Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #40 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 12:46:44 am » |
|
23-11-1946: MỐC QUYẾT ĐỊNH Trước tình hình đang trở nên căng thẳng từng ngày, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã gửi công hàm lưu ý Thủ tướng Biđôn và Chính phủ Pháp. Nhưng Đácgiăngliơ và đồng bọn đã cố tình tìm những “lý do về chuyển đạt” 1để trì hoãn công hàm của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa nhằm bưng bít hành động gây sức ép về chính trị và lấn chiếm về quân sự của họ. Sau này, nhiều sách báo Pháp đã tiết lộ rằng “những lý do về chuyển đạt” đã làm cho bức công hàm đề ngày 16 tháng 11 của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa chỉ đến Pari ngày 30 tháng ấy. Điều đó rất có ý nghĩa, vì chính vào dịp này, ngày 23 tháng 11, cái tổ chức gọi là Ủy ban Đông Dương 2đã quyết định dùng biện pháp quân sự để giải quyết mối quan hệ Việt - Pháp, hòng đặt trước Chính phủ đang lung lay của Biđôn một việt đã rồi. Cũng trong dịp này, phối hợp hành động với bọn phản động Pháp ở Pari, Valuy và đồng bọn đã gây ra vụ xung đột ở Hải Phòng và Lạng Sơn, hai cửa ngõ của nước Việt Nam với nước ngoài. Cái gọi là “sự kiện Hải Phòng” bắt nguồn từ âm mưu sâu xa của Pháp muốn cướp đoạt thuế quan của Việt Nam ở cảng. Người ta biết rằng từ ngày 10 tháng 9, khi hội nghị Phôngtennơblô đã đứng trước nguy cơ tan vỡ hoàn toàn, Đácgiăngliơ quyết định thành lập trạm kiểm soát (?) thuế quan ở khu vực Hải Phòng bắt đầu từ 15 tháng 10. Tướng Moóclie (chỉ huy quân Pháp ở miền Bắc và thay mặt Xanhtơny về Pháp vắng) đã trực tiếp thi hành chỉ thị đó của viên cao ủy. Hành động trên của Pháp đã vi phạm trắng trợn chủ quyền nước Việt Nam, đến nỗi sau này Xalăng cũng phải thừa nhận rằng “đối với người Việt Nam, quyết định đơn phương này là một việc làm tổn thương đến chủ quyền của họ... vì nó trái với hiệp định 6 tháng 3 mà theo tôi (Xalăng) là hiệp định công nhận nền tài chính riêng của họ và tất nhiên quyết định đó không được Việt Minh chấp nhận”. Xalăng còn nhận xét rằng nếu không có lời phản kháng của Việt Minh được Cụ Hồ dội sang Pari ngay sau khi Cụ về tới Hà Nội thì Chính phủ Pháp không thể biết gì (về quyết định này của Đácgiăngliơ) vì Pari không hề nhận được báo cáo nào của người Pháp ở Đông Dương về hành động vi phạm nghiêm trọng đó. Đácgiăngliơ và đồng bọn ngoan cố lập luận rằng việc lập trạm kiểm soát thuế quan ở Hải Phòng “chỉ là một giải pháp tạm thời để kiểm soát hàng hóa ra vào (?) chứ không nhằm một mục đích chính trị nào về sau này”. Họ phản đối cuộc gặp gỡ giữa đại biểu hai bên ở Hà Nội, viện cớ là vấn đề thuế quan về nguyên tắc liên quan đến toàn Đông Dương chứ không bó hẹp trong phạm vi cuộc tranh chấp cục bộ ở Hải Phòng, do đó nếu triệu tập hội nghị thì cuộc họp phải diễn ra ở Đà Lạt 3 chứ không phải ở Hà Nội. --------------------- 1. Do điều kiện cụ thể hồi đó, ta chưa có liên lạc trực tiếp với Pari, mọi công hàm đều qua Sài Gòn chuyển tiếp.
2. Comité d’Indochine, một tổ chức bao gồm những phần tử có nhiều quyền lợi thuộc địa ở Đông Dương trước đây, làm “cố vấn” cho Chính phủ Pháp trong việc vạch ra đường lối đối với ba nước Việt Nam, Campuchia và Lào.
3. Đácgiăngliơ và đồng bọn coi thành phố Đà Lạt là “thủ đô” của cái gọi là “Liên bang Đông Dương” (!).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #41 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 12:47:21 am » |
|
Trong thời kỳ này, dư luận Pháp lo ngại rằng “khi mà tinh thần và tâm trạng trước chiến tranh đang bị kích thích cao độ ở Đông Dương, vấn đề (mà Đácgiăngliơ coi là) cục bộ đó có nguy cơ trở thành tia lửa làm nổ tung cả kho thuốc súng... Sự căng thẳng ngày càng tăng ở cảng (Hải Phòng), nơi cả người Pháp và Việt Minh đều đã sẵn sàng nổ súng” (theo nguyên văn: đã đặt ngón tay lên cò súng).
Thế rồi, ngày 20 tháng 11 “sự kiện Hải Phòng” đã diễn ra. Có những người Pháp viết hồi ký và viết sử đã mất nhiều công sức để chứng minh rằng các lực lượng tự vệ Việt Nam đã nổ súng trước vào quân Pháp khi chúng đang khám xét một thuyền buôn nước ngoài. Nhưng cũng có nhiều người Pháp khác đã vạch trần âm mưu của bọn cầm đầu quân đội viễn chinh Pháp, những kẻ cố tình gây ra vụ xung đột ở Hải Phòng. Theo Adô, bọn Pháp ở Sài Gòn luôn kêu gào dùng chiến tranh để “quét sạch bụi Việt Minh”. Riêng viên tổng chỉ huy Valuy đã ra lệnh cho bọn chỉ huy cấp dưới tìm mọi cơ hội để “cho Việt Minh một bài học đích đáng khi những mưu toan hòa giải không còn ý nghĩa gì nữa”. Bài học đích đáng đó “bắt đầu bằng cuộc pháo kích của ba tàu chiến Pháp”, tiếp đến là “cuộc càn quét rất đúng bài bản của lính Đức trong đội quân lê dương vào các khu dân cư ở Hải phòng”.
Xalăng thì nhận xét rằng viên đại tá Đebơ (Dèbes, chỉ huy quân Pháp ở Hải Phòng) đã hành động bất chấp cả mệnh lệnh của tướng Moóclie. Viên tướng chỉ huy quân Pháp ở Bắc Bộ đánh điện khiển trách Đebơ và ra lệnh cho hắn thu quân về trại. Đebơ không chấp hành, vì đằng sau y là tướng Valy, kẻ đã “vượt qua đầu Moóclie để nắm bọn đại tá mà hắn tin cậy”. Chẳng thế mà, trong khi phái đoàn Việt Nam đang cùng phái đoàn Lami (Lami), do Moóclie phái xuống Hải Phòng dàn xếp để tránh cuộc xung đột mở rộng, thì từ Sài Gòn, Valuy đã điện trực tiếp cho Đebơ, hạ lệnh: “Bằng mọi lực lượng có trong tay, phải nhanh chóng làm chủ Hải Phòng... Dù thế nào cũng phải buộc phía Việt Nam rút quân ra khỏi thành phố...”.
Đebơ chỉ đợi có thế. Ngày 25 tháng 11, y quyết định chiếm hẳn cảng Hải Phòng. Cuộc xung đột thực sự đã nổ. Từ ngoài khơi, hải quân Pháp bắn pháo dữ dội vào khu dân cư. Xlăng thú nhận “rất nhiều thường dân bị chết, đến nỗi hồi đó và cả bây giờ nữa, người ta đã dùng những lời lẽ cay độc để chê trách quân ta (Pháp) về việc làm đó...”.
Điều đáng chú ý là trong dịp này đã có sự phối hợp hành động khá nhịp nhàng của những người Pháp ở Pari, Sài Gòn và Hải Phòng.
Trong khi những sự kiện nóng bỏng đang diễn ra ở Hải Phòng thì từ Pari1, Đácgiăngliơ đã dựa vào quyết định ngày 23 tháng 11 của Ủy ban Đông Dương để đốc thúc Valuy ở Sài gòn “phải tiến tới những biện pháp cứng rắn”.
Ngày 26 tháng 11, Xanhtơny vừa từ Pari sang tới Sài Gòn sau nửa năm về Pháp công cán. Để thực hiện chỉ thị của Pari và để bịt mọi khả năng tiếp tục “những cuộc đàm phán nhùng nhằng”, Valuy yêu cầu Xanhtơny tạm nán lại ít ngày ở Sài Gòn để nhận “thông báo tình hình”. Thực ra, theo Valuy, sự có mặt của Xanhtơny ở Hà Nội lúc này không những sẽ cản trở hành động vi phạm quân sự của bọn tướng lĩnh mà rất có thể còn làm cho ông ta (Xanhtơny) mất mặt, khi mà ông ta là “con bài duy nhất còn lại để liên hệ với phía Việt Minh”.
Sau này, chính Xanhtơny đã nói thẳng ra rằng: “Tôi lưu lại ở Sài Gòn một tuần lễ (26-11 đến 2-12), nhưng ông ta (Valuy) cũng chẳng có tin tức gì để thông báo cho tôi, dù tôi đã vắng mặt ở Đông Dương bảy tháng”.
Việc quân đội Pháp đánh chiếm Hải Phòng xảy ra đồng thời với việc chúng đánh chiếm Lạng Sơn.
Ngày 20 tháng 11, viện cớ đi tìm mồ mả của binh lính chết trong cuộc đảo chính Nhật ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân Pháp mò lên các điểm cao chung quanh các vị trí của bộ đội Việt Nam ở Lạng Sơn để chụp ảnh và trinh sát. Phía Việt Nam kịch liệt phản kháng và quân Pháp đã vin vào đó để gây xung đột và chiếm thị xã.
Sau khi dùng vũ lực đánh chiếm cửa ngõ đường biển (Hải Phòng) và đường bộ (Lạng Sơn), Pháp tiếp tục đánh chiếm sân bay Đà Nẵng, chuẩn bị thực hiện âm mưu cắt đứt đường liên lạc giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam.
Hành động liên tiếp vi phạm bằng quân sự của phía Pháp đã khiến cho quan hệ Việt - Pháp ngày càng căng thẳng. Ủy ban Liên kiểm Việt - Pháp2không còn tác dụng thực tế nữa.
--------------------- 1. Để tiện cho Valuy và Đebơ chiếm cảng Hải Phòng, Đácgiăngliơ đã lánh mặt về Pháp.
2. Một tổ chức hỗn hợp có chức năng hóa giải các cuộc xung đột quân sự giữa hai bên Việt - Pháp.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #42 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 12:48:54 am » |
|
ĐOẠN DÂY CHÁY CHẬM CUỐI CÙNG Các tướng lĩnh Pháp ở Pari lúc này cũng đã nhận thấy quân đội của họ “đang tiến tới một cuộc thử sức” với nhân dân Việt Nam và họ đã từng đặt vấn đề trách nhiệm thuộc về ai. Qua báo cáo của Đácgiăngliơ, Valuy và đồng bọn, tất nhiên giới cầm quyền Pháp ở Pari cho rằng mọi việc xảy ra đều do phía Việt Nam. Kết luận mà bọn thực dân Pháp ở Sài Gòn đã báo cáo cho Chính phủ Pháp là: “Đà Lạt, Phôngtennơblô và bản Tạm ước đã trở thành vô nghĩa”... Theo họ, Việt Nam đã “gây ra một sự bế tắc có hệ thống”, làm tan vỡ sự cộng tác thành thật giữa Pháp và Việt Nam, một sự cộng tác do phía Pháp “đã đặt nền tảng và không được tiếp tục theo đuổi” (!). Họ còn lên án Chính phủ Việt Nam đã phát triển quân đội (của chính đất nước Việt Nam) lên đến gần 100.000 người “mà không có sự kiểm soát nào” (!?) và quân đội đó đang chuẩn bị một cuộc chiến tranh du kích để chống lại quân đội Pháp. Ngồi ở Pari nhưng các tướng lĩnh Pháp vẫn lo không biết tướng Valuy có dám “dùng sức mạnh để trả lời sức mạnh không?”, trong lúc “Chính phủ Pháp đang bận rộn về những việc tranh chấp giữa các đảng phái và không làm hết trách nhiệm (?) đối với vấn đề Đông Dương thì liệu tướng Valuy có dám vượt lên trên kỷ luật (?) để hành động vì lợi ích của quân đội thuộc quyền không (?)”. Họ tin rằng Valuy sẽ làm như vậy và tỏ ra đồng tình nếu viên tướng tổng chỉ huy này biết hành động như vậy. Tuy nhiên, trong các tướng lĩnh Pháp, có những người đã từng ít nhiều hiểu biết thế nào là quyết tâm và sức mạnh của nhân dân Việt Nam. Họ tỏ ra lo ngại trước nguy cơ chiến tranh lan rộng. Đó là trường hợp tướng Lơcléc. Trong những lần trao đổi với tướng Xalăng về tình hình Đông Dương, Lơcléc thường đặt vấn đề: “Tại sao phía Pháp không tôn trọng Hiệp định 6-3 và Hiệp định 3-4 1? Tại sao không thực hiện trưng cầu ý dân (về vấn đề Nam Bộ), để đến nỗi xảy ra những sự việc tựa như ném lửa vào kho thuốc súng? Và trong kho thuốc súng đó, dây cháy chậm đã bắt đầu bén lửa...”. Không phải vì thiện chí hòa bình mà tướng Lơcléc lo chiến tranh lan rộng. Theo ông ta, chiến tranh lan rộng lúc bấy giờ làm cho Pháp ở vào thế bất lợi. Quan điểm trước sau như một của Lơcléc là “phải có quân, rất nhiều quân... khốn nỗi chúng ta lấy đâu ra người và phương tiện” trong lúc tình hình Mađagaxca và châu Phi không phải là không làm cho Pháp phải lo ngại. Xanhtơny than phiền: sau vụ đánh chiếm Hải Phòng và Lạng Sơn, các tướng lĩnh Pháp ở Đông Dương không được chỉ thị cụ thể của Pari để hành động, vì cao ủy Đácgiăngliơ cứ lì lợm ở lại bên Pháp. Tệ hại hơn nữa “theo truyền thống của nền Đệ tứ Cộng hòa”, ngày 28 tháng 11, nội các Biđôn lại bị đổ. Một lần nữa, gần ba tuần lễ nước Pháp lại không có chính phủ. Tất nhiên, lý do không phải hoàn toàn chỉ vì như vậy. Với bức điện ngày 24 tháng 11 của Đácgiăngliơ (truyền đạt quyết định của “Ủy ban Đông Dương” chuyển sang dùng vũ lực), các tướng lĩnh Pháp ở Sài Gòn và Hà Nội đã rộng tay hành động mà không cần biết nước Pháp có chính phủ hay không. Chẳng thế mà chúng đã liên tiếp gây ra hàng loạt vụ khiêu khích nghiêm trọng khác ở Cầu Đuống, Bắc Ninh và nhất là ở nhiều khu phố nội thành Hà Nội. Nếu “sợi dây đàm phán đã trở nên quá căng” như Xanhtơny nhận xét thì sự căng thẳng đó đâu phải do phía Việt Nam, đâu phải do không có chỉ thị của Chính phủ Pháp? Cái gọi là Ủy ban Đông Dương đã ra quyết định ngay khi nội các Pháp còn nguyên vẹn. Trước tình hình đã trở nên cực kỳ nghiêm trọng, ngày 15 tháng 12 năm 1946, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa lại gửi một công hàm cho Chính phủ mới của Pháp. Nhưng một lần nữa bọn hiếu chiến Pháp ở Sài gòn lại tìm mọi thủ đoạn để trì hoãn khiến cho bức công hàm mãi mười một ngày sau mới đến Pari, khi mà tình hình đã trở nên không thể nào cứu vãn nổi. ----------------- 1. Hiệp định tham mưu do phái đoàn quân sự hai bên ký ngày 3-4-1946, cụ thể hóa những điều khoản của Hiệp định 6-3 về mặt quân sự.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #43 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 12:49:55 am » |
|
Bấy giờ ở Hà Nội giữa Việt Nam và Pháp vẫn có thư qua thư lại và các cuộc gặp gỡ nối tiếp nhau, nhưng do âm mưu đã được sắp đặt trước, Pháp cứ tiếp tục gây sức ép hòng buộc đối phương phải nhân nhượng.
Nguy cơ một cuộc chiến tranh toàn cục đã đến gần.
Ngày 17 tháng 12, quân Pháp bắn vào trụ sở của lực lượng tự vệ thành Hà Nội và gây ra vụ thảm sát ở các khu phố Yên Ninh, Hàng Bún. Ngày 18, chúng chiếm Bộ Tài chính và Bộ Giao thông công chính.
Thế nhưng, trong cuộc gặp gỡ hồi 11 giờ ngày 18, đại diện bộ chỉ huy Pháp vẫn khăng khăng đòi phía Việt Nam phải phá các ụ chướng ngại trên các đường giao thông để Pháp tiện bề chuyển quân và tiếp tế. Một mặt họ đưa những hình ảnh tàn phá của chiến tranh hòng dọa nạt, mặt khác lại ve vãn đối phương không nên làm đổ vỡ (?) khi mà nền độc lập đã đến gần... Đại diện Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã lên án mọi hành động vi phạm của phía Pháp và thẳng thắn trả lời họ rằng: sau Nam Bộ, Hải Phòng và Lạng Sơn... thế là hết, nhân dân Việt Nam sẽ không nhân nhượng nữa. Nếu phía Pháp cố tình làm nổ ra chiến tranh, nhân dân Việt Nam sẵn sàng trả lời họ bằng chiến tranh. Hy sinh, tổn thất trong chiến tranh là điều không thể tránh khỏi. Nhân dân Việt Nam không muốn điều đó. Nhưng một khi phía Pháp buộc Việt Nam phải chiến đấu tự vệ, nhân dân Việt Nam không sợ bất kỳ hy sinh nào để giành cho được độc lập. Hơn nữa, trong cuộc chiến tranh sắp tới, không phải chỉ có phía Việt Nam mà phía Pháp cũng không thể tránh khỏi chết chóc, tổn thất.
Đây là cuộc gặp gỡ cuối cùng trước ngày nổ súng.
Đêm 18 tháng 12 năm I 946, Bộ chỉ huy Pháp gửi tối hậu thư đòi tước vũ khí của tự vệ Hà Nội đòi chiếm Sở Công an Hà Nội và đòi quyền “quản lý” thành phố. Sáng 19, Xanhtơny lại gửi Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa một văn thư. Sau khi vu cáo “phía Việt Nam đã gây ra một số vụ tàn sát ở Hà Nội”. Xanhtơny láo xược đòi phía Việt Nam, trong vòng 48 giờ kể từ khi nhận được văn thư, phải truy lùng, bắt giữ và trừng trị những người đã gây ra những vụ đổ máu đó. “Quá thời hạn trên, Xanhtơny nói, tôi rất lấy làm tiếc về sự bất lực và dụng ý xấu của cơ quan an ninh của các ngài và tôi sẽ tự cho phép mình được quyền truy lùng hung thủ, để tránh tái diễn mọi vụ xung đột đổ máu như vậy...”.
Thực tế hành động của phía Pháp chứng tỏ, nếu sau thất bại của hội nghị Phôngtennơblô, khả năng hòa hoãn ngày càng hạn chế thì, vào cuối trung tuần tháng 12 năm 1946, khả năng đó không còn nữa. Nguy cơ chiến tranh rõ ràng không thể tránh khỏi. Đã đến lúc nhân dân Việt Nam buộc phải cầm súng chiến đấu để bảo vệ chủ quyền đã bị đế quốc Pháp xâm phạm hết sức nghiêm trọng.
Tức nước ắt vỡ bờ. Bất kỳ một sự nhân nhượng chính đáng nào cũng đều có giới hạn của nó. Sợi dây cháy chậm do Pháp châm ngòi đã cháy tới đoạn cuối cùng. Kho thuốc súng tất phải nổ.
20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946, khi mà “nín nhịn đã nung nấu trong lòng dân tộc ta biết bao uất hận, nổ thành một sức mạnh xung thiên”1, quân dân Việt Nam trong cả nước đã chủ động nổ súng tiến công địch.
Xanhtơny, một trong những kẻ bị thương nặng ngay từ những phút đầu tiên ở Hà Nội tối hôm đó, sau này chỉ dám nói lại một cách lập lờ rằng trong cơn hoảng loạn vì xe bị trúng mìn, ông ta chỉ nhận ra được một điều: Cuộc chiến tranh trên toàn cõi Đông Dương đã bắt đầu. Ông ta không dám nói rõ một sự thật là: sở dĩ Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ2 đến đây chấm dứt vì chính ông ta, tác giả “câu chuyện” và đồng bọn là những kẻ chịu trách nhiệm trực tiếp về sự “bỏ lỡ ấy”.
Điều đó chỉ hàng chục năm sau ông ta mới nhận thấy và mới dám nói ra. Quá muộn!
----------------- 1. Trường Chinh “Kháng chiến nhất định thắng lợi”, Tác phẩm chọn lọc, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, t. 2, tr. 22.
2. Histoire d’ une paix manquée, cuốn sách do Xanhtơny viết về quan hệ Việt - Pháp trong những năm 1945-1946, xuất bản ở Pari năm 1954, tái bản năm 1957.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #44 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 12:50:46 am » |
|
BẤT NGỜ VÀ BỊ ĐỘNG Từ ngày 17 và nhất là từ chiều 19 tháng 12 năm 1946, viên đại tá Tơrôca (Trocard), phụ trách Phòng nhì, đã cung cấp cho Bộ chỉ huy Pháp những “tin tức đáng lo ngại” về cuộc tiến công sắp tới của Việt Minh. Liên tiếp trong mấy ngày đó, luôn luôn có một bộ phận quân đội Pháp bị cấm trại. Nhưng rồi bọn Pháp vẫn bị bất ngờ trước cuộc tiến công quyết liệt nổ ra không những chỉ ở Hà Nội mà còn ở khắp mọi nơi có quân đội Pháp. Hai mươi giờ. Tiếng mìn của tự vệ công nhân Hà Nội phá nhà máy điện vừa nổ, cả thành phố chìm trong đêm tối. Pháo binh Việt Nam từ các pháo đài ngoại thành dồn dập rót vào các vị trí Pháp trong thành phố. Theo kế hoạch đã định sẵn, trong lúc các chiến sĩ Vệ quốc đoàn và tự vệ thành nổ súng tiến công các vị trí xung yếu của địch trong thành phố, cây cối và cột điện được hạ xuống, bàn ghế, giường tủ, quầy hàng... được tung ra đường. Phố xá đầy những vật chướng ngại, kể cả những toa tàu hỏa, tàu điện... Ngồi ở Pari, Xalăng nhận được tin tức nói rằng “việc chi viện của cơ giới và thiết giáp (của cấp trên) trở nên khó khăn... Các đơn vị thiết giáp xuất phát từ các căn cứ ở gần Hồ Tây không thể ứng cứu kịp thời cho quân Pháp ở những nơi cuộc chiến đấu ác liệt đang diễn ra..., khiến cho mỗi vị trí, mỗi đơn vị, mỗi căn nhà đều bị cô lập trong nhiều giờ, không có sự chỉ huy của cấp trên...” (Hồi ký của Xalăng). Mãi đến sáng 20 các đơn vị cơ giới của sư đoàn 9è DIC, được coi là “có truyền thống chiến đấu trong thành phố, có sở trường phối hợp với bộ binh”, mới xuất hiện. Sự chi viện của cơ giới và “của ánh sáng mặt trời” 1đã giúp cho quân Pháp ở Hà Nội “thoát khỏi nỗi kinh hoàng bao trùm toàn thành phố đêm trước”, một nỗi kinh hoàng khiến chúng hồi tưởng đến thảm cảnh đêm 9 tháng 3 năm 1945, khi bị Nhật đảo chính. Để trấn an tinh thần binh lính, ngày 20 tháng 12, tổng chỉ huy Valuy từ Sài Gòn tung ra một bản nhật lệnh, kêu gọi quân Pháp ở miền Bắc Đông Dương hãy “cùng nhau nghiến răng chịu đựng trước cuộc xung đột đang diễn ra ác liệt… hãy tiết kiệm phương tiện chiến đấu, nhất là đạn dược...”. Valuy hứa hẹn với quân lính ở miền Bắc rằng “chẳng bao lâu nữa các bạn sẽ được tăng viện, tiếp tế...”. Và đến khi đó thì “chúng ta sẽ tập trung mọi nỗ lực để tiêu diệt bọn quân ô hợp...”(!). Cuối cùng Valuy động viên: “Các bạn hãy dũng cảm lên, hỡi sư đoàn bộ binh thuộc địa thứ 9... Chúng ta hãy hành động như khi còn ở Pháp: luôn luôn là những người chiến thắng”(!). Theo nhận xét của Xalăng và nhiều tướng lĩnh Pháp, trong những ngày cuối tháng 12, mặc dù quân Pháp “đã bị tổn thất rất nhiều để chiếm một số vị trí ở Hà Nội và giải tỏa sân bay Gia Lâm nhưng trên đất Bắc Kỳ, tất cả nào đã xong xuôi. Quân Pháp ở Hà Nội vẫn bị bao vây và cô lập hoàn toàn. Đường chiến lược số 5 bị cắt đứt vì các vị trí Pháp ở khu vực cầu Lai Khê “đã bị tràn ngập và đánh chiến... sau đó Việt Minh lại phá mất cầu, phá cả đường sắt và đường bộ”. Bắc Ninh và Phủ Lạng Thương cũng bị bao vây, mãi đến ngày 26 tháng 12, các vị trí trên mới được các đơn vị của đại tá Giô (Giraud) từ Hà Nội đến giải vây. Nam Định, thành phố được Pháp coi là quan trọng vào hàng thứ ba ở Bắc Bộ, một vị trí gồm 450 tên thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn 6 (2/6 RIC, thiếu một đại đội đóng ở Hải Dương), đã rơi vào hoàn cảnh cực kỳ khó khăn... Cuộc bao vây ở đây kéo dài... Không phải quân Pháp chỉ bị tiến công ở Bắc Kỳ, vì “ông Võ Nguyên Giáp đã ra lệnh khắp nơi nổ súng”. Tại Trung Bộ, “một trung tâm quan trọng là thành phố Vinh đã nhanh chóng bị chiếm, hầu như không có sự chống cự”. Sự thật là toàn bộ quân Pháp ở Vinh đã đầu hàng ngay khi bị tiến công. Chiến sự vừa xảy ra ở Hà Nội, quân Pháp ở Huế đã được báo động, nhưng chúng vẫn không khỏi bị bất ngờ khi những viên đạn súng cối Việt Nam rót vào vị trí của chúng ở trường trung học Khải Định lúc 2 giờ 15 phút ngày 20. Theo báo cáo của viên đại tá Bruygiơ (Bruge, chỉ huy quân Pháp ở Huế) thì ngay từ đầu, nhiều lính Pháp bị chết và bị thương. “Mọi người vội vồ lấy súng và cảnh rối loạn càng tăng khi tiếng lựu đạn và tiếng súng nổ ran trong khu phố Tây, khi cầu Clêmăngxô (tức cầu Tràng Tiền ở Huế) bị phá sập, tiếp đến toàn cố đô bị chìm đắm trong đêm tối vì điện tắt lúc 2 giờ 45...”. Viên đại tá Bruygiơ cũng thú nhận: chỉ sau mấy ngày chiến đấu, mặc dù quân Pháp giữ được một số vị trí trong thành phố và nối được liên lạc với Đà Nẵng, nhưng số lính Pháp bị chết, bị mất tích đã lên tới khoảng một trăm. “Những tuần lễ khó khăn bắt đầu”, đó là nhận xét của tướng Xalăng. Còn các ký giả Pháp và phương Tây có mặt ở Đông Dương cuối năm 1946 thì cho rằng quân Pháp đã “đâm đầu vào một tổ ong bầu vẽ”. Đó là cuộc chiến tranh tự vệ của cả một dân tộc, một cuộc chiến tranh “sẽ làm cho quân đội Pháp kiệt sức, sẽ làm cho nước Pháp trải qua một thời gian dài không ngóc đầu lên được” như tướng Lơcléc đã từng dự đoán. ------------------- 1. Ý nói khi trời đã sáng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #45 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 12:51:25 am » |
|
CUỘC HÀNH TRÌNH VÔ ÍCH CỦA NGÀI BỘ TRƯỞNG Một ngày sau khi được cử ra lập nội các mới, một nội các mà thành phần chủ yếu thuộc đảng Xã hội Pháp, ngày 18 tháng 12, Thủ tướng Blom (Léon Blum) triệu tập cuộc họp của hội đồng bộ trưởng. Ngoài việc thúc giục cao ủy Đácgiăngliơ trở lại ngay Đông Dương, Chính phủ còn phái Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Mutê sang để “nắm tình hình tại chỗ và tìm giải pháp thích nghi với thời cuộc”. Tin tức về cuộc chiến tranh lan rộng ở Việt Nam bay đến Pari trưa 20 tháng 12 đã gây xúc động mạnh trong dư luận công chúng cũng như trong Quốc hội Pháp. Báo chí tiến bộ Pháp, đặc biệt là các báo của Đảng Cộng sản Pháp, ngay từ số ra buổi chiều ngày 20, đã lên án “cuộc chiến tranh bẩn thỉu” của đế quốc Pháp xâm lược Đông Dương. Để lừa bịp dư luận, Thủ tướng Blom nhiều lần nhắc đi nhắc lại rằng Bộ trưởng Mutê đã được chỉ thị “bằng bất kỳ giá nào cũng phải gặp và tiến tới hòa giải với Cụ Hồ Chí Minh”. Nhưng âm mưu thâm độc và thủ đoạn lừa bịp của phái hữu trong Chính phủ Pháp đã bị báo chí Pari đưa dần ra ánh sáng. Nhiều ký giả theo sát việc làm của cao ủy Đácgiăngliơ và Bộ trưởng Mutê đã sớm thấy rõ bộ mặt thật của giới cầm quyền Pháp 1. Ngay sau khi đến Sài Gòn (20-12-1946), Đácgiăngliơ được tổng chỉ huy Valuy dẫn ra Hà Nội để “chứng kiến cường độ của cơn bão” mà chính họ là những kẻ gieo gió. Vội vã trở về Sài Gòn, viên cao ủy và tướng tổng chỉ huy hy vọng sớm gặp Bộ trưởng Mutê để gấp rút tìm phương sách đối phó với tình hình mà họ cho rằng “đã trở nên không thể nào cứu vãn nổi”. Vừa đặt chân đến Cairô (thủ đô Ai Cập) và nắm được tin tức về những gì đã xảy ra ở Việt Nam đêm 19, ngài Bộ trưởng Mutê đã tính chuyện bay trở lại Pari. Nhưng rồi nghĩ rằng động tác “đằng sau quay” quá vội vã như vậy có thể đem lại hậu quả tai hại cho bản thân trong cuộc bầu cử địa phương đang diễn ra ở Pháp, cho nên cuối cùng ngài đã bay tiếp sang Tân Sơn Nhất. Như những vai kịch thành thạo đã được đạo diễn chu đáo trước khi bước lên sâu khấu, trong lời phát biểu khi đón tiếp Mutê, Đácgiăngliơ nói: “Thưa ngài bộ trưởng, qua những sự kiện xảy ra mà ngài đã biết, tôi thấy rõ ràng là ngài không thể nào gặp được ông Hồ Chí Minh”. Mutê lập tức ứng khẩu trả lời: “Thật vậy, tôi thấy không thể mời được ông Hồ Chí Minh gặp tôi và cũng chẳng còn điều gì để nói chuyện nữa”. Thế rồi, trong khi một sĩ quan “quen biết miền Bắc” được phái ra Hà Nội để “thăm dò tình hình” thì ngài bộ trưởng “đầy thiện chí hòa giải” ấy bắt đầu một cuộc du ngoạn ở Báttambang, ở vùng Ăngco và Viêng Chăn. Mãi đến ngày 2 tháng 1 năm 1947, ngài mới ra Hà Nội, đúng vào lúc có tin nói rằng phía Việt Nam sẵn sàng gặp gỡ đại diện của Chính phủ Pháp để tìm giải pháp thỏa đáng chấm dứt cuộc xung đột. Thật là nan giải, vì thiện chí giả của ngài bộ trưởng đã vấp phải thiện chí thật của Việt Minh. Ngài bộ trưởng bỗng trở nên lúng túng và lập tức trở lại Sài Gòn vì ngài “cần có thời gian để suy nghĩ”. Thế nhưng, vừa đặt chân đến Sài Gòn và chưa kịp “suy nghĩ” thì ngài bộ trưởng đã nhận được bức điện từ Pari báo cho biết rằng ngài đã bị thất bại trong cuộc bầu cử ở Pháp. Thế là mất hết. Ngài bộ trưởng hy vọng rằng, với “cuộc công cán đầy thiện chí” sang Đông Dương, ngài sẽ hốt được một số phiếu cần thiết để trở thành ông nghị ở hạt Đrôm (Drôme). Nào ngờ! Không còn tâm địa nào để đóng nốt vở kịch mà Pari đã dàn cảnh, ngài bộ trưởng rời Sài Gòn với lời tuyên bố. “Trong khi chờ đợi tình hình chính trị phát triển (?), tôi phải đi thăm ông toàn quyền Anh ở Ấn Độ theo kế hoạch đã trù tính từ trước. Sau đó tôi sẽ trở lại đây và bấy giờ mọi việc quan trọng sẽ bắt đầu...”. Nhưng rồi sau mấy ngày yến tiệc ở Ấn Độ, ngài bộ trưởng đã bay thẳng về Pari, kết thúc cái mà dư luận báo chí Pháp gọi là “một cuộc hành trình vô tích sự”, một chuyến đi “điều đình để mà không điều đình”. -------------------- 1. Tạp chí Tinh thần (Esprit) số ra tháng 4 năm 1947 vạch rõ: Trong đại hội lần thứ ba của Đảng Cộng hòa bình dân, Mắc Ăngđrê đã tiết lộ: do áp lực của phái hữu trong giới cầm quyền, Chính phủ Pháp đã chỉ thị cho Mutê sang Đông Dương “điều đình để mà không điều đình”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #46 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 12:52:16 am » |
|
KIẾN NGHỊ CỦA TƯỚNG LƠCLÉC Thật ra, khi giao cho Mutê sang công cán ở Đông Dương, Thủ tướng Pháp cũng chỉ đề ra những “yêu cầu chính trị hạn chế là tung ra một lớp hỏa mù về thiện chí hòa giải”. Còn muốn thực hiện ý đồ mà tờ Tin điện (La Dépêche) số ra ngày 21 tháng 12 đã nói toạc ra là “giải phóng Bắc Kỳ khỏi bọn giặc cỏ” (!), thì phải phái thêm một nhân vật quân sự “có kinh nghiệm về Việt Minh” sang Đông Dương vì lúc này “Đông Dương là vấn đề quân sự”. Vì vậy, ngày Mutê lên đường cũng là ngày Thủ tướng Pháp vời Lơcléc đến để “tham khảo ý kiến và giao nhiệm vụ sang thanh tra quân sự ở Đông Dương”. Lêông Blom hy vọng viên tướng đã từng “chỉ huy nổ những phát súng đầu tiên” (mở màn cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương) lại là người không kém phần “kinh nghiệm với Việt Minh”, có thể giúp cho Chính phủ Pháp tìm ra phương sách tiêu diệt được đối phương. Bạn bè của Lơcléc kể rằng, từ khi trở về Pháp (7-1946) viên tướng này “không ngừng nghĩ tới Đông Dương”. Không những ông ta theo dõi mà còn “nghiên cứu kỹ bước đường đã dẫn tới tấn thảm kịch”. Hơn ai hết, Lơcléc biết rằng “ở Bắc Kỳ, Pháp chỉ đủ lực lượng để bảo đảm an toàn cho kiều dân Pháp”, rằng “trong bất kỳ trường hợp nào, lực lượng hiện có của Pháp cũng không thể tiêu diệt được Việt Minh, không bẻ gãy được tinh thần dân tộc của người Việt Nam”. Khi được giao nhiệm vụ sang công cán ở Đông dương, Lơcléc đề nghị Chính phủ Pháp công khai tuyên bố hai điểm: “1. Nước Pháp quyết định chấp thuận cho các xứ An Nam (Lơcléc vẫn giữ quan điểm chia Việt Nam thành ba “kỳ”) mọi điều mà họ đáng được hưởng phù hợp với sự phát triển và sự trưởng thành của họ. 2. Nước Pháp cũng cương quyết đàn áp mọi hành động nổi loạn (cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam)”. Về mặt quân sự, Lơcléc yêu cầu Chính phủ Pháp “cung cấp cho quân đội viễn chinh những phương tiện cần thiết để vãn hồi an ninh, vãn hồi lực lượng so sánh như trước ngày xảy ra những biến cố. Từ đó, sẽ cùng dân An Nam đạt tới một cuộc thương thuyết trên cơ sở chiếu cố đến sức mạnh tinh thần dân tộc của họ” (!). Ngày 25 tháng 12, Lơcléc lặng lẽ rời Pari, không những vì Blom đã nhắc khéo rằng cuộc công cán này rất tế nhị do sự có mặt của Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Mutê ở Đông Dương, mà còn vì Đácgiăngliơ đã nói thẳng với Thủ tướng Pháp rằng ông ta không muốn một viên tướng năm trước còn ở dưới quyền ông ta được giao nhiệm vụ sang thanh tra quân sự. Đácgiăngliơ dọa sẽ từ chức nếu cuộc thanh tra quân sự này xúc phạm đến danh dự cao ủy của ông ta. Lơcléc đến Sài Gòn không kèn không trống, không một lời diễn văn chào mừng và tất nhiên không được Đácgiăngliơ tiếp. Họp bàn với Valuy, Lơcléc thống nhất nhận định: 1. “Việt Minh là linh hồn của cuộc kháng chiến. Họ sẽ chống lại Pháp đến cùng bằng một cuộc chiến tranh du kích lâu dài khiến cho Pháp hao mòn”. 2. Mục đích của Pháp là “lập lại trật tự”, nhưng là một thứ trật tự “khiến cho người bản xứ không hồi tưởng lại năm 1939” 1. Muốn vậy, phải dựng lên những chính phủ tự trị, trên cơ sở sự ủng hộ của các phong trào quốc gia, sự tin cậy giữa Pháp và bọn bù nhìn và sự bảo đảm tính mạng cho bọn này. Từ đó mới làm cho Việt Minh suy yếu và tiến tới tiêu diệt họ. “Tất cả những điều đó không đơn thuần là vấn đề quân sự nhưng cũng không hoàn toàn chỉ là vấn đề dân sự”. 3. Phải thay đổi người cầm đầu của Pháp ở Đông Dương. Người đó phải là một nhân vật chính trị nhưng biết điều hành về quân sự, “như vậy mới áp dụng được những nguyên tắc bình định đã từng được áp dụng hàng thế kỷ nay”. 4. Vì Pháp không đủ lực lượng để “nhận chìm” xứ này, mà nếu chỉ chiếm đóng vùng đồng bằng thôi thì không đủ. Bởi vậy công cuộc bình định phải được tiến hành trong nhiều năm và chỉ kết thúc khi chính quyền Pháp đủ sức mạnh để “giải giáp” và “loại trừ Việt Minh”. Chủ trương đó “đòi hỏi nhiều công sức vì tình hình đã trở nên quá nghiêm trọng”. 5. Phải tập trung nỗ lực quân sự vào nơi nào “chắc chắn có thể thành đạt được”. Mong muốn “giải quyết đồng thời cả ở Trung - Nam - Bắc là một điều ngông cuồng”. 6. Tóm lại, “nước Pháp phải hiểu rằng đây là vấn đề lâu dài và tốn kém”. Ngay sau cuộc họp với Valuy, Lơcléc vội vã ra Hà Nội, như để tránh mặt Đácgiăngliơ, người tỏ ra rất khó chịu vì sự có mặt của viên thanh tra quân sự ở Sài Gòn. Tại Hà Nội, sau khi nghe báo cáo tình hình, Lơcléc quyết định yêu cầu Pari triệu hồi Moóclie, tư lệnh quân đội Pháp ở miền Bắc Đông Dương, người mà Lơcléc cho rằng phải chịu trách nhiệm đầu tiên vì đã bất lực để cho quân Pháp lâm vào cảnh khốn quẫn. Song người ta cho rằng Moóclie chẳng qua chỉ là vật hy sinh, vì Lơcléc “giận cá chém thớt”, không dám động đến hai kẻ cầm đầu thực dân Pháp ở Đông Dương và cũng là hai kẻ chịu trách nhiệm chính về cuộc xung đột đang diễn biến. Thế lực của Đácgiăngliơ còn mạnh vì đằng sau Đácgiăngliơ là Đờ Gôn. Còn Valuy, vốn là bạn nối khố với Lơcléc và là quan thầy của Đebơ, y đã khéo dùng bàn tay của Lơcléc để gạt Moóclie và cất nhắc Đebơ lên thay quyền chỉ huy quân sự ở miền Bắc Đông Dương. Một trong những điều lo ngại nhất của Lơcléc là số phận của đám quân Pháp đang bị vây chặt ở thành phố Nam Định. Ngày 4 tháng 1, Lơcléc gửi cho bọn này bức điện động viên “tỏ lòng khâm phục” với lời hứa hẹn “mọi nỗ lực đều nhằm vào việc giải tỏa (Nam Định) càng sớm càng hay”. Theo lệnh của Lơcléc, ngày 6 tháng 1, quân Pháp tập trung một số đơn vị thủy đội xung kích (dinassaut) và quân dù để mở cuộc hành quân giải tỏa cho bọn Pháp ở Nam Định. Sau hai ngày, với 25 tên chết và hơn 60 tên bị thương, cuộc hành quân đã thất bại. Vòng vây của các chiến sĩ Việt Nam quanh thành phố vẫn siết chặt. Pháp chỉ dùng máy bay chuyển đi được một số tên lính hoặc bị thương hoặc không còn sức chiến đấu. Qua những trang nhật ký của viên thiếu tá Đabôvan (Daboval), chỉ huy quân Pháp ở Nam Định, người ta thấy hắn đã đánh giá cao cuộc hành quân giải tỏa, vì theo Đabôvan, mặc dù bị thất bại và phải trả bằng giá đắt, cuộc hành quân hỗn hợp thủy - không quân ấy đã nhắc khỏi vai viên thiếu tá này một gánh nặng trong lúc hắn đang ở vào thế nghẹt thở và hoàn toàn bị cô lập. --------------------- 1. Ý nói “thời kỳ hoàng kim”, Pháp toàn quyền cai trị Đông Dương, chưa bị Nhật đe dọa.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #47 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 12:53:11 am » |
|
Trở về Pháp ngày 12 tháng 1, tướng Lơcléc đã báo cáo tình hình với Thủ tướng Blom và hiến kế cứu vãn quân Pháp ở Đông Dương thoát khỏi cảnh bế tắc bấy giờ. Ý kiến của viên tướng này có thể tóm tắt như sau:
Về tư tưởng chỉ đạo, Lơcléc cho rằng các cuộc hành binh không thể giải quyết được vấn đề Đông Dương. Giải pháp quân sự phải gắn với các nỗ lực về chính trị.
Nhận xét đầu tiên của Lơcléc là, về mặt chính trị, “ảnh hưởng của ông Hồ Chí Minh và Đảng của ông (Lơcléc gọi Mặt trận Việt Minh là Đảng) đã lan rộng trên toàn cõi Đông Dương... Được sự ủng hộ ngày càng rộng rãi của dân chúng, Chính phủ Việt Nam đã tạo nên được thế mạnh để thực hiện đường lối chính trị của mình...”.
Trong khi đó thì ngược lại, “nước Pháp chẳng hiểu rõ mình muốn gì và phải làm thế nào để đạt được mục đích đó”. Lơcléc cho rằng “một nỗ lực quân sự mạnh mẽ đi đôi với một chính sách chia rẽ” bằng cách lôi kéo các phong trào đối lập các dân tộc ít người ở vùng rừng núi để chống lại Việt Minh mới “làm cho đối phương nản lòng”, mới tạo điều kiện tiến tới thương lượng và lập “một chính phủ phù hợp với lợi ích (của Pháp) ở Đông Dương và lợi ích của Khối Liên hiệp Pháp hơn là Chính phủ Việt Minh hiện nay”.
Về tình hình quân sự, Lơcléc cho rằng “ở khắp nơi, bản Tạm ước (14-9) ký kết tại Pari đã giúp cho Việt Minh củng cố thế đứng của họ, đồng thời đẩy lùi chúng ta (Pháp)”. So với miền Nam, “tình hình miền Bắc đã trở nên nghiêm trọng hơn nhiều” ... “nhất là ở Hà Nội và đường Hà Nội - Hải phòng”. Lơcléc phản đối chủ trương đánh thọc lên vùng rừng núi Bắc Việt, “một việc không thể làm được vì không đủ lực lượng, hơn nữa một cuộc hành binh như vậy là không cần thiết”. Vấn đề cấp thiết trước mắt theo Lơcléc là “trước tháng 4 (trước khi mùa mưa đến) phải khôi phục được tình hình”. Giai đoạn mười tháng vừa qua (ý nói từ tháng 3 đến tháng 12-1946 phải được coi là một thất bại (của Pháp). Trong giai đoạn sắp tới, một giai đoạn có thể kéo dài, phải chuẩn bị thêm lực lượng để đạt được các ý đồ cả về quân sự và chính trị”.
Về lực lượng so sánh Lơcléc nhận xét: “với quân số đông, vũ khí nhiều và thường xuyên được cải tiến, đối phương có thể chiến đấu lâu dài...”. Còn về phía Pháp ngoài yêu cầu tăng viện binh lực1, không có vấn đề gì cấp bách phải giải quyết. Nhưng “điều sai lầm nghiêm trọng hơn cả là (Pháp) đã đánh giá thấp tinh thần kiên trì kháng chiến của Việt Minh”.
Trên lĩnh vực hành chính, Lơcléc yêu cầu Chính phủ Pháp thay đổi một số nhân vật dân sự, những kẻ “cứng nhắc về mặt hiểu biết, cứ tưởng rằng tình hình vẫn không có gì thay đổi so với năm 1939”. Chỉ có như vậy mới “tạo nên một tinh thần mới, theo gương của Mỹ, mới tạo nên bước tiến trong mối quan hệ kinh tế, chính trị, tâm lý..., mới thấy được nguyện vọng của dân bản xứ...”.
Cuối cùng, Lơcléc kết luận: “Không thể có biện pháp nửa vời trong nỗ lực quân sự, mặc dù Đông Dương trước hết là một vấn đề chính trị. Nếu nước Pháp không muốn những biến cố ở Đông Dương tác động tai hại đến phần còn lại của Khối Liên hiệp Pháp thì phải dứt điểm trong những thời cơ có lợi nhất”.
Dư luận cho rằng những lời khuyên của Lơcléc “đã lọt tai Thủ tướng Pháp”. Chẳng thế mà sau khi nghe báo cáo, Blom liền yêu cầu tướng Lơcléc trở lại đảm nhiệm chức tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương. “Đó chỉ là bước đầu. Tướng quân sẽ đi tiếp bước nữa, tức là sẽ thay thế cả đô đốc Đácgiăngliơ, kiêm chức cao ủy...”.
Lơcléc từ chối. Thủ tướng Blom nằn nì. Lơcléc khất xin mười ngày “để suy nghĩ”.
Được hỏi ý kiến, ngày 13 tháng 1, Đờ Gôn khuyên Lơcléc nên sang Bắc Phi mà không nên trở lại Đông Dương. Theo Đờ Gôn tình hình Đông Dương trở nên nghiêm trọng là do đường lối của Chính phủ Pháp chứ không phải do Đácgiăngliơ. “Triệu hồi đô đốc về Pháp là một sai lầm. Ngược lại, phải ủng hộ ông ta”. Đờ Gôn cho rằng chỉ cần gửi viện binh sang, “tình hình quân sự sẽ thay đổi, lúc đó sẽ áp dụng chính sách mới trên cơ sở mới vững chắc hơn”.
Ý kiến của Đờ Gôn được tổng tham mưu trưởng Gioăng (Juin) tán thành.
Ngày 16 tháng 1 năm 1947, khi tướng Lơcléc biên thư trả lời Thủ tướng Pháp, từ chối không trở lại Đông Dương, cũng là lúc Vanhxăng Ôriôn (Vincent Auriol, Tổng thống Pháp) chỉ định Ramađiê (Paul Ramadier) lập nội các mới, thay nội các Blom. Ngày 6 tháng 2, Ramađiê ra bản tuyên bố vu cáo Việt Nam đã “đáp lại chính sách hòa giải của Pháp bằng mọi hành động xâm lược (!) đã được chuẩn bị từ trước”, Ramađiê dọa: “Chính phủ Pháp sẽ không tiếc bất kỳ một cái gì để quân đội Pháp có mọi thứ cần thiết... nhằm giải tỏa các đồn binh, khôi phục các đường giao thông chủ yếu…”.
Điểm mặt các tướng lĩnh Pháp có thể đưa sang Đông Dương để tiếp tục điều hành cuộc chiến tranh xâm lược Ramađiê vẫn thấy không còn viên tướng thực dân nào hơn Lơcléc, cho nên trong suốt thời gian từ 27 tháng 1 đến 10 tháng 2 năm 1947, Thủ tướng Pháp đã yêu cầu nhiều nhân vật có uy tín trong chính giới Pháp vận động để Lơcléc chấp nhận sang Đông Dương.
Đánh hơi thấy Lơcléc đã “gần như sắp sẵn sàng nhận lời thay chân Đácgiăngliơ”, Đờ Gôn bèn nổi cơn thịnh nộ và một cuộc đối mặt đầy dông tố đã xảy ra đầu tháng 2 giữa Đờ Gôn và Lơcléc. Chưa quên cương vị là người đứng đầu phong trào kháng chiến Pháp, Đờ Gôn lên án Lơcléc đã bán đứng Đông Dương (ý nói đã chủ trương ký hiệp định sơ bộ 6-3-1946 với Chính phủ Việt Nam). Cũng chẳng vừa, con người tự nhận là có công đầu giải phóng thủ đô Pari đã đập tan chiếc gạt tàn thuốc lá trước mặt Đờ Gôn và hỏi vặn lại: “thế ai là người đã bán đứng Xyri và Libăng?”2.
Nhưng rồi Lơcléc đã dứt khoát từ chối không trở lại Đông Dương. Một lần nữa. Đờ Gôn đã dùng cái uy tín bắt đầu tàn của ông ta để che chở cho viên cao ủy - đô đốc.
-------------------- 1. Lơcléc yêu cầu tăng viện thêm 90.000 quân trong vòng 2 năm 1947-1948; trước mắt cần gửi ngay sang 20.000 tên để giải tỏa các đô thị và các đường giao thông chiến lược.
2. Xem chương một, về mối quan hệ Anh - Pháp ở Trung Cận Đông 1941-1945.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #48 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 12:54:53 am » |
|
GIẢI VÂY Nội các Ramađiê được thành lập chưa bao lâu đã đứng trước những thử thách của một cơn dông tố đang nổi lên trong đời sống chính trị Pháp. Với bài diễn văn cuối tháng 3 và với việc thành lập Đảng Tập hợp dân chúng Pháp (RPF) vào giữa tháng 4, Đờ Chôn lại xuất hiện trên vũ đài chính trị. Giới cầm quyền Pháp ngày càng ngả sang hữu. Các bộ trưởng đảng viên Đảng Cộng sản Pháp bị gạt ra khỏi Chính phủ. Phong trào đình công lan rộng, nhất là trong ngành xe hơi và trong giới báo chí. Tại các thuộc địa, nhân dân Mađagaxca nổi dậy rộng khắp chống lại ách thống trị của Pháp; vua Marốc cũng tuyên bố muốn thoát khỏi ảnh hưởng của Pháp. Trong khi “từ mọi phía, chân trời đều đen tối” thì tại Đông Dương, quân đội viễn chinh “phải đơn độc đương đầu với số mệnh của mình” trước cuộc kháng chiến đang phát triển của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Giải pháp duy nhất mà Chính phủ Pháp cho rằng có thể cứu vãn được tình hình quân đội viễn chinh Pháp là tăng thêm viện binh, nhưng thật khó khăn vì vét đâu ra đủ số quân lính cần thiết để ném vào một chiến trường đang “ngốn quân như đất nẻ hút nước”. Cố gắng lắm, cuối tháng 1 năm 1947 Chính phủ Pháp mới quyết định gửi sang Đông Dương một vài tiểu đoàn đầu tiên trong số 14 tiểu đoàn lê dương và Bắc Phi được dự kiến tăng viện. Dù có được đưa sang đầy đủ, số quân này cũng chưa đáp ứng được yêu cầu tăng viện của Đácgiăngliơ hồi tháng 10 năm 1946, và lại càng quá ít ỏi so với số 90.000 quân mà Lơcléc đề nghị tăng viện sau chuyến công cán Đông Dương vừa qua. Thế nhưng, giữa lúc các tiểu đoàn trên đây đang được gửi sang Đông Dương theo kiểu nhỏ giọt, thì tình hình Mađagaxca bỗng trở nên căng thẳng, buộc Chính phủ Pháp phải giật gấu vá vai cắt xén ba tiểu đoàn để cấp tốc gửi sang đàn áp phong trào nổi dậy của nhân dân đảo này. Đầu năm 1947, vấn đề cấp thiết đối với bộ chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương là giải tỏa các đô thị lớn và các trục giao thông chiến lược quan trọng, nhất là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nhưng khả năng thực hiện chủ trương chiến lược đã hoàn toàn phụ thuộc vào tốc độ viện binh sang, nên chỉ có thể tiến hành từng bước. Trung tuần tháng 2, sau khi hoàn thành nhiệm vụ bao vây, giam chân và tiêu hao quân địch ở Hà Nội, các đơn vị vũ trang tập trung Việt Nam được lệnh rút khỏi thủ đô với mục đích bảo toàn lực lượng, để lại “một thành phố đã trở nên vô cùng điêu tàn do những hậu quả phá hoại”, như nhiều ký giả phương Tây đã nhận xét. Trong hồi ký của mình, chính tướng Xalăng cũng phải thú nhận rằng, qua các tin tức nắm được, Hà Nội đã trở thành “một khoảng không hầu như tuyệt đối... Mãi đến tháng 3 mới dần dần xuất hiện khả năng có thể tiếp tế cho thành phố này bằng các đoàn xe vận tải”. Còn ở Nam Định, sau cuộc hành binh giải tỏa thất bại, ngày 6 tháng 1 năm 1947, quân Pháp ở đây “vẫn chưa dễ thở hơn” chút nào vì vòng vây vẫn siết chặt, quân số vẫn tiếp tục bị tiêu hao. Sau khi nghe báo cáo của Lơcléc, Chính phủ Pháp chỉ thị Valuy phải gấp rút cứu nguy cho Nam Định. Khi mà quân Pháp ở thành phố này luôn luôn kêu cứu vì bị vây chặt trong cảnh không có pháo binh cũng chẳng có xe tăng..., buộc phải chống đỡ hàng ngày và ngày nào cũng có người chết và bị thương, thì viên tổng chỉ huy của họ nghĩ nhiều đến việc rút đồn binh này về Hà Nội hơn là nghĩ đến việc giải vây, lấy cớ không đủ quân. Cuối tháng 2, tức là sau tháng 70 ngày bị vây hãm, viên thiếu tá Đabôvan, chỉ huy quân Pháp ở Nam Định, ghi trong nhật ký của hắn: “Lại thêm một ngày nữa, vẫn không có gì đáng khích lệ ở phía chân trời”. Chỉ sau những bức điện gay gắt của Pari, cuộc giải vây Nam Định mới được thực hiện vào tháng 3, bằng một cuộc hành quân tốn kém kéo dài ba ngày (9 đến 11-3-1947) với sự phối hợp của thủy, lục, không quân. Mười ngày sau, số quân Pháp còn lại ở Nam Định được thay thế và đưa về Hà Nội, thiệt hại trên 1/3 quân số (theo bộ chỉ huy Pháp). Mãi đến khi đã về đến Pháp, qua các trang nhật ký của mình, Đabôvan vẫn chưa giải đáp được một vấn đề mà không ít binh lính và sĩ quan Pháp ở Đông Dương lúc đó đã đặt ra: “Từ những tổn thất đó, người ta (chỉ bọn cầm đầu Chính phủ Pháp) nghĩ gì về lý tưởng và mục đích của cuộc chiến tranh mà vì nó, biết bao thanh niên đã phải ngã xuống?”. Tiếc rằng hàng chục năm sau, khi các chính khách và tướng lĩnh Pháp hiểu được ý nghĩa câu nói của Đabôvan thì đã quá muộn. Hơn thế nữa, còn không ít những viên tướng như Xalăng vẫn giữ nguyên quan điểm thực dân của họ. Chẳng thế mà mãi đến năm 1971, khi viết tập 2 cuốn Hồi ký của mình, viên bại tướng này còn hạ bút: “Tất cả vấn đề của tương lai chúng ta là ở những lời nói đó (của Đabôvan). Khốn nỗi Pari đã không biết nghe theo... Chính quốc đã không chấp thuận những cố gắng cần thiết để giữ cho xứ (Đông Dương) này mãi mãi thuộc về mình” (!). Thật ra, giới cầm quyền Pháp rất muốn tập trung mọi cố gắng cần thiết để “tiêu diệt cái tổ ong bầu vẽ” ở Đông Dương càng sớm càng tốt. Cuối tháng 2 năm 1947, Bộ trưởng chiến tranh Côxtơ Phlorê (Coste Floret) cùng với Bộ trưởng hải quân Giắckinô (Louis Jacquinot) sang Đông Dương nghiên cứu tình hình. Phái đoàn quân sự cao cấp này của Pháp nhận xét: “Mặc dầu tình hình đã được cải thiện một phần sau những ngày khốc liệt... nhưng những khó khăn rất lớn vẫn tồn tại...”. Về tới Pháp, hai ngài bộ trưởng cũng không có phép mầu nhiệm gì hơn so với Lơcléc hai tháng trước đó để hiến kế với Chính phủ. Vẫn lại chuyện xin “cấp tốc tăng thêm quân, tăng thêm cơ sở vật chất cho các chiến binh tuyệt diệu của chúng ta”. Bọn chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương đặt rất nhiều hy vọng vào “những kiến nghị có đầy đủ sức nặng” của hai ngài bộ trưởng, những người đã được thấy tận mắt cảnh khốn quẫn của chúng sau ba tháng mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược. Chúng biết đâu rằng, giữa lúc Chính phủ Pháp đang đứng trước cảnh bị giằng xé trăm bề cả về kinh tế và chính trị thì tránh sao khỏi kết quả là sau khi hai ngài bộ trưởng trở về nước, vẫn chẳng có gì đáng kể được gửi sang Đông Dương.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #49 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 12:56:18 am » |
|
CAO ỦY MỚI, ĐƯỜNG LỐI CŨ Nếu “có gì đáng kể” thì đó chính là việc triệu hồi Đácgiăngliơ về Pháp và cử Bôla (Emile Bollaert) sang thay thế làm cao ủy để tiếp tục “duy trì sự có mặt của nước Pháp ở Đông Dương”. Để lừa bịp dư luận, dọn đường cho viên cao ủy mới, ngày 18 tháng 3, Thủ tướng Pháp tuyên bố trước Quốc hội rằng “vấn đề Đông Dương không thể giải quyết bằng vũ lực mà phải bằng giải pháp chính trị... Sự có mặt của Pháp ở Đông Dương không nhằm mục đích đô hộ mà là để hợp tác với các nước trong Liên bang Đông Dương...”. Ông ta còn đưa ra nhiều điều hứa hẹn, nào là “sẵn sàng để các dân tộc Đông Dương được hưởng độc lập, có quân đội và ngoại giao riêng...”, nào là “nếu toàn dân Việt Nam muốn thì nước Việt Nam sẽ được thống nhất...” v.v... (!). Báo chí tiến bộ ở Pari lập tức nhắc lại lập trường của Việt Nam là độc lập, thống nhất và vạch rõ: muốn tạo điều kiện thuận lợi để tiến tới một cuộc gặp gỡ giữa đại diện của hai chính phủ, trước hết phía Pháp phải tuyên bố ngừng bắn để cùng phía Việt Nam tìm giải pháp chấm dứt cuộc xung đột. Trên cơ sở đó, mọi vấn đề khác sẽ được giải quyết dễ dàng, quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp sẽ được tôn trọng. Báo chí của Đảng Cộng sản Pháp và dư luận tiến bộ ở Pari đã nhắc lại cuộc tranh luận ở Quốc hội về vấn đề Việt Nam tuần lễ trước (11-3-1947). Người ta được biết rằng trong cuộc tranh luận, chỉ riêng Đảng Cộng sản Pháp và một số nhân sĩ tiến bộ như Pie Cốt (Pierre Cot) chủ trương dứt khoát: đình chỉ ngay cuộc chiến tranh để dàn xếp với Chính phủ Hồ Chí Minh. Đồng chí Lôdơray (Lozeray) tuyên bố tại diễn đàn Quốc hội: “Phải dàn xếp và dàn xếp với Cụ Hồ Chí Minh và Việt Minh, những người đại biểu thực sự của Việt Nam”. Đồng chí phản đối việc “người ta từ chối những khoản tiền để cải tạo nước Pháp và người ta sẽ bỏ phiếu tán thành hàng ngàn triệu để tạo ra một tình thế không thể cứu vãn...”. Cũng tại diễn đàn Quốc hội đồng chí Đuyclô (J. Duclos) Phó chủ tịch Quốc hội đã lên án cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương, “một cuộc chiến tranh làm cho nước Pháp hại người, hại của”. Đồng chí khẳng định: “Chính sách vũ lực sẽ đưa chúng ta (nước Pháp) đến chỗ sụp đổ... Chính sách dàn xếp sẽ cứu vãn khối Liên hiệp Pháp...”. Ngày 21 tháng 3 năm 1947, Quốc hội Pháp lại thảo luận về ngân quỹ chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp quyết nghị: “... không thể bỏ phiếu tán thành ngân quỹ quân sự để tiếp tục cuộc chiến tranh”. Ngoài các nghị sĩ cộng sản, có hai phái nữa cũng không bỏ phiếu tán thành ngân quỹ chiến tranh đánh Việt Nam. Đó là nhóm Hồi giáo độc lập (ở Bắc Phi) và nhóm Phục hưng Mangát (ở Mađagaxca). Phe tán thành ngân quỹ quân sự chỉ thu được chưa đầy hai phần ba số phiếu ở Quốc hội. Điều đó chứng tỏ rằng chủ trương dàn xếp với Việt Nam không những chỉ có ở nước Pháp mà cả thuộc địa Pháp nữa. Thái độ làm ngơ của Chính phủ Pháp đã khiến dư luận vạch ra rằng: việc tiếp tục tăng quân đi đôi với việc cử một nhân vật chính trị như Bôla sang làm cao ủy ở Đông Dương chứng tỏ giới cầm quyền Pháp âm mưu đẩy mạnh nỗ lực quân sự nhằm đạt tới mục tiêu trái ngược với yêu cầu ngừng bắn để đàm phán của Việt Nam. Tới Sài Gòn ngày 1 tháng 4, Bôla được Valuy cho biết tình hình mọi mặt ở Đông Dương, trong đó tổng chỉ huy đặc biệt lưu ý viên cao ủy mới về tình hình Bắc Bộ. Theo Valuy, “tại đây, mặc dù Việt Minh đã bị đẩy lùi (khỏi các đô thị), nhưng họ còn giữ được lực lượng, còn duy trì được khả năng tiến công chúng ta (Pháp) trên các trục giao thông... Điều nguy hiểm hơn cả là họ thường xuyên củng cố được lực lượng... Do thiếu binh lực nên chúng ta (Pháp) buộc phải dừng lại chiếm đóng tĩnh tại mà không thể bám sát đối phương được... Hiện nay nhu cầu về phương tiện cơ động của chúng ta rất lớn, đặc biệt là không quân và cơ giới…”. Để thực hiện chủ trương chiến lược ấp ủ từ lâu, song không được sự đồng tình của Lơcléc khi viên tướng này sang công cán ở Đông Dương hồi đầu năm, Valuy đề nghị với Bôla: “Để truy lùng Việt Minh đến tận sào huyệt của họ, tức là nơi họ đã lui quân về (ý nói vùng rừng núi Việt Bắc), chúng ta phải có thêm quân và ở Hà Nội (ý nói ở bộ chỉ huy chiến trường Bắc Bộ) phải có một cấp chỉ huy am hiểu xứ này, am hiểu miền thượng du. Tôi đề nghị tướng Xalăng được bổ nhiệm sang đây giúp tôi thực hiện kế hoạch này”. Một mặt đồng tình để Valuy xúc tiến chuẩn bị cho “đòn quân sự quyết định”, mặt khác Bôla luôn luôn tỏ ra muốn “tạo một bộ mặt mới, bộ mặt hòa bình của Pháp ở Đông Dương”. Người ta thấy viên cao ủy mới “công khai tỏ ra muốn thương lượng với Việt Minh”, tuyên bố bỏ chế độ kiểm duyệt báo chí, thay thế Pinhông và Tôren, “hai nhân vật nòng cốt cho chính sách thuộc địa của cao ủy cũ”...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|