanh đến, anh ra suối với con Dồ, đến chỗ vũng suối dài cách cơ quan nửa cây số. Hôm nay trúng khá, phần lớn các cần câu đều trĩu ngọn, rung rinh.

Trời mới hưng hửng sáng, anh đã lấy được nửa giỏ, chừng hai cân, còn lấy tiếp. Tiếng súng đủ loại chợt nổ rầm rầm phía cơ quan, chen rất nhiều tiếng lựu đạn và tiếng súng phóng lựu M.79 nhỏ hơn. Mươi phút sau, tiếng súng thưa bớt và tản rộng hơn: địch lùng những người sống sót. Rồi dậy to dần tiếng trực thăng bay tới. Chanh nép gốc cây, ngửng xem: bốn tốp H.34 đến rời nhau, mười hai chiếc. Nhiều luồng khói xanh chỗ đồi tranh phụt lên đón. Từng hai tốp một, các H.34 xuống đứng, trong khi hai chiếc trực thăng phản lực vòng ra xa, xối đạn chung quanh đám cháy khu trại cơ quan, bắn dai như trâu đái cuối buổi cày. Một loạt đạn quét trúng chỗ anh núp, nhưng thân cây to che đỡ được, vẫn nghi gì đấy, cặp HU.1A còn phóng thêm vài chục rốc-két vào những chỗ cây rậm. Cánh quân rằn ri nối nhau lên trực thăng.

Một giờ sau, đợi tiếng súng và trực thăng hết hẳn, Chanh mới lò dò trở về cơ quan huyện. Con Dồ chạy trước, ngửi mùi nước đái mà nó chuyên ghếch chân són mỗi quãng một tí dù đi đường quen.

Nó bỗng thụp bốn chân, gừ gừ rất khẽ trước một mớ lá khô bốc mùi địch. Chanh luồn tới quét lá, tìm thấy một quả mìn Gíp vỏ nhựa, nổ đủ phá chân. Địch càn, thường để đi cuối một nhóm công binh gài mìn: một tên cầm vồ nện xuống đất, để lại một lỗ vừa khít quả mìn xanh lá giống một lát bánh tày hay bánh tét nhỏ, hất một ít lá phủ trên là xong. Địch đã khám phá ra: một Việt Cộng chết ít gây bối rối vì chỉ cần đồng đội khiêng đi chôn và truy điệu, một VC toác chân đến gối sẽ phải khiêng leo núi khá xa đến bệnh xá-ba người thay nhau khiêng, bốn người mans súng và ba-lô gấp đôi, sau đó, phải cưa cắt và điều trị lâu, phải được khiêng ra tận miền Bắc để làm chân giả vì không thể chống nạng trèo dốc. Chúng biết nghiêm lệnh của VC là không được bỏ thương binh liệt sĩ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #276 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2017, 03:23:41 pm »

Xem dấu giày, Chanh đoán bọn biệt động này chừng một đại đội, luồn trong rừng rậm mé sau khu trại đánh úp. Anh chị em ngủ không gác, chạy túa ra mặt trước, vượt rèm cây mỏng là gặp đồi tranh còi, tha hồ hứng đạn vào gáy vào lưng. Nếu con Dồ rất tỉnh ngủ không bám theo anh đi gỡ cá, hẳn nó nghe tiếng và ngửi mùi lạ, đã sủa báo động đủ cho một số kịp chạy hay bắn trả.

Địch đã thu hết xác và giải sổ bị thương, bị bắt về làm triển lãm trong “lễ chiến thắng”. Rất nhiều dấu máu rải từ bãi tro bốc khối ra đồi.
Chanh vẫn kiên nhẫn quét chổi lá dò mìn, tìm xem có ai bị thương lọt vào bụi rậm khuất mát địch chăng.

- Giơ tay lên!

- Bắt sống Việt Cộng... bắt sống...

- Biệt động, sááát!

Khẩu súng ngắn ba nòng vẫn cầm trên tay, Chanh nhào xuống khúc hào vài chục thước mà trường tân binh đào để tránh máy bay, cũng để tập đánh địch dưới hào luôn, cỏ và tranh mọc hai bên rủ xuống che gần kín miệng. Anh cúi thật thấp, chạy luồn dưới lớp che khuất.

- Báo cáo thượng sĩ, có hầm bí mật!

- Nó độn thổ rồi...

- Dở như cứt! Lựu đạn, Em-bảy-chín, cả trái khói nữa, dộng hết xuống!

Một loạt tiếng nổ to nhỏ bùng sau lưng Chanh. Con hào chạy chữ chi, các thứ mảnh không đến lưng anh được. Nhưng hào chỉ dài hơn hai chục thước. Anh thở vài hơi đỡ mệt, rướn đầu lên thật êm tìm đường thoát. Con Dồ hổn hển sau lưng anh, rên khẽ. Nó không nhảy cao được một thước sáu để lên mặt đất, trong khi anh có thể dùng cả tay chân để vượt con hào hẹp. Nhân khi bọn lính ném lựu đạn và trái khói xối xả xuống chỗ anh nhảy xuống khiến chúng cũng bị khói khó thở và che mắt, anh rút dao găm đeo dưới áo bà ba ra, khoét vội hai hàm ếch để đạp chân nhảy.

Anh xốc con Dồ ném gọn lên mặt đất, vọt theo lập tức. Mấy tên đứng ngoài rìa chỗ khói kêu hoảng trong khi kéo khóa nòng tiểu liên:

- Nó, nó kia, nó chạy! Báo cáo...

- Bắn, bắn gấp! Đồ chó, nổ đi chớ!

Chỉ hai tên kịp nổ súng, bọn ở chỗ “hầm bí mật”. Sợ trúng số này, cũng chưa kịp thấy gì, chỉ xách súng chạy nhào tới. Chanh và con Dồ đã kịp nép sau bạnh vè một cây to. Chanh đủ bình tĩnh để quỳ bắn trả hết cả ba phát trước khi chạy tiếp trong chỗ rậm. Sau lưng anh súng vẫn quét tơi bời sau những tiếng kêu thét của bọn trúng đạn. Lâu nay vẫn thế, hễ biết Việt Cộng có thể bắn trả là chẳng đứa nào vọt lên trước: dại gì chết uổng cho đứa khác lãnh thưởng!

Chạy chừng trăm thước, Chanh thấy nóng rát ở đùi, ống quần bết vào chân. Anh dừng, cúi xem, thấy máu chảy xuống khá nhiều. Có tiếng trực thăng, hai chiếc chở quân H.34 và một chiếc võ trang, quần một vòng rồi đáp xuống đồi tranh. Anh đã quên bẵng thói quân ngụy: càn đường bộ hay đường không, chúng quen gài lại một bộ phận về sau, để diệt những VC đến cứu hay chạy lạc trở về chỗ cũ, và các loại mìn sẽ thanh toán những kẻ sống sót. Thỉnh thoảng có bộ phận gài như thế bị lộ, bị diệt, nhưng đấy là số ít, vài ba chục đứa thôi, thường không được nhắc tới nữa. Số cố vấn Mỹ tăng đến trên hai chục ngàn, cả một đạo quân cố vấn, có vô vàn thứ chiến cụ mới đi kèm, tha hồ mà nghĩ ra lắm trò trong cuộc “chiến tranh thí nghiệm” dùng bọn gook làm súc vật mổ xẻ. Chanh được một đồng chí địch vận cho biết từ khinh miệt ấy chỉ người Việt ta, chẳng trừ ai.

Chanh đi chừng vài trăm bước nữa thì chân phải bị chuột rút đau buốt, đầu bung bung, mắt hoa. Anh nép vào bụi sim to, nghỉ và băng. Trong túi tài liệu của anh luôn có bốn thứ phòng thân: một cuộn bông băng có ống thuốc sát trùng của Mỹ, vài chục viên clô-rô-kin Mỹ chặn sốt rét, một túi muối hầm để ăn kiêng khi đau dạ dày, một ve cao lôông tơ-uyn có tính kháng sinh do bệnh xá biếu.

Phải rửa trước đã. Đây vắng nước. Chanh nhắm hướng bò xuống chỗ thấp, kéo theo cái chân bị chuột rút co quắp. Đầu thấp chân cao, tuột dài từng lúc chỗ đất chài, Chanh đến một quãng suối còn nước ri rỉ. Choáng váng quá mất. Anh chỉ đủ sức mở túi muối, xát một nhúm vào chỗ quân bà ba rách che vết đạn xé thịt, ngất lịm luôn. Hình như lúc ấy gần trưa tròn bóng.

Anh được cô Tơ-bon dìu về căn lều bên suối Blin, nửa tỉnh nửa mê sau đợt mất máu. Hình như anh có bảo Tơ-bon xắn ống quần lên cao, hòa nước muối rửa vết thương, bôi cao lôông tơ-uyn, băng lại, đi báo cho anh Tơ-rin và cho chị Thùy vợ anh. Suốt mấy ngày qua Tơ-bon không quay lại.

Vết thương tấy ít nhưng vẫn gây sốt. Nhân đó, các chứng cũ cùng một lần “đồng khởi”. Sốt rét, dạ dày, thấp khớp xúm quật nhào Chanh đến độ cùng kiệt, hấp hối. Giữa hai cơn sốt, anh chỉ đủ sức gượng dậy, lật bật uống chút nước nồng mùi ống tre, lại nằm vật xuống sạp tre đã mục ngả đen và nổi mốc. Nước hết, anh định xuống suối, nhưng xương ống chân như đâm lút vào bàn chân, nhức đến kêu trời. Anh đeo ống tre ngang cổ, bò bốn chân đi kiếm nước.

“Phen này mình chết. Chắc chết. Hãy đốt tài liệu mật, vùi súng, gượng viết mấy chữ cài trên ngực trước khi quá muộn, để đơn vị biết tên và nơi báo tử. Hãy làm như rất nhiều đồng chí khác đã lặng lẽ trút hơi thở trên khắp chiến trường Đông Dương mấy chục năm qua, chôn khắp các rùng núi trước ngày toàn thắng.

Từ chỗ nằm xuống suối chỉ ba chục thước. Chanh bò xuống mất chừng hai chục phút, vục mặt xuống uống mãi không muốn ngừng. Anh vỗ vào miệng viên clô-rô-kin cuối cùng, lại uống. Rồi anh vội vã lật ngửa người, đưa tay bịt miệng bóp mũi, nuốt khan dồn dập, cố chặn cơn buồn nôn đang đẩy viên thuốc chòi lên tận mồm. Hình như sốt rét đã bị đẩy lùi, trưa nay không thấy lên cơn.

Con Dồ đói nhưng không rời chủ. Chỉ khi Chanh nằm thiếp, nó mới rón rén dạo kiếm ăn chung quanh lều, cũng để gác luôn thể. Là chó săn nòi lai chó giữ làng Thượng, nó quen tự kiếm ăn trong rừng. Tuy bom đạn đã xua chim thú dạt lên núi cao hơn, nó vẫn chộp được chuột rừng, sóc từ các cành xơ xác mò xuống đất kiếm ăn. Nó vồ được cả bìm bịp nâu đen, những con chim đớp muỗi lông xám đốm trắng ngủ suốt ngày trong chỗ  rậm gai chờ mặt trời lặn. Một lần bí mồi, nó ăn cả những con cuốn chiếu to tướng. Được con gì, nó tha ngay về ăn trước lều để trông chừng. Mỗi lúc tỉnh, ông chủ gọi nó vào bên chỗ nằm, chậm chạp sờ nhổ cho nó những cây gai cắm từ đầu đến mông mà nó không tự nhổ được, bôi cho nó tí cồn i-ốt vào chỗ sây sát chảy máu khiến nó rát đến phát rên.

Bò được đến lều với ống nước kéo lê theo, Chanh trườn lên sạp nằm thở, nghĩ dài dài, soát lại ý định chống giặc.

Dứt khoát chưa đốt tài liệu, chôn súng. Đội du kích Blin để lại trong lều cả một bó cây thông nhựa - vùng này gọi là cây ngo - chẻ ra thanh nhỏ và dài, dùng đi đêm. Chanh đã tháo cả bó ra lót dưới túi dết tài liệu, đặt cái bật lửa và hộp diêm tình cờ sót túi lên trên. Thứ ngo này bén lửa rất nhậy. Cây súng ngắn ba nòng để đầu sạp, qườ tay phải là đụng. Đạn dự trữ đặt trong cái soong thủng, đậy vung. Hễ có động, Chanh sẽ chụp súng lăn xuống đất, bắn trả ngay, đủ thì giờ thì lắp đạn bắn tiếp. Dùng toàn đạn ria hột tấm cho vãi rộng, nòng dưới bắn đạn trường Anh sẽ cố nhằm vào thằng chỉ huy, nếu có thể. Gặp bước đường cùng thì quẹt cả nắm diêm ném vào đống ngo, thả súng vào đấy. Tờ giấy cài ngực đã viết xong, nét qườ quạng: “Nhờ liên lạc trạm H.27 báo tin N.14 đã chiến đấu và hy sinh”. Nếu anh chết luôn trong một cơn sốt ác tính và địch lấy được xác cùng tài liệu thì sao? Anh tính kỹ, thấy mình không thể sốt ác tính đến chết được, vì đã nuôi ký sinh trùng ma-la-ria trong máu những hai giáp, hăm bốn năm, kể từ ngày bị Pháp bắt đưa lên căng và nhà tù trên Kon-tum, chẳng phải như số trẻ từ đồng bằng lên hay miền Bắc mới vào.

Chanh nghĩ dông dài trong những ngày đêm bị các bệnh và đói khát hành hạ, để xua luôn đi nỗi ám ảnh muốn tự sát.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #277 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2017, 03:26:32 pm »

Nạn đầu thú đi kèm nạn tự sát của các đồng chí trung kiên mất lòng tin ở thắng lợi. Nghị quyết chống tự sát của tỉnh ủy có ngăn cản phần nào nhưng không chấm dứt hẳn được những bi kịch như thế. Những đồng chí quá kiệt quệ về sức khỏe và tinh thần được đưa ra miền Bắc theo đường núi, lúc này còn được gọi lẫn lộn là đường Thống Nhứt, đường Hồ Chí Minh, đường 559. Người khỏe đi dưới hai tháng, người yếu chống gậy leo dốc xấp xỉ ba tháng tuy giao liên đã mang hộ gạo và bao lưng. Người cụt chân phải khiêng thì xuống chống nạng đi bộ khi gặp quãng đường bằng, được khiêng chỗ khó trèo. Qua khỏi đường Chín, họ thường được thồ bằng xe đạp của các đội vận tải, khi ra không chở hàng, đến Quảng Bình sẽ được ô-tô đón. Số vụ tự sát xuống còn rất ít, rồi hết hẳn. Nạn đào ngũ giảm nhiều nhưng vẫn còn. Trong đám cán bộ đã từng đánh Pháp, chai sạn với những đợt lên xuống tiến lùi của phong trào, chỉ lâu lâu mới có một người ra hàng, thường là sau khi bị kỷ luật nặng. Hầu hết số bỏ trốn, có hay không có súng, là những anh em trẻ “nhảy núi” trong một cơn bốc đồng, sau đó thấy theo cách mạng là quá cực khổ, quá dễ chết, thêm bị gia đình lôi kéo vì sợ mất con, mất chồng, bèn đánh bài chuồn.

Theo lệ thường, họ được địch đưa về một nơi rất kín đáo. không báo cho gia đình biết, để công an ngụy cho hưởng một trận tra tấn xem có phải Việt Cộng gài người vào vùng quốc gia hay chăng. Ai chịu đòn không nổi và trót nghe lời mớm cung, nhận là VC trá hàng, sẽ được đưa đi “an dưỡng đường” để nghỉ mát, tức là qua nhà lao để nằm xà-lim biệt giam, ăn cơm sạn mắm giòi và chịu mỗi đêm một lần tàu bay, tàu lặn, tàu điện, kết thúc bằng mò tôm trong bao tải buộc đá. Ai ham sống lâu hơn thì được địch giải về khui hầm bí mật hay đánh úp đồng đội cũ. Khui hầm rỗng hay cất vó hụt thì rồi đời luôn, bị bắn sau lưng và cắt tai lấy thưởng. Trận tập kích vào cơ quan huyện vừa rồi chắc chắn có đứa nào đó dẫn. Các đội võ trang công tác mắc kẹt tít dưới sâu kia, hẳn nhiều người biết cơ quan ở đâu, ở ra sao.

Phải đợi cơ sở trong quân ngụy và các ấp chiến lược báo lên cho trạm H.27 mới biết được ai chết ai sống. Nhưng trạm ấy có bị đánh úp không, nếu không bị thì cũng chẳng biết đồng chí bí thư kiệt sức nằm đây như người bán thân bất toại.

Bên ngoài lều, trời đã chạng vạng. Tiếng chim xao xác về tổ bớt đi nhiều nhưng vẫn còn. Đất dưới rừng ngả màu sẫm trước, nền trời vẫn sáng trong buổi hoàng hôn kéo dài của vùng núi. Con Dồ vừa ăn xong một rắn nước khá to, nuốt hết xương, bỗng đứng thẳng bốn chân, gừ gừ chạy xuống suối thật êm. Rõ ra nó chưa biết là bạn hay thù.

Mươi phút sau, nó chạy lên thong thả, không sủa. Tiếng chân bước và tiếng thì thào đến gần. Chanh không lăn sấp xuống đất, chỉ nằm nghiêng và cầm súng sẵn.

Cả một tốp người kéo tới. Cô Tơ-bon dẫn đầu. Còn đủ sáng để Chanh nhận ra Hai Thùy và giật thót mình. Tới Út Thanh Yên cõng con Thanh Bình. Chanh chống tay ngồi dậy, lập cập đánh bật lửa châm vào thanh ngo gài sẵn chỗ chân sạp.

Chỉ có Tơ-bon mở miệng được: “Anh Tơ-rin gác chỗ khe, em xuống thay ảnh”. Lúc này Chanh mới thấy Tơ-bon cầm lựu đạn, cõng một gùi tre nặng. Cô ngồi xệp đặt gùi, cầm lựu đạn đi ra. Út Thanh Yên chợt nhớ, cũng ngồi xuống thả đứng con Bình, nói với nó bằng giọng ngủ mớ, lùng bùng không rõ tiếng:

- Hừ, đòi đi, mới leo dốc sơ sơ đã bắt cõng... mười ba rồi chớ ít đâu...

Thùy bỏ cái bao lưng xuống, lại đứng nhìn chồng trân trân, nước mắt chảy xuống chầm chậm. Chanh tỉnh lại, gượng cười:

- Nhà không ghế, bà con chịu khó lót dép ngồi... lạ lắm sao mà ngó hoài vậy ta?

Châm thêm một cây ngo nữa, Chanh được Thanh Yên đưa cho cái gương chữ nhật nhỏ. Anh soi xem mặt mình: một đống râu tóc bù xù bết đầy đất cát, bao quanh khuôn mặt chỉ còn da bọc xương. Anh nhìn xuống bộ bà ba rách như lá chuối khô và cũng đầy đất cát, chắc sau lưng cũng thế. Đồng chí Tơ-rin bước vào lều, chỉ đứng nhìn Chanh như một người đến dự truy điệu bị muộn giờ.

Tiếng khóc chợt nổi hu hu cùa Thùy đánh thức mọi người. Chanh cười phá lên, rất không tự nhiên:

- Gì mà như đám tang vậy hè? Chanh xe lửa đúc bằng sắt, trầy truột hay hư máy chút đỉnh, ăn thua gì!

Tới đó, từng người mới lo một việc, tíu tít cả lên. Anh Tơ-rin xách ống và soong xuống suối trong khi Thanh Yên nhen bếp lửa, lấy trong gùi ra túi bột huỳnh tinh, hộp thịt nạc chà bông, muối hầm và vị tinh. Yên nói rất ra vẻ thầy thuốc:

- Có gói xôi đậu xanh đó, mà anh ăn sợ thương thực. Em quấy bột nhiều, anh ăn mỗi lần một chén, nhiều lần cũng khỏe.

Thùy bắt anh cởi quần bà ba bết máu ra, hòa nước muối giội vào cuộn băng đã dính cứng vào vết thương, nhẹ tay gỡ dần nó ra. Chanh buốt tận óc nhưng cố nằm im. Điều lạ là chỗ thịt bị xé dài hơn ngón tay không làm mủ, không thối.

- Anh... ai làm thuốc cho anh?

- Tự làm thôi.

- Anh có trụ sinh hả?

- Trụ sinh của người Thượng, là cao lôông tơ-uyn. Hễ ngốt cơn sốt rét, anh tự bôi. Lát anh cho coi.

Nước trong soong đã sôi già. Thùy pha thêm nước muối trong cái ca Mỹ, soạn các thứ rửa và thay băng. Hồi Chanh làm xe lửa, sau về ở Linh Lâm, Thùy học mót được tí nghề y tá để giúp anh em trúng pháo, bà con trong làng cần cấp cứu bước đầu, trẻ con ốm vặt. Nhưng học thuốc nam kỹ như chồng thì không đủ thì giờ.

Trong khi chờ nước nguội, Thùy cùng Tơ-rin thay nhau kể chuyện những ngày qua. Cô Tơ-bon rời Chanh đã thốc thẳng xuống Linh Lâm báo động cho gia đình Thùy, rồi trở về làng Thượng định cư Linh Sơn. Bọn dân vệ chụp bắt Tơ-bon lúc mờ sáng, đem về bót nện khá đau, Tơ-bon không nhận đi tiếp tế Việt Cộng mà chỉ đi tìm con heo sẩy chuồng: “Hắn ủi khoai sắn họ, tui lấy chi tui đền?”. Vẫn cứ bị giam ba ngày. Các ông lão làng Blam cho con cháu đi báo với tỉnh ủy viên Tơ-rin, cùng kéo lên bót kêu kiện.

Trong mấy ngày ấy, Hai Thùy và Thanh Yên đi gặp Cửu Áng, phó đại diện kiêm kinh tài của xã, xin giấy vào Quy Nhơn ở với bà con phía má Thùy. Ở chỗ cậu sơn này quốc gia với cộng sản giành giật nhau liên miên, bom đạn dầm dề chịu không thấu. Cửu Áng đoán những gì chẳng hiểu, nhưng lão chỉ cấp giấy cho mẹ con Thùy được đi với cái giá lót tay năm trăm, còn Thanh Yên thì “để đó cứu xét”?.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #278 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2017, 03:30:05 pm »

Trong trận càn lớn ở Tây Quảng phối hợp với cuộc hành quân “tiêu diệt Đỗ Xá” trên núi thăm thẳm kia, giữ Hai Thùy lại làm con mồi gọi hàng vẫn lợi hơn, nhưng lão hiểu Cả Chanh không biết hàng là gì. Y hệt ông Tô Xáng tức Bát Đập, vợ con bị đưa đi dinh điền trên Cao nguyên trung phần, ông vẫn cứ nhởn nhơ làm bí thư tỉnh ủy phớt đời, cho đến khi chết-mà đố biết ổng đã chết hay chưa? Biết đâu ổng ra Bắc nhận quân, về riềng cổ hết tụi này! Bài học từ năm Ất Dậu Việt Minh nổi dậy lật nhào mọi ông chủ cũ vẫn đọng sâu trong lão như cái nhọt bọc chữa không lành. Gây thù kết oán thì mình bị thí trước, quá rõ rồi. Lão tính đủ các lý lẽ khi ký tên và cộp dấu vào giấy phép của Hai Thùy.

- Bác không thắt ngặt với Út Yên làm gì. Ác nghiệt là trên quận tư giấy về hoài hoài, cấm không cấp giấy cho đám trai gái trẻ đi làm ăn xa. Tụi nó nói vô Sài Gòn, Bình Tuy, Cao nguyên Trung phần, lục tỉnh Nam phần, thiệt ra không phải. Đứa chưa bị nghi thì đi liên lạc cho Giải Phóng, trốn quân dịch. Mối lộ sơ sơ thì “chạy trong”, đổi vùng, thay tên. Bí nữa là nhảy núi, lên xanh, vô bưng. Quốc gia biết hết mới lịnh xuống vậy. Cháu đi họ ít nghi, bên Giải Phóng ít nhận gái lớn tuổi đem theo con nhỏ... À, Cả Chanh mạnh giỏi luôn chớ?

- Ôi bác, làm sao cháu biết được!

- Bác kín miệng lắm, nói nhỏ với cháu thôi nghen: mấy đứa ra hàng tả “cụ thượng” tỉ mỉ lắm, ngó xa cũng biết. Cháu nhắn ảnh đổi hình dạng đi, mặc áo dài đen đội khăn đóng làm thầy bói thầy cúng, bới tóc củ tỏi mặc áo trắng như chức sắc Cao Đài, thiếu gì cách... Cháu cặp Cả Chanh, cứ nói bác quý trượng cả nhà cháu. Bác cầm năm trăm để trám miệng thằng Ba Mít thôi, phải người khác thì ba bốn tạ gạo còn thiếu. Không, không, ơn nghĩa gì đâu Hai! Cháu xuống quận xin tiếp ký, nhớ kẹp năm trăm nữa trong đơn, nó mới đóng mộc cho.

Thanh Yên ngồi lì lì chỗ góc lều trong khi Chanh ăn chén bột huỳnh tinh ngon không thể tả, vào đến đâu tỉnh người đến đấy, tiếp uống thêm clô-rô-kin và các sinh tố. Thứ cao lôông tơ-uyn tốt thật, Thùy chỉ rửa vết thương, bôi cao mới, băng sạch lại.

- Lão Áng không cho giấy, em cũng vù, anh Cả à.

- Nó hốt cả nhà đi quy khu...

- Mai mốt nó bắt em vô lính nhà thổ... Em bị thí à?

Thùy chen vào đánh trống lảng:

- Con Bình ngủ ngồi kìa. Út lấy võng trong bao chị, cột đâu đó cho nó nằm. Để anh Cả tính lợi hại ra sao đã chớ.

Anh Tơ-rin giữ ý, chỉ lặng lẽ thắp liên tiếp từng cặp thanh ngo. Địch sợ chông thò không dám lùng đêm, co về ngủ hai bên sông Linh, ở đây đốt lửa và chuyện trò thoải mái. Chanh chợt nhớ ra con Dồ mấy ngày nay chỉ lo gác và ăn những thứ sống sít kiếm được, nhắc Thanh Yên cho nó nắm xôi. Cô Út không nói giọng hờn dỗi nữa, mà gắt to tiếng:

- Đang bàn việc em, anh chỉ nhớ tới con chó! Ừ, con Dồ bám riết bên chân anh, còn cả nhà em ăn no ngủ kỹ cho mập!

- Ơ, nói gì tầm bậy vậy út?

Thanh Yên vùng vằng lấy gói xôi đậu xanh trong mo cau lột, xắn một góc, dùng đũa hất ra cho con Dồ. Nó vẫn nằm ngoài cửa lều, dỏng tai nghe chừng. Nó nhìn miếng xôi rơi gần, nhìn người cho ăn có giọng nói và cử chỉ khác thường, lại ngoái đầu nhìn ông chủ. Chanh vẫy tay gọi nó vào. Nó chỉ ngậm miếng xôi chạy đến bên sạp, nhìn chủ, ngước mắt, vẫy đuôi. Ông chủ nói rất dịu: “Dồ, ăn đi!”. Nó quỳ ép bụng xuống, ăn ngấu nghiến.

- Út à, con Dồ cứu anh nhiều lần, cứu cơ quan nữa, được bằng khen rồi đó... Nó nhịn đói canh chừng anh ngày đêm... Cho nó nữa đi em.

Thanh Yên đã nguôi cơn tức, bắt đầu xấu hổ. Ông Tư Rèn nuôi và luyện con Dồ cha đến cả nhà phàn nàn là ông chỉ chơi với chó. Nhưng khi Dồ cha dám lao vào cắn cổ cả trăn, rắn hổ mang, vừa sủa vừa đấu tay đôi với beo gấm về bắt heo, những lời kêu ca dứt hẳn. Hai Dồ con về với Tư Quýt và lò rèn ông Chua, yên phận làm chó giữ nhà. Con này được anh em luyện nhiều, khôn nổi tiếng cả vùng Tây Quảng Nam và Quảng Tín (tỉnh này mới thành lập), đám dân vệ nhắc nhau nhớ bắn con chó trinh sát ấy.

Chanh lấy mo xôi, xé một mảnh lá chuối rừng mà anh cố mang về để gài vào mái lều khi mưa dột, ép dẹt xôi xuống, rắc lên tí muối đậu phụng, lại gọi con Dồ vào ăn thêm. Nó liếm tay cảm ơn chủ, ăn thong thả như khi hưởng suất ăn khá ở cơ quan tỉnh ủy.

Đồng chí Tơ-rin tới đó mới kể chuyện chống càn. Chỉ tiếc anh biết quá ít vì chỉ bám các làng Thượng, nắm các ủy ban và đội du kích Thượng. Anh vào ấp chiến lược Linh Sơn một đêm sau đảo chính Diệm đổi gọi là “ấp tân sanh”, nghe xuôi tai nhưng tất cả đều y như cũ.

Thùy và Thanh Yên nói rõ hơn. Số chết và bị thương trong vố tập kích vào huyện ủy Tây Quảng được ghi trong một chuỗi tên rất dài từ tỉnh Quảng Tín đưa xuống, đứng đầu sổ là Cả Chanh, tức Thanh Trà, bí thư tỉnh ủy Quảng Nam, tiếp là mười tám VC bắt tại trận, bảy xác, cả mớ đồ súng ống trang bị của Nga Xô, Trung Cộng, Cộng Bắc Việt. Cả nhà ông Tư Rèn nhao nhác. Địch phao tin giết được tên cộng sản nòi Phan Chanh đã đến lần thứ năm thứ sáu gì rồi, nhưng lần này anh em chết nhiều quá, bị bắt cũng quá nhiều. Năm Bưởi đánh liều đút tiền đi xuống thị xã Tam Kỳ, tỉnh lỵ mới của Quảng Tín, về nói: chẳng có ai là anh Cả hết. Lần này nó triển lãm xác còn nguyên, chở trực thăng mà, không như hồi cột chân anh Xáng kéo nát mặt mũi. Đám bị bắt ngồi một dãy, mặt lạ hoắc, có anh hộc máu ngã lăn ra, nó cũng xốc dậy cho nhà báo chụp hình.

Việc Thùy giả vào Quy Nhơn để đem con lên với chồng được ông bà Tư và Năm Bưởi bàn kỹ và ưng bụng. Tất nhiên phải giấu Bảy Bòng và Tư Quýt, hai người con chống cộng hăng nhất và tham lam bòn rút nhất.

Tơ-ron bị giam ba ngày, địch phải thả khi dân làng Blam vây bót đòi người, càng về sau càng đông, càng kéo dài. Vừa về đến Linh Sơn, cô cho ngay hai bạn đoàn viên mật xuống đón mẹ con Thùy, với Thanh Yên nằng nặc đi theo. Anh Tơ-rin đi coi bố phòng ở các làng Thượng rút sâu trong núi, cũng về kịp...

Chanh ăn tiếp bát bột thứ hai, thổi nhấp từng thìa, ngẫm nghĩ. Thùy với con lên xanh là phải, giấy tờ hộp pháp của xã có rồi, bọn thư ký quận chỉ ăn tiền cộp dấu, không mấy khi vào sổ. Thanh Yên khác. Hội đồng xã không cho đi chỉ là việc vặt, cha mẹ sẽ hớt hải đến báo: “Con út tôi theo trai trốn mất. Chắc lỡ dại với anh trung sĩ biệt động hay tới nhà”. Dân lành Linh Lâm đã quá quen với những vụ lỡ dại như thế, đều giấu cho nhau. Nhưng…

- Anh nghĩ vầy út ơi. Em chưa bị nghi. Bên ta gài được một trung kiên trong ấp tân sanh rất khó, xây dựng cơ sở càng khó. Có người là cơ sở hai ba năm, chỉ làm được một việc là mua muối, pin, ni-lông cho các đội tới lấy, còn ăn lời quá quắt nữa. Hễ ta phá rào ấp hay đồng khởi là họ chạy lánh thiệt xa, em bám trụ bám ít lâu nữa... trong lòng địch...

- Ờ, làm con gà luộc trên mâm cúng chớ gì?

Cái giọng mỉa mai của Thanh Yên khiến Chanh nóng mũi:

- Anh nghe nói chi bộ xã Tây Giang tính kết nạp em, đã cho học lớp cảm tình Đảng... Đúng không, đồng chí Tơ-rin?

Tỉnh ủy viên Tơ-rin gật đầu, nhồi thêm thuốc rời vào cái ống điếu bằng khúc vỏ đạn 12 ly 7 cắm đoạn ống trúc.

- Có lẽ chi bộ xã xét lầm sao đó... Đảng viên mà ương  bướng lựa việc, chỉ làm cái gì mình thích, còn thua xa đoàn viên. Anh Tơ-rin nghe hết đó, tùy ảnh quyết định, cần bàn kỹ với chi bộ nghen. Huyện ủy duyệt là đủ, không cần báo lên tỉnh.

Thanh Yên điếng người, ngồi cúi đầu lặng cá. Cô tưởng chỉ hờn lẫy với một người anh, đâu nhớ ảnh là bí thư tỉnh ủy!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #279 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2017, 03:34:56 pm »

Tơ-rin chen vào cho đỡ căng:

- Tui sắp đạt ri đây. Mờ sáng mai, tui đưa anh chị với con nhỏ lên cái hang kín nhứt, để anh Chanh nghỉ thêm vài ngày cho cứng chưn. Rồi cho hai du kích theo cõng đồ dùm, đi vài trạm thì bàn giao cho giao liên đưa về tỉnh ủy. Mai sớm, à không chừng giữa cái đêm, Tơ-bon đưa cô Út về làng mờ sáng tới sông, đợi tụi lính bỏ chỗ núp rình về đồn, lội qua luôn.

Chanh bùi ngùi nhìn hai cô gái chưa chồng.

Tơ-bon thấp nhỏ, hơi gầy, da nâu sẫm, không nhớ tuổi mình tuy biết đọc và viết tiếng Kinh. Ngay cha mẹ cũng không nhớ con đã ăn bao nhiêu mùa rẫy, chỉ nói hú họa: “Chừng mười hai, mười ba mùa chi đó... Hắn lo đi cách mạng theo anh hắn, chưa chịu bắt chồng cho rồi”. Thanh Yên đã mười chín, xinh gái hơn, người đầy đặn, da trắng, tất nhiên không thể so với hoa khôi Linh Lâm là chị Hai Thùy.

Lính bảo an và đám dân vệ thôn vệ không dám quấy rầy nhà ông Tư vì sợ cả hai phía, phía Giải phóng và phía Bảy Bòng cảnh sát trưởng. Nhưng mỗi lần càn lớn, có tụi lính ác ôn đổ về như kiến-biệt động, dù, Nùng di cư, cả lính Re sót lại sau vụ bạo loạn Sơn Hà-hai chị em phải thay mặc đồ rách, xoa nước nghệ lên mặt, cố làm đầu bù tóc rối, khiêng máy may vào buồng kín, ra ngồi lò rèn. Năm Bưởi sẵn nước da còn xanh bủng, nhai một miếng trầu để đóng vai ho lao ho tổn, ngồi gian trước trông nhà. Bót dân vệ là con Cửu Áng, được cha dạy cho cái đạo vét tiền nhiều hơn bỏ tù, nhu hơn cương, ân hơn uy, ăn ở sao cho khỏi bị kẹp chết giữa hai thớt cối xay đá.

Thanh Yên kéo Thùy xuống suối, thủ thỉ khá lâu. Khi về lều, mắt Thùy ướt, mắt Yên sưng đỏ. Yên kéo Tơ-bon ra đi ngay không chờ nửa đêm, chỉ cầm theo một mớ cây ngo soi đường.

Chừng hai giờ sáng, con Dồ lại sủa khẽ: có mùi lạ, nhưng không phải mùi ka-ki dày và ủng da, giày rừng ngấm đẫm mồ hôi nhiều ngày đến thối khắm của địch đi càn. Hai cây đuốc sặt cháy to đi tới, nhiều tiếng chân êm hơn giày địch. Anh Tơ-rin cầm cây Tom-xơn hờm sẵn, nhận ra người bên ta cả.

Trạm giao liên H.27 không bị đánh úp, đã đón anh bí thư huyện ủy, hai ủy viên thường vụ từ vùng dưới tức tốc chạy về. Tổ du kích do anh Tơ-rin chọn trong đội làng Blam dò theo dấu chân đã tìm thấy anh chánh văn phòng bị thương nhẹ ở tay, hai đội viên Võ trang công tác bật lên núi, một chị nấu ăn bị xóc chông, dìu và khiêng về giao cho trạm.

Một anh trong thường vụ đã cải trang vào xem triển lãm xác và tù Việt Cộng, cùng mấy chục súng to nhỏ bảo là thu được của VC, đủ dùng cho hai trung đội là ít. Anh điểm mặt rất kỹ, nhớ các tên. Về H.27, ghép các nguồn lại, thấy còn thiếu bốn người. Chạy lạc trong rừng núi lạ, đầy chông thò, số phận họ ra sao?

Anh bí thư Tây Quảng cao lớn, tóc cắt ca-rê, hai răng vàng, trông giống một tay lơ xe chuyên vùng ma-ni-ven giành khách. Vốn nóng như lửa, anh càng  tức điên khi nghe cả mấy chục người có võ khí mà chạy như thỏ. Gặp anh chánh văn phòng ở trạm, anh đã rút súng ngắn đòi bắn, mọi người can kịp. Bây giờ anh sừng sộ với Cả Chanh và Tơ-rin, chẳng để ý chút nào đến thân thể phờ phạc héo hắt của bí thư tỉnh ủy:

- Tôi hỏi nè. Anh là bí thơ tỉnh, tới cơ quan thấy cả một lũ trốn giặc bỏ dân, lại làm bộ yêng hùng rơm, sao anh không can thiệp gắt vô? Anh cũng chạy trốn như họ, rồi rước vợ con lên nữa chớ! Trách nhiệm anh ném cho chó rồi hả?

Anh chánh văn phòng rụt rè nhận một điều chưa dám nói:

- Dạ, anh Chanh nhắc nhiều lần, anh em cứ chủ quan...

- Chủ, chủ cái củ c.tao đây nè! Không phải nhắc, mà ra lệnh, không phục tòng thì trói vô gốc cây bắt nhịn đói!

Anh thường vụ cũng làm chứng:

- Tụi lính càn về kể chuyện, cơ sở nghe được vầy. Khi bị úp sau lưng, có mấy VC bắn lại hai băng súng máy, mươi phát súng trường, lính chết một bị thương ba. Trực thăng bốc quân đi, ém lại một trung gài bẫy. Chừng mươi phút sau gặp một trinh sát VC với một con chó. Nó nhảy xuống hầm bí mật, luồn ra xa lắm, nhảy lên đánh một mình. Nó bắn thứ súng gì của Nga Xô hay nước nào chẳng biết, đạn vãi như trấu, bị thương bốn lính nữa, có đứa đui cả hai mắt... Thêm một chỗ cho ly kỳ: con chó ấy lớn xác mà dữ lắm, nhảy vô móc mắt, cắn họng chết một đứa nữa, đem về phải chôn lén vì coi kinh quá. Thứ đó là chó chiến đấu, nòi chó sói, biết tránh đạn.

Những người tìm thấy trong rừng cũng nghe súng và lựu đạn nổ đợt sau, còn dữ hơn đợt trước, nay mới biết địch dùng trái nổ ném phá “hầm bí mật”.

Anh bí thư quay sang hục hặc với Tơ-rin:

- Ừ thì anh Chanh dám đánh địch một mình, giỏi, vậy chớ ảnh còn hữu khuynh, không  dám ra lệnh... Còn anh Tơ-rin?

Mặt Chanh nóng nhưng giọng rất lạnh:

- Tôi không thể qua mặt phó bí thư và hai huyện ủy viên để ra lệnh cho đội viên được. Chính đồng chí đã trách tôi mấy lần là quá dài tay, nhớ không?

- Thì thôi... Anh Tơ-rin là tỉnh ủy viên, ngó thấy cũng phớt lờ là sao? Hay là lên tới rừng xanh núi đỏ lánh càn?

Tơ-rin bắt chước giọng giá ngắt của Chanh:

- Tui được cử theo rõi vùng núi bốn huyện để nó ý kiến với tỉnh chỉ huy họ. Tui không vô huyện ủy các anh.

- Cơ quan từ Linh Trung lên núi, ở vùng núi, anh không bước tới à?

- Không bước tới. Tới làm chi?... Mà thôi, miệng anh như con sông, miệng tôi như khe cạn hơi sức đâu tui cãi. Hừ, làm cái nghị quyết tiến công thiệt là sướng cái lỗ tai, rồi để cả mớ người trốn dân tránh địch, vác súng rúc núi, giữ cái mạng thôi mà giữ không nổi, bây giờ bắt đền tỉnh ủy sao không xúm vô bồng ẵm cơ quan huyện! Tồi.

Anh bí thư tắc họng, ngồi câm như hến. Trong lều chật quá, Thùy giẹp võng con Bình ngủ say vào cuối sạp ba nó, moi túi gạo trong gùi tre, xách hai cái nồi đi xuống suối. Nồi của đội Blin vừa cho sáu người ăn, nồi của Thùy bốn người, đủ rồi. Nơi xa này đốt lửa được. Hai cậu rảnh việc giúp Thùy kê bếp, kiếm củi. Trên miệng mỗi nồi cơm Thùy lót lá chuối hấp vài con cá chuồn muối thính, rắc ớt bột. Nhờ một tiếng váng mặt ấy mà Thùy không phải nghe lời trách rất ác về Chanh “rước vợ con” lên trong trận càn rất dai dẳng này.

Cơm được giỡ ra trên lá chuối trải nền lều, Thùy lại đem nồi xuống suối đun hai nồi nước sôi nữa. Cậu giao liên đã gạt than hồng ra, đặt ngửa cái nắp vung, rang cháy một nắm gạo để thay chè. Anh em chia nhau số nắp và ngăn ăng-gô, thìa, đũa mới bẻ bằng cành sim, không phải ăn bốc.

Bưng nước lên, Thùy mới múc chén bột huỳnh tinh vét soong cho chồng. Anh bí thư đã qua cơn nóng, vừa ăn nghiến ngấu vừa hỏi:

- Anh Cả không ăn cơm được à?

Tơ-rin nói thay, đủng đỉnh:

- Ảnh đánh giặc giữ cho cơ quan anh, trúng đạn bắp vế, không nổi đi, nằm chết giấc, máu chảy ra cả cái vũng. Con Tơ-bon xốc ảnh tới đây, sau bị bắt, ảnh đói, sốt rét, hết máu, sưng chỗ đạn. Ăn cơm liền cho mau chết hả? Cho bứt ruột hả?

Anh bí thư buông thìa, ngẩn ra nhìn Chanh: một cái xác biết đi.

- Ôi anh Cả, tôi quá bậy rồi, ruột gan lộn ngược hết. Anh bỏ qua cho nghen. Tôi sẽ tự xin kỷ luật sau, bây giờ lo dựng lại huyện ủy mới đã...

Chanh chỉ khoát nhẹ cái thìa, ăn tiếp hết bột, uống nước. Đợi dọn dẹp xong, anh em xuống bãi cát bên suối căng võng hay trải lá ngủ, Chanh mới nói với ba đồng chí huyện ủy:

- Tôi còn mệt, ta bàn sơ qua thôi. Trước hết, tôi thông báo về việc vợ con tôi lên đây (Chanh giữ lối nói mười phần chính quy). Hậu cần tỉnh bị bom, có hai thợ may thì chết một cụt tay một, máy hư. Tỉnh giao cho tôi kiếm thợ và máy về thay. Hai Thùy là cơ sở lâu năm, bảo đảm không đào ngũ, làm thợ may trên hai chục năm, có máy riêng, tôi sẽ đưa về tỉnh nhận việc. Nếu được, các đồng chí bố trí cho một chuyến võ trang công tác, đưa lệnh cách mạng trưng mua máy may ở nhà tôi, tôi đã dặn người nhà đóng bao các thứ kèm theo máy, đợi đó. Thứ hai, tôi được bổ sung làm ủy viên dự khuyết Liên khu ủy kiêm bí thư Quảng Đà, Tây Quảng thuộc ranh giới Quảng Nam, địch gọi là Quảng Tín. Tỉnh ủy còn được hai tháng nữa để tách làm đôi, bên bộ đội cũng vậy... Trong khi chưa chia tỉnh, tôi chỉ thị cho huyện ủy Tây Quảng gọi hết các huyện ủy viên về để kiểm điểm vụ tổn thất này, phê bình lãnh đạo tỉnh mặc sức. Tôi bị thương bị bệnh chưa đi nổi, sẽ ở lại dự cuộc họp.

Anh bí thư cầm bản sao quyết định của Chanh, không đọc, trao qua hai đồng chí kia. Anh nói rụt rè:

- Dạ... anh chị em nắm các cánh nghe tin ta bị... chắc đổ xô về, nay mai thôi.

- Đồng chí quên rồi. Trong nghị quyết huyện ủy “Tất cả để tiến công mặt trước”, có ghi cắn cưa là các huyện ủy viên đi mặt trước, các đội trưởng đội phó võ trang công tác không được tự ý về huyện nếu thường vụ chưa triệu tập, đúng không?

Chanh ngả lưng xuống sạp, còn dịu giọng nhắc:

- Cái chính bây giờ là đừng hốt hoảng, đừng chán nản, đừng đấu nhau quá găng. Anh em mình vậy, phong trào lên thì hỉnh mũi vênh râu, địch quật lại thì vù lên núi cột võng nằm than dài. Để tôi nghỉ chút nghen.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM