Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #90 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 05:52:57 am » |
|
“VUA GIĂNG” RA MẮT Người đồng nghiệp thân tín đầu tiên được Đờlát báo tin rằng mình sẽ sang Đông Dương là tướng Xalăng - người trước kia đã từng dưới trướng của Đờlát ở quân đoàn 1. Với căn bệnh kiêu ngạo sẵn có, Đờlát cứ tưởng rằng ông ta là người đầu tiên nếu không phải là người duy nhất xứng đáng được Chính phủ tin cậy giao nhiệm vụ cầm đầu đội quân xâm lược Đông Dương. Ngoài ông ta ra, không còn ai đủ tài cán đảm đương nhiệm vụ trọng đại đó trong lúc này. Chẳng thế mà khi nói chuyện với Xalăng, Đờlát cho biết con trai mình là Bécna (Bernard Delattre) và biết bao thanh niên như hắn đang chiến đấu trong điều kiện không tin tưởng vì cấp chỉ huy chóp bu của họ ở Đông Dương quá tồi. Họ cầu cứu ông ta sang vì họ muốn “được chỉ huy cho ra trò”. Và ông ta không thể bỏ qua lời thỉnh cầu chính đáng của họ v.v… Xalăng còn được biết mình cũng được liệt vào danh sách những người sẽ cùng sang Đông Dương với viên tổng chỉ huy mới. Mặc dù vốn rất phục tài của Đờlát, nhưng với kinh nghiệm mấy chục năm ở Đông Dương từ khi còn mang lon quan hai và nhất là với kinh nghiệm sốt dẻo trong những năm 1946 - 1948, Xalăng đã phải nói để viên tổng chỉ huy mới biết rằng phải sẵn sàng chờ đón những thảm họa trên chiến trường nhiệt đới còn quá xa lạ đối với viên tướng họ Đờ. Có lẽ cũng do lời cảnh cáo của Xalăng mà trong những ngày chuẩn bị lên đường, Đờlát đã đi tầm sư học đạo, nhằm trau dồi thêm bản lĩnh cho phù hợp với điều kiện châu Á. Cựu Tổng thống Đờ Gôn tuy đã lui vào hậu trường nhưng đôi khi vẫn xuất đầu lộ diện để làm thầy dùi trong nhiều vấn đề quốc sự. Tướng họ Đờ năm sao (Đờlát) được tướng họ Đờ hai sao (cựu Tổng thống Đờ Gôn) củng cố quyết tâm để vững bước lên đường: “Chúng ta vừa chịu một tổn thất quá nặng nề ở Bắc Bộ, nhưng vẫn phải duy trì cuộc chiến tranh này vì nó quyết định sự sống còn toàn vẹn của khối Liên hiệp Pháp” 1. Viên cựu toàn quyền Xarô - chủ tịch cái tổ chức ma “khối liên hiệp Pháp” thì khuyên Đờlát phải dựa hẳn vào Bảo Đại, giúp Bảo Đại xây dựng bằng được một đội quân tay sai có thể thay thế cho quân viễn chinh Pháp trong cuộc chiến tranh chống lại Việt Minh. Đờlát đã đánh giá cao những lời khuyên có tính chất phương châm hành động của Anbe Xarô. Tướng tổng chỉ huy - cao ủy còn đến gõ cửa cựu đô đốc Đờcu, người đã từng “chèo chống ở Đông Dương” trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai. Khốn nỗi, kinh nghiệm của viên cựu toàn quyền - lính thủy này chỉ xoay quanh các bước đầu hàng phát xít Nhật trong những năm 1941 - 1945. Đờcu tặng Đờlát cuốn sách nói về những bài học không có gì là vinh quang của mình 2. Ngày 15 tháng 12, tức hai tháng sau “thảm họa biên giới” chính phủ Pháp chính thức xuất tướng một tướng họ Đờ cỡ bự, hơn hẳn bại tướng Cácpăngchiê một sao. Lên đường cùng với Đờlát ngoài bộ trưởng bộ “các Quốc gia liên kết” Lơtuốcnô (sang để chứng kiến cuộc bàn giao) còn có cả một bộ sậu gồm nhiều tướng tá, trong đó có nhiều vị đã từng nếm đòn ở Việt Bắc cuối năm 1947, như tướng ba sao Xalăng, đại tá Bôphrơ, v.v... Có điều khác là lần này họ trở lại Đông Dương không phải với hy vọng “khóa chặt biên giới” như trước đây 3 năm, bởi vì không những phòng tuyến biên giới đã bị phá tung mà lúc này chủ lực đối phương đang áp sát đồng bằng sông Hồng. Phải chăng thấy trước viễn ảnh không có gì sáng sủa cho nên, ngồi trong chiếc Côngxtenlaxiông cất cánh từ sân bay Oócly đêm 15, Xalăng đã có cảm giác là đang theo tổng chỉ huy mới “cất cánh bay đi, phó mặc cho số phận...”. Đờlát lợi dụng hơn một ngày đêm trên máy bay, trao đổi với phụ tá Xalăng về những mưu đồ chiến lược mà ông ta từng ấp ủ lâu ngày. --------------------- 1. Xalăng, sách đã dẫn, t.2, tr.179.
2. Những “kinh nghiệm” đó được Đờcu viết thành cuốn sách mang tên Chèo chống ở Đông Dương (À la barre de l’ Indochine), xuất bản ở Pari, năm 1949
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #91 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 05:53:45 am » |
|
Viên tổng chỉ huy - cao ủy nghĩ rằng phải làm sao “hòa hợp được về mặt tư tưởng” giữa nhân dân “chính quốc” với đội quân viễn chinh ở Đông Dương để nhân dân Pháp ủng hộ (!) cuộc chiến tranh chống cộng sản này. Nước Pháp sẽ thể hiện một sự cố gắng cao nhất (mặc dù trước mắt, sự cố gắng đó đang bị hạn chế) nhưng nước Pháp quyết không tha thứ cho những viên tướng viễn chinh đưa quân Pháp đến những tổn thất. Cuộc chiến tranh (xâm lược) Đông Dương phải đạt tới tầm vóc quốc tế, nghĩa là phải tranh thủ cho được sự đồng tình và giúp đỡ nhiều hơn nửa của các ông bạn Anh - Mỹ. Về phần mình, những người cầm đầu quân Pháp ở Đông Đương phải có trong tay một bộ máy vững vàng để có thể chỉ huy cho ra trò và tránh những thất bại như vừa qua: phải bám sát chiến trường Bắc Bộ vì đó là nơi mà Việt Minh đang đem lại cho quân đội Pháp “những nguy cơ nghiêm trọng”. Phải dồn mọi cố gắng vào việc xây dựng cho Bảo Đại một quân đội bản xứ để sẵn sàng “bịt những lỗ hổng” về binh lực của Pháp vì chính phủ đã yêu cầu phải sớrn tạo điều kiện để giảm bớt gánh nặng cho “chính quốc”.
Xalăng chỉ còn biết cúi đầu chấp nhận những lời chỉ giáo của tổng chỉ huy mới, với một lời bàn chung chung rằng “ở cái xứ Đông Dương này, phải biết chọn đúng thời cơ để mạnh tay hành động (!), vì sự dũng cảm bao giờ cũng sẽ buộc Việt Minh phải trả giá đắt!”.
Việc bàn giao được tiến hành ngày 18 tháng 12 tại Sài Gòn, với sự chứng kiến của bộ trưởng bộ các Quốc gia liên kết Lơtuốcnô.
Phinhông rồi đến Cácpăngchiê (những kẻ sắp cuốn gói ra đi) cố chọn những lời chải chuốt nhằm làm yên lòng những kẻ mới đến. Cuối cùng, viên tổng chỉ huy cũ kết luận: “Sau những cuộc rút lui liên tiếp, chúng tôi đã tiến hành hàng loạt biện pháp cần thiết và chúng ta đang giữ vững đồng bằng… Ra đi, chúng tôi để lại một tình hình sáng sủa...”.
Lơtuốcnô cám ơn họ về những cố gắng vừa qua rồi nhân danh chính phủ giới thiệu và chào mừng tướng Đờlát người mà nước Pháp tin cậy là “sẽ giữ cho Đông Dương không tuột ra khỏi Khối Liên hiệp Pháp”. Còn viên tổng chỉ huy mới thì, ngay sau cuộc bàn giao nặng chịch không khí ảm đạm, liền kéo Xalăng về phòng làm việc để hạ một nhận xét rằng “bọn cũ” nói khoác, vì đằng sau cái được gọi là “tình hình sáng sủa” là cả một mớ bòng bong.
Nhận xét đó của Đờlát lập tức được chứng minh bằng bức điện ngày 18 tháng 12 của Đờ Latua, người mới thayAlécxăngđri chỉ huy quân Pháp ở Bắc Bộ. Không phải Đờ Latua chào mừng tổng chỉ huy mới mà báo cáo về việc... rút quân khỏi Đình Lập. Xalăng thấy Đờlát “tái người đi vì tức giận” khi đọc bức điện. Ông ta quyết định phải ra ngay Hà Nội vào “ngày 19 tháng 12 lịch sử” để... củng cố tinh thần tướng sĩ đang trong cảnh hoang mang cao độ.
Hôm sau, trước giờ xuất phát, tại sân bay Tân Sơn Nhất, viên tổng chỉ huy mới nổ ra cơn thịnh nộ đầu tiên. Đờlát la thét để chỉnh đốn cách ăn mặc quá luộm thuộm của phi hành đoàn. những người “chẳng coi tổng chỉ huy ra gì”. Cơn giận còn chưa nguôi thì bỗng tổng chỉ huy họ Đờ phát hiện trên thân máy bay sắp chở ông ta ra Hà Nội chỉ sơn có... bốn ngôi sao. Thế là “tấn thảm kịch mới” lại diễn ra. Và, máy bay chỉ được Đờlát cho phép cất cánh sau khi nó đã được người ta bôi thêm lên một ngôi sao, ngôi sao thứ năm, tương ứng với quân hàm của viên tướng họ Đờ.
Qua Đà Lạt, máy bay hạ cánh. Đờlát muốn nhân danh cao ủy gặp Bảo Đại và đưa Bảo Đại ra Hà Nội để cùng dự “kỷ niệm” ngày 19 tháng 12. Nhưng “nhà vua” cho người trả lời rằng mình còn “bận” ở Buôn Ma Thuộc. Xalăng nhận thấy cao ủy Đờlát lộ vẻ cay đắng qua lần quan hệ đầu tiên với nhà chính khách hộp đêm ham chơi hơn là lo “quốc sự” này.
Ngay sau khi máy bay hạ cánh xuống Hà Nội một cuộc duyệt binh đã diễn ra cạnh Hồ Gươm. Mặt hồ, dưới con mắt của Xalăng, như đượm màu tang trong cảnh tranh tối tranh sáng của cái đêm 19 tháng 12 “rất đáng ghi nhớ” đối với quân Pháp 4 năm về trước. Đờ Latua cố thu xếp để cuộc duyệt binh được xôm trò, vì tổng chỉ huy đã điện hạ lệnh phải làm sao để ông ta được duyệt quân lính “càng đông càng tốt”.
Tiếp đến là cuộc gặp gỡ với các sĩ quan và hạ sĩ quan (cũng lại “càng đông càng tốt”). Ngay trong buổi ra mắt đầu tiên này, Đờlát đã nói với mọi người: “Tôi sang đây để cứu các ông vì chính các ông đã và đang tự giết mình. Từ nay tôi sẽ luôn luôn ở bên cạnh các ông. Phải chấm dứt tình trạng tháo chạy. Bắc Bộ phải được giữ vững. Chúng ta sẽ đứng vững, vì từ nay các ông sẽ được chỉ huy ra trò...”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #92 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 05:54:06 am » |
|
Không biết những lời lên dây cót đầy hợm hĩnh của viên tướng tổng chỉ huy đã tác động đến tinh thần các sĩ quan cấp dưới tới mức nào, mà Xalăng vội nhận xét rằng đó là những lời bất hủ của “một nhà ảo thuật có tài”.
Mới tới Đông Dương và ra mắt ba quân có mấy ngày mà “vua Giăng - nhà ảo thuật” đã làm lan truyền khá nhiều giai thoại về cá tính của mình. Người ta nói về trận lôi đình của tổng chỉ huy đối với viên sĩ quan phụ trách quân nhu vì anh ta không biết kịp thời mở kho phát quần áo mới cho mọi người ăn mặc tươm tất hơn trong buổi duyệt binh đón vị chỉ huy tối cao vừa đặt chân ra đất Bắc Việt. Người ta nói đến những lời nhiếc móc của Đờlát đối với bọn chỉ huy tàn binh vừa ở đường số 4 thoát chết chạy về, đến chào tổng chỉ huy khi ngài tới thăm Hải Phòng. Một trong những người “được” nhận những lời đáp lễ “không lịch sự” của Đờlát là viên sĩ quan chỉ huy pháo binh Pirốt (Piroth). Và người ta cũng nói đến thân phận của viên thiếu tá chỉ huy vệ binh ở sân bay Tân Sơn Nhất trong buổi tiễn bộ trưởng Lơtuốcnô trở về Pháp. Do không nắm được đặc tính hiếu danh (đến nỗi bất chấp cả điều lệnh) của vị tổng chỉ huy mới của mình, nên viên sĩ quan nọ đã không cho đội kèn budích thổi bài Mácxâye (quốc thiều Pháp) khi Đờlát đến sân bay. Viên sĩ quan đó viện lý do rằng bản quốc thiều chỉ được cử một lần nên phải dành để chào bộ trưởng Lơtuốcnô khi nhân vật cao cấp nhất này tới nơi. Đờlát cho việc làm đó là điều lăng mạ đối với mình, người quyền cao chức trọng nhất Đông Dương (!). Thế rồi, chỉ nửa giờ sau khi máy bay của Lơtuốcnô cất cánh, viên thiếu tá bất hạnh kia đã bị cách chức. Thay vào đó là một viên đại tá “xuất sắc”, thân tín của tướng quân.
Những chuyện tương tự về cá tính của “vua Giăng” quá nhiều, nhiều đến nỗi trong tiệm cà phê, trong câu lạc bộ, trong phòng ăn,... các sĩ quan luôn có những giai thoại bất tận về ngài tổng chỉ huy để rỉ tai nhau. Họ cũng tự nhủ hãy coi chừng để khỏi biến mình thành những nạn nhân của kẻ đã từng hứa sẽ chỉ huy họ “ra trò” (!). Và ai cũng lặng lẽ theo dõi xem hành động thực tế của viên tướng họ Đờ sẽ dẫn họ đến đâu.
Người ta thấy mối quan tâm đầu tiên của Đờlát là tổ chức lại cơ quan chỉ huy và bổ sung quân số.
Nhiều viên đại tá (trước đây ở quân đoàn 1, “vừa mắt” tổng chỉ huy) đều được liệt vào danh sách yêu cầu Pari điều sang Đông Dương để cầm đầu các cơ quan tổng hành dinh và các quân chủng.
Xalăng được Đờlát giao nhiệm vụ bịt lỗ hổng về quân số. Kết quả nghiên cứu của viên tướng này cho thấy vấn đề nổi lên là thiệt hại về binh lực của Pháp quá lớn. Mặc dù con số đã bị Xalăng vo nhỏ đi khá nhiều, sau 5 năm chiến tranh xâm lược (23.9.1945 - 1.11.1950) quân Pháp đã mất 920 sĩ quan, 2.930 hạ sĩ quan (2.700 Pháp và lê dương), 11.150 lính (9.300 Pháp và lê dương), số bị thương lên tới trên 21.000. Số đơn vị bị tiêu diệt gọn gồm 10 tiểu đoàn lê dương và Bắc Phi, 2 tiểu đoàn dù (gần 3/4 số các đơn vị này mới bị tiêu diệt trên đường số 4 cuối năm 1950). Tổng số quân bị loại khỏi vòng chiến đấu là gần 40.000 tên, đó là “một tổn thất nặng nề”, như Xalăng kết luận. Để gấp rút bịt lỗ hổng này, Đờlát yêu cầu Pari gửi ngay sang 20 nghìn tên (mà Chính phủ Pháp đã hứa khi viên tổng chỉ huy mới nhậm chức), với lời bảo đảm là sẽ “hoàn lại ngay khi tình hình đã được cải thiện”.
Cuối tháng 12, khi những dự kiến chấn chỉnh đầu tiên đã được phác ra trên giấy rồi, những dư âm cuối cùng của “thảm họa biên giới” vẫn tiếp tục bay vào Sài Gòn.
Ngày 29, tướng Đờ Latua điện vào yêu cầu được rút quân khỏi vùng duyên hải Đông Bắc, từ Tiên Yên đến Móng Cái theo chỉ thị trước đây của Cácpăngchiê.
Viên tổng chỉ huy lại nổi lôi đình và lập tức cử Xalăng ra nắm quyền chỉ huy thay Đờ Latua, đồng thời kiêm chức cao ủy Pháp ở Bắc Việt Nam. Một bức điện khẩn được gửi ra Bắc bộ lệnh phải giữ vững thế bố trí và không được thực hiện bất kỳ cuộc rút lui nào.
Đón Xalăng ở sân bay Bạch Mai là một Đờ Latua đã quá mệt nhọc vì trải qua những ngày đối phó với một tình hình đen tối do Alécxăngđri để lại.
Khi bàn giao quyền hành cho Xalăng, Đờ Latua tỏ ra lo ngại vì sau lễ Noen, đối phương đã áp sát và tiến công nhiều vị trí ven đồng bằng, cả ở vùng Chũ và vùng Vĩnh Yên, Việt Trì. Mặc dù GM3 ra sức chống đỡ nhưng quân Pháp bị chết và nhất là bị mất tích khá nhiều. Nếu không có lệnh của Sài Gòn thì việc rút khỏi Việt Trì đã được thực hiện. Đờ Latua lưu ý Xalăng về nguy cơ đang uy hiếp vùng duyên hải Đông Bắc - nơi mà vị trí Bình Liêu vừa bị đối phương đánh chiếm (25-12-1950)
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #93 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 05:55:25 am » |
|
TRUNG DU BÙNG CHÁY Mặc dù đã cử viên phụ tá số 1 của mình - tướng Xalăng, ra chèo chống ở đất Bắc, Đờlát vẫn chưa yên tâm. Ngày 31 tháng 12, viên tổng chỉ huy lại thân chinh ra Hà nội, dẫn cả Xalăng lẫn Bôphrơ đi thanh tra vùng Hải Phòng - Tiên Yên. Kết luận rút ra sau chuyến đi là quá thiếu quân. Đây không phải là tình hình riêng của vùng duyên hải. Đờlát thấy như vậy và tự xác định cho mình trách nhiệm phải đích thân về Pháp xin cứu viện. Tết dương lịch. Nỗi ưu tư về những “lỗ hổng quân số” như tạm lắng xuống khi các tướng lĩnh chóp bu nâng cốc chúc nhau những lời hoa mỹ. Họ nói đến “hòa bình giữa các dân tộc và sự đoàn kết vĩnh cửu giữa nước Việt Nam và nước Pháp trong một Khối Liên hiệp Pháp hòa thuận và hùng cường” (!). Họ nói đến “sự nhất trí giữa hai nước biểu hiện ở chỗ con em hai dân tộc đang sát cánh chống kẻ thù chung” (?). Họ cũng tỏ lòng tin tưởng và quyết tâm không để mất thêm một tấc đất, v v và v v Tiệc tàn, hơi men vừa nhạt đi cùng với những lời chúc tụng thì những “tin tức đáng lo ngại” đã tới tấp từ phía bắc Hà Nội bay về: đối phương tập trung quân ở vùng Vĩnh Yên - Phúc Yên. Ngày 10 tháng 1, toàn khu vực hành binh Bắc Bộ (ZOT) ở vào tình trạng báo động. Binh đoàn cơ động số 3 (GM3) do viên trung tá Vanuyxem (Vanuxem) chỉ huy, binh đoàn cơ động Bắc Phi (GMNA) do viên đại tá Êđông (Édon) chỉ huy được lệnh sẵn sàng chiến đấu. Một binh đoàn bộ binh cơ giới có nhiệm vụ cơ động ứng chiến, đã triển khai ở phía bắc Hà Nội để đối phó với tình huống đối phương lợi dụng trục đường số 3 từ Thái Nguyên chọc vào Hà Nội 1. Khoảng nửa đêm 12, tướng Xalăng - tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Bắc Bộ bị dựng dậy vì có tin vị trí Cẩm Lý, trên hướng đông bắc vùng ven đồng bằng bị tiến công. Hầu hết quân Pháp ở đây (gồm một phần lực lượng rút từ Lạng Sơn về hồi tháng 10) bị tiêu diệt. Bộ chỉ huy Bắc Bộ phán đoán: chiến dịch mùa khô của đối phương đã bắt đầu. Nhưng sao lại bắt đầu từ Cẩm Lý? Khi binh đoàn cơ động của Êruylanh (Erulin) được điều đến ứng cứu thì “đối phương đã biến đâu cả”. Phải chăng Cẩm Lý chỉ là một đòn vừa để thăm dò vừa để kéo bớt lực lượng cơ động của Pháp ra ngoài vùng châu thổ sông Hồng? Đâu sẽ là hướng tiến công chủ yếu của đối phương? Dù Cẩm Lý đã bị tiêu diệt, dù Êruylanh đã “đấm xuống nước”, Đờlát vẫn thấy cần triệt để phát huy kết quả của sự kiện này trên báo chí, vì đây là “chiến tích đầu tiên sau thảm bại biên giới... chiến tích đầu tiên của quân đội Pháp dưới quyền chỉ huy của tướng quân”. Giữa lúc tấn hài kịch báo chí đang được Đờlát đích thân từ Sài Gòn ra đạo diễn thì 1 giờ 30 sáng 14 tháng 1, vị trí Bảo Chúc, cách Vĩnh Yên 12 kilômét về hướng tây bắc bị tiến công. Toàn bộ quân Pháp ở đồn này bị tiêu diệt: Vanuyxem được lệnh đi ứng cứu. Binh đoàn đã rơi vào trận địa phục kích ở vùng Đạo Tú. Một tiểu đoàn lính da đen bị tiêu diệt gọn. Nhờ có pháo binh và máy bay yểm trợ, Vanuyxem mới đưa được GM3 “đã bị đánh tan tác” quay trở lại Vĩnh Yên. Những tin tức chẳng lành liên tiếp bay về cơ quan tham mưu ZOT (khu hành quân Bắc Bộ). Nhiều điểm cao tây bắc Vĩnh Yên bị mất. Một bộ phận quân đối phương đã tiến sát thị xã Vĩnh Yên. Một kho xăng bị nổ tung. Quân Vanuyxem chật vật giữ từng mảnh đất vùng ngoại ô thị xã. Tại Hương Canh, đối phương tiếp cận các vị trí của binh đoàn Êđông. Phía bên phải của Êđông “bị lũng đoạn”, khiến cho đường Vĩnh Yên - Hà Nội bị uy hiếp nghiêm trọng. Xalăng đi tìm Đờlát để báo cáo toàn bộ tình hình trên đây. Nhưng viên tổng chỉ huy còn đang bị mắc kẹt trong vòng vây phóng viên ở “Nhà Pháp quốc” 2. Viên đại tá Êruylanh, “con người hùng” trong trận Cẩm Lý (!) đang được (đúng hơn là đang bị) Đờlát đẩy ra trước các nhà báo để “tuyên bố vài lời về chiến tích vừa qua”. Khốn nỗi viên đại tá “rất đồ sộ nhưng cũng rất đần độn” này đã không nắm được ý đồ của nhà đạo diễn, tức vị tổng chỉ huy của mình. Chẳng thế mà anh ta cứ đứng chôn chân và ngậm miệng trước những máy ghi âm và ống kính của các ký giả. Hơn nữa, Êruylanh còn có gì để nói, khi mà “chiến tích” của anh ta chỉ bắt nguồn từ trí tưởng tượng của nhà ảo thuật Đờlát? Thế là viên tổng chỉ huy vội đỡ lời. Ông ta tường thuật, tuyên bố... một cách say sưa đến nỗi không để ý đến những nụ cười nhạo báng của nhiều ký giả, cũng chẳng hề biết rằng Xalăng đang đợi mình ở sau lưng, nóng lòng như lửa đốt. Khi tấn kịch báo chí đã hạ màn và tình hình chiến sự lọt tới tai ngài tổng chỉ huy thì trời đã về chiều. Các mệnh lệnh khẩn cấp được phát ra. Xalăng bị thúc đi Vĩnh Yên để xem xét tình hình tại chỗ. Đại tá Rơđông (Redon) được cử lên chỉ huy cả hai binh đoàn GM3 và GMNA để giữ thị xã Vĩnh Yên, sau khi các đơn vị này được tăng cường hai tiểu đoàn dù. Đại tá Clêmăng (Clément) nhận lệnh tập trung ba tiểu đoàn quanh vùng Cầu Đuống, sẵn sàng yểm trợ bên sườn của binh đoàn Bắc Phi và phối hợp với binh đoàn cơ giới của Bôphrơ bảo vệ phía bắc Hà Nội. Vừa đến sân bay Bạch Mai, Xalăng đã được nghe các phi công từ mặt trận về cho biết: quân Pháp vừa bị đánh tơi bời và đang tập hợp một cách vất vả chung quanh Vĩnh Yên. Quang cảnh mà các phi công quan sát thấy ở mặt trận “thật chẳng đẹp mắt chút nào...”. Máy bay cất cánh và bay đến không phận Phúc Yên. Ở đây Xalăng được chứng kiến sự thật; mạng lưới lửa của các khẩu súng máy từ dưới bắn lên “chứng tỏ đối phương đã xuống sát đồng bằng”. Viên tướng này vội báo cho Đờlát ở Hà Nội biết rằng “đồi phương đang uy hiếp sông Hồng” (!). ----------------- 1. Binh đoàn này mới ra đời, được tăng cường xe tăng và xe bọc thép, do viên đại tá Bôphrơ chỉ huy.
2. Maison de France, một khu nhà được xây dựng cấp tốc và do chính Đờlát đặt tên. Nay là Đại sứ quán Cộng hòa Pháp, đường Trần Hưng Đạo, Hà Nội
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #94 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 05:56:46 am » |
|
Đội hình của GM3 lộn xộn và rối loạn đến nỗi Xalăng vừa đến sở chỉ huy đã phải hạ lệnh cho Vanuyxem “lấy lại trật tự”, trước hết là ở ngay sở chỉ huy của binh đoàn.
Nắm vội tình hình tổn thất của binh đoàn 3, cùng Vanuyxem phán đoán hoạt động sắp tới của đối phương và thống nhất biện pháp đối phó, Xalăng vội vã bay về Hà Nội. Chưa kịp gặp Đờlát để báo cáo thì viên tổng chỉ huy đã ập tới ban tham mưu với bộ mặt phẫn nộ. Xalăng bị khiển trách đủ điều. Nào là đã không kịp thời cách chức viên thiếu tá nọ vì anh ta chỉ huy quá tồi, nào là đã để cho viên đại tá tham mưu trưởng ZOT than phiền nhiều lời về những chuyện không hay xảy ra ở Vĩnh Yên v.v… Sau này, trong Hồi ký của mình, Xalăng thú nhận rằng, quang cảnh hỗn loạn (của quân Pháp) trên chiến trường Vĩnh Yên và sự thiếu bình tĩnh của Đờlát khiến cho vị tướng phụ tá (Xalăng) phải trải qua một đêm “trong cảnh bối rối khác thường”.
Cho đến lúc nguôi cơn thịnh nộ, ngài tổng chỉ huy mới sực nhớ ra rằng phải ném thêm quân, thêm nhiều quân lên Vĩnh Yên. Đại tá tham mưu trưởng Ala (Allard) lập tức được phái vào Nam để “vay” tướng Lôriô (Lorillot) ở Trung Bộ một tiểu đoàn, “mượn” của tướng Săngxông (Chanson) ở Nam Bộ một tiểu đoàn dù và hai tiểu đoàn bộ binh thiện chiến nhất. Đờlát chỉ thị: phải động viên để họ (Săngxông và Lôriô) thấy rằng sự chi viện của Nam Kỳ và Trung Kỳ sẽ góp phần cứu nguy được cho (quân Pháp ở) Bắc Kỳ. Hãy gặp Háctơman (Hartemann, phụ trách không quân) và Oóctôli (Ortoli, phụ trách hải quân) để tập trung mọi phương tiện vận chuyển ngay các đơn vị đó ra Bắc càng sớm càng tốt.
Binh đoàn lính Tabo của Đờ Cát (De Castries) được lệnh tạm bỏ vùng Lục Nam, hành quân gấp lên Vĩnh Yên, tham gia đánh chiếm lại các điểm cao đã mất, không cho đối phương dùng làm chỗ đứng chân thọc thẳng về hướng Hà Nội.
Thấy các lực lượng tăng viện chưa đủ chặn bước đối phương. Đờlát đã quyết định một biện pháp đối phó dã man chưa từng thấy trên chiến trường Đông Dương: dùng bom xăng đặc (napalm). Viên đại tá Maricua (Maricourt, chi huy không quân Bắc Bộ), được lệnh chuẩn bị sẵn sàng các thùng các (của Mỹ, vừa được đem từ Nhật Bản sang hôm trước) để ném xuống Vĩnh Yên khi có lệnh.
Ngày 15 tháng 1 trôi qua một cách nặng nề và căng thẳng đối với bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp.
Từ sáng sớm, binh đoàn cơ động Bắc Phi của Êđông từ Hương Canh tiến theo quốc lộ số 2 lên phối hợp với binh đoàn cơ động số 3 của Vanuyxem hòng giữ thị xã Vĩnh Yên. Suốt dọc đường, GMNA bị chặn đánh ác liệt. Mặc dù được máy bay và pháo binh yểm trợ ở mức cao nhất, mãi đến 15 giờ Êđông mới triển khai được đội hình bên cạnh GM3.
Nhận lệnh cấp tốc hành quân ban đêm từ Lục Nam lên, binh đoàn cơ động số 1 (Tabo) do viên đại tá Lơvê (Levé) chỉ huy1, mãi 15 giờ 30 phút mới tới khu vực điểm cao 157.
Binh đoàn số 3 chiến đấu liên tục đến chiều thì gần hết đạn. Xe đạn từ Hà Nội vừa lên tới cũng là lúc đối phương đã tiến sát gần. Cuộc chiến đấu kéo dài suốt đêm quanh thị xã Vĩnh Yên.
Được phái lên nắm quyền chỉ huy chung, Rơđông cố gắng “lấy lại trật tự” ở các vị trí. Nhưng đến khoảng 10 giờ, Xalăng được Đờlát phái lên đốc chiến vẫn thấy quân Pháp đang ở vào “tình thế rối loạn, trận địa ngổn ngang”.
15 giờ, Đờlát lại thúc Xalăng bay lên Vĩnh Yên lần thứ hai. Mặc dù được báo cáo rằng cả ba binh đoàn (GM1, GM3, GMNA) đã triển khai xong đội hình ở phía bắc Vĩnh Yên, Đờlát vẫn không yên tâm. Xalăng vừa trở về đến Hà Nội, viên tổng chỉ huy lại dẫn cả viên tướng này và tướng Lơ Cốc (Le Coq vừa ở Pháp sang) bay lên Vĩnh Yên. Nếu tình hình buổi sáng còn cho phép Rơđông phần nào giữ được “phong thái chững chạc” thì lúc 17 giờ, khi Đờlát lên đến Vĩnh Yên, tình hình đã khác hẳn. Tất cả các vị trí đều trở nên quá lộn xộn. Bọn lính bị thương đưa về quá đông để ngổn ngang khắp trận địa.
Cho rằng Rơđông non tay tình hình có thể tiến triển bất lợi, Đờlát hạ lệnh gọi tướng Baiíp (Baillif) tư lệnh phó ở Nam Bộ ra cùng với một ban tham mưu cấp sư đoàn, để lên nắm quyền chỉ huy trực tiếp ở Vĩnh Yên vì “tình hình đòi hỏi sự có mặt của một sĩ quan cấp tướng”. Cả ba binh đoàn của Vanuyxem, Êđông và Lơvê được thống nhất thành sư đoàn cơ động Bắc Bộ thứ nhất (1ère DMT) dưới quyền chỉ huy của tướng Baiíp.
Theo lệnh của viên chỉ huy mới, việc chỉnh đốn đội hình, củng cố công sự chiến đấu đang được xúc tiến gấp thì đối phương đã bắt đầu các cuộn tiến công mới. Trận đánh chiều và đêm 16 tháng 1 ác liệt đến nỗi sau này, tướng Xalăng phải nhận rằng trong nhiều đợt phản kích để cứu nguy các vị trí bị tiến công và giữ vững trận địa, quân Pháp đã “bị diệt gọn từng đơn vị”. Đối phương chia thành những tốp nhỏ, được hỏa lực súng máy và súng cối yểm trợ, từng bước tiếp cận rồi bất ngờ lao vào các vị trí quân Pháp, tạo thành một thế “trộn trấu” khiến cho trên 40 khẩu pháo 105 milimét của Pháp không thể nào xác định nổi mục tiêu.
Trước thế khốn quẫn, viên tướng già Đờlát liền dùng đến con bài cuối cùng. Sẩm tối 16 tháng 1, chừng một trăm máy bay phóng pháo Kinh Cobra và máy bay vận tải được huy động để thả hàng loạt bom các xuống các điểm cao 210, 101, 47, khu vực quân hai bên đang ở vào thế “trộn trấu” trong một cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt. Đúng là đối phương có bị bất ngờ đôi chút vì thứ vũ khí mới nói trên, song ngay cả những binh lính Pháp trong trận đánh ác liệt này cũng được tận mắt trông thấy những quả bom xăng đặc của Mỹ rơi thả cửa xuống đội hình chiến đấu của chính họ. Những hình ảnh dữ dội của cái đêm 16 ấy, đã chứng minh rằng quân đội viễn chinh Pháp quả đã “được chỉ huy một trận ra trò” đúng như Đờlát từng hứa hẹn khi viên tổng chỉ huy mới đặt chân sang đất Đông Dương.
Đờlát và quân tướng những tưởng rằng bom napan sẽ cứu cho quân Pháp ở Vĩnh Yên thoát khỏi những thiệt hại nặng nề thêm. Nào ngờ đâu hôm sau, trước khi đối phương lui quân để tránh tình thế bất lợi, lại thêm một tiểu đoàn của Vanuyxem bị diệt gọn trong trận phản kích hòng giải tỏa khu vực các điểm cao 210 và 63.
--------------------- 1. Do xe vấp phải mìn, viên đại tá Đờ Cát, chỉ huy GM1 bị thương ngay khi đang hành quân, Lơvê thay thế.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #95 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 05:58:21 am » |
|
BIỆN PHÁP CHIẾN LƯỢC MỚI Báo chí Pháp và phương Tây nhận xét rằng: sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt lực lượng địch, quân đội Việt Nam đã kết thúc chiến dịch để tránh thế bất lợi trên một chiến trường trống trải trước xu thế về pháo binh và máy bay của quân Pháp, theo họ, đó là một sự thật. Nhưng còn một sự thật khác nữa là: kết quả trận Vĩnh Yên đã để lại cho Đờlát và bộ chỉ huy Pháp những vấn đề quan trọng không thể xem nhẹ: sự thiệt hại về người, về trang bị của quân Pháp và sức mạnh của đối phương. Theo Xalăng, ngày 17 tháng 1, khi từ chiến trường Vĩnh Yên trở về Hà Nội, “tướng quân (chỉ Đờlát) đã tỏ ra lo lắng về số thương vong”. Số lính Pháp bị chết, bị mất tích và bị thương, cũng như số trang bị rơi vào tay đối phương, quá lớn. Riêng GM3 - binh đoàn của Vanuyxem đã mất gọn hai phần ba quân số. Binh đoàn GMNA của Êđông bị sứt mẻ rất nghiêm trọng. Trong Hồi ký của mình, tướng Xalăng thú nhận rằng tuy bề ngoài, Đờlát “khuếch trương thắng lợi trên báo chí và đài phát thanh với sự hăng hái thường có của ông ta”, nhưng rõ ràng phải nghiên cứu kỹ kết quả thực tế của trận đánh vì nó “rất nặng nề và rất đáng học tập”. Về phía đối phương, vẫn theo Xalăng, họ có thể dùng một lực lượng lớn tới 24 tiểu đoàn quân chính quy, chưa kể lực lượng địa phương. Họ được trang bị nhiều súng cối, Badôka, pháo 75 milimét để tiến hành một “trận đánh thực thụ, mặt đối mặt”. Kết luận mà viên tướng này rút ra là: “Quân đội Việt Minh đại diện cho một sức mạnh mà chúng ta (Pháp) phải xem trọng... Tất cả các chiến binh của họ được giáo dục để đạt tới một tinh thần chiến đấu kỳ lạ... Điều đó đã gây một ấn tượng sâu sắc và ảnh hưởng lớn đến tinh thần lính Bắc Phi, tức là hơn một nửa lực lượng Pháp tham chiến ở Vĩnh Yên... Chính tướng quân (chỉ Đờlát) cũng bị kích động bởi nhiệt tình chiến đấu, lối đánh thông minh và ác hiểm của người lính Việt Minh trong tiến công cả ban ngày và ban đêm...”. Xalăng hy vọng rằng qua kinh nghiệm Vĩnh Yên, bộ chỉ huy Pháp phải suy nghĩ để “chuẩn bị tốt hơn về tinh thần chiến đấu cho lính Bắc Phi” (!) trong những trận chiến đấu sắp tới. Đờlát là một viên tướng không những rất thích để cho các phóng viên vây quanh mình mà còn rất thích duyệt binh. Tháng trước, một cuộc duyệt binh vừa diễn ra ở bờ Hồ Gươm khi viên tổng chỉ huy lần đầu tiên đặt chân đến Hà Nội, vào cái ngày 19 tháng 12 “đáng ghi nhớ”. Tất nhiên, cuộc duyệt binh ấy là cần thiết để “vua Giăng” ra mắt quần thần. Còn sau trận Vĩnh Yên, khi mà nhà thương Đồn Thủy 1 không đủ sức chứa hết bọn lính bị thương mới đưa từ mặt trận về, và ban tham mưu của ZOT chưa thống kê được hết số lính bị chết và mất tích quá nhiều, nếu như có thêm một cuộc duyệt binh nữa cũng là điều cần thiết, hơn thế, rất cần thiết. Đối với Đờlát, đó còn là “một đòn lớn”, một đòn tâm lý chiến để... khuếch trương chiến quả trong dịp Tết âm lịch. Thế là đêm 6 tháng 2, trước mặt chủ tịch khối Liên hiệp Pháp (Anbe Xarô vừa sang kinh lý Đông Dương) và đại diện Anh, Mỹ... đứng trước “Nhà Pháp quốc”, một cuộc diễu binh khác, rất dài, gồm các đơn vị thiết giáp và lính dù lại diễn ra dọc đại lộ Gămbétta (tức đường Trần Hưng Đạo ngày nay) và nhiều phố lớn ở Hà Nội. Các tướng lĩnh Pháp đánh giá rằng trò tâm lý này đã “mang lại ấn tượng tốt, khiến cho người An Nam hiểu biết về sức mạnh của Pháp”(!). Ngày vui phô trương lực lượng qua đi rất mau và sự phiền muộn lại xâm chiếm tâm trí viên tướng già cùng bộ tham mưu của ông ta. --------------------- 1. Tức Viện quân y 108 hiện nay.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #96 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 05:58:42 am » |
|
Từ thực tế Vĩnh Yên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để đối phó lại một địch thủ đã lớn mạnh như vậy? Làm thế nào để giữ cho được “vùng đồng bằng có ích”, đông người nhiều của? Chôn chân binh đoàn ứng chiến cơ giới hóa của Bôphrơ ở bắc Hà Nội chỉ là biện pháp tạm thời, có ý nghĩa chiến thuật.
Phải tăng quân và lập phòng tuyến. Đó là hai đáp số của bài toán có tầm chiến lược mà tình thế đặt ra cho Đờlát.
Tăng quân, nhưng không thể trông chờ gì ở “chính quốc”, nơi người ta đang phải “dùng một cái gậy để đuổi mấy con mèo cùng một lúc”. Phải làm theo lời chỉ giáo của bậc tiền bối Xarô: gấp rút lập một đội quân ngụy đủ sức đỡ gánh nặng đang đè lên vai đội quân viễn chinh. Các tướng lĩnh Pháp ở Đông Dương cho rằng quân ngụy đã từng chứng minh “lòng dũng cảm và mọi khả năng” (!) bên cạnh quân viễn chinh Pháp. Vậy thì phát triển đám quân bản xứ rẻ tiền này quả là một chủ trương đúng đắn (!). Đờlát yêu cầu cựu toàn quyền Anbe Xarô hãy nhân cuộc kinh lý này, quá bộ đi Đà Lạt và dùng “uy tín” của ông chủ cũ để thuyết phục Bảo Đại.
Nếu các tướng lĩnh Pháp dễ dàng thống nhất với nhau về chủ trương và biện pháp phát triển quân ngụy thì ngược lại, nhiều người trong bọn họ đã tỏ ra hoài nghi tác dụng của phòng tuyến bê tông vây quanh đồng bằng Bắc Bộ mà Đờlát trù tính xây dựng. Họ dùng những thực tế quân sự thế giới để chứng minh rằng nhiều phòng tuyến, kể cả “chiến tuyến Maginô nổi tiếng” của Pháp, đã không ngăn nổi những cuộc tiến công được chuẩn bị chu đáo. Mặc dù có ý kiến qua lại nhưng người quyết định cuối cùng vẫn là cao ủy - tổng chỉ huy.
Theo viên tướng già, trước hết phải bảo vệ cho được Hà Nội và Hải Phòng, phải biến hai trung tâm này thành những pháo đài kiên cố làm hạt nhân để bảo vệ đồng bằng Bắc Bộ, nơi mà “lá cờ Pháp phải được bảo vệ, nước Pháp phải có mặt”(!).
Phòng tuyến sẽ không phải là một hệ thống phòng ngự cứng nhắc. Hơn nữa nếu có một thực tế là sự bất lực của chiến tuyến Maginô thì cũng có một thực tế khác là đối phương không thể có đủ sức mạnh để vượt qua phòng tuyến để thâm nhập vào đồng bằng được.
Cuối cùng hai chủ trương chiến lược đã được quyết định:
1. Tập trung các tiểu đoàn ngụy tổ chức thành bốn sư đoàn bộ binh tương đối hoàn chỉnh, thay thế quân Âu - Phi làm nhiệm vụ chủ yếu là chiếm đóng và bình định, trên cơ sở đó mà tổ chức các tiểu đoàn Âu - Phi thành những binh đoàn cơ động chiến lược, những con chủ bài dùng để đối phó với chủ lực đối phương và tiến tới giành lại quyền chủ động chiến lược đã mất.
2. Xây dựng một phòng tuyến (được mệnh danh là phòng tuyến Đờlát), gồm trên 110 vị trí với trên 1.200 công sự bê tông cốt sắt nửa chìm nửa nổi, chạy từ Hòn Gai, Đông Triều qua Bắc Giang, Bắc Ninh sang Sơn Tây và quặt xuống đến Ninh Bình.
Dự kiến cần chi tiêu cho việc xây dựng phòng tuyến là 3.000 triệu quan (franc). Riêng số ximăng cần 51 triệu mét khối. Kế hoạch rất tốn kém trên đây chỉ có thể thực hiện nếu được sự chi viện của “chính quốc” và sự giúp đỡ của Mỹ. Đó là điều mà các tướng lĩnh Pháp khẳng định.
Cuối tháng 1 năm 1951, tham mưu trưởng Ala (Allard) được tổng chỉ huy cử về Pháp, mang theo mọi dự trù cần thiết để thực hiện kế hoạch nói trên. Sau một tuần theo Thủ tướng Plêven và tướng Gioăng sang công cán ở Oasinhtơn, Ala trở lại Đông Dương gần như với hai bàn tay trắng. Mỹ đang sa lầy ở Triều Tiên nên tuy không hoàn toàn từ chối nhưng sự giúp đỡ được coi là quá ít ỏi. Còn Chính phủ Pháp thì hứa hẹn nhưng liệu những lời hứa sẽ đi đến đâu?
Đờlát thấy tự mình phải thân hành gõ cửa điện Êlydê và Nhà trắng. Khốn nỗi tình hình trước mắt chưa cho phép viên tổng chỉ huy rời Đông Dương trong tháng 2 không những vì hướng tiến công sắp tới của đối phương chưa rõ mà cục diện các chiến trường đều chưa có gì là thuận lợi.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #97 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 05:59:00 am » |
|
Tại chiến trường Trung Đông Dương, tướng Lôriô phải dàn mỏng lực lượng dọn đường số 9 từ Đông Hà đến Xavannakhét tới sát bờ sông Mê Công, trên một tuyến dài 300 kilômét mà vẫn không sao bảo đảm an toàn cho những đoàn tiếp tế sang Lào. Từ khi hai tiểu đoàn bị rút ra Bắc để cứu nguy cho Vĩnh Yên thì rõ ràng Lôriô đã lâm vào tình thế bất lợi trước hoạt động ngày càng tăng của đối phương. Viên tướng chỉ huy miền Trung đã cảnh cáo bộ tham mưu của Đờlát rằng, nếu lực lượng còn bị rút đi thì không thể nào đứng vững được. Phía đông địa bàn do Lôriô phụ trách vẫn bị đối phương cắt làm ba mảnh: Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Cao Nguyên. Viên tướng này chưa có biện pháp hiệu nghiệm đối phó với tình trạng chia cắt đó.
Tướng Săngxông, chỉ huy ở Nam Bộ, cũng ở vào tình thế không sáng sủa hơn. Từ khi sang Đông Dương và nhất là trong lúc hoảng hốt đối phó với chiến sự ở Vĩnh Yên, Đờlát đã thẳng tay cắt xén để đưa ra Bắc 4 tiểu đoàn Bắc Phi, 2 tiểu đoàn lê dương, 1 tiểu đoàn dù, 1 tiểu đoàn công binh, 1 cụm pháo và phần lớn không quân. Săngxông lo ngại nếu việc cắt xén không thương tiếc cứ tiếp tục diễn ra thì tình hình sẽ trở nên không chịu đựng nổi nếu đối phương hoạt động mạnh, vì lực lượng ứng chiến tại chỗ cố gom góp cũng chỉ được chừng 5 tiểu đoàn. Săngxông hy vọng rằng cuộc công cán sắp tới của Đờlát sẽ thành công để có lực lượng “trả nợ” cho Nam Bộ ít nhất là 6 tiểu đoàn.
Trên chiến trường Cao Miên, tướng Điô (Dio) cũng đang đuối sức trước hoạt động của những người Khơme tự do có liên hệ mật thiết với dân chúng. Được nhân dân giúp đỡ, họ đã đánh nhiều trận phục kích, khiến cho an toàn của Pháp trên các đường giao thông thủy bộ đều không được bảo đảm.
Đờlát nắm được tất cả tình hình rất ít thuận lợi trên đây qua báo cáo của các viên tướng chỉ huy các chiến trường. Trong một cuộc họp tháng 2 năm 1951, viên tổng chỉ huy chỉ còn biết hứa hẹn sẽ giúp đỡ khi có thể được. Ông ta khẳng định: trước mắt, quan trọng hơn cả là Bắc Bộ, “Bắc Bộ quyết định số phận Đông Dương, vì chính đây là điểm xuất phát của những dòng thác muốn hất chúng ta xuống biển”. Mọi cố gắng của quân đội Pháp phải hướng vào Bắc Bộ. Trước mắt, các chiến trường khác phải tự lo liệu lấy khi mà cao ủy còn chưa “tháo gỡ được cơn khủng hoảng chính trị Bảo Đại”, cụ thể là việc vàng hóa (phát triển quân ngụy) chưa đem lại kết quả đáng kể. Công trình bê tông (phòng tuyến) phải được gấp rút dựng lên để tạo được một bức trường thành “ngăn chặn những dòng nước lũ”. Đờlát tin rằng đến lúc đó tình hình sẽ sáng sủa hơn.
Cũng chính với niềm tin đó mà trung tuần tháng 3 năm 1951, “vua Giăng” lên đường đi Pari, mang theo một tập hồ sơ đồ sộ (về yêu cầu tăng viện và ngân sách). Cơ quan tổng hành dinh than phiền tướng tổng chỉ huy cứ bắt làm đi làm lại rất nhiều lần để có một tập hồ sơ hấp dẫn có thể “lọt qua những cặp mắt xanh của những kẻ có thẩm quyền ở Pari và nhất là ở Oasinhtơn”.
Từ đầu tháng 3, tướng Xalăng được lệnh giao quyền chỉ huy miền Bắc cho tướng Đờ Linaret (De Linarès) để trở lại cương vị phụ tá của tổng chỉ huy và tạm thay quyền khi Đờlát vắng mặt.
Các ký giả đi theo “vua Giăng” về Pháp muốn tìm hiểu xem ngài nghĩ gì khi lên đường? Người ta kể lại rằng ông ta cố tỏ ra yên tâm về Đông Dương, thậm chí còn dám tuyên bố rằng: đối phương có tiến công hay không điều đó không quan trọng lắm (!). Phòng nhì đã dự kiến mọi tình huống có thể xảy ra và ngài tổng chỉ huy đã phác ra mọi kế hoạch đối phó về mặt chiến lược. Mọi việc đều đã được dự kiến, quân đội Pháp không thể nào bị bất ngờ. Hơn nữa, “cuộc đấu tranh thực thụ không phải là ở Đông Dương mà ở nước Pháp, trước Bộ Quốc phòng”. Phải thắng ở Pari, đó mới là điều quan trọng hàng đầu, bởi vì kẻ thù chính (ý nói những người muốn bó tay Đờlát) lại ở ngay chính quốc. Vậy thì có thể vắng mặt ở Đông Dương để giành bằng được phần thắng ở Pari.
Đờlát đặt rất nhiều hy vọng có thể vét thêm quân, xin thêm tiền (để đổ vào “cái thùng không đáy” Đông Dương), khốn nỗi ngài tổng chỉ huy rời Hà Nội đúng vào lúc xẩy ra cuộc khủng hoảng nội các ở Pari. Nội các Plêven, nội các thứ 13 sau 6 năm chiến tranh xâm lược Đông Dương, bị đổ ngày 28 tháng 2 năm 1951.
Ai sẽ lên làm thủ tướng và ai sẽ là bộ trưởng quốc phòng để được Đờlát coi là “kẻ thù chính” trong cuộc đấu tranh thực thụ” ở Pari?
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #98 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:00:07 am » |
|
ĐỠ ĐÒN VÀ LỪA BỊP Sau khi Đờlát đi Pháp, nỗi lo lắng của Xalăng và Đờ Linarét là sự yên tĩnh giả tạo của chiến trường. Đâu sẽ là hướng tiến công sắp tới của chủ lực đối phương? Các tổ chức tình báo kỹ thuật, các mạng chỉ điểm, các đội tuần tiễu... đều bất lực không giúp gì cho cơ quan tham mưu Pháp, đến nỗi Xalăng phải kêu lên là sự “yên lặng” của đối phương đã làm cho các tướng lĩnh Pháp lo ngại vì họ như lần mò trong đêm tối. Họ thường nhắc lại với nhau điệp khúc mà tổng chỉ huy của họ thường dùng: “Nếu tôi là ông Giáp, tôi sẽ làm gì? Sẽ đánh ở đâu? Có thể thế này, cũng có thể thế kia...” Giữa lúc câu hỏi chưa có lời đáp thì bỗng đêm 23 tháng 3, bộ tham mưu Pháp được tin “quân đội đối phương mở cuộc tiến công lớn ở vùng mỏ Đông Bắc. Bảy đồn bị tiêu diệt, 200 súng bị mất, nguồn nước ngọt tiếp tế cho Hải Phòng bị cắt; đồng thời trên hướng đường số 5, nhiều đoạn đường sắt Hà Nội - Hải Phòng bị phá...”. Ý định chiến lược của đối phương là gì? Uy hiếp Hải Phòng từ hướng Đông Bắc? Làm chủ vùng mỏ vì mục đích kinh tế? Trước tình hình toàn bộ mặt trận Đông Bắc bị tiến công, Xalăng vội vã điện báo cáo cho tổng chỉ huy Đờlát (khi ấy đang ở Pari) và... chờ đợi. Giữa lúc đó, tại thủ đô Pháp, nơi được Đờlát coi là “chiến trường số 1”, cao ủy - tổng chỉ huy đang thất vọng về kết quả quá nghèo làn của chuyến công cán. Pari chỉ chấp nhận tăng viện tiếp cho đủ số 20.000 quân theo đề nghị của ông ta trước khi sang Đông Dương nhậm chức. Hơn nữa, Thủ tướng Cơi (Queuille) còn ra điều kiện: số quân đó phải được hoàn lại chậm nhất là tháng 7 năm sau (1952). Thế là trong “cuộc đấu tranh thực thụ với... kẻ thù chính” cao ủy đã chịu nhận phần thua. Nhận điện của Xalăng và đọc báo chí Pari (không hiểu sao tin nhanh thế) nói về “vùng mỏ bùng cháy”, viên tướng già lại lật đật lên đường để có mặt ở Hà Nội tối 26 tháng 3, sau đó lao xuống Hải Phòng để trực tiếp điều binh khiển tướng đối phó với cuộc tiến công đã lan rộng của đối phương. Không dám đem quân chiếm lại các cứ điểm đã mất, viên tổng chỉ huy chủ trương tập trung lực lượng giữa Mạo Khê, bảo vệ đường 18, con đường huyết mạch chạy dọc phòng tuyến bê tông. Sư đoàn cơ động Bắc Bộ thứ 2 (2è DMT) do viên đại tá Xide chỉ huy (mặc dù chưa thành lập xong) cùng tất cả mọi phương tiện có thể huy động được, kể cả pháo trên tàu của hải quân và thủy đội xung kích số 1 (dinassaut 1) trên sông Bạch Đằng, đều được cấp tốc điều đến giữ cho Mạo Khê “đứng vững”. Sau khi thêm hai vị trí (Bí Chợ và Tràng Bạch) bị tiêu diệt, Đờlát hạ lệnh cho các cứ điểm còn lại phải cố thủ, chờ viện binh. Trước tình hình đồn Mạo Khê bị uy hiếp nghiêm trọng, đêm 29 rạng 30 tháng 3, ông ta ra lệnh cho pháo trên tàu chiến từ cửa sông Bạch Đằng cùng máy bay chi viện để một tiểu đoàn dù của sư đoàn 2è DMT giải vây. Quân dù bị chặn đứng. Một máy bay Hencát bị bắn rơi. Mãi đến đêm 30, việc giải vây vẫn chưa thực hiện được. Cuối cùng, nhân lúc đối phương tập trung lực lượng diệt quân viện, bọn lính sống sót trong đồn Mạo Khê rút chạy. Cũng sáng 30, trước cuộc tiến công của đối phương vào khu phố Mạo Khê, hai lô cốt và ba xe tăng bị phá hủy, Đờlát vội tung thêm một tiểu đoàn dù xuống cứu nguy. Quân viện phải “chiến đấu dưới hỏa lực quá dày đặc để giải vây cho quân Pháp trong các vị trí đang chống cự với sức mạnh của sự tuyệt vọng”. Từ chiều ngày 1 tháng 4, trong lúc cơ quan tham mưu Pháp đang ngạc nhiên không hiểu vì sao đối phương bỗng ngừng hoạt động, thì đột nhiên đến lượt hàng loạt vị trí ở phía tây Đông Triều bị tiến công. Lại một lần nữa viên tổng chỉ huy ra lệnh điều lực lượng về cứu nguy. Các sĩ quan tham mưu vừa chấp hành lệnh điều quân vừa bàn tán về tình cảnh “giật gấu vá vai của vị thống soái đáng thương”. Cho đến ngày 6, Đờlát vẫn chưa dám bỏ lệnh cho viên đại tá Xide và đô đốc Oóctôli sẵn sàng viện binh và hỏa lực để đối phó với đối phương mà không hề biết rằng sau các trận tiến công các vị trí Bến Tắm, Bãi Thảo, Hoàng Xá, Hà Chiều..., đối phương đã kết thúc chiến dịch. Mãi mấy ngày sau đó, trong mệnh lệnh gửi binh lính ở chiến trường Bắc Đông Dương, Đờlát mới dám khẳng định sức ép của đối phương ở vùng địa đầu của phòng tuyến không còn nữa. Nếu sau “sự kiện Vĩnh Yên”, tổng chỉ huy Đờlát vội dùng mọi thủ đoạn chiến tranh tâm lý để tuyên truyền chiến tích napan, thì lần này, với kết quả nghèo nàn của chuyến công cán Pari, tiếp đó là hoạt động khó hiểu của gần 10 trung đoàn chính quy đối phương ở vùng mỏ và tình hình không ổn định ở biên giới Tây Bắc từ trung tuần tháng 3, tất cả, những điều đó làm cho “vua Giăng” trở về Hà Nội với bộ mặt không vui khác thường. Một cuộc họp được triệu tập để nghe những lời oán trách của viên cao ủy - tổng chỉ huy về thái độ của Chính phủ Pháp mà ông ta vừa vấp phải trong chuyến đi Pari vừa qua. Theo Đờlát, sở dĩ ông ta xoay xở được một ít quân, phương tiện và một khoản tiền nào đó là vì “phòng tuyến bê tông của tôi đã hấp dẫn một số người” ở thủ đô Pháp. Nhưng điều khiến cho viên tướng này ngạc nhiên là Chính phủ muốn kết thúc sớm cuộc chiến tranh Đông Dương. Thậm chí một số nhân vật tai to mặt lớn ở Pari còn nói với ông ta những lời đáng sợ (?): “Xin tướng quân đừng lao sâu vào cuộc chiến tranh ở bên đó nữa”. Đờlát nhận thấy rõ ràng giới cầm quyền Pháp đã tỏ ra thối chí. Phải chăng nội các mới vừa thành lập đã phải đương đầu với quá nhiều khó khăn đến nỗi tỏ ra run tay trước đối thủ Việt Minh?
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #99 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:00:24 am » |
|
Nếu Đờlát phải thừa nhận rằng “chiến tích đầu tiên” đã không đủ giúp cho ông ta giành được thắng lợi lớn trong chuyến đi Pháp vừa qua thì ông ta lại tin rằng ba tấc lưỡi của cao ủy cộng với hai cánh tay nhà binh của tổng chỉ huy, chắc chắn sẽ giúp ông ta đẩy được bọn bù nhìn bản xứ tiến tới. Yêu cầu đặt ra trước mắt là làm sao lôi kéo được bọn tay sai góp sức bịt cái lỗ hổng về người và của mà chính quốc bất lực không đáp ứng nổi.
Ngày 19 tháng 4, tại thị xã Vĩnh Yên, trước mặt rất nhiều quan chức dân sự và quân sự bù nhìn, rất nhiều phóng viên trong và ngoài nước, nhà ảo thuật họ Đờ đọc một bài diễn văn dài. Mục đích chủ yếu của lần ra mắt này là kích động “những con rối lớn” trong tay cao ủy: Bảo Đại, Trần Văn Hữu, quốc trưởng và thủ tướng bù nhìn, để đám này sớm đồng tình cho ra đời đội quân tay sai chính hiệu.
Biết rằng cựu hoàng quá bận vì những cuộc truy hoan, nên trước đó vài ngày, cao ủy đã cử phó tướng Xalăng mang bài diễn văn vào Đà Lạt để “tranh thủ sự đồng tình”.
Bài diễn văn tám trang của Đờlát đặc những nội dung lừa mị, những lời mập mờ đánh lận con đen. Nào là: Việt Nam là một quốc gia tự do, độc lập, có chủ quyền. Quân và tướng Pháp sang đây là để hoàn chỉnh nền độc lập của Việt Nam chứ không phải để hạn chế nền độc lập ấy (!). Nào là: quan hệ Pháp - Việt (đế quốc Pháp và bọn tay sai) không phải chỉ là quan hệ bạn bè mà là quan hệ giữa những người rất thân thuộc. Nước Pháp đang đem toàn bộ sức mình ra giúp đỡ Việt Nam trong cuộc chiến đấu vì tự do, chống lại chế độ độc tài chuyên chế (!). Bằng chứng hùng hồn về sự cố gắng của Pháp là những công trường xây dựng hệ thống phòng thủ bằng bê tông bao quanh đồng bằng Bắc Bộ, v.v… Và tất nhiên Đờlát không quên điều chủ yếu cần nói là đốc thúc bọn tay sai hãy nhanh tay góp sức xây dựng “một quân đội quốc gia... đủ sức đáp lại ước vọng lớn lao nhất của chúng ta trong cuộc chiến đấu sống còn đang diễn ra trên đất nước này...”.
Ít nhất, bằng những lời đường mật đã được cân nhắc chọn lọc, thầy phù thủ Đờlát đã cám dỗ thêm được không ít kẻ trong đám tay sai lớn nhỏ có mặt trong bữa tiệc. Chẳng thế mà khi diễn giả họ Đờ vừa dứt lời, thủ tướng bù nhìn Trần Văn Hữu bỗng “như người bị mê hoặc”, nước mắt lưng tròng, chạy bổ đến ôm chầm lấy viên tướng già, miệng lắp bắp “Mẹcxì... mẹcxì...” (cám ơn, cám ơn), trong khi toàn thể cử tọa đứng lên vỗ tay nhiệt liệt tán thưởng bài đítcua của viên tướng. Và, tất nhiên Hữu đã thay mặt cựu hoàng để nói lên những lời tri ân và hứa hẹn.
Trong bữa tiệc, giữa những tiếng cốc to, cốc nhỏ khua vang, các tướng tá Pháp đi theo Đờlát đã chỉ thị thẳng cho bọn tay sai có mặt hãy đốc thúc Bảo Đại, để “cựu hoàng tỏ ra thông minh hơn, biết nắm lấy thời cơ này, biến những lời hay ý đẹp (!) của cao ủy thành những con người bằng xương bằng thịt trong cái gọi là quân đội quốc gia”.
Bài diễn văn của Đờlát ngày 19 tháng 4 được coi là một hành động chính trị tung ra đúng lúc. Sau đó bọn tướng tá Pháp lao vào cố thúc đẩy sự ra đời của một đội quân chính quy bù nhìn. Mỗi trung đoàn quân viễn chinh Pháp được giao nhiệm vụ kèm cặp một tiểu đoàn bản xứ, với vũ khí do Mỹ viện trợ và sĩ quan do Pháp đào tạo.
Khó khăn lớn nhất vẫn là vấn đề quân số. Mặc dù cao ủy đã thúc bách Bảo Đại ra “đạo dụ tổng động viên” nhưng khốn nỗi báo chí lại kêu rằng thanh niên quá thờ ơ với đạo dụ của cựu hoàng.
Đối với các tướng lĩnh Pháp, tình thế đã quá khẩn trương, không thể đợi cho “đạo dụ” phát huy được tính chất lừa bịp của nó. Một cuộc hội nghị quân sự cao cấp được triệu tập ở Hà Nội ngày 28 tháng 4 để bàn kế hoạch đẩy mạnh các cuộc càn quét nhằm gỡ thế ngạt thở ở đồng bằng và nhất là để bắt lính.
Một sự kiện không may xảy ra: trên đường về dự cuộc họp, tướng không quân Háctơman đã tan xác vì máy bay bị dính đạn của các chiến sĩ phòng không Việt Nam. Đây là viên tướng viễn chinh đầu tiên được Bộ chỉ huy Pháp xác nhận là bỏ mạng trên chiến trường Đông Dương.
Trong cuộc họp, tổng chỉ huy Đờlát nhận xét rằng tình thế ở đồng bằng Bắc Bộ ngày càng khiến ông ta lo ngại, vì những chấm đỏ xuất hiện quá nhiều trên bản đồ. Điều đó chứng tỏ đối phương thâm nhập ngày càng đông. Ông ta “không chịu nổi” những chấm đỏ đó. Phải tổ chức gấp nhiều cuộc càn quét nữa, với binh lực cao nhất có thể huy động được nhằm tiêu diệt những chấm đỏ nói trên càng sớm càng tốt, đồng thời vây bắt thanh niên cho cái gọi là quân đội quốc gia của Bảo Đại. Ngoài việt triệt phá kinh tế, mỗi cuộc càn phải đạt hai mục đích chiến lược đó. Nhận xét về các cuộc càn quét vừa qua, viên tổng chỉ huy tỏ ra không hài lòng vì kết quả quá hạn chế. Ví dụ cuộc càn Con sứa (Méduse) do tướng Đờ Linarét đích thân chỉ huy trong tháng 4 ở vùng Hải Dương - Thái Bình. Với binh lực 14 tiểu đoàn, tiến hành trong vòng nửa tháng, cuộc càn chỉ bắt được mấy ngàn thanh niên mà không sao dẹp được “bọn phiến loạn”. Cuộc càn lướt qua quá nhanh, không biết trụ lại để tổ chức dân vệ. Điều quan trọng nữa là quân Pháp tham gia cuộc càn đã bị sứt mẻ khá nhiều. Tóm lại, đó là cuộc hành binh được không bù mất.
Viên tổng chỉ huy chỉ thị cho bọn đàn em phải tổ chức thêm những cuộc càn liên tiếp ở đồng bằng trong suốt mùa hè, phải chuẩn bị chu đáo, chỉ huy đúng bài bản.
Để thử tài Bécsu (Henri de Berchoux), một viên tướng vừa chân ướt chân ráo sang chiến trường Đông Dương, Đờlát giao cho gã chỉ huy cuộc càn Bò sát (Reptile), với binh lực 14 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo, ở vùng Bình Giang, Kẻ Sặt (nam đường số 5) là khu vực mà viên tướng này phụ trách.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|