VĨ THANH
Mùa hè, năm 1996. Hoa phượng đã đỏ rực khắp trời Hà Nội. Hàng trăm ngàn chiếc xe gắn máy nổ ran chạy trên mọi đường phố lớn nhỏ. Thủ đô nay đã trở nên náo nhiệt, sầm uất khác hẳn với Hà Nội xưa - Hà Nội lặng lẽ nền nếp nhưng nghèo khổ, quê mùa thời bom đạn.
Trong một bệnh viện khá lớn với cơ sở vật chất và phương tiện khá hiện đại ở ngoại ô thành phố, ông Trường đang nằm thiu thiu ngủ trên giường bệnh. Theo thường lệ, vợ con và các cháu ông đều thăm nom ông vào các buổi chiều. Vì thế các buổi sáng, sau khi “làm thuốc”, ông chỉ nằm nghỉ ngơi hoặc đọc sách báo. Năm nay ông 75 tuổi, nhưng mái tóc đã bạc như cước, và khuôn mặt bợt bạt, hai má tóp sâu, răng đã rụng gần hết... Nom ông chẳng khác một cụ già trên 80. Không phải chỉ có một bệnh cố hữu thâm niên là bệnh đường ruột, mà ông còn đủ thứ bệnh khác: nào tim, nào não, nào phổi, nào tuỵ... thậm chí cả những bệnh như nấm mốc, ngứa lở ở ngoài da nhưng chữa mãi vẫn không dứt. Năm nào ông cũng phải vào viện này một hoặc vài tháng. Người ta đều biết đó là hậu quả do nhiều năm sống nơi rừng thiêng, nước độc thời chống Mỹ của ông.
Sáng nay ông đang thiu thiu ngủ sau khi uống thuốc và tiêm thì chợt tỉnh dậy. Hé mắt nhìn, ông thấy một người chạc ba mươi, ba mươi mốt mặc thường phục đang ngồi đọc báo trên chiếc ghế nơi đầu giường. Ông đã nhận ra ai. Nhếch miệng cười, nụ cười móm mém, ông vui vẻ hỏi:
- Thằng Tâm đấy hả?
- Ô, bác đã dậy - người trẻ tuổi có tên Tâm vội đặt tờ báo xuống, mừng rỡ. Thưa bác cháu mới về tối qua, hỏi thì được biết bác lại vào viện...
- Ừ, nửa tháng rồi. Chán quá. Buồn quá, chỉ muốn về...
- Ấy, bác ơi, bác cần cố gắng ở lại cho... tốt đã, bác! (Anh không dám dùng tiếng khỏi vì đã quá biết bệnh trạng của ông già từ nhiều năm nay) - Bác ơi, cháu vừa từ chỗ làm việc với bọn MIA ở Quảng Bình tranh thủ vào Sài Gòn. Định đón mẹ cháu ở chỗ anh Toàn về ngoài này, vì mẹ cháu đi cũng đã ba tháng rồi. Nhưng mẹ cháu bảo con anh ấy chưa thật khỏe hẳn, nên còn muốn ở lại trông nom thêm, giúp anh chị ấy ít ngày nữa... Mẹ cháu có gửi biếu bác mấy ký xoài...
Miệng nói, Tâm cúi xuống kéo chiếc bị cói đặt ở chân ghế, lấy ra một túi xoài khá lớn đặt lên chiếc bàn sắt nhỏ ở đầu giường. Chợt anh nhìn thấy hai bức ảnh đặt trên một cuốn sách. Một tấm là ảnh ông Thạc, ông này đã mất vì bạo bệnh năm ngoái. Ông này thì Tâm quá biết. Nhưng bức thứ hai thì lạ: ảnh chụp một ông mặc sắc phục Công an vũ trang cùng một bà, hẳn là vợ, mặc sắc phục dân tộc Thái. Cả hai người đều khoảng trên 60 tuổi nom rất đẹp lão.
- Ai đấy bác?
Ông Trường vui vẻ:
- À, chú Đinh Văn Nết và cô Lò Thị Én. Họ vừa gửi về tặng tao. Hai người này cũng rất biết bố cháu ngày trước. Cái chú này lạ lắm! Trước làm đồn trưởng trên đó, yêu cô này. Bà mẹ dưới xuôi không bằng lòng. Bà chỉ muốn có con dâu tại làng cho gần, hơn nữa, bà cụ nghe nói cô Én có “liên quan” nên càng phản đối. Nói sao cũng không được, cuối cùng chiều mẹ, chú này về lấy một cô “đặc” bần cố nông, đúng “thành phần cơ bản”, mới biết đọc biết viết, nhưng làm lụng thì hết ý. Có điều quan trọng nhất là chú ta lại không yêu. Cứ mặc cho vợ hầu hạ mẹ, chú ta chẳng mấy khi về. Hưu rồi, bà cụ mất, chú ta ở lại luôn trên ấy với cô Én này chẳng cưới xin, cũng chẳng giá thú gì hết... Thế có gớm không! Chuyện này còn đang phức tạp... Nhưng mà thôi, dẹp chuyện ấy lại. Bây giờ tao hỏi nhà thằng Toàn dạo này ra sao?
- Dạ! Thưa bác, vợ chồng anh ấy vẫn bình thường. Anh ấy vẫn công tác ở Bộ Tham mưu Quân khu 7. Còn chị ấy từ khi được chuyển vào theo chồng, dạy học ở Trường sư phạm nhạc hoạ thành phố. Hai cháu, đứa lớn năm nay vừa học lớp một, còn đứa bé bị lên sởi nên mẹ cháu mới phải vào trông hộ... Anh chị Toàn cứ muốn giữ mẹ cháu ở hẳn trong ấy với anh chị ấy. Nhưng mẹ cháu bảo đã tìm và đưa được hài cốt của bố chúng cháu ra Bắc, ổn định cả rồi, mẹ cháu phải ở ngoài này trông nom...
- Bà ấy nghĩ thế là phải! Thế còn cái chuyện MIA của tụi mày dạo này thế nào Tâm?
- Dạ mình vẫn tích cực, nghiêm chỉnh. À mà bác ơi vừa rồi vào Sài Gòn, cháu được mẹ cháu cho nghe một chuyện cũng khá đặc biệt cháu muốn kể lại cho bác nghe - Tâm nói.
- Vậy nói đi! Tao nghe đây! - Ông Trường chăm chú.
Tâm kể: Bà mẹ Toàn, Tâm vào Thành phố Hồ Chí Minh trông nom đứa cháu nhỏ của vợ chồng Toàn bị lên sởi được ba tháng. Mấy năm qua năm nào cũng vào thăm các con các cháu ít hôm, cho nên bà đã trở nên khá quen biết với nhiều bà, nhiều cô trong khu chung cư của Quân khu 7. Các bà đều hay chuyện với nhau. Ở lâu, quen biết lâu càng hay chuyện, hết chuyện nhà đến chuyện thành phố, hết chuyện hôm nay lại đến chuyện thời chiến tranh... Tình cờ, một bà gốc ở Nha Trang một hôm kể cho mẹ Toàn, Tâm về một bà già ở xóm Bóng. Bà này rất nghèo khổ, hình như đã mấy đời chồng nhưng đều bị phụ bạc hết sức cay đắng dù xưa kia bà nổi tiếng là xinh đẹp. Nay bà đang sống với một người chồng vốn là thương phế binh của chế độ cũ. Người này què một chân chẳng làm được gì đáng kể, bà vợ phải nai lưng ra đi làm để nuôi ông ta. Vậy mà người ấy có lẽ bất đắc chí nhiều hơn là ma rượu, suốt ngày đánh chửi bà ta tàn tệ, nhưng bà ta vẫn cắn răng chịu đựng. Người trong xóm thương hại nói riêng với nhau: có lẽ lăn lóc, trôi nổi mãi trong tình trường, đã quá chán, quá khổ nên bà ta dù có thể bỏ người què tàn bạo như quỉ dữ này, nhưng không còn đủ can đảm, đủ sức nữa... Gần đây nhất, trong một cơn say điên, lão chồng nọ đã cầm dao cắt cổ bà vợ khốn khổ ấy... May hàng xóm tới cứu được. Bà vẫn còn phải nằm bệnh viện nhưng tiền hết, gạo hết... Tên chồng điên say kia đã bỏ trốn không về nữa. Bà vợ vẫn còn phải nằm đó. Dân chúng và phường, quận đã phải tổ chức quyên góp để cứu giúp con người khốn khổn ấy... Nghe chuyện, mẹ Toàn, Tâm hỏi tên bà ta và gốc gác ở đâu, thì được biết bà ta là dân tộc Thái ngoài Bắc di cư... Nghe xong, mẹ Toàn, Tâm nói với các con “Mẹ có được bố các con nói qua cho nghe về vợ chồng một tên toán trưởng biệt kích, từ khi bố chưa đi B. Mẹ vẫn nhớ bố nói là anh chồng chết cũng chỉ vì vợ. Vậy không biết có phải... chính là bà này không đây?....”
Chỉ cần nghe đến đây, ông Trường đã như bật lên, nhỏm nửa người dậy, hai mắt dù đã đục ngầu tật bệnh và thời gian vẫn mở to, tràn ngập vẻ ngạc nhiên và xúc động.
- Mẹ các cháu còn nói gì nữa không? - Ông hỏi.
- Dạ không. Mẹ cháu chỉ bảo nếu muốn biết rõ về hỏi bác Trường, có khi bác biết và vẫn còn nhớ.
- Phải! Phải! Nhớ chứ cháu! Ồ đó là một chuyện dài rất đau buồn của lầm lỗi, của ngu tối, của điên khùng, của tha hoá nữa và xét cho cùng là của tội ác cháu ạ.
Nói tới đó ông ôm lấy ngực ho xù xụ, ho từng cơn dài, mặt đỏ gay, rớt dãi chảy ra, tắc nghẹn không sao nói được nữa. Dù đã biết ông hay bị như thế mỗi khi bệnh lại lên cơn, hoặc nói nhiều bị mệt, hoặc xúc động mạnh nhưng Tâm vẫn hốt hoảng. Anh vội lấy nước cho ông xúc miệng lấy khăn cho ông lau mặt rồi đỡ ông nằm xuống. Ông đỡ ho hơn nhưng cả khuôn mặt vẫn căng và vẫn hổn hển khó thở. Tâm không dám hỏi, dám nói gì nữa. Cứ ngồi im đấy một lúc, thấy ông đỡ hơn anh mới từ từ đứng dậy xin phép ông ra về. Ông gật đầu, gắng mỉm cười, đưa tay ra bắt tay Tâm. Ông âu yếm nói:
- Cứ nom thấy mày lại nhớ đến tay An bố mày quá.
- Thưa bác, cháu vẫn buồn là cháu sinh ra mà không bao giờ được biết mặt bố.
- Đành vậy! Nhưng hãy luôn nhớ và tự hào con ạ. Bố mày được lãnh đạo và anh em đồng chí, đồng bào trong ấy quý. Không phải ai mà chính Bộ trưởng đã mấy lần nói như vậy trên hội trường.
- Thưa bác! Vậy còn cái đội SL06 sau đó có còn ai vào nữa không ạ?
- Có chứ! Dần dần đi gần hết, ở lại toàn người mới cả. Nhưng anh em vẫn giữ được truyền thống cũ, vẫn là cái “Goblin dởm” ấy. Không kể hơn hai chục chuyên án khác, riêng nó đã câu nhử trực tiếp được 5 toán nữa với nhiều phương tiện, vũ khí quý lắm. Đấy là chưa kể vụ “ông Chương” mãi hai năm sau mới kết thúc được. Khá to và quan trọng. Cũng do cái Goblin mà tìm ra... Bộ đã tuyên dương nhiều lần. Chính phủ cũng đã cho cái SL-06 ấy Huân chương. Tới năm 1968 bọn Mỹ gọi cả toán về Nam, Bộ mới cho chấm dứt chuyên án, tung tin trên báo chí là chúng về tới biên giới Lào thì bị tóm hết và chúng sẽ bị đưa ra toà... Nhưng thôi, bây giờ ta lại nói chuyện khác. Bác nhớ hình như sắp đến sinh nhật cháu phải không?
- Vâng ạ, cuối tháng này. Nhưng bác ơi, năm nay cháu bỏ. Băm mốt rồi còn gì, không vẽ ra sinh nhật sinh nhung gì nữa.
- “Trai ba mốt tuổi đang xuân...” Nhưng thôi tuỳ! Này, tao nhớ rồi: năm bố mày đi B cũng băm mốt. Đẹp, trẻ trung, mềm mại, tính nết lại hết sức dễ thương... Đúng y như mày bây giờ về hình dáng bên ngoài lẫn phẩm chất bên trong...
Tâm cố giấu mọi xúc động chào ông Trường rồi quay ra rất nhanh.
Ra tới vườn hoa trước trước ngôi nhà ông Trường đang nằm, Tâm chợt đứng sững lại: một bà khoảng trên 60 tuổi mang y phục dân tộc Thái, tuy đã có tuổi nhưng chưa phai mờ hết vẻ đẹp thời son trẻ, dắt một cô gái chạc 24, 25 tuổi mặc đúng mốt thời trang hiện đại đang cùng đi vào.
- Cô Cầm Sa! Em Cầm Liên - Tâm cất tiếng chào như reo lên.
Bà Cầm Sa - đúng đây là Cầm Sa - cũng tươi cười mừng rỡ:
- Anh Tâm đấy ư? Mẹ con cô vừa đến nhà, thấy khoá cửa. Hỏi hàng xóm cho biết bác gái vào Nam với anh chị Toàn, còn cháu thì đi thăm bác Trường. Mẹ con cô thấy vậy cũng đi luôn đến đây....
Tâm vội ngăn lại:
- Thưa cô, bác vừa mệt. Theo cháu có lẽ cô và em nên để bác nghỉ chiều vào thăm thì tốt hơn cho bác.
Bà Cầm Sa và cô gái rất xinh của bà dừng lại, lưỡng lự... chẳng phải đây là lần đầu tiên 3 người gặp nhau. Họ đã quen biết một cách bất ngờ từ năm trước: cơ quan Văn phòng của Bộ nhân dịp ngày 27 tháng 7 tổ chức một đêm ca nhạc giữa cơ quan Văn phòng với một số người trong các gia đình thương binh liệt sỹ của Bộ. Dịp ấy có mời cả một tổ ca nhạc nhẹ của Nhạc viện Hà Nội. Cầm Liên đang theo học ở đây, cô là sinh viên dân tộc thiểu số duy nhất ở khoa thanh nhạc được tham gia cuộc gặp gỡ kỷ niệm này. Tâm cũng được mời với tư cách con một liệt sỹ. Hai người trẻ tuổi đã quen nhau từ đó. Về sau khi trò chuyện thêm họ cùng nhận ra giữa họ có một mối dây liên hệ từ trong chiến tranh: Bố Tâm đã có nhiều việc liên quan đến bác ruột của Liên cho nên đã ghé qua nhà bà và mẹ Cầm Liên nhiều lần. Bà và mẹ Liên rất quý ông. Bà, nhất là mẹ Liên đã nhiều lần kể chuyện lại như vậy... Và Liên cũng được Tâm cho biết: cha Tâm đã vào Nam từ năm 1964, khi ấy anh còn nằm trong bụng mẹ. Ông đã bị bom, hy sinh trong một trận càn rất lớn, rất ác liệt của Mỹ năm 1972 gần biên giới Việt Nam - Campuchia... Mãi sau này, thống nhất rồi, năm 1980 mới tìm thấy mộ ông và rước về Bắc...
Từ đó, không năm nào ra Hà Nội thăm con gái ở Nhạc viện là bà Cầm Sa không tìm đến thăm bà Thuỳ. Bà tìm đến nơi đây như tìm về quá khứ có nhiều kỷ niệm vui buồn, tìm về một người để cùng thầm chia sẻ nỗi niềm của hai số phận không cùng một cảnh ngộ nhưng lại cùng chung một nỗi cô đơn... Ông chồng bà ở trên đó là một cán bộ rất uy tín, hết sức gương mẫu, tận tụy đã được nhiều người từ cơ sở qua tỉnh lên tới Trung ương rất quý trọng. Ông mới nghỉ hưu chưa lâu với tiền bạc, nhà cửa, ruộng vườn dường như còn hơn cả mức phong lưu đầy đủ.
Lúc đó trong phòng bệnh, ông Trường đã tỉnh táo hơn nhiều. Qua ô cửa sổ, ông bỗng nhìn thấy bà Cầm Sa và Cầm Liên, thấy cả Tâm vẫn còn đứng đó. Vội vã, ông nhờ cô hộ lý trực trong phòng ra gọi giúp cả 3 người vào.
Không phải đợi lâu ông đã thấy Cầm Sa tay xách làn, quày quả đi tới. Phía trước bà là hai người bạn trẻ tươi cười, thân thiện sát vai cùng bước lên những bậc tam cấp. Họ đã nói gì với nhau, cùng ngửa mặt lên cười ran, hàm răng trắng ngần...
Ông Trường cảm thấy mình như khoẻ hẳn lại. Ông ngồi thẳng dậy để đón tất cả bọn họ....
Tháng 10-2001
HẾT