Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #140 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:47:52 am » |
|
Hai viên tướng cũng nói đến “thái độ bàng quan và trung lập” của Tổng thống Hoa Kỳ Tơruman trong những năm đầu chiến tranh Đông Dương (1946-1949), khi mà quân lực Mỹ chỉ còn khoảng trên 10% so với hồi Chiến tranh thế giới thứ hai, đồng thời ngân sách chiến tranh của Mỹ đã bị cắt giảm nghiêm trọng. Hoa Kỳ có cớ để trách Pháp đã cố tình bưng bít không cho thế giới bên ngoài biết về tính chất ác liệt của cuộc chiến tranh Đông Dương và những khó khăn mà quân đội viễn chinh Pháp vấp phải trong những năm đó. Chủ trương “bưng kín miệng bình” chỉ làm cho Pháp thiệt thòi, vì các quan chức Mỹ thiếu cả tư liệu lịch sử và cả những tin tức chi tiết hàng ngày để đánh giá tình hình Đông Dương. Bởi thế, viện trợ của Mỹ cho Pháp trong ba năm (7.1945 - 7.1948) được coi là chỉ có ý nghĩa về kinh tế hơn là trực tiếp giúp đỡ Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương.
Cho đến năm 1949, vấn đề an ninh tập thể châu Âu (đối phó với cái gọi là sự đô hộ của cộng sản) và vấn đề “phục hồi kinh tế” (thực chất là dùng kế hoạch Mácsan để lũng đoạn các nước đế quốc phương Tây) đối với Mỹ vẫn còn hấp dẫn hơn vấn đề Việt Nam. Chỉ đến khi Pháp đã chính thức tham gia khối quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO), và khi bọn Quốc dân đảng đã bị đánh bật khỏi lục địa Trung Hoa, lập trường chống cộng của Mỹ ở Đông Nam Á mới công khai bộc lộ. Từ đó “thuyết Đôminô” ra đời và trở thành gốc rễ chính sách đối ngoại của Mỹ ở Đông Nam Á. Cũng từ đó mối quan hệ Mỹ - Pháp về cuộc chiến tranh Đông Dương mới chính thức được đặt ra, bắt đầu bằng thái độ đồng tình của Nhà trắng đối với “giải pháp Bảo Đại”.
Tuy nhiên, vượt qua những khó khăn ban đầu không phải là giản đơn vì sự xung đột về mục tiêu chính trị sớm xuất hiện. Cuộc gặp gỡ ở Pari hồi tháng 9 năm 1949 giữa bộ trưởng ngoại giao Mỹ Akixơn (Acheson) và bộ trưởng ngoại giao Pháp Suman đã chứng minh điều đó. Phía Mỹ muốn ép Pháp sớm thực hiện hiệp ước Ôriôn - Bảo Đại. Còn phía Pháp lại tỏ ra không tha thiết với điều đó mà chỉ yêu cầu Mỹ viện trợ tài chính và quân sự cho cuộc chiến tranh Đông Dương (vì lúc này Pháp đã “hụt hơi”).
Từ đầu năm 1950, khi Mỹ khẳng định mục tiêu quan trọng là đẩy mạnh mưu đồ ngăn chặn cộng sản ở Đông Nam Á, Bộ ngoại giao Mỹ chính thức đề nghị quốc hội chuẩn y viện trợ cho Pháp và ép Pháp nhanh chóng giao quyền “độc lập” cho Bảo Đại. Ngày 2 tháng 2 năm 1950, quốc hội Pháp chính thức phê chuẩn hiệp ước 8 tháng 3 năm 19491, công nhận “độc lập” của Việt Nam (ngụy), cũng là ngày Tổng thống Tơruman chuẩn y việc công nhận Bảo Đại. Vài tuần sau, Pháp nhắc lại yêu cầu viện trợ cho cuộc chiến tranh Đông Dương.
Kết quả là tháng 5 năm 1950, Tổng thống Tơruman phê chuẩn chương trình viện trợ quân sự và kinh tế cho Pháp ở Đông Dương. Thông cáo chung Pháp - Mỹ tháng 6 năm 1950 thừa nhận cuộc chiến tranh Đông Dương là “một bộ phận của cuộc chiến đấu chung Pháp - Mỹ chống lại sự chinh phục và lật đổ của cộng sản”. Yếu tố vật chất để giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu đó là đô la và vũ khí Mỹ cộng với lính của Khối Liên hiệp Pháp. Nước Pháp không có lý do gì để giảm bớt cố gắng trong cuộc chiến tranh này.
Từ giữa năm 1950, hàng loạt sự kiện đã diễn ra liên tiếp: Đại sứ Đônan Hít được cử sang Việt Nam; phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ được thành lập ở Sài Gòn; Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn ngân sách viện trợ trong tài khóa tháng 7 năm 1950 đến tháng 7 năm 1951 (23,5 triệu đô la) và cuối cùng, tháng 12 năm 1950, một bản hiệp ước “phòng thủ chung” được ký kết giữa Mỹ - Pháp và các quốc gia liên kết Đông Dương.
Điều đáng chú ý là, trong những buổi “trao đổi tình hình”, cả Clác và Xalăng đều không dám nói thẳng ra một sự thật mâu thuẫn Pháp - Mỹ nảy sinh ngay từ khi những chuyến viện trợ đầu tiên đến Việt Nam (sự thật đó mãi sau này mới được phơi bày trong bản tài liệu mật của Lầu năm góc).
--------------------- 1. Hiệp ước ký ngày 8 tháng 3 năm 1949 giữa Tổng thống Pháp và bù nhìn Bảo Đại, quy định Pháp nới quyền “tự trị” cho ngụy Việt Nam.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #141 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:48:42 am » |
|
Ngay từ giữa năm 1950, Mỹ đã yêu cầu Pháp nhanh chóng biến các “hiệp nghị” ký kết với Bảo Đại thành những “giải pháp quốc gia có hiệu lực”. Các nhà ngoại giao Mỹ ở Việt Nam được Oasinhtơn chỉ thị: dùng biện pháp thuyết phục hoặc gây sức ép với sự tính toán cân nhắc kỹ càng nhất để Pháp mau chóng và dứt khoát chấp nhận nguyên tắc Việt Nam “độc lập”. Nhà trắng dễ dàng nhận thấy Chính phủ Bảo Đại không được dân ủng hộ mà cũng chẳng có hiệu lực, còn quân đội (ngụy) thì phụ thuộc vào sự chỉ huy của Pháp và cũng không có sức mạnh. Để nâng cao vai trò của Chính phủ và “quân đội quốc gia” (thực chất là để trực tiếp nắm chính quyền và quân đội ngụy), Mỹ muốn giao thẳng viện trợ cho “một Chính phủ quốc gia Việt Nam” (tay sai của Mỹ) chứ không phải cho một chính phủ bù nhìn của Pháp.
Tướng Đờlát cố chống lại sức ép của Mỹ bằng cách không ngừng nói đến “một quân đội thật sự Việt Nam, một quân đội được Mỹ trang bị đang tiến hành chiến tranh một cách có hiệu lực...”. Các tướng lĩnh Pháp cố hạn chế vai trò của phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ (không cho MAAG vượt quá chức năng tiếp tế, không cho các sĩ quan Mỹ can thiệp vào nội bộ quân đội Pháp và quân đội Bảo Đại)1.
Cho đến mùa hè năm sau, khi cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam và Đông Dương đã làm mất lòng nhiều người (ở Pháp và trên thế giới) và khi nhiều tướng lĩnh Pháp đã không còn tin vào thắng lợi quân sự nữa, Nhà trắng mới chỉ thị cho các quan chức Mỹ không nên quá mạnh tay ép Pháp phải nhượng bộ các chính quyền (ngụy) Đông Dương. Điều quan trọng lúc này (1952) đối với Mỹ là làm sao để Pháp không “ngã lòng” trong cuộc chiến tranh chống cộng ở Đông Dương; làm sao cho Pháp dốc sức vào một trong hai mặt trận chống cộng ở châu Á (ý nói Đông Dương và Triều Tiên).
Tại quốc hội Hoa Kỳ, những cuộc tranh luận về sự can thiệp của Mỹ vào cuộc chiến tranh Đông Dương đã dẫn đến sự nhất trí cho rằng: Trên nguyên tắc cơ bản, tầm quan trọng của Đông Dương đối với nền an ninh của Mỹ (?) được coi là điều tất nhiên. Và từ tháng 2 năm 1952, sau bị vong lục số 124 của chính quyền Tơruman gửi cho Pari, Mỹ đã không ngừng dốc tiền và súng đạn vào Đông Dương để tiếp sức cho quân đội viễn chinh Pháp. Kết quả là trong cả năm 1952, tổng số viện trợ của Mỹ cho Pháp ở Đông Dương đã lên tới 200 tỷ phrăng, gồm 110 tỷ bằng tiền và 90 tỷ trang bị.
Một năm đã trôi qua, kể từ ngày có bị vong lục đến ngày tướng Mỹ Clác bằng xương bằng thịt có mặt ở Việt Nam theo yêu cầu của thống chế Gioăng, để cùng Xalăng bàn mưu tính kế giành thắng lợi trong “cuộc chiến đấu chung Pháp-Mỹ”. Hai viên tướng nhẩm tính rằng vào cuối tháng 3 năm 1953, chuyến tàu viện trợ thứ 300 sẽ cập bến Sài Gòn.
Clác vừa rời Việt Nam ngày 23 tháng 3 thì một tháng sau, ngày 25 tháng 4, đến lượt đô đốc Rátpho, tân chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Hoa Kỳ, đến Sài Gòn. Đây là cuộc viếng thăm thứ hai trong vòng nửa năm của Rátpho tại Đông Dương. Viên đô đốc Mỹ này ra thăm Hà Nội đúng vào lúc các chiến hữu Pháp quốc đang chạy dài dọc sông Nậm U về hướng Luông Pha Băng. Đối với tổng chỉ huy Pháp Xalăng, thất bại ở Thượng Lào là một thực tế để tiện nói chuyện với ông bạn lái súng Mỹ. Chẳng thế mà ngay trong cuộc gặp gỡ đầu tiên, khi Rátpho vừa tới, Xalăng đã nói toạc ra ràng, cuộc chiến đấu của Pháp ở trên toàn Đông Dương cũng như ở riêng Thượng Lào hiện nay “bị chi phối chủ yếu bởi những khả năng về không quân” mà bộ chỉ huy Pháp cho là quá thiếu thốn...
Sau mấy ngày thăm viếng, viên đô đốc Hoa Kỳ chấp nhận mọi yêu cầu của bộ chỉ huy Pháp với lời hứa sẽ trình lên Chính phủ. Trước mắt, Rátpho sẽ gửi ngay cho Xalăng sáu máy bay vận tải C119, thứ mà viên tướng Pháp tha thiết yêu cầu.
Trong những màn chót của “tấn thảm kịch Đông Dương” được họ mệnh danh là “cuộc chiến đấu chung”, cả Pháp lẫn Mỹ đều muốn tỏ cho đồng minh biết rằng mình không tiếc sức để cùng nhau giành bằng được phần thắng!2.
--------------------- 1. Như bản tài liệu mật của Lầu Năm góc đã nhận xét, mâu thuẫn Pháp - Mỹ là mâu thuẫn không thể dung hòa được và đã có lúc trở nên khá gay gắt trong năm 1951.
2. Về hậu quả đường lối của chính quyền Pari và bọn cầm đầu quân viễn chinh Pháp (từ Đờlát đến Xalăng... ) dựa vào Mỹ để tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương, sau này được Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết trong Đường tới Điện Biên Phủ (Nxb Quân đội nhân dân - 1999, tr. 328) như sau: “Những chủ trương mà ông ta (chỉ Đờlát) tưởng là khôn ngoan, trao “độc lập” (cho Bảo Đại) và dựa vào Mỹ để xây dựng một quân đội cho ngụy quyền, đã dẫn tới sự ra đi vĩnh viễn của quân đội viễn chinh (Pháp). Đó là bi kịch của Đờlát. Chiến tuyến boongke ở đồng bằng Bắc Bộ không phải là khó khăn lớn nhất mà Đờlát để lại cho ta. Với việc mở đường cho chủ nghĩa thực dân mới vào Việt Nam, Đờlát đã mang đến cho ta một hiểm họa lâu dài.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #142 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:53:39 am » |
|
THÊM MỘT NỘI CÁC CHỦ CHIẾN Tuy được những kẻ đại diện của Lầu năm góc hứa hẹn viện trợ nhưng tướng Xalăng vẫn thấy cần để cho Chính phủ biết rằng đội quân viễn chinh đang ở trong tình trạng giật gấu vá vai về mặt trang bị. Thật ra từ lâu, ở Pari người ta không lạ gì thói quen của viên tướng này: sau mỗi thất bại có ý nghĩa chiến lược hoặc trước yêu cầu mới của chiến trường, việc đầu tiên của tổng chỉ huy là đặt vấn đề xin thêm lực lượng và phương tiện. Người ta cũng chưa quên rằng năm 1948, thói quen đó đã dẫn đến việc triệu hồi Xalăng (khi ấy đang tạm quyền chỉ huy sau khi Valuy về nước) và cử Bledô sang thay. Lần này, sau thất bại ở Thượng Lào, thói quen đó lại tái diễn. Ngày 24 tháng 4, bằng một bức điện dài (từ số 40.568 đến số 40.578), viên tổng chỉ huy lại đặt điều kiện với Pari, phải có thêm 5.000 giờ bay vận tải mới thực hiện được kế hoạch bảo vệ Thượng Lào; phải có máy bay lên thẳng mới giữ vững được tinh thần binh lính vì đã có quá nhiều trường hợp lính bị thương và bị bỏ rơi trong rừng vì không có máy bay lên thẳng đến cứu... Bốn ngày sau, Thủ tướng Mayê đánh điện trả lời, tiếp đến là bức thư riêng của tướng Gioăng. Điện và thư cùng mang một nội dung: không có phương tiện bổ sung, phải tùy khả năng mà hành động; nếu cần, phải điều chỉnh lại bố trí binh lực, bỏ bớt đi một số căn cứ lục quân - không quân để làm nhẹ gánh về phương tiện vận chuyển đường không hiện đã vượt quá khả năng của Chính phủ. Thái độ của Pari đã quá rõ ràng: “Lúc này để một bộ phận lực lượng của chúng ta bị tiêu diệt là điều đáng sợ hơn nhiều so với việc buộc phải bỏ một vùng đất đai nào đó”. Thư và điện chưa đủ. Đầu tháng 5, Pari còn cử tướng Lơse (Lechères), phái viên quân sự của Chính phủ sang khẳng định quan điểm chiến lược của Bộ tham mưu Pháp lúc này đối với chiến trường Đông Dương. Cũng chính trong cuộc công cán này, Lơse đã tiết lộ cho Xalăng biết khá nhiều điều vừa bí mật vừa công khai ở Pari. Kết quả thăm dò thái độ công chúng vừa qua cho thấy trên 70% dư luận tỏ ra thiếu quan tâm đến cuộc chiến tranh Đông Dương và muốn đi đến giải pháp thương lượng. Trong quốc hội, phái chủ trương đàm phán để giải quyết hòa bình vấn đề Việt Nam ngày càng chiếm được nhiều phiếu. Các lãnh tụ cánh hữu và cả Thủ tướng Mayê cũng đã nhận thấy quân Pháp không thể tiêu diệt được đối phương. Nhưng lập trường hiện nay của điện Matinhông 1là chỉ kết thúc chiến tranh trong danh dự, cụ thể là chỉ tiến tới đàm phán khi đối phương đã thấy họ cũng không thể giành được thắng lợi quân sự có ý nghĩa quyết định và khi tình hình quân sự cho phép thương lượng với điều kiện có thể chấp nhận được... Sắp tới, tướng Nava sẽ được cử sang làm tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương để tạo ra tình hình quân sự có lợi cho cuộc thương lượng. Đối với Xalăng, những tin tức trên đây thật là quan trọng, đặc biệt là tin tức về chủ trương “thay tướng” của Pari, một việc mà dư luận bàn tán từ nhiều tháng nay. Qua Lơse, việc ra đi của tổng chỉ huy Xalăng thế là được xác nhận. Nhớ lại thái độ hờ hững của tướng Gioăng khi sang kinh lý Đông Dương mấy tháng trước, nhớ lại những bức điện và thư vừa qua của Pari, Xalăng càng thấy rõ: từ lâu Chính phủ đã có ý đồ phủi tay về vấn đề Đông Dương. Điều đáng chú ý hơn nữa là ý đồ đó lại quan hệ đến cá nhân ngài đương kim tổng chỉ huy. Bất chấp cả phái viên của Bộ tham mưu, Xalăng phản ứng ra mặt: “Tôi hiểu rất rõ vì sao ông Mayê cố tình hạn chế công việc chỉ huy của tôi. Ông ta muốn loại trừ tôi bằng bất kỳ giá nào vì tôi là con người say đắm cái xứ Đông Dương này và tôi muốn giữ mãi mảnh đất mà tôi yêu mến(!). Tôi sẽ không bao giờ bỏ rơi nó. Nhưng tôi không thể tiếp tục làm theo lệnh của Chính phủ mà Đông Dương đối với họ chỉ là một gánh nặng và họ chỉ muốn giũ đi cho rảnh... Không thể như thế được, nhất là đối với tôi...”. Ba chục năm “thâm niên Đông Dương” quả đã làm cho ngài tổng chỉ huy quá “nặng lòng” đối với mảnh đất béo bở này. Cơn thịnh nộ của ngài nguôi dần khi được Lơse cho biết: Thủ tướng Mayê khó mà đứng vững trước cơn sóng gió chính trị hiện nay ở Pari. Xalăng bỗng thấy còn chưa đến nỗi tuyệt vọng. Nhưng rồi ai sẽ lên ngồi ghế thủ tướng? Và người đó liệu có đồng tình với việc cử viên tướng Nava nào đó sang cái chiến trường xa lạ này không? --------------------- 1. Trụ sở Hội đồng bộ trưởng Pháp.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #143 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:54:03 am » |
|
Đúng như dư luận phán đoán, sau hơn bốn tháng cầm quyền và tiếp tục cuộc chiến tranh Đông Dương theo đường lối của 17 chính phủ trước, ngày 21 tháng 5 năm 1953, Thủ tướng Mayê buộc phải từ chức vì không giải quyết được những khó khăn nghiêm trọng về chính trị và tài chính. Từ hạ tuần tháng 5, nước Pháp lâm vào một cuộc khủng hoảng nội các dài nhất kể từ sau ngày giải phóng.
Việc vận động lập nội các mới kéo dài hàng tháng nhưng chưa đảng nào giành được tối thiểu 314 phiếu tán thành (theo quy định của hiến pháp). Cuộc tranh giành ghế thủ tướng đã diễn ra gay gắt giữa Râynô (Paul Reynaud, thuộc đảng Độc lập), Măngđét Phrăngxơ và Mari (thuộc đảng Cấp tiến) và Biđôn (thuộc đảng Cộng hòa bình dân). Người được ít phiếu nhất (Mari: 272 phiếu) cũng như người được nhiều phiếu nhất (Biđôn: 313 phiếu) đều lần lượt vỡ mộng tân thủ tướng.
Dư luận tiến bộ Pháp cho rằng cuộc khủng hoảng nội các lần này càng phản ánh rõ rệt tình trạng khó khăn về nhiều mặt của giới cầm quyền Pháp. Những khó khăn về tài chính đã kéo theo khủng hoảng về chính trị. Nửa năm trước, ngày 22 tháng 12 năm 1952, việc thông qua dự án ngân sách đã lật nhào nội các Pinay. Lần này, sau khi con thuyền Mayê bị những cơn sóng gió tài chính nhận chìm, đã có nhiều dự án ngân sách được đưa ra. Người ta đã trù tính giảm ngân sách quân sự của nước Pháp từ 1.607 tỷ phrăng (1952) xuống 1.399 tỷ phrăng (1953), nhưng con số đó vẫn còn quá lớn vì phiếm 37% tổng số ngân sách. Nếu theo dự án đó, chiến phí của Pháp ở Đông Dương cũng buộc phải giảm từ 369 tỷ phrăng (1952) xuống 320 tỷ phrăng (1953) tức là 23% ngân sách quân sự toàn nước Pháp. Để dự án trên đây đứng vững được, giới cầm quyền Pháp dự kiến: trong năm 1953, phải thu 2.597 tỷ phrăng thuế, lạm phát thêm khoảng 50 tỷ phrăng. Riêng trên chiến trường Đông Dương, viện trợ của Mỹ phải nâng lên 46% chiến phí, tức là khoảng 270 tỷ phrăng.
Qua cuộc tranh chấp ghế thủ tướng, các đảng phái cánh hữu, trước hết là Cộng hòa bình dân, một lần nữa tỏ rõ lập trường ngoan cố của họ đối với cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Họ hy vọng tìm ra biện pháp chấm dứt tấn thảm kịch để nước Pháp thoát ra khỏi cái ngõ cụt, nhưng chính họ lại phản đối mọi chủ trương đàm phán để chấrn dứt cuộc chiến tranh trên cơ sở tôn trọng nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam là độc lập và thống nhất. Lập trường của Chính phủ Mayê hồi tháng 3 “dập tắt tia lửa vừa xuất hiện ở cuối đường hầm”1đã nói lên một thực tế là: Trên sân khấu chính trị, nước Pháp vẫn còn không ít kẻ âm mưu tiếp tục thực hiện “đường lối của Đờ Gôn không có Đờ Gôn”. Họ vẫn chủ trương lao sâu hơn nữa vào cuộc chiến tranh xâm lược, bất chấp sự phản đối ngày càng quyết liệt của nhân dân lao động Pháp. Ngay trong hàng ngũ tướng lĩnh Pháp, những người đã từng nếm mùi chiến tranh Đông Dương, cũng còn nhiều kẻ tỏ ra luyến tiếc miếng mồi thuộc địa khó nuốt này, mặc dù trong thâm tâm họ đã thấy Pháp hết hy vọng giành được thắng lợi quân sự. Điều đáng chú ý là quan điểm thực dân lỗi thời của những kẻ đã hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp chinh phục thuộc địa lại được phơi bày vào năm 1953 này, khi mà đội quân viễn chinh Pháp đang đứng trước vực thẳm của thất bại.
Các chính khách cánh hữu (đại diện là Biđôn, Lơtuốcnô) và các viên tướng chủ chiến (đại diện Xalăng, Mácsăng...) đều cho rằng chủ trương “bỏ rơi” Đông Dương là một điều sai trái với “truyền thống nhân đạo chủ nghĩa” (!) trong chính sách thuộc địa của Pháp. Theo họ, từ thế kỷ trước, khi đặt chân lên bán đảo này, “người Pháp (thực dân) đã tự đề ra cho mình nhiệm vụ giáo dục dân chúng (Đông Dương) nhằm nâng họ lên ngang tầm trình độ của chính quốc... Nếu bỏ rơi họ giữa đường, ắt không khỏi ảnh hưởng đến uy tín và danh dự của nước Pháp...” (!). Các chính khách và tướng lĩnh thực dân tìm mọi cách biện bạch rằng, sở dĩ họ theo đuổi cuộc chiến tranh (xâm lược) Đông Dương bảy năm qua “không phải vì quyền lợi ích kỷ như người ta nói mà là vì nền tự do mà các dân tộc (trên bán đảo này) đã giao phó cho chúng ta” (!).
Thật dễ hiểu nếu họ phản đối chủ trương rút quân viễn chinh Pháp khỏi Đông Dương, vì như vậy có nghĩa là “chấm dứt sự có mặt của nước Pháp ở châu Á”. Họ cũng không tán thành bỏ Bắc Bộ hoặc thu hẹp phạm vi chiếm đóng trên chiến trường này vì đó là “những dấu hiệu đầu tiên của chủ trương thu quân về nước... Bắc Bộ là chìa khóa của toàn Đông Dương. Không thể đứng vững được ở Đông Dương nếu Bắc Bộ không dưới sự kiểm soát của quân đội Pháp...”. Tóm lại, theo quan điểm của họ, phải phản đối mọi ý định thương lượng với Việt Minh, phải dựa vào súng viện trợ của Mỹ và lính bản xứ để đánh đến cùng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #144 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:54:39 am » |
|
Bước vào năm 1953, trên đất Pháp ngày càng có nhiều chính khách (già như Anbe Xarô, trẻ như Pie Métxme) đã nhận rõ cuộc chiến tranh Đông Dương đã và đang đưa nước Pháp đến đâu. Chính vì vậy nên những nhân vật này tán thành chủ trương tìm giải pháp chấm dứt chiến tranh, hòng vớt vát chút ít quyền lợi và danh dự của nền đệ tứ cộng hòa. Khốn nỗi lúc này phe chủ hòa chưa hoàn toàn chiếm ưu thế, lại bị phân hóa bởi những bất đồng cả về phương hướng và biện pháp tiến tới chấm dứt chiến tranh. Họ không muốn và không dám dựa vào sức mạnh phản chiến ngày càng tăng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp, những người mà Lacutuya (Jean Lacouture) nhận xét rằng đang có “sự mong muốn không sao dập tắt được là chấm dứt cuộc viễn chinh ám muội và xa xôi ở Đông Dương”. Sự mong muốn đó đã biến thành những hành động cụ thể và như nhận xét của tướng Nava sau này, đã dẫn đến “tình trạng hỗn loạn ngày càng sâu sắc... Chiến dịch chống chiến tranh (xâm lược) Đông Dương ngày càng được đẩy mạnh... Tình hình ấy là một nhân tố có tầm quan trọng đáng sợ...”.
Thế lực chủ hòa trong chính giới Pháp không muốn phối hợp hành động với phong trào phản chiến đang phát triển sâu rộng trong nhân dân lao động Pháp để tạo nên ưu thế trong quốc hội cũng như ngoài đường phố, nhằm ngăn chặn bàn tay của phe hiếu chiến Pháp. Điều đó giải thích vì sao ngày 28 tháng 6, một lần nữa phe chủ hòa lại bị thiểu số. Thêm một nội các chủ chiến lên cầm quyền với Lanien (Joseph Laniel) làm thủ tướng. Bản tuyên bố nhậm chức của Lanien có hai điểm được dư luận chú ý: 1. Chính phủ mới hứa sẽ dùng biện pháp thương lượng “với điều kiện có thể chấp nhận được để chấm dứt cuộc đổ máu và sự hy sinh những tinh hoa tuổi trẻ của nước Pháp”. 2. Chính phủ nguyện bảo vệ nền “độc lập” của các quốc gia liên kết nhưng các quốc gia đó phải cùng với Mỹ gánh vác nhiều hơn nữa gánh nặng chiến tranh vì nước Pháp đã đuối sức.
Về mặt đối nội, trên diễn đàn quốc hội, Lanien cố nhấn mạnh giải pháp thương lượng hòng giành đủ số phiếu tín nhiệm và xoa dịu quần chúng lao động Pháp đang đấu tranh gay gắt đòi chấm dứt ngay cuộc chiến tranh xâm lược bẩn thỉu ở Đông Dương. Về mặt đối ngoại, trước hết là với Mỹ, Lanien đặt nhiều hy vọng vào sự viện trợ mạnh mẽ hơn nữa như Nhà trắng đã hứa khi cựu Thủ tướng Mayê sang Oasinhtơn hồi tháng 3, lời hứa đã được tướng Clác cụ thể hóa trong chuyến sang Đông Dương gặp tổng chỉ huy Pháp Xalăng vài tuần sau đó. Theo lập luận của Thủ tướng Lanien, nước Pháp đang chiến đấu ở Đông Dương không phải chỉ nhằm bảo vệ ảnh hưởng và trận địa của mình ở đó mà còn góp phần bảo vệ “thế giới tự do” chống lại các cuộc tiến công của thế giới cộng sản. Cho nên, trong điều kiện chiến tranh đã phát triển, Pháp có quyền đòi hỏi Mỹ viện trợ nhiều hơn nữa về tài chính và quân sự để có thể tiếp tục cuộc chiến tranh. Đối với Lanien, 46% chiến phí mà Mỹ gánh vác ở Đông Dương là... “quá ít”.
Nội các mới của Pari dự kiến rằng dù Mỹ đổ thêm đôla và vũ khí vào cũng không thể giúp Pháp thoát khỏi những khó khăn về mặt binh lực. Sau hơn bảy năm dốc sức vào cuộc chiến tranh Đông Dương2, giới cầm quyền Pháp ngày càng cảm thấy đuối sức, đòi hỏi phải có sự đóng góp nhiều hơn nữa về của và người của các nước “mà quyền lợi đang được nước Pháp che chở ở Đông Dương” (!). Chính vì vậy mà trong cuộc họp đầu tiên với các đại diện ngụy quyền Việt Nam, Campuchia và Lào (ngày 3 tháng 7 năm 1953), tân Thủ tướng Lanien đã lớn tiếng hô hào các chính quyền tay sai ở cả ba nước hãy cùng Pháp nỗ lực hơn nữa trong cuộc chiến đấu “chống kẻ thù chung”. Vị Thủ tướng Pháp dùng đến nhiều từ hoa mỹ, nào là “độc lập chủ quyền...”, nào là “tình chiến hữu”,... nhằm hướng bọn tay sai vào mục tiêu đã định. Mục tiêu đó, như sau này tướng Catơru đã vạch rõ là nhằm làm cho bộ máy chiến tranh được tăng cường, làm cho Việt Minh hết hy vọng chiến thắng, hòng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cả Pháp và các quốc gia liên kết có thể tiến tới một cuộc đàm phán trên thế mạnh với đối phương.
Tóm lại, những hoạt động đầu tiên của nội các mới ở Pari cho thấy, tuy đứng trước muôn vàn khó khăn, giới cầm quyền phản động Pháp vẫn bám lấy ý đồ xâm lược Đông Dương. Họ tiếp tục đi theo vết xe đổ của 18 chính phủ cũ: dựa vào đô la và vũ khí Mỹ ép các chính quyền tay sai dốc túi để cùng chính quốc đánh canh bạc cuối cùng trong những năm tới.
Đường lối đã được xác định. Vấn đề đặt ra với Chính phủ mới của nước Pháp là chọn một viên tướng có đủ tài năng đứng mũi chịu sào để biến đường lối đó thành hiện thực trên bán đảo Đông Dương.
--------------------- 1. Ý nói phá vỡ cuộc vận động tiến tới gặp đại diện Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ở Rănggun (xem mục 3, chương chín).
2. Chiến phí của Pháp ở Đông Dương trong bảy năm (1945-1952) đã lên tới 2.130 tỷ phrăng. Chiến trường này đã thu hút trên một phần tư lục quân, một phần năm hải quân của Khối Liên hiệp Pháp, làm ảnh hưởng sâu sắc đến địa vị của Pháp trong khối NATO và “nền an ninh” của Pháp châu Phi. Khả năng tăng viện cho cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương đã ở vào thời kỳ khó khăn nhất.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #145 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:57:01 am » |
|
TIẾN TỚI “MỘT VÁN BÀI TOÀN HỒNG” Ngay sau khi ngồi vào ghế thủ tướng, một trong những việc đầu tiên của Lanien là soát lại danh sách các tướng lĩnh Pháp. Mặc dù lúc này tướng Xalăng đã bị triệu hồi về Pari, Thủ tướng mới vẫn luôn tìm hiểu vì sao “con ngựa thứ sáu này bị thay giữa dòng”? Qua tìm hiểu Lanien được biết rằng trước đây, tướng Đờlát đã từng khen Xalăng là “con cáo tinh khôn, không bao giờ đặt một chân lên trước nếu không biết mình đặt chân lên chỗ nào...”. Là một viên tướng “thâm niên Đông Dương lại không bao giờ làm việc cẩu thả”, nhưng Xalăng bị dư luận trong giới quân sự cao cấp cho là quá non tay, tiến hành cuộc chiến tranh một cách thụ động, luôn luôn chờ đối phương ra tay rồi mới đối phó. Đối với chính quốc, Xalăng không nhạy bén với cảnh giật gấu,vá vai của Chính phủ nên luôn luôn yêu sách này nọ về vấn đề quân lực. Ba mươi năm đã nhiều lần qua lại Đông Dương từ cấp trung úy đồn trưởng leo lên đến cấp tướng bốn sao tổng chỉ huy, thật khó mà tìm cho ra một chiến công đáng kể trong cuộc đời binh nghiệp của Xalăng trên bán đảo này. Dư luận cho rằng, khoe khoang về cuộc tiến công lên Việt Bắc (1947), đối phó với cuộc tiến công của đối phương ở Nghĩa Lộ (1951)... chỉ là những chuyện phản ánh bản chất của con người Xalăng. Kết quả của việc tìm hiểu là Lanien đồng tình với cựu Thủ tướng Mayê? Xalăng không đủ sức chèo chống để con thuyền viễn chinh khỏi bị chìm nghỉm trước những cơn sóng cả của lực lượng kháng chiến đang ngày càng dâng cao. Nava, phải, đúng như thống chế Gioăng đã đề cử và Mayê đã chấp thuận ngày 7 tháng 5 năm 1953, chỉ con người xuất thân từ nghề tình báo lại có nhãn quan chiến lược và sức bật như tướng Hăngri Nava (Henri Navarre) mới làm xoay chuyển được nước cờ, mới làm đảo lộn được thế chiến lược bất lợi đối với Pháp hiện nay ở Đông Dương. Lanien thấy không cần thay đổi quyết định của Chính phủ cũ, nhất là khi tướng Nava đã nhận lời và đang tỏ ra “khẩn trương và hào hứng lạ thường” trong việc xây dựng kế hoạch chiến lược để đệ trình Chính phủ. Trong khi ở Pari, Thủ tướng Lanien hạ quyết tâm “thay con ngựa thứ bảy vào cỗ xe chiến tranh” thì tại Đông Dương, sự khôn ngoan của tướng Nava đã sớm biểu hiện ở chỗ biết thừa kế dự kiến của người đi trước, nắm chắc tình hình, bám ý đồ của Pari và thái độ của Oasinhtơn để vạch kế hoạch chiến lược sát hợp theo phương châm “uốn một lưỡi câu vừa cả hai miệng cá”. Ít nhất tướng Xalăng cũng có một phương hướng chiến lược nào đó để người thay thế mình thừa kế. Vậy mà có người như Pherăngđi (Jean Ferrandi) tác giả cuốn Những sĩ quan Pháp đối mặt với Việt Minh, lại “so sánh một cách độc địa” giữa hai viên tướng để cố tìm ra sự khác biệt về trình độ và tác phong giữa Nava và Xalăng. Họ chê Xalăng là người có tầm nhìn thiển cận, kẻ nô lệ trung thành của những biểu đồ mà cơ quan tham mưu đã chuẩn bị sẵn, chỉ biết hành động một cách bị động tùy theo diễn biến của tình hình và những biến cố do đối phương tạo nên, không biết chủ động tạo ra hoàn cảnh có lợi để chiến thắng... Họ khen Nava (cũng như họ đã từng khen Đờlát trước đây) là người đã được đào tạo trong những trường lớn có tư tưởng tiến công, có tác phong năng nổ, biết tìm ra lối thoát một cách mạnh bạo và dứt khoát v.v. và v.v. Khách quan mà nói, thật ra tướng Xalăng cũng có một cái gì đó được gọi là chương trình hành động trong 30 tháng (4-1953 - 9-1955, cũng dài hơi đấy chứ!). Trong chương trình đó, Xalăng cũng bày ra đủ mâm đủ bát: một thời kỳ phát triển quân ngụy chia thành ba đợt: đến đầu năm 1955, thành lập xong 100.000 khinh quân gồm 135 tiểu đoàn biệt kích, một thời kỳ bình định (cả năm 1954) và một thời kỳ... tổng phản công (từ tháng 1 đến tháng 9-1955), bao gồm cả việc chiếm vùng tự do Liên khu 5 và bắc Liên khu 4 của đối phương. Nava đã không bỏ qua chương trình hành động trên đây. Trái lại, khi nhận bàn giao ngày 25 tháng 5 năm 1953, viên tổng chỉ huy mới đã tạm dẹp thói kiêu căng vốn có để cùng Xalăng đi vào nhiều điểm cụ thể làm cơ sở cho việc lập kế hoạch chiến lược của mình trước khi viên tổng chỉ huy cũ về Pháp.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #146 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:57:30 am » |
|
Qua nhiều cuộc thảo luận, đánh giá tình hình hai viên tướng đã tập trung tinh lực tìm giải pháp thoát khỏi những mâu thuẫn quá lớn trong thế bố trí chiến lược giữa rừng núi và đồng bằng, giữa phân tán và tập trung binh lực. Điểm nổi bật lúc bấy giờ là sự giằng xé rất gay gắt về binh lực giữa các chiến trường Tây Bắc Việt Nam, Thượng Lào và vùng châu thổ sông Hồng.
Pari cam kết bảo vệ Thượng Lào (cũng như nhiều địa bàn chiến lược khác) nhưng lại muốn tránh cho quân viễn chinh không bị tổn thất. Thật là mâu thuẫn (cũng như mâu thuẫn cách đây bảy năm Tổng thống Đờ Gôn đã từng mắc phải khi giao nhiệm vụ chiến lược cho tướng Lơcléc đem quân sang chinh phục Đông Dương).
Thế trận bị đảo lộn trên chiến trường Thượng Lào hồi tháng 3-4 năm 1953 đã khoét sâu thêm mâu thuẫn về mặt chiến lược của phía Pháp. Nói đến Thượng Lào, phải nói đến Tây Bắc Việt Nam, nơi hiện nay quân Pháp chỉ có mặt ở Lai Châu và Nà Sản. Xalăng cố ý gọi đó là những “con đê ngăn sóng”, nhưng thật ra hai vị trí đó chỉ là hai hòn đảo hoàn toàn cô lập, chơ vơ giữa vùng rừng núi đại ngàn, cách xa nhau 130 kilômét và xa các căn cứ ở đồng bằng từ 200 đến 300 kilômét theo đường chim bay. Giữa khoảng cách 130 kilômét đó, từ cuối năm 1952, khi Điện Biên Phủ (một đầu mút giao thông quan trọng sát biên giới Việt - Lào) bị tiêu diệt, liên quân Lào - Việt đã tự do đi lại giữa Tây Bắc Việt Nam và Thượng Lào. Từ mùa hè 1953, sự đi lại càng dễ dàng sau khi các vị trí Mường Khoa, Sốp Nao và Sầm Nưa vắng bóng quân Pháp.
Để thực hiện yêu cầu bảo vệ Thượng Lào, hai viên tướng đề ra hai phương án:
1. Muốn bảo vệ một cánh gián tiếp, phải chiếm đóng và liên kết ba vị trí đầu mối giao thông là Lai Châu, Nà Sản và Điện Biên Phủ, tạo nên một thế kiềng ba chân trên một diện tích chừng 3.800 kilômét vuông, gồm ba tập đoàn cứ điểm mạnh, có căn cứ không quân để tiếp tế và tăng viện.
2. Muốn bảo vệ Thượng Lào một cách trực tiếp, phải rút quân khỏi Lai Châu và Nà Sản, đưa sang chiếm đóng lại các vị trí địa đầu cửa ngõ biên giới: Sốp Nao, Mường Khoa, Sầm Nưa.
Dù được bảo vệ bằng biện pháp phòng ngự trực tiếp hay gián tiếp, chiến trường Thượng Lào cũng sẽ thu hút thêm chừng 20-25 tiểu đoàn chính quy. Lực lượng đó bị điều ra khỏi châu thổ sông Hồng sẽ làm cho “vùng đồng bằng có ích”, nơi tình hình vốn đã không sáng sủa, càng trở nên sơ hở hơn. Từ khoảng hai mươi tháng qua, “tỷ lệ nổi dậy của dân chúng (ở 5.000 làng xã trong tổng số 7.000 làng xã) thật đáng lo ngại”. Quân Pháp chưa biết làm thế nào để thoát khỏi cái ngõ cụt này mặc dù đã có khoảng một phần năm (82.500/400.000) binh lính Pháp - ngụy bị chôn chân trong 920 vị trí cả cũ và mới, với quy mô và tầm quan trọng khác nhau. Tình trạng “ruỗng nát” ở đồng bằng là mối nguy cơ rất nghiêm trọng, phải nhanh chóng có biện pháp đối phó nếu không sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường.
Theo Nava, cách dàn mỏng lực lượng ở đồng bằng bây giờ là “cách bố trí binh lực cổ lỗ áp dụng trong những cuộc chiến tranh thuộc địa cách đây hàng trăm năm”, nhằm đối phó với những “quân phiến loạn tương đối ít và trang bị kém”. Còn đối tượng tác chiến của quân viễn chinh Pháp vào giữa năm 1953 này thì sao? Theo báo cáo của phòng nhì thì đối phương đã đủ sức mở những chiến dịch tiến công quy mô lớn, dài ngày, trên những chiến trường xa. Bộ máy chiếu tranh của họ gồm những binh đoàn chính quy lớn mạnh, với khoảng 300.000 tay súng thiện chiến. Đó là đối tượng tác chiến của các GM (binh đoàn cơ động). Để đối phó với các sư đoàn quân chính quy Việt Minh phía Pháp ít nhất phải dùng gấp đôi về quân số, gấp ba hoặc gấp bốn về trang bị. Tổng quân số của Pháp hiện nay (chừng 400 nghìn) rõ ràng không đủ sức đáp ứng yêu cầu đó. Để phục vụ các binh đoàn chủ lực mở các chiến dịch tiến công, đối phương có cả một đoàn quân vận tải vô tận (ý nói dân công) để giải quyết vấn đề tiếp tế vận chuyển. Còn phía Pháp chỉ dựa được vào phương tiện vận tải hết sức hạn chế về số lượng, cũ kỹ về chất lượng, trên các tuyến đường bộ và đường sông luôn luôn bị đối phương uy hiếp, trong khi đó phương tiện vận chuyển đường không quá thiếu thốn.
Riêng trong vùng châu thổ sông Hồng, một chiến trường rất sôi động, vẫn theo tài liệu phòng nhì, Việt Minh có chừng 40.000 chiến binh, gồm khoảng 15 tiểu đoàn địa phương (tương đương với số tỉnh đồng bằng), thêm vào đó là ba trung đoàn chính quy và từ 120 đến 150 đại đội địa phương huyện.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #147 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:57:49 am » |
|
Theo Nava, đứng trước một đối tượng đông đảo, thiện chiến, trang bị “không ngừng được cải tiến”, có nhiều phương tiện phá hủy mạnh, đã đạt tới đỉnh cao của chiến thuật và kỹ thuật như vậy mà Pháp rải quân ra hàng nghìn vị trí ở đồng bằng thì quả là một sai lầm không thể chấp nhận được. Thực tế đã chứng minh: tất cả những vị trí mà đối phương kiên quyết tiến công đều bị tiêu diệt.
Từ cách phân tích trên đây, biện pháp chiến lược đặt ra là phải rút bớt một cách không thương tiếc hàng loạt đồn bốt, kể cả một số đồn bốt trên các trục giao thông chiến lược, để gom góp lại từng đại đội, tiểu đoàn, nhằm xây dựng một binh đoàn tác chiến, một lực lượng tổng dự bị lớn mạnh, đủ sức đối phó với các cuộc tiến công quy mô lớn của đối phương. Bỏ mất đất? Đó là sự cần thiết vì phương châm do Pari đề ra đã rõ ràng: mất đất còn hơn để cho từng đơn vị quân viễn chinh bị tiêu diệt. Chịu để mất đất là một điều “đau xót” (vì nó mâu thuẫn với yêu cầu chiếm đóng của một cuộc viễn chinh xâm lược) nhưng lại là một sự lựa chọn phải chấp nhận trong điều kiện bây giờ.
Riêng trên các trục giao thông chiến lược, yêu cầu đặt ra là chỉ chốt ở những vị trí quan trọng, với binh lực đủ để bảo vệ, với phương tiện cần thiết để nhanh chóng khôi phục và đánh thông đường vận chuyển sau khi bị phá hủy.
Nhìn chung, cách bố trí binh lực trong các vùng do quân Pháp kiểm soát là: phải kết hợp giữa cứ điểm mạnh với lực lượng cơ động tại chỗ. Cứ điểm lớn hay nhỏ, lực lượng cơ động nhiều hay ít tùy thuộc vào lực lượng so sánh, trình độ “an ninh” bảo đảm nhiều hay ít, địa hình thuận lợi hay không. Nơi quang đãng, dễ cơ động, thưa dân, lực lượng đối phương ít và trang bị nhẹ, một đại đội trong cứ điểm có thể bảo đảm an toàn trên một vùng có bán kính 10-15 kilômét. Nơi hoàn toàn “ruỗng nát”, đường cơ động khó như ở nhiều tiểu khu đồng bằng Bắc Bộ, lực lượng phải phóng 3-4 đại đội mới đủ sức kiểm soát một vùng có bán kính 4-5 kilômét. Muốn bảo đảm an toàn ở một vùng đặc biệt nào đó, phải dự kiến thiết lập các tập đoàn cứ điểm, đủ sức dung nạp một GM (2 - 4 tiểu đoàn). Mỗi tập đoàn cứ điểm chỉ cách nhau chừng 15 kilômét.
Tóm lại, như có ký giả quân sự sau này nhận xét, biện pháp bố trí binh lực được xác định như trên trong vùng đồng bằng Bắc Bộ so với trước chỉ là việc “chuyển từ ô vông của mắt dần sang ô vuông của mắt sàng”. Trung bình trên diện tích một trăm kilômét vuông vẫn có 660 quân (tương đương một tiểu đoàn) bị giam chân trong những hoạt động tĩnh tại. Về thực chất, thế bố trí theo cách tính toán trên đây của hai viên tướng vẫn mang nặng mục đích rải quân giữ đất.
Mặc dù chưa tìm được lối thoát khỏi những mâu thuẫn cơ bản trong thế bố trí binh lực, nhưng dựa vào kết quả quan sát chiến trường, vào những số liệu do bộ tham mưu cung cấp, đồng thời tham khảo “chương trình hành động” của Xalăng, đến ngày 2 tháng 7 năm 1953, tổng chỉ huy Nava cũng vạch ra được một kế hoạch chiến lược 20 tháng (từ tháng 8 năm 1953 đến tháng 3 năm 1955). Viên tướng này sớm tỏ ra tự hào về bản kế hoạch mang tên mình: kế hoạch Nava, nhằm “tiến tới chơi với đối phương một ván bài toàn hồng” (!).
Ba tuần sau, ngày 24 tháng 7, tại điện Êlydê, một cuộc họp khẩn cấp của Hội đồng quốc phòng Pháp được triệu tập để nghe viên tổng chỉ huy báo cáo kế hoạch chiến lược. Trong cuộc họp quan trọng này, có mặt đủ các nhân vật chủ yếu trong nội các mới và trong quân đội Pháp, từ Thủ tướng Lanien, Phó thủ tướng Râynô (phụ trách các vấn đề Đông Dương) đến các bộ trưởng quốc phòng (Plêven), ngoại giao (Biđôn), các quốc gia liên kết (Giắckê -Marc Jacquet) và các bộ trưởng tài chính, tư pháp, lục quân, không quân, hải quân, thống chế Gioăng và các tham mưu trưởng ba quân chủng.
Trải qua nhiều lần trao đổi ý kiến tay đôi tay ba trước khi bước vào cuộc họp chính thức này, các quan chức cao cấp quân sự và dân sự Pháp, “những người am hiểu tường tận cuộc chiến tranh Đông Dương”, đã nhận xét rằng kế hoạch Nava là một bản kế hoạch toàn diện: quân sự và chính trị. Tác giả của nó đã biết dựa trên những thiếu sót lớn trong việc điều hành chiến tranh hơn bảy năm qua mà đề ra những phương hướng lớn nhằm xoay chuyển tình thế.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #148 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:58:25 am » |
|
Cử tọa chú ý ngay từ vấn đề đầu tiên do tướng Nava trình bày: vấn đề xác định mục đích chính trị của cuộc chiến tranh. Phải chấm dứt thái độ lập lờ để khẳng định: hoặc là áp đặt chế độ thuộc địa trên bán đảo này; hoặc là xác định rõ nội dung của công thức “nền độc lập của các quốc gia liên kết trong khuôn khổ Khối Liên hiệp Pháp” vì công thức đó chứa đựng những nguyên tắc mơ hồ. Nava cho rằng do mục đích của cuộc chiến tranh không được xác định rõ ràng nên đã dẫn đến những hậu quả tai hại: một là, trong tám năm qua, cuộc chiến tranh (xâm lược) Đông Dương đã qua tay chỉ đạo và chỉ huy của 19 chính phủ và 7 tổng chỉ huy. Mỗi lần thay đổi là một lần bộc lộ hiện tượng “tân quan - tân chính sách”; hai là, quân viễn chinh Pháp chỉ biết chiến đấu vì danh dự lá cờ, danh dự quân đội (!) hơn là ý thức được rằng đây là cuộc chiến tranh cho Tổ quốc mình (!). Trong khi đó thì phong trào của nhân dân Pháp phản đối “cuộc chiến tranh bẩn thỉu” không ngừng dâng cao và gây ra tình trạng rối loạn về chính trị trong xã hội Pháp; ba là, nhũng người cầm đầu các quốc gia liên kết không nhận thức hết trách nhiệm của họ trong cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa cộng sản. Tinh thần quân đội của họ quá bạc nhược; bốn là, đồng minh Hoa Kỳ nấp dưới chiêu bài “ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á”, nhưng ngoài mục đích công khai trên đây, trong trái tim đen của họ là cả một mưu đồ chính trị và kinh tế lâu dài...
Tất cả tình hình nói trên không tạo nên một sức mạnh tập thể của bản thân nước Pháp, cũng như các quốc gia đồng minh để chống lại một kẻ thù mà phía Pháp đã luôn luôn đánh giá thấp cả về chính trị và quân sự. Trên thực tế, vẫn theo nhận xét của Nava, đối phương đã tỏ ra ưu thế về mọi mặt: chính trị, tinh thần, tổ chức lãnh đạo chiến tranh, lực lượng và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, nhất là ở miền Bắc (bắc vĩ tuyến 18, Đèo Ngang - Viêng Chăn).
Về mặt quân sự, Nava phán đoán phương hướng chiến lược sắp tới của Quân đội nhân dân Việt Nam có thể diễn ra theo ba khả năng:
1. Đồng bằng Bắc Bộ có thể là hướng bị tiến công bất ngờ. Trong trường hợp này, phía Pháp sẽ tập trung binh lực để bảo vệ bằng bất kỳ giá nào các khu vực quan trọng, nhất là Hà Nội, Hải Phòng và đường số 5.
2. Quân chủ lực Việt Minh có thể xuất phát từ Bắc Bộ tiến công xuống phía nam phối hợp với lực lượng ở Liên khu 5 uy hiếp toàn bộ miền Trung và miền Nam Đông Dương. Đây là khả năng đáng sợ nhất đối với Pháp vì quân viễn chinh sẽ phải đối phó trên nhiều hướng và sẽ gặp nhiều khó khăn.
3. Hướng thứ ba có thể bị uy hiếp là Thượng Lào. Tình huống này cũng sẽ đặt Pháp trước những khó khăn rất lớn: về quân sự, không thể điều phần lớn lực lượng sang để đủ sức bảo vệ vương quốc Lào; mà bỏ rơi Thượng Lào sẽ dẫn đến những hậu quả chính trị sâu sắc.
Trên cơ sở phán đoán các biến cố chiến lược sắp tới, dựa vào lực lượng so sánh và thế chiến lược hai bên trên các chiến trường Bắc và Nam Đông Dương, Nava đề ra phương hướng hành động của quân viễn chinh trong hai năm tới như sau: Trước mắt tránh giao chiến lớn với chủ lực đối phương ở bắc vĩ tuyến 18; tập trung vào việc xây dựng lực lượng tổng dự bị mạnh; phát huy ưu thế, đẩy mạnh hoạt động ở chiến trường miền Nam. Khi đã có ưu thế về lực lượng cơ động chiến lược, sẽ thực hành tổng tiến công, giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định về chiến lược, thay đổi hẳn cục diện chiến trường.
Phương hướng hành động trên đây cũng đồng thời là tư tưởng chỉ đạo hai bước của kế hoạch Nava:
Bước một: Trong chiến cuộc 1953-1954, duy trì thế phòng ngự chiến lược ở bắc vĩ tuyến 18, giữ vững đồng bằng Bắc Bộ bảo vệ Thượng Lào (trước hết là Luông Pha Băng và Cánh Đồng Chum); khẩn trương xây dựng lực lượng tổng dự bị; tiến công chiến lược ở miền Nam, đánh chiếm các căn cứ kháng chiến, trước hết là vùng tự do Liên khu 5 và Khu 9.
Bước hai: Với lực lượng cơ động chiến lược đã được xây dựng, từ mùa thu 1954 thực hành tổng giao chiến trên chiến trường miền Bắc (từ Đèo Ngang trở ra), giáng cho chủ lực đối phương những đòn nặng nề, nhằm tạo ra một thế chiến lược mạnh, làm hậu thuẫn cho giải pháp chính trị.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #149 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:58:43 am » |
|
Về biện pháp thực hiện, tổng chỉ huy Nava đặc biệt coi trọng các bước xây dựng lực lượng trong vòng 20 tháng tới.
1. Phát triển “quân đội quốc gia” (ngụy) đưa tổng số lực lượng vũ trang các quốc gia liên kết (theo số liệu của Nava) từ 168.000 (tháng 12-1952) lên 280.000 (tháng 12-1954); xây dựng 122 tiểu đoàn khinh quân (Việt Nam 108 tiểu đoàn, Lào và Campuchia 14 tiểu đoàn), lấy đối tượng tác chiến là bộ đội địa phương tỉnh và huyện, lấy nhiệm vụ chủ yếu là triệt phá cơ sở kháng chiến trong vùng quân Pháp kiểm soát, thay thế cho quân Âu - Phi và một phần quan trọng quân chủ lực ngụy rút chân khỏi các nhiệm vụ chiếm đóng để xây dựng thành các sư đoàn cơ động chiến lược; tổ chức ba sư đoàn (12 GM) “quân đội quốc gia” (ngụy) để tham gia vào khối cơ động chiến lược chung của Pháp trên toàn Đông Dương.
2. Xây dựng một lực lượng cơ động chiến lược mạnh và hoàn chỉnh làm lực lượng tổng dự bị (quân đoàn tác chiến) lấy đối tượng tác chiến là các sư đoàn chủ lực của đối phương. Nava dự tính từ tháng 8 năm 1953 đến tháng 3 năm 1955 xây dựng xong bảy sư đoàn cơ động chiến lược gồm sáu sư đoàn bộ binh (24 GM) và một sư đoàn không vận (3 GM), nâng tổng số lực lượng tổng dự bị lên 27 GM gồm 12 GM “quân đội quốc gia” (ngụy) và 15 GM Âu - Phi.
3. Phát triển lực lượng biệt kích trong binh đoàn biệt kích hỗn hợp không vận (GCMA) với nhiệm vụ chủ yếu là quấy rối và phá hoại hậu phương kháng chiến và làm những nhiệm vụ đặc biệt mà các đơn vị thông thường không thể hoàn thành được.
Nhìn lại cả tám năm chiến tranh vừa qua, đây là kế hoạch phát triển lực lượng lớn nhất, quy mô nhất. Riêng về lực lượng cơ động chiến lược, kế hoạch xây dựng của Nava gấp bốn lần so với thời kỳ Đờlát.
Những người có mặt trong cuộc họp của Hội đồng quốc phòng Pháp ngày 24 tháng 7 cảm thấy bản kế hoạch của Nava không những xuôi tai mà còn có phần hấp dẫn. Tuy nhiên, nhiều người không khỏi có những nghi vấn về khả năng thực hiện. Bộ trưởng tài chính Tétgien (Pierre Henri Teitgen) lảng ra vì phải dốc túi quá nhiều (riêng kế hoạch bảo vệ Thượng Lào đã ngốn một khoản chi đột xuất chừng 100 tỷ phrăng). Phó thủ tướng Râynô không tin rằng có đủ số tăng viện để Nava thắng keo đầu tiên trong Đông - Xuân 1953-1954. Thống chế Gioăng vẫn giữ quan điểm phải dựa vào viện trợ của Mỹ. Thủ tướng Lanien nhắc lại yêu cầu chính trong lúc này là phải làm sao cho đội quân viễn chinh khỏi bị sứt mẻ nặng...
Lời qua tiếng lại đã nhiều. Người được nói cuối cùng chính là tác giả của bản kế hoạch “nổi tiếng”. Viên tổng chỉ huy khẳng định trước Hội đồng quốc phòng: “Tôi rất tin tưởng vào bản kế hoạch này... Nó sẽ trở thành hiện thực... Đối phương đã thấm mệt mà hậu phương của họ không có gì tỏ ra là vững chắc”.
Trăm nghe không bằng một thấy. Ngài tổng chỉ huy mới qua Đông Dương về. Thực tế chiến trường qua một tháng đi thị sát hẳn là cơ sở vững chắc để ngài khẳng định như vậy. Lời nói của người cầm quân chắc nịch như đinh đóng cột, nào ai còn dám hoài nghi?
Sau những phút do dự cuối cùng hội đồng đã phê chuẩn bản kế hoạch. Nhưng quân có hạn, tiền không nhiều, hội đồng không thể không hạ bớt yêu cầu của tổng chỉ huy. Vài ví dụ:
- Yêu cầu tăng viện bộ binh: chỉ thỏa mãn 75% (tức 9 tiểu đoàn).
- Giảm 83% yêu cầu về nhân viên không quân (chỉ được 700 người). Nava đau xót nhất về nhát kéo này của hội đồng.
- Bác toàn bộ yêu cầu về máy bay lên thẳng, và các khoản tiền cần thiết cho các thiết bị không quân.
- Thời gian tăng viện về máy bay vận tải và chiến đấu chưa được hứa hẹn vì còn tùy thuộc vào ông bạn Hoa Kỳ...
(Nava không quá lo ngại về hai điểm cuối cùng vì đã có lời hứa của tướng Clác với Xalăng. Hơn nữa, kế hoạch này đâu phải chỉ của điện Êlydê? Nava không bao giờ quên rằng, tuy không ai nói ra nhưng tất cả những người có mặt trong cuộc họp đều biết: kế hoạch này là đứa con chung của mối tình Pari – Oasinhtơn!).
Biết rằng cò kè bớt một thêm hai cũng không được vì đây là cố gắng cuối cùng của một nước Pháp đã suy nhược toàn thân sau tám năm chảy máu, Nava trở lại Đông Dương với bản kế hoạch đã mang dấu ấn của Pari.
Từ kế hoạch trên giấy đến chỗ biến thành hiện thực trên chiến trường là cả một chặng đường dài, với sự tác động của biết bao yếu tố khách quan. Thái độ của ông bạn Mỹ liệu có thay đổi nếu họ biết rằng cuộc họp vừa qua của Hội đồng quốc phòng đã diễn ra trong bầu không khí không phải là chiến thắng? Sự đóng góp của các đồng minh bản xứ liệu có hết sức nếu họ đánh hơi thấy sắp xảy ra “một Bàn Môn Điếm ở Đông Dương”? Điều quan trọng hơn hết là quyết tâm và sức mạnh của đối phương. Nava từng phê phán những người đi trước là đã luôn luôn đánh giá thấp Việt Minh. Phải chăng bản kế hoạch chiến lược nổi tiếng kia cũng lại là kết quả của một sự đánh giá sai lầm như vậy?
Trên suốt chặng đường Pari - Sài Gòn, càng nghĩ Nava càng thấy việc “tiến tới chơi với đối phương một ván bài toàn hồng” thật không phải chuyện giản đơn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|