Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:43:07 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu  (Đọc 56230 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #70 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:19:50 am »


KẾ HOẠCH RƠVE – VỤ ÁN RƠVE

        Tháng 7 năm 1949.

        Trong khi tại Pháp, quan điểm chiến lược của Rơve đang dần dần trở thành cái gọi là kế hoạch Rơve thì tại Đông Dương, Bledô tiếp tục các cuộc tranh luận để bênh vực cho quan điểm chiến lược đó hoặc ít nhất cũng làm giảm bớt sự chống đối của ba viên chỉ huy ba quân chủng.

        Tại cuộc họp ngày 23, nếu tướng Bôđê (Bodet, tư lệnh không quân) tán thành chủ trương rút Cao Bằng để tránh một thất bại tuy cục bộ nhưng nghiêm trọng thì ngược lại, tướng Alécxăngđri vẫn kiên quyết phản đối chủ trương đó.

        Là tư lệnh lục quân và cũng là người trực tiếp phải thực hiện kế hoạch rút Cao Bằng, Alécxăngđri cho rằng trước mắt có thể rút bớt các vị trí chung quanh Cao Bằng và chuẩn bị để - khi tình thế bắt buộc - sẽ rút quân khỏi các cứ điểm từ Cao Bằng đến bắc Thất Khê; đồng thời với việc rút Cao Bằng, phải chiếm đóng ngay vùng Việt Trì, Thái Nguyên, Lục Nam để củng cố thế phòng ngự vùng bắc châu thổ sông Hồng. Rút Cao Bằng ngay lúc này không những dẫn đến nguy cơ buộc Pháp phải rút khỏi Bắc Bộ mà còn bị dư luận lên án về “sự bất lực và thái độ bỏ rơi” của Pháp..., không khỏi ảnh hưởng xấu đến chính quyền Bảo Đại.

        Sau một ngày tranh cãi, Alécxăngđri vẫn không nhượng bộ, đến nỗi tổng chỉ huy Bledô phải lên án: “Trong cuộc chiến tranh này, nhiều hiện tượng vô kỷ luật đã bộc lộ trong quân đội (Pháp). Mỗi sĩ quan cấp tướng đều muốn điều hành cuộc chiến tranh theo sở thích của mình. Đã đến lúc phải chấm dứt hiện tượng đó... Nếu một khi đã có quyết định của cấp trên, thì cấp dưới chỉ có hai cách xử trí: một là chấp hành, hai là hãy từ chức đi cho rảnh...”.

        Đô đốc Oóctôli (Ortoli, tư lệnh hải quân), người vốn ăn cánh với Alécxăngđri, đến lúc này mới lên tiếng châm biếm: “Ở cấp tổng chỉ huy, đeo vào người một kế hoạch mà chính mình không tin tưởng là làm được thì đó không phải là một sự tuân lệnh mà là một cuộc tự sát”.

        Tổng chỉ huy Bledô nổi khùng kết thúc cuộc họp bằng một lời khẳng định: Cứ chấp hành lệnh của Rơve, rút Cao Bằng vào giữa tháng 9 (nếu khi đó Pari không phản đối), đồng thời sẽ đánh chiếm Thái Nguyên. Vấn đề mở rộng phạm vi chiếm đóng ở đồng bằng sông Hồng chưa đặt ra trong lúc này... Tướng Alécxăngđri buộc phải tạm thời tuân lệnh với thái độ bất mãn rõ rệt. Viên tướng cứng đầu này hy vọng sẽ có dịp trình bày quan điểm của mình với những nhân vật tai to mặt lớn ở Pari... hy vọng quan điểm của giới quân nhân thuộc địa kỳ cựu sẽ được Pari đánh giá cao hơn là những ý kiến của bọn tướng chính quốc.

        Mặc dù tổng chỉ huy đã kết luận, lại một lần nữa, vấn đề rút hay không rút quân khỏi Cao Bằng vẫn chưa thực sự ngã ngũ.

        Những người tham gia cuộc tranh cãi trên đây không hề biết rằng lúc này tại Pari, tác giả của đề tài tranh cãi - tướng Rơve - đang ngày càng bị thất thế và đang là nạn nhân của những sự tranh chấp giữa các giới cầm quyền Pháp chung quanh vấn đề chiến tranh Đông Dương.

        Từ mùa hè 1949, qua báo chí Pháp, người ta thấy sự phân hóa về đường lối chính trị của Chính phủ Pháp không những chỉ nảy nở trong hàng ngũ các tướng lĩnh mà cả trong giới dân sự và ngày càng lan rộng ở Pari. Những lời dèm pha, những chiến dịch chống đối, những cuộc cãi vã thường nổ ra chung quanh đề tài Đông Dương và Bắc Phi. Báo chí của thế giới tư bản coi nước Pháp như một “con bệnh ở châu Âu”. Họ không giải thích nổi vì sao “một trong tứ cường” (!) đã trút sang Đông Dương đủ loại máy bay, pháo binh và phương tiện thông tin hiện đại... là những thứ mà Việt Minh không có, vậy mà đội quân viễn chinh Pháp vẫn không sao rút chân ra khỏi “vũng bùn Đông Dương”. Báo chí Pari còn phản ánh những thực tế đáng buồn qua những bức thư của binh lính từ Đông Dương gửi về. Những bức thư đó đã vẽ lên bức tranh khá đậm nét về sự tiến bộ đều đặn của đối phương cả về trang bị, huấn luyện và cách đánh. Và sự tiến bộ đó đã dẫn đến ngày càng nhiều trận đánh đẫm máu mà quân đội viễn chinh Pháp không sao tránh khỏi. Những bức thư Đông Dương khiến dư luận Pháp ngày càng chú ý đến trạng thái tinh thần sa sút của binh lính viễn chinh Pháp, những người đã dám công khai thừa nhận rằng Pháp không thể giải quyết vấn đề Đông Dương bằng biện pháp quân sự.

        Giữa lúc bấy giờ, ngay tại thủ đô Pari bỗng lại nổ ra một sự kiện quá đặc biệt, làm cho nội tình nước Pháp đã rối lại càng rối thêm. Chính viên tham mưu trưởng lục quân, tướng Rơve, người vừa nhận ngôi sao thứ năm trong dịp đi công cán Đông Dương, đã sắm vai chính trong vụ bê bối này, một vụ bê bối đã buộc ông ta phải rút lui khỏi cuộc đời binh nghiệp.

        Trở về Pháp sau cuộc thanh tra quân sự, Rơve báo cáo chủ trương chiến lược của mình với Thủ tướng Cơi. Được Thủ tướng chấp thuận, Rơve soạn thảo ra cái gọi là “kế hoạch Rơve”, với hy vọng tướng Bledô, người thân tín của mình, sẽ sớm biến nó thành hiện thực trên chiến trường Đông Dương.

        Bỗng nhiên, khoảng hạ tuần tháng 8, Pari nhận được báo cáo của cao ủy Pinhông nói rằng kế hoạch Rơve đã bị lộ. Rơve và những người liên quan, trong đó có tướng Mát (Mast) và một nhân vật dân sự, một ông Pâyrê (Peyré) nào đó bị chất vấn. Tiền gửi nhà băng của họ bị kiểm soát (vì có nhiều nguồn tin nói chính Rơve đã bán bản kế hoạch mang tên mình).

        Vụ án từ chỗ đang được điều tra bí mật trong giới có thẩm quyền bỗng trở thành một đề tài công khai trên báo chí từ tháng 9, dưới đầu đề giật gân: Vụ bê bối của các vị tướng. Dư luận đặt vấn đề: phải chăng đã có bàn tay cỡ chóp bu ở Pari nhúng vào vụ này? Phải chăng người ta cố tình hạ bệ Rơve1. Dư luận nói nhiều đến Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Côxtơ Phlorê, người đã nhiều lần va chạm với Rơve và đã từng gán cho viên tướng này “tư tưởng hữu khuynh và bỏ rơi” muốn giải quyết vấn đề Đông Dương bằng con đường thương lượng (?).

        Bị cô lập và thất thế trước cả một “bầy bộ trưởng nô lệ của các đảng cực hữu” và tự thấy bị làm nhục, tướng Rơve yêu cầu ra khỏi quân đội. Tướng Mát cũng được về hưu. Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương - tướng Bledô - người thân tín của Rơve, bị triệu hồi.

        Trong một thời gian dài, vụ án Rơve bị phơi bày trên các cột báo, được đem ra tranh luận trong các phòng trà. Một ủy ban được Quốc hội Pháp cử ra để tiếp tục cuộc điều tra. Kết luận của ủy ban này là: sở dĩ có vụ án Rơve (cũng như các vụ bê bối khác trước đây: vụ buôn bạc, vụ buôn lậu rượu vang, vụ bán tin tức tình báo của một viên đại tá nào đó và cả vụ buôn thuốc phiện của tổng chỉ huy Xalăng... ) là do bộ máy điều hành của nước Pháp đã ruỗng nát, một sự ruỗng nát xuất hiện từ khi chiến tranh xâm lược Đông Dương bắt đầu.

        Cuối cùng vụ án Rơve rồi cũng bị chôn vùi trong các tập hồ sơ của Bộ Quốc phòng Pháp, nhưng nó đã để lại trong tâm trí quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương “một mối hoài nghi về sự lừa lọc và phản trắc của các tướng lĩnh”.

---------------------
        1. Theo nguyên văn: Cắt cỏ dưới chân tướng quân.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #71 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:21:20 am »


PARI VÀ SÀI GÒN: BI QUAN - BẾ TẮC

        Từ cuối tháng 8, khi vụ án Rơve còn được giữ kín, Chính phủ Pháp đã nghĩ đến chuyện thay thế tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương, vì Bledô đã bị liệt vào hàng những kẻ đồng lõa với Rơve. Ở Pari, có người nghĩ rằng Alécxăngđri có thể được cất nhắc vào chức vụ đó. Chính viên tướng này cũng hy vọng như vậy, vì tin rằng mình có ưu thế hơn người về “thâm niên ở Đông Dương”, trong đó nổi lên thành tích chỉ huy cuộc tháo chạy tháng 3 năm 1945 (!). Thế nhưng, Alécxăngđri lại không hề được ghi trong danh sách tiến cử của bộ Pháp quốc hải ngoại.

        Nhiều viên tướng loại “cỡ” như Manhăng (Magnan) hoặc Guyôm (Guillaume) thì khước từ thẳng thừng vì “không muốn đụng đến cái tổ ong Đông Dương”, nơi mà từ bốn năm nay nhiều tướng lĩnh Pháp loại đàn anh như Lơclée đã kết luận rằng dù có 50 vạn quân, Pháp cũng không hy vọng giành thắng lợi về quân sự.

        Được Thủ tướng Cơi vời đến, lúc đầu tướng Cácpăngchiê (Marcel Carpentier) cũng từ chối vì lý do sức khỏe không phù hợp với khí hậu nhiệt đới vì không hiểu biết gì về chiến trường Đông Dương và nhất là vì không phải là lính thuộc địa kỳ cựu, tuy lúc bấy giờ ông ta đang chỉ huy quân đội Pháp ở Marốc (!). Thế nhưng, được lời khích lệ của Thủ tướng, rồi của Tổng thống, Cácpăngchiê tự nhiên “bỗng tin rằng mình sẽ quen với chiến trường Đông Dương, và cuối cùng viên tướng này đã nhận lời, cũng tức là đã gỡ cho Chính phủ Pháp thoát khỏi cảnh bối rối.

        Dư luận Pari tỏ ra lo ngại về việc tướng Cácpăngchiê được cử sang Đông Dương. Chính những người vốn cho rằng viên tướng này luôn luôn thành công trên mọi cương vị công tác lại được tướng Gioăng ủng hộ, cũng tỏ ra nghi ngờ rằng giờ đây được ném vào một cuộc phiêu lưu rất xa lạ, liệu Cácpăngchiê có làm nên trò trống gì không? Còn số khá đông tướng lĩnh Pháp thì cho rằng một viên tướng đa nghi, xảo trá, nhiều thủ đoạn như Cácpăngchiê e khó điều khiển nổi bọn tướng thực dân già đời ở Đông Dương (như loại Alécxăngđri), những kẻ coi quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương như “của riêng họ”.

        Ngày 3 tháng 9 năm 1949, vừa đến Sài Gòn và chưa kịp nhận bàn giao1, Cácpăngchiê đã nhận được một tin không vui: một đoàn xe vận tải của quân Pháp, trên đường từ Lạng Sơn lên tiếp tế cho Cao Bằng bị phục kích và thiệt hại nặng: 30 xe GMC bị phá hủy, trên 60 tên bị chết và bị thương, trên 40 tên mất tích. Tân tổng chỉ huy vội vã bay đi Lạng Sơn và sau khi đã nắm tình hình, tướng Cácpăngchiê chỉ biết ngao ngán rút ra một kết luận “do thiếu sự phối hợp hành động” (?).

        Một tiểu đoàn lính da đen được cấp tốc điều lên tăng cường cho các cứ điểm dọc đường số 4, một số tiểu đoàn khác cũng được lệnh lên tiếp sau. Tuy nhiên, một chi tiết đáng chú ý là, trong báo cáo đề ngày 15 tháng 10 gửi về Pari, Cácpăngchiê nói ông ta vẫn “không thể bảo đảm với Chính phủ rằng rồi đây sẽ không còn những trận phục kích gây cho chúng ta (Pháp) những tổn thất tương tự”.

        Một trong những việc được Cácpăngchiê quan tâm trước tiên là cải tổ guồng máy chỉ huy quân viễn chinh. Chức chỉ huy lục quân bị bãi bỏ. Alécxăngđri được giao chức chỉ huy quân Pháp ở miền Bắc Đông Dương. Săngxông (Chanson) thay Đờ Latua (Boyer de Latour du Moulin) ở Nam Bộ.

        Khoảng trung tuần tháng 10, giữa lúc người Pháp ở Sài Gòn đinh ninh rằng kế hoạch Rơve đã trở thành tờ giấy lộn (vì đã bị lộ), giữa lúc mọi nỗ lực quân sự của Pháp đang hướng vào việc củng cố và mở rộng phạm vi chiếm đóng ở đồng bằng Bắc Bộ, thì báo chí Pari lại nói nhiều đến việc Việt Minh không ngừng mạnh tay trên đường số 4. Chính phủ Pháp đã nhân đó đốc thúc cả cao ủy và tổng chỉ huy phải rút quân khỏi Cao Bằng và đánh chiếm Thái Nguyên vào tháng 11 như Hội đồng Quốc phòng Pháp đã quyết nghị.

---------------------
        1. Thật ra, Bledô lánh mặt rồi chuồn thẳng về Pháp, không chịu bàn giao công việc cho tổng chỉ huy mới.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #72 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:21:51 am »


        Lập tức cái gọi là Hội đồng phòng thủ Đông Dương được triệu tập ở Sài Gòn. Sau khi phân tích tình hình, bọn cầm đầu quân đội Pháp nhất trí không chấp hành lệnh rút quân khỏi Cao Bằng vì: 1. Đối phương chưa trực tiếp uy hiếp vị trí này; 2. Không nên bỏ trống một địa bàn quan trọng ở biên giới trong khi quân Tưởng đang rút chạy hỗn loạn ở Hoa Nam; 3. Rút Cao Bằng sẽ ảnh hưởng đến tinh thần bọn ngụy; 4. Việc chiếm đóng Thái Nguyên là “điều mong ước”, nhưng chưa đủ sức thực hiện trong lúc này.

        Do quyết định trên đây, sân bay Cao Bằng được mở rộng và củng cố, một cầu hàng không Lạng Sơn - Cao Bằng được thành lập để tiếp tế cho các cứ điểm phía bắc Thất Khê, bắt đầu từ giữa tháng 1 năm 1950. Bọn Pháp hy vọng cầu hàng không dọc đường số 4, tuy rất tốn kém nhưng sẽ giúp chúng khắc phục được khó khăn trước đây là phải mất trên dưới 20 ngày đi và về mới thực hiện được một chuyến tiếp tế bằng xe vận tải, khiến cho số hàng vận chuyển bị tiêu thụ đi một phần trên đường và nhất là khiến cho đối phương luôn tổ chức những trận phục kích trên “con đường máu”.

        Từ cuối năm 1949, trong cơ quan tham mưu quân viễn chinh Pháp dư luận bàn tán nhiều về tâm trạng bi quan của tướng tổng chỉ huy trước tình hình không có dấu hiệu gì đáng gọi là sáng sủa. Bảo Đại không dám “công khai thách thức với Việt Minh” như Cácpăngchiê yêu cầu. Tướng Alécxăngđri thì cứ ngồi lỳ trong sở chỉ huy ở Hà Nội với thái độ bất hợp tác rõ rệt. Do chưa tìm được người thay thế nên vẫn đành phải để đại tá Côngxtăng (Constans), một người có dáng dấp lính văn phòng hơn là lính chiến, chỉ huy khu biên thùy Đông Bắc (Z.F.N.E.), một chiến trường được coi là “có tầm vóc quốc tế”.

        Nỗi bi quan của Cácpăngchiê bộc lộ rõ rệt đến nỗi nhiều bạn bè ở Pari đã khuyên viên tổng chỉ huy nên từ chức vì thấy ông ta quá nhu nhược không dám quyết định cả những việc thấy cần phải làm. Cácpăngchiê không nghe theo những lời khuyên đó vì hy vọng rằng chính quốc sẽ sáng suốt chấp thuận những chủ trương chiến lược do mình đề đạt.

        Trong một dịp về Pháp tháng 12 năm 1949, được Tổng thống Pháp hỏi về triển vọng cuộc chiến tranh Đông Dương. Cácpăngchiê thẳng thắn trả lời là Pháp không có hy vọng gì để giành thắng lợi về mặt quân sự. Viên tướng tổng chỉ huy đề đạt một giải pháp chính trị. Tổng thống Ôriôn khẳng định lại với Cácpăngchiê rằng “nước Pháp không nên biến mình thành những kẻ bỏ rơi mất Đông Dương”.

        Nhưng làm thế nào để khỏi “mất” Đông Dương? Đó là điều bế tắc, là bài toán không có lời giải, không những đối với Cácpăngchiê và bọn chỉ huy quân viễn chinh Pháp mà cả với Ôriôn và Chính phủ Pháp do ông ta đứng đầu.

        Trong những ngày lưu lại ở Pari, Cácpăngchiê được nghe quá nhiều tin tức không có lợi cho sự nghiệp viễn chinh của mình. Công nhân khuân vác không chịu xếp dụng cụ chiến tranh lên tàu sang Đông Dương. Công nhân các xưởng đóng tàu ở Brét, Lôriăng, Tulông đình công. Thủy thủ tàu Paxtơ chống lại lệnh trưng tập. Ở Nixơ, 2.000 người biểu tình chống cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương đã xung đột với cảnh sát và vứt tung các kiện hàng quân sự ra đường phố. Ở Grơnôblơ, một khẩu pháo bị bẩy ra khỏi toa tàu. Nhiều đám cháy xảy ra ở các nhà ga và bến cảng, nơi xuất phát của các chuyến tàu chở dụng cụ chiến tranh sang Đông dương. Các gia đình Pháp giữ không cho con em họ tòng quân...

        “Căn bệnh bi quan” của Cácpăngchiê càng tăng khi viên tướng này trở lại Đông Dương và nhận được nghị quyết mới của hội đồng các tham mưu trưởng Pháp đề ngày 4 tháng 2 năm 1950. Hội đồng nhận định: không phải chờ đến 1951 mà ngay trong năm 1950 này “chính quốc” đã không thể đài thọ nổi nếu quân số viễn chinh Pháp vẫn đông như hiện nay. Đông Dương đã ngốn 85% sĩ quan và 75% hạ sĩ quan Pháp. Việc bòn rút quân Pháp ở Bắc Phi đưa sang Đông Dương đã khiến cho nền an ninh của Pháp ở Tuynidi, Marốc và Angiêri xuống tới giới hạn thấp nhất. Theo ý kiến của hội đồng, một mặt phải duy trì những nỗ lực quân sự ở Nam Bộ, mặt khác (dù phải chịu cay đắng) cũng cần rút bỏ một số vị trí ở Bắc Bộ, lui về giữ những vùng có giá trị cả về quân sự và chính trị. Cụ thể là hãy rút quân khỏi Cao Bằng, củng cố thế chiếm đóng trên trục đường số 5, thu hẹp phạm vi kiểm soát ở đồng bằng về tới Nam Định...

        Tuy Cácpăngchiê và bọn cầm đầu quân đội Pháp ở Đông Dương đều thấy trước nguy cơ nếu tiếp tục chiếm đóng Cao Bằng nhưng trong thâm tâm họ chưa muốn rút bỏ cứ điểm này. Rút hay không rút khỏi Cao Bằng? Câu hỏi đó phản ánh mâu thuẫn gay gắt giữa tập trung và phân tán binh lực, giữa tham vọng mở rộng kiểm soát trên chiến trường rừng núi và yêu cầu co về để giữ vững đồng bằng... Những mâu thuẫn có tính quy luật trong cuộc chiến tranh xâm lược luôn luôn giằng xé bất kỳ viên tướng viễn chinh nào ở Đông Dương.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #73 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:22:16 am »


        Những mâu thuẫn đó ngày càng tăng khi đối phương không ngừng đẩy mạnh hoạt động trên đường số 4, nơi thiệt hại của quân Pháp ngày càng nặng nề. Ngân sách được Pari chấp thuận chỉ đủ cho một đội quân viễn chinh chừng 120 nghìn tên, trong khi đó thì trên thực tế quân số Pháp ở Đông Dương đã lên tới 150 nghìn mà vẫn không đủ sức đối phó với đối phương trên các chiến trường, trước hết là Bắc Bộ. Quân ngụy thì tiến triển quá chậm và chưa phát huy tác dụng gì đáng kể để giảm bớt gánh nặng cho quân đội Pháp.

        Biện pháp Cácpăngchiê cho rằng có ích là: gửi một tờ trình lên Thủ tướng Pháp giãi bày nỗi ưu tư của kẻ đứng mũi chịu sào ở Đông Dương sau khi nghiên cứu nghị quyết đầu tháng 2 năm 1950 của hội đồng tham mưu trưởng Pháp. Trong tờ trình viên tổng chỉ huy nhận định rằng năm 1950 bắt đầu với những triệu chứng không có gì là tốt đẹp đối với Pháp. Liên Xô và Trung Quốc đã công nhận và ủng hộ nước Việt Nam kháng chiến. Lực lượng của họ đã mạnh hẳn lên, trong khi đó thì Pháp và tay sai ngày càng đuối sức. Quân Pháp, mặc dù thiếu nhiều sĩ quan có năng lực, vẫn phải đảm nhiệm cả công việc bình định vì quân ngụy quá yếu. Nếu quân Pháp và quân Âu - Phi bị rút bớt đi thì sẽ dẫn đến nguy cơ sụp đổ. Trước mắt và cả năm tới (1951), hai nhiệm vụ bảo vệ biên giới và càn quét bình định vẫn là những vấn đề đau đầu với bộ chỉ huy quân đội Pháp. Theo Cácpăngchiê, nếu Pháp muốn tiếp tục ván bài Đông Dương, chỉ có xin viện trợ của Mỹ mới cứu vãn được tình thế đã quá bi đát. Viên tướng tổng chỉ huy cho rằng “khối lượng viện trợ không quan trọng bằng thời hạn mà sự viện trợ được tiến hành” tức là càng sớm càng tốt. Cácpăngchiê hy vọng rằng trong một thời gian hết sức ngắn (nếu có thể được thì trong khoảng tháng 3, tháng 4 năm 1950) sự có mặt của tàu chiến Mỹ chở phương tiện chiến tranh vào cảng Hải Phòng hoặc Sài Gòn sẽ “gây nên một sự kích động tâm lý rất lớn” đối với Bảo Đại và các phần tử lừng chừng khác, đồng thời sẽ “làm nản lòng Việt Minh” (!).

        Nếu tờ trình của Cácpăngchiê đã có tác dụng thúc đẩy Chính phủ Pháp gấp rút xin viện trợ quân sự Mỹ cho quân đội Pháp ở Đông Dương thì nó cũng khiến cho Bộ tham mưu Pháp tỏ ra kiên quyết hơn đối với thái độ do dự của viên tướng này. Ngày 22 tháng 3, trong chỉ thị gửi Cácpăngchiê, Bộ tham mưu nhắc lại biện pháp chiến lược mà hội đồng tham mưu trưởng đã quyết nghị. Cụ thể là phải gấp rút tăng cường quân ngụy để giảm bớt gánh nặng cho quân đội Pháp, để có thể nhanh chóng tập trung quân Pháp và Âu - Phi về giữ đồng bằng nhằm tránh xảy ra những tai biến lớn do sự lớn mạnh quá nhanh của đối phương.

        Mùa hè 1950, báo chí Pháp và phương Tây thường dẫn lời tuyên bố của tướng Alécxăngđri nói quân Pháp ở Bắc Bộ đã làm chủ được đồng bằng và đang chuẩn bị hướng nỗ lực quân sự lên vùng rừng núi. Vì chủ quan ngạo mạn hoặc vì thiển cận về chiến lược, Alécxăngđri không thấy được một thực tế là tám chiến dịch mở rộng và củng cố thế chiếm đóng của quân Pháp ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ1 tuy có gây cho đối phương ít nhiều khó khăn nhưng đồng thời cũng đem lại hậu quả là, vào giữa năm 1950, khi phạm vi chiếm đóng của Pháp đã mở rộng nhất thì cũng là lúc lực lượng của chúng căng ra mỏng nhất và lực lượng cơ động chiến lược hầu như không còn nữa nên đã không đủ sức đối phó với lực lượng vũ trang của đối phương. Chẳng thế mà nhiều ký giả Pháp và phương Tây đã châm biếm: Nếu hỏi rằng trên thực tế quân viễn chinh Pháp đã “kiểm soát” được gì ở đồng bằng sông Hồng thì ít nhất ai ai cũng thống nhất một điểm: ban đêm, quyền làm chủ hầu như thuộc về Việt Minh.

        Khốn nỗi, Alécxăngđri lại đang nuôi tham vọng quân sự đầy phiêu lưu: nhanh chóng hoàn thành bình định ở đồng bằng trong một thời gian ngắn để dồn toàn bộ lực lượng lên vùng rừng núi hòng truy lùng đối phương ở tận sào huyệt của họ (!).

        Song, Alécxăngđri còn chưa kịp thi thố tài năng thì từ biên giới Đông Bắc “một tin không vui” bay về: cứ điểm Đông Khê bị đối phương tiêu diệt, ngày 25 tháng 5.

---------------------
        1. Tám chiến dịch nhằm kiểm soát thêm một số vùng thuộc các tỉnh trung du và đồng bằng: 1) 7-1949 Bastille: Bắc - Bắc; 2) 8-1949 Canigou: Vĩnh Phúc; 3) 10-1949 Anthracite: Bùi Chu - Phát Diệm; 4) 12-1949 Diabolo: Hải Dương - Hưng Yên; 5) 2-1950 Tonneau: Thái Bình; 6) 4-1950 Davide: Vân Đình, 7) 4-1950 Nine: Ninh Bình; 8 ) 5-1950 Foudre: Phủ Lý.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #74 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:23:30 am »


SÔNG XEN HÒA VỚI SÔNG HỒNG

        Mất Đông Khê là một sự kiện được nhiều tướng lĩnh Pháp gọi là một tin sét đánh, không những vì hai đại đội Âu Phi nhanh chóng bị tiêu diệt mà còn vì lần đầu tiên đối phương dùng pháo binh chi viện cho bộ binh tiến công trong một trận đánh mãnh liệt quy mô trung đoàn. Cứ điểm Đông Khê, một “bậc thang quan trọng” trên tuyến đường Lạng Sơn - Cao Bằng, nhanh chóng bị san phẳng.

        Các ký giả Pháp, nhất là những người có mặt ở vùng biên giới Đông Bắc cuối tháng 5 năm 1950, có dịp mô tả về “sức chống đỡ tuyệt vọng” của quân Pháp chiếm đóng Đông Khê (hai đại đội 2 và 3 của tiểu đoàn 1/8 RTM và một đại đội ngụy) những kẻ dựa vào pháo binh, súng cối, súng máy và công sự cũng không tránh khỏi bị tràn ngập. Họ cũng mô tả về sự chỉ huy tuyệt vời của cán bộ Việt Minh đã nhanh chóng làm câm họng các khẩu pháo 105 và 75 milimét, tạo điều kiện tiêu diệt quân Pháp trong cứ điểm. Nhiều bài tường thuật được kết thúc bằng những lời nhận xét: Trận đánh chứng tỏ Việt Minh đã có lực lượng mạnh để đọ sức với quân Pháp... rõ ràng họ đủ sức tiêu diệt bất cứ vị trí nào của Pháp trên đường số 4... Vậy thì có lý do gì họ sẽ không tiêu diệt cứ điểm Cao Bằng? Cũng có ký giả đặt vấn đề: Phải chăng đây chỉ là một cuộc tổng diễn tập bằng thực binh của đối phương để tiến tới một trận đánh lớn hơn?1.

        Quân Pháp còn chiếm đóng Cao Bằng, do đó “phải lấy lại Đông Khê”. Đó là quyết tâm của Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp.

        Ngày 27 tháng 5, một tiểu đoàn dù (3e BPC) được ném xuống cứ điểm đã bị san phẳng này. Mặc dù đối phương đã rút ra khỏi vị trị, quân Pháp cũng phải qua 6 giờ đối phó kịch liệt với súng phòng không, tiểu đoàn dù này mới đặt chân được xuống Đông Khê. 25 máy bay Pháp bị dính đạn trong cuộc thả dù là một “tình hình mới” khiến cho tướng lĩnh Pháp phải suy nghĩ: lần đầu tiên súng phòng không của Việt Minh xuất hiện.

        Để tiểu đoàn mới được ném xuống có thể đứng vững từ cuối tháng 5, năm tiểu đoàn khác được lần lượt điều lên để thay nhau càn quét thung lũng Đông Khê và các vùng chung quanh. Công sự bê tông cốt sắt và hầm ngầm được xây dựng khẩn trương. Kế hoạch ứng biến cấp tốc được vạch ra. Và từ cuối tháng 6, một đại đội tăng cường gồm toàn lính lê dương được coi là thiện chiến bị chôn chân trong cái cứ điểm trơ trọi này.

        Ném quân xuống chiếm lại (!) Đông Khê chỉ là giải pháp đối phó trước mắt. “Điều khiến tổng chỉ huy đau đầu là đối phương đã lớn mạnh”. Làm sao bảo vệ cho được phòng tuyến đường số 4, vấn đề đó đã chiếm toàn bộ tâm trí của Cácpăngchiê. Viên tướng này nhất trí với đề nghị của Bộ tham mưu quân viễn chinh là phải khẩn trương củng cố các vị trí trên con đường chiến lược quan trọng đó. Khốn nỗi, ngân sách đã hết mà quỹ đen cũng chẳng còn. Do cao ủy Pinhông gợi ý, tướng Cácpăngchiê thân hành về Pháp xin tiền nhưng bộ trưởng tài chính Pétsơ (Petche) “đã quay lưng lại”: Chính phủ cần tiêu nhiều khoản cấp bách hơn xi măng và dây thép gai cho quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương.

        Nếu lần này về Pháp, tướng Cácpăngchiê không gặt hái được gì đáng kể cho việc củng cố phòng tuyến đường số 4 thì ông ta lại tiếp nhận được khá nhiều tin tức không vui có quan hệ tới cuộc đời binh nghiệp của viên tướng viễn chinh ở bán đảo Đông Dương xa xôi này. Trong những ngày ngắn ngủi lưu lại ở Pari, Cácpăngchiê được bạn bè thuật lại không khí chính trị nóng bỏng ở thủ đô Pháp từ hồi tháng 4 năm trước (1949), khi viên tướng này còn ở Marốc. Cái gọi là không khí chính trị nóng bỏng đó chính là thái độ chống đối ngày càng gay gắt của nhân dân lao động Pháp đối với cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương.

        Hưởng ứng các nghị quyết của Hội nghị toàn quốc Đảng Cộng sản Pháp và của Đại hội hòa bình thế giới họp lần đầu tiên ở Pari (tháng 4 năm 1950), nhân dân Pháp đã dấy lên trong cả nước một phong trào đấu tranh mạnh mẽ chống đường lối tiếp tục chiến tranh của điện Êlydê. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Đoàn thanh niên Cộng hòa và Hội Liên hiệp phụ nữ Pháp đã vận dụng nhiều hình thức đấu tranh sinh động, phong phú. Nổi lên trong phong trào phản chiến ở Pháp thời kỳ này là Hăngri Máctanh (Henri Martin) người thanh niên 22 tuổi, thủy thủ giải ngũ, công nhân xưởng đóng tàu ở Tulông. Trong suốt nửa cuối năm 1949, hầu như tháng nào anh cũng tổ chức rải truyền đơn kêu gọi lính thủy Pháp phản chiến, kêu gọi công nhân khuân vác đình công, không chuyên chở vũ khí và quân dụng xuống tàu sang Việt Nam.

        Bước sang năm 1950, phong trào đòi hòa bình ngay tức khắc ở Việt Nam đã bước sang giai đoạn mới, công khai hơn, quyết liệt hơn, bắt đầu bằng bài diễn văn của bà Vécmét (Jeanneette Vermeersch), ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, tại Quốc hội ngày 27 tháng 1 năm 1950. Như báo chí Pháp đã nói, với bài diễn văn “mang nặng tính chất bùng nổ”, vị nữ đại biểu Quốc hội thành phố Pari đã tố cáo chính sách thuộc địa của Pháp, lên án chính sách tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đòi điều đình ngay với Chính phủ Hồ Chí Minh, chấm dứt chiến tranh, đưa quân đội viễn chinh Pháp về nước...

        Cùng với bài diễn văn của Vécmét là lời tuyên bố của Tôrê (Maurice Thorez), Tổng bí thư Đảng Cộng sản Pháp, lên án “cuộc chiến tranh phi nghĩa và tàn bạo... đang đào sâu hố ngăn cách giữa nhân dân hai nước (Việt - Pháp)”.

        Trong lúc dư luận Pháp đang lên tiếng ủng hộ những lời nói đầy chính nghĩa trên đây thì báo chí bỗng đua nhau đưa tin về hành động anh hùng của Raymông Điêng (Raymonde Dien). Người nữ thanh niên Pháp này đã dũng cảm nằm chắn ngang đường sắt ở nhà ga Tua, ngăn chuyến xe lửa chở vũ khí xuống tàu sang Việt Nam. Tất nhiên, giới cầm quyền ở Pari chỉ có thể dùng biện pháp duy nhất là cảnh sát + nhà tù hòng đàn áp những hoạt động phản chiến của nhân dân Pháp. Raymông Điêng đã bị bắt và bị kết án một năm tù2.

---------------------
        1. Đây là trận tiêu diệt cứ điểm Đông Khê lần thứ nhất do trung đoàn 174 thực hiện ngày 25 tháng 5 năm 1950.

        2. Do phong trào đấu tranh rầm rộ của nhân dân Pháp đòi thả Raymông Điêng vào trước ngày lễ Chúa giáng sinh, tối 24 tháng 12 năm 1950 nhà cầm quyền Pháp buộc phải trả lại tự do cho chị.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #75 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:23:55 am »


        Mặc dù Chính phủ Pháp ra sức lừa phỉnh và khủng bố, giai cấp công nhân Pháp vẫn giương cao ngọn cờ hòa bình hữu nghị, bền bỉ cùng nhân dân lao động cả nước đấu tranh đòi chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương.

        Riêng tại Tulông, những lá truyền đơn kêu gọi phản chiến của Hăngri Máctanh tiếp tục xuất hiện ngày càng nhiều. Và đến ngày 11 tháng 3 năm 1950, đến lượt người thanh niên Pháp anh hùng đó bị chính quyền Pari hèn hạ bắt giam. Trước tòa án, Hăngri đã dũng cảm vạch mặt chính quyền phản động Pháp, những kẻ... “nói đến bảo vệ tổ quốc nhưng thật ra chỉ bảo vệ các nguồn lợi của tư bản Pháp và giữ gìn các căn cứ của Mỹ... Quân đội viễn chinh Pháp đang tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương, một cuộc chiến tranh không đem lại cho nhân dân Pháp cái gì khác ngoài hàng triệu phrăng tốn kém hàng ngàn thanh niên ngã xuống... Nếu tôi không đấu tranh chống cuộc chiến tranh đó, tôi sẽ không làm tròn nghĩa vụ của một công dân Pháp...”1.

        Bạn bè thân thuộc đã kể lại cho Cácpăngchiê nghe tất cả “những câu chuyện không vui” trên đây trong những ngày viên tướng này lưu lại ở Pari. Người ta nhắc lại lời khuyên: hãy từ chức đi “để thanh danh khỏi bị chôn vùi trong cuộc chiến tranh vô vọng này...”. Mặc dù không chấp nhận lời khuyên nhưng viên tướng này đã phải buồn rầu nói lên một sự thật: cả ở Đông Dương và ở Pháp, hai dòng sông Hồng và sông Xen như đã hòa với nhau và tạo nên một sức mạnh khiến cho Chính phủ ở Pari đau đầu và bộ tham mưu ở Sài Gòn ngạt thở...

        Một sự kiện quan trọng mà viên tướng tổng chỉ huy Pháp không hề hay biết là, cùng với dịp ông ta rời Pari trở lại Đông Dương thì Lêô Phighe (Léo Figuères), ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, thư ký Đoàn thanh niên Cộng hòa Pháp, sang thăm Việt Nam. Nếu sự có mặt của Lêô trên đất nước Việt Nam khói lửa là một biểu hiện sinh động tinh thần đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân và nhân dân hai nước Việt - Pháp chống kẻ thù chung thì, đối với giới cầm quyền và tướng lĩnh Pháp, đó lại là điều bất hạnh.

        Tình hình chính trị không thuận lợi cho cuộc chiến tranh xâm lược đã khiến cho viên tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp trở lại Đông Dương với tâm trạng không vui.

        Điều an ủi đối với Cácpăngchiê là từ giữa năm, viện trợ quân sự đã đến. Ngoài số “viện trợ có tính chất tượng trưng” của Anh, sau cuộc viếng thăm của Mắc Đônen, đại diện Anh ở Mã Lai, Pháp đã nhận được của Mỹ một số phương tiện đáng kể: 48 máy bay Hencát, 8 máy bay Đacôta, 36 tàu xuồng nhỏ, tiện cho việc cơ động trên sông. Ngoài ra Mỹ còn gửi sang một số vũ khí với lời dặn: để trang bị cho 12 “tiểu đoàn Việt Nam” (ngụy Bảo Đại). Một điều “may mắn” khác đối với Bộ chỉ huy Pháp là: mấy tháng đầu năm 1950, Pháp đã “hót” được một cách yên ổn chừng ba vạn tàn quân Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch mà “chẳng vấp phải một phản ứng nào của phía Trung Cộng”. Nhân đó, bộ chỉ huy Pháp đã chỉ thị cho các cấp chỉ huy Pháp ở vùng biên giới phía Bắc là không sợ bóng sợ gió nữa mà phải lợi dụng cơ hội thu nạp quân Tàu trắng càng nhiều càng tốt. Số tàn quân Tưởng ba vạn tên nói trên sau khi được chỉnh đốn biên chế và trang bị, đã được Pháp đưa vào chiếm đóng đảo Phú Quốc và vùng duyên hải tây - nam Nam Bộ.

        Tất cả những “may mắn” đó không làm cho Cácpăngchiê bớt phần lo ngại. Từ tháng 7 năm 1950, ngày càng nhiều tin tức về sự phát triển lực lượng của đối phương. Nhiều tiểu đoàn bộ binh trang bị hoàn chỉnh, huấn luyện chu đáo, đã xuất hiện trên chiến trường Bắc Bộ. Rõ ràng chiến trường này bị đe dọa nặng nề. Nhưng ai mà biết trước được rằng đối phương sẽ tập trung nỗ lực vào hướng nào?

        Trong huấn lệnh riêng và mật (I.P.S.) đề ngày 18 tháng 8 gửi các tướng lĩnh thuộc quyền, Cácpăngchiê nói rõ dự kiến chiến lược của mình. Từ thực tế chiến đấu thắng lợi của Quân đội nhân dân Triều Tiên, viên tổng chỉ huy Pháp phán đoán rằng Quân đội Việt Minh cũng sẽ xuất hiện với điều kiện chỉ huy tốt, trang bị mạnh, hiệp đồng giỏi... Họ có thể sẽ từ Việt Bắc kéo về hướng Hà Nội... Cácpăngchiê hạ lệnh cho quân đội Pháp phải “tăng cường bảo vệ cho kỳ được vùng đồng bằng có ích”, nơi Pháp sẽ có thể phải tiếp nhận giao chiến. Trên trục đường số 4, vị trí Cao Bằng và toàn bộ phòng tuyến Lạng Sơn - Đồng Đăng, với những binh lực tuyệt đối cần thiết phải được giữ đến cùng... Các vị trí Thất Khê, Na Sầm, Lộc Bình, Đình Lập, Tiên Yên, sau khi chống cự tại chỗ, có thế rút chạy nếu có nguy cơ bị tràn ngập. Các vị trí khác trên đường số 4, khi bị tiến công, phải rút chạy đúng lúc để bảo toàn quân số ở mức tối đa.

        Một vài ký giả Pháp vội tin chủ trương chiến lược trên đây của Cácpăngchiê nên đã bình luận: Nếu lúc này, Alécxăngđri mà có mặt ở Đông Dương2thì sẽ phấn khởi biết bao vì lần đầu tiên được tổng chỉ huy tán thành quan điểm của mình, tức là không rút quân khỏi Cao Bằng.

        Nhưng, bọn chỉ huy cấp dưới của Cácpăngchiê thì lại cho rằng, hoặc bản huấn lệnh của tổng chỉ huy chỉ nhằm trấn an tinh thần ba quân sau thất bại ở Đông Khê ba tháng trước, hoặc nó chỉ nhằm đánh lạc hướng đối phương. Qua bản huấn lệnh bọn sĩ quan thuộc quyền khó mà biết được quyết tâm của tổng chỉ huy là hướng vào bảo vệ vùng “đồng bằng có ích” hay giữ tuyến biên giới Đông bắc. Riêng trên “con đường máu” nơi nào là điểm xung yếu nhất thiết phải giữ? Cứ điểm ở giữa đoạn đường từ Cao Bằng đến Thất Khê (cụ thể là Đông Khê) phải chăng đã được củng cố vững mạnh tới mức không cần được nêu lên trong bản huấn lệnh?

        Cácpăngchiê và bộ chỉ huy Pháp không ngờ chỉ một tháng sau khi bản huấn lệnh được tung ra, cái cứ điểm không được trực tiếp nhắc đến đó lại chính là trang đầu của cuốn sổ khai tử toàn bộ quân Pháp trên con đường số 4 nổi tiếng.

---------------------
        1. Mặc dù Hăngri Máctanh chống án, ngày 19 tháng 7 năm 1951 chính quyền Pháp vẫn kết án anh năm năm tù. Do các tầng lớp nhân dân Pháp kiên trì đấu tranh đòi thả anh, giới cầm quyền Pari buộc phải trả lại tự do cho Hăng Mác tanh 19 tháng trước hạn định.

        2. Bấy giờ tướng Alécxăngđri đang nghỉ phép ở Pari.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #76 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:27:15 am »


Chương sáu

BƯỚC NGOẶT ĐI XUỐNG

PHÒNG TUYẾN BỊ CHẶT ĐỨT

        Càng về cuối mùa mưa 1950, Bộ tham mưu quân viễn chinh Pháp càng ra sức phán đoán hướng hoạt động sắp tới của đối phương. Có ý kiến cho rằng Việt Minh đang dồn sức vào việc chuẩn bị cho một trận đánh lớn và đã thành công trong việc tạo nên một “quả đấm chiến lược”1, chiến trường Bắc Bộ sẽ đứng trước một thử thách lớn. Ngược lại cũng không ít ý kiến cho rằng quân Pháp đã được tăng về số lượng2, lại bắt đầu được Mỹ viện trợ, cho nên tình thế sẽ đỡ khó khăn hơn.

        Chính trong những ngày chiến trường miền Bắc đang sắp bước vào thời kỳ sôi động thì viên chỉ huy quân Pháp ở chiến trường này tướng Alécxăngđri lại vắng mặt. Nhiều người đinh ninh rằng ông ta đã “hết nhiệm kỳ Đông Dương”, vì có tin tướng Gácbay (Garbay) đã được chỉ định thay thế; trong khi chờ đợi Gácbay nhậm chức, tướng Mácsăng, chỉ huy phó, tạm thay quyền. Riêng tổng chỉ huy Cácpăngchiê thì biết chắc chắn rằng, do mâu thuẫn về chủ trương chiến lược nên Alécxăngđri đã cố tình “xin nghỉ phép” để về Pháp vận động cho quan điểm quân sự của mình, cụ thể là vận động để không rút quân khỏi Cao Bằng.

        Nghe tin Alécxăngđri đã có những cuộc gặp gỡ riêng tư với tổng thống và bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại, tiếp đến là tin viên tướng này lại được vời đến để báo cáo trước Hội đồng Quốc phòng Pháp về tình hình chiến sự ở Đông Dương, Cácpăngchiê đã tỏ ra bất bình không những với viên tướng thuộc quyền mà cả với “cách làm ăn kỳ lạ của Pari”. Ngày 25 tháng 8, Cácpăngchiê biên thư trách Alécxăngđri về những ngày nghỉ phép khó hiểu ở Pari và yêu cầu viên tướng này trở lại Đông Dương trước ngày 20 tháng 9 vì tình hình chiến trường miền Bắc chẳng ra sao.

        Trong lúc Alécxăngđri còn đang nấn ná ở Pari, thì trong cuộc họp ngày 2 tháng 9 ở Sài gòn, cao uỷ Pinhông, tổng chỉ huy Cácpăngchiê và tham mưu trưởng Lennuyơ (Lennuyeux, đại tá), đã có những quyết định quan trọng làm đảo lộn toàn bộ kế hoạch tác chiến trên chiến trường Bắc Bộ. Hội nghị quyết định rút quân Pháp khỏi Cao Bằng và Đông Khê, đồng thời đánh chiếm thị xã Thái Nguyên. Chủ trương “giữ Cao Bằng đến cùng” mới được đề ra trước đó hai tuần đã chuyển thành chủ trương rút chạy khỏi thị trấn này sau khi có tin về hoạt động sắp tới của đối phương sẽ nhằm vào vùng biên giới.

        Một vấn đề được đặt ra là rút bằng đường nào. Phương án rút theo đường số 3 về Thái Nguyên (2 tiểu đoàn dù sẽ được ném xuống Bắc Cạn để phối hợp và đón quân ở Cao Bằng về) đã nhanh chóng bị bác bỏ vì không đủ máy bay và chặng đường lại quá dài. Chỉ còn một phương án rút theo đường số 4 qua Thất Khê về Lạng Sơn.

        Ngày 16 tháng 9, Cácpăngchiê ký “lệnh đặc biệt” số 46. Theo lệnh này:

        1. Việc rút khỏi các vị trí Cao Bằng và Đông Khê là để phối hợp với toàn bộ hoạt động tác chiến ở Bắc Bộ và để bảo đảm tăng cường phòng thủ khu vực bắc Hà Nội.

        2. Trước khi rút quân khỏi các vị trí trên phải hoàn tất cuộc hành binh đánh chiếm thị xã Thái Nguyên. Khoảng đầu tháng 10, cuộc hành binh lên Thái Nguyên phải được thực hiện.

        3. Sau khi đánh chiếm xong Thái Nguyên, phải lập tức tiến hành việc rút quân khỏi Cao Bằng và Đông Khê. Hạn chậm nhất là 15 tháng 10.

        4. Để bảo đảm việc rút quân trên đường số 4:

        a) Một tiểu đoàn lê dương hoặc hai tiểu đoàn Bắc Phi sẽ được vận chuyển bằng đường không lên tăng cường cho Cao Bằng trước khi rút khỏi vị trí này.

        b) Khi trở về Lạng Sơn, các máy bay trên sẽ vận chuyển trang bị quý và gia đình nhân viên dân sự hiện ở Cao Bằng.

        c) Sẽ có kế hoạch cụ thể phối hợp việc rút khỏi Cao Bằng với rút khỏi Đông Khê.

        d) Các trang bị nặng và cơ sở hậu cần phải được phá hủy tại chỗ trước khi rút. Doanh trại và các công sự đều phải được giữ nguyên vẹn.

---------------------
        1. Theo tài liệu tổng kết của Pháp thì bước vào thu - đông 1950, chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam có 2 sư đoàn, 22 trung đoàn và 12 tiểu đoàn độc lập.

        2. Theo số liệu của tướng Xalăng, vào mùa hè 1950, quân Pháp và tay sai ở Đông Dương có 315.000 tên, bao gồm 48.000 Pháp, 142.000 Âu - Phi, 125.000 ngụy (39%). Ngoài ra còn 30.000 tàn quân Tưởng được Pháp trang bị và sử dụng.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #77 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:27:53 am »


        Một sự trùng hợp kỳ lạ: Ngày Cácpăngchiê hạ bút ký “lệnh đặc biệt” nói trên cũng là ngày các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam nổ súng tiến công cứ điểm Đông Khê, một mắt xích quan trọng của phòng tuyến đường số 4, mở màn chiến dịch Biên Giới.

        Quân Pháp ở Đông Khê có trên 300 tên, gồm 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn lê dương 3eREI, 5 khẩu đội pháo 57 và 105 milimét.

        Theo báo cáo tướng Mácsăng nhận được, pháo binh và súng cối của đối phương đã nhanh chóng phá hủy các lô cốt ngoại vi, phá hủy các khẩu pháo và một số công sự trong cứ điểm, sau đó xung phong vào khu trung tâm bằng nhiều hướng. Lính lê dương ngoan cố dựa vào công sự để chống lại nhưng cuối cùng, ngày 18 “cứ điểm đã bị tràn ngập sau khi đối phương chuẩn bị hỏa lực dồn dập, tiếp đến là những làn sóng các chiến sĩ xung kích ào lên”. Hầu hết quân Pháp trong cứ điểm bị tiêu diệt trừ vài chục tên thoát chết chạy về hướng Thất Khê.

        Mácsăng nhận xét rằng phía Pháp đã hoàn toàn bị bất ngờ trước một trận tiến công được chuẩn bị chu đáo, hợp đồng binh hỏa lực nhịp nhàng... Trận đánh đã chứng minh một nghệ thuật tác chiến mới của đối phương. Nếu sau trận Đông Khê lần thứ nhất (tháng 5-1950), bộ chỉ huy Pháp ra thông cáo nói rằng trận đánh “chỉ là một sự kiện riêng lẻ” thì lần này trận tiến công tiêu diệt cứ điểm đã có ý nghĩa hoàn toàn khác hẳn..., nó “báo hiệu một giai đoạn mới của cuộc chiến tranh” đã bắt đầu. Nếu sau trận Đông Khê lần trước, Bộ chỉ huy Pháp vội ném quân dù xuống để chiếm lại vị trí sau khi đối phương đã rút quân, thì sau trận tiến công lần này, trên chiến trường Bắc Bộ, Pháp chỉ còn một tiểu đoàn dù, một lực lượng mà tướng Mácsăng cho rằng thật quá ít ỏi để ném vào một trận giao chiến mà ngay từ đầu, Pháp đã ở vào thế bất lợi nghiêm trọng.

        Được tin phòng tuyến đường số 4 bị tiến công, tổng chỉ huy Cácpăngchiê vội đáp máy bay ra Hà Nội rồi đi Lạng Sơn. Ngày 18, vừa tới sở chỉ huy khu biên giới Đông Bắc, Cácpăngchiê được đại tá Côngxtăng báo cáo: cứ điểm Đông khê đã bị đối phương tràn ngập. Bộ chỉ huy Pháp thấy rất rõ: Việc mất Đông Khê đã “tạo nên một lỗ hổng khiến cho tuyến phòng ngự bị phá tung..., hệ thống cứ điểm ở biên giới Đông Bắc mà Pháp đã bỏ ra biết bao tiền của để xây dựng hòng cô lập Việt Minh với Trung Quốc đã trở nên vô hiệu quả”. Sự lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam qua cuộc đọ sức ở Đông Khê, đã buộc Cácpăngchiê rút ra kết luận: Ném vài tiểu đoàn xuống (như hồi tháng 5) chỉ là một cuộc hành binh tự sát.

        Do phán đoán sau Đông Khê, đối phương sẽ tiến công Cao Bằng và Lạng Sơn, viên tổng chỉ huy Pháp hạ quyết tâm: Phải gấp rút cho quân tháo chạy khỏi Cao Bằng.

        Cũng ngày 18, trong mệnh lệnh hạ đạt cho đại tá Côngxtăng, chỉ huy khu biên giới, Cácpăngchiê chỉ rõ:

        1. Việc rút khỏi Cao Bằng phải được tiến hành hết sức khẩn trương (dù thời tiết xấu, mưa nhiều, đường ngập lụt), vì nhất định đối phương sẽ truy kích.

        2. Sau ba ngày (tức vào ngày 21-9-1950), phải tổ chức xong một cầu hàng không để vận chuyển chừng 3.500 dân thường1từ Cao Bằng về Lạng Sơn “để tránh bị Việt Minh sát hại” (?).

        3. Tổ chức gấp một binh đoàn, xuất phát từ Thất Khê tiến lên hướng Đông Khê để vừa nghi binh thu hút đối phương, vừa đón cánh quân từ Cao Bằng rút về.

        Là một viên đại tá mà các sĩ quan bên dưới cho là chỉ biết làm chiến tranh trên giấy, lại không thích đi máy bay, nên tất nhiên Côngxtăng không đi Cao Bằng để hướng dẫn cho trung tá Sáctông (Charton, chỉ huy cứ điểm này) về cuộc hành binh sắp tới.

        Chính Cácpăngchiê là người bay đi Cao Bằng. Để giữ hoàn toàn bí mật cho cuộc hành binh, viên tướng tổng chỉ huy không lộ cho Sáctông biết ý đồ rút quân khỏi cứ điểm này. “Tôi sẽ tăng cường cho ông tiểu đoàn Tabo thứ 3 do thiếu tá Sécgiê (Chergé) chỉ huy để ông có đủ lực lượng chiến đấu phòng thủ”2.

        Trên đường bay về, nghe tin tướng Alécxăngđri (con người vốn chống đối việc rút chạy khỏi Cao Bằng) đã có mặt ở Hà Nội, Cácpăngchiê như chợt nhận ra một điều: Vậy thì ai là người phải trách nhiệm chính về cuộc hành binh sắp tới trên đường số 4? Tướng tổng chỉ huy, tướng chỉ huy Bắc Bộ hay đại tá chỉ huy khu biên giới? Suốt dọc đường, Cácpăngchiê suy nghĩ nhiều về cuộc gặp gỡ sắp tới với viên tưởng cứng đầu ở Hà Nội.

---------------------
        1. Gia đình bọn ngụy quân, ngụy quyền địa phương.

        2. Sau này, nhiều tướng lĩnh Pháp đã lên án Cácpăngchiê về hành động trên đây. Họ cho rằng thật là khó hiểu khi khái niệm về bí mật được áp dụng tuyệt đối đến nỗi nó trở thành một sự thiếu tin tưởng đối với những sĩ quan có nhiệm vụ trực tiếp điều hành cuộc rút quân. Do đó “bí mật đã trở thành một thứ vũ khí kinh khủng chống lại các chiến binh của chúng ta (Pháp)”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #78 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:28:36 am »


LẠI TRANH CÃI VỀ CAO BẰNG

        Tin cứ điểm Đông Khê bị tiêu diệt khiến dư luận trong bộ tham mưu Pháp càng bàn tán nhiều về nội bộ bọn chỉ huy chóp bu.

        Trước hết người ta đạt vấn đề: tại sao Cácpăngchiê vẫn để Côngxtăng, “viên đại tá da thỏ” như lính lê dương thường gọi, giữ chức chỉ huy khu biên giới Đông Bắc? Côngxtăng đã từng nói toạc ra rằng hắn ở vị trí này với hy vọng duy nhất là đạt cho được ngôi sao cấp tướng. Chính con người luôn luôn tỏ ra coi thường đối phương lại là người chỉ biết bám lấy bàn giấy mà không có biện pháp gì để đối phó một cách hữu hiệu sau thất bại ở Đông Khê.

        Dư luận còn cho thấy, không chỉ riêng Côngxtăng mà rất nhiều sĩ quan cao cấp khác (trừ Săngxông, chỉ huy ở Nam Bộ) cũng muốn “sớm hát bài ca chiến thắng” (!). Trong khi đó thì các sĩ quan cấp dưới do trực tiếp cọ xát với thực tế chiến trường, lại không hề đánh giá thấp đối phương. Bất kỳ một sĩ quan Pháp nào, nhất là sĩ quan cao cấp cũng sẽ bị lên án nếu dám công khai nói rằng Việt Minh có một lực lượng quân sự đáng gờm. Ai cũng thấy người ta đã dùng tòa án binh để duy trì tinh thần quân đội.

        Tướng Mácsăng, người tạm thay Alécxăngđri trong mấy tháng hè, tuy không dám nói ra nhưng đã tự thú nhận rằngnhiệm vụ vượt quá khả năng của mình. Còn tướng tổng chỉ huy thì ngày càng tỏ ra chán ngán đối với chiến trường Đông Dương, một chiến trường chẳng có gì hấp dẫn đối với ông ta, nhất là khi nhận thấy mình ngày càng bị cô lập. Cácpăngchiê thấy Alécxăngđri luôn luôn tỏ ra “tự hào rằng mình là lính thuộc địa chính cống, đã từng lừng danh (!) vì cuộc rút lui thần kỳ (tháng 3) năm 1945”. Sự có mặt của Cácpăngchiê làm cho tham vọng tổng chỉ huy của Alécxăngđri bị tiêu tan. Đó chính là nguyên nhân khiến viên tướng này luôn luôn tỏ ra cứng đầu cứng cổ trước tổng chỉ huy Cácpăngchiê.

        Cuộc gặp gỡ ngày 20 tháng 9 một lần nữa lại chứng minh quan hệ đã quá căng thẳng giữa hai viên tướng, mặc dù cao ủy Pinhông đã phải từ Sài Gòn bay ra để tham dự cuộc họp nảy lửa này.

        Sau khi biết quyết định rút quân khỏi Cao Bằng vào ngày 30 và trước đó sẽ đánh chiếm Thái Nguyên vào ngày 26, Alécxăngđri đưa ra những lời nhạo báng chỉ thị 18 tháng 8 của Cácpăngchiê (tức chỉ thị “giữ Cao Bằng đến cùng”). Tất nhiên, Alécxăngđri viện mọi lẽ để phản đối việc rút quân: nào là vị trì này được tổ chức phòng ngự chu đáo nhất khu biên thùy và đã trở thành một mục tiêu rất khó tiến công; nào là việc rút bỏ thị trấn này sẽ đem lại những hậu quả nghiêm trọng... Alécxăngđri còn yêu cầu Cácpăngchiê hãy về Pháp để báo cáo tình hình, xin chỉ thị và đòi Pari tăng viện gấp nhằm tập trung hơn nữa lực lượng hòng đối phó với những cuộc tiến công quy mô ngày càng lớn của đối phương trên chiến trường Bắc Bộ.

        Nhưng, với Cácpăngchiê, sự lựa chọn đã dứt khoát. Viên tướng tổng chỉ huy phản đối việc rút quân ở các chiến trường khác để đưa ra Bắc, phản đối việc về Pháp khi mà tình hình không cho phép vắng mặt..., hơn nữa hy vọng chính quốc tăng viện lúc này là vô ích, vì Pari đã khống chế quân số (lính viễn chinh) ở Đông Dương.

        Cuộc tranh luận kéo dài đến chiều. Lời qua tiếng lại mỗi lúc một gay gắt. Cuối cùng, khi Alécxăngđri sắp lên tiếng thì Cácpăngchiê cắt ngang: “Chúng tôi đã biết lập luận của ông rồi. Không cần nhắc lại làm gì, vô ích, vì mọi việc đã được quyết định. Đối với tôi, tôi sẽ thở phào khi được tin tên lính cuối cùng của Sáctông rút khỏi Cao Bằng...”. Vẫn không chịu lùi bước, Alécxăngđri yêu cầu cao ủy báo cáo về Pari quan điểm của mỗi bên trong việc xử trí với cục diện chiến tranh đang diễn biến, tuy trước mắt, viên tướng này vẫn phải thực hiện kế hoạch đã được quyết định.

        Ngày 24 tháng 9, Alécxăngđri bay đi Cao Bằng và nói nhỏ cho Sáctông biết điều mà viên trung tá này chưa biết: “rút quân khỏi cứ điểm”. Dưới con mắt của Alécxăngđri, Sáctông là “một chiến binh chính cống, một lính lê dương thực thụ rất đáng được coi trọng...”.

        Alécxăngđri đã phổ biến cho viên trung tá biết kế hoạch mang tên Têredơ (Thérèse)1, một kế hoạch mà kết quả tùy thuộc vào tốc độ rút chạy của binh đoàn Cao Bằng do Sáctông chỉ huy. Nội dung kế hoạch Têredơ gồm: 1. Binh đoàn Baya (Bayard) do trung tá Lơpagiơ (Le page) chỉ huy sẽ đánh chiếm lại Đông Khê (dự kiến vào ngày 2 tháng 10). 2. Sau đó, Lơpagiơ sẽ đưa quân lên đón binh đoàn Sáctông ở đường ngầm Nậm Nàng; 3. Dưới quyền chỉ huy chung của Lơpagiơ, cá hai binh đoàn yểm trợ lẫn nhau để rút về Thất Khê. 4. Để thu hút lực lượng đối phương, giảm sức ép trên đường số 4 và tạo điều kiện cho việc triệt thoái được dễ dàng, một cánh quan sẽ từ Hà Nội theo đường số 3 lên đánh chiếm Thái Nguyên.

        Sáctông chỉ đề nghị thay đổi một chi tiết: Lơpagiơ đón binh đoàn Sáctông ở kilômét 22 chứ không phải ở đường ngầm Nậm Nàng. Đề nghị đó được chấp nhận.

        Trên đường bay về Hà Nội Alécxăngđri qua hướng Lạng Sơn, báo cho Côngxtăng biết kế hoạch trên.

        Thế là chủ trương rút Cao Bằng được tướng Rơve đề xuất từ giữa năm 1949 đến nay mới được thực hiện mà lại thực hiện trong điều kiện rất nhiều khó khăn. Đối phương đã lớn mạnh và đang bắt đầu một chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên, một đòn quyết định có ý nghĩa chiến lược quan trọng nhằm tạo nên bước ngoặt cơ bản cho cuộc kháng chiến.

        Nhưng đòn quyết định sẽ diễn ra như thế nào, điều đó đối với bọn chỉ huy Pháp là một bài toán khó giải. Có viên tướng (như Mácsăng) khẳng định rằng, sau trận Đông Khê, “quân địch đã bỏ chạy và yên tĩnh đã trở lại”. Nhưng buồn thay, cái sự “yên tĩnh” mà Mácsăng nhận xét ấy chẳng qua chỉ là sự báo trước của cơn bão táp sắp nổ ra dữ dội nhất trên chiến trường Đông Bắc mà thôi.

        Tướng Alécxăngđri cũng không hề nghĩ rằng lúc bất giờ “lưới đã tung ra trên đường số 4”. Đối với viên tướng này, cuộc cãi vã vẫn chưa chấm dứt. Chẳng thế mà ngày 1 tháng 10, được sự khuyến khích của đô đốc Oóctôli, Alécxăngđri còn biên thư cho cao ủy Pinhông để vạch những sai lầm chiến lược của “viên tướng chính quốc” Cácpăngchiê. Ngày 5 tháng 10, khi cao ủy biên thư trả lời Alécxăngđri thì cũng là lúc “tấn thảm kịch đẫm máu” trên đường số 4 đang diễn ra màn chót.

---------------------
        1. Tên thánh rơi vào ngày 3 tháng 10 năm 1950, ngày quân Pháp ở Cao Bằng bắt đầu cuộc triệt thoái. Têredơ là tên chung của kế hoạch nhằm rút chạy an toàn khỏi Cao Bằng. Để thực hiện kế hoạch đó, cuộc triệt thoái của binh đoàn Cao Bằng được gọi là Dông tố (Orage), cuộc hành binh của binh đoàn lên đón cánh quân Cao Bằng được gọi là Tidơnít (Tiznit), cuộc hành binh trên hướng phối hợp (Thái Nguyên) được gọi là Hải cẩu (Phoque).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #79 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:30:33 am »


TỪ “TIDƠNÍT” ĐẾN “HẢI CẨU”

        Ngày 29 tháng 9, Côngxtăng hạ lệnh cho trung tá Lơpagiơ tổ chức binh đoàn Baya1với nhiệm vụ lên đánh chiếm lại Đông Khê. Nhiệm vụ tiếp theo của Baya sẽ được thông báo sau (!). Binh đoàn sẽ xuất phát từ Thất Khê ngày 1 tháng 10 để bắt đầu cuộc hành binh mang tên Tidơnít.

        Nhận được lệnh chuẩn bị thử lửa với Việt Minh, Lơpagiơ đã sớm thấy mình đuối sức trước một nhiệm vụ quá nặng nề. Viên trung tá vội điện đi Lạng Sơn báo cáo với Côngxtăng mọi lý do để trì hoãn cuộc hành binh (nào là binh đoàn không có pháo; đối phương quá mạnh lại đang uy hiếp Thất Khê là nơi xuất phát của binh đoàn; nào là thời tiết xấu khiến không quân không thể chi viện...). Không một lý do nào được Lạng Sơn chấp nhận, kể cả đề nghị hoãn cuộc hành binh lại 24 giờ.

        Trong cuộc họp ngày 30 tháng 9 với các tiểu đoàn trưởng, Lơpagiơ phổ biến kế hoạch của cuộc hành binh: Đông Khê phải được chiếm lại ngày 2 tháng 10. Sau đó một tiểu đoàn bảo vệ chặng đường Đông Khê - Thất Khê, một tiểu đoàn giữ Đông Khê, hai tiểu đoàn còn lại sẵn sàng nhận nhiệm vụ tiếp theo mà chính Lơpagiơ cũng chưa được phổ biến.

        Dù truyền đạt cho cấp dưới như vậy, nhưng (như lời Lơpagiơ thú nhận sau này) chính viên trung tá này cùng chưa biết sẽ chiếm lại Đông Khê như thế nào nếu cứ điểm đó được đối phương bảo vệ vững chắc... Nếu cuộc tiến công bị thất bại, không hiểu rồi sẽ xử trí ra sao... Nhưng cấp trên của hắn, cụ thể là Côngxtăng, hình như coi việc chiếm lại Đông Khê không thành vấn đề gì đáng kể... Ở Lạng Sơn (sở chỉ huy khu Biên Giới) cũng như ở Hà Nội chẳng ai nghĩ đến trường hợp bị thất bại...

        13 giờ ngày 1 tháng 10, với tiểu đoàn dù 1ère BEP dẫn đầu, binh đoàn Baya xuất phát từ Thất Khê tiến theo đường số 4 lên hướng Đông Khê.

        Suốt bốn giờ hành quân không gặp bóng người “sự yên tĩnh lạ lùng đã gây nên một cảm giác ghê rợn lan truyền khắp binh đoàn...”.

        Người ta những tưởng rằng đường tiến lên Nà Pá “ngỏ cửa”. Nhưng bỗng đạn cối và súng máy từ bốn phía bất ngờ trút xuống đội hình hành quân. Cả binh đoàn rối loạn. Giữa lúc đó có lệnh dừng lại, mà dừng lại để hứng đạn ngay ở một địa điểm đã từng diễn ra quá nhiều trận phục kích. Đêm ập xuống nhanh trên chiến trường rừng núi. Các khẩu cối không sao “khóa miệng” được mấy khẩu súng máy của đối phương đang quét rất trúng vào đội hình hỗn độn dọc tuyết đường.

        Có lệnh chuyển đội hình về phía đông - nam để chuẩn bị hành động vào hôm sau. Trời tối. Đường dốc và rậm rạp. Bọn lính chẳng còn biết chúng đang ở đâu, chẳng biết những người bên cạnh là ai. Tiếng súng khắp nơi. Dựa vào đêm tối, binh đoàn rút được về khu đồi phía đông nam nơi vừa bị phục kích.

        Sáng hôm sau, 2 tháng 10, Lơpagiơ đốc thúc các tiểu đoàn bất ngờ lao vào cứ điểm Đông Khê trên các hướng đông, tây và nam. Các mũi tiến công đều bị chặn đứng. Cuộc chiến đấu kéo dài tới chiều. Cho tới khi Lơpagiơ nhận được lệnh (từ trên máy bay ném xuống) nói phải đình chỉ cuộc tiến công vào Đông Khê và chuyển quân sang phía tây đường số 4 để đón Sáctông, thì cũng là lúc binh đoàn Baya đã lâm vào thế bất lợi. Tiểu đoàn Marốc báo cáo mất một nửa đại đội và đang cùng tiểu đoàn 11 Tabo rút chạy về hướng Nà Kéo, Nà Pá. Quân dù không thực hiện được nhiệm vụ chiếm mỏm 615 và không có cách nào để thu được 2 đại đội đang rải ra trên một vùng quá rộng đến nỗi toàn tiểu đoàn không yểm trợ nổi cho nhau trên đường rút. Trong khi đó, tiểu đoàn 1 Tabo không sao tiếp cận được phía tây Đông Khê như kế hoạch đã định.

        Vừa chập tối, tiểu đoàn 11 Tabo ở Nà Kéo bị pháo kích ác liệt, tiếp đến là các đợt tiến công của bộ binh đối phương. Đơn vị Tabo này bị thiệt hại nặng. Trong tình thế đã trở nên nguy kịch, Lơpagiơ hạ lệnh cho quân dù ứng cứu tiểu đoàn Tabo nhưng BEP tự nhận là bất lực. Đến nửa đêm thì sự liên lạc giữa các đơn vị bị gián đoạn. Lơpagiơ cố dùng vô tuyến điện để hạ lệnh toàn binh đoàn chuyển sang vùng núi đá Cốc Xá. Pháo binh đối phương bắn không ngớt. Nhiều lính Pháp ngã gục vì đạn pháo, cối trong đó có hai viên trung úy Híppe (Hippert) và Misen (Michel) “cùng chia nhau một quả đạn trái phá”. Trên đường chuyển quân trong đêm tối, đơn vị đi đầu của tiểu đoàn 11 Tabo bị phục kích ngay sát đường quốc lộ. Những tên sống sót, đứa thì chạy thục mạng về phía nam hòng thoát về Thất Khê, đứa thì chạy theo quân dù. Lính BEP thấy bọn Tabo “chạy theo với vẻ vừa hung hãn vừa hoảng loạn của những kẻ tìm đường tẩu thoát hơn là để chiến đấu”.

---------------------
        1. Binh đoàn này gồm 4 tiểu đoàn được lâm thời ghép lại: 1 tiểu đoàn dù (1ère BEP) mới được thả xuống, 1 tiểu đoàn dã chiến của trung đoàn Marốc (l/8 RTM), 2 tiểu đoàn lính da den (1ère và 11ère Tabo).
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM