Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:37:19 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Yêu tinh  (Đọc 28352 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #20 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2017, 10:22:38 pm »

Trong lúc đó ở Briefing room cách đó khá xa nhưng cũng trong phi trường quân sự, (B.R = phòng hội ý nhanh, chỉ dẫn cho phi công trước khi bay làm nhiệm vụ) Andrew, một trong hai cố vấn trực tiếp hàng ngày của Ngô Thứ Lân đang làm việc với tổ bay Đài Loan. Dự cuộc hội ý này còn có thêm hai chuyên viên bay người Mỹ cũng do Raphter đặc cử xuống trợ lực cho Andrew. Trực tiếp bằng tiếng Anh (tổ lái Đài Loan đều nói tiếng này khá thông thạo), Andrew nói rõ nhiệm vụ cấp trên giao cho phi hành đoàn là lái chiếc C47 đêm nay thả một số dù hàng và cả dù người xuống một địa điểm ở vùng tây bắc miền Bắc Việt Nam. Anh ta nhấn mạnh: đây là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, yêu cầu phi hành đoàn phải mang hết tâm lực ra hoàn thành. Khó khăn nào cũng phải vượt qua... Sau đó anh ta lấy tài liệu, bản đồ ra cùng một số giấy tờ viết sẵn các chi tiết về chuyến bay đặc biệt này. Anh ta phát cho tổ lái hai bản đồ miền Bắc Việt Nam cỡ lớn với tỷ lệ 1/1000.000 và một bản đồ nhỏ tỷ lệ 1/250.000. Treo một tấm bản đồ lớn lên, Andrew cầm một chiếc que nhỏ chỉ dẫn một cách hết sức tỉ mỉ, cụ thể. Đường bay được thể hiện bằng một đường chì dài, có những đoạn gấp khúc chia ra thành những quãng nhỏ, đánh dấu từ A B C D E... cho tới K. Điểm A là sân bay Tân Sơn Nhất, C là Đà Nẵng, D là ngoài biển, E là điểm bắt đầu vào đất liền... Và K là địa điểm thả dù...Cuối cùng Andrew dặn:
   
- Khi thả hết dù hàng và dù người, các anh quay về, nếu gặp trục trặc thì có thể bay qua Thái Lan tới căn cứ Udon và gọi tần số VHF 118 - 1, sẽ được tiếp nhận chu đáo.
   
Trong khi Andrew hướng dẫn tổ lái Đài Loan chỉ ngồi im lặng nghe, các khuôn mặt đều lì ra dường như không một chút xúc động. Có lẽ là thứ “lính đánh thuê” đã quá dày dạn nên chẳng có gì đáng phải xúc động đối với chúng. Tuy nhiên, cuối cùng cũng có tên nêu lên một số câu hỏi dự kiến về những bất trắc trên dọc đường bay. Andrew luôn luôn tỏ ra rất thành thạo trong công việc đã đành, còn hết sức tự tin trước mọi khó khăn, trở ngại. Hắn đáp một câu “xanh rờn”.
   
- Cứ yên tâm! Các nơi đã được thông báo. Không có ngại gì hết.
   
Tên Đài Loan gặng lại:
   
- Cả các nơi trên miền Bắc? Dọc đường bay trên miền Bắc các ông đều có cơ sở cả sao?
   
- Đúng vậy! - Andrew lại gật đầu ráo hoảnh, và tuyên bố luôn: buổi hội ý kết thúc, chúc mọi người lên đường thắng lợi. Bọn Đài Loan đưa mắt nhìn nhau: cái nhìn còn đầy thắc mắc lẫn những nỗi hoài nghi.
   
Cùng thời điểm này, ở ngôi nhà của P54 cũng đang có một cuộc hội ý nhanh giữa Ngô Thứ Lân và bọn Cầm Diêu. Đặc biệt ở đây có mặt cả Nguyễn Cao Kỳ, Raphter và Hampton. Trước đó, viên đại uý Quýnh người giúp việc Ngô Thứ Lân đã gặp riêng Tráng A Páo nhân viên điện đài chính của nhóm, trao cho hắn bộ mã của toán cùng tín hiệu cá nhân là nhóm 5 chữ số để rồi sau đây Páo sẽ phải đưa vào nhóm thứ 3 của các bức điện, nhằm làm cho Trung tâm biết đúng là Goblin đang an toàn đánh bức điện đó chứ không phải Cộng sản, hoặc hắn bị Cộng sản bắt được và ép phải đánh theo ý họ... Cũng trước khi vào hội ý, tất cả mọi thành viên khác trong toán đều đã nhận đủ tín hiệu riêng của từng đứa để sau này khi cần Trung tâm kiểm tra. Và tất cả toán đã lĩnh đủ vũ khí quân trang cá nhân cần thiết, trong đó có cả bạc giả, giấy tờ tuỳ thân, và các đài xách tay để định vị khi đã xuống đất, liên lạc với nhau, tìm nhau. Riêng toán trưởng Cầm Diêu được gọi vào một phòng riêng để Ngô Thứ Lân tự tay trao tín hiệu mật của toán trưởng. Hắn còn được căn dặn là: khi nào có “chỗ đứng” vững sẽ được bắt liên lạc với một nhân vật tại chỗ là: “Ông Chương”. Nhưng nay, Trung tâm chưa cho địa chỉ. Phải chờ. Biết là chuyện hệ trọng không thể hỏi gì thêm, tên Diêu chỉ im lặng, rồi quay ra phòng hội ý chung.
   
Không khí buổi hội ý bữa nay thật đặc biệt quan trọng. Bởi thành phần khách tham dự đã đành, còn vì giọng nói, thái độ rất hăm hở, say sưa của Ngô Thứ Lân. Đứng trước tấm bản đồ lớn về địa hình vùng Tây Bắc miền Bắc Việt Nam, Ngô Thứ Lân thốt lên những lời hùng hồn nhất, kích động nhất để nói về nhiệm vụ của toán Goblin lần này ra Bắc. Anh ta luôn luôn nhắc lại và nhấn mạnh tới ý nghĩa quan trọng của toán biệt kích đầu tiên này, cũng như vai trò của những hoạt động biệt kích trong toàn bộ kế hoạch Staley - Taylor mà chỉ trong ít ngày nữa sẽ được Washington thông qua. Anh ta cũng luôn luôn nhắc tới lời của Tổng thống Diệm nhắn gửi “Các chiến sĩ đặc biệt”... Tổng thống chúc anh em lên đường thắng lợi trong sự chờ mong, quý trọng vô bờ bến không những của Tổng thống mà của cả toàn dân”. Và “... Cụ tin tưởng anh em lắm. Đích thân Cụ đã chọn ngày lên đường đại đại cát cho anh em...!”.
   
Trong lúc Ngô Thứ Lân hùng hồn cổ vũ, khích lệ, bọn Cầm Diêu chỉ ngồi câm lặng nhìn lên tấm bản đồ. Bọn chúng đang mải nghĩ về những chuyện gần như hoàn toàn khác... Tấm bản đồ xanh rì kia như đã hút hồn chúng chứ không phải là những lời hoa mỹ, đầy tính kích động của Lân... Cặp mắt đau đáu nhìn lên, Cầm Diêu, tên có chút học hành và từng trải, tỏ ra có nhiều suy tư hơn cả. Trước mắt y, trên tấm bản đồ, dòng sông Đà như mỗi lúc một to lên, hiện lên, cuồn cuộn chảy xiết giữa hai triền núi đá vách dựng đứng như thành, trùng trùng, lớp lớp kéo dài suốt từ miệt Chợ Bò - Hoà Bình lên mãi tới Lai Châu rồi sang đất khách. Trên suốt dọc dòng sông uốn lượn quanh co, quằn quại ấy liên tiếp hiện lên những con thác lớn nhỏ, tất cả đều hung dữ, triền miên gầm thét, tung bọt trắng xóa mù trời, trút nước xuống, lao về hạ lưu với những tốc độ chóng mặt kinh hồn. Nhưng cũng có những đoạn sông lại thật bình yên, mặt nước như lụa trải, với những bãi cát dài vàng mịn, với những hàng hoa ban trinh trắng, đẹp như trong thơ ca, như trong các tranh thuỷ mặc cổ điển từ ngàn xưa để lại. Sông Đà, đó là linh hồn của cả miền Tây Bắc, là dòng sông thiêng đã tạo nên vùng đất gấm vóc này, tạo nên cả một nền văn hoá phong phú, nhuần nhị, với những tộc người vô cùng thuần hậu đã gắn bó với nhau từ rừng xuống biển, từ thuở “đẻ đất đẻ nước”... Cầm Diêu vẫn còn nhớ năm 1946 khi y mới được bắt đầu đi học ở Lai Châu, một ông thầy đã kể lại: Thủa nhà Hồ, có một danh tướng đồng thời là một danh Nho tên là Nguyễn Bá Thông được triều đình cử lên cai quản và dạy dân vùng Tây Bắc, khi đứng trước dòng sông hùng vĩ này đã phải thốt lên: “Tây Nam thiên đệ nhất hùng quan!”(Phong cảnh hùng vĩ nhất ở phía tây trời Nam)... Như thế đấy! Sông Đà, dòng sông đã gắn liền với tất cả thời thơ ấu không sao quên. Nó như được đẻ ra trong tiếng thác gầm, lớn lên bên những bãi cát vàng, giữa hai vách núi đá xám chất ngất, giữa những rừng ban trắng... Nhớ lại dòng sông, Cầm Diêu không thể không nhớ tới cha y. Ông vốn là một tay chèo thuyền xuôi ngược trên dòng sông này. Khi Cầm Diêu ra đời ông đã nổi tiếng là một trong những tay chèo cự phách, chế ngự được dòng sông bất kham này mà bất cứ ai ai dù có say đắm đến mấy cũng không khỏi ít nhiều khiếp sợ, kể cả những tay chèo đã nhiều đời lão luyện trong nghề sông nước, thác ghềnh. Thuở còn ít tuổi, ông làm thuê trên một chiếc thuyền đuôi én với sáu tay chèo. Dần dần chắt bóp, dành dụm, ông đóng được thuyền và tự mình làm chủ một chiếc đuôi én cùng sáu tay chèo mãnh liệt. Ông chở thuê cho các tay buôn lớn trên ngược, dưới xuôi, khi chở chè, khi cánh kiến trắng, cánh kiến đỏ, khi toàn da trâu, khi toàn xương hươu nai, hổ, báo, dê, gấu, khỉ, khi xuôi Hoà Bình có khi về tới gần Hà Nội... Nhưng tới năm 1943 ông đã bỏ nghề lên bộ. Một người trên Lai Châu về, nhắn tin của lãnh chúa Đèo Văn Long gọi ông lên Lai Châu trông coi trại dê cho họ. Đây là một cử chỉ trả ơn cho ông về cái công đã vô cùng gan dạ cứu sống được Đèo Văn Phát (con trai Đèo Văn Long) trong một chuyến hắn xuôi thuyền về Chợ Bờ, gặp thác dữ giữa ngày mưa bão lớn... Không phải vì ông tham cái chức phụ trách trại dê của họ Đèo, mà cái chính là ông cũng đã 50 tuổi, không còn được như thời trai tráng, hơn thế nữa: ông thấy lên Lai Châu sẽ có điều kiện cho Cầm Diêu ăn học. Nhà có ba anh em trai thì hai anh Cầm Diêu đều không còn nữa: người anh lớn bị Pháp bắt đi lính khố đỏ, sang tận “nước Tây” để đánh nhau với “nước Đức”. Đã có tin về là hắn chết trận cuối năm 1941 ở tận đẩu tận đâu, không rõ. Người anh thứ hai đang được ông bố “vực” cho vào nghề chèo thuyền vượt thác, thì đùng một cái bị bệnh đậu mùa qua đời. Vậy chỉ còn có Cầm Diêu, lẽ nào ông không muốn bù đắp cho nó? Bởi vậy ông đã nhận lời bỏ đất Quỳnh Nhai, lên trông coi trại dê ở Pa Thò (gần thị xã Lai Châu). Đó là năm 1943. Nhưng rồi thế cuộc rối ren, Cầm Diêu chưa có trường mà học. Nhật đánh lên, Tây phải chạy sang Tàu... Rồi Nhật thua. Chớp thời cơ, cách mạng nổi lên. Nhưng thị xã chỉ đỏ mầu cờ được đúng có một ngày. Tập đoàn họ Đèo với lực lượng vũ trang riêng của họ đã hợp lại, cộng với tàn quân Pháp từ bên Tàu trở về, quyết liệt đánh chiếm lại thị xã. Các cán binh cộng sản bị dồn đuổi xuống tận Quỳnh Nhai. Từ đó Tây chính thức phong vương cho Đèo Văn Long, cho cai quản cả xứ Thái... Từ đó mọi chuyện tạm yên yên, ngôi trường tồi tàn như một quán chợ của thị xã mới mở cửa trở lại. Giáo viên là một ông Tây cố đạo nói tiếng Thái còn sõi hơn cả người Thái, cùng vài giáo viên già người địa phương dạy từ lớp vỡ lòng lên hết bậc tiểu học. Dạy chữ Thái, dạy tiếng Tây, có pha thêm một ít chữ quốc ngữ gọi là để tiện giao dịch sau này với miền xuôi. Cầm Diêu vừa làm lụng: hót phân, cắt cỏ... giúp cha ở trại, vừa ngày ngày ra thị xã học. Năm 1952 y ra trường và xin được ngay chân bưu tá. Đó là thời kỳ hắn gặp được Nhạn. Nhưng chỉ nửa năm sau Cầm Diêu đã bị bắt lính. Trốn thì một là tù hai là bị bắn. Vào tiểu đoàn Thái được ba tháng hắn đã phải cùng quân Pháp rút chạy hộc tốc về Điện Biên Phủ... Tất cả những chuyện này dường như ai ai cũng biết cả rồi. Nhưng còn những điều đau lòng nữa, mà ít khi y thổ lộ: Trong cuộc tháo chạy ấy, mẹ y và em út Cầm Sa cùng đám vợ con lính lếch thếch chạy bám theo sau đoàn quân (cha y đã qua đời vì bệnh trọng trước trong đó hơn một năm). Cả đám gia binh, trong đó có mẹ và em út của y đã bị chết cả ở Mường Pồn, khi đội quân Lai Châu bị bộ đội cộng sản chặn đánh ở dọc đường. Tất cả đã chết trong đám hỗn quân hỗn quan ấy...
   
Trải qua biết bao biến cố trong đời, khi chạy vào Nam, Cầm Diêu may mắn đã tìm được Nhạn ở Nha Trang. Nhưng số phận tiếp tục xoay vần, hôm nay Cầm Diêu ngồi ở đây, với tư cách một trung uý chỉ huy toán Yêu tinh, được lệnh trở lại miền đất quê hương xưa để xây dựng căn cứ, tạo lập các màng lưới cơ sở, tranh thủ nắm tin, tranh thủ phá hoại, chờ những toán sau tiếp tục ném ra tiến tới mở rộng chiến tranh đánh bại cộng sản. Nhưng trong đáy lòng y cho tới lúc này ngồi nghe Lân “sách động tinh thần”. Hắn biết đây là dịp hắn có thể trang trải được thù xưa, cho hồn ma mẹ và em gái được siêu thoát.
   
Nhưng dẫu sao, hắn cũng chẳng thấy mấy hào hứng, nếu không muốn nói là còn cảm thấy một cái gì như... một sự ngần ngại. Qua nhiều chuyện, nhiều tin hắn đã biết: miền Bắc không phải là đất cho tụi hắn dễ dàng tung hoành... nỗi ngần ngại ấy dường như có cả một nỗi sợ nào đó nữa...
   
Trong lúc đó, ngồi cạnh Cầm Diêu, điện báo viên Tráng A Páo, cũng đang giương cặp mắt xếch, một mí nhìn lên tấm bản đồ và cũng nhớ lại miền Tây Trang quê cũ của hắn. Tây Trang với những triền núi đá chất ngất xanh với mây đùn trắng xoá. Tây Trang còn in lại trong tâm trí Tráng A Páo cả những ngọn đồi tranh lớp lớp từ dưới các lòng thung, từ hai bên con đường rải đá ngược mãi lên và gió vùng biên địa ngày ngày đêm đêm lồng lộng thổi, thổi như không bao giờ ngừng, làm cuộn lên ngàn ngàn, triệu triệu lớp sóng cỏ tranh vàng rực, xôn xao cả một trời hoang vắng... Chính ở nơi có những rừng tranh ấy trước đây Tráng A Páo vẫn thường mang súng kíp đi săn. Khi mùa xuân về lũ hươu ra ăn búp non của cỏ tranh mới nhú. Và cũng chính trong những cuộc đi săn ấy Páo đã bất ngờ gặp tên Paul đồn trưởng đồn Tây Trang. Nó cũng là tay rất mê săn bắn. Nhìn thấy Páo hôm đó cõng một con nai to đùng, thằng Paul phục lăn. Nó bập bẹ nói được một ít tiếng Mông. Và thế là từ đó mỗi lần đi săn, nó cho mấy thằng lính hầu phải lên tận Huổi Si tìm bằng được Páo để hướng dẫn cho nó các luồng đi của hươu nai, sơn dương, nhím, hoẵng và có khi phải phối hợp, giúp nó đón lõng, săn đuổi cho kỳ được các con thú. Thằng Paul khoái Páo lắm. Sau đó nó bắt Páo lên ở hẳn trên đồn làm lính cho nó. Cha con Páo cãi lý: Páo mới 16 tuổi. Nó bảo 16 nhưng khoẻ mạnh, bắn giỏi như thế này, đi lính quá phải rồi. Không nghe, nó bỏ tù. Thế là Páo phải lên đồn. Ngoài việc cùng Paul đi săn bắn, Páo được nó giao cho việc chuyên quay ragono (máy phát điện quay tay). Anh điện báo viên là người dưới xuôi. Anh cũng rất thích Páo. Chính anh đã dạy Páo những khi rảnh rỗi học chữ quốc ngữ và nhất là dạy cả đánh moóc. Páo học rất ham. Té ra không phải nó chỉ ham săn bắn mà còn rất ham máy móc... Nhưng rồi cuối năm ấy Tây thua khắp nơi, đồn Tây Trang cũng như cả Lai Châu phải rút chạy. Páo phải theo tụi trên đồn bí mật và cấp tốc rút. Nó không kịp, nói cho đúng hơn: không được phép về báo và từ biệt bố mẹ. Thế là Páo về tới Hà Nội. Cũng chỉ hai, ba tháng sau, Páo lại phải theo Paul chạy vào Nam. Chỉ có điều là anh lính người dưới xuôi đã trốn đi từ lúc nào mà không rủ nó. Nó giận anh mãi. Sau nghĩ lại: có khi vì sợ kéo cả Páo đi thì lộ, nên anh đành phải đi một mình. Nghĩ thế là nó hết giận anh. Vào tới trong Nam thì Paul về nước, còn Páo trở thành lính của Diệm và được đưa về Sư đoàn 22. Sau khi phát hiện Páo giỏi về điện đài, tụi chỉ huy ở trên đã điều nó sang Lào giúp cho phỉ Vàng Pao về vô tuyến truyền tin. (Nhưng vì sao phải sang tận Lào giúp Vàng Pao? Nó chẳng biết. Đã là lệnh của cấp trên thì nó phải đi thôi). Nhưng rồi năm nay nó bị gọi về để tham gia lực lượng biệt kích đường dài này. Nó nghĩ cũng buồn cười: tự nhiên nó trở thành một Goblin trong những Goblin!... Thế đấy. Nhưng thôi, nó có nghiệp vụ và cũng thích nghiệp vụ này, ai bảo, nó cũng làm hết... Còn các chuyện cộng sản hay cộng hoà, nó chẳng quan tâm mà thực ra nó cũng mù tịt, ai bảo sao biết vậy thôi. Bây giờ người ta bảo nó về Bắc, ừ thì về. Về mà tìm bố mẹ cũng thích! Tuy nhiên dù chất phác nó cũng biết được như thế là sai, quân đội ngoài Bắc bắt được thì chắc chết. Ý nghĩ ấy làm cho nó cũng lo lo, buồn buồn.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #21 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2017, 10:26:47 pm »

Ngô Thứ Lân đã kết thúc những lời trao nhiệm vụ và cổ suý tinh thần tụi biệt kích. Anh ta ngừng lại đưa mắt nhìn bao quát xem phản ứng của tụi này ra sao. Nhưng tất cả im phắc. Sự im lặng lạ lùng đến nỗi tưởng như một chiếc kim rơi cũng có thể nghe thấy. Ngô Thứ Lân cố giấu sự tức giận và né tránh cặp mắt lấp lánh như giễu cợt của Hampton, cặp mắt nghiêm nghị của Raphter cũng như cái nhìn chòng chọc của Nguyễn Cao Kỳ. Hắn gặng hỏi:
   
- Rõ cả chưa nào? Có ai cần hỏi gì không?
   
Một tên Goblin rụt rè đứng lên - tên G3 răng vàng:

- Thưa trung tá, vậy... khi chúng tôi đi, vợ con chúng tôi ở nhà vẫn được lĩnh lương chứ? Và khi... chúng tôi... lỡ gặp nạn, vợ con vẫn được hưởng lương hay... thôi?
   
Ngô Thứ Lân chau mày, rồi cố mềm mại trả lời:
   
- Cứ yên tâm! Được lãnh chứ! Trong trường hợp nào cũng được lãnh hết. Các anh được Tổng thống và quân đội hết lòng săn sóc mà! Cứ yên tâm.
   
Lại im phắc. Không một tiếng vỗ tay. Không một nụ cười, cũng không một ánh mắt vui tươi nào.
   
Ngô Thứ Lân cho kết thúc buổi hội ý.
   
Cầm Diêu trở về ngôi nhà riêng của bọn chúng. Tên gác cổng cho biết có một đại úy xưng tên là Quyền, phụ trách trinh sát Sư đoàn 22 tới thăm, nó đã bảo Cầm Diêu đi vắng.
   
- Vậy ổng có nhắn lại gì không?

- Dạ, có! Đại úy dặn khi về, trung úy cần tới khu gia binh gặp ông, nếu không sớm mai ổng sẽ trở về Nha Trang.
   
Biết là đã có lệnh cấm trại, nhưng sốt ruột và không hiểu chuyện gì, Cầm Diêu lẻn đi liền, bất chấp tất cả...
   
Y lao như một con lốc, rồi ập vào căn nhà cantine của khu gia binh.
   
Đại uý Quyền, ân nhân của vợ chồng Cầm Diêu, con người sang trọng, chải chuốt lịch sự, đặc biệt yêu quê hương vô cùng nồng cháy đang ung dung ngồi đó, bên một bàn bia. Vừa nom thấy Diêu tới, Quyền vui mừng đứng dậy tươi cười:

- Cầm Diêu đấy ư? Này mình cho cả vợ cậu vô đây thăm cậu đó!
   
Cầm Diêu trố mắt như không tin ở tai mình nữa. Y chưa kịp nói hoặc hỏi lại thì từ một phòng bên Nhạn, vợ y đã mau mắn đi ra. Ôi, đây là mộng hay là thực đây? Cầm Diêu chỉ còn biết lao tới vồ lấy hai bàn tay Nhạn, kéo giật cô lại, như áp hẳn vào mình... Đúng là Nhạn đây rồi! Ôi, xa nhau mới có mấy tháng mà cứ tưởng như đã trăm năm... Nhạn cũng không thốt lên được lời nào, đôi mắt dài đuôi hơi cong lên như mắt phượng nhìn anh đăm đắm, xôn xao. Quả là một người đàn bà đẹp, đẹp từ gương mặt như vầng trăng, đẹp tới cả thân hình óng ả nở nang kiều diễm. Bộ váy áo dân tộc bó sát như càng làm cho bộ ngực thêm nở căng, nhọn vắt lên và toả ra hương thơm, bốc ra lửa quyến rũ...
   
- Đại uý có công vụ vô Sài Gòn - Nhạn nhẹ nhàng nói - Đại úy cho em theo vô để thăm anh - Có lẽ vì quá xúc động, mãi Nhạn mới thốt lên được như vậy. Nhưng như thế cũng đã quá đủ với Diêu. Hắn chỉ còn thiếu ôm ghì lấy nàng ở ngay trước mặt mọi người mà hôn, hôn cho đến nghẹt hơi, bỏng môi, cháy ngực...
   
Đại uý Quyền bỗng hỏi xen ngang:
   
- Này! chú Diêu và anh em vẫn ở đây học tập tốt đấy chứ?
   
- Dạ, dạ, phải! - Cầm Diêu quay lại, lúng túng đáp. Câu hỏi có lẽ chỉ là xã giao vô thưởng vô phạt ấy, không ngờ đã lôi bật nó trở lại với thực tế ghê gớm, nóng bỏng trước mắt, nó sắp phải ra đi, bí mật ra đi, vào nơi... một sống một chết... Lòng nó như xé. Làm sao nó có thể nói được lên điều đang làm rung chuyển cả tâm hồn nó. Làm sao nó có thể tiết lộ nhiệm vụ ghê gớm của nó. Chỉ còn chiều nay nữa thôi... Nó sẽ phải xa Nhạn hơn nữa, xa cho đến không biết bao giờ, và thật kinh khủng, có khi là... vĩnh viễn. Nhưng không... Nó chỉ còn biết ngước đôi mắt vô cùng đau khổ lên nhìn Nhạn. Nó muốn ôm lấy nàng, muốn nhai nuốt nàng, muốn được chết đi trong vòng tay nàng lúc này, mà không sao chết đi cho được...

 
*
 *     *
   
21 giờ 30. Thành phố đã lên đèn từ lâu. Trên vòm trời cao, một mảnh trăng lưỡi liềm thoáng hiện ra, nhưng xa vời, buồn tẻ và như bị hoàn toàn lãng quên ở nơi đô hội này. Một chiếc Dodge bịt kín không rõ từ đâu trờ tới, đỗ áp sát cổng ngôi nhà của bọn Cầm Diêu. Cánh cổng hé mở rất nhanh. Đã bí mật chờ sẵn, cả 6 tên lao ra và chỉ trong chớp mắt cùng nhảy lên xe. Chiếc Dodge lại lao đi, rồi mất hút. Tất cả mọi việc chỉ diễn ra trong vòng có hai phút. Khi đã ngồi yên chỗ trên xe một số tên lâm râm khấn khứa cầu xin thần linh phù hộ cho những gì đó. Cầm Diêu cũng thầm thốt lên trong đáy trái tim mình mấy tiếng, nhưng không phải là cầu khấn các thần linh, mà là: “Nhạn! Nhạn ơi, em ở lại, anh đi đây...!”. Đó là những tiếng kêu xiết bao đau khổ và cả lo buồn. Một lần nữa trong đời, nó lại hối tiếc mình đã quá ham đồng lương của biệt kích, và đã quá xúc động vì lời kích động của đại uý Quyền khi ấy…
   
Lát sau chiếc Dodge đỗ lại trước một nhà để máy bay, trong khu cấm, gần hai chiếc Dakota (C47) không số đang đỗ ở đường lăn. Dưới ánh điện sáng ngời, Raphter, Andrew, Tom, Ngô Thứ Lân đang ngồi quanh một chiếc bàn nhỏ trong nhà để máy bay, uống bia và ăn bánh kẹo. Mấy viên đại uý Quýnh, Chắt... giúp việc Ngô Thứ Lân đứng loanh quanh đó. Khi bọn Cầm Diêu xuống xe, Raphter vẫy lại. Chúng được mời bia, gọi là để “chúc mừng lên đường thắng lợi”.
   
Ngô Thứ Lân tranh thủ báo tin mới nhất: Khí tượng không có vấn đề gì. Không ảnh do máy bay trinh sát điện tử Mỹ chụp gửi về hồi 18 giờ: mục tiêu vẫn không có dấu hiệu gì khác lạ. Kết luận: hoàn toàn có thể yên tâm xuất kích.
   
Khà một tiếng như đã ngà ngà, đặt mạnh chiếc ly đã cạn sạch xuống mặt bàn, giơ ngang mu bàn tay quệt một vệt bọt bia trên mép, Cầm Diêu quay lưng lại, hai tay xốc lại các thứ đeo lủng củng ở dây lưng, đoạn ngẩng đầu lên, hô mạnh mẽ:

- Tập hợp! Kiểm tra vũ khí, dụng cụ cá nhân lần cuối!
   
Cả nhóm nhanh nhẹn xếp thành hàng ngang trước ngôi nhà mái tôn khổng lồ. Cầm Diêu mặt nghiêm nghị, cặp mắt sắc mở to, đi tới từng toán viên, lúc này y đã trở lại đúng là một tên chỉ huy biệt kích đã được dày công đào luyện. Nó cẩn thận kiểm soát lại từng vật dụng cá nhân của từng đứa: kính đeo mắt hồng ngoại để nhìn ban đêm, máy truyền tin, đạn hoả châu, đèn bấm, túi cứu sinh, đèn cầm tay, găng tay, địa bàn... Nó lật túi quần, túi áo từng đứa xem các giấy tờ cá nhân đã để lại hết chưa, và tiền bạc miền Bắc cùng giấy tờ giả liệu có đầy đủ không.
   
Raphter, Tom, Andrew và Ngô Thứ Lân đứng coi, đều rất hài lòng.
   
Đúng 22 giờ 30 phút, Ngô Thứ Lân dõng dạc ra lệnh:
   
- Goblin! Lên máy bay!
   
Sáu tên như sáu con quỉ gai góc, lông lá đầy mình, cùng leo lên thoăn thoắt và chui tọt vào chiếc C47 đã được sẵn sàng để cất cánh. Mang bí danh “Kẻ đột nhập” nó đã lên đèn tín hiệu nhấp nháy dưới bụng, ở hai đầu cánh và cả trên nóc cabin...
   
Máy bắt đầu gầm lên. Rồi sau đó chỉ mấy phút, “Kẻ đột nhập” bắt đầu lăn bánh ra phi đạo...
   
Trong nhà chứa máy bay, bên bàn bia rượu đã bị “tàn phá” toang hoang, Raphter cầm lấy phoni vui vẻ và dõng dạc gọi về văn phòng của nó:
   
- Điện báo về Trung tâm chỉ huy Lầu Năm Góc và Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương: GOBLIN - đã xuất phát từ 22 giờ 5 phút giờ địa phương, ngày 27 tháng 6 năm 1961. Ký tên Raphter.
   
Chiếc máy bay như một con quạ khổng lồ bắt đầu nâng độ cao. Nó dang đôi cánh đen sì, mũi trực chỉ phương bắc, bay đi. Trên hai hàng ghế, ngay từ khi được lệnh thắt dây an toàn, như từ trong vô thức, một nỗi sợ hãi hết sức bản năng bật dậy trong lòng tất cả những tên biệt kích, kể cả toán trưởng. Nỗi sợ hãi ấy cứ tăng dần, tăng mãi cùng tiếng máy bay mỗi lúc một thêm ầm ào mạnh mẽ...
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #22 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2017, 10:30:06 pm »

6

Hạ thấp độ cao để tránh mọi rađa ven biển của miền Bắc, “Kẻ đột nhập” bắt đầu bay vào đất liền, vùng châu thổ sông Hồng. Trăng thượng tuần như một vành móng tay nhỏ mầu ngà từ trên cao toả xuống một làn ánh sáng mờ nhạt. Cơ quan khí tượng Mỹ đã báo đúng: ánh sáng của tuần trăng đầu, từ 15 đến 45 độ ở chân trời phía đông đủ cho máy bay có khả năng quan sát địa hình địa vật dưới mặt đất. Tất nhiên đã có cả máy khuếch đại ánh sáng, nhưng ánh sáng này vẫn là cần thiết.
   
Qua một ô cửa tròn, Cầm Diêu chăm chú ngó nhìn xuống dưới để cố quên đi những gì còn bề bộn trong lòng. Lờ mờ thôi, hết sức lờ mờ, nhưng y cũng cảm thấy được “Kẻ đột nhập” như đã bay vào vùng đồng bằng Bắc Bộ. Mặt đất bằng phẳng, những ngọn đèn li ti, lốm đốm, khắp nơi những mặt hồ ao phản chiếu ánh trăng như những mảnh gương lớn nhỏ thực thực hư hư rải rác xa gần...

Rồi một lúc sau đã thấy rừng, từ thưa thớt dần dần đến rậm đen cùng những ngọn núi nhấp nhô trùng điệp. Một cảm giác xốn xang bỗng dâng trào trong tâm hồn Cầm Diêu, một kẻ đã được đẻ ra và lớn lên từ núi từ rừng.Y mở căng mắt ra... Và kìa, một dòng sáng ánh trăng uốn lượn ngoằn ngoèo hết sức mềm mại mà cũng hết sức kỳ lạ đang hiện lên!... Hình như sông Đà! Có phải sông Đà không nhỉ? Hay vẫn là con sông Hồng?... Ôi sông Đà! Những tiếng thác lại như gầm lên mãnh liệt với những mái nhà sàn, những gương mặt ruột thịt thân yêu, kẻ mất người còn cùng vụt hiện lên như đốt cháy tâm can y.
   
Nhưng cũng ngay tức khắc, y bị kéo giật lại với thực tại. Chỉ còn nửa giờ nữa là tới địa điểm nhảy dù, một tên trong phi hành đoàn vụt đứng lên, giơ tay ra hiệu: chuẩn bị! Từ lúc đó một không khí im lặng bao trùm trong lòng máy bay. Tất cả những khuôn mặt đều căng thẳng. Những ánh mắt xao xuyến cùng liếc nhìn nhau, những cái nhìn đầy ý nghĩa... Theo kế hoạch đã vạch sẵn: từ giây phút này, mọi người phải tập trung tuyệt đối suy nghĩ vào trách vụ. Khi tới cách địa điểm còn 6 phút, thì đèn đỏ sẽ bật. Còn 3 phút, là đèn xanh. Khi tới địa điểm thì chuông sẽ réo lên. Và đó là giờ của Định mệnh...

*
 *      *

Cũng đêm ấy vào giờ phút ấy ở Hà Nội, Bộ trưởng Quốc nhận được một bức điện tối mật từ Quảng Ninh cấp tốc gửi về, do Cục trưởng Công Năng “cánh tay phải” của ông trực tiếp mang tới: “... Cuối cùng đối tượng đã ra hàng, đúng như ý đồ của ta. Cuộc hỏi cung đang bắt đầu. Nó còn có dấu hiệu quanh co. Đang tiếp tục đấu tranh. Một vụ có thể lớn đúng như các anh đã sơ bộ dự toán. Sẽ tiếp tục báo cáo gửi về...”. Dưới ký tên giám đốc công an Quảng Ninh.
   
Ông Quốc im lặng, nhưng trên gương mặt sáng rõ một niềm vui xen lẫn kiêu hãnh. Ông rút thuốc lá mồi thêm một điếu mới, rít những hơi rất sâu, đoạn nói với “ông võ” của mình.
   
- Anh cho gọi ngay tay Nguyễn Nguyên An về gặp chúng ta báo cáo lại tỉ mỉ.
   
Cũng đêm ấy, giờ phút ấy, ở bản Nà Lang, một bản của người Dao ở xa tít cách đồn Mường Sang tới gần năm giờ leo núi, băng rừng, vợ chồng anh dân quân người Dao - Vàng Mẩu Tu vẫn chưa ngủ. Hôm nay Mẩu Tu bắt được khá nhiều cá ở ngoài suối Nậm Be. Người Dao nói chung là nghèo, ở cao hơn người Thái, nên hầu như không có ruộng mà chỉ có nương. Người Dao có nghề chài cá ngoài việc làm nương. Người Dao thường hiếm con, hay phải xuống Mường Sang, có khi phải đi xa hơn xuống dưới xuôi xin con về nuôi. Người Dao quý con nuôi vô cùng. Giờ này vợ chồng Mẩu Tu vẫn còn ngồi nướng cá bên bếp lửa. Mùi cá nướng khen khét, thơm thơm bay toả trong căn nhà tre nứa làm tăng thêm vẻ ấm cúng của cái gia đình nhỏ bé mà nghèo nàn này. Thằng Tén, đứa con nuôi lên 6 tuổi cũng vẫn còn thức. Vợ chồng Mẩu Tu xin được của một gia đình người Kinh nghèo mà đông con ở mãi tận Mộc Châu. Thằng Tén đang ngồi chơi mấy cái các tút đạn súng tiểu liên mà đồn phó Nết mới cho cách đây vài hôm nhân cuộc đi tuần tra rộng ra cả khu vực. Chốc chốc vợ Mẩu Tu lại giục chồng đi ngủ trước cùng thằng Tén, để mình chị nướng cá cũng được. Mẩu Tu không nghe, anh còn đang vui, không những chỉ vui vì hôm nay đánh được nhiều cá, mà còn vì đồn phó Nết cùng cô Én cho biết đang cố gắng tìm giáo viên cho mấy bản xa như nơi này. Nếu được, xã và đồn sẽ phối hợp làm trường học cho trẻ em. Mừng quá. Như vậy thằng Tén nhất định sẽ có cái chữ rồi...
   
Bỗng nhiên, có tiếng gì ầm ầm ù ù từ xa xa vọng lại. Mẩu Tu dỏng tai lên nghe. Sấm? Không phải! Ô tô? Cũng không phải! ở đây làm gì có đường cho xe ô tô lên? Còn lâu! Tiếng ầm ầm ù ù nghe mỗi lúc một gần hơn. Rồi rất gần. Mẩu Tu ngờ ngợ. Anh đứng phắt dậy, mở toang cửa chạy ra. Vợ Mẩu Tu cũng đặt vội các xiên cá xuống, chạy ra theo chồng. Tiếng ầm ầm ù ù đã lớn hơn nhiều, tựa như nó ở ngay gần trên đỉnh đầu mình. Mẩu Tu nhìn thấy vợ, hồi hộp nói to:

- Máy bay đấy!
   
Cũng vừa lúc một số người trong bản cũng túa ra. Tiếng gọi, tiếng hỏi nhau í ới:
   
- Máy bay phải không?
   
- Có phải máy bay không? Hay cái gì thế?
   
Mẩu Tu ngẩng lên bầu trời trăng non nhàn nhạt. Anh bỗng như giật mình khi nhìn lên thấy một vật gì giống ngọn đèn cứ nhấp nháy như một con đom đóm đỏ nọc kỳ dị đang bay ngang qua. Mẩu Tu chưa biết thực hư nó là gì thì đã nghe thấy tiếng nói to:
   
- Tàu bay Mỹ Diệm! Tàu bay Mỹ Diệm đấy!
   
Nhìn lại, Mẩu Tu thấy ông Lềnh trưởng bản kiêm đội trưởng dân quân, tay cầm một cây súng kíp dài, xăm xăm chạy tới với ba bốn dân quân. Cái chấm đỏ nhấp nháy trong tiếng ầm ầm ù ù ma quái ở trên trời bay khuất xa nhưng chỉ một lúc đã vòng lại. Rồi lờ mờ, xa xa, từ đuôi chiếc máy bay đang sà thấp bỗng phọt ra liên tiếp mấy vật gì đen đen kéo dài rồi sau đó xoè to ra tựa hình những cái nấm treo lơ lửng trên trời và tà tà bay theo gió... Một anh dân quân kêu lên sợ hãi:
   
- Nó đang đẻ những cái gì kia kìa!
   
Ông Lềnh, ngước lên, cố quan sát. Tất cả đám dân quân cùng xôn xao. Nhiều người la lên hoảng hốt: “Đúng! Đúng! Nó đang ỉa ra những cái gì kia kìa!”. Những cũng có anh lại bảo chẳng nom thấy gì hết. Tuy nhiên Ông Lềnh đã khẳng định, quát:
   
- Tàu bay Mỹ Diệm ra thả biệt kích đấy! Bớ anh em! Báo động! Báo động!
   
Bấy giờ mọi người mới cùng nhận ra: đúng là chiếc máy bay đen sì đang nháy đèn, xuống khá thấp trên vùng trời khu vực này và thả dù...
   
Cũng lạ, đến lúc này Mẩu Tu không thấy sợ mà chỉ thấy vô cùng hồi hộp. Anh nói nhanh:
   
- Mẹ cha thằng Mỹ Diệm! Vậy bây giờ ta phải làm gì, ông trưởng bản?

Ông Lềnh không cần suy nghĩ lâu, con người ấy xưa nay rất hom hem, chậm chạp gần như lù đù, vậy mà tối nay lại có vẻ nhanh nhẹn và tỉnh táo khác thường. Ông oang oang ra lệnh:
   
- Tỉnh, huyện, đồn đã dạy rồi: địch đến, phải tổ chức theo dõi, bao vây ngay và cấp báo lên xã, lên đồn. Vậy anh em hãy nổi trống, nổi chiêng lên và rúc tù và báo động toàn bản! Còn dân quân phải tập trung ngay. Tôi sẽ trực tiếp chỉ huy theo dõi, bao vây. Còn bây giờ cần một người chạy về đồn Mường Sang báo tin. Ai đi được?
   
Ai ai cũng hiểu từ đây về đồn công an vũ trang ở Mường Sang là phải khoảng gần bốn giờ đồng hồ đi bộ, leo đèo vượt suối. Mà cả bản này không hề có một con ngựa. Vậy ai dám nhận việc này, nhất là trong đêm tối... Tất cả mọi khuôn mặt đều như đần cả ra. Nhưng rồi bỗng một tiếng vang lên hăng hái:
   
- Để tôi đi!
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #23 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2017, 10:32:23 pm »

Mọi người cùng quay lại: Mẩu Tu! ông Lềnh chỉ còn biết gần như ôm choàng lấy anh dân quân xưa nay vốn nổi tiếng hiền lành, chất phác này.

- Hay quá! Ừ, có thế mới là dân quân tiên tiến của bản ta chứ! Mẩu Tu đi đi! Cầm lấy cây súng này!
   
Miệng nói, tay ông trao luôn cây súng kíp của mình cho Mẩu Tu.
   
Mẩu Tu lắc đầu:
   
- Súng để còn sẵn sàng chiến đấu mà! Tôi đi không cũng được. Thôi, báo cáo trưởng bản tôi đi đây!
   
Nói dứt lời, chẳng kịp dặn vợ dặn con một câu, Mẩu Tu sấp ngửa đi luôn. Anh không đi, mà co giò chạy. Trong chớp mắt anh đã biến mất trong những khu rừng đại ngàn tối đen ở phía trước.
   
Trong lúc đó tiếng máy bay càng rền vang. Chiếc đèn đỏ liên tục chớp sáng đỏ nọc như một con mắt chột dữ tợn của ma quỷ. Những chiếc dù tiếp tục được bung ra...

*
 *     *

Trên chiếc “kẻ đột nhập”, qua bản đồ, qua máy khuếch đại ánh sáng trực tiếp quan sát, phi hành đoàn người Đài Loan đã xác định đúng khu vực đổ hàng và người như đã quy định. Các kiện hàng đã được ném hết sau vòng lượn thứ nhất. Bây giờ đèn tín hiệu xanh được bật lên. Tất cả sáu tên gián điệp biệt kích cùng xốc lại ba lô, túi dù đứng dậy. Cả sáu khuôn mặt hiện ra dưới ánh đèn xanh nom đầy vẻ quái dị. Những cặp mắt mở to, trắng dã, không hồn. Những cái miệng khô khốc với đôi môi mấp máy run rẩy như thầm thốt lên những lời cầu nguyện nào đó. Ba tên kickers (người chuyên lo đẩy hàng từ bụng máy bay xuống) to lớn, đen chũi quay lại. Cửa máy bay đã mở. Như oà một cái, cả thế giới đen hun hút ghê rợn bên dưới và bên ngoài thoắt hiện ra. Tất cả sáu tên biệt kích dù đã tập nhảy dù đêm không ít nhưng lúc này đều thoắt rùng mình. Dưới kia là chiến trường! Dưới kia cũng có thể là mồ chôn, là địa ngục...
   
Cầm Diêu loạng choạng tiến lên trước, tới gần cửa nhảy. Tâm hồn gần như hoàn toàn tê liệt trong một nỗi xúc động quá lớn, y mím chặt đôi môi, mắt trừng trừng nhìn xuống, chờ hiệu lệnh. Tiếng chuông bỗng réo lên. Đã tới giây phút quyết định của số mệnh...
   
- Go! Một tiếng hô bật lên như một phát súng. Dựng hết cả tóc gáy, Cầm Diêu nhắm mắt, nhào ra khỏi khung cửa. Gió như cả một lớp sóng biển khổng lồ kinh hồn đánh tạt ngay vào mặt mũi y làm cho tối tăm, tê dại...

*
 *     *
   
Trong rừng khuya, Mẩu Tu vẫn tiếp tục cắm đầu cắm cổ chạy. Đoạn nào dốc quá, anh phải đi chậm để leo lên, nhưng khi đổ dốc anh lại tiếp tục chạy. Nhiều lúc tưởng đã đứt hơi, xây xẩm mặt mày, gục xuống, nhưng anh chỉ dừng lại, bám lấy thân cây cho khỏi choáng váng, hoa mắt, sau đó lại tiếp tục chạy, chạy như mê đi, chạy không còn biết trời đất gì nữa. Rừng cây xung quanh luôn luôn vây bủa lấy anh như những bóng ma, hình quỉ với muôn vàn cánh tay vằn vèo, cái dài cái ngắn múa may trong bóng đêm. Trong khi đó từng đàn đom đóm to như từng hạt táo xanh lè bay đầy rừng, đầy suối như những oan hồn thi nhau hiện lên để cùng những bóng ma cây rừng đủ hình đủ dáng kỳ quái kia hăm doạ con người nhỏ bé này. Đáng sợ hơn nữa là những tiếng động trong rừng khuya. Có những tiếng chim đêm đã quá quen thuộc, nhưng có thêm biết bao tiếng chim, tiếng thú hết sức quái gở, có lúc nghe như tiếng người cười sằng sặc, có lúc lại nghe nghẹn ngào, rên xiết như có người đang cố bóp nghẹt hoặc cứa đứt cổ nhau. Có lúc lại phì phì phè phè ghê rợn như có cả một bầy trăn độc hoặc gấu lớn đang ra sức quần nhau ngay bên đường mòn... Nhưng hãi nhất vẫn là tiếng beo gầm. Ôi chao, tiếng beo gầm giữa rừng khuya, nghe sao mà ghê rợn, toàn thân nhiều lúc nổi hết gai ốc, chỉ muốn co rúm lại... Chạy, vẫn chạy, Mẩu Tu chỉ đỡ hoảng sợ những khi ra được những trảng trống hoặc lội qua những con suối lớn, nhỏ. Ở đấy ánh trăng suông đã làm cho anh nhìn rõ được mọi vật hơn. Những dòng nước lấp lánh, những bãi tranh thoáng rộng đã làm cho anh bình tĩnh lại đôi chút. Lần nào cũng vậy, khi qua suối anh cũng dừng lại, vụm hai bàn tay lại múc nước lên rửa mặt cho bớt mồ hôi, cho tỉnh táo đầu óc. Sau đó lại tiếp tục chạy, chạy đến đứt hơi, đến mờ mịt cả đầu óc, đến tối tăm cả hai mắt, đến rụng rời cả hai chân...
   
Trên cao, ngôi sao Mai xa xa đã hiện lên như một hạt vàng, cả vùng trời phía đông dần dần sáng lên như bạc. Đấy cũng là lúc Mẩu Tu gần như một cái xác chết đã ra khỏi các khu rừng sâu và tới cánh đồng Mường Sang với đôi chân trần bị đá cắt gai cào bê bết máu. Anh tập tễnh, xiêu vẹo, nghiêng ngả. Nhưng hai con mắt mờ mịt của anh dẫu sao cũng đã thoáng nhận ra được ngọn đồi thoai thoải của đồn công an vũ trang rất đỗi quen thuộc. Anh nghiến răng, cố dốc chút lực tàn còn lại. Anh gò lưng chạy. Loạng choạng, đảo điên, lắt lay... Và, như một chuyện huyền thoại, chạy lên được sườn đồi, hướng tới cổng đồn, anh cố dấn một lần cuối cùng nữa, nhưng còn cách cổng đồn chừng vài chục mét, đôi chân đã khuỵu xuống. Anh ngã vật ngửa, dang hai tay, chết lịm... Tuy nhiên, chỉ một hai tích tắc như sống lại, cố ngóc đầu dậy, anh gào to, tiếng như từ dưới mồ sâu vọng lên:
   
- Công an ơi... có giặc! Có giặc!...
   
Chỉ có thế, rồi anh lại ngã vật ngửa, đầu ật sang một bên, hai mắt nhắm nghiền.
   
Nhưng cũng may, hoặc kỳ lạ thay, trong đồn đã có người nghe thấy những tiếng kêu thảm thiết và ngập tràn tính nguy kịch ấy.
   
Chỉ trong khoảnh khắc, cổng đồn đã mở toang, đồn phó Nết cùng ba chiến sĩ phóng ra như bay, hướng về người dân quân đang nằm vật ở giữa đường đi.
   
Nết thụp xuống ôm choàng lấy anh. Nết bỗng như thét lên đến lạc giọng.
   
- Trời ơi! Mẩu Tu! May còn sống!...

*
 *     *
   
Cùng lúc tờ mờ sáng đó trên cao điểm 818, trong một cánh rừng nguyên sinh, rậm rạp, một số tên Goblin đã tập hợp lại được với nhau: Cầm Diêu toán trưởng, Tráng A Páo báo vụ kiêm cơ yếu, cùng Lò Văn Chơm nhân viên trinh sát, tình báo và phá hoại. Cả ba đứa đều phờ phạc hốc hác. Những chiếc áo biệt kích 16 túi tơi tả lấm lem. Những cặp mắt bạc phếch. Chúng cùng ngồi thở dốc dưới một gốc cây lớn, trước một đống ba lô, máy móc, điện đài lung tung, lộn xộn. Cuộc nhảy trong đêm hết sức khó khăn vất vả, chưa nói là đầy kinh sợ. Dẫu đã tập nhảy không ít nhưng nói chung chúng vẫn rất tồi về kỹ thuật, nay còn rối trí nữa, nên việc điều khiển dù thật đáng nguyền rủa: lạc xa nhau lung tung trên một vùng hơn một cây số vuông. Khi đáp được xuống mặt đất, may mà tất cả đều có transitor cầm tay để bắt tín hiệu của máy định vị của toán, nếu không có lẽ tới lúc này vẫn còn chui rúc cả trong các bãi tranh và trong rừng rậm để tìm hướng về tập hợp. Nay dẫu sao cũng đã có mặt được 5, nhưng vẫn còn thiếu tên G6. Đó là chưa kể lạc mất hai kiện hàng. Một mặt cho gấp rút chôn giấu hai kiện hàng tìm được, một mặt Diêu cử tên toán phó G2 Lò Văn Sính cùng tên G4 Hoàng Văn Lanh răng vàng mở rộng khu vực tìm kiếm một lần nữa, tìm hai kiện hàng thất lạc và tìm thằng G6 Lò Văn Sam.
   
Trời càng sáng dần. Càng thêm căng thẳng. Cầm Diêu xé bao thuốc thơm đốt một điếu rồi quăng cho Tráng A Páo và Lò Văn Chơm. Cả hai cùng vồ lấy, nhưng vẫn không một đứa nào dám thốt lên một lời. Mọi hiểm nguy, kể cả cái chết vẫn đang còn quanh quất đâu đây, thậm chí có thể đang dần dần tiến lại gần hơn. Bởi ngay từ hồi nửa đêm, khi mới tiếp đất, chúng đã nghe thấy từ xa xa, tiếng mõ, tiếng trống dù rất mơ hồ nhưng hẳn là phải rất náo động ở dưới những lòng thung, và những sườn núi chung quanh đây. Báo động. Phải rồi không còn nghi ngờ gì nữa, dân chúng đã báo động, có thể là toàn vùng. Vậy mà, đ.m., tụi P54 cứ quả quyết nơi đây hết sức xa dân, vô cùng hoang vắng, mà dân toàn là sơn nhân lạc hậu tối tăm, ngu ngốc không biết tí gì về Mỹ về Diệm, thậm chí cả Cộng sản là thế nào, là ai, họ cũng chẳng hề rõ! Mới chỉ một chi tiết bố láo ấy thôi, cũng làm cho chúng thực sự hoảng sợ.
   
Như không chịu nổi sự im loặng quá căng, tên G5 Lò Văn Chơm bật lên nói trước, nó vốn xưa nay là đứa lắm mồm lắm miệng gần như tên G4 răng vàng, nhưng còn “gai góc” hơn.

- Đ.m., Hoàng đạo! Hoàng với chả đạo, chưa chi đã mất cha nó một thằng với hai kiện hàng. Mấy lão chóp bu không những chỉ bói toán vớ vẩn lại toàn là bọn chỉ giỏi vơ vét và hít, đớp. Vậy mà cứ luôn luôn bảo là dân biệt kích chỉ có biết tiền và gái, đớp và hít, hít và đớp. Đấy, bây giờ họ đang ngồi uống rượu ở Sài Gòn để hô hào “đánh Cộng sản từ trong ruột chúng!” Mẹ! Nói thế chó nói cũng được! Con cháu thì cho sang Mỹ học hết, còn bọn dân đen này thì vào lò lửa! Mẹ!...
   
Chẳng phải vì thấy thằng “tóc rễ tre” dám động tới các cấp “côi” mà do đang quá sốt ruột, quá căng thẳng, không muốn nghe bất kỳ điều gì khác nữa, Cầm Diêu lừ mắt quát:
   
- Thôi, câm đi!
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #24 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2017, 10:34:31 pm »

Cầm Diêu hiểu lúc này một tích tắc còn quí hơn vàng. Tụi nó cần phải di chuyển ngay tới vị trí tập kết. Nơi này chắc lộ rồi, vì thế nào mà chẳng có người nhìn thấy các dù liên tiếp rơi xuống. Hẳn là các lực lượng chiến đấu của Cộng sản đang hướng cả về đây. 818, 796 - hai cao điểm này đã trở thành tử địa. Đó là cái chắc. Nhưng sao có thể bỏ tụi G2, G4, G6 mà đi luôn được. Ruột gan tên toán trưởng như bốc lửa.

Tuy nhiên, cũng không phải chờ lâu, Cầm Diêu bỗng bật dậy. Hai thằng: G2 toán phó Lò Văn Sính “Mặt chảo gang” và G4 Hoàng Văn Lanh “răng vàng”, đã như từ dưới đất mọc lên. Cả hai đứa quần áo tơi tả, hai bộ mặt mét xanh với hai cặp mắt trắng dã gần như vô hồn. Cả hai đứa lảo đảo tiến lại rất gần như ngã ngồi xệp xuống. Biết chúng quá mệt và tinh thần chưa bình ổn, Cầm Diêu đưa bi đông nước tăng lực cho chúng, rồi ngồi xuống sẵn sàng chờ nghe chúng tường trình. Tráng A Páo và tên Chơm G5 cũng vội đổ xô lại, dỏng tai lên, mặt mũi tràn đầy hồi hộp.
   
Phải mấy phút sau G2, toán phó Lò Văn Sính, tên mọi ngày có vẻ “lì” nhất lúc này cũng tỏ ra - không hơn gì ai, cất cái giọng đã như lạc đi, gần khác hẳn:
   
- Trình toán trưởng... vẫn không thấy hai kiện hàng. Còn thằng G6... nó chết rồi...
   
- Hả! - Cầm Diêu trợn mắt, gần như nhảy thách lên.
   
- Hả? Sao? Sao?
   
Vẫn còn lử lả, thằng Sính toán phó tiếp tục nói như từng nhát một:

- Dù của nó không mở! Nó rơi vào bìa rừng, nơi có nhiều tảng đá lớn... Nó vỡ sọ, tiêu rồi! - Vừa nói “Mặt chảo gang” vừa xoè hai bàn tay còn đỏ lòm những máu của G6, chưa kịp chùi rửa.
   
- Chao ôi!... Cầm Diêu chỉ còn biết thở hắt, kêu lên một lần nữa rồi gieo mình xuống. Páo và Chơm, cả hai thằng gần như cùng rú lên khe khẽ. Mãi sau Cầm Diêu mới nhăn mặt hỏi tiếp được:
   
- Vậy... đã chôn cất cho nó chưa?
   
“Mặt chảo gang” gật đầu. Nó thò tay vào túi áo lấy ra một nắm tóc:
   
- Tụi tôi cắt đem về một ít, để sau này... nếu còn trở về được... thì trao cho vợ nó.
   
Cầm Diêu lặng đi. Nó cố nhớ lại gương mặt tròn trịa với đôi mắt nhỏ và đặc biệt là nụ cười bí hiểm của tên Sam. Chao, vậy là cái thằng côn hươn xưa nay kết thúc cuộc đời nó như thế này đây! Có lẽ số kiếp chỉ cho nó một đặc ân: về chết ở trên quê cũ! Vậy thôi! Nó, cái thằng khôn ngoan, trí trá và đầy tham vọng ấy... ngoài Cầm Diêu cả toán Goblin không đứa nào biết: nó dù là dân tộc Thái, nhưng đã mật xin Đại uý Quyền lo giúp cho vào Thiên chúa giáo và vào cả “Đảng gươm thiêng ái quốc”, cái đảng mà ai ai cũng thầm gọi là Đảng “ma tịt” mới được ông Nhu dựng lên. Nó giữ rất kín. Hẳn là nó còn mơ tưởng leo cao hơn cái cấp thượng sĩ của nó hiện nay nhiều. Nhưng thôi, dẫu sao cũng xin đất mẹ quê hương hãy tha thứ mọi điều không phải của nó, xin hãy ôm nó vào lòng với tất cả sự bao dung và độ lượng...
   
Rồi tự cắt đứt mọi suy nghĩ, Cầm Diêu xốc lại bao súng và đủ thức lủng củng quanh sườn, đứng dậy. Nó nói như lè ra từng tiếng khô khốc:
   
- Thôi được, những chuyện tồi tệ ấy thật ra cũng khó tránh khỏi. Ta vẫn tập hợp được năm người với hai kiện hàng đã chôn giấu xong, thế là cũng... tạm được. Bây giờ phải đi mau mới tới địa điểm tập kết đã. Sau sẽ quay lại đây lấy hàng. Nào, tất cả hãy đứng dậy xoá hết dấu vết!
   
Tiếp đó là mệnh lệnh ngắn ngủi được phát ra:
   
- Go!

*
*     *
   

Cũng lạ, sự xuất hiện của Mẩu Tu dường như còn làm chấn động hơn cả hồi 01 giờ 36 phút sáng khi đồn Mường Sang đột ngột nhận được một bức điện dồn dập: một của Tham mưu công an vũ trang Khu, một của Tỉnh uỷ, một của Ban chỉ huy quân sự tỉnh.Tất cả đều báo: Các đài kỹ thuật của Bộ Công an phát hiện có máy bay địch từ ngoài biển vào đất liền vùng giáp giới Ninh Bình - Thanh Hoá, rồi ngược lên Tây Bắc. Các trạm quan sát của khu và tỉnh cũng liền sau đó phát hiện tiếp: có hiện tượng máy bay quần ở toạ độ X và Y. Vậy các đơn vị quân đội, công an vũ trang, công an... và dân quân tự vệ trong vùng phải bám sát ngay và cấp tốc chuẩn bị lực lượng, phòng biệt kích gián điệp nhảy xuống. Trên đã ra lệnh cho chốt chặn tất cả các đường biên giới, tất cả các đường giao thông lớn, nhỏ từ tỉnh này qua các tỉnh bạn. Trên sẽ chi viện...
   
Nhưng chưa hết: sau đó vào hồi 03 giờ 48 phút, lại có một dân quân phi ngựa như bay từ bản Huổi Si của người Mông xuống. Chạm cổng đồn anh ta mới ghì cương. Con ngựa còn đang hăng chồm dựng đứng, múa hai chân trước lên hí vang lừng, còn anh thì hét: “Tàu bay! Có tàu bay địch! Trên núi cao, nhìn thấy rất rõ nó bay qua. Nó chớp đèn, chớp đèn!”. Đó là A Nàm anh đội trưởng dân quân dũng mãnh và sôi nổi trên vùng cao của Mường Sang mà ta đã biết...
   
Như vậy là cả đồn đã thức dậy và bắt tay ngay vào các việc tổ chức lực lượng để sẵn sàng xuất kích vây bắt địch ngay từ hai giờ sáng. Đồn trưởng Mão, đã lớn tuổi, lại ốm yếu luôn, sắp nghỉ mất sức, đang rên rẩm trên giường cũng đã phải tung chăn trỗi dậy cùng với Nết bàn bạc mọi việc.
   
Sự có mặt của Mẩu Tu đã khẳng định khá rõ: Biệt kích đã nhảy xuống vùng cao điểm 818 và 796. Hai điểm này ở kế liền, chỉ cách nhau một con suối chảy ra con sông nhỏ. Đó là sông Choóc chảy về hướng tây rồi đổ ra sông Đà. Thế là không còn hồ nghi gì nữa! Phải bắt tay vào hành động ngay! Nhưng quả thật, cả Mão, cả Nết cũng không khỏi có chút hồi hộp, bối rối, vì đây là lần đầu có chuyện này. Trước đây dẫu sao cũng chỉ là diễn tập. Thế mới biết: vào việc thực sự vẫn có biết bao cái rất khác, rất mới, chưa hề có kinh nghiệm cụ thể, nên khó tránh khỏi bỡ ngỡ và ít nhiều lúng túng. Không ai nói mạnh được! Không biết trên khu, trên Bộ có thế không.
   
Nết chạy như cờ lông công thu xếp mọi việc để có thể xuất quân sớm. Sự phân công giữa anh và Mão, cũng như kế hoạch huy động lực lượng đã được hai người thống nhất ý kiến hoàn toàn: Nết sẽ trực tiếp chỉ huy trung đội cơ động của đồn, huy động thêm một trung đội dân quân của mấy bản người Dao và người Thái ở đó. Như vậy, lực lượng tổng cộng lại có thể coi là một đại đội có vũ trang đầy đủ. Còn sau đó tỉnh và khu, thậm chí trên Bộ có kịp điều thêm quân tới chi viện như thế nào, sẽ tính sau, không thể chờ đợi. Phải đánh ngay bằng lực lượng tại chỗ, quyết không cho địch kịp trở tay! Mão do sức khoẻ kém, ở lại đồn có trách nhiệm đôn đốc công tác hậu cần và giữ chặt liên lạc với trên, từ tỉnh tới khu và trên Bộ...
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #25 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2017, 10:36:42 pm »

Sau khi hỏi lại cặn kẽ, biết chắc anh em đã đưa Mẩu Tu tới trạm xá để cấp cứu chu đáo, Nết chào đồn trưởng Mão rồi hạ lệnh hành quân, cổng đồn mở toang. Trung đội cơ động của đồn toàn lính trẻ măng, vừa Kinh vừa Thái, vừa Mông, Xá, Dao... nai nịt hết sức gọn gàng, vũ khí đầy đủ (chỉ tiếc không có chó nghiệp vụ như trên khu và trên Bộ) cùng rầm rập tiến ra, khí thế vô cùng hăm hở. Vừa tới ngã ba con đường đất chạy dọc thung lũng, Nết đã thấy trung đội dân quân Mường Sang chờ ở đó rồi. Phó chủ tịch kiêm xã đội phó Én hôm nay không mặc hoàn toàn theo y phục dân tộc mà thay chiếc váy lụa đen tha thướt mọi khi bằng một chiếc quần ka ki gọn gàng màu cỏ úa. Trong hàng ngũ dân quân cũng có cả Keng, anh chàng xấu trai nhưng lắm tài vẫn đang tiếp tục say đắm Én, nhưng chưa bao giờ được đáp lại.

Hai bên, công an vũ trang và dân quân cùng rộn rã, vui vẻ chào hỏi, rồi sáp nhập lại thành một đoàn đặt dưới sự chỉ huy chung của Nết. Trung đội trưởng trung đội cơ động của đồn, thiếu uý Rạng, người Xá có hỗn danh “Hũ chìm” vì uống rượu như uống nước lã, cùng với Én được Nết chỉ định vừa trực tiếp chỉ huy trung đội của mình vừa làm phó cho anh ở phân đội hỗn hợp.
   
Cả phân đội bắt đầu rầm rập chạy. Băng rừng. Vượt đèo. Qua suối... Chỉ sau hơn hai giờ đồng hồ đã trông thấy bản Nà Lang với mươi nóc nhà lèo tèo, rụm rọ ở một bìa rừng, cạnh một dòng suối nhỏ. Trước bản, một số cán bộ thôn bản đang đứng trao đổi ý kiến và chờ đón lực lượng của trên tới. Vừa hôm thấy bóng “quân ta”, mấy cán bộ thôn bản mừng quýnh, reo lên, ôm chầm lấy Nết và các chiến sĩ. Cùng vừa lúc ấy, ba bốn tiếng súng nổ vang ở xa, trên sườn cao điểm 818, quả núi có hình quả bầu, nên có tên gọi là núi Quả Bầu. Rồi liên tiếp mấy phát nữa. Tiếng nổ dội vang vọng, lăn rền từ sườn núi này qua sườn núi nọ.
   
Ông Lềnh trình bày rất nhanh cho bọn Nết, Én, Rạng biết: trong khi Mẩu Tu chạy về đồn báo, ông đã cho hai tổ dân quân sục ngay lên núi Quả Bầu. Địch đông thì bám sát, chờ đấy. Địch ít thì cứ đánh.

“Tiêu diệt hết! Tiêu diệt hết!”, ông trưởng bản cứ hăng hái nhấn đi nhấn lại mãi ý ấy. Nết phải vội đỡ lời ông:
   
- Không! Bố ơi, với gián điệp biệt kích không phải diệt mà bắt sống. Vâng, phải bắt sống để còn khai thác nhiều việc. Tiêu diệt gián điệp biệt kích có nghĩa là: gọi hàng, và bắt sống. Không phải giết chết bố ạ, trừ phi chúng ngoan cố chống cự đến cùng!
   
Ông Lềnh ngẩn ra:
   
- Vậy sao trên không dạy cho từ trước!
   
Nết cười:
   
- Quả thật cũng chưa có kinh nghiệm. Bố thông cảm. Những chuyện này còn mới mẻ quá. Tháng trước con về tỉnh họp được nghe nói: trên Bộ cũng mới bàn về vấn đề này.

Và không còn thì giờ để nói nhiều nữa, anh cùng Én, Rạng và ông Lềnh bàn ngay kế hoạch và việc triển khai lực lượng vây bắt. Có khác với ông Lềnh một chút, Nết nhận định: tiếng súng ấy chưa hẳn là đã gặp địch. Có thể anh em ta thấy có hiện tượng đáng nghi nào đó nên bắn uy hiếp. Nhưng bắn thế này vừa có lợi vừa có hại: lợi là báo được cho ta là đã thấy dấu vết địch, nhưng hại là cũng đồng thời báo cho địch biết là chúng đang bị truy đuổi, có thể làm cho chúng càng cảnh giác, càng chuồn mau, hoặc ẩn kỹ...
   
- Phải! Phải! - Ông Lềnh gật lấy gật để.
   
Không thể chuyện trò gì khác được nữa. Phải xốc lại ngay các lực lượng để kịp thời hành động. Trọng điểm là núi Quả Bầu. Hai tiểu đội công an vũ trang cộng hai tiểu đội dân quân của Én phụ trách hướng này, chia ra làm ba mũi nhanh chóng tiến lên bắt liên lạc với anh em dân quân trên đó, tiếp sức cùng lùng sục, đánh bắt địch. Mũi này do trung đội trưởng Rạng chỉ huy, có Én đi cùng. Hướng thứ yếu là ngọn 796 có tên núi Khỉ, tiểu đội công an vũ trang còn lại và một tiểu đội dân quân của Én được giao nhiệm vụ tiến lên đấy. Tiểu đội trưởng Mờng của công an vũ trang chỉ huy chung mũi này. Còn tất cả nam nữ dân quân của các bản lân cận kéo đến được tổ chức thành một vòng vây rộng đón lõng vòng ngoài, phòng địch tháo xuống chân núi, toả vào các thôn bản. Ban chỉ huy thống nhất tạm thời là Nết và ông Lềnh - Bí thư chi bộ xã. Sở chỉ huy tạm thời đặt trên con đường hươu chạy cắt ngang lưng chừng núi Quả Bầu...
   
Mọi việc tổ chức lực lượng và phổ biến kế hoạch được thực hiện rất nhanh chóng. Tình hình quá khẩn cấp, không thể nào tỉ mỉ được. Cũng chẳng hề có bản đồ chi tiết khu vực hẻo lánh này, Nết và cả ông Lềnh phải ngồi thụp xuống, dùng que vạch hết sức khái lược lên mặt đất để hướng dẫn cho các tiểu đội trưởng và chỉ huy các mũi...
   
- Tiến! tiến lên! - Khi mọi việc phổ biến kế hoạch và tổ chức lực lượng coi như tạm xong, ông Lềnh, con người còm nhom ấy lập tức hăng hái đứng dậy, vung cây súng kíp, hét to, y như một vị tướng bắt đầu xung trận. Rồi còng còng cái lưng, ông xăm xăm đi trước, trực tiếp dẫn đường. Tiếng súng kíp lại lác đác nổ. Lòng mọi người càng như sôi lên. Không biết anh em trên đó đã gặp địch, hay vẫn còn đang sục sạo và bắn thăm dò, bắn đe nẹt, thậm chí bắn để tự giữ vững tinh thần?   
   
Có lẽ chưa có cuộc săn và càn rừng nào lớn như thế này. Có tới hàng trăm tay súng, từ súng trận tới các loại hoả mai, súng kíp. Rồi sẽ còn đông gấp bội nữa khi quân cơ động từ Bộ, từ Khu, từ tỉnh kéo lên…

Lệnh cấm không được ồn ào, la hét. Cả hai cánh quân hỗn hợp cùng triển khai, mỗi cánh nhằm một cao điểm, khá mau lẹ. Cánh nào cũng chia làm ba mũi ở ba hướng, một hướng chính và hai hướng phụ bọc hai bên, hình thành thế bao vây.
   
Hướng chủ yếu do Rạng “hũ chìm” chỉ huy, bỏ các lối hươu chạy, cắt một đường gần như thẳng băng từ dưới lên đỉnh cho nhanh.
   
Đạp rừng, leo trèo một hồi, ngẩng lên đã thấy thấp thoáng qua tầng lá rậm những mảng trời sáng trắng. Và ngửi thấy cả mùi thuốc súng. Trung đội trưởng “hũ chìm” bèn ra lệnh không được cắt lá, chém cây nữa mà phải bí mật luồn lách qua tất cả các bụi rậm, chui qua, đu qua các cành cây lớn nhỏ hoặc gai góc, cản ngăn mà tiến lên. Rạng không khỏi hồi hộp và vui sướng. Chắc chắn, bọn anh đã tìm tới đúng chỗ bọn địch đang ẩn náu hoặc tập trung để sẵn sàng hành động. Niềm vui cũng như nỗi hồi hộp của anh vụt tăng vọt khi chợt nghe có tiếng người nói và cả tiếng cười. Ồ, chúng mày còn cười được nữa cơ à? Rạng bèn phất tay ra hiệu cho mấy tổ dân quân vòng rộng ra hai bên và nhanh chóng bọc lại. Riêng tiểu đội trưởng công an vũ trang Quách Nhung nắm tiểu đội của mình (thiếu một tổ đi với cánh của Én) tấn công thẳng vào khu vực rậm rạp phía trước, nơi vừa phát ra những tiếng người... Rút khẩu súng sáu, Rạng tiến lên cùng với Quách Nhung. Vừa lúc ấy anh nom khá rõ mấy chỏm đầu người lố nhố sau những đám cây rậm. Rạng, đã được Nết dặn rồi, không bắn ngay. Anh nép mình sau một thân cây sần sùi, bắc loa tay cất tiếng hô to:
   
- Hỡi lũ biệt kích! Bốn bề đã bị bao vây chặt! Hãy buông súng đầu hàng! Chống cự sẽ bị tiêu diệt!
   
Rạng vừa dứt lời, chưa thấy có tiếng đáp lại, thì roạt một cái, từ những đám lau sậy và cây dại phía trước, ba người mặc áo quần địa phương chạy ồ ra, miệng cười nhăn nhở. Rạng và tất cả anh em công an vũ trang còn đang trố mắt tròn xoe ngạc nhiên, thì đã nghe thấy bên cánh trái của dân quân có tiếng la to:
   
- Ơ, bọn thằng Pheo, thằng Khắc, thằng Đông!
   
Rạng và cả bọn Quách Nhung đứng ngẩn. Thì ra đây là một trong mấy tổ dân quân Nà Lang do ông Lềnh phái đi lùng và bám giặc từ lúc mới quá nửa đêm. Rạng vừa buồn cười vừa bực, quát to:
   
- Vậy làm gì mà rúc rích cả ở đấy, không tiếp tục đi truy lùng, hả?

Một anh dân quân vui vẻ, hồn nhiên:
   
- Ô, bao nhiêu là đồ! Có một cái thùng to, chúng nó ném xuống, bị vỡ. Thu xong, chúng em sẽ truy tìm mà.
   
Không nói không rằng, Rạng vẫy tay cho bọn Quách Nhung cùng tiến lên vượt qua bãi rậm. Quả nhiên, dưới mấy gốc cây to cùng những tảng đá lớn là một đống toàn đồ điện tử. Rạng sà xuống, nhặt bê từng cái lên coi. Hồi đầu năm đã được lên tỉnh tập huấn về việc này, Rạng nhận ra ngay hai bộ máy thu phát tín hiệu mới tinh của Mỹ cùng rất nhiều phụ tùng, ăng ten, dây nhợ và còn nhiều máy điện gì nữa, lạ hoắc, mà anh chưa một lần được thấy hoặc nghe nói tới. Rất may hai bộ máy thu phát còn nguyên vẹn. Nhưng bên cạnh đó còn thấy lăn lóc hai thanh gì bèn bẹt dài dài, bọc vải nhựa rất chắc. Lại nhặt lên, Rạng ngạc nhiên thấy cái nào cũng nham nhở như bị răng cắn. Anh quay lại hỏi anh dân quân:
   
- Sao có vết răng? Các cậu cắn hả?
   
Cả ba anh dân quân cùng cười:

- Chúng em cắn thử nhưng không được. Suýt gãy cả răng. Bánh gì của thằng Mỹ mà rắn đến thế!
   
Rạng trợn tròn hai con mắt ốc nhồi:
   
- Chết cha! Các cậu không biết đây là hai cục pin dự trữ dùng cho đài thu hả?
   
- Ô, chúng em cứ tưởng lương khô, hoặc bánh kẹo. Đang đói quá, suốt từ nửa đêm tới giờ chưa có gì vào bụng mà!
   
Mọi người được một mẻ cười rụng rốn. Nhưng Rạng bỗng trân trân ngó xuống cạnh đó: có mấy chai rượu Tây nằm lăn lóc. Chai vỡ, chai còn. Thế là mặt rạng rỡ, Rạng nhao ngay tới chụp luôn một chai còn nguyên, giơ cao lên cười hơ hơ cực kỳ khoan khoái:
   
- Tụi bay ngốc! Cái này mới dùng được! Ha! Ha! Hay quá! khá khen thằng Mỹ nào đóng thùng, còn tâm lý nhét thêm mấy chai sum sum này.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #26 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2017, 10:39:02 pm »

Mấy anh dân quân lại tiếp tục tranh nhau cắt dây điện cuộn lại từng búi và đập cả dàn ăngten để lấy nhôm về làm muỗng canh hoặc các thứ gia dụng khác. Trong lúc cảnh tượng đang nhốn nháo ấy, đồn phó Nết bỗng xuất hiện. Anh hét to:
   
- Cái gì thế này? Dừng cả lại!
   
Mọi người cùng quay lại, ngơ ngác. Nết đỏ mặt, tiếp tục quát:
   
- Ai cho các anh phá và lấy những thứ này?
   
Một anh dân quân lại hồn nhiên:
   
- Bố em đi bộ đội đánh Pháp trước đây bảo mỗi khi đánh đồn xong là được thu chiến lợi phẩm mà, cán bộ!
   
- Chiến lợi phẩm cái gì! Đây không phải chiến lợi phẩm! Tất cả mọi thứ của gián điệp biệt kích đều là tang vật. Phải thu hết về để cấp trên còn nghiên cứu và còn đưa ra toà làm chứng cớ xét tội bọn chúng chứ! Trên Bộ bảo thế!
   
Thế là ngẩn cả ra. Mấy anh dân quân tiu nghỉu ném xuống tất cả những gì vừa phá và thu được. Riêng Rạng, anh phớt lờ, coi như không hề có chuyện chai rượu, bụng thầm nghĩ: tang vật là cái quái gì kia chứ! Mà đáng gì cái chai sum sum vớ vẩn này. Nộp lên trên, tang vật chả thấy đâu, khéo các bố lại đem ra liên hoan với nhau hết cũng nên!
   
- Đồng chí Rạng: Cử một tổ canh giữ các tang vật. Còn lại tiếp tục tiến lên truy lùng mau! - Nết ra lệnh.
   
Thế là Rạng lại khoát tay cho cả dân quân và công an vũ trang cùng tiếp tục tiến lên phía trước.
   
Một lúc sau, anh em bỗng thấy có những vạt tranh vàng rực, loá to bản nhọn sắc như cả một rừng gươm tua tủa. Rạng hồi hộp cho dừng lại, triển khai đội hình chiến đấu. Anh biết: những bãi tranh thường là nơi địch thả người thả hàng. Một tổ công an vũ trang do tiểu đội trưởng Quách Nhung trực tiếp đi cùng được lệnh hết sức mau lẹ và bí mật tiến vào các bãi tranh lục soát. Nết vẫn đi cùng với Rạng ở mũi trọng điểm này. Một lúc sau, tổ sục sạo trở lại. Phò phạc, mặt mày anh nào cũng bị cỏ tranh cứa ngang cứa dọc, rớm máu. Anh em báo cáo: chỉ thấy nhiều chỗ tranh đã nhàu nát, có một số vết chân người, nhưng chỉ có một đoạn ngắn rồi mất. Chắc chắn bọn địch đã xoá hết dấu vết. Bây giờ không biết chúng chạy đi đâu...
   
Nết hết sức căng thẳng. Vừa mừng vì phát hiện được dấu vết địch, niềm vui đã sớm mất tiêu luôn. Tụi chúng còn trốn quanh quẩn đâu đây, hay đã chạy theo hướng tây ra phía sông Đà? Hoặc đã luồn sang hướng đông bắc, để ra đường 13, vượt sang khu sơn hệ thuộc huyện trên? Vẫy cả Quách Nhung lại cùng trao đổi ý kiến, nhưng Nết vẫn chưa thể xác định được hướng truy bắt. Mặt trời đã chói chang. Đồng hồ chỉ 13 giờ 25 phút.

 
*
 *     *
   
Trong khi ấy ở cánh trái, sườn đông nam nơi vừa đất vừa đá, có nhiều tảng lớn hoặc những vầng đá rất lớn xen nhau, tổ công an vũ trang của tiểu đội Quách Nhung phái sang cho Én do tổ trưởng Bùi Văn Phú phụ trách vẫn đang tiếp tục sục sạo cùng tiểu đội dân quân của Keng. Én, cô gái chỉ huy mọi khi coi mảnh dẻ vậy mà hôm nay tỏ ra dẻo dai không hề thua kém bất cứ nam thanh niên nào, kể cả lính công an vũ trang. Bùi Văn Phú phải thầm phục, mặc dầu anh là một thanh niên tuy gầy gò nhưng cũng rất nhanh và bền sức. Phú là người Kinh, quê tận Thái Bình. Nhà nghèo đói, cha mẹ anh phải lên vùng này vỡ đất, làm nương kiếm sống từ lâu.
   
Đang dẫn đầu cả tổ vạch lối tiến lên, Phú bỗng nhìn thấy phía tay phải, gần một gốc cây và một tảng đá lớn có những đám cây dại lúp xúp mọc quanh, nhiều đám lá như bị lật ngược cả lại, nom khá khác lạ. Anh dừng lại hội ý với Én. Vốn là người sinh ra và lớn lên từ rừng sâu núi thẳm, đã có biết bao kinh nghiệm và cả những linh giác đặc biệt của người miền núi, Én nhận ra ngay: có sự bất thường. Cô ra hiệu tuyệt đối im lặng và yêu cầu Phú cho ngay một chiến sĩ công an vũ trang tiến lên thám sát. Một gương mặt trẻ măng đẫm mồ hôi với hai con mắt bừng bừng vụt lao lên. Chỉ trong khoảnh khắc sau, anh lính trẻ quay lại:
   
- Báo cáo, không có người, nhưng còn nhiều dấu vết lạ: có một số hòn đất đỏ như mới đào nằm lẫn trong cỏ, mà cỏ lại có chỗ như mới trồng...
   
Không cần suy nghĩ gì thêm, Phú ra lệnh ngay:

- Tiến lên! Lục soát!
   
Thế là chỉ trong khoảnh khắc, trừ một tổ dân quân vẫn phải cảnh giác bố trí bảo vệ ở phía ngoài, còn tất cả chạy tới quanh gốc cây, vạch các đám lá cây lúp xúp, quan sát. Phú bỗng quay lại, nói với Én, giọng anh không khỏi hồi hộp:
   
- Chị ạ, có thể có vật chôn giấu dưới này.
   
Én cũng thấy những hiện tượng lạ và cũng có sự nghi hoặc y như vậy. Lập tức, Phú hô anh em lấy xẻng ra đào.
   
Chỉ mấy phút sau một cái hố dài không sâu lắm lộ ra cùng một xác người bọc trong một chiếc dù xám. Mở ra: chiếc đầu lâu đã vỡ, mặt mày tử thi đã nát hết, máu đã tím đen... Theo phản xạ bản năng, mọi người cùng lùi cả lại. Riêng Phú và Én gắng bình tĩnh cùng ngồi xuống, lật tử thi lên xem xét kỹ thêm: đúng là một tên biệt kích, không những đầu nó đã vỡ nát mà một tay cùng cả hai chân đều đã gãy, chiếc áo 16 túi rách như có ai xé toang làm nhiều mảnh còn mắc trên cái thân hình mà xương cốt đã gãy vụn. Chiếc áo đẫm máu. Nhưng không thấy có giấy tờ gì, vũ khí cũng bị đồng bọn lấy hết đem đi.   
Đứng dậy, Én và Phú lại trao đổi ý kiến và cùng đi tới quyết định rất nhanh: cho đắp điếm lại tử tế kẻ đột nhập, theo truyền thống từ tâm, quảng đức của người Việt Nam ta đã có từ ngàn đời nay. Rồi tiếp tục tiến. Chắc chắn kẻ địch không xa đây.
   
Việc phát hiện tử thi của một tên biệt kích dường như đã có một sự kích thích mới cho cả phân đội, nên dù đang đói mọi người vẫn hăng hái hẳn lên, bắt tay ngay vào việc chôn cất, đắp điếm cho tên biệt kích thành hẳn một nấm mồ hẳn hoi, đoạn tiếp tục cuộc truy bắt. Vừa đi được một quãng, một anh dân quân chợt reo lên:
   
- Ô thuốc lá! Thuốc lá!
   
Phú và Én cùng dừng lại. Đúng là mấy mảnh vỏ bao thuốc lá Mỹ. Có lẽ sau khi chôn vội đồng đội, tới lúc này tinh thần bị quá sốc, lũ biệt kích đã quên không chú ý tới việc xoá dấu vết cẩn thận được như trước nữa.
   
Tiến lên một quãng, lại thấy cả giấy kẹo xanh đỏ. Và cứ thế mọi người cùng hướng theo dấu vết của bọn địch, tụt dần xuống phía yên ngựa nơi tiếp giáp của hai ngọn Quả Bầu và núi Khỉ. Khoảng một giờ sau, tất cả đã ra tới cửa rừng. Một dòng suối tuy không sâu nhưng khá rộng hiện ra trong một khoảng trống còn đang rực nắng chiều. Bên kia suối, cách một bãi rộng toàn sỏi đá có điểm những nhóm cây dại lè tè, là những ngọn núi đá vôi chạy dài, khá cao, với nhiều đoạn vách dựng đứng như thành. Nhìn kỹ thấy trên một vách núi đá xám mốc với khá nhiều cây dại mọc xoà xuống, có một miệng hang hé lộ ra sau những hòn đá rất lớn chồng chất, ngổn ngang, như có cả một bầy voi lớn đang từ trong cửa hang ấy tràn ra, xuống suối tắm.
   
Cũng đúng lúc vừa phát hiện cửa hang ấy, Phú thoáng nhìn thấy hình như có bóng người. Én cũng đồng ý là có thể có địch. Nỗi hồi hộp càng tăng lên. Nhưng phải đánh bắt ra sao đây? Hai người còn đang bàn, thì Nết lại đột ngột từ mũi của Rạng, cắt rừng đi tới.
   
Đã gần mệt lử, mặt mũi hốc hác, nhưng thần sắc Nết vẫn còn khá tinh nhanh, nhất là nụ cười vẫn còn khá tươi, nụ cười mà Én từ lâu đã thầm mơ tưởng... Gặp lại Én, Nết cũng ngạc nhiên, trong vẻ mệt nhọc, áo quần xộc xệch, cô lại có một vẻ đẹp riêng, vẻ đẹp chiến đấu và lao động, rất hay. Nhưng hai người không thể trò chuyện gì khác ngoài công việc tác chiến hết sức cấp bách lúc này. Anh không đủ dù chỉ một phút để nói cho Én và mọi người biết rằng: khi mũi của Rạng mất dấu vết địch, trở nên rất lúng túng, anh vô cùng sốt ruột, rồi cũng kịp nhận ra: có nhiều khả năng địch không trốn theo hướng cũ nữa. Bởi vậy, anh đã quyết định cắt rừng chạy qua hướng này để xem tình hình thế nào.Thì may quá, vừa đúng lúc... Một kế hoạch được nhanh chóng vạch ra: Én phụ trách một bộ phận dân quân có hai chiến sĩ công an vũ trang làm nòng cốt vẫn bí mật ém ở cửa rừng này để kiềm chế và sẵn sàng tấn công địch ở chính diện. Còn Phú sẽ cùng một chiến sĩ công an vũ trang tìm đường vòng trái, bí mật tiếp cận cửa hang, quan sát địch xem thực hư ra sao. Cùng lúc, Keng cũng nắm một tổ gồm ba dân quân khoẻ và giỏi, vòng bên phải, có nhiệm vụ y như Phú. Ai thấy địch thì cầm khăn tay vẫy ra hiệu cho toàn thể ba mũi biết. Ở chính diện, Nết sẽ lập tức cho kêu gọi địch đầu hàng. Nếu chúng ngoan cố đánh trả đến cùng, thì cả ba mũi sẽ nhanh chóng cùng tấn công. Cố gắng bắt sống bằng hết.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #27 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2017, 10:41:41 pm »

Vượt qua được con suối khá rộng ở quãng trống quả là vô cùng khó khăn. Không cẩn thận, bọn địch (nếu có trong hang) sẽ tỉa ra không còn sót một người. Bởi vậy Phú đã cùng anh chiến sĩ phải vòng ra khá xa, tìm chỗ có nhiều bụi cây, nhiều đá tảng lổng chổng giữa dòng, rồi nhanh chóng vượt sang từng người một. Vượt được suối an toàn rồi, Phú vẫy anh chiến sĩ cùng chạy rất nhanh tới chân núi. Tới gần mới thấy quá dốc, quá hiểm trở. Không chậm trễ, Phú bám các rễ cây mọc ở vách đá, nghiến răng leo lên, tiếp cận cửa hang. Anh chiến sĩ đi cùng, theo gương Phú cũng cố lên dần từng nấc... Cả hai anh em đã thực hiện được gần như đủ mọi động tác đu dây, đi thăng bằng và cả bay người qua các tảng đá lớn tựa như những nghệ sĩ xiếc vẫn làm trong các rạp... Cuối cùng khi hai mắt đã hoa lên, Phú cũng bắt đầu nhòm xuống thấy được cửa hang. Mừng quá, mắt tự nhiên lại hết nảy đom đóm, Phú nhìn thấy rõ hơn một dẻo đất lẫn đá khá bằng phẳng ngay trước cửa hang. Phía trước dẻo đất đá ấy có một tảng đá lớn như một bức tường thiên nhiên vừa che đỡ vừa che khuất rất tuyệt vời. Có thể chỉ cần một tay súng giỏi và gan dạ bố trí ở đó cũng có thể chống lại cả một tiểu đoàn với vũ khí nhẹ, tấn công chính diện vào hang... Và còn mừng hơn nữa, Phú nom thấy hai tên biệt kích mặc đồ đen chạy ra chạy vào, hình như là hai tên canh gác. Nơi bọn Phú đang bám đá, giấu mình rất gần và cao hơn cửa hang. Phú tính: chỉ cần can đảm không sợ gãy chân, buông mình nhảy xuống là có thể trúng ngay dẻo đất khá bằng phẳng một cách bất ngờ...
   
Về phía Keng, anh em dân quân cũng đã phải thực hiện tất cả những gì mà tổ của Phú đã thực hiện. Nhưng còn khó hơn: có ba thì hai dân quân bị trẹo chân và kiệt sức phải nằm lại dưới chân núi, giấu mình trong các bụi cây. Chỉ còn Keng và một anh bí mật bám đá lên được tới gần cửa hang. Nơi đây, tuy có thể mở rộng tầm quan sát và dễ phát huy hoả lực nhưng lại xa cửa hang hơn bên Phú nhiều, nhất là địa điểm quá hiểm. Muốn sang chỗ Phú phải vòng xuống đi ngang qua cửa hang với tảng đá khổng lồ án ngữ kia. Nhưng dẫu sao lên được tới đây, nhất là phát hiện được địch, là sướng quá rồi. Keng rút khăn trong túi ra vẫy liền. Cũng may, lúc đó hai tên biệt kích lại chui vào hang làm gì đó, nên không biết.
   
Ở bên kia suối, phía chính diện, Én và Nết mừng quá. Lệnh kêu gọi được phát ra tức khắc. Một anh dân quân biết đủ cả mấy thứ tiếng: Thái, Mường, Mông được hướng dẫn sẵn, bắt đầu bắc loa tay lên dõng dạc:
   
- Bọn biệt kích hãy nghe đây: bốn bề đã bị bao vây chặt! Hãy mau mau ra hàng sẽ được tha tội chết! Chống cự sẽ bị tiêu diệt! Hãy ra hàng đi!
   
Từ trên cao, ở hai bên cửa hang, cả Phú, cả Keng đều thấy hai tên biệt kích vụt chạy ra. Chúng có vẻ hốt hoảng. Nhưng rồi chúng lại chui tụt vào hang.
   
Ở bên kia suối, Nết và Én tuy không quan sát thấy rõ địch, nhưng đã có tín hiệu của Keng báo, hai người tiếp tục cho kêu gọi:
   
- Hãy ra hàng mau! Hàng thì sống, chống thì chết!... Tiếng kêu gọi tiếp tục cất lên liên tục và mỗi lúc một thúc bách hơn. Hai tên biệt kích lại thì thụt xuất hiện. Nhưng chúng vẫn không bắn ra, mà chỉ quan sát rồi ghé đầu lại với nhau như nói những gì đó.
   
Phú chăm chú quan sát bên kia suối xem đã có hiệu lệnh tấn công chưa, và quan sát cả ở cửa hang xem bọn địch có phản ứng gì khác lạ. Chợt anh thấy hai tên biệt kích lại chạy ra, nhòm ngó nhiều lần cả hai bên cửa hang. Chúng có ý định bí mật tẩu thoát ư? Ý nghĩ ấy càng rõ hơn khi Phú thấy tên gầy gầy, cao cao từ trong hang khom mình dè dặt tiến ra, nhìn trước nhìn sau, rồi len lén bước quá ra khỏi dẻo đất đá ở cửa hang, nhằm một khe núi rất nhỏ chỉ một người lách mình đi lọt. Từ chỗ này chúng rất có thể thoát về phía sau để chạy lên đỉnh núi. Đến giây phút này, Phú quả quyết: hẳn là chúng muốn chuồn rồi!... Nhưng làm thế nào bây giờ?
   
Không có cách gì liên lạc, báo cáo về bên kia với Én và Nết để xin chỉ thị. Cũng chẳng làm sao hội ý để hiệp đồng với Keng ở bên kia cửa hang. Còn đang vắt óc ra, Phú đã thấy tên cao cao lại dè dặt bước ra dẻo đất nơi cửa hang. Một phản ứng rất nhanh chợt loé sáng, Phú dùng tay ra hiệu cho anh chiến sĩ đang bám đá ép mình bên cạnh... Anh chiến sĩ khá thông minh, gật đầu liền mấy cái. Anh ta hiểu Phú báo là: chỉ có hai tên. Không cần bắn, hai anh em có thể cùng nhảy xuống bắt sống... Đúng lúc đó tên địch cao cao lò dò ra giữa bãi đất đá trước cửa hang, sau tảng đá khổng lồ. Lập tức Phú vẫy tay một cái ra hiệu...
   
Buông mình từ trên cao, anh chiến sĩ ta nhảy bổ xuống, chụp đúng giữa cổ tên biệt kích, y như một con báo nhảy xuống chụp đúng cổ con mồi... Nó chỉ kịp ối một tiếng đã tắc nghẹn và bị quật ngã sấp. Hai tay bị kéo giật ngay ra sau lưng. Bằng một động tác cực kỳ nhanh và mãnh liệt anh chiến sĩ chồm lên đè hẳn lên lưng và khoá chặt lấy hai tay nó. Nhưng tiếc thay anh quên không mang bất cứ một đoạn dây nào trong người, còng số 8 lại càng không. Anh đành phải một tay khoá chặt tên biệt kích, tay kia với lấy cây tiểu liên sẵn sàng nhả đạn nếu tên kia trong hang xông ra.
   
Không phải chờ đợi. Nó đã ra. Nó giương súng rất nhanh về phía anh chiến sĩ. Nhưng còn nhanh hơn, Phú từ trên cao cũng buông mình xuống gần như cưỡi lên lưng nó. Cây súng của nó văng ra xa. Phú đè sấp nó xuống. Anh cũng toan bẻ quặt tay nó khóa lại như anh chiến sĩ vừa thực hiện. Nhưng tên thứ hai khá to con. Mặt to, tròn, ngăm ngăm đen, không những rất khỏe và có cả võ thuật, nó nghiến hàm răng to trắng nhởn như răng ngựa, gồng mình lên dùng một thế Judo lật úp Phú xuống. Phú võ thuật cũng khá, nhưng nhỏ con, và đã quá mệt mỏi. Anh không chống lại được thế quật của kẻ thù. Nhưng rồi nghiến răng lại, anh cố ra một đòn hiểm của võ Việt Nam lật ngược được thế trận... Thế là cuộc vật lộn diễn ra cực kỳ quyết liệt. Anh chiến sĩ ta ở bên cạnh vẫn cưỡi trên lưng tên biệt kích cao gầy, một tay đã nâng được khẩu AK lên, nhưng không dám xiết cò để yểm trợ cho Phú vì hai bên lăn lộn thế kia, súng nổ thì chưa biết đạn sẽ dính vào ai?
   
...Tên biệt kích vạm vỡ bất ngờ rút được con dao găm Mỹ sáng loáng cài ở bao da cột nơi bắp chân của nó. Lưỡi dao huơ lên sáng rợn... Anh chiến sĩ kinh hãi hét to: “Anh Phú, nó có dao!”. Rất kịp thời và cực kỳ nhanh mắt, Phú gỡ được một tay ra vươn lên nắm chặt lấy cổ tay cầm dao của kẻ địch. Nó trợn mắt, cố ấn lưỡi dao xuống. Phú dốc hết tàn lực để hất lên... Trong những giây phút vô cùng nguy kịch ấy có lúc lưỡi dao đã gần chấm tới cổ họng Phú, nhưng rồi lại bị hất lên và gần như bị bẻ ngược lại...
   
Ở phía bên kia hang, Keng đã nhìn thấy tất cả mọi chuyện diễn ra trước mắt. Nhưng không cách gì cứu đồng chí của mình được. Keng như điên lên.
   
Anh chạy sang phải, rồi chạy sang trái. Bất giác, anh đưa phát súng lên vai nheo mắt ngắm. Anh dân quân hoảng hồn la lên:

- Không! Không được bắn! Anh Keng! Lỡ bắn phải anh Phú thì sao? Nhưng, mặt đỏ rực, Keng quát lớn:
   
- Cứ để nó cho tao!
   
Và liền ngay đó, cây súng kíp thần diệu của anh thợ săn thiện xạ nổ oàng một phát... Khói toả ra. Phía nơi cửa hang, lưỡi dao găm Mỹ sáng loáng bay tung lên và tên biệt kích gào lên một tiếng, buông rời hai tay, lăn ra...
   
Cũng vào thời điểm này, quân chi viện ở trên đã tới, gồm: một đại đội công an vũ trang cơ động của tỉnh, một đại đội bộ đội của tỉnh đội và một trung đội công an vũ trang cơ động của huyện. Trên Bộ và Khu cũng đã cấp tốc phái cán bộ xuống cùng một phân đội cơ động đặc biệt tinh nhuệ. Nhưng vì quá xa, lực lượng này còn đang trên đường di chuyển.
   
Các cán bộ lãnh đạo địa phương cũng đã tới gồm ông Phó chủ tịch tỉnh đồng thời là Thường vụ Tỉnh uỷ, ông Tỉnh đội trưởng, ông Trưởng ty công an và ông Thường vụ huyện uỷ kiêm Chỉ huy trưởng công an vũ trang huyện. Tất cả đã bắt được liên lạc với ông Lềnh trên sườn 818. Theo chỉ thị của Thường vụ Tỉnh ủy và Ủy ban hành chính tỉnh: chính thức thành lập Ban chỉ huy cuộc truy bắt gián điệp biệt kích gồm những ông nói trên do ông Thường vụ Tỉnh ủy, Phó chủ tịch tỉnh làm trưởng ban. Ông Lềnh cùng với Nết và Én vẫn trong Ban chỉ huy nhưng chỉ là một cánh nằm trong đội hình chung.
   
Lực lượng mới tới đã nhanh chóng mở một vòng vây lớn rộng cả khu vực, đồng thời đưa lên tiếp sức cho tuyến trước của Nết và Én hai trung đội mạnh với ba con chó nghiệp vụ.
   
Trong lúc quân mới tới đang triển khai và Ban chỉ huy mới đang gấp rút thiết lập mạng giao thông, liên lạc với các cánh, thì trên gần yên ngựa, ngay bên bờ con suối lớn, cuộc hỏi cung cấp tốc tại chỗ đã bắt đầu. Nết cần có gấp những thông tin về địch để tiếp tục hành động.
   
Tên gián điệp biệt kích bị thương đã được băng bó nằm đó. Tên thứ hai tay bị trói chặt ngồi trên bãi cỏ, gần như quì trước mặt Nết và Én. Hai người mặt đằng đằng khí thế ngồi trên hai tảng đá. Chung quanh là một tổ chiến sĩ công an vũ trang tay lăm lăm súng.
   
- Muốn sống, hãy khai rõ và phải hoàn toàn khai đúng mọi sự thật. Tên mày là gì? bao nhiêu tuổi.

- Dạ, bẩm... bẩm... con là Hoàng Văn Lanh... con 27 tuổi ạ...
   
Khi tên gián điệp biệt kích mở miệng run rẩy đáp, Nết mới để ý thấy hai chiếc răng vàng của nó.
   
- Dân tộc nào? Cấp bậc, chức vụ và nhiệm vụ của mày trong toán?
   
- Bẩm, con người Mường, cấp bậc chuẩn uý. Con là nhân viên tình báo và phá hoại ạ. Bí số của con là G4 ạ.
   
- Còn thằng kia?
   
- Bẩm đó là thiếu úy Lò Văn Sính toán phó kiêm phụ tá mật mã an ninh.
   
- Thôi được, để nó đấy đã. Mày hãy tiếp tục trả lời: Toán của mày có bao nhiêu đứa nhảy xuống đêm qua?
   
- Bẩm, sáu ạ.

- Sáu? Vậy còn bốn đứa kia đâu?
   
- Bẩm, một người, anh G6, dù không mở, chết, chôn rồi. Còn năm...
   
- Vậy những đứa kia đâu?
   
- Bẩm, Toán trưởng Gl, trung uý Cầm Diêu và thượng sĩ Tráng A Páo nhân viên mật mã điện đài và thượng sĩ Lò Văn Chơm G5 nhân viên tình báo, phá hoại đi hướng khác ạ.
   
- Sao không cùng đi? Chúng nó đi hướng nào?
   
- Bẩm, xuống được bãi thả, thấy động sợ bị bao vây, tất cả đã phải vội vàng di chuyển về địa điểm tập kết. Nhưng đi được một lúc thấy đông quá dễ lộ, toán trưởng cho lệnh chia làm hai toán, đi làm hai đường, rồi cùng về địa điểm tập kết ạ.
   
- Vậy địa điểm tập kết ở đâu?

- Bẩm, các cố vấn Mỹ gọi địa điểm tập kết tức là nơi trung tâm ở Sài Gòn đã chỉ định từ trước trên bản đồ. Trung tâm bảo đó là nơi kín đáo và an toàn, có thể ở lâu để bắt tay vào mọi công việc, trách vụ của toán ạ... Còn nó ở đâu thì bẩm con... con chỉ được nói cho biết là cách bãi đáp khoảng dưới 10 dặm đường chim bay, theo hướng tây.
   
- Mày phải nói rõ hơn: toạ độ nào?
   -
 Bẩm con không được rõ ạ, con chỉ biết có thế thôi ạ.
   
- Mày nói láo! Mày định chỉ phun ra có thế, để rồi quanh co hả? Tội mày đáng chết, không tha được! Chúng tao không có phí thời gian! Các tay súng đâu!
   
Các chiến sĩ ta đáp ran; Tên răng vàng G4 giãy nảy người lên rồi phủ phục xuống, lạy như tế sao và ngay cả trong lúc hoảng hồn như thế này mồm miệng nó vẫn còn liến thoắng:
   
- Ôi, trăm ngàn lạy các ông, con đã khai thật, khai hết. Con xin các ông. Trăm ngàn lạy các ông. Con không ngu dại gì mà giấu giếm cho họ, để mua lấy cái chết. Con quá biết tội của con rồi. Con vô cùng hối hận. Con vô cùng sợ hãi. Con dập đầu xin các ông tha chết cho. Con biết tội con rồi...
   
Nết không khỏi cười thầm. Thằng giặc này quả là lắm mồm miệng và khá “cáo”. Chưa lên án, chưa vạch tội bọn nó, vậy mà nó đã nhận lấy nhận để. Anh quay lại ra lệnh:
   
- Các đồng chí hãy hỏi thằng kia xem sao. Toạ độ nơi tập kết của chúng nó phải tới là ở đâu?
   
- Báo cáo thằng này đang còn mê man, một viên đạn ghém nhỏ vào sọ nó chưa lấy ra được.
   
- Vậy thằng G4, phải khai rõ! Mày đã nói là biết tội, vậy hãy khai thật, khai hết. Đấy chính là mày tự cứu mày, chứ không có ai cứu mày được. Nếu không, chúng tao sẽ nổ súng và hất xác mày xuống suối liền.
   
- Trời ơi, con đã thưa là con đã trình báo hết. Con trăm ngàn lạy các ông hãy thương con...
   
- Thôi được, mày hãy nhắc lại: thằng toán trưởng đi theo hướng nào, và cố nhớ nó có nói gì thêm không?

- Dạ, bẩm, bẩm, vậy thì con có nhớ.Dạ có nhớ là: toán trưởng có bảo bọn cùng đi với toán trưởng là phải vượt nhanh qua ngọn 796, để có thể xuống con sông gì đó con không nhớ rõ tên ạ. Rồi qua sông, tới nam đường 13...
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #28 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2017, 10:43:18 pm »

Nết đứng bật ngay dậy. Mừng còn hơn bắt được của, anh ra lệnh đưa tên tù binh lui ra chỗ khác, cho nó suy nghĩ để khai báo thêm. Rồi anh nói nhanh với Én:
   
- Bây giờ thế này: cô ở lại đây cùng tiểu đội của Keng, với nửa tiểu đội của Quách Nhung canh giữ tù binh, bắt liên lạc với phía sau, đồng thời cho cáng tên tù binh bị thương xuống núi cấp cứu. Tiếp tục chốt chặn, lùng sục chỗ này. Còn tôi sẽ cùng nửa tiểu đội của Quách Nhung, tạt sang kia lấy thêm quân của Rạng, chuyển qua núi Khỉ bắt liên lạc, tăng cường cho tiểu đội của Mờng cùng tiểu đội dân quân ở bên đó, quyết truy tìm bằng được bọn còn lại, nhất là tên toán trưởng. Ít ra là chúng ta cũng có phương hướng rồi! Tôi tin là thằng biệt kích nhát gan và hoàn toàn là một tên ngụy mạt hạng này chẳng có tý nhân cách và lý tưởng gì hết, nó không dám khai láo.
   
Khỏi phải bàn bạc gì thêm, Én nhất trí ngay. Nhưng chiều đã muộn rồi. Rừng núi như tắm trong hoàng hôn đỏ rực. Một ngày cực kỳ vất vả và căng thẳng đã qua đi. Lúc này quân các loại từ dưới chân núi mới kéo đến đủ, đầy rừng, đầy núi. Hoàng hôn càng cháy đỏ. Cảnh tượng thật dữ dội. Như một chiến trường đẫm máu và như cả một thế giới hồng hoang kỳ dị...

*
*     *
   
- Trình trung úy toán trưởng, đã tới giờ lên phiên theo hẹn của trung tâm.
   
Cầm Diêu, lật tay áo xem đồng hồ: đã 07 giờ 30 sáng. Mặt trời ban mai từ trên cao dội toả xuống, xuyên qua những tán lá thành muôn ngàn giẻ quạt lung linh bảy sắc cầu vồng. Y gật đầu, ra lệnh:
   
- Dừng lại!
   
Tuy nhiên, nhiệm vụ phải nhắc vậy, nhưng trong bụng tên Tráng A Páo nhân viên báo vụ và cơ yếu lại lo, không muốn thực hiện. Nó ngập ngừng:
   
- Nhưng… chỗ này... trình trung uý...

- Không sao!
   
- Trình trung uý, nhưng tụi nó vẫn đang đuổi gấp...
   
- Tao cho tụi nó lạc hướng hết rồi. Thôi lẹ lên. Lên máy mau!
   
Trong lúc tên G5 Lò Văn Chơm bắt đầu leo lên một cây cao để buộc ăng ten, và G3 Tráng A Páo bắt đầu mở túi vải, lấy ra bộ điện đài cực kỳ tối tân và gọn nhẹ, Cầm Diêu tranh thủ ngồi xuống đám cỏ rối, mồi một điếu thuốc, rít từng hơi dài. Đêm qua thật kinh hoàng, còn kinh hoàng hơn cả đêm nhảy. Cả một ngày bị truy đuổi. Đối phương mỗi lúc một đông hơn. Họ vây bọc khắp bốn bề. Tiếng súng chốc chốc lại vang lên xa gần. Gần xế chiều còn nghe xa xa có cả tiếng chó sủa, Cầm Diêu nhận ra ngay tiếng chó Béc giê. Nhưng rụng tim nhất là hai lần đối phương đã lùng sục tới gần ngay chỗ bọn chúng đang ẩn nấp. Nghe rõ cả tiếng người lao xao, cả tiếng Kinh, tiếng Thái và tiếng Mường, tiếng Mông nữa. “Chúng nó chỉ ở quanh đây thôi”, “Quái bọn khốn kiếp này đã lẩn đi đâu mất! Chẳng còn thấy dấu vết gì nữa!”... Nhiều lúc đã tưởng là tiêu rồi, chỉ còn biết nắm chặt lấy cây súng, đợi giây phút cuối cùng sẽ tự cho một phát đạn vào đầu mình. Nhưng rồi, thần linh phù hộ sao đó, những toán lùng sục lại bỏ đi, xa hơn, sang một hướng khác... Dẫu sao thế là đã trải qua hai đêm và một ngày “địa ngục”, bây giờ toàn thân y ê ẩm, đầu óc như xơ cứng và trống hoác cả ra. Ngửa cổ, y ném vào mồm gần như cả một nắm thuốc kích thích thần kinh và tăng lực đặc biệt mà Mỹ đang dùng cho các nhà du hành vũ trụ chuẩn bị bay lên quỹ đạo như bên Nga Xô...
   
Bất ngờ, từ những đám cây rậm phía sau vang lên tiếng thét:
   
- Tất cả giơ tay lên! Đứng im! Động đậy, chúng tao sẽ quét sạch!
   
Cầm Diêu tái người, y ngoái cổ lại đã thấy ba người mặc quân phục màu xanh, quân hàm cũng xanh. Họ kẹp AK xông tới. Hai tên Tráng A Páo và Lò Văn Chơm chỉ kịp ú ớ mấy tiếng rồi như hai cái máy giơ cao hai tay, từ từ run rẩy đứng lên. Ba người lính lập tức áp sát, để tước vũ khí và bắt trói. Một người chạy tới trước mặt Cầm Diêu. Đó chính là một anh lính còn rất trẻ, má như còn phủ một lớp lông tơ. Anh ta vừa áp tới, nhưng chưa kịp làm gì. Cầm Diêu hai tay còn đang giơ cao, đã bất ngờ tung chân đá trúng hai tay cầm AK của người lính. Rồi như một ánh chớp, nó lao người chạy biến ngay vào những đám cây rậm phía trước. Anh chiến sĩ trẻ chỉ còn biết la lên một tiếng rồi chụp vội lấy cây súng dưới đất, đứng lên nổ theo mấy phát liền...
   
Nhưng Cầm Diêu đã biến mất. Cũng vừa lúc đó một người khá vạm vỡ tay cầm AK từ phía sau chạy xốc tới.
   
- Ôi anh Mờng! Anh Mờng ơi! Nó... Nó chạy mất rồi! Kia kìa! Hướng trước mặt.
   
Anh lính trẻ rối rít gọi, trong lúc đó, hai bạn anh vì phải thu súng, thu máy và bắt trói hai tên điện đài, đã không kịp ứng cứu đồng đội mình trong giây phút hiểm nghèo hết sức bất ngờ ấy.
   
- Để nó cho tao! - Mờng gầm lên. Như một con gấu, anh lao thẳng về phía trước với tất cả sức mạnh và sự giận dữ ngút lửa.
   
Ngước mắt nhìn địa hình phía trước với kinh nghiệm từ những năm tiễu phỉ, Mờng biết tên địch không chạy thẳng ngược lên đỉnh vì sẽ rất chậm. Chắc chắn nó phải theo sườn núi để xuống con sông rất gần. Đã nghe thấy tiếng những ngọn thác nhỏ bên sông réo ào ào. Mờng quyết định chạy chéo sang hướng đó. Chưa lúc nào Mờng lại cảm thấy mình nhanh, mạnh như lúc này, mặc dầu anh cũng đã trải qua hai đêm một ngày lùng sục vô cùng mệt nhọc. Nhảy ra những mô đá lớn nhỏ, xé bụi, luồn cây... cuối cùng anh đã nom thấy tên địch đang cong người chạy phía trước.
   
- Đứng lại! Đứng lại! Nếu không, tao bắn!
   
Nhiều lần Mờng đã gào lên như vậy, tưởng chừng đứt họng. Tên địch vẫn cắm đầu chạy. Khoảng cách giữa hai người dần dần được rút ngắn lại. Một trăm mét. Rồi tám mươi mét. Rồi năm mươi mét... Tên địch đang chạy đột nhiên quay lại vẫy mấy phát súng sáu. Nhưng may thay cho Mờng, nó bắn ngược lại và bắn trong trạng thái tinh thần như thế, đạn đều trượt hết. Nó tiếp tục vừa chạy vừa bắn một lần nữa. Cũng vẫn trượt sạch. Điên lên rồi, Mờng toan nâng tiểu lên lia cho nó một nhịp. Phải, chỉ cần một nhịp thôi! Nhưng lại tiếc, đã đuổi tới đây mà không bắt sống được nó cũng uổng! Vả lại, kìa, nó chẳng bắn trở lại được nữa. Ha ha! Hết đạn rồi, con ơi! Anh nghiến răng lại, cố dấn thêm và tiếp tục gào lên:
   
- Đứng lại, nếu không tao sẽ tiêu diệt mày! Tiêu diệt mày...

Ở phía trước, Cầm Diêu vẫn dốc sức chạy không còn biết trời đất gì nữa, không còn kịp nghĩ, hoặc toan tính được bất cứ điều gì khác ngoài việc: chạy và chạy. Bỗng nhiên y khựng lại. Trước mặt y là một vách núi dựng đứng. Bên dưới, sâu chừng sáu, bảy mét, là một vực nước khá to của một con suối nào đó hẳn chảy ra sông Chooc. Bàng hoàng. Mạt lộ rồi sao, hỡi thần rừng, thần núi thiêng liêng!...Nó muốn gào lên. Nhưng rồi ngoái lại thấy Mờng chỉ còn mươi bước nữa là chụp được nó. Không kịp nghĩ gì thêm, Cầm Diêu tung mình nhảy như cắm xuống vực sâu. Đến lượt Mờng khựng lại và mở mắt nhìn trân trân. Nhưng rồi, rất nhanh anh cũng lao theo tên địch. Từ dưới nước sâu lạnh giá, Mờng vuốt mặt ngoi lên, tay phải vẫn giữ chặt cây AK. Lập tức, sải mấy sải rồi Mờng cũng nhảy vọt được lên bờ. Bây giờ thì anh không phải còn ở phía sau nó nữa, mà đã đối diện với kẻ thù của mình...
   
... Phía sau, các chiến sĩ ta cũng vừa lúc vượt được qua suối, rầm rập chạy tới, cả Nết, cả Rạng.
   
Cầm Diêu vẫn đứng đó, cúi gục đầu, tóc rũ gần kín mặt. Một hiệu lệnh được phát ra. Một anh chiến sĩ tiến lại rất nhanh:
   
- Tay! - Tiếng quát đanh như tiếng búa nện xuống đe.

Như một cái xác không hồn, Cầm Diêu nhắm mắt. Nó biết chẳng còn có phép thần gì có thể chống lại. Một chiếc còng số 8 nhanh chóng rập xuống nghe cái roạt...
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #29 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2017, 10:44:36 pm »

7

Căn phòng khá sáng sủa, phía trước là những vườn rau rất tươi xanh. Nếu không có những bức tường cao bao quanh và bốn chòi canh bốn góc có lính canh ở trên, khó ai có thể nghĩ đây là một trại giam. Nhưng đây chính là trại giam Thanh Đồng, một trại giam nhỏ ở gần ngay Hà Nội.
   
Trong phòng, như ba hôm nay, Cầm Diêu lại ra ngồi đó, trên một chiếc ghế đẩu. Hai tay y không còn bị xích nữa, bộ áo quần biệt kích đã được thay bằng một bộ đồ tù màu xám. Phía trước mặt y là một chiếc bàn mộc đơn sơ, trên chỉ có một quyển sổ tay và một chiếc bút bi. Sau chiếc bàn ấy là một chiếc ghế tựa cũng đã cũ kỹ cho người cán bộ hỏi cung ngồi. Nhưng anh không ngồi, mà đang đi đi lại lại quanh chiếc bàn. Gương mặt còn khá trẻ và sáng sủa của anh đầy vẻ suy nghĩ: Đó là Nguyễn Nguyên An.

- ... Anh đã nghĩ kỹ rồi chứ và có thể trả lời trong hôm nay? Mấy hôm rồi anh đã cung khai một số điều và thừa nhận anh có tội, mà là tội nặng, như thế coi như tạm được. Nhưng điều quan trọng hơn là anh còn phải làm gì cụ thể để chuộc lại những tội lỗi ấy, để nhận được sự khoan hồng. Nói thật cho anh biết: muốn giết anh không có gì khó! Quá dễ! Tuy nhiên, đã nói rồi: vì nhân đạo đối với một con người dù người đó đầy mình tội lỗi, chúng tôi vẫn muốn dành cho anh sự sám hối bằng những hành động thực tế. Nói như người ta vẫn nói: chính anh phải tự cứu lấy anh, chứ không ai khác. Chắc anh cũng hiểu được như thế! Vậy thế nào, sáng nay anh đã nghĩ được gì và muốn nói gì không?
   
Cầm Diêu vẫn không nhúc nhích. Y luôn luôn cúi gằm như để tránh đôi mắt của An. Từ hai hôm nay, những tên khác trong toán vẫn bị tạm giam giữ trên vùng rừng để các nhà chức trách địa phương tiếp tục hỏi cung, riêng Diêu và Páo được đưa ngay về Hà Nội và giam ở trại này. Đã có ba ông liên tục tới hỏi cung. Một ông tầm thước, nói năng rất ít nhưng hết sức sắc sảo (ông Công Năng). Một ông có vẻ hiền hoà, nhưng cũng không kém phần sâu sắc (ông Thạc). Ông thứ ba có vẻ nóng tính nhưng có vẻ hết sức già dặn. Sau ba ông nọ, đến người cán bộ trẻ tuổi này. Anh ta tỏ ra rất thông minh nhưng cũng không thật kiên nhẫn cho lắm thì phải...

Không rõ thằng Páo (bị giam cách ly tuyệt đối ở một phòng khác), đã khai báo những gì. Riêng hắn - Cầm Diêu đã phải khai, khó mà quanh co quá, khó mà nói dối được mặc dầu họ không hề tra tấn, thậm chí một dụng cụ tra tấn bé nhỏ nhất cũng không nhìn thấy. Tất cả các cuộc hỏi cung đều thực hiện trong căn phòng nhỏ này, chẳng có khác gì mọi phòng khách bình thường của các gia đình bình thường... Sức mạnh của họ chỉ là ở những câu hỏi vừa đầy trí tuệ sắc sảo, vừa có cả sự thẳng thắn và toát lên khá rõ một tinh thần sẵn sàng độ lượng... Và cũng hiển nhiên: hắn phải khai còn vì sợ chết. Thật vậy, hắn chẳng phải một siêu nhân. Hắn còn muốn sống... Nếu buộc phải chết, đời y thôi coi như cũng xong. Nhưng còn Nhạn?... Phải! Còn Nhạn. Thiếu hắn, Nhạn sẽ sống làm sao nổi giữa cái xứ sở mà không có tiền hoặc ít tiền thì chỉ có chết hoặc sa xuống đáy cùng của mọi thống khổ. Hắn đã biết khá rõ qua 6 năm bỏ Bắc vào Nam...
   
Và thế là hắn đã khai. Khai từ “ông Tung” với cái gọi là “Sở liên lạc Phủ Tổng thống” tới ông Lân với cái gọi là “P54” rồi “ông Raphter” tới “ông Tom và ông Andrew rồi”. Liên đội quan sát I, rồi cả cái sư đoàn 22, khai cả những gì mà hắn dù chỉ được nghe nói qua loa, hoặc biết lỗ mỗ về tổ chức và công việc của CIA ở Sài Gòn, cùng tổ chức tình báo mật vụ của gia đình Diệm - Nhu... Khá nhiều điều, nhiều chuyện bí mật. Nhưng nghĩ cho cùng: bí mật quái gì của hắn mà hắn phải giữ để rồi sẽ mất cái mạng của chính mình. Thật vậy, toàn chuyện triều đình, toàn chuyện thiên hạ, họ có thua, có thiệt đến mấy cũng chẳng ảnh hưởng gì đến hắn. Còn như họ thắng, họ sướng như tiên thì cái thân phận hắn cũng chỉ là thằng trung uý quèn, thằng toán trưởng biệt kích lương dù có khá chút đỉnh, nhưng cái mạng lại dễ mất như chơi. Hoá ra cái mạng y quá rẻ! - Cầm Diêu nghĩ vậy và khai hết, không khó khăn gì. Y khai còn có ý làm một cuộc trao đổi: y cung cấp những bí mật của Mỹ - Diệm, còn bên phía Cộng sản thì tha thứ xoá tội cho hắn. Thế là sòng phẳng. Nhưng “họ” vẫn cứ gặng: Khai tốt, nhưng chưa đủ để chuộc tội hoàn toàn. Còn cần phải làm những gì cụ thể nữa? Không đến nỗi ngu đần, Cầm Diêu thầm hiểu những người cộng sản này còn muốn nhắn phải cộng tác làm việc. Nhưng cộng tác với “họ” để quật lại Mỹ và Diệm, thì hắn không thể... chẳng phải y sợ mang tiếng phản bội lại những lực lượng mà hắn đang phục vụ, nói cách khác: đang “thờ” để ăn lương sinh sống. Không! Không ngại chuyện đó. Nếu bảo là phản thì khai cung thế cũng là phản rồi. Vả lại phản ai chứ, phản Mỹ - Diệm cũng là thường. Không ít tướng tá đã từng chống lại Mỹ và Diệm âm thầm hoặc công khai, mà có ai chửi họ là đồ cục cứt, đồ chó lợn đâu! Thậm chí nhiều người lại ca tụng họ là thức thời là chân chính! Không! Y không quan tâm tới chuyện ấy. Chuyện hoàn toàn khác mà chỉ có y mới hiểu nổi: mối thù Cộng sản giết mẹ giết em chưa trả được, lại đem thân đi phục vụ cho chính kẻ đã gây nên thù này, thì quả là hèn, là nhục, là khốn nạn quá... Vậy đó! Có lẽ y chỉ còn con đường là nhận lấy cái chết, chết thì hồn ma của mẹ của em y mới không oán hận... Đầu y ba hôm nay như đã nứt, đã vỡ cả ra.
   
...An vẫn đi đi lại lại quanh chiếc bàn. Anh cũng đang nhức đầu, nhức óc. Sức ép đối với anh thật quá nặng: một bên là tên toán trưởng gián điệp biệt kích vẫn cứ trước sau chỉ ngồi lì không chịu tiến thêm bước nào nữa. Một bên là thời gian để thực hiện ý đồ của Bộ không còn nhiều lắm. Ngay từ khi có điện từ Sơn La khẩn cấp báo cáo đã bắt bọn Goblin (trừ một tên chết vì dù không mở) Bộ đã khẳng định đây là toán gián điệp biệt kích đầu tiên của địch đánh ra Bắc. Đây là một vụ việc thực sự nghiêm trọng. Nó báo hiệu và mở đầu cho một cuộc chiến tranh mới chống phá ta: cuộc chiến tranh gọi là “đặc biệt” của Mỹ. Nay bước đầu thắng lợi như thế này, Bộ trưởng cùng các “tham mưu” của ông đã sơ bộ quyết định dùng bọn này sau khi đã giác ngộ, cảm hoá được, để “chơi trò nghiệp vụ” với Mỹ. Có nghĩa là sẽ “dùng nó đánh nó”, hoặc theo các câu ngạn ngữ dân gian của ta là: “tương tế tựu kế”, và “gậy ông lại đập lưng ông”. Qua kinh nghiệm, qua tham khảo và đã học tập ở nước bạn, cho tới nay ta cũng đã vỡ vạc được ra ít nhiều về công tác phản gián: đã gọi là phản gián thì không chỉ có chống đỡ, mà còn phải biết tích cực, bí mật đánh lại địch, giành lấy chủ động.

...Trong chiến tranh chống Pháp ta đã có một lần thử chơi “trò” này để đánh lại bọn Pháp, ở vùng Đồng Mỏ - Lạng Sơn. Nhưng vì khi ấy hoàn toàn chưa có một chút kinh nghiệm nào, lại chưa có cả phương tiện kỹ thuật tối thiểu cần thiết, nên đã thất bại. Lừa gọi địch lên để bắt, nhưng lộ. Chính nó lại “tương kế tựu kế” chẳng cho máy bay lên thả vũ khí, khí tài mà dội cho một trận bom tơi bời. Bây giờ sẽ phải làm khác và làm tốt hơn... Bây giờ đã “khôn lớn” hơn, Bộ dám cho chơi lại “trò chơi nghiệp vụ” ấy với Mỹ - vốn đã nổi tiếng không những về khoa học điện tử, mà còn nổi tiếng về bộ máy tình báo gián điệp ghê gớm: CIA.
   
Ta đã biết ít nhiều: muốn “chơi trò nghiệp vụ” qua các toán gián điệp biệt kích phải nắm được, giác ngộ được hai nhân vật chủ chốt không thể thiếu một: đó là toán trưởng và nhân viên điện đài. Chính vì thế ngay hôm bắt được bọn chúng, ta đã đưa ngay Cầm Diêu cùng Tráng A Páo về gần Hà Nội để dễ tiếp xúc...
   
Kết quả cũng khả quan: chỉ sau hai ngày trò chuyện cặn kẽ, Tráng A Páo không những đã cung khai hết mọi chi tiết mà còn theo gợi ý của ta hứa sẽ tự nguyện viết đơn xin cộng tác làm việc để lấy công chuộc tội. Có thể thấy rõ: Páo là một thanh niên miền núi chưa hoàn toàn bị tha hóa. Hắn vẫn còn phần nào cái chất thuần phác, hồn nhiên. Là một tên lính đánh thuê, hắn chẳng có một ý thức chính trị gì, chỉ biết có tiền. Vì chuyên làm VTĐ nên hắn quan niệm cái việc đi lính của hắn cũng tựa như đi làm thợ, làm thuê cho người này người kia vậy thôi. Ai thuê làm thì làm, chẳng biết và cũng chẳng quan tâm phân biệt gì hết!...
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM