Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:20:44 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu  (Đọc 56337 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #170 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2016, 11:58:24 pm »


        Điện Biên Phủ có hai sân bay. Ngoài sân bay chính ở Mường Thanh đã được sửa chữa và mở rộng còn có sân bay dù bị ở Hồng Cúm. Ngày ngày, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được nối liền với Hà Nội và Hải Phòng bằng một cầu hàng không, đường vận tải tiếp tế duy nhất cho tập đoàn cứ điểm. Gần 100 lần chiếc máy bay vận tải Mỹ DC3 hàng ngày hạ cánh xuống sân bay, mang theo một khối lượng tiếp tế từ 200 đến 300 tấn. Ngoài ra, chừng 30 lần chiếc máy bay vận tải hạng lớn C.119 do phi công Mỹ lái, mỗi buổi sáng thả dù tiếp tế thêm từ 100 đến 150 tấn. Theo kinh nghiệm chiến đấu ở Nà Sản, các tướng lĩnh Pháp dự tính, để duy trì sức chiến đấu ở Điện Biên Phủ, mức tiếp tế yêu cầu mỗi ngày khoảng 70 tấn trong điều kiện chiến đấu thông thường và khoảng 90 tấn trong điều kiện chiến đấu ác liệt.

        Do đánh giá khả năng đối phương không thể kéo dài trận đánh, nên cơ số vật chất được chuẩn bị theo kế hoạch chỉ bao gồm 9 ngày lương thực thực phẩm, 8 ngày nhiên liệu, từ 6 đến 9 cơ số đạn các loại.

        Kế hoạch tác chiến phòng ngự do tổng chỉ huy trực tiếp thông qua gồm bốn bước:

        Bước 1: Đẩy mạnh mọi hoạt động dưới đất và trên không nhằm trì hoãn việc chuyển quân của đối phương và đánh giá các tuyến giao thông.

        Bước 2: Quá trình đối phương tiếp cận tập đoàn cứ điểm và trực tiếp tiếp xúc (dự kiến từ 6 đến 10 ngày), dùng máy bay và pháo binh đánh bật đối phương ra khỏi vị trí tiếp cận.

        Bước 3: Nếu đối phương thực hành tiến công (dự kiến trận đánh chỉ kéo dài trong vài ba ngày), sẽ dùng hành động phản kích liên tục, buộc họ phải trả một giá rất đắt và phải đình chỉ trận đánh.

        Bước 4: Ngay khi đối phương đã buộc phải rút lui, phải kịp thời khuếch trương thắng lợi, gây thêm cho họ nhiều tổn thất suốt trong quá trình lui quân.

        Dựa trên quy mô binh lực, hỏa lực mục tiêu chiến lược của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, những người theo dõi lời nói và việc làm của Nava (Lời nói: chê bai “hệ thống những con nhím”, chê bai “tài sản bị nhiễm độc” Nà Sản. Việc làm: thiết lập tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ) đã có cơ sở thực tế để rút ra kết luận: Lại một lần nữa (có thể là lần chót “tư tưởng Maginô” đã bao trùm và chế ngự đầu óc của nhà “chiến lược tuyệt vời Hăngri Nava” và dẫn đến một công sự boongke (pillbox) khổng lồ: Điện Biên Phủ.

        Quá trình hình thành và phát triển mau chóng của tập đoàn cứ điểm cũng là quá trình Nava - Cônhi và các tướng lĩnh Pháp vững tin rằng Điện Biên Phủ là một “pháo đài bất khả xâm phạm”. Nhớ lại, không những suốt tám năm chiến tranh xâm lược Việt Nam đã qua mà cả trong Chiến tranh thế giới thứ hai, ngay trên đất Pháp, quân đội Pháp chưa bao giờ dựng lên một hệ thống phòng ngự mạnh như ở Điện Biên Phủ. Nhận xét đó hoàn toàn phù hợp với cách nhìn của các quan chức Pháp - Mỹ khi họ lần lượt lên thăm để tận mắt chiêm ngưỡng công trình vĩ đại, tượng trưng sức mạnh của quân đội viễn chinh Pháp. Ngoài các ký giả Pháp và phương Tây thường xuyên có mặt (theo lời mời có dụng ý của Nava - Cônhi), những người lên thăm viếng Điện Biên Phủ có cả các quan chức quân sự lẫn dân sự, cả Pháp lẫn Mỹ, toàn cỡ bự, phần lớn từ “chính quốc” sang. Những chuyến đi về của chủ và khách ken dày như mắc cửi1. Đối với các vị “khán giả” trên đây, nếu tập đoàn cứ điểm không phải là một “tiết mục mới” thì ít nhất “con nhím khổng lồ” này cũng là một động vật lạ, mới xuất hiện ở một vườn bách thú nào đó. Người ta lên thăm và người ta trầm trồ khen ngợi (khen thật lòng không khách sáo chút nào!) vì ai lại tin rằng Việt Minh dám húc đầu vào “một cái bẫy khổng lố và phức tạp, lởm chởm những mũi nhọn, sần sùi những công sự đầy mìn” như thế Nava - Cônhi đã ghi nhận và cảm ơn tất cả những lời khen của khách thập phương, với một sự khiêm tốn đầy tự phụ (modestie orgueilleuse).

        Cả khách và phủ đều có cơ sở để tin rằng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là “bất khả xâm phạm”.

        Với họ, tập đoàn cứ điểm có nghĩa là sắt thép, mà muốn chọi với sắt thép ắt phải có sắt thép. Trong tay đối phương có gì? Chỉ vài chục khẩu pháo. Pháo nặng, đèo cao, lấy gì mà kéo lên? Sức người: có hạn. Mà có kéo lên được thì trận địa pháo đặt ở đâu? Các chuyên gia pháo binh Pháp - Mỹ, kể cả những người có kinh nghiệm mới toanh trong cuộc chiến tranh (xâm lược) Triều Tiên, cũng không ai tin rằng những dãy núi cao ngất trời kia lại có thể là chỗ đứng chân của pháo. Đặt ở sườn ngoài: tầm bắn không tới. Đặt ở sườn trong, trông xuống lòng chảo Mường Thanh: lửa đầu nòng sẽ làm lộ trận địa, mấy khẩu pháo quèn sẽ lập tức bị “khoá mõm”, trận địa pháo lập tức bị tiêu diệt ngay khi pháo thủ chưa kịp tống viên đạn thứ hai vào nòng. Hơn nữa, liệu đối phương có trong tay mấy ngàn viên đạn? Cônhi là tướng pháo binh Pirốt là tá pháo binh, đều không quan tâm sâu sắc đến cái gọi là pháo binh Việt Minh trên chiến trường Điện Biên Phủ này. Nhận định đó không phải là không lọt tai tướng Pennáckiôni, thanh tra pháo binh của quân đội Đại Pháp!

        Như vậy là bắc cân lên mà xét, về mặt sắt thép, phía Pháp đã ăn đứt đối phương rồi.

---------------------
       1. Trong vòng 5 tháng (11-1953 đến 3-1954): 17 lượt của chủ nhà (Đơgiăng, Nava, Cônhi, Bôđê). Trong vòng 3 tháng (1 đến 3-1954): 12 lượt của khách (các bộ trưởng Plêven, Sơvinhê, Giắckê; tổng tham mưu trưởng Êly, các tham mưu trưởng các quân chủng Phay, Blăng, Nômi; tướng Mỹ Ô Đanien).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #171 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2016, 11:59:40 pm »

        Còn các mặt khác của Việt Minh thì sao? Nava đã từng phê phán các tổng chỉ huy trước là đánh giá quá thấp đối phương. Viên tổng chỉ huy khuyên cấp dưới không nên đi vào vết xe đổ đó. Thế nhưng, vào những ngày đầu năm 1954, Nava bỗng phát hiện một điều quan trọng: có dấu hiệu chứng tỏ Việt Minh đã mệt mỏi, các chiến dịch tiến công của họ đã lên đến đỉnh cao và họ sắp sửa lui quân đến nơi rồi. Trong thư chúc Tết gửi ba quân (1-1-1954), viên tổng chỉ huy Pháp nhận định: Điều kiện quân sự để chiến thắng đã đầy đủ, chỉ còn tuỳ thuộc vào ý chí của tất cả các chiến binh hải lục không quân để làm cho năm 1954 là năm thắng lợi rõ rệt của quân đội Pháp(!).

        Cánh đánh giá đó được Cônhi nâng lên mức thường xuyên hơn. Người ta tính trung bình cứ khoảng một tuần, viên tướng này lại khẳng định một lần đại ý: mong cho Việt Minh tiến công Điện Biên Phủ, nhất định họ sẽ bị nghiền nát. Đến lượt Đờ Cát, “người hùng ở Điện Biên Phủ” thì những lời tuyên bố còn hăng hơn nữa. Ví dụ, có lần y vênh váo nói: “Nếu đối phương tiến công thì tôi sẽ đội chiếc mũ calô đỏ của tôi để từ trên cao họ thấy rõ mục tiêu và bắn trúng hơn”. Nhưng rồi đợi mãi chưa thấy quân đội Việt Nam tiến công, ngày 15 tháng 1 năm 1954, y cho máy bay rải truyền đơn thách thức: “Còn đợi gì nữa mà không tiến công nếu các người không phải là những kẻ hèn nhát!”.

        Để khích lệ “quyết tâm và lòng dũng cảm” của viên sĩ quan đứng mũi chịu sào ở mảnh đất Điện Biên Phủ, trong cuộc viếng thăm tập đoàn cứ điểm ngày 19 tháng 2 năm 1954, bộ trưởng quốc phòng Plêven nói với Đờ Cát: “Liệu đại tá có biết rằng cả nước Pháp đang chăm chú chiêm ngưỡng ngài không?”. Phải chăng Plêven muốn khêu gợi để viên chỉ huy tập đoàn cứ điểm nghĩ đến một cái gì đó sắp xuất hiện trên cầu vai mình?

        Các tướng lĩnh Pháp tin rằng họ sẽ thắng ở Điện Biên Phủ không những vì họ có quân đông, súng nhiều và công tác chuẩn bị đã đạt tới mức tối đa mà còn tin vào mọi thủ đoạn hòng làm yếu đối phương, gây trở ngại cho quân đội Việt Nam trong quá trình chuẩn bị trận đánh. Họ biết tập trung vào khó khăn lớn nhất của đối phương là vấn đề hậu cần. Việc tiếp tế của Quân đội nhân dân Việt Nam được tiến hành trên một chặng đường quá dài, chủ yếu dựa vào đôi vai của dân công, vì số xe vận tải không nhiều.

        Từ tháng 1 năm 1954, việc đánh phá tuyến cung cấp của đối phương (đặc biệt trục đường Yên Bái - Sơn La - Tuần Giáo - Điện Biên) là một trong những nhiệm vụ hàng đầu được đặt ra cho không quân Pháp. Hàng ngày, chừng 50 lần chiếc máy bay của cả không quân và hải quân, đem hàng trăm tấn bom (kể cả bom napan) giội xuống các trục đường và các đầu mối giao thông quan trọng trong đó ngã tư Cò Nòi được coi là một trọng điểm (thường thu hút khoảng 50% số lượng bom trong ngày)1. Từ đầu năm 1954, lần đầu tiên máy bay vận tải cỡ lớn C119 (Packet) của Mỹ ném những bình napan xuống các trục đường giao thông trên đất nước Việt Nam.

        Ngoài các loại bom cháy, bom nổ ngay, bom nổ chậm và những chùm chông sắt ném xuống hàng ngày, máy bay Pháp còn thả những toán biệt tích, thổ phỉ xuống nhằm phá hoại cầu đường, kho tàng và chân hàng trên các trục đường tiếp tế của đối phương.

        Nhưng rồi một bất ngờ xảy đến đối với Nava: Pháo cao xạ của quân đội Việt Nam xuất hiện trên tuyến đường vận tải của họ. Số lượng không nhiều, tầm không cao, cỡ không lớn nhưng đã khiến những tên giặc lái, từ thiếu úy Xanhlô, trung úy Đuvenen đến đại úy Rapinê,... có đi không có về. Máy bay buộc phải bay cao lên và tính chính xác của các vụ ném bom vốn đã kém lại càng kém hơn.

        Chiếc gậy không quân mà Nava - Đờsô giơ lên không cản nổi bước đi của cái mà họ gọi là “đoàn kiến dân công vô tận” hướng ra phía trước. Như sau này viên tổng chỉ huy thú nhận tất cả mọi cố gắng của Pháp dùng máy bay để đánh phá các đoàn tiếp tế, ngăn chặn đối phương xây dựng và sửa chữa các tuyến giao thông đều vô hiệu quả. Sau khi bị phá hoại, các đoạn đường bị cắt đứt được nhanh chóng sửa chữa lại ngay. Thường ít có đoạn đường nào bị nghẽn quá 24 tiếng đồng hồ. Trong thời gian đường tạm thời bị cắt, tuyến tiếp tế vẫn hoạt động bằng cách chuyển tải hoặc đi vòng. Nava còn nhận xét rằng các đoàn xe vận tải cơ giới, xe đạp thồ và dân công thường chỉ đi ban đêm và lúc thời tiết xấu, hoặc cũng có khi đi ban ngày nhưng họ ngụy trang rất kỹ khiến máy bay không sao phát hiện được. Lại thêm một kết luận cổ điển: sở dĩ Pháp bất lực không ngăn chặn nối đường tiếp tế của đối phương chỉ vì thiếu máy bay.

        Để bù đắp vào lỗ hổng đó, Nava nghĩ ra một sáng kiến: xin chuyên gia từ Pari sang để nghiên cứu làm... mưa nhân tạo. Mưa rơi, đường trơn, lũ lụt, sẽ làm chậm tốc độ của đoàn xe, đoàn dân công. Kết quả là, như sau này tổng tham mưu trưởng Êly nhận xét, “sáng kiến” đó bắt nguồn từ một mơ tưởng hồ đồ.

---------------------
        1. Mấy con số về bom được ghi trong kế hoạch đánh phá hàng ngày của máy bay Pháp trên các trục giao thông của ta đầu năm 1954; chặng Yên Bái - Cò Nòi 114 tấn (riêng Cò Nòi 69 tấn), chặng Lai Châu - Sơn La 17 tấn; chặng Tuần Giáo - Điện Biên 15 tấn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #172 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 12:01:05 am »


CÁI “NHIỆT KẾ THẦN KINH”

        Những tin tức của phòng nhì tiếp tục chứng minh sự chuẩn bị quy mô lớn của quân đội Việt Nam cho trận đánh ở Điện Biên Phủ. Các sư đoàn chủ lực đã tề tựu quanh vùng rừng núi Điện Biên. Số dân công vận tải và sửa đường lên tới hàng vạn. Xe vận tải “có đuôi” xuất hiện trên đường 41 cùng với hàng ngàn xe đạp thồ. Hàng ngàn phuy xăng với hàng chục vạn lít đã tập trung quanh vùng Tuần Giáo. Rõ ràng Việt Minh không hề từ bỏ ý định tiến công của họ, một trận tiến công mà chỉ qua những con số thống kê về đơn vị chủ lực, cơ sở vật chất, cũng đủ thấy tính chất quyết liệt như thế nào.

        Tổng chỉ huy Nava liền cử tướng Bôđê về Pari mang theo một bức thư “báo động” để Chính phủ thấy “khả năng đối phương sẽ tiến công Điện Biên Phủ với nhũng phương tiện mới. Tình hình đó khiến bộ chỉ huy (quân viễn chinh) không dám đảm bảo một cách chắc chắn rằng (Pháp) sẽ giành được thắng lợi một trăm phần trăm” như lời cam đoan của Nava hồi tháng 12. Qua bức thư, điện Matinhông nhận thấy lần đầu tiên tổng chỉ huy tỏ ra lo ngại như vậy và càng thấy rõ thâm ý của Nava là muốn có thêm máy bay, con chủ bài hết sức cần thiết để “mở một trận đánh lớn bằng không quân ngay từ bây giờ...”. Vì theo Nava, trận đánh ở Điện Biên Phủ trước hết phải là một trận đánh của không quân, vậy mà trong tay tổng chỉ huy có quá ít máy bay. Sau khi trình bày lỗ lãi với Chính phủ, Nava rút ra kết luận: với số vốn đầu tư ở tập đoàn cứ điểm (kể cả số máy bay mà tổng chỉ huy đang hy vọng được tăng viện), Pháp không những sẽ thắng ở Điện Biên Phủ mà còn tránh được tổng giao chiến ở đồng bằng Bắc Bộ.

        Bôđê ra đi rồi Bôđê trở về với hai bàn tay trắng. Không có thư trả lời cũng chẳng có máy bay. Ở Pari, Chính phủ còn đang nhấm nháp một cách khoái trá những tin tức chiến thắng (do chính Nava báo cáo về mấy tuần trước) nên không ai muốn nghe những ý kiến “rất bi quan” trong bức thư đầu năm của tổng chỉ huy.

        Đã đâm lao phải theo lao. Trong thế bị kẹp giữa một bên là các sư đoàn đối phương đang gấp rút chuẩn bị tiến công với một bên là “những viên chức quan liêu ở Pari” không chịu gửi máy bay tăng viện, tổng chỉ huy Nava phải xúc tiến gấp mọi thủ đoạn cần thiết để đối phó với tình hình:

        Trước hết phải dựa vào kết quả các cuộc hành binh thăm dò Rêgat và Ácđét của Lănggle và Vôđrây cũng như dựa vào “chiếc cầu chiến lược” mà Crevơvơ đã bắc với 6 tiểu đoàn rải dọc sông Nậm U, từ Mường Khoa đến gần Luông Pha Băng, để hoàn chỉnh gấp kế hoạch Xênôphôn, sẵn sàng rút chạy khỏi Điện Biên Phủ sang Thượng Lào khi tình thế bắt buộc. Chọn cái tên “Xênôphôn” (vị tướng nổi danh vì nghệ thuật lui quân ở thành Aten thời cổ Hy Lạp) Nava tin chắc rằng cuộc rút nhạy sẽ trót lọt!

        Đường tiếp tế bằng hàng không có thể bị cắt đứt, đó cũng là một tình huống cần dự kiến. Tướng Đờsô được lệnh vạch ra kế hoạch đối phó với trường hợp cả hai sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm đều bị tê liệt mà vẫn bảo đảm cho máy bay vận tải thường xuyên thả dù tiếp tế 150 tấn/ngày cho tập đoàn cứ điểm, trong khi các máy bay chiến đấu túc trực ở Cánh Đồng Chum. Cát Bi và Gia Lâm vẫn chi viện được cho cuộc chiến đấu phòng ngự ở Điện Biên Phủ.

        Ba tiểu đoàn dù thiện chiến1ở đồng bằng Bắc Bộ được lệnh sẵn sàng nhảy xuống cứu nguy khi tập đoàn cứ điểm bị tiến công. Chủ trương này đã vấp phải sự chống đối của Cônhi, con người chỉ muốn bo bo thu vén quân ở châu thổ sông Hồng, nhất là sau khi các sân bay Cát Bi rồi Gia Lâm và Bạch Mai liên tiếp bị tiến công (mặc dù ở các căn cứ không quân này “đèn thắp sáng chẳng kém gì điện Êlydê!”. Cuộc tranh giành về binh lực giữa Nava và Cônhi đã diễn ra từ rất lâu, ngay từ trước khi con nhím Điện Biên ra đời. Từ đầu năm 1954 trong khi Nava đặt tầm quan trọng của đồng bằng Bắc Bộ xuống hàng thứ tư (sau Điện Biên Phủ, Trung Bộ và đồng bằng Khu 5 - tức cuộc hành binh “Átlăng”) thì Cônhi khăng khăng đòi dành ưu tiên số 1 cho vùng châu thổ sông Hồng. Đến nay, sau những ý kiến trao đi đổi lại, Cônhi buộc phải chấp hành lệnh của tổng chỉ huy nhưng quan hệ Nava - Cônhi khiến người ta hồi tưởng lại không khí căng thẳng giữa Cácpăngchiê và Alêcxăngđri bốn năm về trước.

        Đề phòng đối phương dùng đạn có “hơi cay, hơi độc” (!) mười lăm ngàn mặt nạ được cấp tốc điều từ Sài Gòn ra để ném xuống Điện Biên Phủ. Vừa truyền đạt mệnh lệnh, các nhân viên tham mưu và hậu cần vừa cười thầm về sự lo xa của tổng chỉ huy. Có tiếng thì thào rằng lỗi này là tại phòng nhì đã bơm to khả năng của đối phương.

        Một biện pháp tích cực được áp dụng ngay trên cánh đồng Mường Thanh: đưa quân nống ra, chiếm các điểm cao có lợi, phá công tác chuẩn bị của đối phương, phá các trận địa pháo, nhất là trận địa pháo 75 đã và đang liên tiếp uy hiếp sân bay chính từ cuối tháng 1, làm cho một số máy bay bị bắn cháy ngay trên sân băng. Gần mười trận “tiến công” lấn chiếm của quân đội Pháp ra hướng đông Điện Biên Phủ (từ 31 tháng 1 đến 5 tháng 3 năm 1954) với binh lực từ một đại đội đến bốn tiểu đoàn đã lần lượt bị đánh lui. Điển hình thất bại là trận “tiến công” của bốn tiểu đoàn Âu - Phi ngày 5 tháng 3 hòng chiếm điểm cao 781 và khu vực Đồi Xanh. Với 10.000 viên đạn pháo cối giội lên một khu vực 5.000 mét vuông, với một máy bay bị bắn rơi, với một phần tư quân số bỏ xác tại chỗ, cuối cùng trận “tiến công” đã bị hoàn toàn thất bại.

---------------------
        1. Từ ngày 25 tháng 2, số quân này lên tới năm tiểu đoàn, trong đó có hai tiểu đoàn mới được điều từ Tây Nguyên ra.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #173 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 12:02:25 am »


        Kết quả tất cả những “hoạt động tiến công” trên đây, sau này đã được Nava thừa nhận: “Ở khắp nơi, những trận chiến đấu đó đã vấp phải những tổ chức vững chắc, được phòng giữ rất giỏi (của đối phương) và chúng ta (Pháp) đã bị thiệt hại khá nặng nề. Rõ ràng vòng vây chung quanh tập đoàn cứ điểm không hề bị rạn nứt... Do đó, việc rút chạy khỏi Điện Biên Phủ vào lúc này là không thể được nữa rồi...”1.

        Tuy nhiên, sự đánh giá tình hình và khả năng của đối phương trong mỗi thời kỳ và đối với từng viên tướng hoặc cao ủy Pháp không hoàn toàn giống nhau. Ngay trong mỗi người, thái độ bi quan - lạc quan - chủ quan cũng luôn luôn lên xuống như độ lên xuống từng ngày, từng tuần của chiếc nhiệt kế.

        Ngày 1 tháng 1 năm 1954, Nava vừa gửi thư về Pháp một bức thư được Thủ tướng Lanien coi là bôi đen tình hình, thì mấy ngày sau đó (ngày 6 tháng 1), cao ủy Đơgiăng lại điện về cho bộ trưởng Giắckê bảo đảm sẽ giành được thắng lợi quan trọng vì “cho đến nay chưa bao giờ ông Giáp phải đương đầu với một nhiệm vụ kinh khủng đến như vậy…”. Tiếp đến mười ngày sau, trên núi rừng Điện Biên Phủ lại trắng xoá những tờ truyền đơn ký tên Đờ Cát thách thức đối phương tiến công...

        Mức độ chủ quan ngạo mạn của Nava - Đờ Cát càng thể hiện rõ rệt khi được tin sư đoàn 308 đã “bỏ cuộc” và đang lui quân về phía Tây Nam. Theo phán đoán của họ, rõ ràng sau một thời gian “dơ dự”, đối phương đã “thoái chí trước sức mạnh sắt thép của Vécđoong ở châu Á” (!).

        Các tướng lĩnh vừa chủ quan vừa chậm hiểu này làm sao biết được rằng: sau khi bộ tư lệnh đối phương thay đổi phương châm tác chiến để đảm bảo chắc thắng ở Điện Biên Phủ, trong khi mọi công tác chuẩn bị cuối cùng đang được xúc tiến gấp rút chung quanh tập đoàn cứ điểm, thì sư đoàn 308 và một số đơn vi khác được lệnh tranh thủ thời cơ tiêu diệt thêm lực lượng Pháp - ngụy, chặt đứt “chiếc cầu chiến lược” nối liền Luông Pha Băng với Điện Biên Phủ, làm cho tập đoàn cứ điểm hoàn toàn bị cô lập. Sư đoàn 308 hiệp đồng với các đơn vị bộ đội cách mạng Lào đã xoá sổ vị trí Mường Khoa, quét sạch 6 tiểu đoàn do Crevơcơ “cấy” dọc sông Nậm U, giải phóng tỉnh Phong Sa Lỳ. Và, sự “bỏ cuộc” của sư đoàn 308 đã có tác dụng “kích thích rất đúng lúc” tư tưởng chủ quan của các tướng lĩnh Pháp, mãi đến khi quân của Crevơcơ ở Thượng Lào phải đốt đồn bốt chạy về hướng Luông Pha Băng, viên tổng chỉ huy mới vỡ lẽ: không ngờ tập đoàn cứ điểm được xây dựng công phu ở Điện Biên Phủ lại tỏ ra bất lực trước nhiệm vụ “bảo vệ Thượng Lào” đến thế. Một lần nữa, trong cảnh nước sôi lửa bỏng, Nava lại phải vét bảy tiểu đoàn cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ (dù Cônhi phản đối)... và một tiểu đoàn ở Nam Bộ đến tăng cường cho kinh đô Luông Pha Băng (năm tiểu đoàn) và Mường Sài (ba tiểu đoàn), tổ chức hai nơi này thành hai tập đoàn cứ điểm. Thêm một ngón tay, bị tách ra từ “quả đấm” gầy guộc ở đồng bằng; Bắc Bộ, và đây là ngón thứ 5, ngón tay cuối cùng2.

        Với đòn bất ngờ trên đây của đối phương, “chiếc cầu chiến lược” thế là bị phá tung. Giấc mộng “Xênôphôn” vỡ tan tành. Ngày 23 tháng 2, Nava nghe tin sư đoàn 308 đã trở lại Điện Biên Phủ. Vòng vây vẫn khép kín. Quân Pháp trong “thành Véeđoong ở châu Á” lâm vào thế mạt lộ. Viên tổng chỉ huy chỉ còn biết chờ đợi cuộc tiến công sắp nổ ra (bộ chỉ huy Pháp phán đoán là vào khoảng đầu tháng 3).

        Vậy mà, một tuần rồi hai tuần trôi qua. Im lặng. Thật là một đối thủ khó hiểu. Phải chăng họ đã hụt hơi khi mà khả năng tiến công của họ đã lên tới đỉnh cao? Vậy thì đã đến lúc phải ra tay “chủ động tiến công” trên các chiến trường khác để “xoá bỏ đến mức có thể những kết quả mà họ đã thu được” (!).

        Để yên tâm, ngày 4 tháng 3, Nava dẫn Cônhi lên kiểm tra tình hình ở Điện Biên Phủ lần cuối cùng. Trước khi ra về, viên tổng chỉ huy kéo Cônhi và Đờ Cát ra một chỗ và ngỏ ý muốn tăng cường cho tập đoàn cứ điểm ba tiểu đoàn nữa để “buộc đối phương phải dứt khoát từ bỏ ý định tiến công”. Đờ Cát tỏ ra đồng tình với điều kiện là nếu đối phương tiến công, tập đoàn cứ điểm phải được tăng viện. Nhưng, Cônhi lại nói: “Chúng ta đến đây để bắt buộc Việt Minh phải chiến đấu... Không được làm một cái gì để họ thay đổi ý định tiến công nữa”. Tức là phản đối việc tăng thêm 3 tiểu đoàn lúc này.

        Đối phương “do dự”, cấp dưới “quyết tâm”. Tổng chỉ huy vững dạ bay về Sài Gòn. Một mệnh lệnh có ý nghĩa chiến lược được tung ra.

        1. Tăng cường đến mức tối đa việc phòng thủ ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ; 2. Mở cuộc hành binh Ácxen (đợt 2 của chiến dịch Átlăng bị bỏ dở) vào ngày 12 tháng 3 năm 1954.

        Thế nhưng, sau khi Cônhi từ Điện Biên Phủ bay trở về một ngày, còn Nava đang ung dung cùng nhân viên tham mưu tiếp tục vạch những mũi tên tiến công trên các bản đồ chiến sự vùng Quy Nhơn, Bồng Sơn thì ngày 13 tháng 3, tiếng súng tiến công của Quân đội nhân dân Việt Nam vào tập đoàn cứ điểm đã nổ. Giờ phút mà Nava - Cônhi - Đờ Cát chờ đợi căng thẳng suốt 5 tháng qua đã đến. Hơn 10 nghìn quân Pháp, bị quây chặt trong một thung lũng khổng lồ trên 100 kilômét vuông, đã như cá nằm trên thớt.

---------------------
        1. Hăngri Nava, sách đã dẫn, tr. 211.

        2. Đến cuối tháng 2 năm 1954, sau đòn tiến công của liên quân Việt - Lào ở Thượng Lào, khối cơ động của Pháp (gồm 103 tiểu đoàn) đã bị phân tán quá nửa lên chiến trường rừng núi (53 tiểu đoàn), rải ra trên bảy tập đoàn cứ điểm (Điện Biên Phủ, Luông Pha Băng, Mường Sài, Cánh Đồng Chum, Sênô, An Khe, Plây Cu), ở năm chiến trường. Riêng tại đồng bằng Bắc Bộ, lực lượng cơ động giảm từ 46 tiểu đoàn (tháng 11 năm 1953) xuống 28 tiểu đoàn (cuối tháng 2 năm 1954).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #174 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 12:04:06 am »


GIỮA LÒNG CHẢO NÓNG BỎNG

        Với mức độ chính xác khiến thiếu tá quân y Grôuyn1phải coi là “một cú bắn bậc thầy”, “lựu pháo của Quân đội nhân dân Việt Nam lần đầu ra mắt hồi 13 giờ ngày 12 tháng 3, thiêu cháy một máy bay hai thân (C119) đậu trên sân bay Mường Thanh”.

        Máy bay khu trục và trinh sát vọt lên nhưng “chẳng nhìn thấy gì trong đám rừng rậm khi lớp khói đấu nòng đã nhanh chóng tan đi”!

        Mọi công việc chuẩn bị chiến đấu trở nên vội vã, hấp tấp. Nhưng rồi vẫn chưa thấy đối phương tiến công. Kết thúc cuộc giao ban buổi chiều, đại tá Đờ Cát còn hẹn các sĩ quan đúng hẹn hội báo như thường lệ tức 17 giờ ngày hôm sau, 13 tháng 3. Mọi người ra khỏi hầm chỉ huy Êpécviê của Đờ Cát với vẻ lo âu khác thường. Những bộ mặt mệt mỏi, tư lự đã thay thế những bộ mặt “hào hứng chờ địch” vài tháng trước. Tiếng nổ chiều nay trên sân bay không còn là tiếng sơn pháo 75 mà họ vẫn thường nghe thấy. Đối phương có lựu pháo 105 milimét, những khẩu pháo bò được lên núi là điều hình như đã được khẳng định.

        Cuộc giao ban quy định vào hồi 17 giờ chiều hôm 13 tháng 3 chưa kịp bắt đầu thì bỗng từng chùm đạn pháo 12 hay 16 quả rơi xuống nổ dữ dội ở khắp nơi: sở chỉ huy, trận địa pháo, sân bay và tập trung nhất là trên cứ điểm Bêatơrixơ (Him Lam). Một kho xăng bốc cháy, một cụm lửa phụt cao sát cạnh sân bay.

        Sau những ngày chờ đợi căng thẳng lính da trắng cũng như da đen ở tập đoàn cứ điểm đã choáng váng khi cuộc thử lửa bắt đầu diễn ra. Lần đầu tiên, chúng bị chìm ngập trong những tiếng nổ nhức óc và trong ánh chớp giật của đạn pháo. Theo nhận xét của Rôcôn, những người lính đó có thể “vượt qua sự rung động tinh thần” nếu cuộc thử lửa chỉ kéo dài vài ba phút... Nhưng sự rung động đó đã tăng lên một cách khủng khiếp khi cuộc pháo kích kéo dài. Hàng nghìn người trong phân khu Trung tâm đã phải chịu đựng sự thử thách của pháo binh đối phương trong suốt mấy giờ. Ai cũng chờ đợi và hy vọng pháo binh của Pháp sẽ chống lại một cách có hiệu quả, làm cho cuộc pháo kích của đối phương nếu không tắt hẳn thì cũng phải giảm bớt.

        Những khẩu đại bác của trung tá Pirốt đã phản pháo theo kế hoạch, song vẫn không cải thiện được tình hình chút nào. Từ những ngọn đồi xa, pháo đối phương vẫn tiếp tục nã rền. Theo Rôcôn, ngay “từ giờ phút ấy, trung tá Pirốt đã cảm thấy bất lực và những khẩu pháo của ông ta bị đối phương phá hủy càng làm cho ông ta không tin tưởng ở mình nữa… Trong đêm ấy, nhiều khẩu đội pháo đã bị loại khỏi vòng chiến đấu. Hai đại đội súng cối 120 milimét của lính lê dương cũng không tránh khỏi số phận như thế...”. Nhiều sĩ quan thâm niên Đông Dương (như loại Lănggle) cũng phải nhận rằng trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, trên chiến trường châu Âu, hắn “chưa bao giờ được chứng kiến cảnh tượng chói mắt đến như thế”. Nhìn về hướng đông bắc tập đoàn cứ điểm (ý nói hướng Him Lam), nền trời đỏ rực như máu...

        Sở chỉ huy của Đờ Cát nhận được báo cáo: tiểu đoàn lê dương ở Bêatơrixơ bị đối phương chia cắt bằng những đợt xung phong dữ dội từ nhiều hướng. Cả tiểu đoàn trưởng (Pêgô) và tiểu đoàn phó (Pácđi) đều bị chết ngay lúc trận đánh bắt đầu. Ở Mường Thanh, trung tá Gôsê, chỉ huy phân khu Trung tâm cùng hầu hết sĩ quan tham mưu đã toi mạng vì một viên đại bác chui tọt vào nổ trong hầm. Trung tá Lănggle được chỉ định thay Gôsê.

        Nửa đêm, Bêatơrixơ bị xoá sổ. Các phóng viên có mặt ở tập đoàn cứ điểm vô cùng sửng sốt, “không ngờ những lính lê dương thiện chiến của bán lữ đoàn 13 (13è DBLE) nổi tiếng lại bị tiêu diệt nhanh chóng đến thế”(!).

        Không ai nghĩ đến khả năng tổ chức ngay một cuộc phản kích chiếm lại cứ điểm vừa bị mất vì binh đoàn đổ bộ đường không (GAP) chỉ còn hai tiểu đoàn. Cả đêm, trong sở chỉ huy của Đờ Cát không ai chợp mắt. Điện thoại, điện thoại liên hồi. Đại tá Đờ Cát, chiếc calô đỏ trên đầu, môi không rời điếu thuốc, trầm tư đi lại dọc hầm chỉ huy.

        Điện Biên Phủ - Hà Nội - Sài Gòn - Pari - Oasinhtơn... “Tin chấn động” dây chuyền đã bay đi rất nhanh, từ cứ điểm Him Lam đến Nhà trắng. Ngay sáng hôm sau, tại Sài Gòn, tướng Ô Đanien nhận được điện của Tổng thống Hoa Kỳ. Đanien chính thức được bổ nhiệm phái đoàn MAAG và chủ tịch hội đồng cố vấn Mỹ ở Việt Nam những chức vụ mà trước đây viên tướng này chỉ mới được chỉ định tạm thời phụ trách. Sau đòn đầu tiên ở Bêatơrixơ, Nhà trắng và Lầu Năm góc muốn nắm được “những tin tức kịp thời, chính xác đáng tin cậy tuyệt đối”(!)

---------------------
        1. Paul Grauwin, tác giả cuốn J’ étais médecin à Điện Biên Phủ (Tôi đã là thầy thuốc ở Điện Biên Phủ), Paris, France - Empire, 1956. Grauwin đã lầm về thời gian và cỡ pháo. Thật ra đây là những trận pháo kích thường xuyên của súng cối 120 milimét và sơn pháo 75 milimét của ta nhằm khống chế sân bay trung tâm. Còn lựu pháo 105 milimét của ta chỉ bắn hồi 13 giờ ngày 13-3-1954, chuẩn bị cho trận tiến công Him Lam.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #175 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 12:04:38 am »


        Ngày 14 tháng 3, một ngày chủ nhật mây mù phủ kín lòng chảo Điện Biên. Nếu máy bay vận tải không thể hạ cánh, không thể thả dù thì máy bay trinh sát cũng bất lực trước thiên nhiên khắc nghiệt của núi rừng Tây Bắc.

        Lệnh của Hà Nội: phản kích chiếm lại Bêatơrixơ. 7 giờ 30, quân dù và xe tăng được tung ra phản kích vừa tiếp cận đường 41 đã vấp phải “hỏa lực mạnh được bố trí rất có bài bản” của đối phương. Bécna Phôn nhận xét: Như vậy là Việt Minh đã đoán trước có cuộc phản kích này và đã vững chân chờ đợi nghênh tiếp. Không ai còn nghĩ đến phản kích lần thứ hai để “chiếm lại” Bêatơrixơ nữa. Người ta viện nhiều lý do: có chiếm lại cũng không giữ được; số đạn pháo 105 milimét tiêu thụ trong đêm đấu pháo đầu tiên đã chiếm một phần tư số đạn trong kho (6.000/27.000), trong khi đó thì mây mù không cho phép nhận được đạn tăng viện nhanh chóng, lính dù của GAP còn phải dùng để thay thế tiểu đoàn lê dương (3/13 DBLE) vừa bị tiêu diệt đêm qua, sẵn sàng đối phó nếu Gabrien bị tiến công.

        Sân bay chính gặp nhiều khó khăn vì pháo đối phương. Thêm 7 máy bay bị bắn cháy, 2 chiếc khác bị hỏng, đài chỉ huy bị trúng đạn, hệ thống đèn pha hướng dẫn hạ cánh ban đêm bị phá hủy hoàn toàn. Mới sau 24 giờ chiến dấu, tập đoàn cứ điểm đã bị tước mất lực lượng không quân yểm trợ tại chỗ.

        Buổi chiều, một tiểu đoàn dù (5e BPVN) tăng viện được ném xuống. Các bãi nhảy bị pháo binh khống chế. Quân dù bị thiệt hại ngay khi vừa chạm đất. Số còn lại được đưa lên Êlian, khu đồi phía đông.

        Chập tối ngày 14, đến lượt Gabrien bị tiến công. Đây là cứ điểm được coi là tổ chức tốt nhất trong toàn bộ tập đoàn cứ điểm. Buổi sáng, cứ điểm được tiếp tế đầy đủ tới mức ai cũng tin chắc rằng nó sẽ cầm cự được ít nhất là trong bốn ngày: Thiếu tá tiểu đoàn trưởng Méccơnem được trung tá Pirốt đảm bảo rằng pháo binh sẽ dốc toàn lực yểm trợ để pháo đối phương “không thể nào gãi được cứ điểm này”!

        Dưới hoả lực của pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam, khoảng 20 giờ, các hầm vũ khí nặng của cứ điểm sụp đổ. Bộ binh lọt vào, “nhẹ nhàng khác hẳn trận tiến công Bêatơrixơ”, nhưng rồi trận đánh bỗng trở nên ác liệt và kéo dài suốt đêm. Các cứ điểm của đại đội 1, rồi đại đội 4, lần lượt bị mất. Trước nguy cơ đó, đại tá Đờ Cát phải đích thân đến hầm chỉ huy pháo binh để điều khiển hỏa lực chi viện cho Gabrien. Một tình huống đặc biệt xảy ra lúc 4 giờ 30 phút sáng 15: một viên đạn pháo, ngòi nổ chậm, xuyên qua hầm chỉ huy tiểu đoàn. Các sĩ quan trong sở chỉ huy tiểu đoàn đều bị chết hoặc bị thương nặng. Cuộc bàn giao giữa hai tiểu đoàn trưởng cũ (thiếu tá Méccơnem) và mới (thiếu tá Các) không thực hiện được nữa vì cả hai đều bị thương nặng. Đến 7 giờ 30 phút, ngay sau khi xe tăng và quân dù được phái đến cứu Gabrien buộc phải rút chạy, với một phần tư quân số bị loại khỏi vòng chiến, trong đó có đại đội trưởng Máctanh, từ bốn phía, “những chiếc mũ cứng có ngụy trang của quân đội Việt Minh đã xuất hiệu khắp cứ điểm”. Số lính da đen sống sót nhanh chóng hạ súng. Gabrien bị xoá sổ, với 483 lính chết, 175 mất tích. Số còn lại bị bắt trong đó có hai thiếu tá Méccơnem và Các. Thêm vào đó, tiểu đoàn dù thứ 5 mới được ném xuống hôm trước cũng coi như bị tan rã sau cuộc phản kích cứu Gabrien không thành công.

        Từ chỗ quá tin vào khả năng pháo binh, sau hai đòn đau, bọn chỉ huy Pháp chỉ biết tìm nguyên nhân thất bại ở pháo binh. Thực tế chứng tỏ những khẩu pháo của Pirốt đã hoàn toàn bất lực, không “làm câm họng” nổi pháo của đối phương như Đờ Cát và Pirốt đã từng tuyên bố. Chứng kiến cảnh tượng hoả lực của mình bị hao mòn nhanh chóng sau 48 giờ chiến đấu đầu tiên1, từ chủ quan khoác lác, viên trung tá chỉ huy pháo binh đã rơi xuống vực thẳm của thất vọng. Sau khi bị Đờ Cát khiển trách, đêm 15 tháng 3, Pirốt tự kết liễu đời mình bằng một quả lựu đạn. Xác của hắn bị vùi ngay trong hầm “để giữ kín mọi chuyện”. Sáng hôm sau, một bức điện được chuyển từ Điện Biên Phủ về Hà Nội, nói “trung tá Pirốt đã hy sinh trên chiến trường danh dự”(!). Chưa hết. Tiếp đến là tham mưu trưởng Kenlen, mất tinh thần tới mức thần kinh bị rối loạn, do đó y bị cách chức và bị đuổi về Hà Nội.

        Để trấn an quân lính, Đờ Cát tung ra một bản nhật lệnh: “… Chúng ta đã trải qua một vài trận gay go và bị mất nhiều quân, nhưng số quân nay đã được bù đắp ngay bằng hai tiểu đoàn dù. Còn năm tiểu đoàn dù nữa đã sẵn sàng nhảy xuống tăng viện... Pháo của ta còn nguyên vẹn, sẵn sàng thực hiện mọi nhiệm vụ bắn chặn có bảo đảm. Có thêm nhiều đại bác và pháo thủ vừa được thả dù xuống... Như vậy là số viện binh hiện có đang bù đắp rộng rãi những thiệt hại của chúng ta. Quân Việt thì không được như thế... Chỉ còn vài ngày nữa là chúng ta sẽ thắng...”

        Các phóng viên có mặt ở Điện Biên Phủ cho rằng bản nhật lệnh được truyền đi công khai bằng hệ thống loa điện còn nhằm ngăn đe đối phương hãy coi chừng sức mạnh hùng hậu của Pháp ở tập đoàn cứ điểm.

---------------------
        1. Một đại đội cối 120, hai khẩu đội 105 bị huỷ diệt hoàn toàn cùng với pháo thủ, một trong bốn khẩu 155 bị hỏng. Số đạn tiêu thụ quá lớn: 12.600 đạn pháo 105, 11.000 đạn cối 120, 3.000 đạn pháo 155 milimét.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #176 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 12:05:02 am »


        Có một sự thật không bao giờ đám binh lính ở Điện Biên Phủ được biết là: 22 giờ 25 phút ngày hôm đó (16-3), trả lời bức điện yêu cầu tăng viện cho Đờ Cát, tướng Cônhi cho biết: sau khi tiểu đoàn dù biệt kích thứ 6 do thiếu tá Bigia chỉ huy được ném xuống Điện Biên Phủ1(trưa 16 tháng 3), ở Bắc Việt Nam chỉ còn một tiểu đoàn dù và toàn Đông Dương cũng chỉ còn hai tiểu đoàn mà thôi.

        Sau Bêatơrixơ và Gabrien bị san phẳng, đến lượt tiểu đoàn ngụy Thái (3èBAT) ở Annơ Mari (Bản Kéo) ra hàng, tiếp đến là “tình trạng mất tinh thần hoàn toàn” của tiểu đoàn ngụy Thái thứ 2 (2è BAT). Các ký giả kết luận: Những sự kiện đó “đã làm cho phía Pháp mất thêm gần 1/5 lực lượng, còn Việt Minh thì không mất một viên đạn nào!”.

        Bị bất ngờ và ngạc nhiên (!) trước sức mạnh tiến công của đối phương vào Điện Biên Phủ, tướng Nava và bộ tham mưu Pháp khẳng định: chỉ có nhanh chóng mở rộng sự yểm trợ của không quân mới có thể cứu vãn được tình thế.

        Ngay sau khi nghe tin cứ điểm thứ hai ở Điện Biên Phủ bị đối phương tiêu diệt, cao ủy Đờgiăng liền đến gặp đại sứ Mỹ và phái bộ quân sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn, đề nghị gửi gấp các phương tiện không quân mà Pháp đã yêu cầu từ trước (các máy bay chiến đấu B26, F84, máy bay vận tải C47) và đề nghị Mỹ chấp thuận cho Pháp dùng máy bay C119 ném bom cháy quy mô lớn để cứu vãn Điện Biên Phủ. Đồng thời, tướng Nava và cao ủy Đơgiăng cùng gửi điện “kêu cứu” về Pari.

        Ngày 20 tháng 3, tham mưu trưởng Êly vội bay đi Oasinhtơn. Theo chỉ thị của Thủ tướng Lanien, Êly phải báo cáo và đề nghị với Lầu Năm góc hai điều: 1. Ngày 19, Chính phủ Pháp vừa thông qua một ngân sách đặc biệt cho Đông Dương gồm 626 tỷ phrăng, trong đó Pháp chỉ đủ sức gánh vác khoảng 1/5 (136 tỷ), còn bao nhiêu, yêu cầu Mỹ giúp; 2. Khẩn thiết yêu cầu Mỹ can thiệp gấp bằng không quân “để giữ cho bằng được Điện Biên Phủ”(!).

        Vừa tới nơi Êly lập tức được những nhân vật diều hâu loại nhất nhì của Mỹ quốc đón tiếp: Phó tổng thống Níchxơn; đô đốc Rátpho, chủ tịch hội đồng tham mưu liên quân: Alen Đalét, trùm CIA; Mathiu Rítuây, tham mưu trưởng lục quân Mỹ... Quả thật Nhà trắng và Lầu Năm góc đang “theo dõi với một sự quan tâm sâu sắc” những gì đang xảy ra ở Đông Dương và số phận Điện Biên Phủ. Trong các cuộc gặp gỡ, Êly cố tỏ ra lạc quan cho rằng tập đoàn cứ điểm sẽ trụ được miễn là các trang bị (do Pháp) yêu cầu được đưa sang gấp để giáng cho đối phương những đòn quyết định (!). Không khí tỏ ra “thuận lợi khác thường” trước những yêu cầu của Pháp. Trong cuộc gặp gỡ Êly, sáng 22 tháng 3 (Rátpho và Bộ trưởng ngoại giao Phôxtơ Đalét cũng tham dự), Tổng thống Hoa Kỳ Aixenhao chỉ thị cho Lầu Năm góc phải ưu tiên đáp ứng cho tướng Nava mọi thứ cần thiết có thể góp phần giành thắng lợi trong trận đánh đang diễn ra ở Điện Biên Phủ, trước hết là máy bay B26, lấy từ các căn cứ không quân Mỹ ở Philippin, Đài Loan hoặc Nhật Bản. Tiếp lời Tổng thống, Đalét cũng bảo đảm với Êly rằng không có lý do gì khiến Mỹ bỏ rơi kế hoạch Nava.

        Tất cả ý đồ trên đây của giới cầm quyền Mỹ phản ánh nghị quyết của Hội đồng an ninh quốc gia Hoa Kỳ (NSC) vừa họp ngày 6 tháng 3, nhằm dùng mọi biện pháp cần thiết để “ngăn chặn không cho cộng sản kiểm soát vùng (Đông Dương) này”. Đó cũng là những điều mà thượng nghị sĩ Giôn Kenơđi đã tiết lộ ngày 9 tháng 3.

        Các cuộc họp giữa Êly và Rátpho trong những ngày 24 và 25 tháng 3 “đã mở ra những triển vọng mới, to lớn”. Kế hoạch can thiệp của Mỹ do Rátpho đề xướng quả đã vượt ra ngoài dự kiến của tướng Êly: chừng 60 máy bay ném bom hạng nặng B29, xuất phát từ căn cứ không quân Clacphin (Clarkfield) của Mỹ ở Philíppin, được 150 máy bay chiến đấu thuộc hạm đội 7 hộ tống, sẽ lợi dụng đêm tối tiến hành ném bom nhiều đợt (mỗi đợt chừng 450 tấn bom) xuống Điện Biên Phủ nhằm hủy diệt vành đai của đối phương bao vây tập đoàn cứ điểm. Để tránh những rắc rối về mặt quốc tế, máy bay Mỹ không sơn phù hiệu không lực Hoa Kỳ; phi công lái máy bay là những người đang nghỉ phép, khi đi ném bom sẽ không mang quân hàm, quân hiệu. Rátpho yêu cầu Êly báo cáo ngay để Pari chính thức đề nghị với Oasinhtơn và để cuộc oanh kích có thể được tiến hành ngay sau khi hai chính phủ Pháp - Mỹ đã thống nhất chấp nhận.

        Trở về Pari ngày 27 tháng 3, tướng Êly báo cáo ngay kết quả cuộc công cán với Bộ trưởng quốc phòng Plêven và trình bày rõ “đề nghị lạ lùng” (ouverture extraordinaire) của Rátpho. Một ủy ban thu hẹp về chiến tranh Đông Dương (gồm Thủ tướng Lanien, Phó thủ tướng Râynô; bộ trưởng ngoại giao Biđôn, quốc phòng Plêven, chiến tranh Sơvinhê, quốc gia liên kết Giắckê, các tham mưu trưởng...) được triệu tập ngày 29 tháng 3 để nghiên cứu mọi mặt về cái mà từ đó được mệnh danh là “chiến dịch Diều hâu” (opération Vautour), một chiến dịch do chính những con diều hâu Hoa Kỳ vừa là đạo diễn, vừa là diễn viên.

        Đại tá không quân Brôhông (Brohon) được phái ngay sang Đông Dương để tham khảo ý kiến Nava và Đờgiăng. Viên đại tá này đến Sài Gòn (ngày 1 tháng 4) thì cả Nava và Đờgiăng đang có mặt ở Hà Nội để lo đối phó với tình hình: đợt tiến công thứ hai của Quân đội nhân dân Việt Nam đã bắt đầu từ đêm 30 tháng 3.

        Như kẻ sắp chết đuối vớ được cọc, Nava và Đờgiăng vội vàng gật đầu chấp thuận kế hoạch can thiệp bằng không quân của Mỹ. Họ hy vọng rằng “Diều hâu” sẽ tiêu diệt pháo binh của đối phương và cho phép phục hồi tập đoàn cứ điểm.

---------------------
        1. Đây là lần thứ hai tiểu đoàn dù này bị ném xuống Điện Biên Phủ. Lần thứ nhất, 6è BPC tham gia cuộc hành binh Castor (11-1953), sau đó được đưa về đồng bằng làm lực lượng cơ động chiến lược.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #177 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 12:06:10 am »


THÒNG LỌNG CHIẾN HÀO ĐÃ XIẾT CHẶT

        Những ngày cuối tháng 3 là những ngày bi thảm đối với Đờ Cát. Cuộc chiến đấu trong vòng nửa tháng (từ 13 đến 29 tháng 3) đã ngốn mất 43.806 viên đạn pháo 105, 155 và cối 120 milimét. Sân bay không những bị pháo đối phương khống chế mà còn bị các chiến sĩ biệt động đối phương liên tiếp lọt vào tiến công. Những chiếc máy bay còn lại lần lượt bị phá hủy. Ngày 26 được các phóng viên có mặt ở Điện Biên Phủ gọi là ngày điển hình về “cuộc tàn sát các máy bay Pháp”: ba chiếc Đacôta do các đại úy Bogơlinh, Đáctigơ và Buốcgơrô lái, liên tiếp bị bắn cháy và rơi ngay trong khu trung tâm Mường Thanh. Từ ngày 29, không một máy bay nào dám hạ cánh xuống sân bay Điện Biên Phủ nữa. Chiếc C47 cuối cùng cất cánh an toàn khỏi sân bay ngày 27 và chiếc Moran cuối cùng, sáng 31 tháng 3.

        Một chiếc “thòng lọng chiến hào” đã hình thành và ngày càng xiết chặt chung quanh phân khu Trung tâm và phân khu Hồng Cúm. Qua các bức ảnh do máy bay chụp hàng ngày và ném xuống cho ban tham mưu tập đoàn cứ điểm, người ta thấy hiện lên rõ nét các “chân rết” cứ mọc dài mãi ra và duỗi dần, duỗi dần, sát các cứ điểm.

        Mười ngày thử lửa đầu tiên đã làm cho bộ máy chỉ huy tập đoàn cứ điểm bị xáo trộn. Trung tá Đuycruých (Ducruix) được điều từ Hà Nội lên thay tham mưu trưởng Kenle. Trung tá Vaiăng (Vaillant) lên chỉ huy pháo binh thay Pirốt đã tự sát. Đại tá Đờ Cát cũng “rất ít khi chui ra khỏi hầm chỉ huy” và có người ác miệng lại nói rằng “ông ta chỉ còn làm một việc là chuyển những bức điện của Hà Nội cho các viên chỉ huy thuộc quyền”.

        Trong khi đó thì Cônhi, viên tướng to xác được coi là con gà trống tốt mã cũng bắt đầu đổi giọng. Hắn không che giấu cấp dưới và các nhà báo rằng Điện Biên Phủ đã trở thành cái bẫy, nhưng không phải cái bẫy đối với Việt Minh mà là đối với quân đội Pháp. Tuy nhiên, đối với những người lính đang bị trói chặt trong vòng lửa Điện Biên Phủ, các tướng lĩnh Pháp vẫn tỏ thái dộ “cứng rắn”. Ngồi ở Hà Nội cách Điện Biên Phủ hàng trăm kilômét, hoặc ở Sài Gòn, cách Điện Biên Phủ hàng ngàn kilômét, các tướng Cônhi và Nava đua nhau gửi cho Đờ Cát những bức điện nhắc nhở: nào là phải có tinh thần tiến công, phải cố gắng giành phần thắng, nào là phải chiếm lại ngay những cứ điểm bị mất, phải phá hoại hào giao thông bao vây của đối phương, v.v... Những bức điện ấy khiến kẻ cầm đầu quân Pháp ở tập đoàn cứ điểm “chua chát hé một nụ cười chế nhạo kèm theo một câu chửi đổng vì bọn ngu xuẩn (ý nói Cônhi - Nava) cứ tưởng chỉ cần thổi một tiếng còi là có thể tập hợp được toàn bộ lực lượng dự bị để chống lại đối phương”. Bọn tướng lĩnh Pháp có biết đâu rằng vào ngày đối phương mở đợt tiến công thứ hai, quân Pháp ở Điện Biên Phủ còn khoảng 10.000 người nhưng đã “kiệt sức và quá lo việc phòng thủ hơn là đào hào để xông ra đối mặt với Việt Minh”.

        Hệ thống đường hào của Quân đội nhân dân Việt Nam cứ nhân lên vô tận, vây bọc lấy các cứ điểm của quân Pháp. Các sĩ quan và binh lính bị ngạt thở trong chiếc thòng lọng chiến hào. Người này gọi các chiến sĩ Việt Nam là những con nhện chăng tơ, kẻ khác thì gọi các chiến hào là những vòi của con bạch tuộc. Trong đợt chiến đấu mới này quân Pháp có thể tính giờ một vị trí nào đó sắp bị xoá sổ khi những đường hào tiến sát rồi luồn dưới rào dây thép gai. Một tràn mưa đạn pháo vừa dứt cũng là lúc quân tiến công từ các chiến hào ngay cửa ngõ của vị trí bất ngờ lao lên, ập vào giữa đồn vừa bị bắn phá... Cứ như thế, lần lượt hết đồn này đến đồn khác sụp đổ...

        Quân tiến công áp dụng “lối đánh cổ điển” này từ trung tuần tháng 3. Thoạt tiên người ta thấy những chiến hào tiến lại gần cứ điểm Êlian từ phía nam (18-3) vượt qua cứ điểm Đôminích từ phía tây (19-3), xuất hiện gần cứ điểm Clôđin và chỉ còn cách Huyghét chừng 50 mét ở phía Bắc. Chẳng mấy chốc, “các đầu mối móc với nhau rồi nhanh chóng tỏa ra làm hai, làm ba, làm bốn nhánh như những cành cây”. Dùng pháo bắn chặn, thúc quân ra lấp lại, gài mìn để phá hoại..., vô ích. Với biện pháp vừa dũi vừa tự vệ có hiệu quả kỳ lạ, các vòi của những con bạch tuộc cứ vươn tới với tốc độ khủng khiếp. Một kết luận được rút ra (quá muộn) là: “do tìm được cách đánh thích hợp, đối phương đã tạo cho chiếc cuốc, chiếc xẻng của họ có một sức mạnh không kém xe tăng, máy bay của quân đội Pháp”. Để đối phó với cách đánh đó, mặc dù số đạn pháo cối tung ra trong tháng 4 rất lớn (gần 31.000 viên), quân Pháp vẫn không đứng vững mỗi khi cứ điểm nào đó bị đối phương kiên quyết tiến công và tiêu diệt.

        Việc tiếp tế và tăng viện đã trở thành mối lo ngại hàng đầu. Máy bay không hạ cánh được nữa. Việc tiếp tế chỉ còn trông vào biện pháp duy nhất là thả dù, một biện pháp không đủ đáp ứng nhịp độ chiến đấu ngày càng ác liệt. Cao xạ của quân đội Việt Nam buộc máy bay phải thả dù từ trên độ cao 3.000 đến 7.000 mét do đó chừng một phần ba số dù rơi ra ngoài khu vực đã quá hẹp của quân Pháp. Theo ước tính của Lănggle thì máy bay Pháp - Mỹ “đã tiếp tế cho các khẩu đội pháo của Việt Minh chừng 5.000 viên đạn đại bác”. Vấn đề thu nhặt dù ngày càng trở nên gay go ác liệt. Những họng súng bắn tỉa của các tay thiện xạ gây nên một sự căng thẳng khủng khiếp đối với những lính Pháp bị xua ra nhặt dù tiếp tế. Và cuối cùng, vẫn theo Lănggle, mọi người đều mệt mỏi và khiếp sợ đến nỗi không còn đủ sức nhặt những kiện hàng được ném xuống “dù nó rơi ngay sát chân mình”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #178 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 12:06:35 am »


        Cônhi, viên tướng chịu trách nhiệm trực tiếp về số phận của tập đoàn cứ điểm luôn luôn động viên Đờ Cát rằng đối phương đã “mệt mỏi và hao mòn, sắp phải bỏ cuộc.... Mùa mưa sắp đến, họ sẽ bị ngụp lặn trong các chiến hào ngập nước và không thể phát triển được nữa... Họ còn xa mới có được những chủ bài quyết định để giành thắng lợi”.

        Đúng là khi Quân đội nhân dân Việt Nam bước vào đợt hai của chiến dịch thì những cơn mưa đầu mùa cũng xuất hiện. Các chiến sĩ Việt Nam gặp khó khăn song quân Pháp còn khó khăn gấp bội. Thời tiết khắc nghiệt khiến quân Pháp “chỉ còn biết hỏi Chúa Trời sao lại đày đọa chúng tôi vào cảnh ngộ này!”. Thiếu tá Grôuyn kể lại tình hình trạm quân y của tập đoàn cứ điểm như sau : “... Những nóc nhà, những nắp hầm ngấm nước trở nên rất nặng, đè lên những thành vách đã bị yếu đi vì ngấm nước. Hàng loạt gian hầm xây dựng vội vã đã đổ ụp, đè cả lên đám người bên trong... Đến tháng 5, bùn ngập lên tới đầu gối, việc đi lại càng trở nên khó khăn... Khí nóng, hơi ẩm và những vật thồi rữa đẻ ra một tai họa mới: Ruồi! Nguồn ruồi đầu tiên ở bãi để xác lính chết. Nhưng dần dà, nó tràn vào cả trạm quân y và những gian hầm lân cận. Ruồi đẻ trứng khắp nơi: trên vách đất trong chiến hào, trong lớp bông băng đẫm máu vứt bừa bãi chung quanh trạm quân y, trên giường, trong vải băng và lớp bột bao bọc vết thương... Trứng ruồi vỡ ra giòi. Giòi bọ nhung nhúc trên chăn bẩn, trên đệm, trên vải băng vết thương, chui cả vào những vết thương bó bột, những chỗ cứ tưởng rằng không gì lọt vào nổi... Đêm đến thật là một cảnh tượng kinh khủng khi nhìn những con giòi màu trắng, kinh tởm, bò nhởn nhơ trên bàn tay, trên mặt, trên tai đám lính bị thương đang ngủ”.

        Những người lính còn sống sót, dù ở trạm quân y hay trong chiến hào đều nuôi ảo vọng ở sắt thép, những khối sắt thép có khả năng cứu thế màu nhiệm sẽ cứu họ ra khỏi cái địa ngục Điện Biên Phủ này. Họ làm sao biết được rằng khi đợt tiến công thứ hai của Quân đội nhân dân Việt Nam bắt đầu thì ở phân khu Trung tâm chỉ còn bốn chiếc xe tăng và ở phân khu Nam hai chiếc. Trong một đêm 31 tháng 3, tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn pháo binh thuộc địa thứ 10 (3/10 RAC) đã mất sáu khẩu pháo 105. Đạn pháo cũng chẳng còn là bao. Cho nên, nếu trong những giờ phút sống bên cạnh cái chết, cả quan và lính Pháp ở Điện Biên Phủ đều hướng về “bàn tay cứu tinh”, nóng lòng chờ đợi những khối sắt thép của ông bạn Hoa Kỳ thì cũng chẳng có gì là khó hiểu.

        Sau khi Êly rời Oasinhtơn, đô đốc Mỹ Rátpho khẩn trương chuẩn bị kế hoạch can thiệp bằng vũ lực của Hoa Kỳ vào Đông Dương. Ngày 8 tháng 4, đô đốc Hốpút, tham mưu trưởng hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ đến Sài Gòn cùng Nava bàn việc thực hiện kế hoạch Diều hâu. Hai ngày sau, hai tàu sân bay Bốcxơ và Étxếch (Boxer - Essex) thuộc Hạm đội 7 tiến vào Vịnh Bắc Bộ. Rátpho thấy cần phải hành động gấp để “củng cố quyết tâm và lòng tin của Chính phủ Pháp, để quân viễn chinh Pháp tránh được thất bại trước khi Hội nghị Giơnevơ họp”.Nhưng dư luận tiến bộ Mỹ đã buộc Quốc hội Hoa Kỳ ngăn chặn hành động phiêu lưu của bọn diều hâu Rátpho, Đalét. Tám nhân vật chủ chốt trong Quốc hội (ba nghị sĩ thuộc đảng Cộng hòa, năm nghị sĩ thuộc đảng Dân chủ) được tham khảo ý kiến đều không dám tán thành việc Mỹ can thiệp bằng vũ lực, vì kế hoạch Diều hâu “sẽ dẫn đến việc Hoa Kỳ bị sa lầy...”. Các tham mưu trưởng ba quân chủng cũng không tin rằng không lực Mỹ có thể cứu nổi Điện Biên Phủ.

        Trên thực tế, kế hoạch Diều hâu đã bị ung thối ngay từ trong trứng, nhưng Rátpho và Đalét vẫn chưa chịu lùi bước. Họ âm mưu thay đổi thủ đoạn hành động để thực hiện kỳ được sự can thiệp trực tiếp bằng vũ lực của Mỹ vào Đông Dương. Dựa vào một trong những điều kiện do những nhân vật chủ chốt của quốc hội đề ra là Mỹ không can thiệp đơn phương mà phải trên cơ sở “một liên minh phòng thủ”1Đalét đã ra sức vận động để tiến tới một hành động thống nhất, trong đó Anh sẽ là kẻ bung xung ở phía trước để Mỹ thực hiện thủ đoạn ném đá giấu tay.

        Nếu các “quốc gia hữu quan” ở Đông Nam Á sớm có phản ứng thuận lợi thì, trong các chuyến đi suốt tháng 4, như con thoi qua các thủ đô Pari và Luân Đôn, Đalét đã vấp phải thái độ chống đối của cả Pháp lẫn Anh, nhất là Anh.

        Đối với Pháp, Điện Biên Phủ đã trở nên không thể cứu vãn nổi, trong khi dư luận tiến bộ Pháp đang hướng vào giải pháp thương lượng hòa bình mà người ta đã thấy có thể đạt được bên hồ Lêman (Giơnevơ - Thụy Sĩ).

        Đối với Anh, sự can thiệp bằng vũ lực sẽ dẫn đến những hậu quả quốc tế phức tạp. Vấn đề Đông Dương chỉ có thể giải quyết bằng con đường đàm phán chứ không phải bằng một hành động can thiệp quân sự từ ngoài vào.

        Tháng 4 trôi qua với nỗi thất vọng chua cay của cả Rátpho và Đalét. Sức mạnh chiến đấu của quân dân Việt Nam trên chiến trường Điện Biên Phủ cộng với dư luận tiến bộ ở Pháp và trên thế giới đã trói chặt cánh những con diều hâu Mỹ trước ngày hội nghị Giơnevơ về Đông Dương khai mạc.

---------------------
        1. Trong “liên minh” đó, ngoài Mỹ, Anh, Pháp, còn có các “quốc gia hữu quan” ở Đông Nam Á như Úc, Tân Tây Lan, Philíppin, Thái Lan và bọn ngụy Đông Dương.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #179 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 12:08:08 am »


HẾT ĐƯỜNG THÁO CHẠY

        Mặc dầu vậy Nava vẫn nuôi hy vọng. Viên tổng chỉ huy cho rằng việc thăng cấp hàng loạt cho các sĩ quan chỉ huy chủ chốt ở Điện Biên Phủ1là một hình thức hữu hiệu để lên dây cót cho ba quân vượt qua những giờ phút đã được coi là tuyệt vọng.

        Cùng với quyết định thăng cấp là cố gắng vét túi để ném thêm quân xuống lòng chảo Điện Biên Phủ. Tập đoàn cứ điểm ngốn quân Pháp như mảnh đất hạn hán hút nước. Số quân ném xuống quá ít so với số bị loại khỏi vòng chiến. Một vài ví dụ: theo báo cáo của thiếu tá Lêớt, trưởng ban quân lực tập đoàn cứ điểm, chỉ riêng trong tuần lễ từ 17 đến 24 tháng 4, khoảng 1.000 lính bị chết và bị thương nặng chỉ được bù lại bằng 432 lính được ném xuống trong những cuộc thả dù nhỏ giọt. Tuần lễ từ 24 tháng 4 đến 1 tháng 5 được coi là tuần lễ tương đối im ắng”, Pháp cũng mất thêm 427 người, đổi lấy 251 quân tăng viện. Viên thiếu tá quân y Grôuyn nêu lên một nhận xét tổng quát: “Việc thả dù tăng viện ban đêm không lấp nổi cái hố thiệt hại ban ngày”. Những bức điện kêu cứu thảm thiết của tướng Đờ Cát và của đại tá Lănggle không làm động lòng tướng Cônhi và đại tá Xôvanhắc (chỉ huy căn cứ quân dù ở Hà Nội) vì túi của họ đã cạn.

        Máy bay chở quân tăng viện cũng là một vấn đề nan giải. Số máy bay phải phân tán đi đối phó ở đồng bằng và đi tiếp tế cho hàng loạt tập đoàn cứ điểm rải rác khắp nơi. Số giặc lái quân sự Mỹ “sang làm quen với chiến trường” lái chừng 30 chiếc C119 thuê của công ty vận tải hàng không dân dụng ở Đài Loan (CAT) đã gây nên tình trạng trống đánh xuôi, kèn thổi ngược trong việc phối hợp giữa bọn giặc lái Mỹ và bọn Pháp điều hành dưới sân bay Điện Biên Phủ. Do ngôn ngữ bất đồng, do thái độ ban ơn, kẻ cả của phi công Mỹ, nhất là do lưới lửa phòng không của quân đội Việt Nam nên các phi công Mỹ đã trở nên “cẩn thận quá đáng” (có nghĩa là nhát gan). Kết quả việc tiếp tế, tăng viện và yểm trợ ngày càng trở nên “thật đáng buồn”. Đêm 19 rạng 20 tháng 4, quân dù được thả xuống nhưng nhiều tên bị lạc xuống khu vực do đối phương kiểm soát. Hôm sau, bom lại trút “nhầm” xuống hai vị trí Huyghét 1 và 6, nhiều lính Pháp chết, một kho chứa khoảng 1.000 viên đạn pháo 105 nổ tung.

        Tháng 4 được báo chí Pháp và phương Tây gọi là “tháng bi đát” của những người lính đang chống đỡ trên chiến trường Điện Biên Phủ. Đường tiếp tế đang trong cơn hấp hối. Quân lính Pháp mệt mỏi, hao mòn tới mức không chịu đựng nổi nữa. Thòng lọng chiến hào đã xiết quá chặt. Tình thế ngày càng đặt Nava - Cônhi và các tướng lĩnh Pháp phải tìm cách cứu sống số quân còn lại thoát khỏi nguy cơ bị thiêu trên lòng chảo rực lửa. Kế hoạch Chim ưng (Condor) được bộ tham mưu quân viễn chinh ở Sài Gòn vạch ra và thông báo cho tướng Đờ Cát từ ngày 14 tháng 4. Theo kế hoạch đó, 6 tiểu đoàn bộ binh từ hướng Nậm U, Nậm Bạc (Thượng Lào) do đại tá Crevơcơ chỉ huy, vượt qua biên giới phối hợp với một binh đoàn không vận (3-4 tiểu đoàn) nhảy dù xuống Mường Nhạ, tiến lên đánh chiếm Tây Trang vào ngày 27 tháng 4 rồi tràn vào Điện Biên Phủ, hợp lực với quân ở tập đoàn cứ điểm phá vây rồi yểm trợ cho nhau rút về hướng Thượng Lào. Toàn bộ binh lực gồm khoảng 8.000 quân cứu hỏa này do Cônhi trực tiếp chỉ huy.

        Sau nhiều lần hoãn đi hoãn lại (vì Cônhi chần chừ không muốn vét quân ở đồng bằng), cánh quân do Crevơcơ đốc thúc tiến đến biên giới Việt - Lào, còn cách Điện Biên Phủ thừng 50 kilômét thì được tin tập đoàn cứ điểm đang ngắc ngoải trong thế “trong không ra được, ngoài không vào được”. Viên đại tá này không còn tin vào khả năng đánh tháo cho đồng bọn ở Điện Biên Phủ được nữa. Con người được tin cậy giao phó số mệnh của gần 10.000 chiến hữu vội hạ lệnh cho đoàn quân cứu hỏa “đằng sau quay” để tránh số phận bị chết thiêu như đồng bọn trên lòng chảo Điện Biên Phủ. Việc ném quân dù xuống Mường Nhạ do đó cũng không được thực hiện.

---------------------
        1. Từ cuối tháng 4, Đờ Cát được thăng cấp thiếu tướng, tiếp đến Lănggle, Lalăng được thăng cấp đại tá, Bigia cấp trung tá, v.v...
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM