Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:18:28 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu  (Đọc 56328 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #180 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 12:08:38 am »


        Kế hoạch Chim ưng bị thất bại. Các kế hoạch khác do Cônhi đề đạt (đánh vào hậu phương kháng chiến ở vùng Yên Bái, Đoan Hùng, Tuyên Quang...) đều bị gạt bỏ vì không có lực lượng và nhất là không hứa hẹn kết quả. Giữa lúc đó thì quân dân Việt Nam bắt đầu đợt ba của chiến dịch. Các vị trí Êlian 1, Đôminíc 3 và Huyghét 5 bị tiêu diệt trong đêm 1 rạng 2 tháng 5 năm 1954.

        Tình thế đã trở nên vô vùng nguy ngập đối với Đờ Cát và binh lính thuộc quyền. Vùng chiếm đóng của Pháp đã thu hẹp tới mức mọi mục tiêu đều nằm trong tầm uy hiếp của súng trường. Dự trữ hậu cần tụt xuống mức báo động khẩn cấp: đến 1 tháng 5 chỉ còn ba ngày lương thực, 275 viên đạn pháo 155, 14.000 viên đạn pháo 105, 5.000 viên đạn cối 120 milimét. Tăng viện đã trở thành tuyệt vọng. Tiểu đoàn dù thuộc địa thứ nhất (1er BPC) được tăng viện từ cuối tháng 4, sau một tuần lễ vẫn không đặt chân hết xuống tập đoàn cứ điểm. Nhiều lần máy bay tới không phận Điện Biên Phủ lại phải quay về đồng bằng vì vấp phải hỏa lực cao xạ đối phương bắn lên quá rát. Tên lính dù nào được ném xuống ban đêm, nếu thoát chết thì “khi trời sáng cũng không thể phân biệt nổi chỗ nào là quân bạn, chỗ nào là quân thù...”. Ngày 27 tháng 4, 114 tấn hàng và 50 lính dù thả xuống “bị mất tăm”.

        Trước tình cảnh đó, thêm một kế hoạch khác được bộ tham mưu quân viễn chinh vạch ra và được tổng chỉ huy Nava chuẩn y: kế hoạch Chim biển (Albatros) một kế hoạch kém vẻ vang hơn so với kế hoạch Chim ưng. Các tướng lĩnh Pháp hy vọng Chim biển sẽ cứu cho quân Pháp ở tập đoàn cứ điểm không lâm vào thế phải đầu hàng nhục nhã. Ba tiểu đoàn dự bị chiến lược cuối cùng của bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương sẽ được ném vào kế hoạch. một trong ba tiểu đoàn đó sẽ được thả xuống Điện Biên Phủ để cùng với lực lượng còn lại tự tìm cách giải vây và chạy sang hướng Thượng Lào, không có sự yểm trợ của lực lượng từ bên ngoài. Trung tá Gôđa chỉ huy 4-5 tiểu đoàn bộ binh từ hướng Thượng Lào lên cùng với 2 tiểu đoàn dự bị chiến lược cuối cùng được ném xuống tạo thành một hành lang an toàn trong vùng thung lũng Nậm Nưa, Mường Nhạ, Nậm Hợp, đón đám tàn quân phá vây ở Điện Biên Phủ chạy sang Lào. Trong cơ quan tham mưu ở Hà Nội người ta không tin vào khả năng thực tế của Chim biển nhưng cũng không ai có “phép” gì hay hơn để hiến kế.

        Ngày 4 tháng 5, tướng Đờ Cát được thông báo về kế hoạch Chim biển. Đó cũng là lúc tình thế quân Pháp ở Điện Biên Phủ đã “lên tới đỉnh cao của sự tồi tệ”. Quân của Đờ Cát dồn lại trong 20 cứ điểm, “trên một diện tích không lớn hơn một sân đá bóng”. Qua mấy ngày đầu đợt tiến công thứ ba của quân dân Việt Nam, các sĩ quan Pháp ở đây coi như số phận của tập đoàn cứ điểm đã được định đoạt.

        Cũng chính ngày 4 tháng 5 ấy, tướng Đờ Cát triệu tập các sĩ quan cầm đầu các đơn vị còn lại bàn cách thực hiện kế hoạch rút chạy mà Hà Nội vừa thông báo. Lực lượng còn lại được chia làm ba cánh quân, rút sang Thượng Lào theo ba hướng, nếu từng cánh quân tự lực phá vây thành công. Trong ba hướng đó (đông nam, nam và tây) hướng nam “có nhiều khả năng may mắn hơn cả”. Viên chỉ huy nào cũng muốn cánh quân của mình được thoát theo hướng nam. Tranh luận kéo dài, không ai chịu nhượng bộ. Tướng Đờ Cát, vừa bất lực, vừa mất thế, không dám đứng ra làm trọng tài quyết định. Cuối cùng, một lối thoát được coi là công bằng được đem áp dụng giữa những “chiến hữu” trong giờ phút thập tử nhất sinh: rút thăm!

        Kết quả:

        - Quân dù do đại tá Lănggle và trung tá Bigia chỉ huy rút chạy theo hướng đông nam.

        - Quân lê dương và Bắc Phi do các đại tá Lơmơniê và Vêđô chỉ huy rút chạy theo hướng nam (hướng may mắn).

        - Quân hỗn hợp ở phân khu Idaben (Hồng Cúm) do đại tá Lalăng chỉ huy chạy theo hướng tây.

        - Toàn bộ lính bị thương và nhân viên quân y ở lại và “tin chắc là đối phương sẽ đối đãi tử tế”.

        Được Nava giao toàn quyền quyết định về thời gian xuất phát, mọi người nhất trí: “Chim biển” sẽ cất cánh vào hồi 20 giờ ngày 7 tháng 5.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #181 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 12:08:58 am »


        Làm thế nào kéo dài cuộc chiến đấu cho đến ngày đó? Một vấn đề hắc búa ai cũng nghĩ đến nhưng không dám nói ra. Sân bay bị cắt đứt. Hệ thống tăng viện và tiếp tế đã hoàn toàn bị rối loạn. Lựu đạn không đủ đáp ứng mức tiêu thụ 2.000 quả một đêm. Đạn pháo, cối (105, 120, 155 milimét) còn lại không vượt quá con số 755 viên. Lương thực, từ chỗ mỗi người một suất bánh mì khô ăn với nước “xốt” cà chua, đã giảm xuống bốn người một suất. Đó là trường hợp tiểu đoàn dù thứ 6 (6e BPC) của viên trung tá Bigia. Nạn “chợ đen” trở thành phổ biến. Binh lính bán lại cho nhau từng mẩu bánh mì, từng ca nước uống, từng tờ truyền đơn của đối phương (được coi là lá bùa hộ mệnh nếu bị bắt làm tù binh).

        Ngày 7 tháng 5, ngày Chim biển cất cánh, đã đến.

        10 giờ: Trong cuộc họp cuối cùng để bàn kế hoạch rút chạy, từ các đại tá chỉ huy từng cánh quân đến các tiểu đoàn trưởng đều nhất trí nhận định: quân Việt Minh đã áp quá gần, vây quá chặt; binh lính kiệt sức không đủ sức phá vây; có phá được vòng vây cũng không đủ sức lê gót sang bên kia biên giới. Sự xuất hiện của 112 lần chiếc máy bay oanh tạc ngày 6 tháng 5 trên bầu trời không làm cho tình hình cải thiện được chút nào... Tướng Đờ Cát động viên mọi người cố cầm cự cho đến khi mặt trời lặn!

        12 giờ: Quân đội Việt Nam bắt đầu vượt qua cầu Mường Thanh. Trên nóc các cứ điểm, những lá cờ trắng rụt rè xuất hiện, lúc đầu lác đác, sau mỗi lúc một nhiều.

        15 giờ: Tướng Đờ Cát hết hy vọng kéo dài thêm trận chiến đấu đã trở nên tuyệt vọng.

        17 giờ 30: Đờ Cát vừa hạ lệnh buông súng thì có lệnh ở Hà Nội: không được đầu hàng, nhất là cấp chỉ huy; không được kéo cờ trắng. Viên tướng cầm máy bộ đàm, báo cáo tình hình với Cônhi, từ biệt cấp trên, từ biệt vợ qua làn sóng điện.

        Lệnh “không đầu hàng” của Cônhi không thể có hiệu lực nữa. Đờ Cát bỏ máy xuống cũng là lúc quân đội Việt Nam đang tràn vào khu Trung tâm như nước vỡ bờ. Mười phút sau, những chiến sĩ đầu tiên, đội mũ nan có ngụy trang, tay cầm tiểu liên đã đến trước sở chỉ huy Êpécviê của Đờ Cát. Ở đây - không biết từ bao giờ - đã xuất hiện một lá cờ trắng. Khi các chiến sĩ Việt Nam bước vào hầm chỉ huy thì tướng Đờ Cát đã đứng đợi sẵn ở đó cùng với ban tham mưu. Viên bại tướng chỉ kịp nói một câu trong hơi thở xúc động: “Xin đừng bắn tôi”. Lúc ấy là 17 giờ 50 phút.

        Hoàng hôn.

        Giữa khung cảnh hoàn toàn đổ nát của chiến trường đã im tiếng súng, những người lính Pháp sống sót hạ vũ khí, bước ra khỏi hầm tập hợp thành đội ngũ theo sự hướng dẫn của những chiến sĩ Việt Minh mà lần đầu tiên họ được nhìn tận mặt những khuôn mặt rất đỗi hiền lành. Không kể lính Pháp hay lê dương, lính dù hay pháo thủ, những người lính thua trận bước đi, mệt mỏi, chán chường, xen lẫn nỗi vui mừng chua chát của kẻ vừa được lôi ra khỏi lưỡi hái của Thần chết.

        Giữa lúc đó, từ hầm chỉ huy Êpécviê, một toán người đi ra, trong đó có Đờ Cát “mặt tái xanh, xanh một cách thảm hại”. Từ xa, người ta dễ nhận ra viên tướng với cái mũ đỏ trên đầu. Có điều lúc này chiếc mũ đỏ trên đầu Đờ Cát không còn cái vẻ vênh váo như lúc viên tướng thách thức đối phương trước ngày trận đánh bắt đầu. Cùng với Đờ Cát, còn có tham mưu trưởng Đuycruých và toàn thể bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm.

        Hình ảnh cuối cùng sau này Lănggle còn nhắc đến là, buổi chiều ngày 7 tháng 5 lịch sử đó, trong lúc từng đoàn tù binh dài dằng dặc nối đuôi nhau về địa điểm tập trung thì một chiếc Đacôta lạc lõng, vô duyên, vẫn tiếp tục bay trên bầu trời Điện Biên Phủ và trút xuống những chiếc dù trắng, lủng lẳng những kiện hàng...

        Từ Hà Nội, Cônhi liên lạc trực tiếp với Lalăng ở phân khu Hồng Cúm và ra lệnh cho 2.000 lính ở đây “thực hiện một phần” kế hoạch Chim biển. Tốc độ tiến công của các chiến sĩ Việt Nam đã đập tan thái độ ngoan cố của Cônhi và nguồn hy vọng mong manh của Lalăng. 01 giờ ngày 8 tháng 5, bọn lính ở Idaben cũng chung số phận với đồng bọn: hạ súng, đầu hàng.

        Cũng vào lúc này phía bên kia biên giới Việt - Lào được tin tập đoàn cứ điểm đã hoàn toàn sụp đổ, trung tá Gôđa liền hạ lệnh lui quân về hướng Luông Pha Băng. Cùng chung số phận với Chim ưng, con Chim biển đã bị chặt cánh và mãi mãi không bao giờ bay qua được biên giới Việt-Lào.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #182 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 12:11:31 am »


Chương mười hai

VỠ MỘNG XÂM LĂNG

NGÀY 8 THÁNG 5

        Với nhân dân tiến bộ toàn thế giới, Ngày 8 tháng 5 là ngày kỷ niệm Đồng Minh chiến thắng phát xít Đức (8-5-1945)

        Năm 1954, cũng vào ngày đó, tin quân Pháp thua trận trên chiến trường Điện Biên Phủ bay về Hà Nội. Tuy nhiên, “vì sự kiêu ngạo hay vì sự nhịn nhục” hoặc nhằm trấn an dư luận sau một đòn quân sự nặng nề nhất, các tướng lĩnh Pháp quyết định vẫn tiến hành “cuộc duyệt binh mừng chiến thắng” (!).

        Lễ đài được dựng lên. Những lá cờ ba sắc xen lẫn cờ ba sọc được trương trên những cây to dọc các phố chính. Quan chức dân sự và quân sự tề tựu đông đủ. Tướng Cônhi vóc người to lớn, nét mặt đượm màu tang tóc, đến đặt vòng hoa ở mồ người lính vô danh. Buổi lễ được tiến hành với đủ mọi nghi thức nhà binh. Nhưng trên nét mặt, cử chỉ và trong đáy lòng mọi người đều toát lên một nỗi chua xót ê chề về những gì vừa xảy ra ngày hôm trước.

        Theo nhà báo Pháp Luyxiêng Bôđa, trước mặt mọi người, một cuộc diễu binh đã diễn ra, nặng nề, lơ đễnh “cuộc diễu binh của những cái bóng, của những kẻ sống sót vì may mắn không bị tống lên Điện Biên Phủ”. Họ thuộc mấy đơn vị dự bị cuối cùng: một tiểu đoàn dù đã “vàng hóa” nghiêm trọng, vài đơn vị lê dương, mấy chiếc xe tăng... Đây là những người lính còn lại của trung đoàn 3e REI “tử vì Đông Dương”, đã từng chết hụt trên đường số 4 mấy năm trước và cũng là những người sống sót trong trận phục kích khủng khiếp vừa xảy ra trên đường số 5. Kia là những sĩ quan dù, quần áo rằn ri, lê bước tập tễnh vì những vết thương chưa lành.

        Dân chúng Hà Nội thờ ơ với cuộc duyệt binh của những người lính mà nhiều ký giả Pháp đã đặt cho cái tên mới: những mảnh vải đã bị cắt vụn.

        Một viên đại tá đứng bên nhà báo Luyxiêng Bôđa bỗng bật lên tiếng khóc nức nở: “Tôi không bao giờ tin được rằng, chỉ trong một đêm, quân đội Việt Minh có thể tiêu diệt gọn 12.000 chiến binh ưu tú nhất của chúng ta”. Chính Bôđa cũng không giải thích nổi vì sao “đội quân viễn chinh tuyệt vời” của nước Pháp lại có thể bị những chiến sĩ Việt Nam, thiếu thốn đủ mọi thứ đánh cho tan tác trong suốt bảy năm trời như thế. Và nhà báo này tự hỏi: bây giờ đây, giữa tiếng kèn và những nghi thức của cuộc diễu binh kỳ lạ này, liệu có ai nghĩ đến những đoàn người dài dằng dặc vừa thoát chết đêm trước ở địa ngục Điện Biên Phủ, đang lê bước trên những chặng đường Việt Bắc để về các trại tù binh?...

        Cũng vào ngày 8 tháng 5 ấy, tại tổng hành dinh quân viễn chinh Pháp ở Sài Gòn, tướng Nava họp báo. Ông ta tuyên bố một cánh khá nghiêm túc: không phải chỉ mình tôi “đội chiếc mũ Điện Biên Phủ”1. Nava chống lại mọi lời chỉ trích mạnh mẽ và chua chát đối với vai trò của tổng chỉ huy trong thất bại vừa qua, mặc dù chính viên tổng chỉ huy đã từng vỗ ngực tự hào nhận rằng mình là “cha đẻ của cái pháo đài bất khả xâm phạm” đó.

        Người ta hỏi Nava về quan hệ cá nhân với tướng Cônhi, một điều còn được coi là bí mật đối với báo chí Pháp và phương Tây. Mối quan hệ đã căng thẳng tới mức hai viên tướng không muốn nhìn mặt nhau nữa và nếu có buộc phải giáp mặt thì cũng không thèm bắt tay.

        Các nhà báo được biết rằng quan hệ căng thẳng đã lên tới đỉnh cao trong cuộc đấu khẩu tay đôi tại tòa biệt thự của Nava bên Hồ Tây (Hà Nội) ngày 2 tháng 4, khi quân Pháp ở Điện Biên Phủ đang chìm ngập trong đợt tiến công thứ hai của quân đội Việt Nam. Hai viên tướng tranh cãi với nhau xem vì ai mà Điện Biên Phủ nên nông nỗi này? Lời qua tiếng lại mỗi lúc một gay gắt. Sư nói sư phải, vãi nói vãi hay. Cônhi lên án Nava phiêu lưu. Nava phỉ báng Cônhi bất lực. Không ai chịu ai? Cuối cùng, Cônhi nổi khùng, nói thẳng vào mặt cấp trên của mình rằng: “Nếu ngài không phải là tướng bốn sao thì tôi đã cho ngài một cái tát!”.

---------------------
        1. Ý nói: không, tôi chịu trách nhiệm về thất bại ở Điện Biên Phủ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #183 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 12:12:30 am »


        Và giờ đây, một ngày sau khi số phận của “Vécđoong ở châu Á” đã được định đoạt, trong cuộc họp báo này các phóng viên lại biết thêm một tin giật gân: Nava được một nhóm sĩ quan Pháp gửi “tặng” một khẩu súng ngắn, kèm theo lời yêu cầu viên tổng chỉ huy “tự xét xử” về những gì đã xảy ra đối với “pháo đài bất khả xâm phạm”. Đăng tin trên đây, báo chí còn nêu lên một hình ảnh: “Hỏa ngục Điện Biên Phủ đã gây nên một không khí dịch hạch” trong hàng ngũ tướng lĩnh Pháp. Và dư luận cho rằng tác giả của việc “tặng súng” kia không phải ai khác, ngoài Cônhi.

        Và tại Pari. Sáng 8 tháng 5, Thủ tướng Pháp Lanien, trong bộ tang phục màu đen, nét mặt nhăn nhúm vì xúc động, nặng nề bước lên diễn đàn Quốc hội Pháp, công bố sự thất thủ của pháo đài Điện Biên Phủ. Giọng Thủ tướng Pháp chậm chạm, đứt quãng, tan đi trong bầu không khí tang tóc của hội trường quốc hội, “nghe như những tiếng nức nở của người quả phụ ở chốn xa xăm nào đó”. Tất cả các nghị sĩ - trừ những đảng viên cộng sản - đều đứng dậy trong sự im lặng nặng nề, cúi đầu nghĩ đến những người lính viễn chinh bị đẩy đi bỏ xác tại Vécđoong châu Á.

        Cũng từ sáng sớm 8 tháng 5, các công sở treo cờ rủ “như để nhớ tiếc giấc mộng xâm lăng vừa bị chôn vùi ở Điện Biên Phủ”.

        Báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp số ra hôm đó viết: “Điện Biên Phủ, trung tâm trận chiến đấu lớn nhất của cuộc chiến tranh đã trở thành bãi tha ma lớn nhất (của quân đội viễn chinh Pháp). Sự thất thủ của pháo đài đã tỏ rõ tham vọng điên rồ của những kế hoạch xâm lược vào thời đại mà các dân tộc đã nắm chắc trong tay cuộc chiến đấu chính nghĩa vì độc lập... Không một ưu thế về trang bị nào có thể làm cho những viên chỉ huy nhiều kinh nghiệm nhất có trong tay những đơn vị lớn và được sự yểm trợ của lực lượng không quân hùng mạnh, tránh khỏi thất bại... Không một sức mạnh nào và không một ai có thể bắt được cả một dân tộc đã vùng lên phải quỳ gối trở lại…”.

        Vào cuối buổi chiều 8 tháng 5, khi Bộ trưởng quốc phòng Plêven đến cúi đầu trước mồ người lính vô danh, giữa lúc “cả thủ đô Pari sống trong chân không”, một cuộc biểu tình đã nổ ra để “đón chào” ngài Bộ trưởng Plêven. Người ta thấy có mặt các đại biểu công nhân và nhân dân lao động Pari, các hội viên hội Liên hiệp cựu viên chức Đông Dương, nhiều nhân vật quân sự và dân sự, cả những học sinh Trường tham mưu và Học viện chiến tranh; người ta cũng thấy những “phần tử Đờ Gôn” từ lâu đã thấy sự thật và đã lên tiếng chỉ trích gay gắt Chính phủ về cuộc chiến tranh Đông Dương. Cả các phu nhân các thống chế Lơcléc và Đờlát cũng có mặt trong cuộc biểu tình.

        Vừa ra khỏi khu nghĩa địa, lập tức ngài Bộ trưởng quốc phòng Plêven bị đoàn biểu tình xô đẩy. Những lời lăng mạ, những câu chất vấn nổi lên khắp nơi. Ồn ào. Náo động. Vì vội vã, vì run sợ, vì xấu hổ, ngài bộ trưởng rơi cả kính trong lúc tháo chạy. Trước sức mạnh của đám đông, cảnh sát cũng đứng vòng ngoài, im lặng, không can thiệp.

        Giữa lúc đó, tiếng chuông nhà thờ Đức mẹ đổ hồi như cố xua đuổi đám mây tang tóc phủ đen bầu trời Pari đang trong cơn dông tố.

        Buổi tối, không khí thành phố rối loạn đến nỗi Chính phủ phải huy động toàn bộ cảnh binh đến bảo vệ các công sở. Mười năm sau ngày giải phóng, lần đầu tiên toàn thủ đô Pari phải sống một đêm căng thẳng vì lệnh thiết quân luật.

        Còn ở Oasinhtơn?

        Ngay từ sáng 8 tháng 5, đã hàng chục lần, người ta đến gõ cửa và gọi điện thoại hỏi người Pháp về “cánh phát âm từ Điện Biên Phủ như thế nào”. Thật khó mà trả lời cho đúng ý nghĩa bóng gió của câu hỏi vừa giản đơn vừa hắc búa này. Có người Mỹ còn cố tình phát âm chệch đi, từ Điện Biên Phủ trở thành đờ viêng phu (Devient fou - tiếng Pháp nghĩa là trở thành điên).

        Sáng cũng như chiều, những tờ báo đăng sơ đồ “pháo đài Điện Biên Phủ” với các cứ điểm mang những cái tên kiều diễm An Mari, Huyghét... bên trong những thòng lọng chiến hào xiết chặt. Kèm theo là những lời bàn... Sau khi nghe tin tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt, việc làm đầu tiên của Tổng thống Hoa Kỳ Aixenhao là triệu tập cuộc họp khẩn cấp của Hội đồng an ninh quốc gia vào chiều thứ bảy (8-5), “một cuộc họp vi phạm tính chất thiêng liêng của buổi nghỉ việc cuối tuần”.

        Người ta nghe các vị tướng soái báo cáo về diễn biến của trận đánh. Người ta không tiếc lời phê phán những sai lầm về chiến lược của các tướng lĩnh Pháp, những sai lầm mà các tướng lĩnh Pháp đã không ngừng phạm phải trong nhiều năm qua, trong đó “chủ trương phòng ngự chiến lược bằng bê tông đã làm cho bộ chỉ huy Pháp bị tê liệt như trong thời kỳ hưng thịnh của thuyết Maginô, một chủ trương chỉ đạo chiến tranh đầy rẫy những phương thức cổ hủ...”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #184 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 12:14:27 am »


TRONG THẾ YẾU LỰC SUY

        Rõ ràng, chỉ lướt qua vài nét về những gì đã xảy ra trong ngày 8 tháng 5 năm 1954 ở Hà Nội, Sài Gòn, Pari, Oasinhtơn, cũng có thể thấy được rằng: cái tin “pháo đài Điện Biên Phủ thất thủ” quả là một tiếng sét đối với bọn hiếu chiến Pháp và đế quốc Mỹ. Tuy nhiên, sau những phút choáng váng đầu tiên, các giới cầm quyền Pháp và Mỹ cũng buộc phải cố gắng hồi tỉnh để tìm mọi thủ đoạn đối phó hòng cứu vãn tình thế.

        Ngày thứ ba, 11 tháng 5 năm 1954, một bầu trời nặng trĩu dông tố đè nên thành phố Pari, bấy giờ đang diễn ra những cuộc họp mà tờ Pari Mát gọi là “thê thảm nhất kể từ tháng 5 năm 1940”1.

        Trong hội trường Quốc hội, suốt hai giờ liền, Thủ tướng Lanien thu mình trên ghế, im lặng chịu đựng những lời đả kích và chất vấn của các nghị sĩ về thất bại ở Điện Biên Phủ. 18 giờ, bầu không khí bão táp lại chuyển về điện Êlydê (tức Phủ tổng thống). Các bộ trưởng bỏ bữa cơm tối vì cuộc họp kéo dài. Theo báo chí Pháp, điều làm cho cuộc đấu khẩu trở nên căng thẳng nhất là ở chỗ: đây là lần đầu tiên tất cả các bộ trưởng có mặt để nghiên cứu tường tận cuộc chiến tranh Đông Dương. Giờ đây người ta mới nhận ra một điều kỳ lạ là: trong những năm qua, “không một chính phủ nào trong số các chính phủ kế tiếp nhau dám thẳng thắn đặt cuộc chiến tranh Đông Dương ra trước toàn thể các bộ trưởng”.

        Cuộc họp kéo dài mãi đến 22 giờ. Như người bị một bầy ong đốt từ bốn phía, Tổng thống Côty than thở: “Tôi đã lấy ý kiến nhiều nhân vật nhưng nào có ai trả lời giống ai! Người này gợi ý nên quốc tế hoá cuộc chiến tranh; người khác chủ trương đánh đến cùng; người thứ ba đề nghị rút lui; người thứ tư tán thành lập lại hòa bình bằng bất kỳ giá nào v.v...”.

        Sự cắn xé trong nội bộ giới cầm quyền Pháp lọt ra ngoài là thêm một dịp để dư luận lên án bước đường dẫn đến sự kiện Điện Biên Phủ.

        Ngày 13 tháng 5, tờ Nước Pháp - Người quan sát vạch ra rằng: “Đài phát thanh, các thông cáo chính thức, các tít lớn trên báo chí... chỉ là những lời giải thích dối trá đầy mâu thuẫn những tình cảm đáng ghê tởm về những người lính Liên hiệp Pháp. Mỗi công dân Pháp có nhiệm vụ biết rõ sự thật về các sự kiện và làm cho tiếng nói của mình phải được chú ý... Sự thật đã sờ sờ ra đó. Nếu người ta không tự dối mình, không dối người khác thì những sự kiện đó đã nói lên một cách rõ ràng: Bản kết toán về cuộc chiến đấu ở Điện Biên Phủ là một chiến thắng quyết định và hoàn toàn của tướng Võ Nguyên Giáp, một thất bại toàn diện đối với Nava, Biđôn, Plêven, Lanien... Nếu người ta nói đến sự “thất thủ” của Điện Biên Phủ thì phải gọi đúng tên của nó: đó là một sự đầu hàng không hơn không kém của một đội quân thất vọng và đang suy sụp...”.

        Dư luận cũng nói nhiều đến ý nghĩa thất bại của quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ. Người ta cho rằng đứng về mặt “tìm ra lối thoát của cuộc chiến tranh” mà xét, thì kể từ thất bại trong cuộc tiến công lên Việt Bắc, cuộc rút chạy không thoát trên đường số 4, cuộc hành binh bất thành ở Hòa Bình đến chiến dịch Loren “đi dễ về khó”, không thất bại nào có tầm quan trọng có thể so sánh được với Điện Biên Phủ... Thất bại ở Điện Biên Phủ có ý nghĩa quyết định. Lý lẽ mà báo chí phản ánh rất đơn giản: Điện Biên Phủ trước hết là tiền đề của những chủ trương toàn diện. Thắng hay bại ở Điện Biên Phủ quyết định đường lối của đảng Cộng hòa bình dân (đảng của Lanien - Biđôn), quyết định kết quả của hội nghị Giơnevơ, quyết định ý chí xâm lược của quân đội viễn chinh và, bao trùm lên tất cả, quyết định số phận của một cuộc chiến tranh. Chính đứng trên quan điểm toàn diện đó (chính trị, ngoại giao, tinh thần, tâm lý... mà “người ta (Pháp) đã đánh một canh bạc cháy túi” ở một thung lũng hoàn toàn hẻo lánh... Và người ta đã thua2.

---------------------
        1. Ý nói cuộc họp của Hội đồng Chính phủ Pháp vào ngày này năm 1940, khi quân Đức vượt biên giới tiến công vào đất Pháp.

        2. Hai mươi năm sau, nhân kỷ niệm Điện Biên Phủ, Pugiê (Jean Pouget, sĩ quan tùy tùng của Nava) viết trên báo Lơ Phigarô, ngày 7-5-1974: trận đánh trên mảnh đất Thái nhỏ bé này được coi như trận tiến công vào ngục Baxti. Điện Biên Phủ đã trở thành ngày 14 tháng 7 của sự phi thực dân hoá...” (ý Pugiê muốn so sánh sự kiện Điện Biên Phủ cũng có tiếng vang dội như cuộc cách mạng tư sản Pháp ngày 14-7-1789).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #185 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 12:15:23 am »


        Một “thói quen đáng kính” lại tái diễn: phái đoàn điều tra do tướng Catơru cầm đầu được phái sang Đông Dương để tìm nguyên nhân thất bại của quân Pháp ở Điện Biên Phủ. Tuy nhiên dư luận Pháp lại coi đó là một việc làm chưa thiết thực. Mối quan tâm hàng đầu của Pari lúc bấy giờ là làm sao cứu được quân viễn chinh đang đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt. Bởi vậy, người ta chú ý đến việc tổng tham mưu trưởng Êly được cử sang Đông Dương để nghiên cứu tình hình và đề đạt phương sách cứu vãn tình thế.

        Rời Pari ngày 15 tháng 5, Êly không quên kéo theo cả tướng Xalăng, “chuyên gia về Đông Dương”, người đến lúc đó vẫn không hiểu vì sao các tiểu đoàn dù và lê dương lại không thể đứng vững được mặc dù họ ở vào tình thế tồi tệ nhất ở Điện Biên Phủ.

        Tới Hà Nội ngày 19, việc đầu tiên là Êly và Xalăng nghe cơ quan tham mưu của Cônhi báo cáo để ghi lại “những con số (tổn thất) khủng khiếp” của quân Pháp ở Điện Biên Phủ: 1.500 chết, 3.000 bị thương, khoảng 10.000 bị bắt làm tù binh, với 250 sĩ quan các cấp. Giá trị trang bị bị mất lên tới 17.150.000 phrăng.

        Cơ quan tham mưu còn cho biết: tính từ đầu năm đến khi Điện Biên Phủ thất thủ (tức là trong vòng 5 tháng), tổn thất của Pháp đã gấp sáu lần so với cả năm 1953.

        Một nhận xét thống nhất giữa hai viên tướng là các quân nhân (kể cả trong bộ tham mưu) và kiều dân Pháp ở Hà Nội đều lo lắng khi có tin đối phương có thể kéo về tiến công thành phố này và đồng bằng sông Hồng. Nhiều nhà kinh doanh di cư từ Hà Nội xuống Hải Phòng hoặc vào Nam. Hai viên tướng cho rằng phải nhanh chóng lấy lại tinh thần mọi người, phải làm cho quân viễn chinh và dân chúng Pháp tin là chính quốc đã “quyết định hành động mạnh mẽ, quyết định tiếp tục cuộc chiến tranh dù phải hy sinh lớn lao”. Đi đôi với trò chiến tranh tâm lý đó là việc bàn tính gấp rút thu hẹp phạm vi kiểm soát của quân Pháp ở phía nam đồng bằng để giữ Hà Nội, Hải Phòng và đường số 5. Chủ trương này vấp phải sự chống đối kịch liệt của cao ủy Đờgiăng và tổng chỉ huy Nava, những người đánh giá thất bại ở Điện Biên Phủ chỉ mang... ý nghĩa chiến thuật! Họ chủ trương chờ viện binh “để đẩy mạnh hoạt động làm cho cuộc đàm phán ở Giơnevơ có thể diễn ra trong bầu không khí... không phải là thất bại” (!)

        Sau khi nghe Êly và Xalăng trở về Pari báo cáo, Chính phủ Pháp quyết định động viên lính quân dịch đưa sang Đông Dương; trước mắt đưa gấp sang hai sư đoàn... Nhưng, Lanien và Plêven không thể thực hiện chủ trương trên đây vì tình hình chính trị ở Pháp cũng suy sụp như tình hình quân sự ở Đông Dương.

        Trải qua nhiều cuộc bàn cãi diễn ra trong cảnh bế tắc, ngày 3 tháng 6, hội đồng chính phủ quyết định “thay cả bầy”: Đuypông (Frédéric Dupont) thay Giắckê giữ chức Bộ trưởng bộ các Quốc gia liên kết; Êly thay cả Đờgiăng lẫn Nava (cao ủy và tổng chỉ huy) một việc mà viên tổng tham mưu trưởng coi là “tai họa bất ngờ lớn nhất trong đời binh nghiệp của tôi” (Êly).

        Đi cùng cao ủy kiêm tổng chỉ huy mới sang Đông Dương có cả “Xalăng và công ty” gồm tướng Ala, các đại tá Graxirơ, Giuylơ, v.v... Xalăng được chỉ định làm phó tướng của Êly.

        Ra tới Hà Nội, mọi người nhận thấy nỗi lo âu của tướng Cônhi đã tăng lên nhiều so với ba tuần trước đó vì có tin đối phương sắp cắt đường số 5 ra làm đôi ở phía trên Hải Dương. Một chủ trương chiến lược được quyết định gấp rút: phải “bỏ không thương tiếc” vùng đồng bằng nam sông Hồng để tập trung lực lượng về giữ trục đường số 5. Êly lại bay về Pháp báo cáo. Kế hoạch Ôvécnhơ (Auvergne - rút quân khỏi vùng nam đồng bằng) được giao cho Xalăng thực hiện. Giữa những ngày này, hàng loạt tin tức không vui bay đến với Xalăng: nội các Lanien đổ, Măngđét Phrăngxơ lên; viên thủ tướng mới dẫn đầu phái đoàn đàm phán ở Giơnevơ. Đàm phán là điều mà trước sau Xalăng vẫn phản đối. Vì “ông ta (thủ tướng) sẽ thương thuyết trên cơ sở nào, khi mà chiến trường đang ở vào thế bất lợi?”.

        Tin tức đáng lo ngại hơn cả là số phận binh đoàn 100 (GM 100 - được mệnh danh là binh đoàn Triều Tiên vì mới rút khỏi chiến trường này sau ngày đình chiến). Theo báo cáo của bộ tham mưu, từ khi bị vây hãm ở An Khê, binh đoàn này sa sút nghiêm trọng về tinh thần và tổ chức, nhất là sau khi được tin Điện Biên Phủ thất thủ. Hiện tượng tự bắn bị thương để khỏi phải đi chiến đấu đã trở thành khá phổ biến. Trong chuyến thanh tra lần trước, ngày 20 tháng 5, tướng Êly đã lệnh cho GM 100 rút khỏi An Khê về Plây Cu để “tránh một trận Điện Biên Phủ ở Cao Nguyên”. Nhưng đến 20 tháng 6, tức là một tháng sau, cuộc rút lui vẫn chưa được thực hiện vì đại tá Baru (Barrow, chỉ huy GM) “e ngại đụng độ với trung đoàn 803 của đối phương đang chờ sẵn trên đường 19”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #186 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 12:15:50 am »


        Ngày 21-6-1954, một mệnh lệnh rút quân được chuyển gấp tới binh đoàn.

        Cuộc rút chạy của GM 100 bắt đầu hồi 03 giờ ngày 24 tháng 6. Đến kilômét 15, toàn binh đoàn rơi vào trận địa phục kích. Baru bị mất tích cùng với cả ban tham mưu binh đoàn. Trung tá tham mưu trưởng Lagiuani (Lajouanie) chết. Toàn GM 100 như rắn mất đầu. Hoàn toàn mất liên lạc giữa các đơn vị ngay những phút đầu tiên của trận đánh. Các xe chở đạn nổ tung làm rung chuyển cả một vùng rừng núi suốt hơn hai giờ. Tiểu đoàn khinh quân 502 hoàn toàn tan rã. Số lính sống sót của tiểu đoàn thuộc địa 43 cùng với số tàn binh của hai “tiểu đoàn Triều Tiên” 1 và 2 sau khi phá huỷ mọi trang bị nặng còn lại, cố tập hợp, mở đường máu tháo chạy về hướng tây. Nhưng đạn đã cạn. Đối phương đã phát hiện, họ vượt lên chặn đường. Trừ một số lẻ tẻ sống sót chạy thoát, còn toàn bộ GM 100 coi như bị xoá sổ ngay trong ngày 24 tháng 6 tại kilômét 15, cùng với 85% tổng số xe các loại, 100% pháo binh, 68% phương tiện thông tin, 50% súng máy bị phá huỷ hoặc rơi vào tay đối phương.

        Từ “cái chết của binh đoàn”, Xalăng rút ra kết luận: bất cứ nơi nào và lúc nào họ có điều kiện là Việt Minh đều tìm cách tiêu diệt quân Pháp để tạo thế có lợi cho họ trên bàn đàm phán ở Giơnevơ. Chính vì vậy, các tướng lĩnh Pháp cho rằng cuộc hành binh Ôvécnhơ phải được xúc tiến gấp để tránh “một cuộc tháo chạy quá muộn” như vừa xảy ra ở vùng Cao Nguyên.

        Ngày 30 tháng 6, “chiến dịch rút lui” bắt đầu.

        Sau 5 năm công khai làm tay sai cho giặc trong âm mưu chia rẽ tôn giáo, chia rẽ dân tộc (từ tháng 10 năm 1949), viên giám mục Lê Hữu Từ vội vã cuốn gói theo quân Pháp khi chúng rút chạy khỏi vùng Bùi Chu, Phát Diệm và toàn bộ khu Nam đồng bằng. Lê Hữu Từ còn tiếp tay cho Pháp kéo theo bọn ngụy quyền và một số đông giáo dân1. Những người bị cưỡng ép di cư trong những điều kiện bi đát, một tấn thảm kịch thực thụ. Toàn bộ lực lượng Pháp - ngụy rút chạy về vùng ranh giới Phủ Lý, Hưng Yên, sông Đuống, sông Thái Bình, nhất là dồn vào việc giữ con đường có ý nghĩa sinh tử: đường số 5.

        Ngày 3 tháng 7, Măngđét Phrăngxơ, Thủ tướng mới của Pháp, tuyên bố rất hài lòng về kết quả cuộc hành binh Ôvécnhơ. Thế nhưng, khi nghe lời tuyên bố trên đây, các tướng tá Pháp ở Đông Dương (từ Xalăng, Cônhi đến Vanuyxem, Galibe,... đều “cảm thấy cay đắng”. Họ cho rằng Chính phủ mới không gửi quân tăng viện sang là không giữ lời hứa của Lanien trước đây, là không thông cảm nỗi lòng của những người vừa buộc phải thực hiện một cuộc hành binh mà Xalăng gọi là “đau đớn nhất, khó khăn nhất”.

        Họ làm sao hiểu được điều gì vừa xảy ra ở Pari trung tuần tháng trước, khi Măngđét Phrăngxơ được chỉ định lập nội các mới.

        Trước khi nhậm chức ngày 14 tháng 6, ông ta yêu cầu triệu tập một cuộc hội nghị quân sự để nhận định về tình hình Đông Dương. Thái độ của các tướng lĩnh có mặt trong cuộc họp (kể cả Êly mới ở Đông Dương về) đều tỏ ra rất bối rối. Họ cho rằng quân đội viễn chinh đang rệu rã có thể còn thất bại nhục nhã hơn nữa. Đội quân đó “phải trải qua nhiều năm xây dựng lại mới phục hồi được sức chiến đấu”. Theo số liệu báo cáo của bộ tham mưu, sau 7 năm mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương (1947 - 1954), quân viễn chinh Pháp đã bị thiệt hại 100.000 người, chưa kể số bị thương và bị bệnh. Mọi người nhất trí một điều: cần tăng viện gấp sang Đông Dương để cứu quân đội khỏi lâm vào tình trạng nguy ngập hơn nữa. Khốn nỗi vẫn theo báo cáo của bộ tham mưu, số quân có thể vét được ở nước Pháp bấy giờ không thể vượt quá 879 người, tức là trước mắt chỉ có thể tăng viện sang Đông Dương có.... một tiểu đoàn! Măngđét Phrăngxơ đề nghị với Tổng thống chỉ thị cho tổng tham mưu trưởng Cơních soạn thảo một đạo luật để đưa ra thông qua ở Quốc hội, nhằm đưa lính quân dịch 1954 sang Đông Dương, đồng thời chuẩn bị rút bớt lực lượng ở Bắc Phi và Tây Đức về để sẵn sàng đưa thêm sang hai sư đoàn khi có lệnh. Trong thâm tâm, Thủ tướng mới chỉ mong quân viễn chinh tránh bị tổn thất nặng nề thêm để phái đoàn đàm phán do ông ta cầm đầu khỏi lâm vào thế bất lợi hơn trong cuộc thương thuyết đang diễn ra ở Giơnevơ.

---------------------
        1. Theo Xalăng, số giáo dân bị cưỡng ép di cư là 337.000. Thật ra, số đồng bào miền Bắc bị chúng cưỡng ép đưa vào miền Nam lên tới gần một triệu người.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #187 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 12:17:31 am »


BÊN HỒ LÊMAN

        Tại Béclin, từ 25 tháng 1 đến 18 tháng 2 năm 1954, có cuộc hội nghị giữa Bộ trưởng ngoại giao Liên Xô, Mỹ, Anh và Pháp bàn về các vấn đề Đức, Áo, v.v... Trong hội nghị này, đại biểu Liên Xô Môlôtốp đưa ra đề nghị triệu tập một hội nghị quốc tế ở Giơnevơ để giải quyết hòa bình vấn đề Triều Tiên và chấm dứt cuộc chiến tranh Đông Dương. Thành phần tham dự sẽ có thêm đại biểu Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

        Tin trên đây bay tới Pari làm cho mâu thuẫn trong giới cầm quyền Pháp bộc lộ sâu sắc thêm. Phái chủ hòa trong Chính phủ, gồm những người như Phó thủ tướng Râynô, bộ trưởng tài chính Phôrơ (Edgar Faure), Bộ trưởng phụ trách ủy ban châu Âu, Míttơrăng (François Mitterand), Bộ trưởng các quốc gia liên kết Giắckinô, tán thành chủ trương đàm phán để lập lại hòa bình ở Đông Dương. Ngày 10 tháng 3, Quốc hội Pháp cũng ra quyết nghị hoan nghênh cuộc đàm phán sắp diễn ra ở Giơnevơ. Ngược lại phái chủ chiến gồm những người như Thủ tướng Lanien, Bộ trưởng ngoại giao Biđôn và Bộ trưởng quốc phòng Plêven, đại diện cho tập đoàn tư bản có nhiều quyền lợi gắn liền với Mỹ ở Đông Dương và Viễn Đông, đã kịch liệt phản đối thương lượng hòa bình. Họ chủ trương dựa vào sự viện trợ của Mỹ (và khi cần, Mỹ có thể can thiệp trực tiếp) để tiếp tục thực hiện kế hoạch Nava, và chỉ thương lượng khi quân Pháp đã giành được thắng lợi quân sự quan trọng làm hậu thuẫn cho cuộc “đàm phán trên thế mạnh” sau này.

        Nhìn lại quá khứ, người ta thấy lập trường trên đây của “Lanien - Biđôn và công ty” đã bộc lộ công khai từ tháng 11 năm 1953, khi Nava vừa giành được “một thắng lợi quân sự nổi tiếng”: ném quân xuống lòng chảo Điện Biên Phủ.

        Chính vào dịp này, ngày 28 tháng 11, Xven Lôpgrin (Sven Lofgren) phóng viên ở Pari của tờ báo Thụy Điển Expressen đăng lời tuyên bố của Chính phủ Việt Nam trả lời phỏng vấn về khả năng giải quyết hòa bình cuộc xung đột Việt - Pháp1. Cùng ngày hôm đó, từ Ke Đoócxay (Quai d’ Orrsay - trụ sở Bộ Ngoại giao Pháp) vang lên lời phản ứng của Biđôn. Ngài ngoại trưởng Pháp bắn tin rằng “người ta không làm ngoại giao bằng những tin vặt như vậy... nhất là vào lúc Việt Minh đã... thế cùng lực kiệt (!). Đặt vấn đề đàm phán lúc này chỉ làm cho Việt Minh thêm tự tin và mạnh lên”.

        Khốn nỗi, giới hiếu chiến Pháp càng tỏ ra ngoan cố thì thực tế chiến trường Việt Nam trong Đông Xuân 1953-1954 càng buộc họ phải bớt dần sự cứng rắn. Thêm một nửa năm trôi qua, với những tin tức chẳng lành liên tiếp bay về Pháp”, dư luận tiến bộ ở Pari lại có dịp lên án Chính phủ đã cố tình bỏ lỡ một cơ hội để thoát thỏi cuộc chiến tranh”. Mặc dù vậy chỉ đến khi tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đang trong giờ phút hấp hối, Biđôn mới chịu thay đổi thái độ, buồn rầu cắp cặp sang Thụy Sĩ. Lên đường, ngài bộ trưởng vẫn nuôi ảo tưởng dựa vào Mỹ - Anh để làm cho cuộc đàm phán thất bại hoặc ít nhất cũng dựa vào sự ủng hộ của phái đoàn Trung Quốc để đạt được một cuộc ngừng bắn đơn thuần về mặt quân sự (như kiểu Triều Tiên) để cứu đội quân viễn chinh Pháp chia cắt Việt Nam, tiếp tục duy trì chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương. Cà cuống đến chết còn cay!

        Về phía Mỹ, tin về một cuộc hội nghị hòa bình sắp diễn ra ở Giơnevơ cũng làm nảy sinh những mâu thuẫn mới giữa những người cầm đầu Nhà trắng và Lầu năm góc. Trong khi những con “diều hâu” hung hăng nhất như Phó tổng thống Níchxơn, ngoại trưởng Đalét, chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Rátpho,... chủ trương không đàm phán và chuẩn bị can thiệp trực tiếp vào Đông Dương, thì nhiều người khác như tham mưu trưởng lục quân Rituây (Matthew Ridway), tham mưu trưởng không quân Toaininh (Twining) và nhất là Bộ trưởng quốc phòng Uynxơn (Charles Wilson), đã nhận thấy sự can thiệp bằng không quân của Mỹ không thể cứu vãn được tình hình đã trở nên quá tồi tệ. Các lãnh tụ trong quốc hội Mỹ cũng ủng hộ quan điểm này.

        Bị cô lập và sau đó phải từ bỏ ý đồ can thiệp trực tiếp vào Đông Dương (bằng kế hoạch Diều hâu), từ bỏ âm mưu quốc tế hóa cuộc chiến tranh (bằng kế hoạch hành động thông nhất - chia sẻ trách nhiệm), ngoại trưởng Hoa Kỳ không thể không chấp nhận đến họp hội nghị Giơnevơ. Tuy nhiên Đalét vẫn tin rằng, được sự ủng hộ của các phần tử diều hâu ở Oasinhtơn, hắn có thể lôi kéo được ngoại trưởng Anh Iđơn (Anthony Eden) và các thế lực phản động khác để ép Pháp không chấp nhận những điều khoản có lợi cho lực lượng kháng chiến Đông Dương.

        Trái với mưu đồ của Mỹ, Chính phủ hoàng gia Anh tán thành biện pháp thương lượng để lập lại hòa bình ở Đông Dương. Một mặt, Anh thấy Pháp không có khả năng giành thắng lợi quân sự mặt khác lại sợ Mỹ tìm cớ can thiệp sâu vào Đông Dương và bành trướng thế lực ở Đông Nam Á. Anh không tán thành “thuyết đôminô” của Mỹ nhưng lại đồng tình với Mỹ trong việc chuẩn bị tiến tới thành lập khối liên minh quân sự Đông - Nam Á (chỉ sau khi hòa bình đã được lập lại ở Đông Dương) để ngăn chặn phong trào cách mạng phát triển và để bảo vệ quyền lợi của Anh ở vùng này...

---------------------
        1. Trong điện trả lời của Chính phủ ta có đoạn viết: “Hiện nay nếu thực dân Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược thì nhân dân Việt Nam quyết tâm tiếp tục cuộc chiến tranh ái quốc đến thắng lợi cuối cùng. Nhưng nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề về Việt Nam theo lối hòa bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng tiếp ý muốn đó...”. (Hồ Chí Minh, Về vấn đề quân sự. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 242, 243).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #188 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 12:18:10 am »


        Ngày 8 tháng 5, một ngày sau khi số phận quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ được định đoạt, hội nghị của các ngoại trưởng bên hồ Lêman ở Giơnevơ chính thức chuyển sang bàn vấn đề Đông Dương.

        Hôm đó, thêm một phái đoàn bước vào phòng họp: phái đoàn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - một phái đoàn đến Giơnevơ với tư thế Điện Biên Phủ, đại diện cho một nước Việt Nam mà thế và lực không còn như tám năm về trước, khi cũng vị trưởng phái đoàn Phạm Văn Đồng bước vào lâu đài Phôngtennơblô để tiến hành cuộc đàm phán tay đôi Việt - Pháp mùa hè năm 1946.

        Trong phiên họp khai mạc ngày 8 tháng 5 năm 1954, ngoại trưởng Biđôn đã tốn khá nhiều hơi sức kể lể “công lao thực dân” của Pháp ở Đông Dương. Tiếp đó, ông ta đưa ra đề nghị năm điểm có tính chất thuần tuý quân sự1. Đó là dấu hiệu ngoan cố mà phía Pháp lộ rõ trong phiên họp đầu tiên. Cũng như tám năm trước (1946), khi còn là Thủ tướng chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp, Biđôn lại phạm phải sai lầm cố hữu của giới cầm quyền ở Pari là đánh giá sai lực lượng so sánh đôi bên. Trưởng phái đoàn Pháp vẫn cố tình nhắm mắt trước tình trạng nguy ngập của quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương và trước không khí chính trị sôi sục ở thủ đô Pari sau “sự kiện Điện Biên Phủ”.

        Lập trường của phái đoàn Việt Nam khi đến Giơnevơ là tiến tới một giải pháp hoàn chỉnh: đình chỉ chiến sự trên toàn bán đảo Đông Dương đi đôi với một giải pháp chính trị về vấn đề Việt Nam, vấn đề Lào và vấn đề Campuchia trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền thông nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước ở Đông Dương... Bởi vậy, đối lại với đề nghị của phía Pháp, ngày 10 tháng 5, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra một giải pháp toàn diện gồm tám điểm2.

        Hội nghị mới họp được bốn ngày và lập trường các bên còn rất khác biệt nhau (phía Pháp đòi chỉ bàn vấn đề quân sự) thì ngày 12 tháng 5, Nhà trắng gửi một chỉ thị cho phái đoàn của họ ở Giơnevơ nói rằng: “Chính phủ Hoa Kỳ không sẵn sàng công khai tán thành hoặc ngấm ngầm chấp nhận bất cứ một cuộc đình chiến, một cuộc ngừng bắn hoặc bất kỳ một giải pháp hòa bình nào”.

        Thực ra, lúc này người ta mới nói nhiều đến thái độ ngoan cố của phía Mỹ - Pháp, đến thế bất lợi của Biđôn. “Đòn quyết định kịp thời” của quân dân Việt Nam ở Điện Biên Phủ ngay trước ngày hội nghị Giơnevơ họp khiến cho viên ngoại trưởng này chỉ còn đại diện cho “một nước Pháp đã mất hết chủ bài”. Chính Biđôn cũng phải chua chát thú nhận rằng hắn chỉ còn hy vọng vào “những con hai nhép và ba rô”. Khốn nỗi, đến lúc bấy giờ thái độ ngoan cố của Lanien ở Pari, hành động phá ngang của phái đoàn Mỹ ở Giơnevơ, những lời biện bạch “biến bại thành thắng” của Nava ở Sài Gòn, tất cả những chỗ dựa đó đã ngày càng trở nên rất mong manh đối với phái đoàn Pháp.

        Hơn thế nữa, thái độ ngoan cố của Biđôn ở Giơnevơ còn vấp phải sự chống đối mạnh mẽ của dư luận tiến bộ ở Pari. Tờ Lơ Phigarô đòi chấm dứt thủ đoạn “ngoại giao vô định” (somnambulisme diplomatique) của phái đoàn Pháp. Tờ Tin tức đòi phải “thay đổi khí hậu...”, phải chấm dứt tình trạng giậm chân tại chỗ. Nhiều nghị sĩ Pháp lên án thái độ của Lanien, Biđôn, Plêven... và kịch liệt phản đối chủ trương chỉ bàn vấn đề quân sự. Tờ Chiến đấu công khai đòi Chính phủ Lanien phải rút lui nếu nước Pháp muốn chọn giải pháp hòa bình ở Đông Dương. Tờ báo cho rằng nội các này không đủ năng lực để đàm phán hòa bình, vì đại diện của Pháp ở Giơnevơ là Biđôn, thủ lĩnh của đảng Cộng hòa bình dân, đảng phải chịu trách nhiệm chính trong những năm qua về chính sách của Pháp ở Đông Dương.

        Ngày 8 tháng 6, một ngày trước khi quốc hội Pháp thảo luận về chính sách đối với Đông Dương, trưởng phái đoàn Liên Xô ở Giơnevơ là Môlôtốp đã đọc diễn văn đả kích gay gắt thái độ thiếu thiện chí của phái đoàn Pháp, lên án Biđôn đến hội nghị không phải nhằm mục đích lập lại hòa bình ở Đông Dương mà là để phá hoại hội nghị, hòng mở đường cho Mỹ kéo dài và mở rộng chiến tranh. Sau phiên họp hôm đó, Biđôn đã phải thốt lên: “Ông ta (tức Môlôtốp) muốn lột da tôi” (il veut ma peau). Dư luận coi bài diễn văn của Môlôtốp là một đòn đánh mạnh vào “chính sách ngoại giao chiếc gậy lớn” của Biđôn và nhằm vạch cho quốc hội Pháp thấy rằng hắn không phải là người mà phía Việt Nam có thể thương lượng.

        Trong lúc phái đoàn Pháp bị đả kích mạnh và ngày càng bị cô lập trước dư luận tiến bộ ở Giơnevơ thì phái đoàn Mỹ tìm mọi thủ đoạn “để phía Pháp khỏi nản lòng”. Đalét hết lời khuyên Biđôn nên kiên trì thăm dò và triệt để tranh thủ sự đồng tình của những ai có thể tranh thủ được.

        Trước tình thế vô cùng khẩn trương ở Đông Dương, trước sức đấu tranh mạnh mẽ của Đảng Cộng sản và nhân dân lao động Pháp, kỳ họp quốc hội Pháp từ 9 đến 12 tháng 6 đã kết thúc bằng cuộc bỏ phiếu lật đổ nội các Lanien. Tổng thống Côty trao việc lập Chính phủ mới cho Măngđét Phrăngxơ, một nhân vật từ năm 1950 vẫn chủ trương trực tiếp thương lượng với Chính phủ ta để chấm dứt chiến tranh.

---------------------
        1. Tập kết quân đội hai bên vào vùng quy định; giải giáp các lực lượng dân quân du kích; trao trả tù binh và thường dân bị bắt; kiểm soát quốc tế, đình chỉ chiến sự.

        2. Pháp phải công nhận chủ quyền độc lập của Việt Nam và của hai nước Campuchia và Lào; ký một hiệp định về việc rút quân đội nước ngoài ra khỏi Việt Nam, Campuchia và Lào; tổ chức tổng tuyển cử tự do, lập ra Chính phủ thống nhất ở mỗi nước Việt Nam, Campuchia và Lào; Việt Nam, Campuchia và Lào tuyên bố xét vấn đề gia nhập Liên hiệp Pháp; Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Campuchia và Lào công nhận quyền lợi kinh tế và văn hoá của Pháp trên nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi; hai bên cam kết không truy tố những người hợp tác với đối phương; trao đổi tù binh; ngừng bắn ở Đông Dương, có điều chỉnh đất đai, lập ủy ban chung để kiểm soát.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #189 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 12:18:44 am »


        Ngày 20 tháng 6 khi nhậm chức, Phrăngxơ tuyên bố: nếu không chấm dứt được chiến tranh trong vòng một tháng, ông ta sẽ từ chức. Dư luận trong giới quân sự Pháp cho rằng một tháng là... quá lâu đối với tình thế bi đát của quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương lúc này.

        Ngay sau khi nhậm chức Thủ tướng kiêm ngoại trưởng Pháp M. Phrăngxơ lên đường đi Giơnevơ.

        Đúng như dự đoán của dư luận tiến bộ, phía Mỹ vẫn không ngừng thủ đoạn phá hoại hòng làm cho cuộc đàm phán thất bại. Sau khi ngoại trưởng Đalét bỏ hội nghị, người cầm đầu mới của phái đoàn Mỹ là thứ trưởng ngoại giao Xmít vẫn tiếp tục gây sức ép để Anh và Pháp bỏ các cuộc họp hẹp; đòi “kết thúc hội nghị sớm”; vu cáo Việt Nam “không thương lượng nghiêm chỉnh”, v.v. Trong lúc phái đoàn của họ không ngừng phá đám ở Giơnevơ, Chính phủ Mỹ ép Bảo Đại đưa Ngô Đình Diệm về làm Thủ tướng bù nhìn ở Sài Gòn (16-6-1954), một việc mà Pari không hề hay biết vì diễn ra đúng lúc nước Pháp đang khủng hoảng nội các.

        Thời kỳ thứ hai của hội nghị Giơnevơ diễn ra chủ yếu bằng “những hoạt động ngoài hành lang” hơn là các cuộc họp chính thức của các phái đoàn. Ở Giơnevơ chỉ còn những cuộc gặp gỡ giữa phái đoàn quân sự hai bên Việt - Pháp. Đồng thời, hội nghị quân sự tại chỗ cũng bắt đầu họp từ ngày 4 tháng 7 tại Trung Giã, trên đường số 3 (Hà Nội - Thái Nguyên).

        Ngay sau khi đến Giơnevơ, M. Phrăngxơ đã ra sức vận động Anh, Mỹ ủng hộ để gây sức ép với Việt Nam trên ba vấn đề cơ bản: 1. Định giới tuyến chuyển quân tập kết (càng lui lên phía bắc càng tốt); 2. Trì hoãn tối đa thời hạn tổ chức tổng tuyển cử ở Việt Nam; 3. Kéo dài thời hạn rút quân Pháp khỏi Việt Nam.

        Khi thời kỳ thứ hai của cuộc đàm phán chấm dứt (10-7-1954), phái đoàn ta vẫn kiên trì lập trường của mình về vấn đề Việt Nam, Lào và Campuchia, vẫn chủ trương đòi có đại biểu của Chính phủ kháng chiến Lào và Chính phủ kháng chiến Campuchia tham gia như các bên đàm phán, đòi giới tuyến quân sự tạm thời ở Việt Nam là vĩ tuyến 13, tổ chức tổng tuyển cử tự do trong thời hạn sáu tháng để thống nhất nước nhà. Đối với việc giải quyết vấn đề Lào và vấn đề Campuchia, phái đoàn ta vẫn giữ quan điểm là ở Lào có hai vùng tập kết các lực lượng kháng chiến: một vùng ở phía bắc giáp Trung Quốc và Việt Nam và một vùng ở Trung và Hạ Lào; ở Campuchia có hai vùng tập kết của lực lượng kháng chiến Campuchia, ở phía đông và đông bắc sông Mê Công và ở phía tây nam sông Mê Công; tổ chức tổng tuyển cử tự do trong thời hạn sáu tháng ở Lào và Campuchia.

        Phía Pháp bước vào thời kỳ thứ ba của cuộc đàm phán trong hoàn cảnh M. Phrăngxơ bị thúc bách vì thời hạn (một tháng) mà ông ta tuyên bố trước quốc hội Pháp (hôm nhậm chức) chỉ còn lại mười ngày. Tuy nhiên, được sự ủng hộ (công khai) của Anh - Mỹ, phía Pháp vẫn ngoan cố đòi phân vùng ở vĩ tuyến 18 và tiếp tục tránh né không chịu đưa ra thời hạn tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước Việt Nam.

        Cuộc đấu tranh về các vấn đề bất đồng diễn ra gay gắt trong các cuộc họp chung cũng như các cuộc gặp gỡ riêng giữa đại diện các phái đoàn trong suốt thời kỳ chót của hội nghị.

        Xuất phát từ truyền thống yêu chuộng hòa bình, theo xu thế chung giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng, trong cuộc họp thiều 20 tháng 7 năm 1954 giữa hai chủ tịch hội nghị (Liên Xô và Anh) với các trưởng phái đoàn, phía Việt Nam đã chấp nhận giải pháp: các nước tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào nhân dân Campuchia; ngừng bắn đồng thời ở Việt Nam và trên toàn chiến trường Đông Dương; Pháp rút quân; vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam làm hai miền; tiến tới có tổng tuyển cử tự do trong cả nước sau hai năm để thống nhất nước nhà.

        Trên cơ sở các điều chủ yếu đã được thoả thuận trên đây, hiệp nghị về Việt Nam đã được ký kết hồi 03 giờ 20 phút ngày 21 tháng 7 năm 19541.

        Riêng về các vấn đề thuộc hai nước Lào và Campuchia, cuộc đấu tranh cũng diễn ra không kém phần gay gắt.

        Sau năm phiên họp quân sự về Lào và ba phiên họp về Campuchia, các bên thoả thuận: ở Lào có một khu tập kết cho các lực lượng kháng chiến Lào, gồm hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Sa Lỳ; ở Campuchia, các lực lượng kháng chiến không có khu tập kết nào và phục viên tại chỗ.

        Hiệp định về Lào được ký kết hồi 03 giờ và hiệp nghị về Campuchia được ký kết hồi 11 giờ cùng ngày 21 tháng 7 năm 1954.

        Hội nghị Giơnevơ kết thúc. Hòa bình được lập lại trên bán đảo Đông Dương. Nhưng dã tâm của bè lũ đế quốc trước hết là đế quốc Mỹ còn hết sức thâm độc. Cuộc đấu tranh của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia vẫn còn tiếp tục trong những điều kiện mới không kém phần gian khổ và phức tạp.

---------------------
        1. Nhưng theo yêu cầu của phía Pháp, văn bản vẫn được ghi: Ký kết ngày 20 tháng 7 năm 1954.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM