Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #30 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2016, 11:59:39 pm » |
|
Chỉ một ngày sau cuộc gặp gỡ ở vịnh Hạ Long, phía Pháp đã cho ra đời cái gọi là “chính phủ lâm thời” ở sài Gòn. Báo chí tiến bộ Pháp chỉ rõ: chưa đầy ba tuần sau khi ký Hiệp định sơ bộ, “Chính phủ Pháp đã chấp thuận một chế độ tự trị ở Nam Kỳ và công khai ủng hộ chế độ đó” (Sau này, một đại biểu trong phái đoàn Việt Nam ở Pari đã thẳng thắn vạch ra rằng: cơ cấu tự trị đó không phù hợp với tinh thần và lời văn của Hiệp định sơ bộ và đó “chỉ đáng là một trò cười”). Để trả lời hành động vi phạm của Pháp và tay sai, ngày 29 tháng 3 các chiến sĩ Sài gòn đã trừng trị tên Trần Tấn Phát - một trong những kẻ cầm đầu cái chế độ “tự trị” do Pháp vừa nặn ra.
Hành động vi phạm của Pháp còn biểu hiện trắng trợn ở chỗ họ từ chối không chịu thực hiện điều khoản về ngừng bắn ở miền Nam. Trong hội nghị quân sự Việt - Pháp đầu tháng 4 năm 1946, khi phái đoàn Việt Nam đòi phía Pháp phải cùng phía Việt Nam cử phái đoàn liên hiệp đình chiến vào miền Nam để thực hiện việc ngừng bắn đã được quy định trong điều 3 của Hiệp định sơ bộ thì phía Pháp đã nhất mực từ chối. Tướng Lơcléc viện cớ: “cho đến khi cuộc trưng cầu ý dân được tổ chức, Chính phủ Hà Nội không phải quan tâm gì đến công việc ở Nam Kỳ” (!). Tiếp đến khi hai phái đoàn đàm phán về các điều khoản quân sự kèm theo bản Hiệp định sơ bộ, tướng Xalăng lại từ chối không chịu thảo luận về việc đình chiến ở trong Nam. Xalăng ngoan cố cho rằng “việc đó thuộc quyền hạn của hai chính phủ”.
Trước những sự kiện kể trên, nhiều ký giả Pháp nhận xét: “rõ ràng Việt Minh (phía Việt Nam) có quyền nghi ngờ thái độ của Pháp, vì nếu Pháp từ chối đình chiến ở Nam Kỳ, có nghĩa là họ muốn chiến tranh cứ tiếp diễn ở đó” và một khi cuộc xung đột chưa chấm dứt, tất nhiên “phía Pháp không có lý do gì để trách cứ Hà Nội đã vi phạm hiệp định vì Pháp đã từng tuyên bố rằng Hiệp định sơ bộ chỉ là bản hiệp định cục bộ, có nghĩa là nó không được thi hành ở miền Nam”.
Hành động giở giáo của Đácgiăngliơ, Lơcléc và đồng bọn đã khuyến khích thái độ thù địch của người Pháp ở ngay thủ đô Hà Nội, dân sự cũng như quân sự, kể cả bọn tù binh Pháp ở trong thành vừa được thả ra. Không ít người phương Tây có mặt ở Hà Nội hồi đó đã nhận xét rằng: Nếu trước đây, kiều dân và tù binh Pháp ở thành phố này cũng như trên toàn cõi Đông Dương đã cam chịu cúi đầu trước phát xít Nhật thì khi sau ngày 18 tháng 3 (ngày Lơcléc và quân Pháp được phép vào Hà Nội) “họ cứ tưởng rằng mình đã trở lại là người làm chủ và họ luôn luôn tỏ ra muốn chứng minh cái quyền làm chủ đó”. Còn binh lính Pháp, kể cả bọn mới ở “chính quốc” sang cũng như bọn tù binh mới được thả ra, “đã tỏ ra khó chịu khi thấy buộc phải hợp tác với quân thù”.
Tất cả những việc làm và thái độ trên đây của phía Pháp đã bóc trần tính chất lừa bịp của bản nhật lệnh Lơcléc gửi cho quân đội Pháp ở Đông Dương ngày 22 tháng 3, khi ông ta đặt chân đến Hà Nội. Trong phần cuối của bản nhật lệnh, viên tướng này nói: “Một trang sử mới đã mở. Tương lai thuộc về một sự hợp tác chính trực giữa quân lực Pháp - Việt” (!)
Đácgiăngliơ và đồng bọn hy vọng rằng, với cái gọi là hội nghị trù bị Đà Lạt do họ bày ra, mọi vấn đề “sẽ được san phẳng”, tương lai của mối quan hệ Việt - Pháp sẽ được định đoạt theo ý muốn của họ ngay tại Đông Dương. Và như vậy dư luận tiến bộ Pháp sẽ không còn lý do để “can thiệp” một cánh có hiệu lực vào vấn đề Việt Nam.
Thành phần phái đoàn Pháp trong hội nghị Đà Lạt phản ánh âm mưu xấu xa của Pháp. Trong 6 thành viên do Sài Gòn chỉ định, người ta thấy có mặt những kẻ vốn là thực dân cáo già trên mảnh đất Đông Dương, nay lại là chân tay tin cậy của cao ủy Đácgiăngliơ. Đó là: Tôren (cố vấn pháp lý), Gônông (cố vấn tài chính), Pinhông (cố vấn chính trị), v.v…
Điều đáng chú ý là không những Chính phủ Pháp đồng tình để bọn Pháp ở Sài Gòn bày ra cái trò “hội nghị trù bị Đà Lạt” mà còn vạch đường cho phái đoàn Pháp làm cho hội nghị thất bại nếu không đạt được mục đích chính trị của Pari. Trước ngày hội nghị khai mạc, phái đoàn Pháp nhận được một chỉ thị (đề ngày 14 tháng 4) từ Pari gửi sang, trong đó Chính phủ Pháp nhấn mạnh “sự cần thiết với lợi ích của nước Pháp là lập nên một Liên bang Đông Dương với số hội viên càng nhiều cũng tốt”. Điều đó có nghĩa là Pari ủy thác cho phái đoàn Pháp phải thực hiện bằng được ý đồ chia cắt Việt Nam thành nhiều “xứ” riêng biệt để cho Liên bang Đông Dương ít nhất cũng bao gồm 5 “xứ” như đã nói trong bản tuyên bố ngày 24 tháng 3 năm 1945 của Đờ Gôn. Trong khi đó thì, đối với phái đoàn Việt Nam đấu tranh để thực hiện một nước Việt Nam thống nhất gồm Bắc - Trung - Nam lại là một trong những vấn đề sinh tử.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #31 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2016, 11:59:56 pm » |
|
Để chấp hành chỉ thị 14 tháng 4 của Pari vấn đề đặt ra với phái đoàn Pháp là phải đưa ra những yêu sách đã được tính toán cân nhắc, sao cho những yêu sách đó trở thành không thể chấp nhận được đối với phía Việt Nam. Âm mưu sâu xa của Pháp là làm sao cho hội nghị đi đến chỗ tan vỡ, nhưng sự tan vỡ đó lại được coi là do phái đoàn Việt Nam gây ra, để rồi phía Pháp có lý do kết luận rằng không thể tiến hành bất kỳ một cuộc thương lượng nào với người Việt Nam và như vậy, Pháp buộc phải tiếp tục cuộc chiến tranh mà họ tin rằng họ có thể thắng được dễ dàng (!).
Sự sắp đặt của Pháp tất nhiên không thể đem lại cho hội nghị Đà Lạt triển vọng gì tốt đẹp. Ngay trong phiên họp đầu tiên khi phía Việt Nam nêu vấn đề Nam Bộ thành một trong những nội dung quan trọng phải được thảo luận trước và yêu cầu ghi vào chương trình nghị sự vấn đề “cấp thiết phải tạo ra ở Nam Bộ một bầu không khí thuận lợi cho các cuộc thương thuyết”, thì phía Pháp cho rằng những đề nghị của phía Việt Nam là “quá khích”..., rằng “phái đoàn Pháp không đủ tư cách và quyền hạn” để thảo luận những vấn đề do phía Việt Nam nêu lên. Sự tránh né của phái đoàn Pháp thật ra chỉ là sự thực hiện những điều Pari đã vạch ra trong chỉ thị 14 tháng 4 mà thôi.
Nhiều ký giả Pháp theo dõi hội nghị Đà Lạt ngay từ đầu đã sớm nhận định rằng những ý kiến do phía Pháp nêu lên chỉ là những vòi nước lạnh đối với phái đoàn Việt Nam, đúng như phái đoàn Việt Nam đã lên án. Họ (ký giả Pháp) nhận xét rằng: trong khi người Việt Nam mong muốn một nền độc lập trong khuôn khổ khối Liên hiệp Pháp (mà họ hình dung như khối thịnh vượng chung của Anh - Commonwealth) thì những đại biểu Pháp lại theo đuổi mưu đồ coi Đông Dương như trước năm 1900, một xứ Đông Dương vừa được lôi ra từ tập hồ sơ của quan toàn quyền Pôn Đume và vừa được phủi sạch bụi...
Riêng về mặt quân sự, khi bàn đến vấn đề xây dựng quân đội mà phái đoàn Việt Nam khẳng định là quân đội riêng của nước Việt Nam độc lập và có chủ quyền, với sự cộng tác của sĩ quan Pháp trong việc huấn luyện, thì phía Pháp lại đòi quân đội đó phải được coi là quân đội của khối Liên hiệp Pháp, với những quy tắc không khác gì lính khố xanh, khố đỏ trước năm 1939.
Thật quá nhiều dẫn chứng về lập trường ngang trái và ngoan cố của phái đoàn Pháp, những kẻ cố tình làm cho hội nghị Đà Lạt ngày càng bế tắc và cuối cùng đi đến chỗ hoàn toàn thất bại.
Đi đôi với việc phá hoại trên bàn hội nghị là những hành động vi phạm trắng trợn và có hệ thống diễn ra từ Nam chí Bắc, cả về quân sự và chính trị.
Ngày 18 tháng 4 năm 1946 tướng Valuy (chỉ huy quân Pháp ở miền Bắc) đã gửi cho quân đội thuộc quyền một “chỉ thị về an ninh”, quy định quân Pháp ở mỗi vị trí đóng quân phải có kế hoạch phòng thủ, đồng thời có kế hoạch sẵn sàng đánh chiếm thành phố. Mục đích của kế hoạch tiến công đó nhằm: 1. Cô lập và nhanh chóng đánh chiếm các điểm đề kháng của đối phương; 2. Chiếm các vị trí trọng yếu về chiến thuật trong thành phố, các công trình công cộng; 3. Bảo vệ tính mạng tài sản cho người Pháp. Bản chỉ thị của Valuy còn quy định các viên chỉ huy phải thường xuyên nghiên cứu và bổ sung kế hoạch để sẵn sàng “biến tấn kịch của cuộc hành binh mang tính chất đơn thuần quân sự thành một màn đảo chính”.
Khi âm mưu lấn chiếm trên đây bị báo chí Việt Nam vạch trần trước dư luận Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại vội dùng diễn đàn của Quốc hội Pháp để cải chính rằng bản dịch của chỉ thị đó đã bị cắt xén”. Nhưng nhiều nhà viết sử Pháp đã trích lại đoạn cuối bản chỉ thị của Valuy, kèm theo nhận xét rằng ít nhất người ta cũng thấy bản chỉ thị đó “chứa đựng một mưu đồ rất xấu xa”.
Trong khi đó thì tại Sài Gòn, “đô đốc Đácgiăngliơ cứ tiếp tục đẩy tới lối làm ăn sở trường của ông ta”. Liên tiếp trong các tháng 4 và 5, viên cao ủy Pháp tổ chức ở Nam Bộ những cuộc biểu tình với chủ đề rất thích thú đối với ông ta lúc đó là: “xứ Nam Kỳ của người Nam Kỳ”. Cũng trong thời kỳ này, Đácgiăngliơ còn nặn thêm một “xứ tự trị Cao Nguyên”, lấy Đà Lạt làm “thủ đô”.
Bắt nguồn từ âm mưu thâm độc nhằm chia cắt đất nước ta, những việc đã rồi trên đây của Đácgiăngliơ hoàn toàn phù hợp với tinh thần chỉ thị ngày 14 tháng 4 của Pari làm cho cái gọi là “Liên bang Đông Dương” càng có nhiều “xứ” thành viên càng tốt. Những hành động trắng trợn đó làm cho mối quan hệ Việt - Pháp bị tổn thương nghiêm trọng trước khi bắt đầu cuộc đàm phán chính thức giữa hai bên.
Tất cả những hành động nói trên làm cho chính những người Pháp có ít nhiều thiện chí cũng phải kết luận rằng: Nếu kết quả thực sự và duy nhất của hội nghị Đà Lạt là ở chỗ, bắt đầu từ hội nghị đó, người Việt Nam đã thấy rõ âm mưu của Pháp như thế nào, thì những hành động của Pháp chỉ càng khiến cho những người lãnh đạo Việt Nam thận trọng hơn và khiến cho họ càng thêm nghi ngờ “thiện chí” của Pháp. Mặc dù bề ngoài, ở Bắc Kỳ, tướng Valuy vẫn tiếp tục đóng vở kịch hữu nghị, nhưng đối phương đã khẳng định rằng đó chỉ là những việc làm vô ích, không thể lừa gạt được họ. Và cũng thật là lôgích nếu từ sự nghi ngờ đó, “những người lãnh đạo Việt Nam thấy trước rằng những cuộc đàm phán có chăng cũng chỉ đưa lại kết quả không đáng kể và như vậy, điều cơ bản là phải chuẩn bị một giải pháp nhằm ứng phó khi tình thế thay đổi... Trường hợp mà người ta không đạt được mục đích hòa bình, tất người ta buộc phải chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh...”. Điều đó thật dễ hiểu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #32 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 12:01:46 am » |
|
CHẶNG ĐƯỜNG BÍ ẨN Về phía nhân dân Việt Nam đề cao cảnh giác, xây dựng và phát triển lực lượng về mọi mặt, sẵn sàng đối phó với nguy cơ chiến tranh không có nghĩa là hoàn toàn loại trừ khả năng tranh thủ hòa bình nếu khả năng đó tồn tại, dù rất ít. Thế rồi cái ngày mà cả Pari lẫn Sài Gòn cố tình trì hoãn cũng đã đến. Ngày 31 tháng 5, phái đoàn Việt Nam lên đường sang Pháp để tiến hành cuộc đàm phán chính thức với Chính phủ cộng hòa Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh, thượng khách của Chính phủ Pháp cùng đi với phái đoàn. Nói về cuộc hành trình này, dư luận nhiều người Pháp cho rằng khi ra đi, không phải phái đoàn Việt Nam không biết là có một số ngài thực dân, ở Pháp cũng như ở Đông Dương, không tán thành chủ trương tiến tới một thỏa hiệp mới với phía Việt Nam, “những người được chúng ta bảo hộ trước đây nay lại dám đứng lên chống lại quyền lực của chúng ta” (!). Người ta nghĩ rằng những ngài thực dân đó tuy không nhiều, nhưng trước và trong quá trình cuộc đàm phán, họ vẫn có thể nhân cơ hội nào đó (tất nhiên cơ hội đâu có hiếm nếu họ cố tình tạo ra) để dùng ảnh hưởng của mình thúc ép quân đội Pháp ở Đông Dương - so với đối phương tuy tạm thời không ưu thế về số lượng nhưng có ưu thế về trang bị - dùng hành động quân sự để khôi phục lại tình trạng như trước chiến tranh (statu quo ante bellum), để rồi họ cứ lì lợm bám lấy tình trạng đó hòng gây sức ép với đối phương. Mặc dù có người nước ngoài nào đó đã từng đặt vấn đề như vậy nhưng, với lòng tự tin và thái độ thiện chí, phái đoàn Việt Nam vẫn lên đường sang Pháp đàm phán, để một lần nữa, tỏ rõ với nhân dân Pháp tình hữu nghị sẵn có giữa hai dân tộc Việt - Pháp. Hồi đó, Xanhtơny cũng đã từng tự hỏi: “Liệu nước Pháp có bao giờ đánh giá đúng lòng thành thực của Cụ Hồ Chí Minh, khi Cụ chấp nhận đến một nước vốn là một cường quốc bảo hộ đã từng truy nã Cụ trong gần ba chục năm và đã từng kết án tử hình Cụ?”. Bằng việc chấp nhận sang Pháp đàm phán, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã biểu thị thái độ thiện chí và tình hữu nghị với nhân dân Pháp, đó là điều rõ ràng ai cũng thừa nhận. Người ta chờ đợi thái độ của phía Chính phủ Pháp. Vậy mà ngay trong những ngày phái đoàn Việt Nam đang trên đường đi đàm phán, bọn phản động Pháp ở Pari cũng như ở Sài gòn không những không giảm bớt mà càng xúc tiến gấp những hành động trắng trợn hòng phá hoại cuộc hội đàm chính thức sắp diễn ra. Một ngày sau khi phái đoàn Việt Nam rời Hà Nội, máy bay đang bay trên bầu trời Trung Đông, thì có tin Đácgiăngliơ cho ra đời cái gọi là “chính phủ cộng hòa Nam Kỳ tự trị”. Đây là một hành động được tính toán từ trước và được đưa ra đúng vào lúc viên cao ủy cho là thích hợp, nhằm chống lại bất kỳ một quyết nghị nào về vấn đề Nam Kỳ trong cuộc đàm phán sắp tới. Chỉ mấy ngày sau đó báo chí Sài Gòn đưa tin: cái “chính phủ tự trị” do Đácgiăngliơ nặn ra đã cùng đại diện Pháp ký một bản “hiệp định”, trong đó “chính phủ Nam Kỳ cam kết bảo vệ không một chút hạn chế bất kỳ quyền lợi nào của Pháp” (!). Điều đáng nói nữa là Xanhtơny, người tự nhận là hiểu biết nhiều về đất nước và con người Việt Nam, khi đề cập tới vấn đề này trong hai cuốn sách của mình 1, đã tỏ ra đồng tình với hành động của Đácgiăngliơ. Xanhtơny mất khá nhiều lời để lập luận về “sự khác biệt” giữa Bắc Kỳ và Trung Kỳ (vốn được pháp coi là hai “xứ bảo hộ”) với Nam Kỳ (vốn được Pháp coi là “xứ thuộc địa” của chúng), để rồi biện hộ cho hành động chia cắt của viên cao ủy. Xanhtơny cho rằng “quyết định này (tức việc lập chính quyền tay sai ở Nam Kỳ) phù hợp với nguyện vọng một bộ phận quan trọng (?) của dân chúng Sài Gòn... Một bộ phận nhân dân miền Nam vừa muốn giữ cách sống riêng, lại vừa nghi kỵ Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Điều đó đã khiến cho Đácgiăngliơ muốn bảo đảm cho Nam Kỳ một số phận đặc biệt (?)... Quyết định đó chỉ là một giai đoạn quá độ (?), v.v và v.v.” --------------------- 1. Sainteny, Histoire d’ une paix manquée (Lịch sử một nền hòa bình bị bỏ lỡ) và Au Việt Nam - Face à Hồ Chí Minh (Tại Việt Nam - Đối mặt với Hồ Chí Minh). Điều đáng nhấn mạnh ở đây là những cuốn sách này được xuất bản hoặc tái bản vào những năm 1954, 1957 và nhất là 1970.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #33 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 12:03:47 am » |
|
Tất nhiên, khi nghe tin về sự ra đời của cái quái thai chính phủ cộng hòa Nam Kỳ tự trị Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Nam đã cực lực phản đối hành động phá hoại của phía Pháp, vì đó là một “việc đã rồi” không thể chấp nhận được “cũng như nhân dân Pháp không thể nào chấp nhận việc chia cắt Andát - Loren (Alsace - Lorraine)1 ra khỏi nước Pháp.
Khi nghe tin trên, có ký giả đặt vấn đề: Vì sao Pháp lại đặc biệt quan tâm “vấn đề Nam Kỳ” như vậy?
Trên tờ tuần báo Hành động (Action), số ra ngày 4 tháng 7 năm 1946, ký giả Clôđơ (Henri Claude) đã vạch ra rằng: “Chính vì Nam Kỳ có tầm quan trọng đặc biệt đối với nước Việt Nam... Chiếm đóng Nam Kỳ tức là nắm yết hầu của Việt Nam. Qua đó, người ta thấy mọi sức ép mà Chính phủ Pháp vận dụng đều nhằm theo đuổi chính sách đế quốc chủ nghĩa của họ trong vùng này... Hơn nữa, người ta cần thấy là đường lối chính trị của Pháp (chia cắt Nam Kỳ ra khỏi Việt Nam) gắn liền với quyền lợi của các công ty cao su (của pháp ở Đông dương, trước hết là ở Nam Kỳ). Thật vậy, trong tổng số 23 công ty, với tổng diện tích 139.000 hécta cao su trên toàn cõi Đông Dương, riêng Nam Kỳ đã chiếm 111.600 hécta thuộc 18 công ty cao su Pháp. Năm 1938, nếu tổng sản lượng cao su trên toàn cõi Đông Dương là 58.000 tấn thì riêng các công ty cao su ở Nam Kỳ đã đạt tới 44.600 tấn...”
Chẳng thế mà chỉ mươi ngày sau khi thực dân Pháp ở Sài Gòn cho ra đời cái “chính phủ Nam Kỳ tự trị”, tờ Tạp chí Kinh tế - tài chính (Agence Economique et financière) của bọn tài phiệt Pháp số ra ngày 13 tháng 6 năm 1946 đã vội lên tiếng tán thưởng: “Sự công nhận nước Cộng hòa Nam Kỳ, một quyết định góp phần vào việc duy trì ảnh hưởng chính trị và kinh tế của Pháp ở Đông Dương, đã mở ra tương lai rộng lớn cho các công ty cao su”.
Thật ra, lòng tham của thực dân Pháp không phải chỉ dừng lại ở đường lối chính trị cao su (theo đúng nghĩa đen của nó) như có người đã nói. Những hành động vi phạm liên tiếp của Pháp ở Đông Dương trong thời kỳ ấy nói lên âm mưu của chúng đã vượt rất xa ra ngoài giới hạn của các đồn điền cao su Nam Bộ. Vài ví dụ: Việc bộ tham mưu Pháp ở Sài Gòn lập kế hoạch lấn chiếm nhiều địa bàn chiến lược ở Bắc Bộ; việc Lơcléc đưa cơ giới lên đánh chiếm Plây Cu - Công Tum (21-6); việc Sài Gòn ra lệnh cho quân đội Pháp ở Hà Nội (nhân khi bộ tham mưu của Lư Hán rút) nhanh chóng chiếm lại phủ toàn quyền cũ (25-6) nơi Pháp coi là “tượng trưng cho chủ quyền của Pháp ở Đông Dương”, v.v… Rõ ràng, quá trình từ khi Hiệp định sơ bộ được ký kết đến khi cuộc đàm phán chính thức được tiến hành, cũng là quá trình mà các giới thực dân Pháp ở Sài Gòn, những kẻ luyến tiếc một xứ Đông Dương béo bở, không những không bị cản trở mà còn được Pari khuyến khích để từng bước thi hành chính sách những việc đã rồi. Cuộc khủng hoảng nội các Pháp mùa hè 1946 không những không ảnh hưởng đến hành động vi phạm của họ, mà trái lại họ đã lợi dụng cuộc khủng hoảng đó để đẩy tới kế hoạch thâm độc đã tính toán từ trước.
Ngày 19 tháng 6, nội các mới (nội các thứ ba trong vòng hai năm) được thành lập, với Biđôn làm thủ tướng kiêm ngoại trưởng, Misơlê (Edmont Michelet) Bộ trưởng Quân lực, Mutê (Marius Moutet) Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại, khiến so sánh lực lượng chính trị đã ngả về phe hữu, một phe hữu được trói chặt vào xe tăng Mỹ để từng bước đưa nước Pháp lao sâu vào một cuộc chiến tranh.
Dư luận tiến bộ Pháp phán đoán rằng, nhìn vào nội tình chính trị nước Pháp và mồi quan hệ Việt - Pháp đang có chiều hướng ngày càng xấu đi trước khi cuộc đàm phán chính thức bắt đầu, cuộc thương thuyết mà Chính phủ dự định tiến hành với Cụ Hồ Chí Minh đã trở nên vô ích vì Pháp đã đơn phương giải quyết số phận của Nam Kỳ ngược hẳn với Hiệp định 6 tháng 3... Hành động của phía Pháp một lần nữa chứng tỏ rằng Chính phủ Pari không tôn trọng những điều cam kết của họ... Hiệp định 6 tháng 3 chỉ là một sự lừa gạt...
--------------------- 1. Vùng đất mà Đức chiếm của Pháp từ năm 1871, đến năm 1918 mới trả lại cho Pháp.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #34 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 12:04:15 am » |
|
Một điều khiến dư luận chú ý là những hành động phá hoại không phải chỉ do bàn tay bọn Pháp ở Đông Dương và chỉ xảy ra ở Đông Dương. Trái lại, người ta thấy rõ sự phối hợp chặt chẽ giữa Đácgiăngliơ ở Sài Gòn và đồng bọn ở Pari, nhất là trong tháng 6. Trước hết, phải nói đến hành động thâm hiểm của Chính phủ Pháp âm mưu kéo dài cuộc hành trình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Nam trên đường sang Pháp.
Có ký giả theo dõi chuyến đi đã dựng lại chặng đường từ Trung Đông đến nước Pháp mà họ gọi là “chặng đường bí ẩn”. Họ không thể giải thích nổi vì sao mất đến 12 ngày (từ 1 đến 12 tháng 6) để bay từ thủ đô Xyri đến Biarít, một thị trấn ở bờ biển miền tây nam nước Pháp. Người ta khẳng định rằng, phái đoàn Việt Nam muốn đến Pari càng sớm càng tốt, vậy thì sự chậm trễ này tất nhiên không phải do phía Việt Nam gây nên. Sau khi tìm hiểu ngọn ngành qua những nguồn tài liệu riêng, ký giả này đã rút ra kết luận là chính cấp chóp bu trong giới cầm quyền Pháp đã đạo diễn bọn tay chân dựng lên màn kịch “chặng đường bí ẩn” này. Người ta còn biết thêm rằng sở dĩ đài phát thanh và báo chí Pháp không hề nói đến chuyến đi kéo dài đó bởi vì hoặc họ bị ngăn cấm, hoặc những bí mật trong hậu trường của màn kịch được bưng bít và ngụy trang khéo léo.
Sau gần mười ngày dừng chân ở vùng bờ biển xứ Baxcơ để chờ đợi nước Pháp có chính phủ mới, ngày 22 tháng 6, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Biarít đi Pari.
16 giờ hôm đó, máy bay bay trên bầu trời Pari. Sân bay Buốcgiê đông nghịt người ra đón vị thượng khách của nước Pháp. Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Mutê, thay mặt Chính phủ pháp, cùng nhiều nhân vật quân sự và dân sự cao cấp có mặt ở sân bay. Cờ đỏ sao vàng tung bay bên cạnh cờ Pháp.
Trước cảnh đón tiếp trọng thể dành cho một vị nguyên thủ quốc gia, Xanhtơny (người được Chính phủ Pháp cử đi cùng với tướng Xalăng đón Chủ tịch Hồ Chí Minh), sau này nói lại suy nghĩ của mình. Theo ông ta: Sau hơn 30 năm ròng tận lực đấu tranh không mệt mỏi chống lại cường quyền mà một nước đã áp đặt lên Tổ quốc của Cụ, giờ đây trở lại thủ đô của chính nước đó với cương vị một nguyên thủ quốc gia, được đón tiếp chính thức với nghi lễ trang nghiêm nhất, điều đó đòi hỏi ở Cụ một sự tinh tế và khéo léo khác thường. Thế nhưng, với một tác phong giản dị và chủ động đặc biệt, Cụ đã hoàn toàn tự chủ, không bận tâm đến cái vỏ bề ngoài của một cuộc đón tiếp đầy đủ nghi thức ngoại giao.
Ngay từ phút đầu tiên đặt chân trở lại Pari, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gây được ấn tượng sâu sắc và tình cảm tốt đẹp với mọi người. Theo tờ Chiến đấu (Combat) cũng như nhiều tờ báo khác ở Pari, nhân dân Pháp đã tìm thấy ở Chủ tịch Hồ Chí Minh “một người mảnh khảnh, thông minh, nhã nhặn và rất được cảm tình của mọi người... Cụ mặc bộ quần áo bằng dạ thô, rất đỗi giản dị, chẳng hề đính một phù hiệu hay một huy chương...”.
Sau một tuần lễ vật lộn với những rối ren nội bộ nước Pháp, những rối ren đã dẫn đến cuộc khủng hoảng nội các kéo dài hàng tháng, ngày 2 tháng 7, mấy ngày trước khi cuộc đàm phán bắt đầu, Thủ tướng Pháp Biđôn chính thức tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những người theo dõi cuộc gặp gỡ này đã nhận xét rằng: “Cũng giống như trong một số cuộc đón tiếp khác, người ta đọc những bài diễn văn với những nội dung hoàn toàn trái ngược nhau như nước với lửa... Biđôn trổ tài riêng bằng cách nói lên những chuyện vu vơ nhưng đầy dụng ý ám chỉ thế này thế khác, còn Cụ Hồ thì trả lời thẳng vào những điều ám chỉ đó một cách rất bình tĩnh nhưng lại rất đúng chỗ...”.
Nếu người cầm đầu Chính phủ Pháp là Thủ tướng Biđôn tỏ ra không vội vã trong việc tiếp xúc với phái đoàn Việt Nam thì lại “có những kẻ hấp tấp đi trước trong việc này. Đó là các ngài cầm đầu Ngân hàng Đông Dương”.
Đọc lại văn bản về cuộc gặp gỡ ngày 24 tháng 6 giữa đại diện các nhóm tài phiệt Pháp ở Đông Dương với Chủ tịch Hồ Chí Minh, người ta không khỏi nhận xét rằng các ông chủ BIC (ngân hàng Đông Dương) “cố tình tránh né vấn đề ba kỳ”. Điều đó đối với họ không quan trọng lắm. Điều mà họ đặc biệt quan tâm là chuyện cho vay lãi, chuyện đầu tư, chuyện mở thêm các chi nhánh ngân hàng” (ở Đông Dương).
Nhìn vào bối cảnh nước Pháp mùa hè năm 1946 và qua một số cuộc tiếp xúc đầu tiên ở Pari giữa hai bên Việt - Pháp, người ta không khỏi nghĩ rằng những người cầm đầu nước Pháp đã rắp tâm làm cho mối quan hệ Việt - Pháp phát triển theo chiều ngày càng xấu đi. Tình hình đó rõ ràng không thể tạo cho cuộc đàm phán chính thức sắp diễn ra ở Phôngtennơblô một triển vọng tốt đẹp.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #35 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 12:05:58 am » |
|
ĐÀM PHÁN ĐỂ PHÁ HOẠI ĐÀM PHÁN Mặc dù phía Pháp tìm trăm phương nghìn kế để trì hoãn cuộc đàm phán, nhưng trước sức mạnh đấu tranh đầy thiện chí của phía Việt Nam được dư luận Pháp ủng hộ, họ buộc phải cùng phái đoàn Việt Nam định ngày khai mạc hội nghị Phôngtennơblô. Và phương châm phá hoại hội nghị Đà Lạt trước đây lại được họ vận dụng trong điều kiện mới. Trước ngày hội nghị khai mạc, Thủ tướng Pháp Biđôn đã chỉ thị cho phái đoàn Pháp phải làm sao bảo đảm được là về phương diện ngoại giao, nước Việt Nam không trở thành một đồng minh của Liên Xô. Một vấn đề khác đáng chú ý là thành phần phái đoàn Pháp. Điểm mặt, người ta thấy vẫn lại Mắc Ăngđrê làm trưởng đoàn, còn phần lớn đoàn viên vẫn là những nhân vật đã có “thành tích” trong việc phá hoại hội nghị trù bị ở Đà Lạt ba tháng trước, kể cả “nhóm Sài Gòn” cũng như những thành viên được gọi là “nhóm Pari” 1. Về thành viên quân sự, người ta vẫn thấy tướng Xalăng, nhưng có điều viên tướng này đã từng bị nghi ngờ là “có khuynh hướng tư tưởng tự do” (!) theo kiểu Lơcléc, nên trong cuộc đàm phán chính thức này, Chính phủ Pháp đã “cài” viên đô đốc Bácgiô (Barjot) để kèm và giám sát Xalăng. Người ta biết rằng Bácgiô là “đại diện riêng và giấu mặt” của cựu Tổng thống Pháp Đờ Gôn. Điểm mặt những thành viên trong phái đoàn Pháp, cả tướng lĩnh và chính khách, người ta thấy phần lớn gồm những nhân vật đại diện trung thành cho bọn tài phiệt có nhiều quyền lợi ở Đông Dương, đã từng đối mặt với ta ở Đà Lạt ba tháng trước. Qua thành phần đó, rõ ràng cuộc đàm phán chính thức sắp diễn ra có rất ít triển vọng đưa đến kết quả tốt đẹp hơn cuộc hội nghị trù bị. Về phái đoàn Việt Nam, hồi đó có một số tờ báo thuộc cánh hữu ở Pari đã từng đăng những bài xuyên tạc hòng gây ấn tượng xấu trong dư luận Pháp. Nhưng ngay từ đầu, những người Pháp chân chính đã sớm thấy ở phía Việt Nam “một phái đoàn trẻ, tuổi từ 30 đến 43, đại biểu cho nhiều tầng lớp xã hội và đảng phái chính trị trong cả nước Việt Nam”. Đó là một phái đoàn đại biểu cho tiếng nói của toàn dân, do những người cộng sản lãnh đạo. Một ngày trước khi hội nghị Phôngtennơblô khai mạc, phái đoàn Pháp họp riêng. Sau khi nghe phổ biến chỉ thị của Thủ tướng Biđôn và biết âm mưu của phái đoàn Pháp rắp tâm phá hoại cuộc đàm phán theo chỉ thị đó, giáo sư Rivê (Paul Rivet) - một thành viên trong phái đoàn Pháp - đã tuyên bố tẩy chay không tham gia hội đàm. Ngay hôm đó, trong bức thư gửi Bộ trưởng Mutê, giáo sư vạch thẳng ra rằng: “Tôi cự tuyệt không tham gia các cuộc thảo luận ở Phôngtennơblô vì tôi không muốn biến mình thành một kẻ bị lừa gạt một kẻ đồng lõa...”. Theo giáo sư, qua kế hoạch được phổ biến, phía Pháp không thể hiện một chút tinh thần xây dựng nào, trong khi đó thì ngay từ những cuộc tiếp xúc đầu tiên trước khi hội nghị khai mạc, phía Việt Nam đã tỏ thiện chí muốn cuộc thương thuyết đi đến kết quả. 10 giờ 40 ngày 6 tháng 7 năm 1946, cuộc đàm phán chính thức giữa hai phái đoàn Việt - Pháp bắt đầu tại lâu đài Phôngtennơblô. Đáp lại “lời chào mừng khách sáo chung chung và mơ hồ” của Mắc Ăngđrê, đồng chí Phạm Văn Đồng, trưởng phái đoàn Việt Nam đã đi thẳng vào những vấn đề thiết thực cần được giải quyết. Báo chí Pari thuật lại rằng: Sau khi lược lại quá trình đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong suốt ba phần tư thế kỷ để đi đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, ông Phạm Văn Đồng đã kịch liệt lên án thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, lên án mọi hành động của chúng vi phạm Hiệp định 6 tháng 3, trước hết là việc chúng không những không thực hiện ngừng bắn ở miền Nam mà còn tiếp tục dùng quân đội lấn chiếm trái phép nhiều vùng ở miền Bắc và từng bước thực hiện âm mưu chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam... Ông đã chỉ rõ, những hành động ấy chỉ nhằm đặt hội nghị Phôngtennơblô trước những việc đã rồi và không hề góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc thương lượng và sự hợp tác lâu dài vì lợi ích chung của hai nước. Phía Việt Nam muốn thành thật hợp tác với Pháp, nhưng sự hợp tác đó chỉ có thể được thực hiện khi địa vị của nước Việt Nam được xác lập trên nền tảng tự do và bình đẳng với nước Pháp. --------------------- 1. Tác giả nhấn mạnh cụm từ “được gọi là” vì có những người thực tế không thể liệt vào “nhóm Pari”; chẳng hạn Métxme hồi tháng 8 năm 1945 đã từng lén lút nhảy dù xuống Bắc Bộ. Sau khi bị bắt và trốn thoát, y vào hoạt động ở Sài Gòn, đã cùng viên đại tá Xêđin gây nhiều tội ác ở miền Nam cuối năm 1945.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #36 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 12:06:59 am » |
|
Ngay trong những phiên họp đầu tiên, quan điểm của hai bên đã tỏ ra rất khác biệt nhau, trước hết là trên vấn đề thứ nhất của chương trình nghị sự: Địa vị của nước Việt Nam trong Khối Liên hiệp Pháp và quan hệ giữa nước Việt Nam với các nước khác.
Theo các ký giả thường xuyên bám sát các phiên họp thì, đối với người Việt Nam, Khối Liên hiệp Pháp được hình dung như khối thịnh vượng chung của Anh, còn đối với Pháp thì đó là một đế quốc thuộc địa như hồi trước chiến tranh và đã được cắt bớt từ ngữ “thuộc địa” đi, không hơn không kém. Nhìn xa hơn nữa, người ta thấy thậm chí Chính phủ Pháp còn định áp đặt những điều quy định hà khắc hơn cả những điều đã được ghi trong đạo luật thuộc địa năm 1926...”.
Thế rồi cuộc đàm phán cứ tiếp diễn, các cuộc tranh luận kéo dài ngày này qua ngày khác “như một cuộc tuần du”, từ cuộc họp toàn thể đến cuộc họp tiểu ban, nhưng thật ra hội nghị vẫn giậm chân tại chỗ. Và dần dần người ta thấy trong phái đoàn Pháp xuất hiện cái có thể gọi là “chủ nghĩa vắng mặt”. Một ví dụ: trong phiên họp toàn thể ngày 16 tháng 7, có tới trong số 13 đại biểu Pháp không đến dự.
Giữa lúc hội nghị đang đứng trước ngõ cụt thì ngày 25 tháng 7 có tin cao ủy Đácgiăngliơ tuyên bố tại Sài Gòn rằng ông ta sẽ triệu tập (vào ngày 1 tháng 8 ) một “hội nghị Liên bang” tại Đà Lạt để thảo luận những vấn đề về cái gọi là “Liên bang Đông Dương”. Thành phần của “hội nghị” đó gồm “các đại biểu Lào, Cao Miên, Nam Kỳ và các quan sát viên Nam Trung Kỳ cùng các bộ lạc Mọi” (!). Về hành động quái gở ấy của Đácgiăngliơ, sau này Anbe Xarô nhận xét rằng đó là một “sáng kiến lỗi thời và trái khoáy”, nó đã bồi thêm cho phái đoàn Pháp những tai họa bất ngờ... Với “sáng kiến” đó, hình như người Pháp ở Sài Gòn tự cho mình cái quyền quyết định trước vấn đề tự trị của Nam Kỳ mà không hề quan tâm gì đến những nghị quyết có thể có ở Phôngtennơblô. Theo Xarô, chính Bộ trưởng Mutê cũng phải thừa nhận rằng dù cuộc hội nghị ở Đà Lạt có hợp lý (?) đến đâu chăng nữa người ta vẫn có thể đợi cho cuộc đàm phán ở Phôngtennơblô kết thúc đã. Nhiều tờ báo Pháp nhận xét rằng Đácgiăngliơ đã chơi một trò quá mạo hiểm. Ông ta không hiểu là trò chơi đó “sẽ dẫn đến một cuộc xung đột với cả một dân tộc”.
Trong phiên họp ngày 26 tháng 7, phái đoàn Việt Nam đã giao cho phía Pháp một bản tuyên bố, kịch liệt lên án việc Pháp triệu tập “hội nghị Liên bang Đông Dương”. Nhưng mãi đến phiên họp ngày 1 tháng 8, phía Pháp vẫn không chịu trả lời phản kháng của phái đoàn ta. Do đó, cuộc đàm phán đình chỉ trong suốt tháng 8.
Do thiện chí và hoạt động tích cực của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 3 tháng 9 hội nghị lại tiếp tục bằng một phiên họp hẹp. Trong phiên họp này, phía Pháp1 chỉ khăng khăng đòi thảo luận về các quyền lợi của Pháp ở Việt Nam. Do phía Việt Nam đi trước một bước trong việc nhân nhượng, nên một ban dự thảo tạm ước về các vấn đề trên đã được phác ra (và hoàn chỉnh vào ngày 10 tháng 9). Nhưng sau đó trong phiên họp ngày 7 tháng 9 khi phái đoàn Việt Nam đòi phía Pháp cũng phải có một cố gắng tương tự để thảo luận và đi đến thống nhất về nền độc lập của Việt Nam; việc trưng cầu ý dân về vấn đề Nam Bộ thì Mắc Ăngđrê, đến lượt chủ tọa phiên họp hôm đó, đã tỏ ra ngạc nhiên về những yêu cầu của phái đoàn Việt Nam và lập tức tuyên bố giải tán phiên họp.
Do thái độ ngoan cố của phía Pháp, từ ngày 8 tháng 9 cuộc đàm phán bị tan vỡ và không bao giờ tiếp diễn nữa.
Ngày 13 tháng 9, phái đoàn Việt Nam rời Pari lên đường về nước.
Phân tích nguyên nhân thất bại của hội nghị Phôngtennơblô, nếu chúng ta không thể đồng ý với Xanhtơny khi ông ta cho rằng sai lầm của phía Pháp là đã không cử một nhân vật chính trị “cỡ chóp bu”, thì chúng ta lại có thể nhất trí với ông ta rằng điều chủ yếu là phía Pháp đã lộ chân tướng về những tham vọng chính trị của họ một cách trắng trợn trong cuộc hội đàm này.
Tham vọng chính trị đó phản ánh những quan điểm cực kỳ phản động mà người ta thường nghe thấy ở Pari trong thời kỳ cuộc hội đàm đang diễn ra. Trong khi tại bàn hội nghị, phái đoàn Pháp luôn luôn khẳng định: “Có một thực tế: Nam Kỳ là lãnh thổ của Pháp” (?!) thì ở bên ngoài, từ cựu Tổng thống Đờ Gôn đến Chủ tịch Quốc hội Heriô (Herriot). từ Thủ tướng Biđôn đến chủ tịch cái gọi là Hội Liên hiệp quốc gia vì Đông Pháp (tức Varen, nguyên toàn quyền Đông dương), cũng đều nói lên những lời lẽ ngang ngược và lạc lõng như thế. Theo tờ Rạng đông (Aurore) số ra ngày 6 tháng 8 năm 1946, Varen trắng trợn đặt vấn đề: “Vì sao người Việt Nam đã từng được Pháp kéo ra khỏi cảnh dốt nát và thân phận tôi tớ mà nay lại dám đứng lên để kết án người Pháp?”.
(Thế chưa đủ. Điều lạ lùng hơn nữa là tám năm sau, tức là khi mà số phận của đế quốc Pháp trên bán đảo Đông Dương sắp kết thúc trong một bài báo đăng trên tờ Tự do (Liberté) xuất bản ở Campuchia, số ra ngày 3 tháng 2 năm 1954, Mắc Ăngđrê vẫn hết lời ca tụng Biđôn là “con người rất xứng đáng với niềm vinh dự vì... sự sáng suốt của ông ta (qua chỉ thị cho phái đoàn Pháp ở Phôngtennơblô) đã tránh cho cả thế giới tự do một thảm họa: thành trì Đông Dương và cả vùng Đông Nam Á mà thế giới tự do phải bảo hộ đã không rơi vào tay chính quyền cộng sản Mátxcơva”).
--------------------- 1. Chỉ có mặt Pinhông, Tôren, Gônông, những kẻ đại diện cho lập trường phản động của Đácgiăngliơ, những kẻ đã từng lũng đoạn hội nghị Đà Lạt trước đây.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Một, 2016, 12:16:59 am gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #37 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 12:08:43 am » |
|
Thực tế lịch sử đã chứng minh hậu quả những luận điệu lỗi thời đến mức quái gở trên đây của tập đoàn phản động. Nếu đường lối chính trị thực dân “trói chặt vào xe tăng Mỹ” của những kẻ cầm đầu “Nước Pháp Mới” đã là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự tan vỡ của cuộc đàm phán ở Phôngtennơblô, thì chính đường lối đó cũng là nguồn gốc sâu xa dẫn đến thất bại thảm hại của Pháp trên chiến trường Đông Dương sau này.
Cuộc đàm phán ở Phôngtennơblô tan vỡ. Dư luận Pháp xôn xao nói đến một cuộc chiến tranh sắp có thể nổ ra. Nhưng, như nhận xét của Xanhtơny, “phải chăng đã có một sự may mắn là nhờ có thời gian Cụ Hồ Chí Minh lưu lại thêm ở Pháp mà đã tránh được một cuộc nổ súng?”.
Nghiên cứu lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, thực dân Pháp thừa hiểu rằng những người mà chúng quen gọi là “dân nhà quê của cái xứ An Nam” tuyệt đối không sợ một cuộc chiến tranh chống xâm lược vì lợi ích sống còn của mình. Chính trong những ngày ở trên đất Pari này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói thẳng với phía Pháp rằng nếu họ buộc nhân dân Việt Nam phải chiến đấu để tự vệ thì nhân dân Việt Nam sẵn sàng, nếu một lính Pháp có thể giết được mười người dân Việt Nam thì mười người dân Việt Nam cũng có thể giết được một lính Pháp và cuối cùng chính Pháp sẽ là những kẻ thoái chí và thua cuộc.
Ngay hôm hội nghị Phôngtennơblô ngừng họp, phóng viên Pháp và phương Tây muốn thăm dò thái độ của phía Việt Nam nên họ xin phỏng vấn chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhà báo Mỹ Sơnbrăn (David Schoenbrun) đã ghi lại ý kiến của Người trả lời ông ta trong cuộc phỏng vấn ngày 11 tháng 9 năm 1946.
Theo ký giả này Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng nhân tố mạnh nhất là tinh thần dân tộc. Dù là cộng sản, công giáo, nông dân, công nhân, toàn dân Việt Nam đều nhất trí về mục tiêu độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Nếu cần, toàn dân sẽ cùng nhau chiến đấu cho mục đích đó... Người Pháp đã ký một bản hiệp định (6 tháng 3). Nhưng đối với họ hiệp định ấy chỉ là một sự giả dối. Trên thực tế, nhân dân Việt Nam không có những quyền độc lập thực sự về kiểm soát thuế quan, về ngoại giao, về tài chính. Đất nước Việt Nam bị chia cắt. Người Pháp còn thiết lập chế độ bù nhìn, phân liệt ở miền Nam... Thật vậy, e rằng nhân dân Việt Nam cuối cùng sẽ buộc phải chiến đấu.
Nhà báo Mỹ này ngạc nhiên hỏi: làm thế nào Việt Nam có thể duy trì được cuộc chiến tranh chống lại người Pháp khi mà Việt Nam không đủ vũ khí nhất là vũ khí tối tân? Cuộc chiến tranh như vậy phải chăng là vô vọng? Câu trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Sơnbrăn nhắc lại như sau: Không, nó không phải là không có hy vọng. Nó sẽ gian khổ, ác liệt, nhưng nhân dân Việt Nam sẽ thắng trong cuộc chiến tranh đó. Bởi vì Việt Nam có một thứ vũ khí cũng mạnh như loại pháo hiện đại nhất, đó là tinh thần dân tộc. Người ta không thể đánh giá thấp điều đó, đừng nên quên chủ nghĩa anh hùng của quân du kích Nam Tư chiến đấu chống lại quân Đức. Hơn nữa, Việt Nam còn có những vũ khí khác cũng hiệu nghiệm như cơ giới: Việt Nam có đầm lầy còn lợi hại hơn pháo chống tăng, có rừng rậm khiến máy bay không thể nhìn thấu được... Việt Nam có núi, có hang, nơi mà một người có thể chiến đấu chống lại trăm người... Việt Nam có hàng triệu túp lều tranh như những con ngựa thành Tơroa (Troie) phục sẵn ở phía sau đội quân xâm lược... Đây sẽ là một cuộc chiến tranh giữa một con hổ và một con voi. Nếu con hổ dừng lại, nó sẽ bị con voi dùng ngà đâm chết ngay. Có điều là con hổ không bao giờ dừng lại. Ban ngày nó sẽ lẻn vào rừng và chỉ ban đêm mới mò ra. Nó lao vào và xé từng mảng thịt lớn trên lưng voi, rồi nó lại lẻn vào rừng. Và cứ như thế, dần dần voi sẽ chết vì mất máu và kiệt sức. Cuộc chiến tranh Đông Dương sẽ như thế đó...
Thể hiện ý chí yêu chuộng hòa bình của nhân dân Việt Nam, thể hiện quyết tâm kiên trì đấu tranh để ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ chiến tranh lan rộng, đồng thời cũng nhằm giành thêm thời gian cần thiết để chuẩn bị lực lượng sẵn sàng đối phó nếu phía Pháp cố tình làm nổ ra chiến tranh toàn cục, ngày 14 tháng 9 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với phía Pháp một bản Tạm ước. Qua Tạm ước đó, một số điểm về quyền lợi của Pháp ở Việt Nam đã được cụ thể hóa, các Ủy ban hỗn hợp Việt - Pháp sẽ được thành lập để giải quyết những vấn đề còn lại. Riêng đối với Nam Bộ, phía Pháp vẫn từ chối việc tổ chức trưng cầu ý dân. Họ chỉ cam kết thực hiện việc đó “khi tình hình đã ổn định”. Để tạo điều kiện tiến tới ổn định tình hình, Pháp buộc phải chấp nhận thực hiện việc ngừng bắn. Theo dư luận báo chí Pháp hồi đó thì “đây là nội dung có tính chất xây dựng nhất của bản Tạm ước”. Việc ngừng bắn cũng như các điều khoản khác có hiệu lực từ ngày 30 tháng 10 năm 1946. Hai bên thống nhất sẽ tiếp tục cuộc đàm phán vào tháng 1 năm 1947.
Về bước nhân nhượng mới đó của Việt Nam, chính Xanhtơny sau này cũng phải nhận xét rằng bản Tạm ước 14 tháng 9 “còn quá xa so với điều mong ước của Cụ Hồ trong chuyến đi sang Pháp”.
Nhưng do mù quáng vì quyền lợi thực dân, do chưa đánh giá nổi thế nào là sức mạnh của dân tộc ta, giới cầm quyền Pháp một lần nữa lại tính sai nước cờ. Và chỉ khoảng mười năm sau, Đờ Gôn (đại diện cho phe chủ chiến hồi đó) mới “lấy làm tiếc” rằng khi ông ta thấy được vấn đề thì đã muộn, quá muộn.
--------------------- 1. Chỉ có mặt Pinhông, Tôren, Gônông, những kẻ đại diện cho lập trường phản động của Đácgiăngliơ, những kẻ đã từng lũng đoạn hội nghị Đà Lạt trước đây.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #38 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 12:43:47 am » |
|
Chương ba NÉM LỬA VÀO KHO THUỐC SÚNG CHƯA THỂ ĐÁNH NGAY Ngày18 tháng 9 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Pari và hôm sau, từ cảng Tulông, Người xuống tàu về nước. Đúng một tháng sau, tại vùng biển vịnh Cam Ranh, trên chiếc tàu tuần dương Xuyphren, Người đã hội đàm với cao ủy Pháp Đácgiăngliơ. 16 giờ ngày 18 tháng 10, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục cuộc hành trình ra Bắc. Ngay khi đó, báo chí chưa biết những vấn đề gì đã được đề cập trong cuộc gặp gỡ ngắn ngủi này. Chỉ biết rằng trong bức điện đề ngày 19 tháng 10 gửi Tổng thống Pháp và tướng Gioăng, cao ủy Đácgiăngliơ đã lưu ý Pari rằng lúc này “thế và lực của Chính phủ Hà Nội ngày càng tăng”, trong khi đó thì người Pháp ở Đông Dương “đang trải qua một cơn khủng hoảng”. Xuất phát từ nhận định (với ý đồ gây sức ép với Pari) rằng “Việt Minh sẽ dùng hành động bạo lực, đó là điều không thể tránh khỏi”, Đácgiăngliơ yêu cầu Chính phủ Pháp cần chấp thuận các phương sách đối phó gấp. Theo viên cao ủy, phía Pháp cần đánh trước, không những chỉ ở Hà Nội mà cả ở miền Trung. Muốn vậy, viên cao ủy xin được tăng viện một sư đoàn 10.000 người. Số quân đó cần có mặt ở Đông Dương vào tháng 3 năm sau (1947) để bổ sung cho đủ số 75.000 quân đã được Chính phủ Pháp chấp thuận trước đây. Bức điện của Đácgiăngliơ “đã làm cho Pari ngạc nhiên” vì, dù có tán thành quan điểm của viên cao ủy, trước mắt Chính phủ Pháp vét túi sao cho đủ mười nghìn quân để ném sang Đông Dương? Có một chi tiết quan trọng liên quan đến bức điện của Đácgiăngliơ mà sau đó viên cao ủy mới tiết lộ là, trong cuộc hội đàm trên tàu Xuyphren, chính Đácgiăngliơ đã láo xược đòi phía Việt Nam phải “giải giáp và hồi hương (!) quân đội miền Bắc có mặt ở Nam Bộ”. Nhưng Đácgiăngliơ đã vấp phải lời phản kháng và cự tuyệt dứt khoát của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Âm mưu của Đácgiăngliơ, Valuy và đồng bọn là chờ viện binh để mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương. Trước mắt, họ chủ trương tìm mọi cách ngăn cản việc thực hiện những gì đã ký kết mà họ cho là bất lợi đối với Pháp, trước hết là việc ngừng bắn vào ngày 30 tháng 10 mà Tạm ước 14 tháng 9 đã quy định. Theo quan điểm của họ, việc ngừng bắn dù chỉ được thực hiện trên đại thể cũng là điều đáng lo ngại vì nó chứng tỏ một sự thật là “người ta (ý nói nhân dân miền Nam) không tuân theo ý đồ của cái chính phủ do đô đốc Đácgiăngliơ nặn ra mà người ta lại phục tùng mệnh lệnh của Chính phủ Hà Nội”. Thực dân Pháp ở Nam Bộ không những không chịu ngừng bắn mà còn công khai nói đến “một hành động quân sự đúng thời cơ cho phép ngăn chặn tình hình đang phát triển ngày càng có lợi cho Hà Nội”. Vấn đề là ở chỗ tạo cho được cơ hội để thực hiện ý đồ “quét sạch đám bụi Việt Minh”. Tướng Valuy, viên tướng ba sao được chỉ định thay thế Lơcléc từ tháng 7 năm 1946, đã công khai bộc lộ ý đồ muốn chấm dứt “mọi cuộc thương lượng nhùng nhằng”, thay vào đó là những hành động quân sự ngay khi có quân tăng viện. Trong một bức thư gửi về cho tướng Xalăng ở Pháp, Valuy đã nói thẳng ra rằng cái mà y cần lúc này là súng, nhiều súng, nếu không thì “tình hình sẽ trở nên kinh khủng và nước Pháp sẽ mất hết, kể cả cái xứ Đông Dương vô cùng hấp dẫn này”. Valuy viết: “trong khi tình hình đang xấu đi từng ngày, vậy mà các cuộc đàm phán nhùng nhằng cứ diễn ra mãi... Cuộc chiến tranh đã báo hiệu rồi, chúng tôi thấy rất rõ điều đó, vì hàng ngày hàng giờ chúng tôi mặt đối mặt với Việt Minh là những người không chịu nhẫn nhục trước việc quân đội chúng ta trở lại Bắc Kỳ”. Bécna Phôn (Bernard Fall, tác giả cuốn Con đường không vui) đã đưa ra một nhận xét kỳ quặc là “lực lượng quân sự Pháp đưa sang Đông Dương quá lớn đến nỗi làm cho các cấp chỉ huy Pháp không cưỡng nổi tâm lý muốn sử dụng nó” (!). Về thực chất chẳng qua đó chỉ là một sự đồng tình với bọn tướng viễn chinh Pháp đang muốn dựa vào ưu thế về trang bị kỹ thuật để kêu gào “phải đánh ngay, vì Việt Minh đang muốn ném chúng ta xuống biển” (!). Nhưng chúng vẫn chưa đánh ngay được. Trước hết vì chúng vấp phải phương thức đấu tranh của đối phương trên các mặt quân sự, chính trị, ngoại giao, nhằm ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ chiến tranh lan rộng, đồng thời tranh thủ từng ngày khẩn trương chuẩn bị lực lượng sẵn sàng đối phó với kẻ thù khi tình thế buộc phải chiến đấu. Chúng khó có thể vin vào bất cứ cớ gì để mở rộng chiến tranh ngay được khi mà Cụ Hồ Chí Minh luôn luôn nói đến hòa bình, hòa giải và hợp tác. Không những trước khi sang Pháp mà ngay trong cuộc họp báo ở Hà Nội (ngày 21 tháng 10), khi vừa ở Pháp về, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quyết tâm của toàn dân Việt Nam là giành cho được độc lập và thống nhất hoàn toàn, nhưng đồng thời vẫn chủ trương tham gia Khối Liên hiệp Pháp, hợp tác bình đẳng với nước Pháp. Những lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh không những đã vạch trần những lời xuyên tạc và vu khống của bọn thực dân Pháp ở Đông Dương mà còn có tác dụng ngăn chặn bàn tay của các tướng lĩnh Pháp đang tìm mọi cớ để tiếp tục gây ra xung đột.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #39 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 12:44:39 am » |
|
Mặt khác, cũng là mặt rất quan trọng, sở dĩ chúng chưa “đánh ngay” được vì lực lượng so sánh chưa cho phép và vì chúng đang ở vào tình thế bất lợi. Ngay tại chiến trường miền Nam, nơi chúng huênh hoang là đã “bình định” xong, lại là nơi mà cơ sở chính trị và vũ trang Việt Nam đã được phục hồi sau những ngày khó khăn; chiến tranh du kích đã bước đầu phát triển, nhiều khu du kích đã hình thành... buộc địch phải căng mỏng lực lượng ra để đối phó với một tình thế đã ngày càng có lợi cho ta.
Những nhận xét dưới đây trong Hồi ký của tướng Xalăng, tuy còn chưa đầy đủ nhưng cũng phần nào nói lên tình thế của Pháp trên toàn cõi Đông Dương cuối năm 1946, một tình thế không cho phép chúng thực hiện chủ trương “đánh ngay”, mặc dù chúng rất muốn điều đó:
Tại Nam Bộ, sư đoàn 3eDIC ngày càng tỏ ra đuối sức trước một nhiệm vụ vượt xa khả năng của nó trên một chiến trường quá rộng, kể cả nhiệm vụ chiếm đóng và bình định cũng như tổ chức lực lượng ứng chiến để đối phó với hoạt động của đối phương. Đây là một sư đoàn được thành lập vội vã, quân số đã thiếu lại gồm nhiều lính mới, trang bị kém và thiếu. Tuy vậy, Chính phủ Pháp vẫn phải đưa sư đoàn 3eDIC này sang để thay thế sư đoàn 9eDIC từ tháng 3 năm 1946.
Trong khi đó thì, vẫn theo Xalăng, dù lực lượng của đối phương chỉ chừng vài vạn nhưng họ hoạt động có hiệu quả theo phương thức chiến tranh du kích: không những họ luôn luôn hạ sát “những người Nam Kỳ bạn của nước Pháp” (ý nói bọn Việt gian) mà họ còn đánh những trận phục kích lớn hàng mấy trăm người bằng những quả mìn điều khiển từ xa kết hợp với súng máy trên những đoạn đường dài khiến quân Pháp bị tổn thất nặng nề. Công tác phá hoại “đã làm cho mặt đường giao thông dày đặc những hố vuông như những phím đàn dương cầm”, khiến việc cơ động của các đoàn xe vận tải của quân Pháp bị cản trở.
Xalăng còn nhận xét: Tại Nam Kỳ, Việt Minh chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh vũ trang lâu dài nên hoạt động của họ đã có chiều sâu. Một tổ chức mạnh và bí mật lãnh đạo dân chúng hành động theo đường lối mà Việt Minh đã vạch ra và trừng trị những người cộng tác với Pháp chống lại đường lối của họ. Trong khi đó thì về phía Pháp, sự thiếu kiên định trong chính sách “đã làm cho nhiều người lìa bỏ chúng ta” (Pháp) để về với hàng ngũ kháng chiến.
Về mặt chính trị, tức âm mưu lập chính quyền tay sai ở Nam Bộ, Xalăng cho rằng dù “nước Cộng hòa Nam Kỳ” ra đời từ tháng 6, nhưng đến cuối năm vẫn chưa có hành động gì cụ thể và hữu hiệu. Đácgiăngliơ và thực dân Pháp vẫn chỉ coi Nam Kỳ là “một phần đất của chính quốc, chứ không phải là một nước cộng hòa tự do trong khuôn khổ của Pháp”. Ngán ngẩm vì thấy thân phận bị Pháp khinh thường (và đứng trước sự bế tắc trên bước đường làm tay sai cho giặc), “bác sĩ Thinh, thủ tướng Cộng hòa Nam Kỳ, người bạn cũ rất trung thành của nước Pháp”, đã tự sát.
Còn ở ngoài Bắc, Xalăng than phiền: “mới chỉ trong vòng ba - bốn tháng mà đã bốn người1 thay nhau nắm quyền chỉ huy quân đội. Tình hình không ổn định cứ tồn tại mãi về phía chúng ta (Pháp) khác hẳn với sự gắn bó chặt chẽ của phía Chính phủ của Việt Minh... Đường lối chính trị của chúng ta (Pháp) ngày càng tỏ ra bất định, trong khi kẻ thù thống nhất thành một khối, họ biết rõ mục đích sẽ đạt tới và họ hành động có hiệu quả để đạt tới mục đích đó...”.
Tất nhiên, đó là những nhận xét Xalăng viết trong Hồi ký xuất bản 15 năm sau. Còn vào cuối năm 1946, Xalăng và đồng bọn đâu đã thấy được sự thật ấy. Họ luôn luôn muốn “tỏ ra đối phương biết mình là kẻ đang chiến thắng”, kẻ đang có ưu thế lực lượng quân sự để gây sức ép. Chẳng thế mà khi đàm phán để thực hiện ngừng bắn ở miền Nam, họ vẫn khăng khăng đòi những người kháng chiến phải “giải giáp và hồi hương” lực lượng vũ trang ở Nam Bộ. Bị thất bại trong việc gây sức ép trên bàn hội nghị, Xalăng và đồng bọn lại chuyển sang dùng lực lượng quân sự để buộc đối phương phải chấp nhận những điều xúc phạm đến chủ quyền. Trong lúc chưa có điều kiện mở rộng chiến tranh ra cả nước, họ cố tìm cách gây ra những cuộc xung đột cục bộ, vì trước sau họ vẫn mong “có thời cơ để dùng sức mạnh cho Việt Minh một bài học” (!). Sau thất bại trong âm mưu làm cuộc chính biến2 ngày 14 tháng 7, họ lại tìm cách diễn lại thủ đoạn đen tối đó vào ngày 11 tháng 11, ngày kỷ niệm chiến thắng của Đồng minh trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (11-11-1918). Hôm đó, họ chủ trương cùng quân đội Việt Nam tổ chức duyệt binh chung ở Hà Nội để rồi khiêu khích buộc đối phương phải nổ súng hòng kiếm cớ gây ra cuộc xung đột toàn cục. Nhưng chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa đã kịp thời phát hiện âm mưu đen tối đó và đã đấu tranh làm thất bại kế hoạch thâm độc của họ.
-------------------- 1. Salan, Valluy, Crépin, Morlière.
2. Hồi ấy, Pháp bí mật câu kết với bọn phản động Quốc dân đảng ở Hà Nội, dự định cho bọn này ném lựu đạn vào cuộc diễu binh của Pháp, rồi lấy đó làm cớ gây ra cuộc chính biến, lật đổ Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Nhưng, các lực lượng an ninh Việt Nam đã phát hiện được âm mưu đó tóm gọn bọn Quốc dân đảng và tay sai trước ngày 14 tháng 7 nên cuộc chính biến không thành.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|