Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:49:47 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng  (Đọc 45548 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #100 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2023, 12:14:41 pm »

HUYỆN THANH THỦY TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

TS NGUYỄN MINH TƯỜNG
Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy,
Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ


Thanh Thủy là một huyện miền núi phía Tây Nam tỉnh Phú Thọ - một vùng đất cổ có bề dày truyền thống lịch sử và văn hóa. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, các thế hệ nhân dân Thanh Thủy kế tiếp nhau chung sức đồng lòng, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, kiên trung, bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Thanh Thủy vừa là hậu phương tích cực đóng góp sức người sức của, vừa là tiền tuyến trực tiếp chiến đấu chống địch càn quét, chiếm đóng, lập nhiều chiến công xuất sắc, tạc vào trang sử vàng truyền thống của tỉnh Phú Thọ nói chung, huyện Thanh Thủy nói riêng những mốc son sáng ngời. Trong Chiến dịch Hòa Bình, quân và dân Thanh Thủy đã lập nhiều thành tích góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch, tiêu biểu là Chiến thắng Tu Vũ trên địa bàn huyện.


Sau thất bại ở biên giới Thu - Đông năm 1950, tiếp đó lại bị ta đánh mạnh ở trung du, Đường số 18, Hà Nam Ninh, quân Pháp đã lâm vào thế phòng ngự bị động. Chi phí cho chiến tranh Đông Dương càng ngày càng cao, đã lên tới 308 tỷ phơrăng vào năm 1951, gấp 2,5 lần chi phí cho tái thiết đất nước sau Chiến tranh thế giới thứ hai của Pháp. Để giành lại quyền chủ động, mùa Đông năm 1951, Pháp mở cuộc tiến công ra Hòa Bình, lập phòng tuyến Sông Đà nối liền với tuyến phòng thủ trung tâm nhằm nối lại "Hành lang Đông - Tây", thực hiện tăng cường khả năng phòng thủ đồng bằng Bắc Bộ, cắt đứt đường liên lạc giữa Chiến khu Việt Bắc với các liên khu 3 và 4. Ở Hòa Bình, Pháp cho thành lập các "Xứ Mường tự trị" để thực hiện "dùng người Việt đánh người Việt", "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh".


Thực hiện mưu đồ trên, ngày 9 tháng 11 năm 1951, Pháp sử dụng 3 binh đoàn cơ động (GM1, GM2, GM3), 1 tiểu đoàn dù, 2 đại đội biệt kích mở cuộc hành quân Tuylíp (Tulipe) đánh chiếm khu vực Chợ Bến. Tiếp đó, ngày 14 tháng 11, 300 quân địch từ Sơn Tây mở cuộc tấn công đánh phá vị trí Đá Chông, Núi Chẹ và chiếm lại vị trí Tu Vũ, La Phù (thuộc huyện Thanh Thủy) nhằm hỗ trợ cho Mặt trận Hòa Bình và bảo vệ tuyến phòng thủ. Sau khi chiếm lại 2 vị trí ở huyện Thanh Thủy, thực dân Pháp giao cho tiểu đoàn lính Âu - Phi chiếm giữ. Hằng ngày, chúng chuyên chở vật liệu xây dựng hệ thống công sự rất kiên cố, đồng thời cho quân càn quét, cướp phá ở những vùng xung quanh để lập vành đai trắng. Ngày 28 tháng 11 năm 1951, địch huy động lực lượng mạnh mở đợt càn quét quy mô lớn trên diện rộng vào địa bàn huyện. Ở phía hạ huyện, địch tập trung 1.000 quân ồ ạt tấn công vào 3 xã: Thành Công, Vinh Quang và Xuân Lộc càn quét và cướp mất 45 con trâu bò, 600 con gà vịt của nhân dân; cũng trong ngày 28 tháng 11 năm 1951, 500 tên địch tấn công càn quét ác liệt xã Văn Minh, xã Đoàn Kết và thôn Hoàng Xá.


Trước đó, ngay từ giữa tháng 9 năm 1951, Liên khu ủy Việt Bắc đã ra chỉ thị cho Tỉnh ủy Phú Thọ phải tích cực chuẩn bị mọi mặt để phá kế hoạch củng cố vùng trung du của địch. Đến cuối tháng 9, Tỉnh ủy triệu tập Hội nghị gồm đại diện của Tỉnh đội, Tiểu đoàn 72, Đại đoàn 308 và các huyện Thanh Thủy, Tam Nông, Lâm Thao và Hạc Trì để bàn và phổ biến kế hoạch chống địch càn quét, chiếm đóng. Vì vậy, khi địch mở các cuộc càn quét vào địa bàn huyện, chúng đã vấp phải sự chiến đấu kiên cường của quân và dân địa phương, nhất là các xã: Thành Công, Xuân Lộc và Đề Thám, diệt nhiều sinh lực địch, khiến chúng phải co cụm vào các vị trí cố thủ, không dám lùng sục mạnh như trước. Nhiều trận đạt hiệu suất cao như trận phục kích ở Dốc Đà thuộc xã Yến Mao, trận phục kích Gò Đình ở Đồng Xe, khe cạn ở xóm Xui, Đồng Sạnh ờ Hương Cần (Thanh Sơn)... tiêu diệt được 47 tên, thu 32 súng các loại và một số quân trang, quân dụng, bào toàn lực lượng và tính mạng, tài sản của nhân dân.


Trên cơ sở phân tích tình hình ta và địch, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định, việc địch đánh ra Hoà Bình khiến chúng phải phân tán lực lượng cơ động ra một địa hình rừng núi hiểm trở binh lực ở đồng bằng Bắc Bộ bị dàn mòng và tương đối sơ hở đây là một cơ hội hiếm có để ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch.


Từ nhận định này, ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 22 "về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch", mở cuộc tiến công lớn trên hai mặt trận: Tập trung chủ lực trên mặt trận chính Hoà Bình, đồng thời đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm. Bộ Chính trị quyết định tổ chức Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hoà Bình do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch; đồng chí Nguyền Chí Thanh làm Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Chiến dịch; đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trướng Chiến dịch. Lực lượng tham gia chiến dịch trên mặt trận chính gồm 3 đại đoàn bộ binh (308 312 304) và Đại đoàn công pháo 351; trên mặt trận phối hợp, 2 đại đoàn bộ binh 316, 320 tiến sâu vào vùng sau lưng địch ở trung du và đồng bằng sông Hồng cùng các lực lượng tại chỗ tiến công địch, diệt tề trừ gian, mở rộng các khu du kích và căn cứ du kích. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích phối hợp chặt chẽ trong Chiến dịch Hòa Bình. Trong thư, Người nêu rõ: "Trước kia, ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta. Muốn thắng, thì ta phải tích cực, tự động, bí mật, mau chóng, kiên quyết, dẻo dai. Chắc thắng mới đánh"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 242).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #101 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2023, 12:15:23 pm »

Sau một thời gian nghiên cứu và chuẩn bị chiến trường, đồng thời để đảm bảo trận mở màn chắc thắng, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến dịch phát triển và mở rộng hành lang vận chuyển hậu cần, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định tập trung binh lực, hỏa lực đột phá phòng tuyến Sông Đà, bắt đầu bằng trận tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, núi Chẹ. Để trực tiếp chỉ đạo chiến dịch, Sở Chỉ huy tiền phương của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt vị trí gần Đồn Vàng (Thanh Sơn), cách cứ điểm Tu Vũ khoảng 20km. Trung đoàn 88, Đại đoàn 308 được Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ. Trong chỉ thị giao nhiệm vụ cho cán bo Trung đoàn 88, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng Tư lệnh ghi rõ: Bộ Tổng Tư lệnh đã cân nhắc và quyết tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ mở màn cho Chiến dịch Hòa Bình; trận đánh phải thắng, chỉ được phép thắng; có nhiều khó khăn đấy, có thể phải trả giá rất đắt có thể 1 trung đoàn không xong thì phải dùng tới 2 trung đoàn; dù phải hy sinh bộ phận cho toàn bộ thì vẫn cứ phải làm... Điều đó cho thay tầm quan trọng và ý nghĩa chiến lược của trận Tu Vũ, trận then chốt cho Chiến dịch Hòa Bình.


Tu Vũ là một cứ điểm có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng nằm trên tả ngạn sông Đà. Quân Pháp chiếm lại vị trí này nhằm làm điểm án ngữ sông Đà và làm bàn đạp để đánh thọc sâu vào vùng hậu phương của Phú Thọ. Vì vậy, thực dân Pháp đã bố trí chiếm đóng ở cứ điểm Tu Vũ Tiểu đoàn 1 Trung đoàn bộ binh Marốc số 2, tăng cường 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn người Mường số 6, 1 xe tăng và 2 xe thiết giáp chiếm giữ. Chúng tổ chức phòng ngự thành 3 khu (khu A, khu B ở Đông Bắc ngòi Lát, khu C ở Tây Nam ngòi Lát). Theo đó, khu A gồm 1 đại đội bộ binh, 1 xe thiết giáp; công sự phòng ngự có 6 ụ chiến đấu bao quanh 1 lô cốt lớn được trang bị hỏa lực mạnh (1 xe tăng, 1 trọng liên 12,7mm, súng cối 81mm); khu B là trung tâm phòng ngự, có Sở Chỉ huy tiểu đoàn 1, 2 đại đội bộ binh, 1 xe tăng, 1 ĐKZ 57mm, 1 pháo 37mm, công sự phòng ngự có 1 lô cốt lớn bao quanh bởi 4 ụ chiến đấu; khu C có 1 đại đội bộ binh địch chiếm giữ, gồm 7 ụ chiến đấu bao quanh 1 lô cốt lớn được trang bị đại liên và nhiều súng trường. Ngoài ra, cứ điểm Tu Vũ còn được yểm trợ hỏa lực từ các vị trí núi Chẹ, Đá Chông, Thủ Pháp và có thể được tăng viện từ canô, tàu chiến dọc theo đường sông Đà. Hằng ngày, canô địch từ các vị trí Tu Vũ, La Phù, Đá Chông thay nhau tuần tiễu quét đèn pha trên sông Đà và bắn phá vào hai bên bờ, lập vành đai trắng từ Trung Hà đi Hoà Bình, khiến nhân dân một số làng ven sông phải sơ tán đi nơi khác. Trên mỗi kilômét vành đai, địch bố trí 45 lính canh và 8 khẩu súng liên thanh.


Phối hợp với bộ đội chủ lực, quân và dân huyện Thanh Thủy có nhiệm vụ: Một là, chuyên chở bộ đội thuộc Đại đoàn 312 bí mật vượt sông sang đánh phía núi Chẹ, Đá Chông; hai là, phối hợp cùng Đại đoàn 308 tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ. Để có thể bí mật vượt sông nhanh chóng, quân dân huyện Thanh Thủy, nhất là những xã ven sông Đà, phải canh phòng và chuyên chở bộ đội vượt sông một cách an toàn. Trong các đêm từ mùng 6 đến mùng 8 tháng 12 năm 1951, Đại đoàn 312 vượt sông từ làng Đoan Hạ (Thanh Thủy) sang phía núi Chẹ, Đá Chông. Nhân dân các làng ven sông đã huy động hàng trăm thuyền nan và hơn 200 người lái đò để đưa bộ đội qua sông. Mặc cho pháo sáng và đạn địch bắn phá, đèn pha từ canô của địch tuần tiễu nhằm uy hiếp và ngăn bước tiến của quân ta, song với quyết tâm và lòng căm thù giặc, quân dân địa phương nhanh chóng đưa bộ đội ta qua sông an toàn để kịp thời phối hợp tác chiến tiêu diệt địch ở núi Chẹ.


Ở phía thượng huyện Thanh Thủy, Trung đoàn 88 phối hợp với bộ đội và nhân dân địa phương đã chuẩn bị xong trận địa, chờ mệnh lệnh tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ. Đe phục vụ bộ đội chủ lực trong trận này, huyện Thanh Thủy đã huy động trên 500 dân công hỏa tuyến làm nhiệm vụ tiếp tải đạn, xay lúa giã gạo và tiếp tế lương thực. Đúng 20 giờ tối mùng 10 tháng 12 năm 1951, ba mũi tiến công của bộ đội ta mở màn trận đánh. Phát hiện thấy lực lượng của ta, pháo của địch từ các vị trí xung quanh cứ điểm (núi Chẹ, Đá Chông, Thủ Pháp) bắn dồn dập hàng nghìn quả vào khu vực quân ta đang triển khai lực lượng, tạo thành một vành đai lửa bao quanh cứ điểm. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Đại đoàn 308 yêu cầu các đơn vị bạn ở hữu ngạn sông Đà bắn kiềm chế pháo địch, đồng thời, lệnh cho tiểu đoàn pháo của ta nhanh chóng tập trung hoả lực công phá lô cốt địch và yểm trợ cho bộ binh ta tiến công.


Trận đánh diễn ra rất ác liệt. Khi quân ta bắt đầu tiến công, địch tập trung hoả lực mạnh hòng ngăn cản bước tiến của quân ta. Dưới làn mưa đạn, cán bộ, chiến sĩ nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, anh dũng xông lên tiêu diệt địch. Đến 1 giờ sáng ngày 11, Tiểu đoàn 322 Trung đoàn 36 đã chiếm xong khu C, sau đó dùng hoả lực mạnh kiềm chế địch ở khu B. Cuộc chiến đấu ở 2 khu A, B diễn ra rất quyết liệt, ta và địch giằng co từng ụ súng. Đến 2 giờ 50 phút sáng 11 tháng 12 năm 1951, quân ta hoàn toàn làm chủ được 2 khu này. Sau hơn 5 giờ chiến đấu ác liệt, cứ điểm Tu Vũ của địch bị tiêu diệt. Kết quả, quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn Marốc số 2, tiêu diệt 159 tên địch, bắt 12 tên (trong đó có tên quan ba Leveux), phá hủy 3 xe tăng và 1 xe bọc thép, đồng thời giải phóng cho hơn 100 thanh niên bị địch giam giữ tại đây.


Tu Vũ - cứ điểm kiên cố của thực dân Pháp bị tiêu diệt, làm rung chuyển toàn bộ tuyến phòng thủ Sông Đà, tạo điều kiện cho bộ đội ta tiến đánh Hoà Bình thắng lợi. Ngày 14 tháng 12 năm 1951, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến tận đồn Tu Vũ để nghiên cứu và viết thư khen ngợi Trung đoàn 88, trong đó có đoạn viết: Chiến thắng Tu Vũ là một trận công kiên lớn nhất, mở màn chiến dịch. Chiến thắng Tu Vũ biểu hiện tinh thần quả cảm hy sinh, tích cực, chủ động tiêu diệt địch, linh hoạt trong chiến đấu, chứng tỏ bước tiến bộ mới của Trung đoàn 88 nói riêng và của Quân đội nói chung. Tiến bộ không chỉ đơn thuần về kỹ thuật, chiến thuật mà còn cả về mặt tư tưởng của Quân đội cách mạng chỉ biết tiến công, không biết lùi bước. Tôi gửi lời khen ngợi các đồng chí Trung đoàn 88 đã nêu cao gương anh dũng tuyệt vời của Quân đội...". Trung đoàn 88 đã vinh dụ được mang tên "Trung đoàn Tu Vũ" từ đó.


Cứ điểm Tu Vũ bị tiêu diệt, địch ở La Phù hết sức hoang mang lo sợ phải cầu viện quân từ Sơn Tây sang chiếm đóng thêm vị trí Phương Viên. Không đế cho địch củng cố lực lượng, bộ đội chủ lực cùng với bộ đội địa phương huyện Thanh Thũy tổ chức phục kích đoàn tàu địch từ Hoà Bình định rút về Trung Hà. Ngày 22 tháng 12 năm 1951, đoàn tàu địch gồm 1 tàu chiến Mênitô và 4 canô chở 1 tiểu đoàn quân lọt vào trận địa phục kích của quân ta. Trận đánh diễn ra nhanh, gọn. Chiếc tàu chiến và 2 canô bị bắn chìm, 2 chiếc còn lại bị thương bốc cháy, 1 chiếc dạt vào bở phía huyện Thanh Thủy. Bộ đội địa phương phối hợp với dân quân du kích một số xã tả ngạn sông Đà bắt 80 tên lính Pháp và bắn bị thương 1 máy bay đến cứu đồng bọn của chúng. Đây là trận thắng thể hiện đậm nét sự phối hợp tác chiến đánh địch có hiệu quả của ba thứ quân trên địa bàn huyện.


Chiến thắng Tu Vũ là một minh chứng hùng hồn về chiến công oanh liệt và sự hy sinh anh dũng của bộ đội Đại đoàn 308 - Đại đoàn Quân Tiên phong, chiến thắng đó có sự đóng góp của quân và dân xã Tu Vũ, huyện Thanh Thủy nói riêng và của quân và dân tỉnh Phú Thọ nói chung. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quỷ cho các chiến dịch tiếp sau, đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954). Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng khẳng định: "Không có trận Tu Vũ thì không có trận Him Lam, Độc Lập, Điện Biên Phủ".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #102 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2023, 12:21:58 pm »

QUÂN VÀ DÂN HUYỆN BA VÌ TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

ThS PHÙNG TÂN NHỊ
Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy,
Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội


Ba Vì ở phía Tây Bắc Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thành phố khoảng gần 60km. Tiền thân của huyện Ba Vì gồm 3 huyện Quảng Oai, Bất Bạt, Tùng Thiện. Với diện tích 424km2, toàn huyện có 30 xã và 1 thị trấn, trong đó có 7 xã miền núi (là nơi sinh sống tập trung của đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm 47% diện tích toàn huyện), 1 xã nằm ở bãi giữa sông Hồng. Phía Đông giáp thị xã Sơn Tây; phía Nam giáp tỉnh Hòa Bình; phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ; phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc.


Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân huyện Ba Vì với truyền thống cách mạng ý chí tự lực, tự cường đã tích cực đóng góp sức người, sức của và tập trung chuẳn bị mọi mặt phối hợp với các lực lượng, tổ chức đánh địch, góp phần làm nên Chiến thắng Hòa Bình. Khi ta mở chiến dịch, quán triệt sự chỉ đạo của Huyện ủy Bất Bạt, Chi bộ xã Tân Dân1 (Xã Tân Dân: Năm 1976 đổi tên thành xã Khánh Thượng (huyện Ba Vì)) (xã Khánh Thượng ngày nay) đã lãnh đạo nhân dân và các đoàn thể trong xã gấp rút chuẩn bị chiến trường, làm công tác phục vụ và phối hợp với bộ đội chủ lực trong chiến dịch; cung cấp lương thực, thực phẩm cho bộ đội chủ lực; chuẩn bị phương tiện, thuyền mảng phục vụ bộ đội vượt sông vào đánh địch ở một số vị trí trên phòng tuyến sông Đà, làm nhiệm vụ vận tải thương binh, bảo vệ bộ đội. Chỉ trong vòng một tuần lễ, với sự tham gia của hàng trăm người dưới trời mưa giá rét mùa Đông, con đường mở mới phục vụ nhiệm vụ tác chiến của bộ đội chủ lực từ Thủ Pháp vào dốc Bóp1 (Dốc Bóp: Thuộc thôn Giáp Thượng, nay thuộc thôn Hương Canh, xã Khánh Thượng, huyện Ba Vì) dài hơn 2.000m được hoàn thành. Trung đội du kích tập trung và lực lượng tự vệ xã được tập hợp lại chuẩn bị chiến đấu và phục vụ chiến đấu.


Trong đợt 1 của chiến dịch, Đại đoàn 312 vượt sông Đà tiên sâu vào vùng sau lưng địch, đánh địch từ dốc Pheo2 (Dốc Pheo: Thuộc thôn Pheo, xã Minh Quang, huyện Ba Vì) đến Điểm cao Ba Vì, trong đó diệt địch ở 2 vị trí Chẹ và Ba Vành3 (Chẹ: Thuộc thôn Sơn Hà, xã Khánh Thượng; Ba Vành: Thuộc thôn Việt Yên, xã Yên Bài, huyện Ba Vì) là chủ yếu. Ngoài ra còn chặn địch trên Đường số 87 nhằm cắt giao thông, chia cắt và cô lập từng cụm quân địch, không cho chúng cơ động và ứng cứu nhau khi ta tiến công. Trong khi Đại đoàn 308 đánh Tu Vũ4 (Tu Vũ: Thuộc xã Tu Vũ, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ) và một số vị trí đối diện với Chẹ qua sông Đà thì trên Đường số 87, quân ta nổ súng đánh sập các cầu, cắt đứt giao thông quan trọng từ Sơn Tây đi Chẹ, góp phần cùng quân dân ta bao vây chia cắt địch ở Hòa Bình. Phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương cán bộ, đảng viên xã Tân Dân khắc phục mọi khó khăn giúp đỡ quân chủ lực trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch.


Nhân dân xã Khánh Thượng đã khẩn trương huy động hàng trăm chiếc thuyền đưa bộ đội vượt sông Đà đánh địch; quyên góp hơn 17 tấn sắn tươi, hơn 9 tấn lúa, trên 2 tấn thịt gia súc, gia cầm cùng một số nồi đồng lớn phục vụ nuôi quân. Đội du kích tập trung xã Tân Dân được giao nhiệm vụ phối hợp chiến đấu. Đồng chí Đinh Văn Tỵ1 (Đồng chí Đinh Văn Tỵ: Ở xóm Gò Đá Chẹ, xã Khánh Thượng; nguyên Chỉ huy trưởng xã Tân Dân (giai đoạn 1959 - 1969), mất ngày 26 tháng 2 năm 2014) và đồng đội được giao nhiệm vụ dẫn đường cho mũi hỏa lực công phá đỉnh núi đá Chẹ. Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt, sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dẫn đường, các đồng chí trong tổ du kích cùng bộ đội triển khai đánh và tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch. Sau trận đánh này, đồng chí Đinh Văn Tỵ được tặng thường Huân chương Chiến công.


Bị ta đánh bất ngờ, sáng ngày 10 tháng 12 năm 1951, địch cho tiểu đoàn lính dù thiện chiến cùng một lực lượng cơ động mạnh mở cuộc tiến công vào khu Căn cứ của tỉnh đóng ở các xóm Ninh, Mít, Giáp Thượng2 (Thôn Ninh, thôn Mít: Nay là thôn Mít Đồng sống; thôn Giáp Thượng: Nay là thôn Hương Canh, xà Khánh Thượng, huyện Ba Vì). Cùng ngày, 2 trung đoàn bộ binh địch xuyên rừng từ phía Đông núi Ba Vì qua dốc Mát xuống dốc Bóp. Mục đích của hai cánh quân này là khi gặp nhau sẽ hợp quân tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến tỉnh Sơn Tây, làm chủ khu vực Chẹ, kiểm soát đường thủy từ Chẹ về Trung Hà, Sơn Tây và Đường số 89. Tại 2 xóm Sui3 và Mít, từ 10 giờ sáng các đơn vị của Đại đoàn 312 phối hợp với du kích địa phương tổ chức đánh địch. Ngoài lực lượng mạnh, địch còn dùng phi cơ, phi pháo, xe bọc thép liên tục bắn đại bác yểm trợ. Trận đánh diễn ra vô cùng quyết liệt, la đã bẻ gãy nhiều đợt tiến công của địch, không cho chúng tràn lên núi. Ta và địch giành nhau từng gốc cây, mòm đá, chia cắt từng toán địch để đánh và tiêu diệt chúng. Trong hơn 5 giờ chiến đấu, đoạn đường dài gần 1km từ xóm Ninh đến xóm Sui3 (Thôn Sui: Nay thuộc thôn Sui Quán, xã Khánh Thượng, huyện Ba Vì) - Mít xác địch ngổn ngang. Ta đã tiêu diệt được 300 tên địch, bắt gần 2 đại đội, bắn hỏng 1 xe tăng, thu 13 súng trung liên, 41 tiểu liên, nhiều súng trường, đạn dược và phương tiện chiến đấu của địch.


Trong trận đánh ngày 10 tháng 12 năm 1951, Trung đội du kích Giáp Thượng do đồng chí Đinh Văn Thức1 (Ông Đinh Văn Thức: Tên đúng là Đinh Văn Thực, thôn Gò Đá Chẹ, xã Khánh Thượng, nguyên Xã đội trưởng xã Tân Dân (giai đoạn 1949 - 1950), mât năm 2000) (Xã đội trưởng xã Tân Dân) chỉ huy được phân công phối hợp với Tổ trung liên của Trung đội 209 (trong đó có Tiểu đội phó Phan Đình Giót, sau này được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân), Đại đội 58, Trung đoàn 141 của Đại đoàn 312 chặn đánh một mũi tiến công của địch trên đường từ khu vực núi Chẹ đánh vào khu Căn cứ của tỉnh. Địch hò hét nhau liều chết xông lên, đồng chí Thức vừa bình tĩnh chỉ huy Trung đội đánh địch, vừa dẫn đường cho bộ đội phục kích. Khi một xạ thủ trung liên bị thương, đồng chí Thức không ngần ngại thay thế, nhả đạn vào đội hình địch, bẻ gãy nhiều đợt tiến công ào ạt của địch, bắt 3 tên lính Pháp. Với thành tích đặc biệt xuất sắc và tinh thần mưu trí dũng cảm, đồng chí Đinh Văn Thức đã được Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin (Liên Xô) tặng Huy chương Vàng trong dịp tham gia Đoàn đại biểu thanh niên Việt Nam dự Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới tổ chức ở Liên Xô cuối năm 1952.


Một yếu tố rất quan trọng góp phần tạo nên thắng lợi ở Ninh Mít là ngay từ chiều hôm trước, nhờ có tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao nên khi một cánh quân địch từ Tu Vũ sang, tiến thẳng vào khu vực Trạc Tượng2 (Trạc Tượng: Dốc Trạc Tượng, giáp ranh giữa thôn Ninh và thôn Sui Quán, xã Khánh Thượng, huyện Ba Vì), một tổ du kích của địa phương tổ chức đánh mìn trên đường địch hành quân tại khu vực Trán Voi3 (Trán Voi: Thuộc thôn Ninh, xã Khánh Thượng (nối liền dốc Trạc Tượng), huyện Ba Vì). Bị vấp mìn ngang đường, toán quân tiên trạm của địch phải dừng lại đê thăm dò lực lượng ta. Khi toán địch buộc phải dừng lại, ta có thông tin kịp thời để bổ sung và bố trí lực lượng đánh địch cho lực lượng quân chủ lực và du kích địa phương ở hướng này.


Chỉ trong một thời gian ngắn bị thất bại liên tiếp, để lên dây cót tinh thần cho binh sĩ và lừa phỉnh nhân dân ta, thực dân Pháp dùng máy bay thả hàng vạn truyền đơn xuống khu Căn cứ Ba Vì. Ngày 17 tháng 12 năm 1951, quân Pháp mở cuộc càn lớn vào các xã Tản Hồng và Phú Phương nhằm làm sạch địa bàn. Trận càn này kẻo dài trong 5 ngày liên tục. Nhiều nhà cửa bị đốt phá, trâu, bò, lợn, gà, thóc, gạo bị cướp, gần 200 người bị bắt, trong đó chủ yếu là cán bộ, đảng viên và du kích.


Trong đợt 2 của Chiến dịch Hòa Bình, các vị trí ở các điểm cao 400 và 600 trên núi Ba Vì có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự. Đây là một trong các vị trí then chốt nhất trên phòng tuyến Sông Đà, bảo vệ chắc chắn bên sườn và phía sau đội hình bố trí của địch ở Hòa Bình, là vị trí quan trọng trong việc bảo vệ Sơn Tây và Hà Nội. Chính vì vậy, ngoài sự chi viện và bảo vệ của không quân, vị trí Ba Vì còn được trực tiếp bảo vệ của trận địa pháo binh ở Ao Trạch, Trung Hà, Tông - Xuân Mai. Để đánh các vị trí này, Đại đội 243, Đại đội 241 và Đại đội 58 thuộc Đại đoàn 312 bí mật tiếp cận sát vị trí. Trong trận đánh này, Xã đội Tân Dân chọn 7 chiến sĩ du kích thông thạo đường lên núi, có sức khỏe, nhanh nhẹn có nhiệm vụ dẫn đường và phối hợp tác chiến, vận chuyển thương binh, làm công tác mai táng liệt sĩ... Đêm 29 tháng 12 năm 1951, đúng giờ quy định, bộ đội chủ lực và du kích đồng loạt nổ súng, địch chưa kịp đối phó, ta đã chiếm Sở Chỉ huy của tên Moócgăng. Hơn 20 phút sau, quân ta hoàn toàn làm chủ vị trí. Từ Điểm cao 400 sang Điểm cao 600 chỉ có một đường độc đạo, khi ta đánh sang, địch phản kích lại quyết liệt. Trận đánh tại Điểm cao 600 diễn ra vô cùng quyết liệt. Ta quyết đánh, địch quyết giữ. Ta và địch giành nhau lừng thước đất. Sau đó, ta phải chia thành nhiều mũi, cùng du kích chuẩn bị thang, ván để vượt qua hàng rào thép gai, vách núi đá, xung phong vào cứ điểm từ nhiều hướng, giành thắng lợi trước khi trời sáng. Địch chống trả điên cuồng, tuyệt vọng, nhiều tên lính Âu - Phi cuống cuồng chạy theo tên chỉ huy quan ba Pháp nhảy xuống vách đá tìm đường thoát thân... Đến 4 giờ 30 phút ngày 20 tháng 12 năm 1951, ta hoàn toàn làm chủ Điểm cao 600 và cụm cứ điểm trên núi Ba Vì.


Chiến thắng liên tiếp của quân ta ở Tu Vũ, Sui - Mít, các điểm cao 400, 600 làm cho thực dân Pháp ở khu vực sông Đà, Hòa Bình hoảng sợ. Một số chốt điểm của địch trên khu vực xã Tân Dân phải co cụm lại khu vực Chẹ. Những hành động càn phá cướp boc không còn xảy ra. Bọn tề ngụy, bảo an, chỉ điểm run sợ nằm im không dám hoạt động. Vòng kiểm soát của địch đã được nới lỏng. Thời gian này, Chiến dịch Hòa Bình trên sông Đà đang đi vào thời điểm quyết liệt.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #103 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2023, 12:23:58 pm »

Để tiếp tục phục vụ Chiến dịch Hòa Bình, Chi bộ xã Tân Dân lãnh đạo tuyển lựa gần 200 dân công mở đường bí mật tránh vòng vây của địch dài hơn 10km từ căn cứ Ba Vì tới Lương Sơn - Hòa Bình và khu vực Xuân Mai - Đường số 6 phục vụ bộ đội hành quân tiếp cận căn cứ địch. Hàng trăm người vừa làm nhiệm vụ dẫn đường, tiếp tế hậu cần, truy kích địch, dẫn giải tù binh, thu chiến lợi phẩm, giúp bộ đội thu dọn chiến trường.


Trong tháng 12 năm 1951, giặc Pháp bắt được một số cán bộ cách mạng hoạt động ở xã Phú Châu đưa về giam ở đồn Phú Xuyên. Chúng dùng cực hình tra khảo nên một nữ giao thông viên đầu hàng dẫn giặc tới khám và lùng bắt cán bộ cách mạng tại một cơ sở kháng chiến ở thôn Phong Châu. Để bảo vệ cán bộ, cụ Tẻo và cô Hồng (chủ nhà)1 (Cụ Tẻo: Là bố đẻ của cô Hồng, đã mất; cô Hồng: Sinh năm 1932, hiện ở thôn Phong Châu, xã Phú Châu, huyện Ba Vì) kiên quyết không khai và bị giặc đánh đập dã man. Sau một hồi lùng sục, đào bới không thấy, chúng lôi cụ Tẻo tới giam ở đồn Phú Xuyên. Tấm gương dũng cảm, bất khuất của gia đình cụ Tẻo làm dân làng vô cùng cảm phục, Chi bộ lấy đó làm điển hình để giáo dục đảng viên và quần chúng.


Năm 1951, địa bàn tỉnh Sơn Tày nói chung, huyện Tùng Thiện, Quảng Oai, Bất Bạt nói riêng, chiến sự diễn ra hết sức khốc liệt. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính, lực lượng vũ trang các huyện Tùng Thiện, Quảng Oai, Bất Bạt phối hợp hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị bộ đội chủ lực của Bộ, đơn vị bộ đội địa phương tỉnh Sơn Tây chiến đấu ngoan cường, mưu trí, dũng cảm, góp phần vào thắng lợi Chiến dịch Hòa Bình, gây cho thực dân Pháp tổn thất nặng nề. Đồng thời kiên cường bám trụ, bám đất, bám dân, làm nòng cốt cho nhân dân trong đấu tranh toàn diện với quân thù, giữ vững cơ sở cách mạng, phát triển phong trào kháng chiến ở các địa phương, tạo tiền đề cho bước phát triển tiếp theo của cuộc kháng chiến ở địa phương.


Do bị ta tiến công mạnh mẽ và liên tục ở mặt trận chính diện cùng thất bại nặng nề trên khắp những vùng sau lưng, giặc Pháp rơi vào thế bị động mất tinh thần chiến đấu. Để tránh bị tiêu diệt, ngày 8 và ngày 9 tháng 1 năm 1952, chúng buộc phải rút khỏi phòng tuyến Sông Đà, chỉ còn lại 3 điểm địch chốt lại ở Đan Thê, La Phù, Thái Bạt. Ngày 13 tháng 1 năm 1952, toán lính và sĩ quan Pháp cuối cùng chạy khỏi khu vực Phố Chẹ, xóm Gò. Xã Tân Dân sau gần 2 tháng địch chiếm đóng o ép, càn quét gắt gao được giải phóng.


Sau những thất bại nặng nề trong Chiến dịch Hòa Bình, đầu năm 1952, thực dân Pháp phải cho quân lui về phòng thủ các tỉnh trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Tại địa bàn tỉnh Sơn Tây, thực dân Pháp đặt các huyện Tùng Thiện, Quảng Oai, Bất Bạt nằm trong 3 vòng tuyến phòng thú chính: Vòng tuyến 1, phòng thủ trung tâm từ Sơn Tây đi Trung Hà, chúng cho quân viễn chinh đóng chốt ở các vị trí quan trọng như: Trung Hà, Đồng Bảng, Chùa Cao, Mông Phụ... Vòng tuyến 2, phòng thủ dọc sông Đà, sông Hồng từ Bất Bạt đi Trung Hà và từ Trung Hà đi Sơn Tây. Chúng thường xuyên cho quân tuần tra, càn quét nhằm chia cắt trung du với đồng bằng. Vòng tuyến 3, phòng thủ dọc các tuyến đường số 88 từ Vị Thủy đi Bất Bạt với các đồn bốt: Vị Thủy, Xuân Sơn, Yên Khoái, Gò Ong, Ao Khoang.


Cách bố trí hệ thống phòng thủ đó của thực dân Pháp là nhằm trấn giữ cửa ngõ đồng bằng Bắc Bộ và Thủ đô Hà Nội. Đồng thời, vừa chống lại sự tiến công, thâm nhập của ta từ căn cứ Ba Vì xuống, vừa thực hiện bao vây, uy hiếp căn cứ kháng chiến Ba Vì. Cùng với xây dựng hệ thống tuyến phòng thủ, trong vùng tạm chiếm, thực dân Pháp cho quân lính từ đồn Tổng Dũng tăng cường kiểm soát hương thôn, kìm kẹp nhân dân.


Trước mưu đồ của thực dân Pháp, tháng 2 năm 1952, thực hiện sự chỉ đạo của Liên khu 3, Tỉnh ủy Sơn Tây tổ chức Hội nghị cán bộ mở rộng xác định nhiệm vụ chủ yếu của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Sơn Tây là: Phát động quần chúng đấu tranh rộng rãi. Thực hiện hai nhiệm vụ trọng tâm là nắm dân và củng cố tổ chức đảng. Phương hướng hoạt động trong thời kỳ mới là đấu tranh kinh tế, chính trị là chính. Lợi dụng tề, lợi dụng mọi tổ chức của địch lợi dụng mọi khả năng hợp pháp để giác ngộ, tập hợp quân chúng đấu tranh với địch. Kết hợp lợi dụng các tổ chức của địch và các hình thức hợp pháp với việc củng cố tổ chức trung kiên và bí mật của ta.


Trước hành động càn quét của địch, Xã đội Cẩm Lĩnh chỉ đạo du kích làng Vô Khuy bố trí mìn ờ rừng lim khu Cống Chuốc1 (Cống Chuốc: Giáp ranh giữa thôn Vu Khuy và thôn Cẩm Tân, xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì). Ngày 6 tháng 2 năm 1952, khi chiếc xe Jeép của địch lọt vào trận địa, ta giật mìn nổ tiêu diệt gọn 2 vợ chồng tên chủ thầu người Pháp.


Cuối tháng 1 năm 1952, địch bao vây nhà anh Phụ, thôn Liễu Đông2 (Thôn Liễu Đông: Nay là thôn Áng Đông, xã Thụy An, huyện Ba Vì) (xã Thụy An) tìm hầm bí mật. Chúng sục tìm hầm bí mật và bắt được đồng chí Nhung và đồng chí Trọng - cán bộ huyện. Mặc dù bị địch tra tấn dã man nhưng đồng chí Nhung và đồng chí Trọng vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo cơ sở. Sau một thời gian bị giam giữ, đồng chí Trọng trốn thoát. Đồng chí tiếp tục được Huyện ủy Tùng Thiện điều về Thụy An gây dựng cơ sở và phong trào kháng chiến.


Ngày 15 tháng 2 năm 1952, quân Pháp huy động 5 xe camnhông chở lính từ Sơn Tây đi càn dọc Đường số 88. Trung đội du kích Cẩm Đái1 (Cẩm Đái: Nay thuộc thôn Cẩm An, xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì) cử tổ du kích gồm các đồng chí Triện, Trình, Bình, Loan, Núi và Miên, do đồng chí Triện chỉ huy, mang mìn ra phục kích tại gò Lát đầu làng Cẩm Đái để đánh địch. Khi chiếc xe đi đầu lọt vào trận địa, đồng chí Phùng Thị Núi giật dây cho mìn nổ tiêu diệt chiếc xe và toàn bộ binh lính địch trên xe.


21 giờ 30 phút ngày 20 tháng 2 năm 1952, lực lượng du kích xã Vạn Thắng phối hợp với Đại đội 350 của tỉnh Sơn Tây bao vây, diệt đồn Tổng Dũng ở thôn Mai Trai. Quân ta bao vây bốn mặt, dùng loa kêu gọi giặc đầu hàng. Tên chỉ huy cùng đồng bọn ngoan cố chống lại, hòng chờ viện binh đến cứu. Sau 1 ngày chờ đợi không có viện binh cứu trợ, đứng trước tình thế bị tiêu diệt 14 giờ ngày 21 tháng 2 năm 1952, chúng phải xin nộp vũ khí đầu hàng. Ngay sau đó, Chi bộ Vạn Thắng tổ chức cuộc mít tinh liên hoan mừng chiến thắng, tuyên bố giải thích chính sách khoan hồng của Đảng và Chính phủ, tha cho bọn binh lính về với gia đình làm ăn sinh sống.


Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi. Sau hơn 2 tháng chiến đấu, Quân đội ta đã tiêu diệt khoảng 22.000 tên địch, thu và phá hủy nhiều vũ khí, đạn dược quân trang quân dụng của địch. Hiện nay, tại Nhà Truyền thống huyện Ba Vì đang trưng bày 1 chiếc xe tăng là chiến lợi phẩm trong trận đánh Tu Vũ của Chiến dịch Hòa Bình.


Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là thành công của Đảng ta trong việc chỉ đạo chiến dịch và đưa Quân đội ta có bước tiến mới về trình độ chiến thuật, kỹ thuật, về khả năng chiến đấu liên tục dài ngày trên hai mặt trận rộng lớn và phức tạp. Ta giành được thế chủ động trên chiến trường; bảo vệ căn cứ địa Việt Bắc; lực lượng của ta trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt; căn cứ du kích của ta được mở rộng và nối liền nhau thành thế liên hoàn vững chắc. Đúng như lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng khẳng định: Không có Chiến dịch Hòa Bình thì sẽ không có chiến thắng ở Hồng Cúm, Him Lam, Độc Lập...!


Trong 78 ngày đêm chiến dịch, quân và dân huyện Ba Vì đã một lòng theo Đảng, theo Bác, với lòng tin vững chắc vào chiến thắng, đã vượt qua mọi khó khăn, không sợ hy sinh, gian khổ đã phục vụ đắc lực bộ đội chủ lực về sức người, sức của; phối hợp với bộ đội trực tiếp chiến đấu với quân thù, góp phần làm nên chiến thắng của Chiến dịch Hòa Bình.


Với truyền thống đó, Đảng bộ, quân và dân huyện Ba Vì sẽ thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới của Đảng; phấn đấu xây dựng quê hương Ba Vì ngày càng giàu mạnh. 
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #104 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2024, 09:50:54 pm »

LỰC LƯỢNG PHÒNG KHÔNG TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Trung tướng VŨ VĂN KHA
Quyền Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân


Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952) là chiến dịch tiến công của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam ở khu vực thị xã Hòa Bình - sông Đà - Đường số 6 nhằm tiêu diệt sinh lực địch, đập tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của thực dân Pháp. Quán triệt chỉ đạo chiến lược của Bộ Chính trị và nhiệm vụ của Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh giao, các lực lượng phòng không tham gia Chiến dịch, với trang bị chủ yếu là súng máy phòng không 12,7mm và số ít pháo cao xạ 20mm, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh máy bay địch ném bom vào đội hình tiến công các cứ điểm của ta, đánh máy bay địch tiếp tế đường không, phối hợp hỏa lực với pháo binh ta cắt đứt tiếp tế bằng đường thủy trên sông Đà của địch, góp phần quan trọng cùng các lực lượng khác tham gia chiến dịch giải phóng khu vực Hòa Bình - sông Đà giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với các Liên khu 3 Liên khu 4; đồng thời góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích sau lưng địch, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của thực dân Pháp.


Với âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược, mùa Đông năm 1951, thực dân Pháp mở cuộc tiến công Hòa Bình lập phòng tuyến sông Đà, nhằm nối lại hành lang Đông - Tây cắt đứtChiến khu Việt Bắc của ta với các chiến trường Liên khu 3 và Liên khu 4. Sau khi tiến vào Hòa Bình chiếm các vị trí then chốt, thực dân Pháp tổ chức phòng ngự thành 2 phân khu: Sông Đà - Ba Vì (khu Bắc) và Hòa Bình - Đường số 6 (khu Nam), trong đó thị xã Hòa Bình được xây dựng theo kiểu tập đoàn cứ điểm có sân bay dã chiến bên trong thị xã. Ngoài ra, còn có Phân khu Chợ Bên là tiền đồn phía Đông bảo vệ thị xã Hòa Bình. Tổng số lực lượng địch gồm có 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 4 tiểu đoànpháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội công binh và 1 trung đội xe tăng. Lực lượng không quân của địch được huy động gồm 9 phi đội với các loại máy bay Hencát (F6F), Biacát (F8F), Henđivơ (SB20), Privatơ (B24), Invadơ (B26) do Mỹ sản xuất viện trợ, được bố trí chủ yếu ở các sân bay Bạch Mai, Gia Lâm và sân bay dã chiến ở thị xã Hòa Bình; có nhiệm vụ chi viện hỏa lực và hỗ trợ đường không cho các cứ điểm phòng ngự ở Hòa Bình. Cường độ sử dụng của không quân địch tối đa 80 lần chiếc/ngày đánh vào đội hình tiến công của ta.


Trước diễn biến của tình hình, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch tổ chức tấn công quân Pháp ở Hòa Bình, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, đập tan phòng tuyến Sông Đà, giải phóng thị xã Hòa Bình phối hợp tạo điều kiện cho phát triển rộng khắp chiến tranh du kích ở chiến trường đồng bằng Bắc Bộ.


Hòa Bình là hướng chính, các nơi khác là phối hợp. Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích. Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm Chính trị và đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởngChiến dịch. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 3 đại đoàn bộ binh (308, 312 và 304), Đại đoàn công pháo 351 và lực lượng vũ trang địa phưong. Phối hợp tham gia chiến dịch có các đại đoàn 316, 320 được lệnh tiến sâu vào vùng địch chiếm đóng ở đồng bằng Bắc Bộ, cùng lực lượng vũ trang địa phương tại đây đánh địch, hỗ trợ nhân dân nổi dậy, phá tề, trừ gian, mở rộng khu du kích.


Lực lượng phòng không tham gia chiến dịch gồm: Tiểu đoàn phòng không 387 của Đại đoàn 308; các đại đội phòng không của các đại đoàn 304, 312, 316 và 320, được trang bị tương đối thống nhất, phần lớn là súng máy phòng không 12,7mm và số ít pháo cao xạ 20mm. Tư tưởngchỉ đạo của Bộ Chỉ huy Chiến dịch đề ra cho lực lượng phòng không là "diệt máy bay địch một cách rộng rãi", "diệt quân nhảy dù". Nhiệm vụ được giao của lực lượng phòng không là bắn máy bay, đánh quân dù và sử dụng tới quy mô đại đội, tiểu đoàn phòng không để bảo vệ pháo binh, bộ binh chiến đấu trong các trận tiến công cứ điểm địch.


Cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1951, lực lượng phòng không của các đơn vị tham gia chiến dịch bước vào giai đoạn chuẩn bị thực hiện triển khai đội hình chiến đấu. Trên hướng chủ yếu của chiến dịch, lực lượng phòng không của Đại đoàn 308, 312 được bố trí bám sát đội hình chiến đấu của các trung đoàn 36, 88 và 141, trên cả 2 bên tả và hữu ngạn sông Đà, trải dài từ thị xã Hòa Bình đến Trung Hà. Lực lượng phòng không của Đại đoàn 304 bố trí bảo vệ đội hình chiến đấu ở phía Nam Hòa Bình, đánh địch trên các điểm cao 2 bên Đường số 6 và cắt đứt đường vận chuyển của địch trên Đường số 6. Trên hướng Đại đoàn 320, lực lượng phòng không bố trí bảo vệ đội hình đánh địch ở Chợ Bến và cơ động theo đội hình chiến đấu của Đại đoàn 320 vào vùng địch hậu đồng bằng. Lực lượng phòng không của Đại đoàn 316 bố trí bảo vệ đội hình đánh địch của Trung đoàn 176 ở vùng Lộc Bình (Lạng Sơn), Đường số 4 và ở vùng Bắc Ninh, Bắc Giang. Ngày 2 tháng 12 năm 1951, lực lượng phòng không và các đơn vị chiến đấu đã hình thành thế trận xung quanh địch, sẵn sàng mở màn chiến dịch.


Đợt 1 của chiến dịch (10 - 26.12.1951), Tiểu đoàn phòng không 387 được tăng cường cho Trung đoàn 36 bố trí đánh địch ở Đoan Hạ, tả ngạn sông Đà. Trung đoàn 88 được tăng cường 1 đại đội phòng không 12,7mm đánh địch ở cứ điểm Tu Vũ. Lực lượng phòng không của Đại đoàn 312 bảo vệ cho Trung đoàn 209, Trung đoàn 141 đánh địch ở núi Chẹ, xóm Ninh Mít thuộc khu vực Đá Chông, Ba Vì và Lạc Song. Lực lượng phòng không của Đại đoàn 304 bảo vệ các mũi tiến công của Trung đoản 66 từ Cầu Du đến Cầu Mè cách thị xã Hòa Bình 15km về phía Đông Bắc và Trung đoàn 9 ở khu vực Giang Mỗ. Trên cả chiều dài và chiều rộng chiến dịch, lực lượng phòng không đã được sử dụng theo quy mô cấp đại đội, tiểu đoàn phòng không, tập trung được hỏa lực đánh máy bay địch; chi viện được hỏa lực cho pháo binh, bộ binh chiến đấu đánh cứ điểm, tiêu diệt sinh lực địch và ngăn chặn địch tiếp tế theo đường thủy trên sông Đà. Trong trận chiến ngày 14 tháng 12 năm 1951, ở Yến Mao, cách Đoan Hạ 4km về phía Nam, Tiểu đoàn 387 dùng súng máy phòng không 12,7mm bắn chìm 2 sà lan địch. Ngày 22 tháng 12 năm 1951, trong trận Lạc Song, vừa đánh máy bay, vừa đánh tàu chiến canô địch, Đại đội phòng không 341 (Tiểu đoàn 387) đã đánh bại cuộc tập kích của 12 máy bay địch, bắn rơi 2 chiếc, hiệp đồng hỏa lực cùng các lực lượng khác bắn cháy 1 tàu chiến, 4 canô địch.


Đợt 2 của chiến dịch (27 - 31.12.1951), lực lượng phòng không của Đại đoàn 312 bảo vệ cho Trung đoàn 141 tiến công đánh địch ở các điểm cao 165, 400, 600 thuộc khu vực Ba Vì. Lực lượng phòng không của Đại đoàn 304 bảo vệ cho Trung đoàn 9 đánh địch ở Hàm Voi và Trung đoàn 57 đánh địch ở vị trí Đồi Mồi, cách Xuân Mai 15km trên Đường số 21. Lực lượng phòng không của Đại đoàn 308 bảo vệ bộ đội đánh địch ở khu vực Đá Chông và đánh viện trên sông Đà. Trong đợt chiến đấu này, lực lượng phòng không đã hoàn thành tốt nhiệm vụ kiềm chế hỏa lực đường không của máy bay yểm trợ các đơn vị phản kích của địch, hòng chiếm lại các điểm cao 400, 600 vào ngày 30 tháng 12 năm 1951.


Đợt 3 của chiến dịch (7.1 - 25.2.1952), khi vận chuyển trên sông của địch bị cắt đứt, vận chuyển trên Đường số 6 hầu như bị tê liệt, 6 tiểu đoàn địch trong thị xã Hòa Bình hằng ngày chỉ còn trông chờ vào những chuyến bay tiếp tế nhỏ giọt của không quân địch. Khoét sâu vào chỗ yếu của địch, các phân đội phòng không của các đại đoàn 304, 308, 312, bố trí dọc 2 bên sông Đà, Đường số 6 và quanh thị xã Hòa Bình đã được tập trung đẩy mạnh việc bắn máy bay địch, hạ được 5 chiếc, ngăn chặn nguồn tiếp tế duy nhất còn lại của địch và bảo vệ cho bộ binh ta diệt 10 đại đội Âu - Phi trên các cứ điểm từ Ao Trạch đến Hàm Voi. Cùng thời gian này, hỏa lực phòng không của ta đã kết hợp với các cuộc pháo kích và lực lượng đột kích đánh máy bay địch hoạt động ở sân bay dã chiến trong thị xã Hòa Bình, phá hủy 2 máy bay địch. Sáng ngày 23 tháng 2 năm 1952, địch rút quân khỏi thị xã Hòa Bình. Ta tiến hành truy kích địch, nhưng bị các máy bay B-26, F-6F và pháo binh địch hoạt động mạnh ngăn chặn đường tiến, các mũi vận động tiến công của quân ta đều ra chậm và không đánh được. Vì vậy, trong 3 ngày đánh địch rút lui (23 - 25.2.1952), ta chỉ diệt được một bộ phận nhỏ quân địch. Do hỏa lực của lực lượng phòng không ta chưa đủ mạnh đã hạn chế nhiều đến kết quả diệt địch khi chúng tổ chức rút lui khỏi thị xã Hòa Bình.


Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên địch, bắn chìm 17 tàu, xuồng phá hủy 12 khẩu pháo và hàng trăm xe vận tải. Các lực lượng phòng không tham gia chiến dịch đã bắn rơi và phá hủy của địch tổng cộng 9 máy bay các loại, góp phần thực hiện được mục tiêu của Bộ Chính trị giao là tiêu diệt sinh lực địch, đập tan phòng tuyến Sông Đà, giải phóng thị xã Hòa Bình và phát triển chiến tranh du kích rộng khắp ở đồng bằng Bắc Bộ. Thắng lợi của các lực lượng vũ trang ta tham gia Chiến dịch Hòa Bình, trong đó có lực lượng phòng không, cũng đã được Bác Hồ gửi thư khen ngợi.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #105 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2024, 09:51:34 pm »

Từ thực tiễn chiến đấu của lực lượng phòng không trong Chiến dịch Hòa Bình, chúng ta rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu về nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng phòng không như sau:

Thứ nhất, lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, ta có và dùng hỏa lực tập trung của lực lượng phòng không với quy mô cấp đại đội, tiểu đoàn, đánh máy bay địch để bảo vệ pháo binh, bộ binh tiến công cứ điểm (như trận Tu Vũ đêm ngày 10 tháng 12 năm 1951) hay trận phục kích dùng hỏa lực phòng không phối hợp tiêu diệt tàu địch, ngăn chặn địch tiếp tế trên sông Đà (ở Đoan Hạ ngày 14, ở Lạc Song ngày 22 tháng 12 năm 1951) và giành thắng lợi. Đây chính là bài học kinh nghiệm về thành công về nghệ thuật tổ chức lực lượng phòng không. Các phân đội phòng không ta đã khống chế được hỏa lực đường không của địch, góp phần vây hãm địch vào tình thế nguy khốn.


Thứ hai, việc sử dụng tập trung các phân đội phòng không ở hướng sông Đà trong đợt 1, đợt 2 và ở hướng Đường số 6 trong đợt 3 để bảo vệ lực lượng bộ binh, pháo binh ta chiến đấu tiến công địch đã hình thành bài học kinh nghiệm về nghệ thuật sử dụng lực lượng phòng không tập trung trên hướng chủ yếu, cho nhiệm vụ chủ yếu và cho mục tiêu quan trọng.


Thứ ba, lực lượng phòng không đã áp dụng chiến thuật phòng tránh đánh trả, lợi dụng địa hình, địa vật để phục kích đánh máy bay địch, hỗ trợ chi viện hỏa lực bảo vệ cho pháo binh, bộ binh ta đánh địch tiếp viện trên sông cũng như trên bộ, nhất là tập trung nỗ lực bắn máy bay địch tiếp tế khi vận chuyển trên sông của chúng bị cắt đứt, vận chuyển đường bộ bị tê liệt, sân bay bị tập kích, pháo kích. Cùng với đó là việc phối hợp với các đơn vịbộ binh áp dụng cách đánh gần trong công kiên, cũng như trong vận động tiến công để hạn chế sức mạnh hỏa lực của không quân địch đã tạo ra bước phát triển mới của nghệ thuật sử dụng lực lượng và nghệ thuật chuyển hóa thế trận phòng không của các lực lượng phòng không trong Chiến dịch Hòa Bình.


Thứ tư, lực lượng phòng không của ta trong chiến dịch đã có tiến bộ về nhiều mặt, nhất là với các phân đội phòng không có trong biên chế các đại đoàn bộ binh. Tuy nhiên, lực lượng phòng không ta còn chưa đủ mạnh nên chưa đáp ứng được các yêu cầu tiêu diệt máy bay địch, bảo vệ lực lượng tiến công của ta trong chiến dịch cũng như đánh địch tăng viện hay tiếp tế có hiệu quả. Cụ thể là như giai đoạn cuối chiến dịch, khi địch rút chạy khòi thị xã Hòa Bình.


Kế thừa bài học kinh nghiệm về nghệ thuật tổ chức sử dụng lực lượng phòng không trong Chiến dịch Hòa Bình, bộ đội Phòng không ta đã vận dụng sáng tạo cho giai đoạn tiếp theo của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cứu nước. Cho đến nay, những bài học kinh nghiệm đó vẫn còn nguyên giá trị lý luận, thực tiễn cho sự nghiệp bảo vệ bầu trời Tổ quốc, xây lực lượng phòng không 3 thứ quân và nhất là xây dựng Quân chủng Phòng không - Không quân vững mạnh toàn diện, trong đó cần tập trung làm tốt một số vấn đề chủ yếu sau đây:


Một là, xây dựng Quân chủng Phòng không - Không quân và lượng phòng không 3 thứ quân vững mạnh về chính trị; quán triệt sâu sắc đường lối quân sự của Đảng, nghệ thuật quân sự Việt Nam, nhất là nghệ thuật tổ chức sử dụng lực lượng phòng không không quân, trong đó có nghệ thuật tổ chức sử dụng lực lượng phòng không trong tác chiến hiện đại; quán triệt chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nhiệm vụ được giao, bảo đảm cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần quyết tâm dám đánh, biết đánh và đánh thắng địch.


Hai là, tập trung xây dựng Quân chủng Phòng không - Không quân "Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại", có tổ chức biên chế hợp lý theo hướng "tinh, gọn, mạnh"; tổ chức bố trí lực lượng, xây dựng thế trận của Quân chủng Phòng không - Không quân phù hợp trên các hướng chiến lược và khu vực phòng thủ, đảm bảo cơ động cao, chuyển hóa linh hoạt; kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng phòng không, không quân chủ lực với lực lượng phòng không 3 thứ quân rộng khắp, tạo ra lưới lửa phòng không nhiều tầng, nhiều lớp, quản lý vững chắc các khu vực, mục tiêu trọng yếu, không để bị bất ngờ lỡ thời cơ với mọi tình huống trên không.


Ba là, tiếp tục nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, diễn tập, trình độ hiệp đồng chiến đấu của của lực lượng phòng không trong Quân chủng Phòng không - Không quân với các lực lượng binh chủng hợp thành và lực lượng vũ trang địa phương khu vực phòng thủ, trong các loại hình tác chiếnchiến dịch, nhằm đánh địch hiệu quả và đối phó thắng lợivới các đòn tập kích đường không trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra).


Bốn là, tập trung phát huy hiệu quả vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại tích cực chủ động nghiên cứu khoa học, cải tiến, nâng cấp các loại vũ khí có trong biên chế; đầu tư nâng cấp một số công trình sân bay, công trình chiến đấu, bảo đảm cho các lực lượng của Quân chủng Phòng không - Không quân có đủ sức mạnh, thực sự làm nòng cốt trong quản lý và bảo vệ bầu trời.


Năm là, tổ chức thế trận bảo đảm hậu cần, kỹ thuật của Quân chủng Phòng không - Không quân theo vùng miền, có chiều sâu ở tất cả các cấp chiến dịch, chiến thuật; vừa bảo đảm cho sẵn sàng chiến đấu, vừa bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho các lực lượng của Quân chủng hoàn thành các nhiệm vụ thường xuyên, cũng như các nhiệm vụ đột xuất khác được giao.


70 năm đã trôi qua, nhưng ý nghĩa thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình trong đó có thắng lợicủa lực lượng phòng không tham gia chiến dịch vẫn luôn đồng hành cùng cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Phòng không - Không quân. Các lực lượng của Quân chủng đã, đang và sẽ luôn luôn cảnh giác, nắm vững âm mưu, thủ đoạn của địch, tính chất phức tạp của chiến tranh công nghệ cao trong tác chiến đường không. Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sắc của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Bộ đội Phòng không - Không quân sẽ luôn phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, xứng đáng là lực lượng nòng cốt trên mặt trận đối không, cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bảo vệ vững chắc bầu trời Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #106 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2024, 09:54:46 pm »

BẢO ĐẢM CÔNG BINH TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Thiếu tướng TRẦN TRUNG HÒA
Tư lệnh Binh chủng Công binh


Mùa Đông năm 1951, quân Pháp mở cuộc tiến công ra Hòa Bình nhằm nối lại "hành lang Đông - Tây" với việc lập phòng tuyến Sông Đà làm tuyến phòng thủ trung tâm, mở rộng khu Chiếm đóng, phá sự chuẩn bị tiến công, thu hút chủ lực của ta để tiêu diệt. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch lớn đánh địch trên cả 2 mặt trận: Tập trung chủ lực ở mặt trận chính là Hòa Bình và đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động ở địch hậu là trung du và đồng bằng Bắc Bộ, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch tiến tới phá tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của chúng.


Cùng với các lực lượng vũ trang, bộ đội Công binh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần vào thắng lợi Chiến dịch Hòa Bình. Tham gia chiến dịch, lực lượng công binh có Trung đoàn công binh 151 (gồm: Tiểu đoàn 444 phối thuộc Đại đội 311 cho Đại đoàn 316 hoạt động ở địch hậu; Tiểu đoàn 333 sử dụng Đại đội 250 làm Sở Chỉ huy Chiến dịch, Đại đội 270 phối thuộc cho Đại đoàn 312, Đại đội 260 phối thuộc cho Đại đoàn 308; Tiểu đoàn 555 ở hậu cứ) và 5 đại đội công binh thuộc 5 đại đoàn bộ binh.


1. Bảo đảm công binh trên mặt trận chính (hướng chủ yếu chiến dịch)

Trong giai đoạn chuẩn bị chiến dịch, Tiểu đoàn công binh 444 và Đại đội công binh 240 (Đại đoàn 312) bảo đảm đường, bắc cầu cho bộ binh tiến từ Phú Thọ hành quân qua sông Hồng, theo đường Đồn Vàng, Thục Luyện đến Tu Vũ vượt sông Đà vào khu vực tác chiến. Tại bến Lạc Song (sông Đà), với 7 thuyền nan do Đại đội công binh 313 huy động tại chỗ và số thuyền đưa từ Thục Luyện về, công binh đã bảo đảm cho Trung đoàn 209 cùng 6 khẩu pháo 75mm và 1 tiểu đoàn bộ binh qua sông Đà. Trong 3 đêm (7 - 9.12.1951), bộ đội Công binh cùng nhân dân địa phương kịp thời đưa lực lượng chủ lực của ta cơ động vào vị trí chuẩn bị tác chiến bí mật, an toàn. Chiến dịch tiến công Hòa Bình diễn ra qua 3 đợt tác chiến:

Đợt 1 (10 - 26.12.1951), ta tập trung đột phá tuyến Sông Đà. Ngày 9 tháng 12 năm 1951, phát hiện chủ lực ta vượt sông Đà sang hữu ngạn, địch điều Binh đoàn cơ động số 4 càn quét vùng Ba Vì, Yên Lê, Đường số 87. Trước tình hình đó, Bộ Chỉ huy Chiến dịch lệnh cho Đại đoàn 312 chuyển sang đánh địch đi càn. Sáng 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) mở màn chiến dịch bằng trận vận động phục kích tiêu diệt một bộ phận lớn Tiểu đoàn dù số 1 của quân Pháp ở Ninh Mít (Tây Nam núi Ba Vì) buộc địch phải kết thúc cuộc càn, rút chạy về Trung Hà. Đêm mùng 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) tiến công Tu Vũ, một vị trí phòng ngự then chốt của Phân khu Sông Đà do lực lượng lính Âu - Phi của Pháp chiếm đóng, đến 5 giờ ta làm chủ trận địa. Trận đánh làm rung chuyển tuyến phòng ngự Sông Đà của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thuận lợi. Trong đợt này, 2 đại đội công binh 260 và 309 đã mớ đường cho bộ binh xuất kích, bắc 2 cầu phao bôn tập, mỗi chiếc dài 27m qua Ngòi Lát dưới hỏa lực pháo rất mạnh của địch uy hiếp.


Cùng đêm mùng 10 tháng 12, 1 trung đội thuộc Đại đội công binh 313 đã phá 5 cầu gỗ trên đường từ Tu Vũ đến Hòa Bình. Để giữ bí mật, các chiến sĩ công binh đã không sử dụng thuốc nổ phá cầu mà dùng cưa để cắt các dầm cầu và chân cầu, làm cho ôtô của địch không thể đi qua được, tạo điều kiện cho bộ binh tiêu diệt.


Sau khi bảo đảm vượt sông cho Đại đoàn 312 qua hữu ngạn sông Đà, Tiểu đoàn công binh 444 cùng Đại đội công binh 260 rút về bảo đảm đường chiến dịch. Ở bến Lạc Song, công binh và dân công bảo đảm vượt sông cho các lực lượng củachiến dịch qua sông Đà vào chiếm lĩnh trận địa. Ngàỵ 23 tháng 12 năm 1951, địch cho một đoàn canô từ Hòa Bình cố mở thông sông Đà về xuôi, để bảo vệ bến vượt, pháo binh của ta đã phục kích bắn chìm, bắn cháy nhiều tàu địch trên sông; tuyến cơ động của địch trên sông Đà vẫn bị cắt đứt. Bến Lạc Song không còn bị uy hiếp, công binh bàn giao công việc chèo chở lực lượng qua sông cho dân công, chỉ để lại một lực lượng nhỏ để hướng dân kỹ thuật. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng và có nhiều khó khăn nên toàn bộ lực lượng được huy động vào việc mở đường qua đèo Luồng, làm đường vòng tránh qua các "trọng điểm" và bảo đảm cho chủ lực vượt sông tham gia chiến đấu.


Đợt 2 (27 - 31.12.1951), ta giữ vững được hành lang vận chuyển qua sông Đà và tiêu diệt bức rút nhiều đồn bốt, tiếp tục dồn địch vào thế bị động. Nhưng do ta chuẩn bị không tốt nên lực lượng của ta cũng bị thương vong nhiều, việc bổ sung quân số và tiếp tế gặp khó khăn. Bộ Chỉ huy Chiến dịch động viên các đơn vị "tranh thủ tiêu diệt thêm sinh lực địch và tranh thủ chấn chỉnh lực lượng để có cơ hội thì đánh mạnh"; đồng thời không được coi thường đánh nhỏ, diệt nhỏ và phải chuẩn bị khi có điều kiện sẽ đánh lớn và diệt lớn. Trên Đường số 6, phải hoạt động quấy rối, đánh phá giao thông, ngăn chặn tiếp tế của địch.


Trong đợt 2, Đại đội công binh 309 (Đại đoàn 308) được giao nhiệm vụ sử dụng mìn phóng tập kích vào đồn Pheo, Đại đội đãđánh sập 3 lô cốt, cắt đứt 3 đoạn hào và tiêu diệt nhiều tên địch ở cứ điểm đồn Pheo. Sau đó, Đại đội công binh 309 tiếp tục chôn mìn phục kích diệt 4 xe cơ giới địch trên Đường số 6. Bị thiệt hại nặng nề, địch điều thêm 2 binh đoàn cơ động (số 3 và số 7) từ đồng bằng lên tăng viện nhưng không khai thông được tuyến sông Đà. Ta tiếp tục uy hiếp mạnh địch trên Đường số 6 và cô lập địch ở thị xã Hòa Bình, quân địch bị động lúng túng đối phó.


Đợt 3 (7.1 - 25.2.1952), sau đợt 2, Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận định: Nếu ta đánh mạnh, địch sẽ rút chạy khỏi Hòa Bình. Bộ Chỉ huy quyết định chuyển hướng tiến công chủ yếu xuống Đường số 6 và khống chế địch vận chuyển trên sông Đà, đồng thời vây chặt địch trong thị xã Hòa Bình và sẵn sàng đánh địch rút chạy. Để bảo đảm cơ động cho các đơn vị chủ lực, Đại đội công binh 270 trở về đội hình Tiểu đoàn công binh 333, cùng Đại đội công binh 260 bảo đảm sửa đường chiến dịch từ Đồn Vàng đến Đèo Cốc. Tiểu đoàn công binh 444 sử dụng 2 đại đội công binh (313 và 314) bảo đảm sửa đường và bảo đảm bến vượt sông ở xóm Ni để Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) chuẩn bị đánh cứ điểm đồn Pheo. Các bến vượt ở xóm Ni cách đồn Pheo khoảng 500m và trong tầm hỏa lực của địch, nhưng do tổ chức chặt chẽ, bí mật, công binh đã bảo đảm cho Trung đoàn 102 vượt sông an toàn.


Đêm mùng 7 tháng 1, Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) tiến công cứ điểm đồn Pheo (đây là vị trí quan trọng của địch nằm giữa Đường số 6 và sông Đà), Trung đoàn 66 tiến công vị trí Đầm Huống. Cả 2 đơn vị đều đánh không thành công và thương vong lớn, nhưng cũng gây cho địch nhiều thiệt hại. Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) bí mật đột nhập thị xã Hòa Bình giành thắng lợi, tiêu diệt 4 vị trí ngoại vi và 1 trận địa pháo địch ở khu Kiếm Lâm, phá hủy 4 khẩu 105mm.


Bị ta đánh mạnh ớ Đường số 6 và thị xã Hòa Bình, ngày 8 tháng 1, địch rút toàn bộ lực lượng ở tuyến sông Đà về giải vâycho Đường số 6 và thị xã Hòa Bình. Trước tình hình đó, Bộ Chỉ huy Chiến dịch chủ trương tiếp tục đánh cắt Đường số 6 và bao vây thị xã Hòa Bình. Các đơn vị hoạt động trên Đường số 6 đã thực hiện đúng phương châm của Bộ, tổ chức các trận đánh nhỏ tiêu diệt, tiêu hao địch, kết hợp phá hoại, quấy rối, ngày càng đây quân địch vào vòng nguy khốn.


Để chuẩn bị đánh địch rút chạy, Tiểu đoàn công binh 333 được giao nhiệm vụ sửa đường cho ôtô cơ động từ Yên Mạo qua Tu Vũ đến Đồng Việt. Tại Tu Vũ, công binh được giao nhiệm vụ bảo đảm bến vượt cầu. Nhiệm vụ bắc cầu qua sông rất khó khăn do địa chất yếu và nước chảy mạnh, đồng thời cũng dễ bị lộ do bến vượt tương đối gần địch. Để khắc phục khó khăn, các chiến sĩ công binh đã đan sọt đổ đá làm chân cầu và để giữ bí mật, công binh làm 2 vệt mặt cầu sát mặt nước. Mọi công việc được hoàn thành đúng thời hạn, 27 xe ôtô vận tải đã qua sông, kịp thời tiếp tế cho các đơn vị chủ lực đang bao vây, truy kích địch.


Ngày 12 tháng 1 năm 1952, Trung đoàn công binh 151 nhận lệnh bảo đảm cho 1 tiểu đoàn pháo xe kéo (gồm 1 đại đội pháo 105mm, 1 đại đội cối 120mm, 2 trung đội đạn, 1 trung đội xe ôtô) từ hậu phương hành quân ra mặt trận. Để thực hiện nhiệm vụ này, Ban Chỉ huy Trung đoàn đã điều Tiểu đoàn công binh 555 làm bên phà sông Thao ở Gia Dụ, sửa đường Đồn Vàng - Lạc Song và làm 2 công sự có nắp cho pháo ở Xóm Bún (gần Lạc Song) để pháo binh ta bắn vào cứ điểm đôn Pheo và thị xã Hòa Bình.


Bị ta đánh mạnh, ngày 23 tháng 2 năm 1952, địch rút chạy khỏi Hòa Bình. Trung đoàn công binh 151 được lệnh nhanh chóng bắc cầu phao ở bến Lạc Song để bộ binh qua sông Đà truy kích địch trên Đường số 6. Đại đội công binh 313 được giao nhiệm vụ này, nhưng do thiếu kinh nghiệm, trời tối và sông rộng (trên 100m), đến 2 giờ sáng ngày 24 tháng 2 mới bắc xong cầu, chậm 6 tiếng so với quy định. Để đáp ứng yêu cầu chiến dịch, công binh đã chủ động bảo đảm cho bộ binh qua sông bằng thuyền nan, lực lượng còn lại qua sông bằng cầu khi hoàn thành. Sau chiến dịch, cầu phao Lạc Song còn tiếp tục được duy trì cho các lực lượng của ta rút quân.


Sau khi địch rút lui, Trung đoàn công binh 151 được giao nhiệm vụ quét mìn ở thị xã Hòa Bình để bảo đảm an toàn cho nhân dân. Đại đội công binh 270 nhận nhiệm vụ dò, gỡ mìn địch trong điều kiện không có máy dò mìn. Các chiến sĩ công binh vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, sau hơn 1 tháng đã dò, gỡ được trên 900 quả mìn các loại. Đây là đợt "quét mìn toàn diện" và thành công đầu tiên của công binh Việt Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #107 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2024, 09:56:22 pm »

2. Bảo đảm công binh ở mặt trận địch hậu (hướng phối hợp chiến dịch)

Hướng Đại đoàn 316, Đại đội công binh 311 đi cùng Trung đoàn 174 tiên sâu vào vùng địch hậu. Trong 10 ngày, Đại đội hành quân từ Lạp Xuyên (Phú Thọ) đến Mẹt (Bắc Giang) vượt qua chặng đường 300km. Trong 3 tháng phối thuộc với Trung đoàn 174 các chiến sĩ công binh Đại đội 311 đã cùng bộ binh đánh địch ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương. Đêm mùng 6 tháng 12 năm 1951 công binh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mở cửa mở và phá lô cốt đầu cầu của địch, tạo điều kiện cho bộ binh diệt đồn Larivê. Đêm 20 tháng 12 năm 1951 ta tiến công vị trí Phố Mới (Quế Võ) đêm 22 tháng 12 năm 1951, tiến công Phố Mới lần thứ hai. Công binh tiếp tục làm nhiệm vụ mở cửa mở và hướng dẫn dân quân phá hoại đoạn đường từ Bắc Ninh đến Phố Mới. Đêm 15 tháng 1 năm 1952, công binh hoàn thành nhiệm vụ bắc cầu tre dài 30m và mở cửa qua bãi vật cản bảo đảm cho bộ binh tiêu diệt vị trí Vân Thai. Trong đợt hoạt động này, Đại đội công binh 311 đã nhiều lần bắc cầu, chèo thuyền qua sông cầu, sông Thương, sông Đuống, sông Phú Lâu (Hải Dương), sông Đào (Kè Sặt), bảo đảm cho bộ binh, pháo 75mm cơ động đánh địch.


Ở hướng Đại đoàn 320 (Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình), Đại đội công binh 2468 của Đại đoàn cùng với dân quân và nhân dân các địa phương liên tục bảo đảm cho bộ binh, pháo binh vượt sông Đáy, sông Vạc, sông Thái Bình, sông Trà Lý tiêu diệt nhiều sinh lực địch, làm chủ thị trấn Phát Diệm 1 ngày và diẹt nhiều vị trí khác của địch như Ngô Khê, Vũ Diệu, La Cao, Chợ Mới... Trong trận đánh càn Mécquya ở thôn Bích Du (Thụy Anh - Thái Bình), Đại đội công binh 2468 cùng 1 tiểu đoàn bộ binh anh dũng chiến đấu phá vây, nhưng do lực lượng quá chênh lệch, Đại đội bị thương vong lớn, chỉ có một số ít anh em thoát được vòng vây. Sau khi chiến dịch kết thúc, Đại đội 2468 chuyển ra hậu phương củng cố lực lượng. Lúc nàỵ các đơn vị bộ binh và lực lượng dân quân du kích đánh mạnh khắp nơi, làm cho ngụy binh địch tan rã từng bộ phận, buộc địch phải đưa lực lượng ứng chiến ở mặt trận Hòa Bình về đỡ đòn cho mặt trận phía sau. Thắng lợi to lớn ở mặt trận phía sau lưng địch có ý nghĩa lớn, góp phần vào thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình.


Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc. Sau hơn 2 tháng chiến đấu, ta đã phá kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của địch, giải phóng khu vực Hòa Bình, sông Đà; đánh bại âm mưu của địch đánh chiếm vùng tự do của ta, phá được ý đồ giành quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ của địch; giữ vững đường giao thông chiến lược giữa Việt Bắc và Liên khu 3, Liên khu 4 đồng thời, phá tan âm mưu thâm độc chia rẽ đồng bào Mường của địch. Trong Chiến dịch Hòa Bình, nhiệm vụ bảo đảm công binh, ban đầu không hình thành công binh chiến dịch. Các đơn vị của Trung đoàn công binh 151 được chia ra tăng cường cho các đại đoàn, bảo đảm cho các đại đoàn cơ động linh hoạt trong các hoạt động tác chiến. Đến cuối đợt 1, tình huống chiến trường thay đổi, các tiểu đoàn công binh được rút về bảo đảm cho các trục đường chiến dịch, lúc này mới hình thành bảo đảm công binh chiến dịch cho các binh đoàn chủ lực chuyển sang tiến công. Khối lượng bảo đảm đường của công binh cũng không nhiều, do cơ bản tận dụng được mạng đường có sẵn và sử dụng lực lượng dân công vận chuyển nhưng việc bảo đảm bến vượt, làm cầu, làm phà chuyên chở cho lực lượng chủ lực qua sông rất khẩn trương trong điều kiện gần địch, thời gian gấp và bị hỏa lực địch uy hiếp. Các đơn vị công binh đã kiên quyết, dũng cảm, vượt qua khó khăn, ác liệt để hoàn thành nhiệm vụ.


Kết thúc Chiến dịch Hòa Bình, Trung đoàn công binh 151 được tặng thường Huân chương Chiến công hạng Nhất. Ba đơn vị công binh của Trung đoàn được vinh dự nhận 3 cờ thưởng của Bác Hồ: Đại đội 313 được thưởng cờ "Liên tục vượt sông Đà" Đại đội 314 được thường cờ "Anh dũng vượt sông Đà", Đại đội 270 được thường cờ "Bảo đảm đường tiếp tế Hòa Bình". Đây không chỉ là phần thưởng cao quý mà còn là sự ghi nhận những đóng góp quan trọng của lực lượng công binh vào chiến thắng của Chiến dịch Hòa Bình.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #108 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2024, 09:57:06 pm »

Qua chiến dịch này cho thấy lực lượng công binh đã có bước phát triển về tổ chức bảo đảm công binh chiến dịch cũng như khả năng sử dụng vũ khí công binh truy kích, tiêu diệt địch và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý:

Một là, nắm chắc ý định và các tình huống chiến dịch luôn chủ động kịp thời chuyến hướng phù hợp với diễn biến của tình hình mới

Trong tác chiến chiến dịch, các tình huống có thể xảy ra liên tục, khấn trương, diễn biến trên chiến trường phức tạp và ác liệt nhiều tình huống ngoài dự định. Vì vậy, cơ quan và người chỉ huy đơn vị bảo đảm công binh phải luôn chủ động nắm chắc ý định các phương án tác chiếncủa người chỉ huy bảo đảm cơ động để có phương án bảo đảm đường, bảo đảm vượt sông hợp lý, kịp thời. Nhiệm vụ bảo đảm đường, bảo đảm vượt sông trong tác chiếnchiến dịch thường phải triển khai cùng một lúc trên các hướng, nhiều khu vực, nhiều đối tượng và lực lượng tham gia. Do đó phái có kế hoạch tổ chức, chỉ huy, chỉ đạo lực lượng công binh các cấp thực hiện đầy đủ và hiệu quả các nhiệm vụ bảo đảm đường, bảo đảm vượt sông theo quyết tâm của người chỉ huy.


Chiến dịch Hòa Bình là chiến dịch tiến công vào quân địch mới tỏa ra chiếm đóng, công sự chưa vững chắc; thời gian chuan bị chiến dịch gấp. Kế hoạch chiến dịch mới xác định được đợt 1, sau đó được bổ sung quá trình phát triển chiến dịch, về nhiệm vụ bảo đảm công binh, trong giai đoạn chuẩn bị chủ yếu là bảo đảm cho bộ binh vận động tiến công và bảo đảm cơ động trong khu vực chiến dịch, trọng tâm là qua sông Thao, sông Đà. Sang đợt 2 của chiến dịch, toàn bộ công binh chiến dịch tập trung bảo đảm đường, bảo đảm vượt sông cho ôtô vận tải hậu cần và các đơn vị pháo cơ giới tăng cường cho chiến dịch tiến công địch. Nắm chắc ý định của trên và hiểu rõ nhiệm vụ công binh chủ yếu trong từng giai đoạn tác chiến, lực lượng công binh tham gia chiến dịch đã tích cực, chủ động, kịp thời chuyển hướng phù hợp với tình hình mới và hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm công binh được giao.


Lực lượng công binh lúc đầu sử dụng phân tán, sau tập trung là kịp thời phù hợp yêu cầu tác chiến. Giai đoạn tổ chức chuẩn bị Tiểu đoàn công binh 333 phân tán (1 đại đội làm Sở Chỉ huy,1đại đội phối thuộc Đại đoàn 312, 1 đại đội phối thuộc Đại đoàn 308), lúc đầu sử dụng lực lượng phân tán, do ta chủ trương tiến hành chiến dịch phản công để đánh bại cuộc tiến công của địch. Song quá trình chiến dịch, ta không chuẩn bị kịp để tiến hành ngay chiến dịch phản công. Do vậy ta phải chuyển từ chiến dịch phản công sang chiến dịch tiến công. Để bảo đảm cho chiến dịch tiến công giành thắng lợi, công binh phải tập trung lực lượng vào nhiệm vụ công binh chủ yếu trên mặt trận chính cho các lực lượng cơ động vào tác chiến chiến dịch đúng thời gian quy định.


Theo yêu cầu nhiệm vụ, Tiểu đoàn công binh 333 (tập trung đủ3đại đội) bảo đảm đường cho ôtô từ Yên Mạo qua Tu Vũ đến Đồng Việt và bắc cầu Tu Vũ. Nhờ có sự tập trung đã phát huy được khả năng của toàn bộ lực lượng vào nhiệm vụ sửa đường, bắc cầu và hoàn thành đúng thời hạn, 27 xe ôtô vận tải đã qua sông, kịp thời tiếp tế cho các đơn vị chủ lực tăng cường cơ động vào đánh địch.


Hai là, triệt để tận dụng địa hình, mạng đường, công trình, bên vượt có sẵn giữ được yêu tố bí mật, bất ngờ và triển khai nhiệm vụ bảo đảm công binh kịp thời đáp ứng yêu cầu chiến dịch

Chiến dịch tiến công Hòa Bình diễn ra trên mặt trận chính là vùng rừng núi sát với đồng bằng, có Đường số 6 và sông Đà là đường giao thông huyết mạch chính; ở mặt trận phía sau lưng địch là địa bàn rộng lớn khu vực trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Chiến dịch Hòa Bình là bước phát triển mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng thời cũng là bước nhảy vọt của nghệ thuật quân sự Việt Nam, phát huy cao độ sức mạnh của lực lượng chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương, của mặt trận chính diện Hòa Bình và mặt trận phía sau ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, buộc địch phải phân tán đối phó. Nhiệm vụ của lực lượng công binh trong chiến dịch hết sức nặng nề, khối lượng công việc lớn trải dài trên phạm vi rộng, qua nhiều địa hình phức tạp, thời gian làm công tác chuẩn bị gấp... Để hoàn thành nhiệm vụ, công binh phải có sự chuẩn bị trước và huy động được đông đảo lực lượng cùng tham gia và tận dụng được vật liệu tại chỗ của địa phương, kết hợp với công tác ngụy trang, nghi binh khôn khéo để giảm khối lượng và thời gian. Đây chính là những yếu tố để lực lượng công binh hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo đảm công binh cho chiến dịch. Quá trình thực hiện nhiệm vụ nhờ giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ làm cho địch không kịp đối phó, do vậy việc mở đường cho bộ binh xuất kích, việc bắc cầu, chèo thuyền cho các phương tiện và bộ binh qua sông giữ được bí mậtan toàn, bảo đảm cho bộ binh, pháo binh tiến côngcứ điểm Tu Vũ giành thắng lợi.


Cũng để bảo đảm bí mật, an toàn cho các đơn vị tác chiến, lực lượng công binh đã thực hiện một số biện pháp bảo mật cần thiết như: Một trung đội thuộc Đại đội công binh 313 đã không sử dụng thuốc nổ phá cầu mà dùng cưa cắt các dầm cầu và chân cầu để ngăn chặn cơ giới địch. Khi bắc cầu Tu Vũ, các chiến sĩ công binh đã đan sọt đổ đá làm chân cầu, mặt cầu sát mặt nước để ngụy trang. Hay việc bí mật dò, gỡ mìn bẫy, mìn chống bộ binh của địch, bảo đảm cho các đơn vị cơ động vào khu vực tác chiến được bí mật, an toàn.


Ba là, phát huy sức mạnh của các lực lượng tham gia, lấy lực lượng công binh làm nòng cốt nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp để hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm công binh trong tác chiến chiến dịch

Việc huy động công binh cùng các lực lượng khác tham gia chiến dịch đã thực hiện được nhiệm vụ bảo đảm cơ động trong suốt giai đoạn chuẩn bị và thực hành chiến dịch, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội cơ động và thực hành chiến dịch bí mật, kịp thời, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung. Trong Chiến dịch Hòa Bình, nhiệm vụ bảo đảm công binh rất phức tạp, thời gian gấp, tình huống khẩn trương, khối lượng cung cấp lớn, các mạng đường giao thông bị gián đoạn nên rất khó khăn, nhưng do biết tận dụng khả năng của các địa phương đã giải quyết được việc bảo đảm vận chuyển và tổ chức thành 2 hành lang: Một hành lang phục vụ cho các đơn vị tác chiến khu vực sông Đà, thị xã Hòa Bình và một hành lang phục vụ cho các đơn vị tác chiến khu vực Nam thị xã Hòa Bình và Đường số 6. Đồng thời các phương tiện vận chuyển của địa phương đều được tận dụng, kết hợp chặt chẽ giữa thô sơ và cơ giới. Phía Bắc thị xã Hòa Bình tổ chức làm 3 tuyến:

Tuyến cơ giới, tuyến thuyền và tuyến dân công xe thồ. Tuyến cơ giới dài 80km có 27 xe ôtô chở vũ khí đạn; tuyến thuyền dài 50km có trên 100 thuyền lớn nhỏ để chở gạo; tuyến dân công tải bộ và xe thồ dài trên 100km vận chuyển lương thực, thực phẩm.


Chính vì được tổ chức chặt chẽ, chuẩn bị chu đáo, huy động được nhiều lực lượng tham gia cho nên việc mở đường cho ôtô từ Phú Thọ - Đồn Vàng - Hòa Bình - Nho Quan - Kim Tân đã nhanh chóng hoàn thành, cùng với việc hoàn thành nhiều tuyến đường nhánh đến các trận địa. Đồng thời, công binh đã thực hiện tốt công tác phối hợp với các lực lượng tham gia chiến dịch vào làm bến vượt, làm cầu phao (Cẩm Khê, Yên Lập, Ngọc Lập, Thục Luyện...). Trong thời gian ngắn, công binh đã sửa chữa được 60km đường, làm 44 cầu cho xe ôtô; 143km đường, 450 cầu phao cho bộ binh và dân công qua lại; trên tuyến sông Hồng từ Thanh Ba đến sông Hứa, công binh huy động hơn 1.000 chiếc thuyền lớn nhỏ tham gia vận chuyển cung cấp kịp thời cho mặt trận. Việc huy động các lực lượng chiến dịch cùng tham gia vận chuyển và bảo đảm cơ động do công binh làm nòng cốt trong suốt giai đoạn chuẩn bị và thực hành chiến dịch đã góp phần quan trọng làm nên chiến thắng của Chiến dịch Hòa Bình.


Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường Bắc Bộ có lợi cho ta và đưa nghệ thuật chiến dịch của Quân đội nhân dân Việt Nam phát triển lên một bước mới cao hơn. Bảo đảm công binh Chiến dịch Hòa Bình đã chứng tỏ sự trưởng thành, phát triển quan trọng trong nghệ thuật tổ chức, chỉ huy thực hiện nhiệm vụ bảo đảm công binh cho chiến dịch từ phản công chuyển sang chiến dịch tiến công trong điều kiện thời gian gấp, diễn biến chiến trường khẩn trương, mau lẹ là bước phát triển mới. Việc sử dụng lực lượng công binh giai đoạn tổ chức chuẩn bị phân tán sang sử dụng lực lượng tập trung giai đoạn thực hành tácchiến là kịp thời, đáp ứng yêu cầu diễn biến thực tế chiến trường. Trong Chiến dịch Hòa Bình, công binh còn phát huy được khả năng đánh mìn trên Đường số 6 để tiêu hao và tạo điều kiện cho bộ binh truy kích, tiêu diệt địch được nhiều hơn. Đây chính là bước phát triển, là những bài học quý trong quá trình xây dựng, trưởng thành, không ngừng lớn mạnh của lực lượng công binh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #109 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2024, 09:58:22 pm »

LỰC LƯỢNG PHÁO BINH TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Thiếu tướng NGUYỄN HỒNG PHONG
Tư lệnh Binh chủng Pháo binh


Từ sau thắng lợi của Chiến dịch Biên Giới, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta đã chuyển sang một giai đoạn mới, đánh dấu bước phát triển về lực lượng, nội dung và hình thức chiến thuật pháo. Ngày 27 tháng 3 năm 1951, Đại đoàn 351 - Đại đoàn công pháo đầu tiên của Quân đội ta được thành lập. Đại đoàn được trang bị sơn pháo 75mm và 2 khẩu pháo 105mm chiến lợi phẩm của Chiến dịch Biên Giới. Sự kiện này đánh dấu bước phát triển mới về quy mô tổ chức lực lượng, đáp ứng yêu cầu chiến thuật "đánh điểm, diệt viện", "đánh vận động bằng tiểu đoàn tập trung rồi tiến lên thực hiện đánh vận động bằng trung đoàn dã chiến".


Sau thất bại mang tính chiến lược trên tuyến phòng thủ Biên Giới, để đối phó với đà tiến công của quân ta, thực dân Pháp đã tăng quân, thay tướng, triển khai một loạt biện pháp chiến lược như xây dựng lực lượng cơ động chiến lược mạnh, phát triển tề ngụy, lập tuyến phòng thủ bao quanh trung du và đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời tiến hành chiến tranh tổng lực, bình định cho được vùng tạm chiếm, đánh phá ác liệt căn cứ hậu phương và chuẩn bị tiến công ra vùng tự do của ta. Ngày 9 tháng 11 năm 1951,quân Pháp sử dụng 3 binh đoàn cơ động (GM1, GM2, GM3),1tiểu đoàn dù, 2 đại đội biệt kích mở cuộc hành quân Tuylíp đánh chiếm khu vực Chợ Bến. Ngày 14 tháng 11, Pháp tăng cường thêm2binhđoàn cơ động (GM4, GM7), 3 tiểu đoàn dù, 7 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp và 2 đại đội xe tăng mở cuộc hành quân Lôtuýt đánh chiếm thị xã Hòa Bình, Đường số 6, Ba Vì. Mục tiêu của địch nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược; mở rộng khu Chiếm đóng, bịt cửa ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, chặn đường liên lạc vận chuyển của ta giữa Việt Bắc và các liên khu 3,4; tiêu diệt một bộ phận chủ lực và phá sự chuẩn bị tiến công Thu - Đông của ta. Đến ngày 15 tháng 11 năm 1951, sau khi đánh chiếm Hòa Bình, địch tập trung binh lực trên 2 phân khu: Phân khu Sông Đà - Ba Vì và Phân khu Hòa Bình - Đường số 6, ngoài ra có phân khu Chợ Bến là tiền đồn phía Đông bảo vệ Hòa Bình. Tại Phân khu Hòa Bình - Đường số 6, một tập đoàn cứ điểm dần dần hình thành ở thị xã với 6 tiểu đoàn bộ binh, trận địa pháo, sân bay, sở chỉ huy phân khu; cùng với 2 tiểu đoàn bộ binh phân tán ở một sốcứ điểm dọc Đường số 6. Phân khu sông Đà gồm 2 tiểu khu Đan Thê - La Phù và Tu Vũ - Núi Chẹ.


Đánh giá tình hình và âm mưu của địch, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định: Đây là một cơ hội hiếm có để ta có thể tiêu diệt sinh lực địch cả trên chiến trường phía trước và vùng địch hậu. Mọi nỗ lực phải được tập trung vào nhiệm vụ đánh bại cuộc hành binh của địch chiếm đóng Hòa Bình. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 242).


Lực lượng tham gia Chiến dịch Hòa Bình trên mặt trận chính gồm 3 đại đoàn bộ binh 304, 308 và 312. Để thực hiện chủ trương đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích trong vùng tạm bị chiếm,khi địch tung quân chủ lực ra hướng Hòa Bình có nhiều sơ hở, đồng thời phối hợp chặt chẽ với Chiến dịch Hòa Bình của ta, Tổng Quân ủy lệnh cho Đại đoàn 316 và Đại đoàn 320 tiến sâu vào vùng sau lưng địch ở trung du và đồng bằng sông Hồng, cùng với các lực lượng địa phương tại chỗ tiến công địch, phát động nhân dân nổi dậy diệt tề trừ gian, nhanh chóng mở rộng các khu du kích và căn cứ du kích tạo thế mới cho ta trong vùng địch tạm chiếm ở đồng bằng Bắc Bộ và phối hợp với chiến trường chính.


Cùng với các lực lượng pháo binh của các đại đoàn bộ binh, lực lượng pháo binh tham gia Chiến dịch Hòa Bình có Trung đoàn sơn pháo 675 của Đại đoàn công pháo 351, gồm 2 tiểu đoàn (175 và 275), trang bị 24 khẩu sơn pháo 75mm và pháo binh trực thuộc các đại đoàn bộ binh. Lực lượng pháo binh trong các đại đoàn bộ binh có tiểu đoàn, đại đội pháo binh; được trang bị sơn pháo 75mm, SKZ 120mm, cối 81mm hoặc ĐKZ 75mm, cối 120mm. Theo nhiệm vụ được giao, Trung đoàn sơn pháo 675 tổ chức phân chia lực lượng pháo binh như sau: Tăng cường Tiểu đoàn sơn pháo 275 cho Đại đoàn 308; tăng cường 1 đại đội pháo của Tiểu đoàn sơn pháo 175 cho Đại đoàn 312 đảm nhiệm hướng chủ yếu của chiến dịch đánh địch trên hướng phòng tuyến Sông Đà. Sử dụng 1 đại đội pháo của Tiểu đoàn 175 phục kịch trên sông Đà, có nhiệm vụ diệt canô, tàu chiến địch. Phối thuộc 1 đại đội pháo của Tiểu đoàn 175 cho Đại đoàn 312 đánh địch trên hướng Bắc Ninh, Bắc Giang.


Nghiên cứu về tình hình địch, cơ quan tham mưu chiến dịch nhận thấy: Khi ta nổ súng tiến công một trong hai phân khu, địch có thể tăng viện ứng cứu từ nhiều hướng, bằng đường bộ, đường sông hoặc bằng quân dù. Ta không đánh vào hình thức tập đoàn cứ điểm Hòa Bình vì đòi hỏi nhiều thời gian chuẩn bị và nhất là quân ta lúc này chưa có kinh nghiệm. Ta cũng không tập trung binh lực đánh ngay trên Đường số 6, vì mặc dù các cứ điểm địch cách xa nhau, dễ bị chia cắt, nhưng địa hình trống trải, lại phải qua sông, khó tiếpcận. Ở Phân khu Sông Đà - Ba Vì, ta nhận thấy tiểu khu Tu Vũ - Núi Chẹ tương đối yếu hơn vì ở vào vị trí cô lập, có sông ngăn cách, xa căn cứ Sơn Tây, Trung Hà. Muốn ứng cứu cho tiểu khu này, địch chỉ có 1 đường bộ (Đường số 87) và 1 đường thủy (sông Đà). Trên tuyến sông Đà (từ Hòa Bình đi Trung Hà), 2 cứ điểm Tu Vũ và Núi Chẹ quan hệ mật thiết với nhau (Núi Chẹ là trận địa hỏa lực và căn cứ hậu cần của Tu Vũ; còn Tu Vũ là bình phong của Núi Chẹ), nhưng giữa hai cứ điểm lại có sông ngăn cách.


Để bảo đảm trận mở màn thắng lợi, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến địch phát triển và mở hành lang vận chuyển hậu cần chiến dịch, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định tập trung binh hỏa lực đột phá tuyến sông Đà, bắt đầu bằng trận tiến công cụm cứ điểm Tu Vũ - Núi Chẹ.


Bộ Chỉ huy Chiến dịch giao Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 102) và Đại đoàn 312 đảm nhiệm hướng chủ yếu đánh phòng tuyến sông Đà; Đại đoàn 304 hướng thứ yếu, kiềm chế địch ở thị xã Hòa Bình và đánh địch trên Đường số 6; Trung đoàn 102 Đại đoàn 308 làm lực lượng dự bị, đứng chân ở Cổ Tiết (phía Nam thị xã Phú Thọ), cùng lực lượng địa phương sẵn sàng đánh địch càn quét khu vực Hạc Trì, Lâm Thao, Hưng Hóa, Đường số 2. Bộ Chỉ huy xác định cách đánh chiến dịch là đánh điểm diệt viện, kết hợp đánh địch trong công sự với đánh phục kích, đánh địch càn quét, hoặc tăng viện, ứng cứu bằng đường bộ, đường sông hoặc đường không.


Đêm mùng 10 rạng ngày 11 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn pháo binh 275 tập trung 8 khẩu sơn pháo 75mm chi viện cho Trung đoàn 88, Đại đoàn 308 tiến công cứ điểm Tu Vũ, mở màn chiến dịch. Tu Vũ là một cứ điểm lớn thuộc cụm phòng ngự then chốt của Phân khu Sông Đà do 1 tiểu đoàn lính Marốc và 1 phân đội (3 chiếc) xe tăng chiếm giữ. Tu Vũ được các trận địa pháo từ Đá Chông, Núi Chẹ, Thủ Pháp bắn yểm trợ. Với sự chi viện kịp thời của hỏa lực pháo binh đã tạo điều kiện cho bộ binh hình thànhcác mũi tiến công tiêu diệt các cụm quân địch. Đến 4 giờ ngày 11 tháng 12, ta làm chủ hoàn toàn cứ điểm Tu Vũ. Kết quả, ta tiêu diệt 159 tên địch, bắt 12 tên, bắn cháy 1 xe tăng, 2 xe thiết giáp, phá hủy 5 khẩu pháo, thu 1 khẩu ĐKZ, 1 khẩu badôca 60mm, 1 khẩu cối 60mm. Chiều ngày 11 tháng 12, Đại đội 756 Tiểu đoàn pháo binh 275 chi viện cho Trung đoàn 36 Đại đoàn 308, đánh trận vận động phục kích diệt gọn đoàn tàu 5 chiếc ờ gần bên Lạc Song. Nhận được tin vui, Bác Hồ đã tặng Đại đội pháo binh 756 lá cờ "Chiến thắng Lạc Song".


Sau 4 ngày đầu chiến dịch, lực lượng pháo binh đã hoàn thành nhiệm vụ chi viện cho bộ binh đánh địch càn quét ở Nam Ba Vì, tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ và bắn chìm tàu địch trên sông Đà, đánh phục kích địch trên Đường số 6. Tuy vậy, do chiến đấu trong điều kiện phi pháo địch mạnh, cơ động chiếm lĩnh bị lộ nên pháo binh bị thương vong nặng, mất sức chiến đấu 2 đại đội, hỏng 4 khẩu pháo phải lui về sau củng cố.


Bước vào đợt 2, Bộ Chỉ huy Chiến dịch chủ trương đẩy mạnh hoạt động quấy rối, đánh điểm nhỏ, diệt viện nhỏ, phá giao thông, chặn tiếp tế. Bằng cách đánh đó, quân ta vừa kìm chân địch, vừa dồn chúng vào thế khó khăn lúng túng hơn nữa, trước yêu cầu bảo vệ tuyến giao thông đường bộ để tiếp tế và tăng viện, buộc địch phải tiếp tục phân tán binh lực hơn nữa đối phó trên cả 2 hướng sông Đà và Đường số 6, làm cho tập đoàn cứ điểm Hòa Bình càng thêm cô lập.


Thực hiện chủ trương trên, từ ngày 27 đến ngày 31 tháng 12, pháo binh đã chi viện cho Đại đoàn 308 và 2 tiểu đoàn của Đại đoàn 312 tiến công cứ điểm Đá Chông để thu hút địch, đánh viện binh địch trên các đường 84, 87 và trên sông Đà, tiêu diệt địch trên các điểm cao 400, 600 Ba Vì và Núi Chẹ, thu hút và đánh viện binh trên đường Mỹ Khê - Ba Vì, tiếp tục chi viện cho Đại đoàn 304 đánh địch trên Đường số 6.


Đêm 29 tháng 12, Trung đoàn 141 Đại đoàn 312, được trang bị 4 khẩu ĐKZ 57mm, 2 khẩu cối 82mm, 6 khẩu cối 60mm đã bí mật tập kích địch trên các điểm cao 400, 600 Ba Vì. Kết quả, ta diệt 120 tên, bắt 86 tên, thu 1 khẩu ĐKZ 57mm, 2 khẩu cối 60mm. Đây là một trận đánh đạt hiệu suất cao, ta thương vong ít. Trận tiến công Điểm cao 600 Ba Vì thể hiện trình độ vận dụng chiến thuật và chỉ huy hiếp đồng, trình độ kỹ chiến thuật của người chỉ huy binh chủng hợp thành và bộ đội Pháo binh đã có bước tiến rõ rệt. Khi thực hành chiến đấu, người chỉ huy pháo binh xử trí tình huống đánh địch linh hoạt kịp thời. Trong trận đánh, pháo binh bám sát bộ binh, chi viện có hiệu quả tạo điều kiện để bộ binh vận dụng các thủ đoạn thọc sâu, vu hồi đánh vào phía sau, bên sườn địch. Đồng thời, pháo binh đã sử dụng hỏa lực tạo nên sức mạnh cần thiết để chi viện bộ binh nhanh chóng đánh chiếm ngay địa hình có lợi, mục tiêu chủ yếu mà các trận đánh trước đây chưa thực hiện được.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM