Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:50:41 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người cùng quê - Tập 1  (Đọc 126403 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #310 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2017, 02:30:00 pm »

Cuộc chia tay ở gia đình bà mẹ nuôi Ôn-ga là một nỗi đau xé ruột. An-đrây cùng chị vợ mới cưới - điện báo viên ở một trạm Cực Bắc - đều nói rằng tình cờ về thăm nhà, ra mắt mẹ, nhưng thật ra đã nhận được điện của Ô-léc báo tin anh Cam về nước. Bà Ôn-ga lánh mặt Cam, giấu đôi mắt sưng đỏ. Tô-nhi-a đã lên mười sáu tuổi, cái lứa tuổi nữ sinh hay phải lòng thầy giáo dù thầy đã có vợ con, bỏ lớp đi lang thang từ sáng đến tối, anh Ô-léc phải gọi điện khắp nơi và đi tìm về.

An-đrây cố giở trò đùa tếu cho cả nhà vui:

- Các bạn anh đọc chung thư mẹ, sửng sốt khi nghe mẹ kể nhà ta đến bữa cơm nói ba thứ tiếng Nga, Pháp, Việt. Chỉ bốn người mà như liên hợp quốc. Ô-léc khoe mình nói tiếng Việt gần bằng người Việt, thế mà trong đợt thực tập anh Cam giao có lúc phải gọi điện hỏi bạn anh Cam, mấy lần thế.

- Tại có mấy ông bà ở miền Nam mới ra phát âm không chuẩn ngay trong đoàn nói với nhau đôi khi cũng hỏi lại “hả, hả?”.

Cam bật cười:

- Đúng thế đấy, An-đrây. Người miền Nam ra Bắc, người Bắc vào Nam, vài tháng đầu phải tập làm quen với giọng địa phương và các từ rất lạ tai...

Nhưng rồi cũng đến lúc Cam phải nói lời từ biệt chính thức:

- Thưa mẹ, chiều mai con phải lên tàu liên vận...

Bà Ôn-ga kéo tấm tạp dề, hàng ngày chỉ rời bà khi bà ra phố hay đi ngủ, úp vội lên mặt trong khi Cam ấp úng nói những lời cảm ơn thắm thiết nhất.

- Chính mẹ phải cảm ơn con. Từ ngày con về ở chung, mẹ vui hẳn lên, hai em học giỏi và ngoan thêm nhiều. Con không khuyên nhủ nhiều, chỉ làm gương  bằng nếp sống mẫu mực và ý chí học tập, như một ông giáo kiểu Giăng-Giắc Rút-xô... Nay mai mẹ sẽ thấy trống vắng lắm. An-đrây bay lên Cực Bắc, Ô-léc sang thực tập ở Việt Nam, Tô-nhi-a lấy chồng và theo chồng… Đừng làm bộ, Tô-nhi-a, đừng  thề suốt đời ở với mẹ, là sợi chỉ ắt theo cây kim thôi. Có đứa nào như thằng Cam sẽ đến với mẹ?

An-đrây vội vớt:

- Cam nó sẽ quay lại mẹ ơi. Nó về nước lấy thêm tư liệu, viết luận án tiến sĩ, sẽ sang đây bảo vệ. Ngày trao bằng, nhà ta sẽ đứng hoan hô trong hội trường. Chỉ sợ khi nó lên viện sĩ Hàn lâm, mẹ con mình tới chào, nó lại hếch mũi lên trần nhà, hỏi lại: “Hình như tôi có gặp bà và các cô cậu ở đâu ấy nhỉ?”.

Nhân đà An-đrây cao hứng đùa quấy, Cam tiếp luôn:

- Bấy nhiêu buồng của mẹ không đủ chứa các cháu nội ngoại đâu. An-đrây với Liu-ba sinh cháu ở Cực Bắc, không thể nuôi con trong nhà vòm xây bằng nước đá. Rồi con của Ô-léc ở Việt Nam chịu nóng không nổi, thêm bom Mỹ ngày đêm, phải về với mẹ (Cam tránh đôi mắt nồng cháy của Tô-nhi-a). Tô-nhi-a nữa... Rồi bồng một đứa con của thằng Cam lù lù hiện ra trước cửa, mẹ đón nó vì thương nó xa nhà.

Tất cả cười rúc rích, xúm vào trêu bà Ôn-ga. An-đrây ôm đầu lắc lư hệt như bà mẹ: “Ôi, lũ trẻ này khiến tôi phát điên mất thôi. An-đriut-ska, mày mở nhạc be bé được không? Ô-léc trốn đâu rồi, đến phiên giúp tao rửa bát... Tô-nhi-a, thôi, đuổi bắt trong nhà vỡ hết cả bây giờ... Sao mà tôi khốn khổ thế này, hỡi chúa?”.

Bà Ôn-ga rất ít đi xa. Hồi sang Việt Nam và trở về, ông chồng làm hàng không thu xếp cho vợ con đi máy bay. Bà rất lo khi nghe Cam đi xe lửa ít nhất một tuần, nếu bị quấy rối dọc đường thì khó biết bao giờ tới. Ăn trên xe lửa thì nhất định là đắt, dở, không sạch. Ngay cái tủ lạnh cũng chẳng có. Bà để hai ngày đi lùng các thứ đồ hộp loại ngon nhất, cùng các thứ không đóng hộp nhưng lâu hỏng như dồi, pho-mát, mứt, dưa chua. Cả nhà ra ga tiễn Cam, khệ nệ khiêng lên chỗ nằm của Cam cả một sọt nặng đầy của ngon.

Đã rất lâu bà Ôn-ga không thờ cúng gì, chỉ gọi tên Chúa vì quen miệng. Nhưng khi tàu chuyển bánh, bà không cưỡng nổi, làm dấu chữ thập vào không khí không ngớt tay. Cam chỉ trông thấy được mấy dấu đầu, sau đó mắt nhòa không nhận ra gia đình bà mẹ Nga nữa.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #311 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2017, 02:32:05 pm »

*
*   *

Sau đợt bom ném hụt xuống cầu Long Biên, Hoàng Lan và Hai Thùy trở về buồng, vẫn căn buồng Đông Đức viện trợ đã bị mảnh đạn cao xạ rơi xuống phá toác hai lỗ trên mái tôn, trần bìa cứng, làm nứt sàn gỗ. Lan phải lấy nhiều mảnh ni-lông và thùng gỗ tạm vá cho đỡ dột. Một anh bạn đã đun hắc ín, pha dầu lửa, quét nhiều lớp trên mái tôn vì không đủ tiền thuê thợ hàn chữa mái.

Con Dồ đã quen hiệu còi báo động, hay tiếng nổ trước khi báo động. Nó đến đứng trước cửa hầm lớn xây xi-măng, đợi người xuống hết mới xuống cuối cùng, ngồi trên bậc cấp gấn đấy, như hồi nào nó nằm trước cửa hang giữ cho ông chủ ngủ bên trong.

Thùy ra đến Hà Nội, nghe tin anh Chanh cũng sắp từ Liên Xô về, có thể có cả Sáu Cam nữa. Sau ba tháng lẻ mười ngày lang thang dọc Trường Sơn - các cháu từ Gia Lai hay Nam Quảng Nam ra còn phải cộng thêm mười ngày, nửa tháng - đoàn trẻ em mới được ăn ngủ đàng hoàng ở K.5B, là trạm đón tiếp miền Nam đóng tại Quảng Bá. Anh bác sĩ vẹo chân đi “chấm phẩy” thương các cháu ghê gớm. Đáng lẽ tách riêng về nơi đón tiếp của quân đội, anh cứ nhất định không rời đoàn trước khi bàn giao hồ sơ từng cháu mà anh ghi đủ diễn biến sức khỏe dọc đường. Ôm lên ôm xuống vô số: sốt rét nhiều nhất, lỵ a-míp hay trực trùng thứ nhì, bệnh vặt khác thì không kể xiết.

Trong khi anh đại úy quân y chạy liên hệ với bệnh viện bà mẹ trẻ em, Thùy và Xíu lo nhận tiêu chuẩn của các cháu. Mỗi cháu được hai quần dài ka-ki, hai sơ-mi dài, một sơ-mi ngắn, một đôi dép nhựa sau đổi sang cấp tiền tự sắm vì có khá nhiều cỡ chân, hai bộ đồ lót. Khó khăn nảy ra tơi tới. Bộ đội được phất quân phục theo khổ người, sửa qua là dùng được. Đây lại mỗi cháu một cỡ, trai và gái chung đoàn, giữ kích thước đến các xưởng may quân trang thì hàng tháng mới được nhận, mà để nguyên các cháu rách rưới như thế đi các bệnh viện chuyên ngành của miền Bắc thì không đành. Ông quản lý ôm đầu: “Đón đưa tới hai chục cháu mà khó hơn trang bị cho một đại đội vào Nam”.

Hoàng Lan nhảy luôn vào cuộc. Bệnh viện bà mẹ trẻ em nằm trên đường Tràng Thi, gần bệnh viện Việt - Đức trên đường Phủ Doãn. Lan gửi hai con cho cô Tuyền ở chung nhà chỗ sơ tán, xung phong thay một quân y sĩ bị thương nhẹ cần lui về sau, giúp chị Thùy thu xếp.

Chị đo kích thước từng cháu, cắt riêng từng bộ, đưa đi thuê may tại các gia đình Lan quen. Với số phiếu vải cung cấp bốn mét một năm, nghề may rất ế, tiền công may do K.5B cấp không bị hụt. Chỉ sau ba ngày, mỗi cháu đã có áo quần mới tươm tất. Sau một ngày nữa đo chân lại đủ giép cao-su chững chạc. Lan còn thuê xích-lô chở về một máy khâu đạp chân để chị Thùy may đồ riêng cho mình bằng các thứ vải được cấp và Sáu Cam gửi về nước.

Để tránh bệnh nhân bị ùn, khi báo động, các bệnh viện chỉ nhận người ốm nặng nằm nội trú. Trạm đón tiếp có xe buýt đưa đón người bị nhẹ đi rải xuống các bệnh viện Hà Nội để khám và làm thuốc từ sáng sớm đến gần trưa, hẹn giờ họp lại cùng đi cùng về. Các cháu rất mừng khi thấy dì Hai Thùy và dì Xíu đi chung xe tới bệnh viện bà mẹ trẻ em, sau mới biết là dì Thùy đi khám thai và dì Xíu cũng mắc bệnh gì đó của “đờn bà con gái” mà dì giấu biến.

... Lên khỏi hầm đã năm giờ chiều. Cuối đợt bom ngày, chưa đến bom đêm. Hoàng Lan đóng bếp mùn cưa, Thùy vo gạo, nhặt rau muống. Bỗng con Dồ đang chạy loăng quăng lùng chuột cống dừng phắt lại, dạng chân rướn mũi, ngọ nguậy hai tai. Rồi nó chạy ào ra cổng sau bệnh viện, nơi phát ra giọng nói rất quen của ông chủ. Nó chồm dựng hai chân mà không chạm ngực chủ. Bác thường trực bỏ chỗ gác chạy ra đuổi, nó chỉ nằm bẹp xuống nhận lỗi. Bác luống cuống khi thấy ông khách mới đến mặc com-lê ca-vát, xách cặp da, đi xe Vôn-ga có lái riêng, thêm một cậu trẻ nữa chắc là thư ký. Xem dáng bộ là hàng thứ trưởng. Bác chỉ liếc qua chữ B trong vòng tròn chỗ góc giấy giới thiệu, nghĩ ngay : “Ông này khiêm tốn thật, thưa gửi và trình giấy như người nhà bệnh nhân, lại cho lái xe và thư ký đi chơi, hẹn giờ đón”.

Cả Chanh đi vào khu tập thể mà anh đã đến tìm hụt Hoàng Lan và các cháu, chỉ gặp cái ổ khóa, lên chỗ sơ tán mới gặp người. Con Dồ xoắn xuýt chạy trước.

- Ôi chao, Thùy!

Người vợ rất yêu thương đứng sững trước mặt Chanh, nước mắt lớn từ từ. Chanh nhận thấy ngay màu da sẫm đi như tráng một lớp khói đen, đôi má gầy, cái bụng bắt đầu đội áo. Anh cười gượng:

- Cùng ra Bắc một lần, mà khoảng cách tới gần hai tháng...

- Coi bộ anh khỏe ra, nặng ký hơn...

Vẫn theo thói quen cũ, Chanh hỏi thăm những người chung quanh trước, để dành những giờ riêng của vợ chồng cho đêm khuya vắng. Vợ và em đều thi nhau hỏi, nghe, ngót một tiếng sau mới sực nhớ bữa tối chưa kịp nấu. Chanh góp một tay cùng làm bếp, bùi ngùi khi bữa cơm chỉ có nửa gạo nửa mì sợi đã hơi mốc, bát canh rau muống luộc đánh mấy quả sấu, nửa chén ma-gi dầm ớt. Ở căn cú trong Nam thế là khá, nhưng giữa thủ đô anh tưởng phải khác chứ. Hai chị em phân trần mãi rằng các tiêu chuẩn của ngon đều làm thức ăn mặn gửi cho các cháu cả, người lớn sao cũng được. Nhưng Chanh chưa quên được những bữa chiêu đãi thừa mứa trên nước bạn, đặc biệt là vùng Trung Á...

Con Dồ từ lúc đã chen vào nằm bên chân Chanh. Nó chỉ cần hít ngửi ông chủ là đủ vui. Chanh chợt nhớ đến nó:

- Sao không để nó ở chỗ sơ tán, Lan?

- Là tại nó... không, tại nó chút xíu thôi. Lũ chó trong làng thấy nó lạ, xúm bầy ăn hiếp, cắn nó rách tai toạc da, nó cứ cúp đuôi chạy. Anh bác sĩ quen nó đoán chắc không phải nó nhát sợ, mà không quen đánh nhau với đồng loại. Anh Chanh nói là chó săn nòi lai chó miền Thượng, chỉ quen đánh thú dữ như gấu, beo, cọp. Một hôm ảnh đi với nó gặp chó làng ùa ra, ảnh xì xịt sao đó mà nó cắn đứt họng hai trự, gãy chân một trự nữa. Kiện cáo tùm lum. Bệnh xá phải bỏ tiền ra mua cả ba, may nhờ ủy ban dỗ chủ nhà lấy giá phải chăng, bệnh viện thêm tí đạm không quá đắt. Trên ấy nhà nào cũng nuôi chó bầy, đất trung du mà, lâu lâu lại đánh một cầy, khác trong ta nhiều.

Con Dồ ăn sạch cái âu cơm sứt men, vẫy đuôi cảm ơn. Chanh chỉ vào hai bà chủ nói:

- Bà Hai Thùy, Thùy, Thùy, tao nhắc mày nhớ. Tới đi, làm quen đi! Còn bà này là Hoàng Lan, Lan, Lan, nhớ nghen.

Lan cười xòa:

- Sức mấy mà anh giới thiệu! Nó giầu tình cảm lắm anh ơi. Hai đứa con em được nó che chở mới dám đi tập múa hát ban đêm không sợ rắn rết, chó làng không nhảy ra đớp được nữa, lảng xa hết. Dồ, lại đây coi... Đó, nó liếm tay chớ không hề liếm chân, kiêu ghê chưa!
Bộ ba tạm thu xếp cuộc sống trước mắt. Cả Chanh vẫn ở Văn phòng Trung ương, chỉ cách Quảng Bá độ nửa cây số, tiếp tục làm việc với đoàn khu Năm, sau đó chữa bệnh. Thùy và Thanh Bình ở Quảng Bá để chữa lành các thú bệnh miền Nam mang ra, sau đó sẽ cho con Bình đi học và Thùy đi đẻ, làm gì sẽ tính sau.

Gia đình Chanh đã ra Bắc, nhưng chưa đến lúc đoàn tụ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #312 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2017, 02:34:49 pm »

*
*   *

Liên gia Ba trước là xóm Chợ, gần cuối ấp Linh Lâm. Các nhà giàu ở đấy mất nguồn lợi buôn Thượng đã thuê đò dọc về Hội An, Đà Nẵng cả, nhưng hay để lại một vài con cháu để trông nom nhà, vườn, đến mùa thu hoạch lúa tô. Cửu Áng biết dân đây đã nổi loạn, phải dỗ đám nhà giàu đừng đòi truy thu nợ tô hồi chín năm Việt Minh hay trong hai năm Việt Cộng làm chủ các làng ven sông Linh và sông Thu Bồn, 1965 và 66. Sang năm nay 1967, tuy sắc lệnh cải cách điền địa xóa bỏ các đợt chia ruộng đất của Việt Minh được giữ nguyên, nhưng chưa thấy tăm hơi gì dân ruộng dân rẫy chịu gánh lúa nộp chủ. Ngay cụ tỉnh phó Ung Viết Đỉnh đi trực thăng về xem cơ ngơi cũng lắc đầu: ruộng đất còn đó nhưng bỏ hóa một nửa vì số đông lực điền cổ cày vai bừa làm rẽ chia đôi dưới quyền quan phủ nay chia nhau lên núi hay đi quân dịch. Ngôi nhà cụ Thượng xây làm hồi môn cho cô con gái chửa hoang bị trúng bom và rốc-két nhiều lần đã tan nát. Nhìn sang bên kia sông Linh, khu đất ngót một ngàn mẫu tây cụ nắm đủ giấy tờ để chiếm - cũng phải mất thêm nhiều triệu nữa, vì Nam triều không còn, quốc trưởng Bảo Đại bị đá bay, và người đá cũng chết toi cả mấy anh em - nay đã thành rừng non với những vạt sim, mua, bọ xít, chà là chen nhau phủ đất, bóp chết dần những trăm mẫu cà-phê, chè, trầu được trồng ngay ngắn và vun gốc dọn cỏ thời đồn điền La-phác-sơ còn thịnh.

Hôm nay, làng Linh Lâm sẽ bị xóa tên trên bản đồ Tây Quảng. Tiếng bom rải thảm của B.52 mé núi cao dội về từng đợt như sấm kéo dài mùa mưa bão. Cả làng Linh Lâm được lệnh dời về hai ấp chiến lược mới khoanh chỗ ở Truông Dơi, nằm hai bên con đường tỉnh số 56, đặt tên là Truông Dơi I và II, chỉ cách sông Linh chừng hơn một cây số.

Cửu Áng đã lên làm đại diện hội đồng xã, đi họp từng ấp dọc sông Linh, khoe mình khéo kiện cáo lên trên, dân mới khỏi dời xa ruộng vườn mồ mả như nhiều nơi khác.

- Mà cũng phải quá đi chớ. Bà con mình còn nhớ cái lụt kinh hồn năm Thìn, tức là năm sáu tư đó, nhiều làng chết ráo cạo không ai sống sót để tìm xác cha mẹ vợ con. Dân Linh Lâm không chạy vô Truông Dơi cũng chết trụi lủi. Ta dời làng lên chỗ cao ráo, hằng ngày trở về làm ruộng rẫy như thường. Dân Thượng cứ ba bốn năm dời làng một lần đi tìm đất tốt là khôn thượng đẳng, khôn hơn người mình quá sá.
Có điều lão biết và dân biết nhưng không nói ra: hai ấp chiến lược ấy gác giữ khúc đường nguy hiểm mà hồi trước cách mạng tháng Tám đội du kích Linh Lâm định phục đánh bảo an binh. Qua một cây số đường đèo lại có ba ấp chiến lược mới: khu chợ là Huề Bình I, tả hữu Huề Bình II và III, dàn thành bình phong che chắn cho khu quận lỵ mới đang xây rất gấp.

Cả nhà ông Tư Chua đã soạn gánh xong, đang chờ trái đạn đèn súng cối bùng lên báo hết giờ giới nghiêm, thường là sau lúc tan sương mù. Đằng nào cũng phải đi, thì đi, lúc khác mới đấu lý được.

Hôm nay mù đậm đặc và lâu tan. Bà Tư sực nhớ, rút bó hương trong gánh ra, châm cả bó, chia cắm mỗi nơi ba nén: trước cổng, hai bên cửa, bên bếp, chỗ lò rèn, chuồng trâu. Cắm đến đâu bà khấn lầm bầm tới đó, cố nhớ không bỏ sót một vị nào: thổ thần, môn hộ thần, ông bà táo, ông chuồng bà chuồng...

Bà Tư cố nhớ thêm cần phải khấn các vị nào nữa. Khấn không trúng là cúng không nhằm, y nguyên lời ông bà dặn vậy đó.

Cúng ông thành hoàng hay tiền hiến là việc của chức sắc nơi đình miếu không phải việc đàn bà. Đáng lẽ phải đắp mấy cái mả cô bác để nhờ các âm hồn cô hồn giữ cho nhà vườn được yên lành...

Tiếng la làng nổi lên lảnh lói phía xóm Chợ. Cả nhà dỏng tai nghe. Lạ quá, mấy nhà giàu ở đó là nơi lui tới ăn ngủ liên miên của bọn bảo an và dân vệ đi tuần gác dọc hai bờ sông Linh, ai ức hiếp gì mà kêu điếc con ráy vậy? Năm bảy phút sau, hai ba cột khói từ từ bốc lên trời, tiếp theo là tiếng tre nổ rời rạc như trẻ con đốt nghịch những trái pháo tép ngày Tết.

Thấy ông Tư ngứa máu “kiến ngãi bất vi”, chạy ra xem nhiều lần, Năm Bưởi cười buồn:

- Cha ơi, đâu phải như hồi làm chủ tịch nữa mà nghe đâu chạy đó! Nhà mình là thân cá chậu chim lồng, cha quên sao?

Có lẽ câu than thở của cô chỉ huy du kích ốm o và xanh lướt đã làm sôi máu ông thợ rèn già. Ông bước dấn ra ngõ, rẽ về phía xóm Chợ.

- Ai? Đi đâu?

- Tôi đây, Tư Rèn đây. Đi coi họ la làng cái gì...

Tên dân vệ quen chúc mũi súng xuống. Cùng lúc, tên trung đội trưởng trong bót chạy ra:

- Bác Tư về nhà đi, chưa dứt giới nghiêm, họ bắn chết tươi giờ.

- Họ nào dữ quá vậy?

- Biệt động quân mới về. Thằng Chín tiểu đội trưởng gác bót Chợ bị nó cho mấy trái đấm sặc máu mũi, kéo cả bầy chạy về đây. Bọn đầu cọp đó chặn đồn bảo an không cho bắn đạn đèn, để đi hiếp con gái, úp gánh cướp của, ai cuồng thì đốt nhà. Bác coi, khói lên nhiều rồi đó.

Tên trung đội trưởng này là con Cửu Áng, làm đúng lời cha dặn là cố kiếm tiền chứ không gây nợ máu với dân, hết sức tránh tờ cáo trạng ác ôn và viên đạn tử hình. Riêng đối với nhà ông Tư Chua phải có biệt nhỡn, ông Cả Chanh mà nổi xung điên lên thì cả ngàn quân trên núi kéo về lập tức.

Nhưng các thứ lính con cưng của Sài Gòn thì chẳng cần biết ai là ai. Biệt động quân, lính dù, thủy lục chiến, lực lượng đặc biệt, đám rằn ri đó tới đâu thì dân khiếp đã đành, mà cả bảo an, dân vệ, cảnh sát, hội đồng xã, các trưởng thôn đều rúng xương trốn kỹ. Gần đây còn thêm thứ lính bê-rê xanh rắn lục, gọi là biệt kích Mỹ nữa. Quân này do Mỹ chỉ huy, trả lương cao hơn cả lính dù Sài Gòn, chuyên rúc núi đánh du kích chống Việt Cộng.

Thượng sĩ Bảy Bòng, con ông Tư Chua, lại đầu quân vào thứ lính biệt kích Mỹ này.

Bảy Bòng bị hất khỏi chức cảnh sát trưởng xã Tây Giang sau một đợt rà soát và trắc nghiệm của Ty công an tỉnh. Hắn bị điểm kém ở tất cả các môn thi. Các vị cấp trên Mỹ và Việt xếp hắn vào loại cảnh sát trào Ngô Đình Diệm, hung dữ và dốt nát, chỉ biết tra khảo, hốt hối lộ đầy túi, ăn gan uống huyết cộng sản. Nay đến thời bình định nông thôn, còn gọi là cách mạng nông thôn, xây dựng nông thôn, phải cho dân thấy chế độ này là dân chủ, tự do, đầy khoan hồng nhân đạo để chiêu hồi cộng sản và dân chúng tin phục ở nước bạn Huê Kỳ. Kẻ đến thay Bảy Bòng là một mật vụ thời Diệm - cũng vào đảng Cần lao nhân vị như Bòng nhưng kín tiếng hơn - nói tiếng Anh tàm tạm, dùng  mưu mẹo nhiều hơn dùi cui, mượn tay người khác để khử Việt Cộng, gạt bỏ nhũng đứa giành ăn. Giết Việt Cộng hàng loạt thì đã có sức mạnh khủng khiếp của Huê Kỳ với những trận mưa bom, những đám mây hơi độc, những cuộc hành quân trực thăng “phượng hoàng vồ mồi”. Dân vệ và thôn vệ dẫn đường cho quân mũi lõ mắt xanh là vừa sức.

Chi trưởng công an quận thương tình thằng thượng sĩ trung thành, bàn với quận trưởng  cho Bảy Bòng về quận làm đại đội phó đại đội bảo an thứ ba mới lập. Lại bị tên thiếu úy đại đội trưởng không chịu nhận. Bảo an chỉ lo canh gác là chính, nhưng tên này cứ bịa ra lý do là Bòng chưa hề chiến đấu, chỉ biết bốc hốt của dân, lâm trận chắc sẽ bỏ quân chạy cong đuôi. Lý lịch cũng đáng ngờ lắm: hầu như cả nhà đều là tình nghi can cứu loại A, ông anh làm gì to lắm phía cộng sản, thêm một anh rể nữa cũng là Việt Cộng thứ dữ, chí ít cũng là thiếu tá hay trung tá gì đó.

Thượng sĩ Bòng được cho ba tháng nghỉ có lương để tìm việc. Không nơi nào chịu nhận. Quân chính quy rất thiếu lính, gặp thanh niên trốn quân dịch là nhào vô như chụp ếch, nhưng đưa một thượng sĩ vào thì chặn đường số lính cũ, mất một chức vụ dù nhỏ mà cũng bán được tiền bỏ túi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #313 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2017, 02:37:29 pm »

Giữa lúc bế tắc ấy, có hai sĩ quan Mỹ và một phiên dịch đến quận Tây Quảng mộ quân. Họ đội bê-rê xanh rắn lục, rất khác với các sắc lính của Mỹ và Sài Gòn. Họ nói rõ hơn:

- Chúng tôi là Special Forces, là lực lượng đặc biệt trong tiếng Việt, nhưng không dính dáng tới lực lượng đặc biệt của Sài Gòn đội bê-rê đỏ. Chúng tôi không thuộc quân chánh quy của Mỹ, là đạo quân độc lập dưới quyền của cơ quan lừng danh thế giới C.I.A, tức là Cục tình báo trung ương Huê Kỳ, hiên ngang một cõi. Chúng tôi chia thành những  đội A, từ 12 đến 14 sĩ quan và hạ sĩ quan, cần tuyển mộ nhiều sĩ quan và binh sĩ cũng dám liều mạng như chúng tôi. Làm việc theo hợp đồng, lương cao, chỉ một điều kiện là tuyệt đối phục tùng sự chỉ huy của chúng tôi. Đội ngũ bê-rê xanh lúc này có rất nhiều lính Nùng, lính Ê-đê và Ya-rai, nhưng chúng tôi cần thêm những người thông thuộc vùng  rừng núi ở phía Tây tỉnh Quảng Nam. Nhờ quý ông cho dán các bản bích chương màu này ở tất cả các nơi thị tứ, các đồn binh trong quận. Riêng quý ông  ở quận, chúng tôi xin có chút quà ra mắt, sau này còn kết liên nhiều nhiều.

Các quan chức ở quận, tươi mặt lên khi viên đại úy Mỹ luồn xuống dưới tập bích chương một xấp giấy năm trăm in hình Trần Hung Đạo khá dày, không che giấu trong phong bì, để khỏi bị một mình quận trưởng ăn chặn bằng cách nhồi thay vào bì toàn giấy một trăm. Quận trưởng hiểu ý, cười gượng, nói với tả hữu: “Kiểu Mỹ vậy đó, tiền trao cháo múc. Tụi Pháp xử khéo hơn nhiều... Đừng dịch nghen!”.

Bảy Bòng là một trong những người đầu tiên đăng ký tên làm lính bê-rê xanh. Nhóm mộ quân cho làm đơn qua loa, thu ngay thẻ căn cước bọc nhựa và các giấy tờ, điền tên vào khống chỉ của quận tạm dùng để đi lại, trao ngay mười ngàn đồng trợ cấp bước đầu. Số định thuê là một trăm, quận tiếp tay ăn hoa hồng mà chi được bảy chục. Ngay số sĩ quan và lính Việt trong các đại đội bảo an cũng ngần ngại, vì sắc lính này hay bị ném từng toán lẻ vào vùng Việt Cộng, hễ từ chối là bị khử bằng mọi cách, chết mất xác.

Số lính mới được đưa về căn cứ Chu Lai bằng ô-tô, tiếp đi máy bay vào Nha Trang, nơi có căn cứ riêng của sắc lính S. Ba tháng để trắc nghiệm và huấn luyện. Ăn khá, thuốc men khá, chỉ tập tành rất căng, ai cũng đen trũi và to mập hẳn ra. Ngại nhất là nhảy dù với ba-lô và súng đạn, còn bơi võ trang và sục rừng núi có dễ hơn. Chỉ huy trưởng biệt kích là một đại úy người Đức, trước ở quân-lê-dương Pháp, đã từng ở tù Việt Minh hơn hai năm mới được trao trả, nói tiếng Việt kha khá. Cuối khóa, Bảy Bòng được giao chức trung đội phó trong đại đội mới lập, đặt dưới quyền một đội A toàn Mỹ, mười hai người.

Đại đội lập tức được tung vào cuộc hành quân trên miền Tây sông Linh và sông Thu Bồn. Các đơn vị quân chính quy Sài Gòn và các sắc lính khác bắt đầu ghen tức khi thấy “lính Xịa” ăn lương cao gấp rưỡi hay gấp đôi mình, đi đâu có trực thăng đưa đón và tiếp tế xả láng. Chỉ còn tự an ủi là Việt Cộng rất chịu khó lùng diệt thứ biệt kích đó lắm, coi chẳng kém gì tụi thám báo của quân đội Mỹ.

... Tiếng la làng inh ỏi ở xóm Chợ nổi to hẳn lên, lúc này cố đến năm sáu cột khói hiện rõ vì trời không gió và mù đã tan. Từng tốp dân làng ùn ùn chạy tới bót dân vệ, bị chúng chĩa súng chặn. Có người còn gánh, có người chạy tay không, vài chị trung niên và cô gái trẻ đã bị xé tan áo quần, chạy bay tóc. Họ bôi nghệ trên mặt hay đầy mình, giả làm đàn bà đẻ, làm người mắc bệnh sốt vàng da và sưng gan, nhưng không qua mắt được bọn “cọp trắng rừng xanh”.

Tên trung đội trưởng dân vệ nạt:

- Chưa hết giới nghiêm, mấy người đụng thứ lính nào cũng bị xăm mứt gừng nát bét (hắn thấp giọng) khờ lắm, kiếm chỗ rừng rẫy gì đó rúc vô núp tạm đã. Vợ con tụi tôi chạy không kịp cũng bị với bọn rằn ri đó, muốn chạy về coi chút mà cũng chịu bó cẳng đây.

Ông Tư gọi vợ con vào nhà, nói vội:

- Không xong, trúng cái bọn ăn gan uống máu đó thì lớn bùi nhỏ mềm, trẻ chẳng tha già chẳng thương... Con Năm với con Út mỗi đứa một gánh, băng qua rẫy, theo con đường cắt tranh đốn củi đó, chạy tuốt tới cụm rừng sau miếu nghĩa tượng, ở đó đợi. Để hai ông bà già với con Lúa đi sau. Gấp quá rồi, đừng cãi.

Con Lúa sợ quá cứ níu áo Năm Bưởi, ông cũng  cho nó đi luôn, đeo trên lưng cái bồng nhỏ. Còn lại hai ông bà với hai gánh. Ông tháo cái biển gỗ đen đề chữ trắng “LOẠI A” nhét xuống đáy thúng, trong khi bà Tư sực nhớ, cắm thêm hương vào cái âu sành trong cái thổ kỳ nhỏ dưới gốc mít. Còn may, ông với Út Thanh Yên đã đánh ba chuyến xe trượt trâu kéo, chở hết bộ đồ rèn vào trong ấp, được Cửu Áng chia cho một căn nhà khung gỗ lợp ở góc khu đất, gần giếng, cũng gần dòng khe Sặt bên ngoài hàng rào - khe này chảy qua đằng sau ấp phủ Đình trước khi nhập vào sông Linh. Lão khoe chỗ ở tốt -cũng tạm gọi là tốt trong cái chuồng chật ních rào kẽm gai này, sau sẽ dựng và đào đủ hai sông ba núi.

- Chỗ bạn già, tôi nói tình thiệt: tôi mua đời mà sống đó anh. Hồi nào Cả Chanh với Năm Chò về thăm, anh cứ nói giùm cho tôi mấy tiếng, đừng để cho tôi chịu phơi xác như Ba Mít là tôi mừng rồi. Dặn luôn anh nghen: rào dậu bấy nhiêu các ổng coi bằng trò con nít, vô ra như chơi. Anh cứ tiếp sao cho kín, nhắm chừng Giải phóng đi xa rồi thì đánh vài tiếng mõ cho có lệ, hễ lộ dấu chân dấu giép chẳng ai bắt bẻ được anh. Tôi có nói đôi câu giả hăm dọa, anh đừng chấp.

Ông Tư giữ ý, chỉ gật. Rốt lại, ông chuyển được hết số gạo bắp và khoai sắn khô vào căn nhà tôn, khóa cứng và chốt hai cửa sổ. Cửu Áng cầm loa pin đi nói ở hai ấp mới rằng hội đồng xã cho phép dân tháo dỡ nhà cũ vào dựng lại trong ấp, vì chánh quyền quốc gia chưa đủ nhà gỗ chế sẵn để phát cho dân. Nhiều người đã về làng vớt vát được cột kèo, đòn tay, nhà mới lợp còn lấy được tranh nữa.

Tại sao hôm nay lại xảy ra những vụ hiếp gái, cướp của, đốt nhà? Quân hồi vô lệnh là lúc khác, chứ dân đang lũ lượt kéo vào ấp tân sanh kia mà?

Cửu Áng rỉ tai là quân Mỹ sắp đánh lên núi, từ đây lên tận xứ Lèo, dữ dội chưa từng thấy, phải xua dân né ra cho đỡ chết. Chưa thấy Mỹ lên, chỉ thấy ác ôn hại dân. Vô ấp, chịu cảnh cá chậu chim lồng, các sắc lính rằn ri xông tới thì chạy đằng nào?

Tàn điếu thuốc này, ông Tứ lại móc cái chơơng đép, là hộp đựng thuốc hút đan bằng mây rất đẹp, xé một lá ra quấn kiểu xì-gà sâu kèm. Nó là vật kỷ niệm của anh Tơ-rin. Bà con Thượng bật lên núi cao, đã sống cách nào dưới những  thảm bom của tàu “sừng trâu” cùng các thứ chất độc xuống như mưa phun hay sương mù? Anh em Giải phóng còn cực khổ hơn cả người Thượng nữa, đói cơm lạt muối lại thêm các thứ bệnh nó hành, vẫn cứ lăn lộn đánh giặc.

Cách đây năm ngày, Năm Chò cùng đi với một tổ võ trang công tác, mở cửa sau vào nhà lúc một giờ sáng. Cà nhà dồn hết vào gian trong, khóc sụt sịt, trong khi ông Tư nắn bóp chàng rể coi thử có sứt mẻ gì không. Năm Chò vẫn vuông vức như cái tủ gỗ mun, chỉ thêm nhiều sợi bạc trong tóc. Ăn nói cứ ngang tàng như hồi nắm du kích Việt Minh. Út Thanh Yên ra gác ngoài cổng, tay cầm gậy, ám hiệu là tiếng la “chồn bắt gà”. Dưới ngọn đèn dầu buộc miếng mo che lửa, Năm Bưởi đọc thấp giọng đọc, lá thư Cả Chanh khá dài, kèm nửa trang thăm hỏi của Hai Thùy. Hễ liệu bề không cưỡng nổi thì cả nhà cứ tạm vào ấp tân sanh, về sau sẽ tìm cách phá ra. “Cha còn nhớ hồi đình chiến, Đảng mình dặn đấu tranh có lý, có lợi, có chừng mực, nay cứ vậy mà làm. Cách mạng không phải là liều mạng!”.

Mãi tối gần ba giờ, Năm Chò cùng anh em mới rút qua bên kia sông Linh với mỗi người một bồng nặng muối, gạo, khoai, sắn khô, thêm một bình nhựa to mắm nục nữa. Đợi chồng đi khỏi hơi lâu, Năm Bưởi mới úp mặt trên gối khóc rung cả nửa người, con Lúa bắt chước khóc theo tuy chưa kịp mếu người cha đã vắng mặt trước khi nó ra đời...

Hai chiếc trực thăng phản lực rà sát ngọn tre bay qua, quần lại, đảo nhiều vòng số 8 trên xóm Chợ đang cháy. Hình như bị đạn dưới đất quạt lên, chúng bay chéo rướn cao. Tiếp tới các loại súng to nhỏ nổ túi bụi chỗ đình Linh Lâm đã được xây đắp thành đồn lính bảo an với nhiều lớp rào kẽm gai và hầm hào lô-cốt gỗ đất. Súng ngớt chừng năm phút, một trái đạn đen vọt lên trời với tiếng kép “pình pung”. Vợ chồng ông Tư xốc gánh, đi theo con đường mòn xuyên rừng đến miếu nghĩa tượng, luồn ra đường 56, vào ấp Truông Dơi I.

Hỏi nhiều người mới biết, tên thiếu tá tiểu đoàn trưởng đêm qua nhậu say bét, nhớ mang máng rằng cả làng Linh Lâm vào ấp cả rồi, của để lại là của bỏ, cho lính sáng mai đi vét. Đồn bảo an chặn lại, bị chúng trói ké và tước vũ khí hết. Đại tá tham mưu trưởng cuộc hành quân Gấu Trắng đi trực thăng lên, dùng máy PRC 25 hạ lệnh rút về khu cắm trại, bị lính bắn bừa. Thiếu tướng tư lệnh quân đoàn Một phải lệnh cho hai tiểu đoàn biệt động quân còn lại bao vây bọn làm loạn.

Ông Tư nói nhỏ với các con:

- Tiếc quá, để chó cắn cho thiệt nhừ xương, dân mình mới sướng bụng. Mới mười giờ sáng đã dứt hết. Nghe nói bọn tưởng chơi đêm, ngủ đến trưa tròn bóng mới dậy kia mà!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #314 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2017, 02:23:54 pm »

Chương 19


Bốn chiếc trực thăng - ba H.34 loại chở quân, một HU.1B phản lực yểm trợ - lấy đường 56 làm cữ, bay lên Tây Quảng. Các phóng viên chen chỗ nhau nhìn qua cửa sổ, xem quân Mỹ kéo lên núi trong cuộc hành quân Man-hát-tan. Bụi đường bốc thành một dải đỏ bầm không đứt quãng, như rặng cây lạ mắt mọc hai bên bờ con suối quanh co, che mắt người bay trên cao. Chỉ khi bay qua những chặng đường xâm xấp nước hay nền đá thiên nhiên, các phóng viên mới thấy những chiếc xe tăng nặng loại On-tôx và Tai-gơ, lắp đại bác cỡ lớn, vượt sông bằng phao Sno-khen, nhưng lội ruộng  lầy rất kém nên ít dùng ở đồng bằng. Pháo kéo bằng xe xích và pháo tự hành đi thành chuỗi hàng cây số.

Mỗi lần nhìn thấy xe pháo trên đường là một đợt lên lớp của đại úy Thi-ô-đo S.Ten-ny-brát, sĩ quan thông tin công chúng của thủy quân lục chiến đóng trong năm tỉnh vùng chiến thuật Một (Quảng Nam đã chia thành hai tỉnh mấy năm trước). Tay này vốn là sĩ quan tham mưu, vừa học thêm sáu tháng ngành tâm lý chiến, rất bốc đồng , muốn trổ tài chinh phục trái tim và khối óc của bất cứ ai không phải là Mỹ.

Thật ra, hắn không xấu bụng hay tàn ác gì, cũng khá bảnh trai và vui tính. Hắn chỉ tin cắn cưa rằng chế độ Hoa Kỳ là tốt nhất, quỷ đỏ cộng sản là xấu nhất, đồng đô-la là quý nhất, hắn dính vào cuộc chiến tranh này là có lợi nhất cả phần hồn lẫn phần xác. Đồng đội hủy diệt người Việt và nước Việt Nam, hắn chỉ nghĩ: “Đến ngày phán xét cuối cùng, từng người một sẽ chịu trách nhiệm phần mình trước mặt Chúa. Ta chỉ là một hạt cát trên lãnh địa của các ngài Xê-da cầm quyền thế gian này. Ngay Chúa Giê-xu còn phải nộp thuế một đồng vàng  cho Xê-da kia mà!”.

Dòng quảng cáo thao thao của Tét-đy (hắn thích được gọi thân như thế, dù đó là biệt hiệu của con gấu trẻ con chơi) bắt đầu gây khó chịu. Loại H.34 chở quân này chỉ có một máy nói truyền từ hai người lái đến người chỉ huy trong khoang, Tét-đy dùng loa điện để át tiếng máy rất ồn, nhưng các vách kim loại dội lại tiếng loa chan chát và méo mó, rất khó nghe. Từng lúc, các tốp máy bay phản lực lướt qua bên trên buồng lại tiếng nổ chọc tường không khí và luồng khí xả hung hãn khiến tốp trực thăng lảo đảo như gặp lốc mạnh.

Hai chiếc H.34 bay trước chở cơ quan tham mưu tiền phương của thiếu tướng Huỳnh Lâm. Chuẩn tướng Bảy đã bị hất cẳng năm ngoái vì thiếu hăng hái trong vụ đàn áp Phật giáo, tháng năm 1966, nay vất vưởng ở trường sĩ quan Thủ Đức, nay nhờ Nguyễn Văn Thiệu đang cần chân để quật nhào thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ nên mới bị bỏ kho chứ chưa lột lon. Mỗi lần nhậu say, lão lại làu bàu chửi thằng Nguyễn Cao Bồi, thằng con hoang của Hít-le, chẳng phải vì thù hắn đưa quân ra giết Phật giáo và trị sư đoàn Một cứng đầu, mà chỉ vì tước mất của lão cái ngôi lãnh chúa miền Trung béo bở, nhất là từ khi Mỹ vào. Càng nhiều Mỹ càng lắm thứ bớt xén, càng xa đám cầm quyền Sài Gòn càng đỡ bị ghen ăn ghét ở.

Tướng Huỳnh Lâm tinh khôn hơn, giỏi lấy lòng Mỹ và sĩ quan cấp trên lẫn cấp dưới. Lão ra vẻ sửng sốt khi biết thiếu tá Ung Viết Khánh bị cầm chân mãi ở mức sĩ quan nhiệm chức, còn bị bắt bớ khảo của. Lão to tiếng với đại tá tham mưu trưởng trước mặt Khánh:

- Viết lệnh ngay đi, đưa thiếu tá lên thực thụ. Thằng Bảy tệ quá, tệ kinh khủng... Toa đừng phiền nghen, chịu khó giúp moa ít lâu là thêm một bông mai bạc nữa. Toa đừng làm tâm lý chiến, thứ đó moa hốt mấy trăm cũng có, lấy tụi sĩ quan động viên có bằng đại học mà nhát như thỏ đế, kiếm chỗ ngồi cạo giấy ở hậu cứ, tụi nó mừng tới sống tết chết giỗ lận!

- Trình thiếu tướng, vậy tôi chuyển đi đâu?

- Yên chí lớn, moa không đẩy toa đi tuyến lửa đâu... Toa ở bên moa, làm sĩ quan liên lạc Việt - Mỹ, khi cần thì giúp moa đón tiếp cái lũ quan chức hay phóng viên ưa thóc mách. Moa học kém, nghe tiếng toa từ hồi hai đứa hai phe kia, moa ở Việt binh đoàn của Bảo Đại, toa ở Việt Minh. Tụi Tây được thả về phục toa lắm lắm. Khi sắp ra vùng Một này, moa hỏi thăm, biết tụi Mỹ cũng rất nể toa, nó kêu là gì hè... à, là gentleman chánh hiệu. Tiếng ta dịch là gì?

- Trình thiếu tướng, đại khái là chính nhân, quân tử... Họ nhậu vui thì nói vậy thôi...

Từ đó các sĩ quan trong quân đoàn Một và vùng Một chiến thuật thấy Khánh luôn luôn đi cặp kèm với thiếu tướng Lâm. Thư ký không, cận vệ không, quân sư quạt mo không, là cái ông gì vậy? Rốt cuộc là anh liên lạc Việt - Mỹ và phiên dịch, chẳng có gì đáng gờm, nhưng cũng nên lấy lòng hắn ta đôi chút để khi nửa đêm gà gáy xin vài chục phi suất hay vài trăm quả pháo đại của Mỹ trôi chảy hơn.

Trên chiếc H.34 dành riêng cho tư lệnh, có một bàn nhôm và bốn chiếc ghế vặn bù-loong chắc xuống sàn. Các sĩ quan khác ngồi chịu lắc xóc trên các băng-két gắn hai bên sườn. Tướng Lâm, tham mưu trưởng và thiếu tá Khánh đều chụp ống nghe máy PRC.25 vào một tai, dành tai kia nói với nhau. Lâm đang văng tục:

- Đ. mẹ, thị sát chiến trường kiểu cứt này thì không trúng đạn quân đỏ cũng trào máu họng về nằm nhà thương. Ê, Khánh, nãy giờ có thằng Yăng-ki nào kêu tao không?

- Trình thiếu tướng...

- Mày vứt lẹ cho tao cái loa hai sao xuống hố tiêu, thưa với trình gì giữa chiến hữu. Lỡ may trực thăng rớt xuống vùng Cộng, mày nói giùm tao một câu là thằng thiếu tướng này không cố ý gây nợ máu với dân chúng hay các đồng chí đâu, nó là lính nhà nghề kiếm lon ăn lương... À, sao, tụi Mẽo?

- Thưa, chỉ có các đồn dọc đường điện hỏi FOF, tức Friend Or Foe, bạn hay thù, lấy lệ vậy thôi, không trả lời cũng mặc kệ. Hai sao gắn dưới mũi chiếc này ngó mắt thường thấy rõ. Lơ mơ, chiếc yểm trợ thổi cho bốn mươi tám trái rôc- két thì tụi nó rúc xuống đất cái cũng chết rụi.

- Hớ hớ hớ, cao tay đó Hai Khánh. Cứ vậy mà nghen toa. Mình là chủ, chủ nghèo, nó là khách, khách giàu, toa cứ đĩnh đạc chững chạc như lâu nay là moa ưng ý. Mà nhớ luôn đi: khi thiệt vui gặp bạn bè cố tri, moa hay giở giọng mày tao xả láng, quên cả thằng kia hơn mình ba bốn cấp. Toa là trí thức, đừng chê tụi võ biền như moa. Trương Phi với Khổng Minh ghép lại...

Trong máy nói nội bộ, chợt bật lên các tin hiệu tút tút của phi công chính:

- Trình thiếu tướng, đã đến khu vực Hai hành quân, cách sông Linh tám trăm mét. Sân đậu chỉ đáp được sáu trực thăng một lần. Dưới đất đã rải vôi chữ T cho đáp, ném trái khói xanh an toàn. Xin thiếu tướng cho lệnh.

- Hỏi gì nữa, đ.mẹ, đáp đi Chín, máy móc gì nữa mày!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #315 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2017, 02:27:33 pm »

Nửa giờ sau, khi cơ quan tham mưu đã yên chỗ các căn lều bạt cỡ lớn, nhóm phóng viên các nước ngoài tán dóc chung quanh các bộ bàn ghế nhôm, uống giải khát các thú đóng hộp ướp lạnh, với những máy quạt gió lạnh đặt ở các góc lều.

Nhân lúc đại úy Tét-đy ra ngoài để thu xếp bữa trưa, anh chàng phóng viên Ý chừa râu mép rậm và nổi tiếng lắm lời hỏi Mỹ Duyên:

- Hình như bà quen với thiếu tá Khan... ờ, Khanh. Sao ông ấy cứ lánh mặt chúng ta, gặp cũng ngậm câm?

- Ồ, tôi là người của AFP, hiểu sao được? Tôi hỏi một lần, ông ta tự xưng là sĩ quan liên lạc Việt - Mỹ, chỉ được nói những gì cấp trên cho phép. Từ đó trở đi, phuuuít !

Trong số hàng trăm phóng viên săn tin ở Sài Gòn, Bộ tư lệnh của đại tướng Oét-xty chọn cho theo cuộc hành quân này mười bốn người, tất cả đều chưa tùng đưa tin xấu hay viết bài xấu về quân Mỹ và Sài Gòn. Ra đến Đà Nẵng, họ chia nhau đi nhiều hướng: làm phóng sự về các căn cứ Mỹ, đi theo các hàng không mẫu hạm và các loại tàu thủy tàu bay thuộc trạm Yăng-ki của hạm đội Bảy chuyên đánh phá Bắc Việt, bám theo các đơn vị lính cổ da rải khắp vĩ tuyến 17. Chỉ còn chín người bám theo cuộc hành quân bị thu nhỏ này. Dù còn thua xa các đợt tìm và diệt của Át-tôn-bơ-rơ, Xi-đa Phônx hay Giăng-sơn Xi-ti, nhưng các phóng viên vẫn tìm thấy nhiều nơi lạ khi theo bước quân đội thọc lên con đường mòn Hồ Chí Minh đầy huyền thoại sau rặng núi lởm chởm kia, miễn không có gì nguy hiểm. Trong số chín phóng viên có năm người đến Việt Nam lần đầu. Chỉ một người Thụy Điển nói thạo tiếng Anh, còn lại bốn dùng tiếng Pháp thạo hơn, đến từ Ý, Tây Đức, Tây-ban-nha, Bra-xin. Họ hay bám riết Mỹ Duyên để nhờ dịch lại lời của Tét-đy, quen nói nhanh lua lua theo kiểu các bang công nghiệp Bắc Hoa Kỳ, và nhờ ghi những tên người đất Việt Nam mà chính Tét-đy cũng nói sai bét. Hay hỏi và đá móc nhất là tay người Ý chừa râu mép rậm và ông Thụy-điển tóc vàng mắt xanh có bộ râu cố đạo xoăn mịn rất đẹp.

Họ ngồi khá lâu trong căn lều bạt khung nhôm, ngáp, bình luận rì rầm với nhau với vẻ mặt bực dọc. Anh người Ý ngả sang tiếng Pháp, hơi to giọng:

- Phóng viên Mỹ ranh ma lắm. Chúng nó được tướng Oét-xty dùng làm loa để nhồi sọ cử tri Mỹ, làm xiêu lòng hai viện trong quốc hội, kiếm thêm lính thêm tiền đưa sang Việt Nam. Chúng nó kéo từng đoàn đi từ căn cứ này đến căn cứ khác, bay ra biển thăm trạm Yăng-ki phía Bắc và trạm Đic-xi phía Nam, được chiêu đãi như ông bà hoàng và tặng quà vô số, còn sang tận Phi-líp-pin và Thái-lan nữa. Tới đâu đưa tin viết bài tới đó, mất mười lăm phút hay nửa giờ thôi, sau đó đi lùng mua hàng giá rất rẻ ở Pi-écx gửi về nhà. Dại gì mà lao vào chiến tranh như chúng ta!

- Sách báo viết về quân Mỹ chắc đã đến hàng trăm tấn...

- Hàng vạn tấn ấy chứ! Ông bạn Đức chớ phiền lòng nhé, Gớp-ben đã từng dạy đàn em..

- Ô hô, quên sao được. Cứ nói dối mãi người ta sẽ tin. Nhưng mớ đạn mà Gớp-ben dùng để giết cả gia đình và tự sát lại khác, họng súng không biết nói dối như họng người!

Cũng vừa lúc ấy có tiếng rập gót đứng nghiêm của hai tên quân cảnh Việt và Mỹ đi qua lại bên ngoài. Năm sáu người bước vào căn lều đặt máy lạnh dã chiến, đi đầu là thiếu tướng Lâm và một đại tá Mỹ đeo cấp hiệu con đại bàng. Lão Lâm nhìn quanh một vòng tỏ vẻ ưng ý, rồi lên tiếng trước, cảm ơn ông đại tá đã chăm lo sức khỏe của các phóng viên quốc tế, và ngỏ đôi lời hoan hỉ chúc tụng các bạn quốc tế đã đến tìm hiểu sự thật về nước Việt Nam đang đổ xương máu chống làn sóng đỏ từ phương Bắc tràn xuống. Lão nhớ kỹ lời khuyên của thiếu tá Khánh về cách đối xử với khách ngoại bang: nói ngắn gọn, vài câu lại dừng để thông dịch viên làm việc, khi say thì kín đáo rút lui - cũng buồn cười, người Pháp gọi kiểu chuồn êm ấy là “chuồn kiểu Anh”, người Anh lại gọi nó là “chuồn kiểu Pháp”, có Chúa hiểu nổi thôi.

Tướng Lâm đã tập nói ngắn và chia đoạn. Sau câu cuối, Khánh dịch xong còn dịch lần thứ hai bằng tiếng Pháp, trong khi tướng Lâm tươi mặt ngắm đám phóng viên. Lâm đã quyết định từ trước khi biết có một số phóng viên không hiểu kịp những tràng thuyết giảng của thằng đại úy nhóc con Tét-đy.

- Toa soạn cho moa mấy câu nói thiệt hay, có thích lời từ Ai-xen-hao tới Giôn-xơn, sau đó toa dịch lu bù tùy thích, cho tụi Mẽo nó biết nước mình không thiếu người tài. Một thiếu tá dưới quyền moa - là nói vậy với tụi Tây thôi nghen, toa đừng giận - cũng đủ sức làm thầy cả bọn.

Tên đại tá Mỹ vụng hơn nhiều. Hắn nói bằng giọng kẻ cả bề trên với những phóng viên trẻ và ngổ ngáo, các ông bạc tóc trong nghề, dạy họ không được viết hoặc đưa lên phát thanh, truyền hình bất cứ điều gì phương hại đến cuộc thánh chiến chống cộng ở đây, nếu sai trái thì sẽ bị từ chối vi-da nhập cảnh lần sau, hoặc bị trục xuất lập tức khi chưa hết hạn vi-da.

Tướng Lâm đã ngồi xuống ghế, nghe Khánh dịch rì rầm bên tai, cuối cùng nghe Khánh rỉ tai rất khẽ như dịch tiếp câu cuối: “Thằng Mỹ nói phạm chủ quyền ta, thiếu tướng nên cho nó cứng họng”.

Như chỉ đợi dịp ấy, ông  già Thụy-điển đứng dậy nói rất lễ phép:

- Xin cảm ơn ngài đại tá vừa cho chúng tôi những lời chỉ dẫn quý báu về nghề phóng viên, giúp chúng tôi sửa một điều hiểu lầm tai hại: chúng tôi cứ tưởng đến với nước Việt Nam cộng hòa, chiếu khán là do Bộ ngoại giao Việt Nam cấp. Té ra quân đội Hoa Kỳ ở đây có quyền trục xuất hay từ chối chiếu khán phóng viên các nước, đó thật là điều vô cùng mới trên thế giới!

Cả đoàn phóng viên che miệng cười khúc khích, trong khi viên đại tá vụt đỏ mặt như gà chọi, xoay người đi ra không chào. Đại úy Tét -đy đưa mắt cầu cứu tướng Lâm và Khánh. Tướng Lâm chỉ đứng dậy xoa dịu bằng mấy câu chung chung, vì kẻ cần chọc quê đã chuồn mất. Lão gài thêm vào cuối giống như Khánh: “Toa cải chánh lời thằng đeo chim trên vai sao cho vui vẻ đôi bên”. Khánh bèn chuyển ý:

- Ông đại tá quen nói chuyện với các phóng viên Mỹ, và ngại chúng tôi chưa quen tiếp xúc với các phóng viên quốc tế, nên đã nhắc lại những quy định của Bộ ngoại giao Việt Nam mà ông hiểu rõ và nhất trí hoàn toàn.

Tướng Lâm không kịp chuồn, anh phóng viên Tây Đức đã chồm dậy:

- Thưa ngài thiếu tướng, vậy ra chúng tôi từ Đà Nẵng lên đây chỉ để ăn một bữa cơm và nghe các ngài căn dặn đôi điều?

Khánh dịch và lèo thêm: “Thiếu tướng nên cho họ đi xem các ấp định cư”. Nhưng lão Lâm lại hố lần nữa:

- Bộ tư lệnh Hoa Kỳ thấy chiến sự trên núi đang gia tăng, chưa muốn mời quý vị lên các căn cứ dã chiến trên núi. Quý vị có thể viếng thăm vùng bình định dân cư do quân lực Việt Nam đảm trách.

- Chiến sự gia tăng? Xin cho biết một vài số liệu và chi tiết.

- Khu vực hành quân từ sông Linh lên phía Tây do Bộ tư lệnh Đồng minh chỉ huy trực tiếp, hằng ngày có họp báo và bàn phối hợp giữa hai bên Mỹ - Việt, thường vào năm sáu giờ chiều. Tôi hy vọng ông đại úy thông tin công chúng sẽ trực tiếp gặp các vị chỉ huy Hoa Kỳ để cung cấp tình hình đầy đủ cho quý vị. Trong khi chờ đợi, vì các vị đang dừng chân trên khu vực do quân lực Việt Nam làm nhiệm vụ. Bộ tư lệnh quân đoàn Một kính mời quý vị một bữa trưa đạm bạc của nhà binh, mong quý vị không làm khách.

Khánh nghĩ thầm: “Té ra lão Lâm cũng bẻm mép ra trò!”.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #316 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2017, 02:29:35 pm »

Đoàn phóng viên mặt khó đăm đăm bước ra khỏi lều, đi vệ sinh ở những hố đổ tro và có khung vải bạt che, rửa tay và mặt. Bỗng anh chàng Ý kêu to:

- Thảo nào thằng đại tá đeo chim tránh đưa cánh ta đi xem chiến sự. Lý do trên trời kia!

Dù trời nắng gắt, cả đám kéo ùa ra chỗ quang để xem. Những tốp trực thăng võ trang chở quân nối nhau bay lên núi sáng nay, những cặp cần cẩu bay chân dài như sếu bay con thoi với các cỗ pháo lớn nhỏ, các lô-cốt bê-tông đúc sẵn, hình như đã rơi vào một trận địa của Vi -xi và sập bẫy khá nặng.

Liên tiếp có những bộ đôi hay bộ ba cần cẩu bay, với trực thăng võ trang Vi-king quần yểm trợ bên trên, xách về những xác trực thăng bẹp dúm hay đã gãy đôi gãy ba, những khẩu pháo vẹo nòng vỡ bánh, những xe ủi đất méo mó, và cả những gì còn lại của máy bay chiến đấu siêu âm Con ma hay Thần sấm. Trực thăng tải thương cũng nhiều. Đường bay về Đà Nẵng hay Chu Lai không xa, có thể bay con thoi một ngày nhiều chuyến. Tiếng bom và súng lớn sau rặng núi xanh văng vẳng đến khu vực chỉ huy này, chen vào giữa tiếng vo ve không bao giờ dứt của các loại máy bay thám thính L.19 hay OV.10. Từng lúc, tiếng nổ siêu âm bùng một loạt khi các máy bay chiến đấu phản lực lao lên núi hoặc từ núi trở về, các khối bom lửa bom phá và những thùng rốc-két đeo bên dưới đã biến hết. Có những chiếc đã xì đuôi khói đen dài bay lem lém lửa vẫn cố rướn về vùng an toàn trước khi phi công bấm nút cho ghế ngồi vọt ra và bung dù.

Đại úy Tét-đy chưa trở lại. Khánh phải ra mời khách về lều khi cơm bày xong.

Bữa cơm thành công khá đẹp. Tướng Lâm đã đặt tất cả các món ở tiệm ăn sang nhất Đà Nẵng, cho đầu bếp và hai cô hầu bàn theo, cùng nhiều bếp điện để hâm các món nóng, nhiều bình thủy nước sôi để làm khăn lau tay tẩm thơm và pha cà-phê. Có cả thực đơn đánh máy tiếng Anh và bốn loại đồ uống trong thùng nước đá cách nhiệt. Thức ăn hầu hết là Tàu nhưng đã Việt hóa bằng cách giảm béo, một số thức ăn Âu được bày sẵn, dành cho khách không quen ăn đồ Tàu là lão Lâm gọi phứa là các món dân tộc.

Quan khách đói bụng và được mời mọc sốt sắng, ăn như hùm uống như rồng, tấm tắc khen, xếp Việt Nam vào hàng những nước sành ăn nhất thế giới. Tướng Lâm ghìm bớt được cái tật uống như phễu, giữ được mức của ông chủ nhà vui tính và mến khách. Lão chu đáo đến nỗi gọi đầu bếp đến dặn nhỏ nhưng đủ cho Khánh nghe:

- Đây thiếu thông dịch viên, thiếu tá Khánh giúp tôi nói chuyện với khách quốc tế trên tình chiến hữu. Anh để dành phần thiếu tá thiệt sang, nghe chưa?

Rồi lão quay sang tán vui, và Khánh cố điểm xuyết khá nhiều nét trí tuệ khá uyên bác kiểu Tây Âu vào lời của lão. Cả mâm tiệc trố mắt hay gật gù tán thưởng. Họ xì xào với nhau mấy câu. Ông già Thụy-điển nạy đứt dây thép buộc nút chai sâm-banh, kéo mấy cái ly chân cao về phía mình, đứng dậy với ngón tay cái giữ nút chai:

- Vì là niên trưởng trong đoàn phóng viên, tôi được cử nói mấy lời với thiếu tướng, và qua thiếu tướng với các sĩ quan và binh sĩ dưới quyền thiếu tướng...

Lão Lâm đưa mắt cho Khánh. Khánh chỉ nói vội: “Trình thiếu tướng, tôi sẽ sang băng sau, dễ lắm!”

Ông Thụy-điển nói dài, có lẽ vì hơi men đã ngấm. Hoàn toàn không động đến cuộc thánh chiến chống cộng, bảo vệ thế giới tự do. Ông chỉ nói về nền văn hiến ngàn xưa của Việt Nam, khi Châu Âu và Châu Mỹ đang còn hoang dã. Một dân tộc như thế hoàn toàn xứng đáng được độc lập tự do. “Tôi không tưởng tượng được một vị tướng đã cầm quân đánh trận trong nhiều thập kỷ lại am hiểu đến thế về đất nước, con người và đời sống Âu - Mỹ. Chỉ qua những lời khiêm tốn của thiếu tướng, tôi thấy được truyền thống văn hóa của Việt Nam đã ngấm sâu vào tâm khảm mỗi người dân trên đất nước này...”

Cùng một lần với nút sâm-banh nổ bốp trên tay vị niên trưởng, một loạt tiếng nổ bật lên chung quanh bàn. Quan khách ùa tới chạm cốc với ngài chủ tiệc tươi như hoa. Khánh chen vào nhắc khẽ:

- Thiếu tướng đến chúc người phụ nữ duy nhất. Tên Mỹ Duyên, phóng viên AFP.

Tướng Lâm vẫy cô hầu bàn rót đầy các ly. Rồi lão mỉm nụ cười ga-lăng nhất, cầm ly sâm-banh sủi bọt đến bên Duyên, người khách kín tiếng:

- Xin được chạm cốc với người đẹp Mỹ Duyên mà tôi đã nghe danh tiếng từ lâu, một trong những người thông minh nhất trong nữ giới nước nhà! Xin mời các bạn cùng qua cạn cốc chúc sức khỏe và nhan sắc của nàng tiên cá xi-ren dùng sóng điện AFP làm tiếng hát!

Theo tục lệ, Mỹ Duyên ngồi nguyên chỗ, chỉ nâng cao ly rượu khi được chúc mừng, trong khi tất cả đàn ông ghé đến chạm cốc và uống đứng. Khánh cũng đến chúc và thoáng thấy trong mắt Duyên một ánh lửa mà chàng hiểu: ánh mắt căm giận cố nén trong khi môi vẫn cười tươi.

Sau tiệc, tướng Lâm ra vẫy viên thiếu úy hậu cần dặn nhỏ mấy câu. Mươi phút sau, một trung sĩ đến đứng nghiêm chào, xưng tên, đó là một học sinh rớt tú tài được tuyển làm phiên dịch tiếng Anh trong một tiểu đoàn có cố vấn Mỹ đi kèm. Lại tiếp bốn lính nữa vác đến một chục giường xếp khung nhôm phủ bạt còn mới tinh, lấy ở trạm cấp cứu của sư đoàn, quà tặng nhân đạo của Thụy-sĩ được chuyển sang quân đội xài.

- Nè Khánh, toa giao việc cho thằng em đây. Toa nói mấy câu mời khách nghỉ trưa rồi đi với moa, nói là có cuộc họp quan trọng. Mình bám hoài họ lại tưởng cố lấy lòng, kệ cha thằng Tét-đy nhai dẻ rách để họ ngán cái thói chơi cha thiên hạ của Mẽo. Lão Thụy-điển ranh như cáo, cố ý so sánh người mình nghèo mà văn minh, tụi Xịa giàu mà man rợ. Moa ăn nói... có tàm tạm không?

- Thật tình, thiếu tướng làm tôi sửng sốt. Một đại sứ lão luyện cũng phải bái phục!

- Ờ, ờ... vợ moa là chủ mấy cái khách sạn, hay mở tiệc mời khách ngoại quốc, rèn cho moa miết cũng quen. Thêm toa lại gài kiến thức vô nữa, biến moa thành nhà văn hóa, hớ hớ hớ!

- Chiều nay thiếu tướng định làm gì?

- Ngủ tới khi thằng đeo chim đến báo cáo, rồi vù về Đà Nẵng, để thằng đại tá sư Hai ở đây. Moa phải lo cả năm tỉnh, cả quân đoàn, đi thị sát bấy nhiêu thôi. Toa cũng về. Phóng viên để Xịa nó liệu.

- Trình thiếu tướng, tôi xin phép đi xem vùng này. Hồi nhỏ tôi hay về đây nghỉ hè. Nhà cha dượng tôi cũng ở gần đây, bây giờ tan hết.

- Ồ, moa quên, tức là ông tỉnh phó Ung Viết Đỉnh hả?

- Thưa phải.

- Nhớ đem theo vài ba cận vệ. Mà moa đã dặn, ngoài giờ làm việc thì đừng thưa trình gì cách biệt. Moa thứ năm, kêu bằng anh Năm hay anh Lâm là moa ưa nhứt! Đem theo một PRC.10 để khi cần moa kêu về.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #317 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2017, 02:32:36 pm »

*
*        *

Một chiếc xe ủi đang dồn hết những đống gạch ngói còn lại của dinh quan phủ Đỉnh năm xưa, đẩy xuống ruộng. Một tiểu đội Mỹ đang dọn chỗ để đặt trận địa pháo tầm xa trên nền nhà còn chắc.

Một tên khoát tay từ xa ra hiệu cho Khánh cùng bốn cận vệ không được đến gần. Khánh cứ đến trước mũi súng chĩa hăm dọa. Nhìn thấy bông mai bạc trên ngực Khánh, tên Mỹ hậm hực chúc mũi súng xuống. Khánh nghiêm giọng:

- Tôi là thiếu tá, phái viên của thiếu tướng tư lệnh quân đoàn Một. Anh là chỉ huy ở đây?

- Phải.

- Anh hãy đứng nghiêm, xưng hô theo điều lệnh.

Tên Mỹ đỏ từ mặt xuống ngang thắt lưng vì cởi trần dưới nắng, chỉ đỏ thêm một ít. Tướng Oét-xty đã chỉ thị cho quân đội Mỹ phải chào cấp trên người Việt, khi ngang cấp thì cùng chào một lần. Nhưng bọn Mỹ khinh lũ gúk, lũ da màu, cứ lánh né. Dù sao, một hạ sĩ đeo lon chữ V úp sấp mà xấc láo với một bông mai bạc thì cũng quá quắt. Hắn dựng súng, chào qua loa, báo cáo cụt ngủn:

- Thưa thiếu tá, tiểu đội chúng tôi đang dọn chỗ đặt pháo lớn. Chúng tôi đang rất bận. Chúng tôi đề nghị bà đeo thẻ phóng viên trên ngực kia không chụp ảnh, đây là khu cấm.

Khánh quay lại. Thì ra Mỹ Duyên lặng lẽ nhập vào nhóm của Khánh lúc nào không rõ, đi cuối hàng. Duyên bước thẳng lên, cười nhẹ:

- Ông hạ sĩ có thể cho tôi gửi máy ảnh lại đây chứ?

- Bà là người Nhật?

- Các ông xem tướng tài thật...

- Nhật thì được. Bà cứ mang theo, đừng chụp.

Khánh chưa kịp nổi cáu, tên hạ sĩ đã bỏ đi.

Lát sau, Khánh và Duyên đã lần đến chỗ khuất trên Dương Nai, để số cận vệ gác bên dưới đồi. Duyên leo dốc dưới nắng, mặt hồng lên như các cô ca sĩ đôi mươi. Khánh không để ý. Chàng  vừa sa vào lưới nhện của kỷ niệm xưa. Khoảng cách mấy mươi năm vụt biến, hai bộ phim từ từ hiện trên hai màn ảnh đặt sát nhau, từng lúc chập chờn chồng lên nhau, khi tới khi lui...

Cậu học sinh Khải Định bơi sông Hương mỗi năm chín tháng, bơi sông Linh và biển Quy Nhơn ba tháng, đoạt giải vô địch bơi của học sinh Trung Kỳ, thường được gọi là chàng trai hấp dẫn nhất Thần Kinh... Những năm sống chật vật ở Hà Nội, túi tiền và dạ dày cùng rỗng, trải chiếu nằm gạo bài trên căn gác chật và hứng mùi hôi của bãi rác... rồi đến Mỹ Duyên với những cuộc ái ân vụng trộm ở Đà Nẵng và ngay ở đây. Những tài liệu kèm mấy khẩu súng tặng Việt Minh. Chín năm chống Pháp, tiếp tới sai lầm sau đình chiến, sụp hố bẫy của Quốc dân đảng với phủ Đỉnh, Bảy Suyền, Trọng Béo, cả một bầy đeo mặt nạ... Bà me  Lợi Thịnh đã sớm lẩm cẩm, cô em gái út bám riết mẹ để vét sạch số vốn đem được vào Sài Gòn, coi Khánh như kẻ giành ăn... Còn lại ai nhỉ? Mỹ Duyên với đời riêng rất khó hiểu vẫn tìm mọi cách gần gũi mình, giúp mình khi gặp nguy. Và thằng em tập kết đã khá nổi tiếng, mở đài Hà Nội thường nghe tên nhạc sĩ Viết Chương, cả sáng tác lẫn nhắn tin vào Nam cho người thân và bạn bè...

- Anh Khánh!

Khánh vụt tỉnh, quay lại, không biết nước mắt đang chảy trên mặt mình, Duyên quay mặt đi để Khánh khỏi ngượng, trỏ xuống một chỗ trụi, trước kia đầy những bụi sim, mua, du dễ rậm rạp:

- Anh nhớ không? Chúng mình “loạn” với nhau mấy lần chỗ khuất này...

- Quên sao được? Hồi chống Pháp, vắng tin em lâu quá, anh lên đây đứng trong bụi rậm chỉ thấy công múa. Tới nay anh vẫn chưa hiểu vì sao em trốn kỹ thế?

- Và em cũng chưa hiểu vì sao anh từ chối không nhận vàng em gửi Thạch Sơn, không trả lời thư em.

- Dễ hiểu lắm. Chính quyền Việt Minh lo đánh mặt trước, để hậu phương rối tinh, bọn xấu chui vào nhiều quá, đạp người tốt đổ nhào. Hồi ấy anh không dám tin ai. Những người tốt cực kỳ như anh Cả Chanh hay ông Tư Chua làng này rụng hết...

Người lính mang PRC.10 đứng dưới gọi lên:

- Trình thiếu tá, có lệnh thiếu tướng kêu về làm việc.

Duyên nói vội khi đi xuống:

- Về Đà Nẵng em có chuyện rất, rất quan trọng nói với anh.

- Gặp đâu?

- Ở buồng em, khách sạn Bảo Gia, nhỏ xíu, buồng 21, ít ai để ý.

- Anh ở đêm được không?

- Nhờ ông Trần Hưng Đạo giúp thì được. Bảy giờ tối mai nghen?

Bóng người gác đã hiện lấp ló. Khánh đổi giọng:

- Thưa bà, rất khó tưởng tượng vùng này trước kia rất trù phú, là giao điểm các nguồn hàng từ biên giới Lào xuống biển, qua đường 56 và sông Linh đổ xuống Thu Bồn. Nay đã tan hoang không còn dấu vết.

- Do thiên tai, cũng do chiến tranh tàn khốc... Tôi hiểu ông.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #318 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2017, 02:34:32 pm »

Tướng Lâm ra lệnh gọi Khánh đến lần thứ ba trong khi cả nhóm đi vội về khu chỉ huy. Lão đứng ngoài lều bạt chờ Khánh:

- Mẹ cố tổ nó chớ. Thằng thiếu tướng Mắc Kru-gơ đi thị sát mà không thèm báo trước cho moa. Năm phút trước khi hạ cánh nó mới biểu tham mưu báo cho mình. Chậm chút nữa, moa cho năm bảy cây đui-xết quét rụng cả bầy.

Khánh nghĩ: “Phét, đố dám!”.

Tên tướng Mỹ đang làm việc với bọn tham mưu Mỹ. Khánh có thì giờ để phanh ngực trước quạt lạnh, uống một lon bia ướp đá. Bên ngoài nghe một loạt tiếng rập gót chào của đội cận vệ. Tướng  Lâm, đại tá tham mưu trưởng và Khánh bước ra đón.

Tên tướng Mỹ không hách dịch như ông chủ trả lương, mà rất nhũn nhặn. Hắn chỉ bàn với tướng  Lâm khoanh lại một khu vực đã giao cho quân Sài Gòn ở bờ phía Đông sông Linh đã đặt các pháo lớn tầm xa và các chiến xa hạng nặng. Tướng Lâm giả dại:

- Thưa thiếu tướng, Bộ của ngài đã cho chúng tôi bản đồ ghi mấy chục chỗ đặt pháo và xe tăng từ bờ Tây sông Linh trở lên. Ngài đặt ở đây, tầm hủy diệt sẽ rất hạn chế.

Hai viên tướng gườm gườm nhìn nhau bằng ánh mắt của đại bợm đụng đầu. Mỗi người nói những lời mà kẻ đối diện đã biết trước:

- Các đơn vị thủy quân lục chiến và kỵ binh bay của chúng tôi đang đụng độ với hàng loạt lực lượng Vi-xi: du kích Thượng với rất nhiều loại chông và bẫy phóng lao, các đại đội và tiểu đoàn của tỉnh, hai trung đoàn thuộc quân khu Năm, và hình như cả một sư đoàn Bắc Việt mới vào, lực lượng Mỹ bị giảm trong cuộc hành quân này vì có rất nhiều tin báo rằng Vi-xi sắp đánh chiếm Đak-tô, cũng vì chiến dịch lớn sẽ mở gần giới tuyến. Chúng ta có thể thương lượng...

Cuộc mặc cả kéo dài hơn một tiếng. Phía Mỹ chịu nhận sẽ yểm trợ bằng pháo và không quân đánh đêm cho khu vực Đông sông Linh, giúp tải thương ban đêm - vì quân Sài Gòn không quen bay đêm đánh đêm - kèm một khoản tài trợ lớn để định cư dân vào các ấp tân sanh mới, nhưng phải giao chánh quyền Việt Nam tại Đà Nẵng để chia thật công bằng.

Một thứ tiếng lạ tai rất trầm nổi lên trên sông Linh. Tên tướng Mỹ mời tướng Lâm ra xem một loạt chiến xa mới. Dọc sông Linh có một thứ gì giống như tàu đổ bộ bay trên mặt nước chừng mười thước, chậm như trực thăng chở quân. Tên trung tá gọi gì đó trong máy bộ đàm. Ba chiếc nối đuôi nhau hạ cánh dễ dàng xuống mặt ruộng khô.

- Mời thiếu tướng xem. Đây là loại chiến xa bay I-rô-côix đang thí nghiệm ở Trung Việt, đã được thử thách ở đồng bằng sông Cửu Long và ở Cao nguyên Trung phần. Nó bay bằng động cơ phản lực trên đệm không khí với tốc độ thay đổi từ 80 đến 700 ki-lô-mét/giờ, được trang bị bằng bảy súng máy nặng, nhiều phóng lựu và hỏa tiễn, bọc hợp kim cứng như thép chống  pháo 37 ly của Vi-xi. Thiếu tướng đã xem họ hạ xuống đất đấy, chưa tới 150 mét đã dừng.

- Chắc thiếu tướng đã phóng hàng loạt lên vùng núi?

- Rất tiếc là chưa. Núi đèo ở đấy quá hiểm trở. Nhưng chúng có thể làm lá mộc vững chắc cho vùng ngài đang bình định.

Ba chiếc I-rơ-côix theo lệnh nhấc mình giữa bụi mù, bay chậm theo thung lũng  sông Linh, mỗi chiếc để lại một xoáy nước rất sâu dưới bụng.

Xe xích đã kéo đến bốn khẩu 175 ly nòng dài với tầm bắn ba chục cây số vào chỗ nền nhà cũ của phủ Đỉnh. Lính Mỹ hối hả nhồi hàng trăm bao cát dựng thành vách che đạn súng cối và đại bác không giật nhiều cỡ của Vi -xi. Sẩm tối, các họng 175 ấy đã nhận được tọa độ và lệnh bắn. Đám dọn bãi nhai vội các khẩu phần C, uống cà-phê loãng mang đến trong các thùng nhôm, lăn ra ngủ như chết trong khi lính pháo lắp đạn và giật cò tiếng nổ đầu nòng không đủ đánh thức.

Đêm ấy Khánh ngủ trong dinh trại quân đoàn vì quá mệt, nên kịp nhấc máy điện thoại khi tướng Lâm gọi lúc một giờ sáng:

- Xin lỗi, và cảm ơn toa luôn luôn có mặt khi moa cần nhứt. Tụi Mẽo bị đặc công  Vi-xi luồn vô đánh bãi xe tăng và pháo 175, hư hại vô số. Quân sư Khánh nghĩ moa phải làm gì?

- Trình thiếu tướng, quân Mỹ nhận phần đánh đêm, tải thương đêm, ghi biên bản rồi, cứ để họ làm như đã hẹn. Bên ta nên cho một chiếc C.47 đa-cô-ta lên thả hỏa châu, một đại đội biệt động quân lùng rừng tìm đặc công, thỉnh thoảng  báo cho Mỹ một tọa độ nào đó nã pháo. Chắc chắn tụi đầu cọp tìm chỗ ngủ kỹ, thay phiên nhau trực...

- Hay, hay, hớ hớ hớ. Moa sẽ dặn tụi biệt động đem theo bản đồ pháo, địa bàn, phiên dịch. Mấy cha tham mưu đi ngủ với điếm hết, thằng trực dốt đui. Toa làm tâm lý chiến miết mà rành hơn bọn quân sự.

- Trình thiếu tướng, cũng phải hiểu tâm lý quân ta là ban đêm thích ngủ hơn lùng rừng chứ!

Lão Lâm cười to và đặt máy. Khánh xua ngay ý nghĩ về một kiểu kiểm tra đột xuất, cấp tướng không cần làm vậy, chỉ giao cho sĩ quan trực gọi và dặn đôi điều ấm ớ là đủ. Thường là “Bộ tư lệnh thông báo có thể Việt Cộng sắp phóng hỏa tiễn vô khu vực ta, phải đề phòng...”.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #319 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2017, 02:38:56 pm »

Tối hôm sau Khánh đến khách sạn Hảo Gia theo lối vòng vèo. Tướng Lâm đã ra lệnh các sĩ quan cấp tá ngủ đâu phải báo cho trực ban để gọi khi cần. Khánh ghi tên thuê phòng ngủ ở một khách sạn lớn, gọi anh hầu phòng ra giúi cho năm trăm, dặn ai có gọi điện hay tìm thì nói thiếu tá ở đây nhưng đã đi nhậu với mấy cô ca sĩ, chưa về. Rồi chàng đi bộ đến khách sạn Hảo Gia, một vi-la to được ngăn thành sáu phòng ngủ cho thuê, hai phòng tầng trệt dành cho bà chủ to béo và hai con trai chưa đến tuổi quân địch.

Mỹ Duyên đi phố chưa về, dặn nếu có thiếu tá Hai đến thì trao chìa khóa cho lên buồng nghỉ trước. Khánh nói đúng lời dặn, nhận chìa khóa, đưa tiền nhờ mua một chai cô-nhắc với đồ nhắm.

Khánh định uống thật say cho đỡ chán đời. Thằng Chung lại quậy phá không sao chịu nổi.

Chiều nay thằng Chung dẫn một đứa bạn ngoài hai mươi cũng tóc tai bù xù và ăn mặc xốc xếch như nó, đi bộ thẳng vào căn hộ của Khánh trong khu gia đình. Chị bếp và anh hạ sĩ hộ vệ biết mặt thằng con bụi đời nhưng không dám cản khi nó vào ga-ra để xe hơi. Nó sừng sộ khi đòi chìa khóa xe không được, thật ra Khánh chỉ bỏ trong ngăn kéo bàn đêm. Thằng bạn nó là thợ sửa xe, loay hoay tháo ổ khóa, đấu lại nối dây điện: máy bắt đầu nổ số không. Chúng leo lên xe, sang số nhỏ, chạy qua mặt lính gác cụm nhà sĩ quan, sang số lớn húc văng cây ngáng đường ở trạm gác cổng chính. Ba lính quân cảnh nhảy lên mô-tô ba bánh, còi đuổi theo, lại dừng ngay: chiếc ô-tô ra khỏi cổng lái ngoặt sang trái quá nhanh, đã vọt qua chỗ bùng binh cho xe tránh nhau, bay tiếp qua đường bên kia, nhào ngửa bốn bánh lên trời. Hai đứa không biết xe này lắp động cơ xe đua, bảng tốc độ sửa lại một cây số thành hai.

Hai đứa trộm xe văng ra ngoài, đều bị thương. Thằng lái nặng hơn, hộc máu và gãy tay vì bánh lái đánh trúng, thằng Chung chỉ toạc trán và đổ máu mũi. Chúng được chở vào bệnh xá của quân lao. Chiếc xe méo mó được kéo vào nhà thiếu tá Khánh.

Khánh về sau một ngày làm việc rất căng do trận “tìm diệt” Man-hat-tan bị thiệt hại “được coi là nặng” theo kiểu chơi chữ mới của tướng Oét-xty. Suốt ngày có điện thoại gọi, điện tín đánh về, điện đàm vô tuyến, công văn đánh máy. Trực ban tham mưu đã đưa tất cả những gì thuộc quân Sài Gòn cho sĩ quan tùy tùng, nhưng phần việc còn lại của sĩ quan liên lạc Việt - Mỹ vẫn bằng khối lượng hàng tuần hay nửa tháng trước đây, hầu hết là tối khẩn, tối mật, thỉnh thoảng chen vào một hỏa tốc dành cho “đích thân” tức tướng Lâm. Phải điều thêm hai thông dịch viên “rớt tú tài”, nói tiếng Anh nội hóa ở trường, làm thêm việc thu băng ghi âm và đánh máy ra giấy khi có thể, Khánh nghe băng và dò lại trước khi “trình đích thân”. Lão Lâm đêm qua đánh một trận rượu và gái, mới ngả lưng đã nghe quân Mỹ kêu cứu, chỉ ngủ được ba tiếng, hôm nay ngáp lia lịa:

- Tóm tắt đi toa... Ngắn ngắn gọn gọn, rồi toa dựa ý moa soạn công vãn hay điện trả lời. Moa chỉ trả lời thẳng với thằng trung tướng và thiếu tướng của Mẽo thôi.

Khánh về nhà mình trong khu gia đình, nghe hạ sĩ hộ vệ kể tỉ mỉ, xem cái xe méo mó, vỡ đèn vẹo bánh, lắc đầu. Cứ để thằng quỷ sứ trong quân lao đó, gặp nó chỉ thêm điên tiết. Khánh chỉ dặn tay hạ sĩ nói với trạm y tế quân lao cho nó thuốc men và ăn uống đầy đủ để mau lại sức, thiếu bao nhiêu tiền Khánh sẽ gửi sau, nhưng không cho ra ngoài, đợi xét xử đã.

... Mỹ Duyên đi đâu vẫn chưa về. Khánh xem lại đồng hồ, thấy mới sáu giờ hai mươi. Trong lúc bấn loạn, Khánh đã lầm giờ, quên cả ăn tối. Chàng đi tìm Mỹ Duyên như người sắp chết đuối cố rướn tới cái phao gần tầm tay.

Ly rượu mạnh bốc nóng từ bụng lên đầu Khánh. Dường như chất men xua bớt đám mây đen buồn giận trong óc. Khánh nghĩ đến thằng con càng lớn lên càng đảo ngược tính nết, cố nhớ xem nó sinh vào tháng nào trong năm 1949. Đủ mười tám tuổi thì tòa án binh xử, vì trộm xe trong khu vực quân sự. Chưa đến mười tám thì đi trại trừng giới. Trong Nam phần, có trại Thủ Đức cho đám trẻ mới phạm, tái phạm lỳ thì đi Phú Quốc, chẳng biết Quảng Nam và Quảng Tín có trại trừng giới không nhỉ... Khánh rùng mình. Vào các lao các trại ấy, nó sẽ ăn đòn nhập môn, làm nô lệ hầu hạ bọn đại ca, ngoài ra còn những trò đánh đấm đá đạp của giám thị. Tòa xử thì sẽ rất nặng: quái xế cũng lắm mức, xế điếc nhẹ, xế nổ hai hay xế nổ ba nặng hơn, đây nó lại vào tận nhà cướp xế nổ bốn trong khu quân sự... Đáp lại, thằng Chung sẽ mượn dịp chửi ba nó bằng những lời vu vạ độc hiểm nhất khi ra tòa.

Khánh đã cạn ly thứ hai, rồi thứ ba. Cố nhai một miếng nem chua không thấy mùi vị gì. Chả giờ cũng vậy. Hơi nóng bây giờ dồn cả vào cổ họng, Khánh uống thêm để giập lửa...

- Anh Khánh! Anh Khánh!

Khánh gượng mở mắt, thấy ba cô Duyên trước mắt. Giụi mắt mấy cái, còn lại hai cô, rồi một cô với cái bóng ngấp nghé đằng sau.

- Anh uống tới hai phần chai Mác-ten, dễ sợ, hèn gì say mèm. Anh ăn tối chưa?

Khánh lắc đầu.

- Uống bụng đói nữa! Để em giúp cho thoát say...

Duyên mở cặp da, lấy đưa một viên nhộng màu xanh cho Khánh uống với nước chín trong bình. Xong, lại bảo Khánh chuẩn bị nôn. Cơn buồn nôn đến khá nhanh, Khánh chỉ kịp vào buồng tắm nôn thốc tháo vào hố xí máy, đến khi đau quặn trong bụng rỗng. Duyên mở sẵn vòi nước chỗ rửa mặt cho Khánh, còn giội thêm nước lạnh ướt đẫm tóc và đầu. Dễ chịu rồi.

Khánh ra ngoài, thấy Duyên đang cắt những lát chanh mỏng kèm một đĩa con muối tiêu. Thêm một quả khế nữa.

- Anh ăn cho dã rượu. Tối nay anh thích ăn gì?

- Gì cũng được. Ờ, ờ, cho anh tô cháo lòng với đĩa bánh cuốn nóng, mấy thứ đó khu gia binh không có.

Duyên bấm chuông gọi hầu phòng. Người mới đổi phiên là một ông tóc hoa râm, dáng bệ vệ như ông quản lý khách sạn bốn năm sao.

- Nhờ ông cảm phiền cho người đi mua giùm mấy món ghi giấy đây, nhà tôi chưa kịp ăn tối. Tối nay nhà tôi nghỉ đây với tôi.

- Vậy xin bà trả cho khoản phụ trội, và xin ông gởi cạc để tôi đưa cho bà tiếp tân. Dạo này cảnh sát hay đến tra sổ ban đêm tìm khách thiếu giấy tờ...

- Tụi nó đòi ăn đó thôi, ông. Vợ chồng già gặp nhau mà ai đem giấy tờ làm gì. Xin góp chút xíu để ông lót tay tụi nó.

Duyên cười tươi, rút đưa cho ông hầu phòng bốn tờ năm trăm, đưa thêm hai tò nữa để mua đồ ăn. Được món bổng đế vương, ông kia cúi chào và lặng lẽ bước ra. Cái nhà trọ thổi phồng lên khách sạn này chẳng mấy khi được một bà khách dễ tính và hào phóng như vậy.

Khánh đã tỉnh táo hẳn sau khi nhai gần hết quả chua chấm muối. Chàng thong thả kể tội thằng Chung, kể những nỗi thất vọng liên miên từ ngày rời Việt Minh trở về thành phố mười ba năm trước, tan nát hết rồi. Duyên nghe chăm chú, nhưng Khánh cảm thấy mỗi lúc một rõ rằng Duyên biết tất cả, chỉ muốn nghe lời nói và giọng nói của chàng.

- Anh chán hết mọi thứ trên đời, chỉ trừ em. Vì sao anh lại được một thiên thần hộ mệnh luôn luôn hiện lên khi anh bế tắc, buồn khổ? Anh đâu có xứng đáng với em?

Duyên nhắm mắt như choáng váng sắp ngã. Tiếng gõ cửa đánh thức cả hai. Đợi người hầu phòng đặt mâm thức ăn trên bàn - có thêm bánh bao và bia, nước ngọt ngoài các thứ Khánh dặn - cúi chào và bước ra, Duyên gài chốt cửa, đến ngồi trên đùi Khánh, quàng tay ôm cổ người tình. Khánh ghì hai tay, ghì môi. Cái hôn kéo dài mãi đến khi Duyên giẫy ra, hổn hển:

- Em gãy xương nghẹt thở muốn chết. Khiếp mấy ông “nhà banh” rồi. Anh ăn các thứ đi, nguội hết, no bụng em mới nói, quan trọng cực kỳ nghen.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM