Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:24:12 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người cùng quê - Tập 1  (Đọc 126472 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #280 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2017, 03:36:56 pm »

*

Cả Chanh được khiêng về căn cứ Hai của trạm giao liên H.27, cách trạm chính nửa giờ ngược suối, nơi để tài liệu, gạo muối, đồ dùng. Thùy và con cũng đến đấy. Các anh từ đồng bằng lên chia của cho Chanh người một ít, anh được mặc đồ mới, cạo râu, cắt tóc bằng kéo. Thùy ở vùng ven núi, quen học lỏm mỗi nghề một tí, đã tiêm trụ sinh cho chồng hằng ngày. Con Bình quấn quýt với ba nhiều hơn, chơi đủ trò với con Dồ khôn gần bằng người, không nhớ nhà nhiều như Thùy ngại.

Năm ngày sau, huyện ủy họp bất thường. Còn lại chín, một đồng chí dưới sâu mắc kẹt không báo được. Chanh, Tơ-rin, thêm anh phó bí thư tỉnh ủy nghe tin xảy tai nạn và địch rải truyền đơn với Phan Chanh đứng đầu chuỗi tên VC bị giết và bắt, đã tức tốc đi vượt trạm vào Tây Quảng.

Anh chị em đã kịp rỉ tai nhau: phen này tỉnh ủy cạo cho trắng máu, kỷ luật hàng loạt cho coi. Khi Chanh không chịu nói lời khai mạc, nỗi sợ ấy càng tăng.

Chanh để mặc các đồng chí đấu đá nhau mỗi lúc một bốc, văng tục, chửi nhau thẳng cánh, dọa đủ thứ hình phạt. Anh chỉ ngồi trong góc, nghe khẩu khí và ngắm mặt từng người như coi tướng. Đếm lại, trong huyện chỉ có bốn thôn bị lấn chiếm và bắt rào ấp, một thôn bị bom lửa bom nổ cháy nửa số nhà, hai thôn bị dồn xuống dưới chợ Huề Bình, bị đốt nhà nhưng ít mất của chìm giấu trong núi và của nổi gánh theo, dắt theo. Bù lại, các cánh mặt trước đã mở ra làm chủ ngày đêm hai mươi mốt thôn, phá ấp tân sanh và làm chủ từ chiều đến sáng sau được hơn ba chục thôn. Trừ hao cái phần thổi phồng, thành tích vẫn còn nhiều.

Đầu buổi họp chiều, Chanh mở miệng:

- Dự đây có ba tỉnh ủy viên. Chúng tôi nhứt trí đánh giá đợt tiến công vừa qua là rất tốt, thắng lớn, giành dân phá ấp được nhiều hơn một số huyện khác dẫm chân tại chỗ. Đó là ưu. Phần khuyết cũng nặng, nhưng ít hơn ưu. Tôi nhắc một điều ta đã biết: đồng chí phó bí thư, hai huyện ủy, ba đội trưởng đều chết tại trận, sổ giơ tay hàng chỉ có một đội trưởng, còn lại là số mới thoát ly… Trách nhiệm thuộc về ai, phải làm rõ. Trước hết là thuộc tất cả huyện ủy đã giơ tay thông qua nghị quyết tiến công mà quên phần “giữ vững mặt sau”. Xông xáo đánh địch, tốt lắm, đừng nhụt chí, đừng nhao nhác lên, đừng gây hoang mang trong các đội. Tỉnh ủy tạm nhứt trí gác lại các đề nghị kỷ luật. Sau khi chia tỉnh, các đồng chí cũng đến kỳ họp đại hội Đảng bộ, công và tội sẽ được xét kỹ.

Chanh ngồi xuống, bỗng nghe tiếng vỗ tay dội lên rào rào, nơi xa địch này anh chị em vỗ hết mức. Anh bí thư chồm lên:

- Anh Cả bẻ lái vậy đó, tụi mình sao nè?

- Đồng ýýý!

Lại một loạt vỗ tay nữa. Chanh sững sờ và hơi ngượng: mình chỉ nói ý kiến của tỉnh ủy, đâu có bẻ lái?

Trong thời đánh Pháp và nay đánh Mỹ, vai trò một người lắm khi rất lớn. Dân bị địch giả VC lừa mãi, đòi phải ngó thấy ông Kèo ông Cột-chớp nhoáng thôi cũng được-mới chịu tin ở lá cờ xanh đỏ sao vàng treo trong mít-tinh, không giống cờ Cụ Hồ. Cho đến các đội viên, cấp ủy xã cũng tin rất ít ở những bản nghị quyết phải đánh vần của một chi ủy viên. Phải có mấy ông “hột gạo trên sàng” tự nói ra mới chắc là ý Đảng, ý Bác, mới làm theo. Anh Tô Xáng, Cả Chanh, vài ông nữa được xếp loại ấy, không kể những ông được tin cậy trong một huyện, một xã.

Trong chiều ấy có thêm hai nhóm kéo tới trạm H.27. Nhóm đầu là du kích làng Blam cõng tới một con trâu xẻ, bắn trong số trâu chạy hoảng thành trâu rừng, sợ người như cọp. Nhóm sau là phần còn lại của đội Tây Giang xuống đưa lệnh “trưng mua” của huyện, cõng tất cả máy may, phụ tùng và các thứ Bưởi và Yên đã vay tiền mua, hầu hết là hàng quốc cấm: ni-lông dài ba thước làm tăng, nhựa choàng thước rưỡi, vi-ni-lông dầu xanh lá may võng, thuốc tây, pin, vải ka-ki may quân phục và vải mỏng may bà ba, đủ thứ. Chẳng cần đi đâu xa, đến nhà Cửu Áng phó đại diện xã là mua được phần lớn, thiếu món gì thì tới chị Ba Song, chị ăn lãi chẳng thua Cửu Áng. Số tiền “trưng mua” chỉ vừa đủ trả nợ tiếp tế cho anh Cả, cái máy may coi như không tính tiền với cách mạng. Hai Thùy lập tức lắp máy, may mọi thứ cho chồng, chỉ ngừng khi xuống bếp nấu cơm cho hội nghị.

Mãi tới mười giờ đêm, Thùy mới kịp tắm qua loa ở chỗ suối vắng-chị cấp dưỡng xóc chông dặn mãi là phải tắm mé dưới xa, đàn ông lên tới huyện ủy cũng còn người đặc sệt phong kiến, khinh đàn bà con gái-Thùy lên chỗ căng hai võng, dưới hai tấm tăng nhựa ghép. Anh chị em ngủ say cả sau nhiều ngày đêm đói ngủ.

Chanh chợt gọi rất khẽ:

- Thùy ơi, anh hỏi chút.

Thùy vừa cúi xuống, Chanh đã vòng tay ôm ghì cổ vợ, hôn dồn dập từ mặt xuống cổ, lên tóc. Thùy rủn người, quỳ thụp xuống ép nửa người trên ngực chồng. Hồi anh tỏ tình ở Quy Nhơn cũng y vậy, em chỉ biết cắn anh trên vai đau điếng. Trong vòng tay gầy yếu của chồng, Thùy lịm đi nhanh. Gần hai chục năm rồi, anh vẫn thường yêu em tới vậy sao? Lắm người chê anh là hẹp hòi, máy móc, quá nguyên tắc, nhưng không một ai chê anh bậy bạ với đàn bà. Anh chung thủy với em, em cũng đền đáp bằng thủy chung.

Hơi thở của Chanh nóng hổi bên tai Thùy:

- Thùy ơi, em... em có khi nào hối tiếc đã lấy anh không?

Thùy nhấc mặt. Chanh hỏi câu ấy mới lần đầu.

- Sao lại hối?

- Anh đi tứ xứ, mình em lo nuôi con, nuôi cả nhà địch gây sự miết… nay lên núi cực khổ đủ đường...

- Hối lắm chớ. Nè thì hối, nè trả thù!

Thùy cắn vào vai chồng như năm xưa, đúng chỗ đã nhớ.

- Anh đang yếu, thôi để sau sau đã nghen. Lên núi, em không ngán có bầu nữa đâu, cứ sanh được hai đứa cho chắc. Gần anh, em đỡ sợ rồi. Tụi nó cứ phao tin anh chết hay bị bắt, không tin mà cứ hoảng vía, ăn ngủ chẳng yên... Ngủ đi anh. Mà quên, anh ăn thêm gì nữa em làm?

- Không. Em thả mùng cho con Bình, nó hay đạp tấm đắp, lăn ngoài mùng...

Tiếng chim dủ dỉ dù dì, cớ trót thì bóp, chen những tiếng rúc của giống trùn núi to như lươn có khoang cổ, những tiếng ó-ààà của con ó ma bay ngang, đưa vợ chồng Chanh chìm vào giấc lịm mệt nhọc. Chỉ còn con chó Dồ dỏng tai lim dim.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #281 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2017, 03:40:12 pm »

Chương 14


Cuộc mặc cả kéo dài đến quá trưa vẫn không ngã ngũ.

Gia-nét ló đầu qua cửa, vẫy chồng, trỏ vào bụng. Ăng-đrê đứng lên mời khách qua phòng ăn. Gia-nét chỉ bưng dọn, chị đã ăn cùng các con dưới bếp. Người đầu bếp Việt không được vào phòng lỡ chủ khách cao hứng nhắc đến vụ áp-phe đang bàn dở, phiền ra.

Mỹ Duyên cùng hai khách Mỹ tự lái chiếc Ca-đi-lắc màu sữa, bám theo một đoàn xe lội nước bọc thép M.113, lên đồn điền Ăng-đrê Ri-sô khá sớm.

Xe rà mìn và trung đội công binh đi đầu làm việc rất thạo, đoàn xe không bị nghẽn lâu trước những hố phá hoại, không trúng mìn chống tăng của du kích. Chỉ có hai lần du kích bắn vào công binh, ba lính bị thương nhẹ. Sài Gòn báo trước là VC đã làm chủ một số làng dọc đường, nhưng đoàn xe sẽ đi quá đồn điền Ri-sô vài chục cây số nữa để đánh vào vùng VC lập căn cứ, đào địa đạo và làm làng chiến đấu rất vững.

Đã tới cuối năm 64 mà xe M.113 vẫn do lính Mỹ lái và bắn súng máy nặng 12 ly 7. Quân Sài Gòn ngồi thùng xe, đơm súng ra ngoài. Các sĩ quan Việt hậm hực, mỉa mai: đến thứ xe này mà Mẽo rỉ tai nhau: “Giao chiến cụ cho chúng nó để tụi trên làm đảo chính, tụi dưới chở bán cho VC à!”.

Theo lệnh tiểu khu báo qua vô tuyến, đồn Gò Luông cắt một tiểu đội xuống gác cho các phóng viên Mỹ-Việt hành nghề. Lính ở đồn tù chân, ham xuống đấy để được chủ đồn điền cho ăn nhậu no say, cho tiền puộc-boa nữa. Đồn này bị diệt cuối 63, mới đóng lại giữa năm nay với tàn quân bảo an góp nhóp được non một đại đội, cả quan lẫn lính đều thích “dĩ hòa vi quý” với VC. Quân chủ lực đi từng trung đoàn, đánh khó là một đàng, VC còn ham diệt các sắc quân địa phương từ dân vệ xã, biệt kích quận tói bảo an tỉnh vì quen thung thổ, nhớ mặt người, dân nổi dậy theo VC còn thấp thỏm. Đám hội đồng với cảnh sát thì lớp bị bắt, lớp trốn xa, ai liều mạng ngoi lên kể như thí mạng.

Lão Lê-ông La-phác-sơ cùng con và rể đã sẵn sàng đón khách. Ăng-đrê hôn tay Mỹ Duyên, buông ngay câu nịnh đầm:

- Thế mới biết người đẹp vĩnh viễn không có tuổi!

- Ồ, làm sao sánh được với bà Ri-sô!

Chào hỏi. Mời ngồi. Mở các thứ giải khát. Vài câu sáo mở màn. Rồi Mỹ Duyên vào đề luôn:

- Vì chủ nhân là người Pháp, tôi xin nói tiếng Pháp theo phép xã giao. Xin trân trọng giới thiệu hai ông khách: ông Giêmx Kít-man đã từng đến đây phỏng vấn ông bà Ri-sô, nhưng chưa được gặp ông La-phác-sơ, và bạn ông là Rô-bớt Rốc-xơn, phóng viên tự do. Hai ông biết tôi đi khắp nơi như người Do-thái lang thang, nhờ tôi sắp xếp cho gặp ông Lê-ông La-phác-sơ và ông Ăng-đrê Ri-sô, những người Pháp thông thuộc Đông Dương. Hai ông chủ bằng lòng tiếp. Vai trò của tôi chấm dứt ở đây. Tôi xin rút lui để đi thăm một ấp tân sanh gần đây nhất, viết bài cho AFP.

Mỹ Duvên thừa biết hai tay CIA giả danh phóng viên kia chỉ biết tiếng Pháp lõm bõm, không đủ dùng khi bàn chuyện rắc rối, cũng như La-phác-sơ và Ri-sô chỉ ấm ớ mấy câu giao thiệp tiếng Anh. Duyên tự dịch câu cuối cho cặp Mỹ hiểu: “I’d ask leave to go and visit a Ng w Life hamlet just ng arby, to cover it for AFP”.

Khi Duyên cúi chào rất điệu và quàng quai xắc vào vai, cả bốn người nước ngoài đều luống cuống. Kít-man đưa bàn tay rậm lông lên gãi cằm, cho ra mấy câu hỏi bằng tiếng Đức, tiếng Ý. Chủ nhà không hiểu. Rốc-xơn thử tiếng Tây-ban-nha, cũng chỉ được trả lời: “Sorry, I don’t understand”, là câu đầu lưỡi của những người đến xứ lạ: “Rất tiếc, tôi không hiểu”.

Mỹ Duyên đã xuống bếp, nhờ Gia-nét cho một người Việt trong số gia nhân dẫn đường, chứ đi chung với lính hay cảnh sát thì bị dân coi như thù lập tức. Gia-nét cân nhắc rồi cho cậu thư ký chấm công đi. Cậu này có cha mẹ sống trong ấp, hay rộng tay đối với dân ấp vào làm phu đồn điền, nửa công chấm thành một. Ăng-đrê đã dọa nhiều lần nhưng không đuổi.

Hai người vừa đi tới giữa sân trước, đã bị gọi giật. Tay Kít-man hối hả chạy theo:

- Duyên, cô Duyên, chúng tôi đã bị câm điếc!

- Uống quá nhiều uýt-xki nặng rồi đấy, Giác-ky lông lá...

- Ô, chưa một giọt. Tôi tưởng bọn chủ đồn điền biết tiếng Anh, té ra như tôi nói tiếng rợ Pa-pu. Cô Duyên vào dịch hộ đi. Chúng tôi sẽ tỏ lòng biết ơn bằng giấy xanh in hình Oa-sing-tơn đàng hoàng! Duyên thân yêu, sao lại lắc đầu?

- Tôi không muốn nghe chuyện kín của các anh, rầy rà lắm.

- Ôi nàng tiên tàn nhẫn, định đuổi chúng tôi về đấy à?

Duyên ngần ngừ tí chút nữa rồi mới trở vào phòng khách. Nàng nói ngay trước khi ngồi:

- Nể lời các ông, tôi nhận làm thông dịch viên có thù lao. Tôi sẽ làm việc như máy dịch điện tử tối tân không lắp bộ nhớ. Lần này lỡ rồi, tôi phải giúp các bạn đồng nghiệp. Về sau các ông cần đem theo người dịch đáng tin cậy. Nên vào một buồng khác kín đáo hơn, nếu các ông muốn.

Mười phút sau, trong buồng  làm việc của Ăng-đrê đã bày lại bàn ghế và đồ giải khát, cặp Mỹ chơi bài ngửa luôn:

- Đây không có ri-coóc-đơ, cô Duyên và chúng tôi đã cho các túi vào tủ ngoài kia. Cũng không ai ghi chép, không để lại dấu vết. Xin nói thẳng: chúng tôi được CIA cử đến thương lượng với ông Lê-ông và ông Ăng-đrê-gọi thế nào cho thân, được chứ?-về khoản vàng đen đến từ nơi ông biết rõ.

- Vàng đen? Than đá phải không?

- Xin ông đừng nghi chúng tôi đến gây sự. Lời nói gió bay, chẳng có tang chứng gì đâu. Chúng tôi muốn đề nghị với ông một vụ béo bở: hợp tác buôn thuốc phiện lậu từ vùng Tam giác vàng đi các nước trên thế giới.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #282 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2017, 03:41:55 pm »

Lê-ông nheo nheo mắt, chiếu tướng hai người mới gặp. Giêmx Kít-man thô lỗ, nóng vội, không phải hạng cao tay ấn. Tay kia khác xa: cao gầy, tóc cát gần trụi như lính quân dịch Mỹ, kính râm màu xanh nhạt che cặp mắt sâu, chỉ mím cặp môi mỏng mà không nói cười. Thạo tiếng Tây-ban-nha, hẳn rắt quen với các ổ buôn ma túy ở Nam Mỹ, Trung Mỹ. Mình gặp đối thủ đây.

- Sao các ông đoán tôi dính vào đấy?

- Các quan chức cấp cao trong Phòng nhì và Phòng phản gián SDECE của Pháp bán bí mật do dự mãi mới bán hệ thống buôn vàng đen cho chúng tôi, cũng bán luôn các nhóm biệt kích Mẹo ở Bắc Đông Dương. Tiền trao cháo múc xong cả. Chúng tôi cần những chuyên gia giàu kinh nghiệm như ông. Phần lợi riêng không kể, hễ làm đạt mức thì lương ông và lãi được chia sẽ tính bằng sáu hay bảy chữ số.

- Sao các ông không dùng các đường dây của Sài Gòn?

- Chúng tôi không điên. Đánh rơi một miếng bít-tết xuống đất, cả đàn chó xông vào cắn xé nhau, chủ cũng mất thịt. Hồi Pháp trong khi ngài cao ủy và các ngài dân sự hò hét cấm, cấm trong khi Phòng nhì và SDECE hốt tiền thuốc phiện, cảnh sát Sài Gòn gác thâu đêm cho các tiệm hút Chợ Lớn. Sau này Diệm-Nhu cũng cấm, nhưng vẫn buôn lậu tơi bời, phe nào ngoi lên cũng cần quỹ đen dựa vào vàng đen.

- Và họ thành công?

- Ít thôi. Dân Mẹo trồng thuốc phiện không ưa người Việt hay người Lào đa số, chỉ tin ở CIA có nhiều máy bay và trực thăng đem mọi thứ đến cho họ, tất nhiên ngoại trừ số Mẹo theo cộng sản. Thuốc phiện đổi hàng ngay tại làng, lãi gấp mươi lần trồng ngô hay lúa nương, họ tính kỹ rồi.

- Bộ chỉ huy MACY biết không?

- Không. CIA làm ăn độc lập, MACY đánh hơi được cũng để yên. Tất nhiên phải có tí chút (Kít-man xoa xoa ba ngón tay kiểu đếm tiền).

Mỹ Duyên chỉ dịch đều đều bằng giọng trung tính, trong khi bốn người cố thêm dấm ớt vào lời lẽ và nét mặt. Cũng như lão Lê-ông, Duyên cố đoán xem tay Rốc-xơn thuộc cỡ nào trong buổi sĩ quan MACY gặp báo chí hằng ngày lúc năm giờ chiều được gọi là “đợt nói khoác năm giờ”. Số phóng viên các báo và đài lớn hay làm oai, bệ vệ vào chỗ dành riêng. Những phóng viên tự do-free lance reporters-biết mình lép vế, hay lăng xăng chạy quanh lượm tin ngoài rìa, có khi mua tin của Duyên về xào nấu thành bài bán rong, cốt sao cho giật gân câu khách là đủ.

Sau ba tiếng đồng hồ cò kè, đôi bên thỏa thuận được mấy điều:

- Bước đầu, CIA ứng hai trăm ngàn đô-la để Lê-ông sang Hồng-công hay Đài Loan sắm phương tiện pha chế và thuê chuyên gia biết làm hê-rô-in số 4, trên 95 phần trăm tinh chất.

- Cha con Lê-ông được trợ cấp một lần một trăm ngàn để thu xếp khó khăn và dọn một bãi thả mé sau đồn điền, xa dồn lính và xa dân, đón hàng ban đêm.

- CIA sẽ mua đất hoang  vắng, gần sân bay nào đó qua thương lượng  với Vương quốc Lào, sẽ chịu chi phí để xây lại xưởng  điều chế hê-rô-in thay cho chỗ cũ hồi Pháp đã bán cho Vuơng quốc. Quân cảnh Mỹ sẽ gác vùng cấm địa ấy. Lê-ông đứng ra chỉ đạo xây xưởng.

- CIA nhận đổi hàng lấy thuốc phiện sống hay moóc-phin sơ chế, chở về xưởng bằng trực thăng hay các máy bay nhẹ Xét-xna, Bits-cráp mang hiệu công ty tư nhân Hàng không Mỹ. Chế xong, hê-rô-in sẽ được đưa đến sân bay, chất lên những chiếc C.47 quân sự dưới các thùng hàng khác. Đem về thả xuống đồn điền Ri-sô xong, các C.47 sẽ vòng về Tân Sơn Nhứt. Từ đồn điền, hê-rô-in sẽ được CIA cho thiết giáp lên chở, cha con Lê-ông phủi tay nhận tiền trả bằng đô-la, đưa vào ngân hàng nào tùy ý.

Lê-ông và Ăng-đrê kéo ra riêng bàn mảnh, thấy chia việc như thế là được. Ăng-đrê đã sáng mắt khi được hứa trả ba chục ngàn đô-la cho công đón hàng mỗi tháng chỉ bảy tám lần trên bãi đất bỏ chó ỉa sau đồn điền, tháng thưa hàng còn hai chục, tháng ngoài mùa vắng hàng vẫn một chục cho không. Lê-ông được xếp tám chục ngàn. Lão lắc đầu:

- Quá rẻ. Chúng nó đang cần mình, chớ gật đầu sớm. Ba đòi cho con năm chục, ba phải trăm rưởi. Phần lãi tụi nó vẫn còn to tướng, gấp mười vốn bỏ ra. Nhà mình còn phải vung tiền ra bôi mỡ vào chân tụi Sài Gòn và Viêng-chăn nữa, con quên à?

Khi trở vào phòng họp, Lê-ông thấy cặp Mỹ đã đội mũ, lấy xắc, vào nhà dưới chào bà chủ để ra về. Ăng-đrê sững sờ, nghĩ ông cha vợ già néo đứt dây. Nhưng lão chỉ nói rất hiền:

- Tiếc rằng cuộc trao đổi giữa chúng ta không đạt kết quả. Tạm biệt các bạn. Hai chúng tôi sẽ quên ráo những chuyện vừa bàn, hẳn nàng tiên xuống giúp chúng ta cũng thế. Nhưng... các bạn về Sài Gòn đơn độc thế này à? Hai chàng hiệp sĩ không tiếc mạng, nhưng nàng tiên sẽ bay lên thiên đường với những mảnh mìn cắm trên thân hay sao?

Hai tay CIA liếc nhau, phân vân. Phải đợi chuyến xe quân sự nào đó trở xuống. Trận càn nào cũng có hàng loạt xe chở thương chở xác về mé sau, đợi đi chung mới yên thân, VC rất ham xổ đạn vào người mũi lõ, lạ gì. Cũng vừa gặp lúc nhà mời cơm trưa.

Bữa ăn khá sang và lạ miệng. Kít-man rút chai huýt-xki ra, chỉ uống ly đầu, ngả ngay sang đế nếp lậu nước nhứt. Rốc-xơn, Lê-ông chỉ nhấp bia 33. Ăng-đrê chạm cốc bằng vang Boóc-đô, vẫn ngồi để các đàn ông đến cúi đầu chạm cốc-lễ phép phương Tây quy định đàn bà được ngồi ghế bành, khỏi đứng dậy khi được chúc mừng, không bị ép cạn cốc-nói sau khi cười dài:

- Các đồng nghiệp đã chúc nhiều, tôi xin nâng cốc chúc chính quyền Sài Gòn ra khỏi nạn dịch đảo chính thời sau Diệm, chúc dân Sài Gòn không thấy con chuột Míc-Ry đột ngột nhảy lên lập chính phủ!

Cả bàn cười rộ, nâng cốc thẳng tay. Câu đùa ấy mới xuất hiện trên các báo Mỹ, chẳng ai bắt vạ được. Đảo chính nối nhau với tốc độ chóng mặt. Các quan chức hôm nay hùng hổ, hôm sau bị đẩy đi làm đại sứ lưu động hay buộc về hưu, đến các vị thái thú Mỹ cũng nổi khùng.
Món thịt cheo hầm được khen nhiều. Heo rừng chiên bít-tết nổi bật. Kít-man múc từng thìa gia vị cay két-sớp chan vào đĩa, xóc ăn từng miếng lớn, trong khi Rốc-xơn chỉ nếm mỗi món nột tí như sợ bị đầu độc. Pho-mát tráng mềm của Ý ăn kèm chuối tiêu quả là độc đáo. Gia-nét hứa lần sau quý khách lên sẽ mời trứng cút và chim cút chiên bơ, món đại bổ mới được tìm ra, cả Sài Gòn đang thi nhau nuôi và ăn cút.

Khi đã sang phòng khách nhấm nháp rượu mùi với cà-phê, Rốc-xơn mới mở miệng:

- Xin lỗi người đẹp, giúp tôi tí. Nếu tăng lên ông La-phác-sơ một trăm ngàn, ông Ri-sô mỗi mức thêm mười ngàn đô-la, các ông thấy sao?

Lê-ông vẫn lạt lẽo:

- Xin cho nghĩ thêm.

- Cao hơn lương giám đốc công ty lớn bên Mỹ rồi đấy.

- Nhưng việc chúng tôi không ghi hợp đồng, không bảo hiểm, phải dành phần không nhỏ cho bọn quan chức Sài Gòn, Viêng-chăn, lại dễ ăn đạn từ nhiều phía. Hãy xem nào: phía Sài Gòn bị cạnh tranh phía ma-phi-a quốc tế nghi tôi phản, và cả phía CIA nữa khi cần con vật hiến tế cho pháp luật!

- Ông quá lo xa thế, khó làm ăn lắm!

- Tôi sẽ nghĩ thêm. Nên trồng cao-su, ít lợi nhưng yên thân, hay lao theo cuộc phiêu lưu mới...

- Tùy ông. Chúng tôi kiếm người thạo việc không khó, lại báo có đoàn công-voa từ mặt trận về sắp qua đồn điền.

Chủ khách tạm biệt nhau lạnh lùng.

Sáu ngày sau, khi Ăng-đrê đang tiếc cay đắng món tiền lớn tuột khỏi tay, lão Lê-ông nhận được điện tín khẩn: “Điều kiện được chấp nhận. Về gặp ngay MD”. Không ai ký dưới diện, hẳn là Mỹ Duyên thôi. Tụi Mỹ không tìm ra ai thay nổi ông trùm kỳ cựu là Lê-ông La-phác-sơ.
Lão về Sài Gòn không lâu. Trở về đồn điền, lão ném cho Ăng-đrê một bó tướng giấy năm trăm Trần Hưng Đạo để thuê phu dọn bãi thả. Và lão rỉ tai Gia-nét: “Thằng Ăng-đrê chơi gái, mặc nó. Ba đã rút chuyển cho con một trăm ngàn đô-la làm vốn riêng, đứng tên con, lấy lãi tiêu hay để cho đẻ lãi con tùy thích. Ngân hàng Thụy-sĩ chắc nhất. Giấu kỹ giấy nhé”.

Gia-nét như lên chín tầng mây, dứt hết mọi lo sợ mấy ngày qua. Khi lão Lê-ông trầm ngâm buông thêm rằng sẽ gây vốn cho con gái thêm vài ba lần bấy nhiêu, Gia-nét lao tới ôm hôn cha túi bụi. Vẫn yêu cha từ xưa, nhưng món xúp suông được thêm thịt và bơ càng thêm đậm vị, bổ béo. Anh Pi-e hung hăng đã ngã, thương thì rất thương, nhưng làm người thừa kế duy nhất của người cha giàu ngầm vẫn là nỗi an ủi lớn nhất. Đôi khi Gia-nét thấy mình nhỏ nhen bần tiện, chỉ lát sau đã quên ráo. Anh Ăng-đrê theo bồ lìa vợ, Gia-nét sẽ một mình nuôi bầy con, cha không sống mãi được với chất thuốc phiện ngấm suốt mấy chục năm, đây là lúc tỉ tê lấy gia tài. Gia-nét mở ngay chiến dịch tình cảm nhằm kiếm gấp một di chúc của người cha triệu phú. Lỡ ông cụ đột ngột qua đời, số đô-la chất đống ở Thụy-sĩ dưới một bí số không tên sẽ mất toi cả.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #283 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2017, 04:01:00 pm »

*

Trong nhà riêng của tướng Menđ-brao, cầm đầu phân cục CIA ở Đông Nam Á, có bốn người chung quanh bàn cốc-tai đang làm việc. Người hầu chỉ được mở cửa vào khi chủ bấm chuông, nhìn ngón tay chủ trỏ vào bình pha sây-cơ hay một đĩa nhắm nào đó, gật đầu. Chỉ nửa phút sau, cô gái Mỹ lai Mê-hi-cô đi êm và nhanh trên dép xốp đã thay cũ dọn mới như ảo thuật, biến ngay. Viên tướng tình báo này nổi tiếng khắc nghiệt về ba mặt: lao động, bí mật, thì giờ. Sau bàn giấy của lão ở nhà riêng, một câu ngổ ngáo được dán trên tường: “Việc xong, bạn còn ngồi đấy làm gì?”. Ở cơ quan, lão cho đặt dưới mỗi tấm kính lót bàn một lời dặn in chữ to: “Thì giờ là tiền bạc. Hãy nghĩ kỹ, làm nhiều, viết vừa phải, nói thật ít”. Ai được vào phòng làm việc ngăn riêng của lão, sẽ khen ông tướng này vô cùng bình dân: giữa sếp và phòng lớn kê vài chục bàn của nhân viên có một tấm kính trong suốt rộng hai mét vuông, ông sếp làm việc dưới mắt kiểm soát của cấp dưới, ắt phải gương  mẫu hết cỡ. Các nhân viên biết rõ hơn: đó là kính dày chống đạn, tráng phản quang để nhìn một chiều, từ ngoài ngó vào chỉ thấy màu nâu sẫm có ánh bạc.

Nhưng tướng Menđ-brao không bị cấp dưới ghét. Lão có thể buộc mấy sĩ quan dưới quyền làm việc hai mươi giờ mỗi ngày đêm, suốt tuần, sau đó cho hẳn một tháng đi R and R - nghỉ và giải trí - ở đâu tùy ý, miễn là đừng rời Đông Nam Á. Thư ký của lão được giao nhắc nhở sinh nhật từng người, những món quà ngày lễ chung, những việc cần chia vui chia buồn trong mỗi gia đình cấp dưới. Quỹ của CIA là tối mật, lại thêm nhiều nguồn thu không sổ sách, nên lão vung tiền mua lòng trung thành chẳng khó.

Người thứ hai trong cuộc họp là đại tá Éđ Ram-xy chỉ huy lực lượng đặc biệt, do CIA nắm. Tay này lên cấp nhanh nhờ mấy chuyến nhảy dù xuống vùng cộng sản ở Bắc Lào, Bắc Việt Nam, Trung Quốc, mang vết sẹo từ gò má lên vành tai như tấm huân chương. Nhiều sĩ quan kháo nhau: hắn đi giải phẫu ở mỹ viện để sẹo to và dài hơn. Vốn tính ngang tàng, hắn đã chọc cười khi tướng Menđ-brao nói đến giành trái tim và khối óc của các dân tộc ít người:

- Lính Mũ nồi xanh chúng tôi có cách làm rất nhậy...

- Sao? Bằng cái dạ dày? Bằng tín ngưỡng?

- Không. Cứ túm được hai hòn dái nó mà lôi, tim óc bụng sẽ tuôn theo hết! Ha ha ha!

Thiếu tá Bóp Mắc-mo-yơ, giả làm phóng viên tự do Rốc-xơn, đã báo cáo các cuộc đàm phán với tình báo Pháp và lão chuyên gia La-phác-sơ.
Tướng Menđ-brao trầm ngâm:

- Bỏ vốn hơi nhiều đấy. Tiền mua tình báo Pháp mua cha con lão La-phác-sơ, mua đất lập xưởng, mua bọn Mẹo trồng thuốc phiện, mua bọn phi công chở hàng quốc cấm... liệu có lỗ không?

- Thưa, bọn tình báo Pháp bảo chỉ qua một mùa thuốc phiện là thu đủ vốn, lãi chừng vài triệu đô-la. Từ năm thứ hai, lãi tăng theo cấp số nhân. Tới năm 1955, đã thua Điện Biên Phủ và sắp rút hết quân sang chữa cháy ở Bắc Phi, giao đất này cùng bọn com-man-đô rải khắp Đông Dương cho ta, họ cũng vét được ba chục triệu nữa, không kể tiền bán nhà xưởng và dụng cụ cho bọn Vương quốc thu lãi gấp đôi. Bọn tướng Lào rất ngu, chỉ sau mấy tháng đã làm nổ tung xưởng chế hê-rô-in số bốn, chết cả mớ chuyên gia, phải đền tiền.

Giêmx Kít-man chen vào:

- Thưa, tôi thăm dò lâu nay, thằng tướng Vàng Pao nắm vùng Mẹo Bắc Lào cũng khá, mà nó không tin ở số cầm quyền ở Viêng-chăn, Sài Gòn. Do đó sức cạnh tranh của số ấy không mạnh. Với lại, nguồn cung cấp chính của ta ở Đông Bắc Miến Điện và Bắc Thái-lan lớn hơn nhiều so với Bắc Lào và Nam Trung Hoa. Cho Vàng Pao làm đại lý thu mua là tiện nhất.

Hai mươi phút sau, tướng Menđ-brao cho lời phán quyết:

- Chiến dịch sẽ lấy tên là “Đảo phương Nam” để đánh lạc hướng, không nên dùng các tên để gợi chú ý. Thiếu tá Mắc-mo-yơ nắm lại các nguồn tiêu thụ ở Nam Mỹ, móc nối với ma-phi-a thật kín. Đại tá Ram-xy cho soát lại các nhóm biệt kích ở Bắc Lào, loại bớt bọn lưng chừng và nhiễm cộng sản. Giúp võ khí cho Vàng Pao xây chắc các căn cứ Loong Chẹng, Xảm Thôông, tiếp tế đều, thả xuống đủ bột ngô, muối, dao cuốc, cả vòng và chuỗi cho đàn bà. Còn cậu Giắc-ky... ờ, Kít-man, bám chắc nhóm lão La-phác-sơ cho tôi. Hình như có bóng đàn bà nào đó... Một nữ phóng viên AFP, đúng không? Bồ hả?

- Thưa không, không ạ... Cô Mỹ Duyên là người tin cậy được SDECE giao lại cho ta, tôi xin thề trên Kinh Thánh! Cô ta giúp chúng tôi rất nhiều việc, thiếu tá nhỉ?

Bóp gật đầu. Hắn đã cho theo dõi, thấy tất cả những cuộc mặc cả với phía Pháp không hề lộ. Nếu Mỹ Duyên có bán tin và ảnh cho các nước cộng sản, thì đó chỉ là những chuyện tán thêm ngoài rìa, AFP đã duyệt, thường đăng muộn.

- Được. Nắm thêm được một Lệ Xuân trong giới báo chí, cũng hay. Nhưng mà này, Giắc-ky, cậu phải bớt rượu, bớt gái, bớt ba hoa đi. Người thay thế cậu dể kiếm thôi.

Giêmx Kít-man đỏ bừng mặt, lí nhí: “Thưa vâng”.

Menđ-brao dành những tin giật gân nhất để nói vào phút cuối:

- Hôm qua tôi được báo mấy dự đoán của cục trưởng CIA, tối mật. Một, tổng thống Giôn-xơn sẽ tận dụng quyền đặc biệt được Quốc hội trao trong nghị quyết ngày 7 tháng 8 vừa rồi, sau sự kiện vịnh Bắc Bộ, để đưa quân Mỹ sang chiến đấu ở nước này. Nhiều sư đoàn đang được huấn luyện lại cho hợp với hoàn cảnh Việt Nam. Hai, Nguyễn Khánh bắt đầu tiếp xác bí mật với Bắc Việt, chưa đi tới đâu nhưng vẫn là phản phúc. Hắn bị đảo chính và biểu tình chống đối khắp nơi, nhân đây ta sẽ tước dần quyền bính, khi có người thay ta sẽ cho đi đày trong danh dự, làm đại sứ lưu động như Dương Văn Minh. Ba, Lầu năm góc đã trình lên tổng thống kế hoạch Sấm cuội, được duyệt rồi các tàu chở máy bay của hạm đội Bảy đang trên đường sang đây như các ông đã biết, tin công khai là chỉ tập trận thường lệ...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #284 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2017, 04:10:07 pm »

Tiếng hò hét vẳng từ xa đang đến gần. Có tiếng ô-tô cảnh sát vừa chạy vừa hú còi, xe lớn nhỏ rầm rập lao theo. Chợt mé sau nhà dậy lên vô số tiếng nổ của súng nhỏ, điểm nhiều tiếng lựu đạn. Menđ-brao bấm chuông gọi cô hầu:

- Bảo thằng làm vườn ra xem có việc gì, báo lại tôi.

Cô vừa ra, lão bấm luôn hai cái nút khác màu gắn bên dưới mặt bàn. Cánh cửa thép bọc cao-su xốp cả hai mặt đã khép sẵn, giờ bật lên những tiếng thép của then khóa. Hai cửa sổ lớn có lưới chống B.40 căng bên ngoài theo kiểu úp lồng bàn, giờ có rèm thép buông xuống che kín. Viên thiếu tá quen nếp, bước lại bật đèn, mở máy điều hòa không khí.

Các cấp dưới hỏi dồn dập những chi tiết tỉ mỉ. Menđ-brao chỉ cười khẽ:

- Có những điều chính tổng thống và những người gần gũi như Mắc Na-ma-ra hay tướng Tay-lơ còn phân vân, sẽ tùy cơ úng biến. Chọi nhau với cộng sản ở Bắc và Nam, hai đồng minh là Nga và Tàu sẽ cảm thấy bị Mỹ thách thức, bị Tây Âu coi khinh, bị cả thế giới thứ ba hết tin cậy. Dù muốn dù không, họ cũng phải giúp cộng sản Việt Nam thôi.

Đốm đèn đỏ trên máy điện thoại nội bộ nhấp nháy, kèm theo tiếng ba nốt nhạc báo. Trên mặt ngoài cửa thép, hễ khóa điện đóng chốt thì đèn trên cửa cũng bật trong hộp kính đục: “Don’t disturb-Use interphong ” (Đừng quấy rầy-Dùng điện thoại nội bộ). Sếp không nhấc ống nghe mà ấn nút cho tiếng nói truyền vào loa lắp trong máy. Cô hầu nói:

- Thưa ngài, mặt trước nhà ta, cách cổng độ một trăm yađ, cảnh sát dã chiến đang chặn một đoàn biểu tình lớn của thanh niên và sinh viên chống chính phủ, có xô xát nặng. Gió khác chiều, khói lựu đạn cay không bay vào nhà ta như lần trước. Còn ở mé sau, một khách sạn làm lễ khai trương, nổ bốn tràng pháo lớn treo từ gác ba xuống, nhiều người dân tưởng Vi-xi đánh vào đã bỏ chạy xa. Chúng tôi đợi lệnh ngài. Thưa hết!

- Cảm ơn Bét-ty nhé. Không cần gì nữa đâu, xong việc rồi.

Ba người khách đứng lên chào về. Viên tướng ấn nút cho các cửa mở như cũ, gật đầu: “Chúc các bạn may mắn”.

Nhà báo Giêmx và thiếu tá Bóp đã thân nhau trong những ngày chạy đôn chạy đáo cho kế hoạch Đảo phương Nam, tuy tính nết khác xa nhau. Họ cùng lên chiếc xe Gip trắng của Bóp, đi ăn trưa ở khách sạn Ca-ra-ven. Tuy gọi khinh người Pháp là “bọn ăn ếch”, nhưng họ đều thích các món và các loại rượu Pháp. Gì thì gì, chế biến bột thì nhất Ý, nấu nướng thì nhất Pháp, ăn cầu kỳ thì nhất Tàu. Hoa-kỳ còn man rợ đến cái độ ăn bít-tết áp chảo mà uống cà-phê sữa!

- Buổi chiều hết việc, ta đánh đổ một chai cô-nhắc đi! Mẹ kiếp, lão sếp truy tao như cha dạy con. Ngoài bốn mươi, độc thân, không rượu gái thì còn thú vui nào nữa hả Bóp?

- Nhưng cái khoản bớt ba hoa thì lão nói phải. CIA dài tay lắm đấy, chớ đùa mà dại.

Hầu bàn đã bưng đến các món khai vị và hai ly mác-ti-ni Ý. Trứng cá Nga, dồi Đức, pho-mát Hà-lan, tôm hùm Bắc Phi. Bóp chửi thề rất tục, gắt người hầu Việt Nam:

- Trách nào Hít-le xưa kia gọi Pháp là một dân tộc đồi bại, đánh chiếm Pháp chỉ trong mấy tuần. Chúng tôi đến đây để ăn đồ Pháp kia mà! Nước Pháp thiếu ăn đến thế à?

Người hầu không hiểu gì, chỉ cúi đầu: “Thưa vâng”. Không thấy khách trả lại món nào, anh rút lui gọn. Giêmx can ông bạn:

- Mày chưa biết kiểu trọng thị của châu Á. Chúng  nó biết ta là người Mỹ, công dân của cường quốc số một thế giới, có mặt khắp nơi như người Anh thế kỷ trước, ắt thích các món quốc tế. Chúng bày đủ thứ đặt tên lắm nước, nhưng đều sản xuất ở Chợ Lớn. Mày đã từng ở Nga, ăn trứng cá đen và đỏ, đã bao giờ nếm thứ trứng cá mịn như hạt vừng này chưa?

Giêmx chợt nghĩ ra: gọi Mỹ Duyên đến vào giờ tráng miệng, uống cà-phê rượu mùi. Giờ báo chí quen suồng sã với nhau như thế. Ăn gì, ăn ở đâu tùy thích, nhưng thường gọi nhau đến đây uống cà-phê để cho nhau những tin “tủ” sốt dẻo nhất, về sau sẽ có đi có lại. Các ổ to nhỏ dành cho Mỹ như câu lạc bộ, cư xá, sứ quán, căn cứ, cơ quan viện trợ thường bị Việt Cộng đánh bằng hàng tạ chất nổ, phóng viên chỉ đến khi rất cần, xong vù ngay. Những nơi hiền lành như Ca-ra-ven này thì chưa một lần bị chạm tới. Viên thiếu tá giả phóng viên chưa thạo nếp cư xử này, Giêmx phải giảng cho hiểu trước khi gọi điện cho Mỹ Duyên.

- Ô-kê, các bạn chén đi. Nửa giờ nữa tôi đến.

Mỹ Duyên đến bằng chếc mi-ni Đô-phin tự lái, mặc áo váy đầm. Nàng bước qua cửa phòng ăn, nhìn quanh, đến chỗ Giêmx đang đứng giơ tay và búng hai ngón liên tiếp. Hầu bàn cũng theo ngay.

- Ciao !... Cho một kem dâu, một cà-phê sữa.

Thấy Giêmx chăm chú nhìn vào ngực mình, Duyên cúi xuống: nàng quên không lột cái huy hiệu “Mặt trời mọc” cài trên áo. Nàng vừa gỡ vừa cười:

- Đóng vai phóng viên Nhật để khỏi bị níu kéo... Tôi bị vài lần rồi. Sáng nay nhờ cái lá mộc này mới lọt được tới chỗ trót ngàn dân cày lục tỉnh lên biểu tình ngồi trước dinh ông Khánh.

- Họ đòi gì, chống gì?

- Như cũ thôi. Đòi mở rào ấp để làm ruộng, đòi bồi thường nạn nhân. Chống tàu bay đại bác phá làng, chống ác ôn đánh giết người. Tôi nói như tụng kinh: “Sorry, I don’t und derstand... Gô-men, oa-ka-ra-nai... Xin lỗi, tôi khôông haiao zi ca...”. Họ để tôi chụp ảnh và ghi âm được kha khá trước khi cảnh sát Sài Gòn xài lựu đạn cay... Mà này, các bồ định mua gì, bán gì?

- Ôi người đẹp, sao thực dụng đến thế?

- Người đẹp cũng cần ăn để sống như các chàng trai ngổ ngáo, còn phải học thêm võ giu-đô để quật những  thằng say chực sấn vào buồng.

- Giả dụ như... chúng tôi định bán tin mật về cuộc tập trận phối hợp giữa hạm đội Bảy và hải quân xứ này?

- Tin loại ấy, các hãng Pháp và Sài Gòn không hám đâu. Nên bán cho Na-uy, Nam Phi, Bra-xin nếu bắt được mối. Người Việt thạo đoán lắm. Vài vết trầy sơn trên vỏ tàu Ma-đốcx là đủ cho đợt ném bom ồ ạt vào các cảng Bắc Việt và tổng thống được quyền đối phó đặc biệt. Lần này, muốn mở rộng chiến tranh ra toàn Việt Nam hay toàn Đông Dương, chác ngài Giôn-xơn phải tìm hay tạo ra lý do mới, to hơn bổn cũ tí chút.

- Ái chà chà, bạn đồng nghiệp yêu quý đáng sợ thật chứ! Này Xi-mo-nét, mai là chủ nhật, ta cùng đi Vũng Tàu tắm biển được không? Hay bận dịch mật mã để đánh điện cho luật sư Nguyễn Hữu Thọ?
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #285 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2017, 04:13:42 pm »

Mỹ Duyên cười to, rút trong ví ra một tờ giấy in rô-nê-ô:

- Ông Thọ đang tìm tôi để tỏ tình. Đọc đi.

Tờ giấy in song ngữ Việt và Anh bằng hai cột, lời lẽ rõ ràng:

“MTDTGP MNVN thông báo cho các cơ sở Sài Gòn-Gia Định để chấp hành. Hiện nay có một số điệp viên giả danh phóng viên đang hoạt động tình báo ở Đô thành. Chúng ta đã nghiêm khắc trừng trị vài tên như Đặng Văn Song, Chu Tử công khai chống phá cách mạng. Còn những tên bồi bút khác như Nasyan Bosh, Hokkaijin, Simong tte MD, James Kidman... cần được theo dõi chặt chẽ để buộc chúng câm họng khi thấy cần”. Chữ ký bên dưới ngoằn ngoèo không đọc được.

Giêmx há mồm, tròn mắt. Hai bắp tay rậm lông nâu rung nhẹ, tờ giấy đang cầm nhảy mạnh hơn. Bóp thò tay rút giấy đọc lại, hắn không để ý, chỉ nói lập cập:

- Nhưng... tôi chưa hề công kích họ... họ hiểu lầm...

- Giắc-ky ơi, hai chúng ta mới bị theo dõi, chưa bị kết án đâu. Đa nghi là một thứ bệnh chiến tranh. Xtain-béc nổi tiếng là vậy, làm phóng viên trong thế chiến Hai cao hứng viết vài dòng về những trận đánh trước thành Troy thời cổ Hi-lạp, đã bị kiểm duyệt Mỹ bôi bỏ và cảnh cáo vì “lộ bí mật quân sự”. Chúng mình ra vài bài than thở nỗi khổ tâm dân chúng xứ này trong cuộc chiến, Vi-xi sẽ xếp ngay vào loại tiến bộ... Họ dán nhãn Diều hâu hay Bồ câu rất nhanh nhậy, chẳng kém Âu Mỹ đâu! Tôi bay đây. Sáng mai nhé, đón tôi tại nhà, tám giờ sáng. Ông Rốc-xơn cùng đi không?

- Xin sẵn sàng làm kỵ sĩ số hai... nếu không có đảo chính lớn, biểu tình lớn, pháo kích lớn, vụ nổ lớn do Vi-xi.

- Ô-kê, bai-bai!

Cô phóng viên người Việt ra khỏi cửa, thiếu tá Mác-mo-yo tự rót ly cô-nhắc đầu tiên sau bữa cơm, khi Giêmx đã dốc cạn nửa chai:
- Mày nghĩ gì về tờ giấy vừa đọc?

Giêmx lè nhè bốc một nắm lạc rang húng lìu, món nhắm ưu thích của hắn, hầu bàn biết tính nên luôn luôn dọn kèm đồ tráng miệng, lúc bí thì thay bàng đậu phộng da cá:

- Lạy Chúa phù hộ... cô ả chắc khiếp hồn, tội nghiệp!

- Ngược lại, chính ả muốn chúng ta run. Mày xem, có bao giờ Vi-xi ra lệnh mật cho các nhóm khủng bố có kèm bản dịch tiếng Anh và in rô-nê-ô phát như truyền đơn?

Giêmx là tay mạnh rượu, chưa say hẳn, trầm ngâm nhai lạc. Bóp nhắc thêm rằng lời lẽ trong giấy không giống những truyền đơn Vi-xi nhét đầy những  từ ngữ cộng sản quốc tế. Giêmx thốt cười hơi to, nhưng  trong góc khuất này không bị để ý:

- Tao ở với bọn guk 1  từ chiến tranh Pháp-Việt, đã đọc lắm tờ cùng kiểu. Có thể gọi là thứ mệnh lệnh-truyền đơn-thư cảnh cáo, giả vờ bí mật nhưng cố ý công khai. Mày đến buồng tao mà đọc hàng trăm tờ như thế. Những lệnh của Vi-xi bắt dân tự phá hàng rào ấp, quan chức Sài Gòn đi học chính sách mặt trận, lính địa phương nộp súng trình diện, vô số. Lệnh cho thanh niên làm quân dịch cho Vi-xi nữa, đi dân cộng tiếp tế... Là giả che thật, người bị ép buộc che người tự nguyện. Đánh vào một xã, một quận, người tình báo Vi-xi cũng bị trói giải về trại tù binh như cố vấn Mỹ và sĩ quan Sài Gòn, nằm chung buồng nghe lỏm, cạn nguồn thì được chuyển sang biệt giam và cho phép vượt ngục để về làm vụ khác. Mày chưa sống với đất Viễn Đông hay bọn gúk nhiều, chưa biết. Dân xứ này cũng như dân Tàu hay Nhật, đã có nền văn hóa độc đáo của họ chừng hơn ba ngàn năm trước khi các vị Tổ phụ Lập quốc bước xuống đất châu Mỹ. Họ khinh chúng ta man rợ, hiểu chưa? Cũng na ná châu Âu khinh Mông Cổ. Tối nay, bọn man rợ ấy ào tới như bão táp, với sức mạnh gang thép và hạt nhân hơn họ ngàn vạn lần, khủng khiếp hơn kỵ binh Thành-cát Tư-hãn tràn khắp Á Âu. Họ phải làm gì? Đấu ngang sức là thua ngay, họ chọi với ta bằng mưu mẹo, bằng thủ đoạn. Rồi mày sẽ thấy kiến đẩy lùi voi, muỗi diệt sư tử, chèo bẻo đuổi chim ưng...

- Mày lý sự hệt một thằng Viết-níc 2 tóc dài!

- Không. Như một nhà báo muốn giữ lương tâm nhà nghề. Tao ký hợp đồng với chúng mày ba năm, rồi ba năm nữa, phải. Nhưng tao vẫn là nhà báo, không muốn xực cà chua trứng thối. Về nhé. Mày lái. Chiều cuối tuần, để tao ngủ. Tao sẽ treo bảng “Đừng quấy rầy”, rút phích điện thoại, gài chốt, dặn hầu buồng trả lời tao đi vắng.

Đêm Sài Gòn trôi qua yên tĩnh, chỉ nghe vẳng những tiếng còi cảnh sát phạt người về khuya phạm lệnh giới nghiêm. Ngay trong các căn cứ, cố vấn Mỹ cũng không phải đội tấm nệm cao-su-mút trên đầu để chạy ra hầm bê-tông.


-----------------------------------------------------------
1. Từ khinh miệt của Mỹ chỉ chung người Việt (gook)
2. Thanh niên Mỹ ủng hộ Việt Nam (Vietnik)
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #286 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2017, 04:15:20 pm »

Mười giờ sáng hôm sau, chiếc Đô-phin nhỏ với bốn bánh lắp nan hoa của Mỹ Duyên mới đến Vũng Tàu. Duyên rất khôn khi từ chối đi theo xe nhà binh để tránh bị ném đá hay lật đốt, nhờ đó họ lách qua một cuộc biểu tình chừng năm ngàn nhà sư và Phật tử, nhiều người giơ hai ngón tay chữ Y khi các phóng viên chụp ảnh.

Vào hạ tuần tháng mười hai này, bãi tắm vắng khách Việt. Duyên chỉ bơi chừng nửa giờ đã lên trùm áo khoác, cười:

- Người nhiệt đới sợ lạnh, phụ nữ càng ngại hơn. Các bạn cứ tắm, tôi bày mâm píc-níc. Rất tiếc không làm được món thịt quay ngoài trời theo kiểu tuổi trẻ Mỹ cắm trại.

Giêmx ngẩn mặt nhìn Duyên đang bày các món chả ram, mực nhồi chiên, có cả một mớ viên cồn để đun sôi cái cù lao ăn thịt bê nhúng dấm với bánh tráng nướng. Một chồng đồ hộp Mỹ đặt sẵn nhưng không mở: “Chỉ để chiều các khách khó tính thôi”.

Một nhóm năm người mặc sơ-mi ngắn quần soóc, đội mũ rộng vành chóp nhọn, dừng lại cách mươi bước nhìn họ. Một người đưa máy ảnh Pô-la-rôiđ lên định bấm. Duyên quay mặt đi, khoát tay xua. Họ cười hô hố, bỏ đi. Giêmx hất hàm ra ý hỏi. Duyên trút ra đĩa một túi dưa chuột và hành muối chua, mở nút một chai khai vị mác-ti-ni:

- Các bạn biết đấy... Trước mắt mọi người, một ả Việt Nam đi với hai đàn ông phương Tây chỉ là một con “điếm độc”, tức là gái đĩ làm ăn lẻ... Nhưng mấy người Âu hay Mỹ vừa đi qua sao mặc đồ như phật tử hay hướng đạo, tôi thấy lạ mắt lắm.

- Người đẹp ít gặp giới quân sự quá đấy. Họ chẳng phải người châu Mỹ hay Âu, mà sống ở châu Đại Dương!

- Thuộc giới quân sự, sao họ không mặc quân phục?

- Quân phục của Tân-tây-lan kỳ cục vậy đó. Họ sang để quan sát, thu xếp, trước khi mang cờ sang cắm ở đây.

Rốc-xơn chen vào:

- Giắc-ky đang mê nghề chiêm tinh đấy.

- Quỷ bắt bọn chiêm tinh! Ở Triều Tiên, mười mấy nước đã đưa quân tới, đâu có giấu diếm. Bây giờ, các nước đồng minh của Mỹ đang sẵn sàng dựng cờ ở xứ này nhân danh chống cộng, đang gạ ông Giôn-xơn trả nhiều đô-la mua máu... Mày nhớ là bà chủ píc-níc đã giúp AFP tung khắp thế giới những tin mà mày xếp loại bí mật. Nay mai, nếu Tân-tây-lan, Úc, Thái-lan, Phi-líp-pin, Nhật Bản, gì gì nữa, liên tiếp trút lính sang đây, tao sẽ được phong là thiên thần báo trước! Thứ nhì là cô bạn...

Duyên cắt ngang:

- Một ngày không chính trị: Ăn các món Việt trước đi và cho biết tin tức về chúng. Tất nhiên tôi pha nước chấm bằng sốt đậu nành, người Việt gọi là xì-dầu hay ma-gi. Nhưng xin nhắc: phải tập ăn cơm bằng đũa, xài nước mắm, mắm ruốc, mắm cá nhỏ nguyên con của miền Trung, mới làm thân được với dân chúng. Có nhà báo Mỹ đã lập một kỳ công: ở Việt Nam hơn tháng mà không hề hỏi chuyện một người bản xứ nào, vẫn viết được hàng chục phóng sự ly kỳ về cuộc chiến trên đất này. Xin bái phục, tôn làm ông tổ nói phét!

Vì dứt khoát “một ngày không chính trị”, cả ba phóng viên đều không mở máy thu thanh trên xe hoặc mang theo người. Nhưng chiều hôm ấy, khi về tới Sài Gòn, một tin mới đón họ: các ông “tướng trẻ đầu bò” đã cho về vườn Thượng hội đồng Quốc gia, tuy chưa lật Nguyễn Khánh, hẳn vì tướng Tay-lơ cấm.

Ngồi giải khát trong khách sạn Ca-ra-ven, họ làm một thống kê ngắn, chỉ mấy tháng gần đây thôi:

- 16-8-64: Khánh gạt hẳn Dương Văn Minh.

- 28-8-64: Biểu tình lớn khắp miền Nam chống độc tài quân phiệt, buộc Khánh phải trao quyền lại cho Tam đầu chế Minh, Khánh, Khiêm.

- 27-9-64: Khánh lại tống cổ Minh và Khiêm, một mình bao thầu viện trợ chống cộng.

- Và nay tới cuộc đảo chính của đám “đầu bò, Thổ-nhĩ-kỳ trẻ”, tùy cách gọi của Việt hay Mỹ.

Trong bốn tháng lẻ vài ngày đã bốn lần đảo lộn chính sự. Vi-xi tràn ngập khắp nơi, phá ấp, chiếm đất, giành dân. Quân Sài Gòn thi nhau trốn theo Vi-xi, trốn về nhà. Chính quyền cấp xã thôn đầu hàng du kích...

Mỹ Duyên ỡm ờ tiếp lời Giêmx:

- Chưa đến năm mới, tướng lãnh Sài Gòn đã tặng chúng ta một cuộc đảo chính. Vi-xi sẽ gửi quà bằng nhiều tạ chất nổ và mươi trận đánh lớn. Còn cụ Giôn-xơn sẽ biếu một bài diễn văn chống cộng hết sức hùng hồn.

Bóp Rốc-xơn long mắt, thôi mím cặp môi mỏng:

- Và sau diễn văn ấy sẽ có hàng chục vạn quân Mỹ và các đồng minh kéo tới đây. Bọn cầm quyền Việt Nam cộng hòa cùng quân lính và nhân viên dưới họ đang rữa nát vì tham nhũng và khiếp sợ. Nhưng thế giới tự do không chịu để mất tiền đồn này vào tay cộng sản. Nếu cần, Mỹ và đồng minh có thể gạt hẳn bọn gúk đang cắn xé nhau tranh ăn, đặt miền Nam Việt Nam dưới quyền ủy trị của Liên hợp quốc hay của Mỹ!
- Ông Rốc-xơn cũng là nhà tiên tri như Kít-man, để xem ai thắng ai... Nhưng lời hẹn “một ngày không chính trị” của ta trôi theo dòng nước rồi. Tối nay mỗi chúng ta lại phải săn lùng tin tức, đánh điện về nước. Chắc ông Rốc-xơn sốt ruột nhất. Chúng tôi có lương tháng của hãng, còn ông là phóng viên tự do, sống bằng tiền bán tin và ảnh kia mà. Bai-bai các bồ nhé!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #287 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2017, 09:25:19 am »

Chương 15


Bước xuống khỏi các bậc thềm của thư viện, Cam gặp ngay làn mưa tuyết cuối mùa rơi xuống, rất thưa và êm như lời chào lưu luyến của rét đông đang thong thả rời Mát-xcơ-va lui về phương Bắc. Nền mây trên thành phố vẫn trải đều như cốt chăn bông, nhưng sáng hơn, tươi tỉnh hơn, rải những bông tuyết hình tổ chim yến bay ngang dọc và như rất thích bay ngược lên cao, theo kiểu lượn của nhũng bông hoa rau tàu bay thân già cao trên các rẫy cũ Tây Nguyên.

Trong nội thành Mát-xcơ-va, mùa hè đến sớm hơn ở ngoại ô. Các thùng muối chống băng trơn xếp dọc các vỉa hè đã biến mất. Các ngấn tuyết trắng đắp nổi trên các biển nê-ông chào hàng đã tan chảy cùng với những chòm râu băng buông tua tủa từ mép các ống tháo nước các tầng nhà cao xuống cống. Từng đoàn xe xúc và thổi tuyết ra xa đã trả lại ánh sáng cho những cửa sổ hai lớp kính bị ngập tuyết đến ngang lưng, và xe ben chở đi đổ vào các rừng hay sông ngòi, tránh cho các đường phố bị ngập nước khi tuyết tan. Chỉ cần vài ba ngày nắng ấm là nội thành Mát-xcơ-va được rửa sạch bằng nước tuyết. Tuy toàn thành Mat-xcơ-va đã được thông báo rằng trượt băng hay đi bộ trên sông ngòi là rất nguy hiểm, vì băng mỏng và nhiều nứt nẻ, nhưng chỉ có dân nội thành nghe theo, còn dân ngoại thành cứ phớt tỉnh khi qua sông bằng những tấm ra-két như quần vợt, không cán lắp dưới giày.

Xnhég, biê-lưi xnhég... Bài hát đón mừng tuyết ấy, Cam đã thuộc. Và anh đã hết ngạc nhiên khi cuối giờ học chiều, bước ra lại thấy trời màu xanh chứ không phải màu tím nhạt như khi nhìn qua cửa sổ. Người dân Nga nguyền rủa những mùa đông ít tuyết, vắng tuyết. Các lễ hội trên xe trượt tuyết đành bó tay, còn những cánh đồng lúa mì thiếu nước tuyết tan sẽ khô héo sớm, đến cỏ cho bò sữa cũng tàn lụi. Đói, sẽ đói nặng.

Người Mát-xcơ-va nói chuyện ngoài phố không còn phun khói qua mồm, cũng khỏi phải giữ cho giá buốt cắn vào mặt mũi như cháy bỏng tuy khắp thân đã trùm kín những thứ lót lông thú trông như con gấu Mi-sa trẻ con chơi. Các đội thợ xây nhà và trồng cây làm tiếp việc bỏ dở, còn các đơn vị công binh đang sắp sẵn những khối mìn phá băng cho tháng Tư sắp tới, đẩy băng trôi gấp theo nước sông để mở đường cho tàu thủy chạy. Các chàng trai cô gái trẻ phớt đều gió lạnh còn chen giữa những đợt gió Nam nóng ẩm, chuyển sang mặc blu-dông nhẹ và áo len đan, phải nói là đan khá vụng so với hàng Việt Nam.

Cam ghé vào phòng chờ bên bàn của bác thường trực tóc bạc. Đôi bên chỉ gật đầu chào nhau theo lối người thân. Cam rút tờ báo Iz-vex-chia hôm nay ra tìm tin mới về Việt Nam. Chợt bác kia chìa cho Cam mảnh giấy của Ô-léc gửi nghiên cứu sinh Phan Cam, tiếng Nga mở đầu, tiếng Việt sai lung tung nối tiếp: “Anh Kam về trướk và an trướk không nên chờ tôi, tôi fai tian một ban gáy. Chuên ngiâm chinh suât đòi thât đái ma”!

Cam bật cười khẽ, nhét tờ báo vào túi áo khoác, gật đầu chào bác thường trực, đi qua cổng đến bến xe trô-lây chờ chuyến đúng số đúng tuyến.

Một năm rưỡi qua từ ngày Cam đến thủ đô Liên Xô. Chế độ nghiên cứu sinh rộng hơn và dễ dãi hơn chế độ sinh viên đôi chút, Cam được xếp ở buồng nhỏ một người trong khối nhà nội trú to tướng của trường Đại học tổng hợp Lô-mô-nô-xốp, khu kiến trúc khổng lô trên đồi Lê-nin, với quang cảnh tuyệt đẹp nhìn xuống sông Mát-xcơ-va và sân vận động Lê-nin. Chỉ phiền một nỗi là đường đi học quá xa: khoa Ngữ văn mà Cam theo học lại đặt ở cơ sở cũ của trường MGU, Báo chí, Sử, và cả Học viện các ngôn ngữ phương Đông.

Cậu Ô-léc mới chẵn hai mươi khi vào học tiếng Việt ở học viện ấy, vì điểm thi vào các trường trên trung học quá cao, trong khi trường Ngôn ngữ phương Đông đang mở rộng cửa. Tiếng Trung Quốc khó phát âm và chữ viết tượng hình quá khó nhớ. Tiếng Nhật càng hiểm hóc nữa, ai lại một thứ tiếng mà sách báo dùng chữ chân, viết tay dùng chữ thảo, hàng xuất khẩu dùng chữ la-tinh được gọi là La-mã-tư. Và, để bức tường ngôn ngữ thêm cao dày, họ gài khắp nơi những chữ hán đọc theo kiểu đa âm tiết Nhật hoàn toàn khác gốc hán một ngữ pháp độc đáo với tất cả động từ dồn vào cuối câu. Trước đây Cam học tiếng Pháp, Nga, Anh khá nhanh, đã thử mó vào tiếng Nhật qua sách và đĩa dạy phát âm, chỉ vài tháng đã rút lui có trật tự.

Cam đến ở chung với gia đình Ô-léc sau lễ Năm Mới.

Bước vào năm thứ nhất khoa tiếng Việt, Ô-léc luống cuống đến hoảng sợ. Chữ viết đơn giản, ngữ pháp quá dễ so với tiếng Nga, nhưng khi nói thì uốn lưỡi như hát từng đốt nhạc, có khi từng chùm đôi, chùm ba. Suốt học kỳ một, Ô-léc chỉ được điểm hai và ba về phát âm, đã chán định bỏ cuộc, nhưng được bà mẹ dỗ dành mãi nên không rời trường.

Cả nhà Ô-léc gắn bó với Việt Nam nhiều năm.

Ông bố Ô-léc, kỹ sư cơ khí hàng không, đã sang giúp Bắc Việt Nam xây dựng ngành hàng không dân dụng từ 1955 đến 1960. Sau hai năm ông về phép, khuyên vợ con nên sang ở Hà Nội ở với ông. Xứ nóng đấy, nhưng chế độ chuyên gia rất khá, nhất là tình cảm của người Việt. Chỉ cần nói “tôi chuyên gia Liên Xô” là mọi người tươi mặt niềm nở.

Hai vợ chồng cùng sang Việt Nam với Ô-léc mười một tuổi và em gái lên sáu là Tô-nhia. Bà Ôn-ga giáo viên cấp một có việc làm ngay: mấy chục trẻ em, con cán bộ đại sứ quán và các chuyên gia đang thiếu người dạy, không thể mở trường chính quy vì học sinh quá ít. Bà mở lớp ngay trong khu chuyên gia gần công viên Thống Nhất với hai cô giúp việc người Việt đã học ở Liên Xô, dạy giờ theo hợp đồng. Các em thích mê mỗi khi được dẫn đi học trong công viên, tuy mới làm dở dang nhưng vẫn thoáng mát. Ô-léc và Tô-nhia được sống ba năm thoải mái với bố mẹ trong khung cảnh ấy, không biết rằng người anh cả của mình bị khốn khổ đường tình duyên.

Anh An-đrây mê một cô diễn viên kịch nói, lấy cô khi học xong lớp sĩ quan không quân cách đây bốn năm. Đơn vị anh đóng trải dài dọc biên giới Tây-Nam, giáp với Thổ-nhĩ-kỳ, I-ran, Ap-ga-ni-xtan. Chị vợ nhất quyết không rời Mát-xcơ-va, là nơi chị sinh ra và lớn lên, cũng chỉ ở đấy mới có những người đánh giá đúng tài năng của chị. Nhiều chàng trai mê nhan sắc đã tán đến mức tôn chị lên thiên tài, lên hoa hậu, lời chê mấy lão đạo diễn và viết kịch bản là mù và điếc, chê chồng chị coi vợ không bằng nghề tài-xế tàu bay. Chỉ sau hai năm, chị đã vất trước mặt chồng lá đơn xin ly hôn, với lý do: “tính nết và nếp sống trái ngược nhau”. Ký xong, anh thở dài: “Còn may chúng ta chưa có con với nhau”. Chị vợ cáu kỉnh: “Anh tưởng tôi vô sinh đấy hẳn? Tôi đã nạo thai một lần trong cái đợt anh đi bảy tháng không về. Đừng tiếc, con của người khác chứ không phải cái nòi giống bạc bẽo nhà anh đâu!”

Tòa án cố hòa giải không được. Anh nhường chị căn hộ hai buồng, ra đi với một va-li nhỏ đồ dùng riêng và một thùng bìa cứng to đầy sách. Về đơn vị, anh gặp một thông báo của Không quân chọn người tình nguyện lái máy bay tiếp tế cho các trạm nghiên cứu ở Bắc băng dương và Nam băng dương. Lương cao, phụ cấp nhiều, nhưng được ghi rõ là nhiệm vụ nguy hiểm. Lâu nay anh chuyên lái máy bay vận tải của Không quân bay qua những đèo núi cao quanh năm tuyết phủ, những hoang mạc gió tung bão cát, nay anh muốn đi nơi nào thật xa, thật váng vẻ, để chờ vết thương ở tim kéo da non.

Qua vài tháng tu nghiệp và bay thử, anh được chọn vào đội bay cực Bắc. Vừa lúc ấy cả nhà anh từ Việt Nam trở về nhà cũ ở thủ đô, hai đứa em Ô-léc và Tô-nhia mới biết nỗi đau của anh An-đrây mà cả bố mẹ cũng cố giấu.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #288 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2017, 09:31:04 am »

Ô-léc bắt chuyện làm quen với Sáu Cam trong khi chờ xe trô-lây. Hai chuyến xe khác nhau nhưng chỉ cách một phút, và Cam thường ra sớm để về khu tập thể MGU. Ô-léc tập nói tiếng Việt-tuy về nước đã sáu năm nhưng vẫn còn tí Việt Nam đọng lại từ thời thơ dại-Cam sửa giọng và nhắc từ ngữ.

Chỉ sau vài tuần cùng chờ xe như thế, Ô-léc đã mến anh nghiên cứu sinh có nụ cười hiền lành và nói tiếng Nga rất khá, cố kéo Cam về nhà mình chơi. “Anh sẽ thấy, cả nhà em là một ổ thân Việt Nam. Chỉ tiếc bố em không còn, ông ấy rất chịu khó học, lắm khi làm việc với kỹ sư bên nước anh không cần người dịch”. Ông về nước được hai năm thì tử thương trong một tai nạn ô-tô. Trước khi chết ông còn làu bàu: “Một cái chết ngu ngốc nhất trần đời. Qua gần hết chiến tranh vệ quốc, chỉ dính đạn đôi lần. Ở Hà Nội cứ khỏe như vâm... Nghề hàng không mà lại bị xe chẹt giữa phố thủ đô!”

Gia đình Sec-pu-khin gặp nhau đông đủ trong lễ Cách mạng tháng Mười. Anh An-đrây cũng về. Anh trẻ hơn Cam hai tuổi, thừa hưởng của ông bố cái vóc một mét chín lăm và bộ râu rậm cùng cái tính hay tán phét như người Việt nói trạng. Bị vợ bỏ nhưng anh chẳng có tí gì u sầu giống Ô-nhiê-ghin hay Pét-sô-rin cả, cứ cười hô hố và vỗ đùi người ngồi gần nhất bôm bốp. Ngay từ câu đầu, anh đã gọi Cam bằng tư và chia động từ ngôi nhì theo số ít, kiểu cậu, tớ rất xả láng.

Bà Ôn-ga khác nhiều. Bà đẫy người, tóc và mắt đều màu nâu nhạt nên khó đoán được vui buồn. Sau khi góa chồng bà xin về hưu. Căn hộ ba buồng với các tiện nghi được giữ nguyên, với nạn khan nhà ở Mát-xcơ-va như thế là rất khá. An-đrây ủy lương cho mẹ vì mỗi năm chỉ về nhà vài lần, cộng với lương hưu của mẹ cũng đủ sống tùng tiệm và nuôi Tô-nhia ăn học. Học bổng ba phần tư của Ô-léc chỉ đủ cho cậu ta may sắm và đãi các bạn gái-cậu ta có quá nhiều bạn gái, Tô-nhia không ưa cái tật ấy, hay đá móc rất đau cho Ô-léc nổi khùng.

Ôn-ga và Séc-pu-khin không thờ Chúa nhưng vẫn thích các cuộc vui trong lễ Giáng sinh với cây thông Nô-en chấp chới đèn màu và treo các gói quà lủng lẳng, với ông già Tuyết đắp dưới sân cắm một củ cà-rốt làm mũi. Tất nhiên Cam bị lôi đến. Trong khi chờ ăn bữa nửa đêm, anh An-đrây cù cho cả nhà cười nghiêng ngả:

- Bay ở cực Bắc hả? Hễ lái chính không nhìn thấy lái phụ trong khoang, đó là trời mù. Có cách khác chứ. Tàu biển bị kẹp cứng giữa băng, máy bay đi tìm, hễ thò tay ra ngoài đụng cột buồm thì trúng chỗ rồi.

- Gió thì đủ dùng. Các trạm thám hiểm đều dựng cột treo ống đo gió, bị giật đứt cả. Anh em nghĩ ra sáng kiến: dùng một vỏ bom lép của Đức loại nửa tấn, cưa bớt đi, thế là được một ống đo được gió năm trăm ki-lô-mét/giờ.

- Anh lập được kỷ lục thế giới về lái máy bay vận tải, là cho máy bay bay lùi. Biết sao không? Bão tuyết thổi ngược chiều, sức gió mạnh hơn sức cánh quạt. Không hạ cánh được, xuống thấp là bị bão dập xuống như đấm vào gáy, nát bét cả. Cứ thế anh nổ máy cho bay lùi khỏi sân ngót trăm ki-lô-mét. Đáng ghi vào sách Ghi-nétx quá đi chứ.

- Ở đây, đánh đổ một bình sữa hay can xăng xuống đất là mất toi, quá phí. Chỗ anh, đổ thứ gì xuống thì vẫn y nguyên, chỉ thò tay xuống bưng lên như tấm kính, nếu là sữa thì cắn nhai rau ráu, kèm theo một tấm cà-phê ăn kèm cho đậm.

Sáu Cam giữ ý không đến nhà Ô-léc quá nhiều, do mặc cảm của một nghiên cứu sinh nghèo. Nhưng đến lễ Năm Mới, chính An-đrây lại đến tận nhà ký túc trên đồi Lê-nin tìm Cam:

- Hai ngày nữa tớ lên cực Bắc rồi. Đi, đi ngay, cả nhà chờ cậu. Lại kiểu cách lối dân châu Á rồi, đợi túm tay lôi đi hả?

- Nói nhảm! Cậu đã ở châu Á bao giờ đâu?

- Chưa ở, mà tớ biết, ủng dạ đâu, áo khoác đâu? Mũ lông? Đừng nghĩ chuyện mua bánh hay rượu mang đến, rồi qua tháng giêng gặm bánh mì suông trừ bữa. Tác-xi đang đợi dưới kia, cậu làm điệu nữa thì mình phá sản vì tiền xe chờ.

Cuối bữa tiệc gia đình ấy, An-đrây làm bộ chợt nghĩ ra:

- Mà này Phan Cam, sao cậu không đến ở chung với chúng mình nhỉ? Mẹ mình với Tô-nhia một buồng, con bé chưa đến tuổi tiếp bạn trai trong buồng riêng (Tô-nhia nguýt anh rất dài, hai gò má chưa hết lang ben vụt đỏ rựng). Thằng Ô-léc lắm bồ nhưng còn biết sợ lưu ban, lại mến cậu lắm đấy, coi cậu là cái gương cho nó noi theo, nhưng theo sau cách một quãng xa xa thôi. Mẹ mình thì chẳng phải nói, nhắc mãi là tuổi trẻ Việt Nam hơi khắc khổ một tí nhưng đầy chí khí trong chiến tranh và kiến thiết... Khu phố Zve-nh-gô-rốt này đang xây dựng lại, có hàng loạt nhà ở, cửa hàng, câu lạc bộ, công viên, chợ nông trang, đường tàu điện ngầm đang mở dần tới đây. Mà chưa xây dựng thì cậu với thằng Ô-léc cũng đi học rất gần, bằng trô-lây hay xe buýt. Gớm, mình đến lâu đài khoa học của cậu, sao mà xa xôi rắc rối đến thế!

Cam chưa đáp ngay, chỉ nhìn quanh một vòng và gặp những đôi mắt đăm đắm chờ một lời đồng ý. Cam không thể nhận, dù biết cả nhà đã bàn mọi lẽ trước khi mời.

Bên nước ta, nhất là vùng nông thôn hay miền núi, vẫn quen nếp nghĩ “ăn hết nhiều, ở chẳng hết bao nhiêu”. Với bộ đội, ở càng dễ hơn nữa, nhà cửa nằm sẵn trên lưng, khi ngủ nhà dân thì một tấm chiếu hay cánh cửa ngả xuống là xong. Bên này ngược hẳn, tiền ở vượt tiền ăn khá xa. Chắc hẳn bà Ôn-ga sẽ không bao giờ nhận tiền thuê buồng và các khoản sưởi ấm, điện, nước nóng và lạnh. Nếu bà chịu nhận thì Cam cũng không đủ sức trả. Từ chối sao cho khéo để khỏi mếch lòng...

Thấy Cam trầm ngâm hơi lâu, bà On-ga nói thẳng:

- Con nên nhớ, chỉ trừ thằng An-đrây, còn hai bác với hai em đây đã sống trong tình thương quý của người Việt suốt nhiều năm. Hồi ấy nước cháu đang còn đói khổ lắm, mà các bạn Việt Nam đã... nói thế nào nhỉ... ờ, nhịn miệng thết khách. Có lần con bé này kêu thèm ăn táo và lê như hồi ở Nga, cô giáo nghe được và nói lên cấp trên sao đó. Một tuần sau, tất cả trẻ trong lớp của bác được phát mỗi ngày một quả lê hay táo, có khi hai quả. Ở xứ nhiệt đới đào đâu ra những quả to và ngon như thế, bác chịu phép... Cam ạ, đừng đắn đo gì nữa, về sống với bác cho vui cửa vui nhà. Đừng để bác thất vọng nhé!

Cam luống cuống đưa ra những lý cuối cùng:

- Cháu ngại... một người nước ngoài bỗng dưng bước vào gia đình... An-đrây và các em không tự do nữa...

- Chúng nó quá tự do rồi đấy. Cả nhà bàn rồi: bác với Tô-nhia chung một buồng, cháu với Ô-léc một buồng, phòng khách dùng công cộng, An-đrây lâu lâu tạt qua thì một tấm nệm trên đi-văng là đủ.

- An-đrây không thể độc thân mãi...

Chàng phi công cao lớn bật cười ồ:

- Có tìm vợ đấy. Mình tán tỉnh một cô gấu trắng cực Bắc, xinh ơi là xinh, đứng hai chân chỉ cao hơn mình ba tấc thôi. Mình ném mời thịt hải cẩu hay cá tươi, cô hạ cố chén sạch. Nhưng khi mình đến gần, tán sát sàn sạt, cô ấy nổi cáu và tặng mình một cái tát có thể bay nửa mặt, may mình né kịp. Rồi cô ấy vừa chạy vừa gào như gái tơ bị thằng híp-py chọc nghẹo!

Mọi người cười đến chảy nước mắt. An-đrây chờ yên tĩnh lại mới nói tưng tủng kiểu cù không cười:

- Mình sắp bay tiếp lên vùng băng giá, tạm gọi là thiên đường của những người muốn quên. Vườn địa đàng xưa cần có một nàng E-va, một cây táo, một con rắn, mới tạo nên sự cám dỗ và tội đi đày. Cả ba thứ ấy trên cực Bắc đều không có, phúc đức cho mình lắm lắm... Thật tình đấy Phan Cam ạ, mình sẽ rất vui mừng nếu trong nhà có một người thay mình làm anh lớn để chỉ bảo các em và... và giúp mẹ mình khuây khỏa đôi chút. Cậu gạt bỏ là phụ bấy nhiêu tấm lòng thành. Người Việt giàu tình nghĩa lắm kia mà, Cam!

Cam ngồi lặng cá dăm phút nữa, rồi đến nhấc tay bà Ôn-ga lên, hôn nhẹ. Bà kéo tấm tạp-dề lên lau mắt, đi vội vào bếp.

Sáu ngày sau, Ô-léc đến giúp Cam dọn nhà. Áo quần ấm mặc hết trên người, chỉ còn sách và sổ ghi chép là nặng, gần hệt như khi An-đrây chia tay vợ.

Lủng củng đầu tiên xảy ra khi Cam nhờ Ô-léc đưa tiền trọ cho bà Ôn-ga. Chỉ sau mươi phút, bà đã xô cửa vào phòng Cam mà không gõ trước. Mặt đỏ bừng, bà đập xấp giấy bạc xuống bàn và sừng sộ. Cũng kiểu xưng hô thân mật bằng tư hằng ngày, nhưng chỉ có thể hiểu là mày tao:

- Mày coi tao thế nào hả Cam? Chúng tao nghèo, mà chưa tới mức nằn nì mời khách ở trọ. Học bổng của mày bao nhiêu tao biết, mày đưa thế này rồi nhịn đói à?

Ô-léc phải can mẹ nhiều, Cam xin lỗi khá lâu bà mới chịu bỏ qua, nhưng đặt điều kiện là Cam sẽ ăn sáng và tối ở nhà, riêng bữa trưa không về được mới ăn ở căng-tin nhà trường. Lắm khi bà Ôn-ga làm được thứ gì ngon, bà để dành một phần trong tủ lạnh và buộc Cam phải mang theo ăn trưa. Mày cũng hệt ông chồng tao hồi trước, Chúa độ linh hồn ông! Hễ bận thì ăn chỗ làm việc, nhai một khúc bánh mì kẹp thứ gì đấy chả biết, mắt dán vào sách hay bản vẽ, uống vội cốc nước chè nguội, lại hối hả ra đi. Đa-vai, đa-vai, ông giục mãi thế đến nỗi kỹ sư Việt Nam chế ông là “đồng chí Đa-vai”, hình như tiếng Việt có nghĩa là “ôông Lam đi”, chắc bác nói sai giọng.

Một tối hai anh em Ô-léc và Tô-nhia ham trượt băng về muộn, Cam ăn trước để đi nghe báo cáo tình hình Nam Việt Nam ở cơ sở chính trường Lô-mô-nô-xốp. Bà Ôn-ga dọn cho Cam ăn trước, ngồi chống hai tay trước cằm theo kiểu quen thuộc, bỗng nói như buột miệng:
 
- Này Phan Cam, con không thích gọi mẹ bằng mẹ ư? Sao cứ phải là chio-chia chứ không là ma-ma?

Cái đĩa đang xóc miếng thăn gà rán suýt rơi khỏi tay Cam. Anh kêu như thổn thức:

- Ma-mốt-ska mai-a 1, con muốn lắm chứ mẹ!

- Xư-nốk-moi.Ăn đi con, cho kịp đi họp, mẹ chờ lũ trẻ.



-----------------------------------------------------------
1. Đa-vai: làm đi. Chiô-chia: bác gái, cô, dì. Ma-ma: mẹ. Ma-mốt-ska mai-a: mẹ yêu của con. Xư-nôk moi: con trai bé bỏng của mẹ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #289 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2017, 09:56:21 am »

*

Chuyến xe trô-lây về nhà, không có Ô-léc đang bận “chuên ngiam chinh”, vẫn đầy chật khách giờ tan tầm, Cam phải đứng níu tay vào thanh dọc trên đầu. Không đọc báo được. Cam xuống truớc một dặm đỗ, đi bộ cho dãn chân và đỡ chen chúc.

Lớp tuyết vừa rơi đã phủ một tấm trải giường trắng trên lớp cũ đã bị đất bên dưới và chân người xéo trộn thành xám bẩn, nhưng đám đông giờ này đã để lại một vệt sẫm trên vỉa hè. Cam thong thả đi theo vệt ấy vì không mang ủng dạ mùa đông.

Lá thư của Hoàng Lan gần đây nhất đang ám ảnh Cam.

... Tàu bay Mỹ đánh ra miền Bắc đang tới gần Hà Nội anh ạ. Các cơ quan đang sắp xếp để sơ tán, nay chưa đi. Em có hai đứa còn đỡ, mấy chị đông con lo cuống quýt. Một nhà chia hai bếp đã khó, con lớn theo trường hai ba nơi nữa thì ăn ở sao cho đủ.

Em được nhiều tin dữ từ miền Nam gửi ra. Không thể giấu anh hoài. Em đạp xe đi hỏi lung tung, ra vầy nè: anh Năm Chò bị thương nặng mê man, địch bắt chẳng biết, đang bị nhốt ở trại Phú Quốc. Em nhờ một anh quen dẫn tới hỏi Ban thống nhất, các bác ở đó chưa có giấy báo chính thức của quân đội thì đừng tin ngay. Em thấy có lý lắm. Hồi đánh Pháp cũng như bây giờ, người có chồng con ra trận xa, vắng thơ từ vài năm, cứ phải nghe rỉ tai tối mật là chết rồi, hay cụt chân, mù mắt. Như chị Sáu Thể ở bệnh viện em, chồng đi B năm 60, tới 63 có tin ảnh bị bom B.52 tan xác. Em hỏi anh Lê Tùng, ảnh kêu là “nói dối không sách” năm 63 Mỹ chưa dùng B.52 ở miền Nam. Thiệt đúng đó anh, cách đây hai tháng ảnh trở ra họp chiến sĩ thi đua, chẳng sứt mẻ gì hết. Té ra ảnh đánh giặc trong biệt động Sài Gòn, thơ từ gởi ra Bắc rất khó mà dễ lộ. Còn may là chị Thể chưa đi lấy chồng khác!

Tin nữa là làng Linh Lâm quê anh bị bom lửa hủy diệt nhiều lần sau khi ta tràn xuống làm chủ phần lớn huyện Tây Quảng. Tin này chắc chắn đúng, em hỏi mấy anh ở Quảng Nam với Tây Quảng ra chữa bệnh đều nói giống nhau, tụi nó nhắm không lấn lại được thì phá cho nát phía sau lưng mình. Nhà ba má anh không hư hại gì mấy. Ba anh làm như hồi chống Pháp là tự giỡ nhà đưa vô chỗ rậm khuất, lò rèn vẫn rèn, máy may có chị Năm Bưởi với Út Hiền làm. Em chưa được về Linh Lâm bao giờ, chưa gặp ai trong nhà chồng, nhưng cũng đoán được cảnh sống trong ta dưới bom đạn tăng gấp mười lần hồi Pháp.

... Đôi lúc em phải nghe những lời không vui. Lắm người đánh giá thiên hạ bằng cái thước đo trong mắt họ, như trong ống dòm quân sự. Có kẻ là công chức lưu dụng, không hề dính tới cách mạng và không bao giờ muốn bắt chước “bọn khờ dại” như anh Thống và chúng ta, nay xếp lương lại ngang mọi người thì khóc than liên miên. Lại có những người chỉ nghĩ đi nước ngoài là buôn bán làm giàu, trong đó có cả cái tay cán bộ tổ chức luôn luôn tỏ vẻ “lập trường vững” cũng đến nhờ em viết cho anh mua giùm cả ra-đi-ô, mô-tô, tủ lạnh. Em chỉ cho lão ta thấy căn buồng em trần trụi ra sao, lão chuyển sang giọng “ân cần thăm hỏi” như báo hay đăng, chỉ năm phút sau đã hí hoáy ghi các thứ lão cần và dặn mua cho đúng mác. Em suýt nữa nổi máu lính nhưng cố nhịn, chờ họp Đảng sẽ vạch mặt lão sâu mọt. Bao giờ bọn giun sán ấy mói bị tống vào hố xí?

... T.B. Tin mới nhất: có thể anh Cả Chanh sẽ ra họp một hội nghị mở rộng của Trung ương. Thường vụ tỉnh ủy Quảng Nam cũng buộc ảnh mang vợ con ra Bắc luôn, chẳng biết ảnh chịu nghe hay cứ giữ kẽ, sợ kém gương mẫu?


Hoàng Lan lâu nay vẫn thế, chỉ dành vài câu ngắn gọn về mình và hai con, thằng Nhứt và bé Bạch Lan, lấy tên theo cô bé Bạch Lan chết cùng một lần với mẹ trong trận bom ở Sông Vệ. Cam chưa quên được đêm ấy, khi Hoàng Lan một mình vượt cạn, Cam đi quanh buồng để và hút thuốc lá đến bỏng cả mồm. Cô hộ sinh quen chỉ hé cửa và gọi vội: “Gái, ba cân hai, khỏe lắm”. Bà y sĩ trực xồ đến đóng sập cửa ngay trước mũi ngườỉ chồng và bố đang đứng đi trên lửa. Hẳn bà đã có kinh nghiệm về những lang quân phát khùng vì vợ đẻ hàng chuỗi con gái, chửi xơi xơi khi vợ chưa tỉnh cơn đau đẻ khủng khiếp.

Trai hay gái đều là con mình. Cam nói thế và làm hệt như thế. Hoàng Lan chỉ biết ôm hôn chồng rõ nhiều, cũng hệt khi rõ chồng thật tình quý anh Thống và yêu thằng Nhứt như con đẻ. Khác hẳn những chị em có chồng đi nước ngoài, những lá thư của Lan không “kê đơn thuốc bắc” với một lô một lốc những thứ nhà đang cần, mà chỉ dồn vào sức khỏe và học tập của Cam.

“Anh vô vàn thân yêu, anh cứ theo đuổi chí hướng của anh tới cùng, đừng vướng bận vì vợ con. Anh đi Liên Xô hay vô miền Nam, em vấn đủ sức chăm lo cho các con ngoan và khỏe. Anh làm việc ra sao em biết rõ, hễ sa đà mải mê thì quên ăn quên ngủ, nếu chắt chiu gởi hàng về cho vợ con nữa thì luận án biến thành bệnh án mất!”

Lan gửi kèm thư một tấm ảnh 6x9 chụp ba mẹ con, mặt sau đề tặng “mẹ Ôn-ga và các em, cùng một ngàn cái hôn”, chữ Nga viết như trẻ em lớp một bên này và đổi sai cách hai chỗ.

Dù sao cái gia đình nho nhỏ của mình cũng yên ấm hơn bao nhiêu nhà khác trong cả nước, Cam nghĩ. Trông lên chẳng bằng ai, nhìn xuống chẳng ai bằng mình, so đo ganh ghét như lão gì cán bộ tổ chức mà Lan xếp loại giun sán, sâu mọt ấy sẽ la ó nhức tai khi bị vất bỏ, còn bị vợ con khinh ghét nữa.

Bước ra khỏi chiếc thang máy kiểu cũ chạy trong lồng sắt, Cam tự mở cửa căn hộ bằng chìa khóa riêng, cọ giày vào tấm nệm rơm, còn cẩn thận tháo giày và xỏ chân vào đôi dép nhung để sẵn dưới các móc treo mũ và áo khoác. Vài ngày bà Ôn-ga lau nhà một lần đến sáng bóng, bà than phiền nhiều vì ba người con đều mang nguyên giày đẫm bùn và tuyết chạy xổ vào nhà, in vô số vết chân to nhỏ trước khi chộp lấy những lát bánh mì kẹp dồi hay đùi lợn sấy, vội xuống với các bạn đang chờ dưới sân với những thanh trượt tuyết hay giày đế thép trượt băng. Cả An-đrây to đùng cũng làm hệt các em.

- Chúng mày không thấy Cam à? Anh ấy biết thương tao thu dọn đến đau cụp xương sống...

Cam nói với vào bếp “chào mẹ”. Làn này bà Ôn-ga không đáp gọn “Ờ, Cam đấy à” như mọi hôm. Bà bước ra phòng khách, hai tay lau vội vào tạp-dề:

- Con cho mẹ hỏi tí. Ngồi xuống nào... Gần đây mẹ thấy con buồn hẳn đi, không cười đùa nhiều như trước. Mẹ với các em có gì khiến con trái ý không? Hay là lủng củng ở nhà trường? Vợ con vẫn như thường chứ?

Cam như người từ nơi băng giá bước vào buồng sưởi ấm. Anh bồi hồi cầm tay bà mẹ Nga, nhìn khuôn mặt tròn rất phúc hậu, ấp úng một câu lạc đề:

- Mẹ tốt với con quá, con yêu quý mẹ vô cùng...

- Ừ, mẹ biết, mẹ biết. Thế tại sao con không vui?

- Mẹ xem truyền hình, thấy cả rồi đấy.

Bà Ôn-ga ngẩn người, ngồi lặng.

Đối với bà, chiến tranh chỉ là ba năm tản cư về vùng Trung Á-bà cùng An-đrây ở Bu-kha-ra, sau chuyển về Ta-sken, đều thuộc cộng hòa Uz-bê-kix-tan-với hai nỗi khổ vừa sức chịu: nỗi lo cho chồng đi sửa máy bay lưu động gần tuyến lửa, và những thiếu thốn ở hậu phương thời chiến. Ông chồng trở về yên lành, trong năm cuối chiến tranh ông góp sức cải tiến những chiếc Yak và sống với vợ con. Họ hồi cư về thủ đô khi chiến sự đã chuyển sang Đông Âu, căn hộ cũ không hư hại gì, và bà sinh Ô-léc chừng nửa năm sau ngày đại thắng.

Dù hay đọc báo và xem truyền hình, bà vẫn khó tưởng tượng được một xứ thuộc địa xác xơ có thể-trong cùng một năm 1945-vừa chết đói hai triệu người, vừa nổi dậy làm cách mạng lập chế độ mới, vừa đánh trả Anh Pháp Nhật, vừa nuôi báo cô hai chục vạn quân Tưởng Giỏi Thạch, vừa đối phó với bọn nội phản. Và cuộc chiến tranh dài nhất thế kỷ hai mươi này, đã diễn ra suốt hai chục năm qua, đến bao giờ mới dứt?
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM