Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:49:23 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng  (Đọc 45571 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #110 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2024, 09:59:19 pm »

Đợt 3 chiến dịch bắt đầu từ ngày 7 tháng 1 năm 1952. Bộ Chỉ huy xác định phương hướng tác chiến trong đợt 3 là lấy Bắc Đường số 6 làm hướng tiến công chủ yếu, tranh thủ tiêu diệt một bộ phận sinh lực của chúng, đồng thời tiếp tục khống chế đường vận chuyển của địch trên sông Đà, bám sát và vây chặt địch trong tập đoàn cứ điểm Hòa Bình. Phía Bắc Đường số 6 trở thành hướng tiến công chủ yếu do Đại đoàn 308 (được tăng cường Trung đoàn 66 Đại đoàn 304) đảm nhiệm; Đại đoàn 304 (thiểu Trung đoàn 66), phụ trách phía Nam Đường số 6; Đại đoàn 312 đánh địch trên khu vực Ba Vì. Yêu cầu trên hướng tiến công chủ yếu là vừa thực hiện tốt đánh điểm diệt viện trên Đường số 6, vừa sẵn sàng lực lượng đánh địch khi chúng rút chạy.


Mở đầu đợt 3 của chiến dịch, đêm mùng 7 tháng 1, Đại đội 755 Tiểu đoàn sơn pháo 175 chi viện cho Trung đoàn 36 Đại đoàn 308 tiêu diệt 4 vị trí vòng ngoài tập đoàn cứ điểm Hòa Bình là Đồi Cháy, Đồi Rò, Khuỷu, Dậm và tập kích vào trận địa pháo binh địch trong tập đoàn cứ điểm. Chỉ với một đại đội trang bị gọn nhẹ tổ chức thành từng bộ phận nhỏ, ta đã luồn qua các cứ điểm ngoại vi, bất ngờ tập kích phá hủy 4 khẩu pháo 105mm, diệt đại đội bảo vệ, bắt viên đại úy chỉ huy pháo binh địch trong tập đoàn cứ điểm Hòa Bình.


Trên Đường số 6, pháo binh chi viện cho Trung đoàn 102, Đại đoàn 308 và Trung đoàn 66, Đại đoàn 304 tiến công 2 cứ điểm Pheo và Đầm Huống. Do hiệp đồng bộ binh - pháo binh và đối phó với hỏa lực xe tăng, pháo binh địch trong và sau khi mở cửa chưa tốt là những nguyên nhân dẫn đến trận đánh không thành công và thương vong cao.


Đúng như phán đoán của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, bảo vệ Đường số 6 đã trở thành yêu cầu cấp bách đối với địch, khi chúng không khai thông được tuyến sông Đà và khi tuyến đường bộ này ngày càng bị uy hiếp mạnh, thị xã Hòa Bình càng bị cô lập; địch đã phải rút lực lượng từ phía sông Đà xuống, hành quân thận trọng, rải quân chiếm đóng thêm nhiều điểm cao dọc Đường số 6.


Rõ ràng, khi quân ta bước vào đợt 3 thì thế trận trên Mặt trận Hòa Bình - Đường số 6 đã trở nên rất bất lợi đối với địch. Các vị trí địch rải trên tuyến dài dọc Đường số 6 dễ bị chia cắt, nhất là các vị trí mới chiếm đóng, công sự lại chưa kiên cố. Trong thị xã quân địch đông, các cứ điểm có khả năng yểm trợ và chi viện cho nhau, nhất là bằng hỏa lực pháo binh, nhưng khó khăn nổi bật là tiếp tế và tinh thần binh lính mệt mỏi, căng thẳng. Trong khi đó, ở vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ, lực lượng cơ động bị điều đi đối phó ở phía trước nên đã hình thành "những khoảng trống" rất lớn. Đại đoàn 320 và Đại đoàn 316 cùng với các lực lượng địa phương nhạy bén nắm bắt thời cơ, tiến công liên tiếp, đánh thắng giòn giã phát động chiến tranh du kích, mở toang vùng địch chiếm, thiết lập hàng chục căn cứ du kích, vùng du kích liên hoàn với nhau, làm đảo lộnhoàn toàn thế trận đồng bằng Bắc Bộ có lợi cho ta. Từ trung tuần tháng 1 năm 1952, vấn đề rút quân khỏi Hòa Bình đã trở thành bài toán gay gắt đối với Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp.


Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận định, khi quân ta chưa tiến công tập đoàn cứ điểm thị xã Hòa Bình, địch sẽ cố gắng khắc phục khó khăn về tiếp tế, cố gắng bảo vệ Đường số 6 và kéo dài chiếm đóng Hòa Bình thêm một thời gian; thời gian đó dài hay ngắn tùy thuộc vào khả năng và cường độ hành động của ta. Do đó, lúc này khả năng đánh địch trong công sự vững chắc có giảm nhưng khả năng đánh địch vận động còn nhiều, nhất là những trận đánh nhỏ nhằm tranh thủ tiêu diệt thêm sinh lực địch, đi đôi với liên tục phá hoại cầu đường, làm gián đoạn việc vận chuyển trên Đường số 6.


Từ ngày 19 tháng 1 năm 1952, nhằm tăng cường hỏa lực cho những trận quyết định cuối cùng trong chiến dịch tiến công Hòa Bình, Đại đội 113 cối 120mm vượt sông Đà sang Đường số 6, cùng Đại đội sơn pháo 753 của Tiểu đoàn pháo 275 phối thuộc Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 vận động phục kích trên đoạn đường từ Ao Trạch đến Pheo. Với phương thức hoạt động mới này dần dần làm cho việc vận chuyển của địch trên Đường số 6 hầu như bị tê liệt. Việc tiếp tế cho thị xã Hòa Bình và các vị trí từ Ao Trạch đến Phương Lâm chủ yếu dựa vào đường không.


Sau khi phân tích tình hình, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định thay đổi cách đánh, sử dụng 1/3 lực lượng bám đánh địch, giam chân chúng trong thị xã Hòa Bình và khoét sâu những khó khăn của chúng càng lâu càng tốt, 2/3 lực lượng vừa củng cố chấn chỉnh, vừa sẵn sàng nhận lệnh chiến đấu. Bộ Chỉ huy Chiến dịch chỉ thị cho Đại đoàn 351 thành lập Đại đội 119 pháo xe kéo, biên chế 2 khẩu pháo 105mm (chiến lợi phẩm ta thu được trong Chiến dịch Biên Giới) và 3.000 viên đạn. Ngay trong đêm 19 tháng 2, Đại đội đã chiếm lĩnh xong trận địa ở phía Tây đồn Tu Vũ, có nhiệm vụ bắn vào thị xã Hòa Bình và Đường số 6. Đây là đại đội pháo binh xe kéo đầu tiên của Quân đội ta, đánh dấu bước phát triển trang bị trong xây dựng lực lượng pháo binh.


Địch cố tìm cách đối phó hòng thoát khỏi tình thế bất lợi nói trên. Từ ngày 21 tháng 1, chúng tung 11 tiểu đoàn bộ binh và 1 cụm pháo chiếm đóng thêm nhiều vị trí trên đoạn đường từ An Ao Trạch đến Hàm Voi nhằm hạn chế hoạt động tác chiến phục kích và phá hoại cầu đường của ta. Quá trình địch ken dày lực lượng ở các vị trí dọc Đường số 6, cũng là quá trình ta có thêm điều kiện thực hiện chủ trương đánh nhỏ nhưng hiệu suất cao, kết hợp tác chiến với phá hoại và quấy rối thường xuyên suốt dọc đường. Trung bình cứ vài ba ngày, quân ta lại đánh được 1 trận nhỏ hoặc vừa, tiêu diệt trên dưới 1 đại đội địch, phá hủy một số xe cơ giới, bắn rơi một vài máy bay.


Từ trung tuần tháng 2 năm 1952, khi phát hiện địch chuẩn bị rút chạy khỏi Hòa Bình, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định sử dụng 4 đại đội sơn pháo 75mm của Trung đoàn 675, Đại đội pháo xe kéo 119 và toàn bộ các phân đội cối 81 trong biên chế của Trung đoàn bộ binh 36 triển khai 5 vị trí trên dãy điểm cao 140, 128 sát bở tả ngạn sông Đà sẵn sàng đánh địch rút chạy. Hệ thống đài quan sát được tổ chức đủ ở 3 cấp gồm đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn. Đài quan sát của Trung đoàn trưởng pháo binh đặt trên điểm cao 210, có thể quan sát toàn bộ khu vực thị xã Hòa Bình Đường số 6 từ Bến Ngọc đến Pheo. Lúc 10 giờ ngày 21 tháng 2 năm 1952, pháo 105mm được lệnh bắn thử vào đồn Pheo. Đêm 22 tháng 2 năm 1952, lợi dụng đêm tối, địch bỏ thị xã Hòa Bình rút chạy theo Đường số 6 và sông Đà. Trung đoàn bộ binh 36 lệnh cho các mũi xuất kích đánh thẳng vào thị xã. Từ 3 giờ sáng ngày 23 tháng 2 năm 1952, theo lệnh của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, đại đội pháo 105mm, 2 đại đội súng cối 81mm, 2 đại đội sơn pháo 75mm bắn mạnh vào Phương Lâm, Bến Ngọc và cầu Phao. Trong buổisáng ngày 23, pháo binh đã bắn cháy, bắn hòng 23 xe, trong đó có 2 xe tăng, cùng bộ binh diệt 2 đại đội địch. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc.


Chiến dịch Hòa Bình đánh dấu bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch trong Đông - Xuân 1951 - 1952, trong đó có nghệ thuật sử dụng pháo binh. Trong chiến dịch, ta đã tập trung pháo binh đánh trúng vào nơi hiểm yếu nhất của địch ở sông Đà và Đường số 6, triệt giao thông thủy bộ, cô lập địch ở thị xã Hòa Bình. Đây là đòn đánh hiểm, đúng vào chỗ yếu nhất của địch trong chiến dịch. Đồng thời, trong tổ chức phân chia pháo binh đã có pháo binh trực thuộc chiến dịch, pháo binh của đại đoàn bộ binh tập trung trên hướng chủ yếu, khu vực tác chiến chủ yếu. Qua đó, kiên quyết tập trung hỏa lực vào khu vực, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu trong từng đợt tác chiến. Những thành công về nghệ thuật sử dụng pháo binh trong chiến dịch đã thể hiện sự trưởng thành rõ rệt về tổ chức lực lượng và trình độ tác chiến, từng bước khăng định pháo binh là hỏa lực mặt đất chủ yếu trong tác chiến hiệp đồng binh chủng. Đây là cơ sở rất quan trọng để phát triển nghệ thuật sử dụng pháo binh trong các chiến dịch tiếp theo của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #111 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2024, 10:00:56 pm »

BẢO ĐẢM THÔNG TIN LIÊN LẠC TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Thiếu tướng KHÚC ĐĂNG TUẤN
Tư lệnh Binh chủng Thông tin liên lạc


Sau thất bại ở biên giới trong Thu - Đông năm 1950, tiếp đó lại bị ta đánh mạnh ở Đường số 18, Hà Nam Ninh, quân Pháp lâm vào thế phòng ngự bị động. Để giành lại quyền chủ động, mùa Đông năm 1951, quân Pháp mở cuộc tiến công Hòa Bình, lập phòng tuyến sông Đà nhằm nối lại "Hành lang Đông - Tây", tăng cường phòng thủ đồng bằng Bắc Bộ, cắt đứt đường liên lạc giữa Chiến khu Việt Bắc của ta với các liên khu 3 và 4.


Ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp và quyết định đề nghị Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh "cho mở chiến dịch tại Hòa Bình, chuyển hướng hoạt động thụ động sang tiến công địch mới chiếm đóng. Hòa Bình là hướng chính, các nơi khác là hướng phối hợp. Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sửquân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954, Tập IV, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr. 150). Ngày 18 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định, đó là một cơ hội hiếm có cho ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Đánh Hòa Bình, địch phải phân tán lực lượng cơ động, lực lượng tinh nhuệ trên một mặt trận rộng lớn, núi rừng hiểm trở, địa hình phức tạp, công sự chưa vững chắc. Mặt khác, vì phải tập trung phần lớn quân cơ động ra Hòa Bình nên lực lượng địch ở đồng bằng bị dànmỏng, các vùng từ hữu ngạn, tả ngạn Liên khu 3 đến trung du đều tương đối sơ hở hơn trước. Căn cứ vào nhận định trên, Trung ương Đảng chủ trương mở cuộc tiến công lớn trên cả hai mặt trận: Tập trung chủ lực ở hướng chính là Hòa Bình và đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu ở đồng bằng Bắc Bộ nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực, tiến tới phá tan kế hoạchchiếm đóng Hòa Bình của quân Pháp, đẩy mạnh chiến tranh du kích, trọng tâm là đồng bằng Bắc Bộ. Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 22-CT/TU "Về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch". Trên cơ sơ chỉ thị của Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh sử dụng lực lượng như sau: Trênhướng chính sử dụng 3 đại đoàn 308, 312, 304 và lực lượng vũ trang địa phương có nhiệm vụ vây hãm và tiêu diệt quânđịch ở Mặt trận Hòa Bình. Hướng phối hợp sử dụng 2 đại đoàn 320, 316 phối hợp lực lượng vũ trang địa phương tiến công địch ở trung du vàđồng bằng Bắc Bộ. Trong chiến dịch này, vượt qua những khó khăn về địa hình, phương tiện cá nhân hạn chế, bộ đội Thông tin đã tổ chức liên lạc chặt chẽ bảo đảm chỉ huy thông suốt, vững chắc trong mọi tình huống, góp phần to lớn vào thắng lợi của chiến dịch. Thành tích của công tác bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ cho chiến dịch là kết quả của những nguyên nhân chính sau:


Thứ nhất, quán triệt sâu sắc nhiệm vụ được giao, chuẩn bị tốt lực lượng, phương tiện mọi mặt; phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ trong bảo đảm thông tin liên lạc tác chiến

Ngày 20 tháng 11 năm 1951, Bộ Tổng Tham mưuchỉ thị cho Cục Thông tin liên lạc chuẩn bị lực lượng, phương tiện sẵn sàng phục vụ chiến dịch. Trong điều kiện vừa phải bảo đảm thông tin liên lạc cho chỉ huy các chiến trường toàn quốc, vừa phải tổ chức lực lượng, phương tiện thông tin liên lạc phục vụ chiến dịch; trang bị phương tiện còn hạn chế, thời gian yêu cầu rất khẩn trương, Cục Thông tin liên lạc đã quán triệt sâu sắc chỉ thị của cấp trên, chuẩn bị mọi mặt để bảo đảm tốt thông tin liên lạc phục vụ choChiến dịch Hòa Bình. Cục tiến hành kiện toàn lại Ban Thông tin Chiến địch, đồng chí Hoàng Bửu Đôn - Bí thư Đảng ủy trực tiếp làm Trưởng ban, đồng chí Nguyễn Văn Tình - Cục phó làm Phó ban. Cục thành lập Đảng ủy Tiền phương để lãnh đạo các liên chi, chi bộ thuộc Đảng bộ tham gia chiến dịch. Các đơn vị trực thuộc Ban Thông tin Chiến dịch gồm: Tiểu đoàn thông tin dã chiến 303 (có Đại đội hữu tuyến điện 99, trang bị 40 máy điện thoại, 3 tổng đài và 80km dây bọc; Đại đội liên lạc chuyển đạt 103; Đội liên lạc vô tuyến điện 101 có 3 liên đài, mỗi liên đài có 2 máy thu phát V101 và 1 máy 15PM làm dự bị); 1 liên đài dùng máy thu phát MK2 kèm theo máy phát điện để liên lạc với các chiến trường ở xa về hậu phương, Bộ Tổng Tư lệnh và Đội thông tin chuyển đạt 231. Khi các đơn vị chuẩn bị lên đường làm nhiệm vụ, Bộ Tổng Tham mưu tiếp tục bổ sung cho Cục Thông tin liên lạc 10 cán bộ vừa tốt nghiệp Khóa 6, Trường Sĩ quan Lục quân 1 về tăng cường cho Tiểu đoàn thông tin dã chiến 303. Cùng với đó, lực lượng thông tin liên lạc của các đơn vị tham gia chiến dịch cũng được chuẩn bị chu đáo, cụ thể: ở các đại đoàn có ban thông tin, đại đội thông tin liên lạc, mỗi đại đội có 1 trung đội liên lạc chuyển đạt 50 người 5 xe đạp, 4 ngựa; 3 trung đội hữu tuyến điện 120 người, 30 máy2 tổng đài, 50km dây bọc; 1 trung đội vô tuyến điện có 3 máy 15W và 3 máy bộ đàm BC1000. Mỗi trung đoàn thuộc đại đoàn có đại đội thông tin gồm 1 trung đội liên lạc chuyển đạt với súng pháo hiệu, kèn, cơ, lộ tiêu; 1 trung đội hữu tuyến điện có 18 máy 1 tổng đài, 20km dây bọc; 1 tiểu đội vô tuyến điện có 1 máy 15W. Mỗi tiểu đoàn có 1 tiểu đội liên lạc chuyển đạt. Riêng Đại đoàn 304 còn có hơn 20km dây điện thoại.


Trên đường hành quân, theo chỉ thị của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, các chiến sĩ Thông tin liên lạc, nhất là liên lạc vô tuyến điện vừa đi vừa giữ liên lạc với các đại đoàn, như: Đại đoàn 312 đang đánh địch ở Lai Đồng - Thu Cúc, các đại đoàn 316, 320 đanghành quân vào trung du và đồng bằng Bắc Bộ, Đại đoàn 304 từ Thọ Xuân (Thanh Hóa) đang hành quân ra Mặt trận Hòa Bình. Theo kế hoạch, trên Mặt trận Hòa Bình - Đường số 6, Ban Thông tin Chiến dịch giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn thông tin dã chiến 303 cùng với thông tin liên lạc Đại đoàn 308 tổ chức mạng điện thoại từ Bộ Chỉ huy Chiến dịch xuống các đơn vị gồm: Sở Chỉ huy Đại đoàn, đài quan sát mặt trận, Trung đoàn 88 chuẩn bị đánh cứ điểm Tu Vũ; Trung đoàn 36 phục kích dọc sông Đà (đoạn Tu Vũ - Hòa Bình) và Trung đoàn 102, lực lượng dự bị chiến dịch. Đội liên lạc vô tuyến điện 101 cử người xuống Đại đoàn hiệp đồng tổ chức mạng hen lạc vô tuyến điện vượt cấp với Trung đoàn 88 và Trung đoàn 102. Các chiến sĩ liên lạc chuyển đạt của Đội 231 vượt sông Đà lập mạng liên lạc từ Bộ Chỉ huy Chiến dịch xuống Đại đoàn 312. Ở hướng Đường số 6, từ Xuân Mai lên thị xã Hòa Bình, đường liên lạc từ Bộ Chỉ huy Chiến dịch xuống Đại đoàn 304 chủ yếu sử dụng vô tuyến điện. Ban Thông tin Chiến dịch còn giao cho Đội liên lạc chuyển đạt 231 đặt trạm Đá Cốc để giữ liên lạc với Đại đoàn và với hướng Liên khu 3. Riêng ở chiến trường sau lưng địch, trung du và đồng bằng Bắc Bộ, mạng liên lạc giữa Bộ Chỉ huy Chiến dịch với Đại đoàn 316, Đại đoàn 320 chủ yếu bằng vô tuyến điện, có sự hỗ trợ của Đội liên lạc chuyển đạt 231. Ban Thông tin Chiến dịch còn tổ chức liên lạc về hậu phương Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ Tổng Tham mưu bằng cả 3 phương tiện. Lực lượng của Cục Thông tin liên lạc ở hậu phương do đồng chí Cục trường trực tiếp phụ trách, có cụm điện đài của Đội liên lạc vô tuyến điện 230 đặt cố định, công suất phát lớn, độ nhạy thu cao hỗ trợ để Bộ Chỉ huy Chiến dịch chỉ đạo các chiến trường xa, nhất là chiến trường vùng sau lưng địch. Ban Thông tin chiến dịch dành riêng liên đài dùng máy thu phát MK2 để liên lạc với hậu phương và các hướng chiến trường.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #112 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2024, 10:01:44 pm »

Thứ hai, bám sát diễn biến chiến dịch, có tinh thần chiến đấu dũng cảm, linh hoạt, sáng tạo sử dụng hiệu quả các phương tiện thông tin liên lạc; quyết tâm bảo đảm thông tin liên lạc trong mọi tình huống.


Trên hướng chính, trong đợt 1 của chiến dịch (10 - 26.12.1951), bộ đội Thông tin đã bảo đảm tốt thông tin liên lạc cho công tác chỉ đạo, chỉ huy các cánh, các mũi, góp phần vào thắng lợi mở đầu chiến dịch. Đêm mùng 10 tháng 12 năm 1951, ta tiến công cụm cứ điểm Tu Vũ, núi Chẹ nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực, triệt đường tiếp tế chủ yếu trên sông, cắt đứt phòng tuyến sông Đà của địch. Nhưng khi phát hiện quân ta sắp tiến công ở vùng núi Chẹ, địch đã gấp rút tập trung quân mở cuộc càn quét vùng Ninh Mít, ở đây có Trung đoàn 209 thuộc Đại đoàn 312 đang giấu quân. Đây là tình huống bất ngờ xảy ra, khó khăn lớn nhất lúc này của Ban Thông tin Chiến dịch là làm thế nào để chuyển kịp lệnh chiến đấu của Bộ Chỉ huy Chiến dịch xuống Đại đoàn 312, khi Sở Chỉ huy Đại đoàn đang cùng đơn vị hành quân vào vị trí tập kết. Theo quy định, trong quá trình hành quân, Ban Thông tin Đại đoàn tổ chức liên lạc vô tuyến điện về Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhưng Ban đang cùng đơn vị hành quân, điện đài chưa được lệnh làm việc. Do có sự chuẩn bị trước đài canh liên tục ở hậu phương nên 3 giờ sáng ngày 10 tháng 12, khi điện đài của Đại đoàn phát tín hiệu gọi canh xin làm việc thì lập tức nhận được điện của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, do vậy Trung đoàn 209 nhận được lệnh khi trời vừa sáng, đơn vị kịp thời chiếm lĩnh trận địa phục kích đánh địch. Ở trận vận động phục kích này, mặc dù địch tập trung pháo dồn dập bắn vào khu vực quân ta chiếm lĩnh nhưng các chiến sĩ hữu tuyến điện và liên lạc chuyển đạt vẫn dũng cảm thay nhau giữ vững liên lạc phục vụ chiến đấu.


Cùng thời gian đó, ở phía tả ngạn sông Đà, Ban Thông tin Chiến dịch và thông tin liên lạc Trung đoàn 88, Đại đoàn 308 đang gấp rút hoàn thành mọi công việc chuẩn bị cuối cùng cho trận đánh Tu Vũ. Trận đánh mở đầu có tính chất then chốt chặt đứt phòng tuyến sông Đà của địch, do Bộ Chỉ huy Chiến dịch trực tiếp chỉ đạo. Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp khi giao nhiệm vụ cho đơn vị đã yêu cầu Ban Thông tin Chiến dịch cũng như thông tin liên lạc Đại đoàn phải giữ vững liên lạc bằng hai phương tiện vô tuyến điện và hữu tuyến điện, chủ yếu là hữu tuyến điện để đồng chí trực tiếp theo dõi chỉ đạo trận đánh. Bước vào cuộc chiến đấu ác liệt, pháo địch nổ dày đặc, trong lừa đạn, các chiến sĩ Thông tin liên lạc chuyển đạt luôn nhanh chóng giúp người chỉ huy giữ vững đội hình, đưa đơn vị vào vị trí quy định. Các chiến sĩ hữu tuyến điện nhanh chóng vượt qua khu vực hỏa lực địch đang ngăn chặn, tìm mọi cách sớm rải dây từ vị trí xuất phát tiến công của các đơn vị về Trung đoàn. Trong trận chiến đấu này có nhiều tấm gương dũng cảm hy sinh vì nhiệm vụ của các chiến sĩ Thông tin liên lạc. Chiến sĩ hữu tuyến điện Nguyễn Bút thuộc Tiểu đoàn sơn pháo 75mm, nối dây đến mối thứ 11 thì bị thương nặng ở đùi; chiến sĩ Đào Đình Phấn cùng tiểu đội với chiến sĩ Bút cũng nối xong mối đứt thứ 8 thì bị quả đạn cối nổ ngay cạnh tiện đứt cả một ống chân và một bàn tay. Hai chiến sĩ vẫn cố gắng nối lại đường dây nhưng một loạt đạn khác lại trùm xuống, cả 2 chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Khi thấy đường dây vừa thông lại bị đứt, chiến sĩ chuyển đạt Đào Văn Phượng nhảy ra khỏi chiến hào lao tới chỗ đồng chí Bút và đồng chí Phấn để nối lại, từ đó đường dây của pháo binh về Trung đoàn do đồng chí Đào Văn Phượng đảm nhiệm thông suốt đến khi kết thúc trận đánh. Ở hướng chủ yếu, các chiến sĩ hữu tuyến điện Phan Đình Hồng, Nguyễn Văn Đang, Tạ Văn Tại và Nguyễn Văn Khoái thay nhau liên tục nối gần 40 mối dây đứt. Đường dây về gần tới Sở Chỉ huy Trung đoàn bị đứt, chiến sĩ Phan Đình Hồng đi nối được một quãng, anh phải dừng lại vì đạn pháo địch nổ dày đặc xung quanh làm đường dây đứt rất nhiều. Đồng chí Phan Đình Hồng đã quay máy về tiểu đoànxin được nằm tại đó coi dây; chưa kịp đào xong cho mình chỗ ẩn nấp thì đường dây lại đứt, một mình một máy nằm giữa bãi trống, xung quanh đạn pháo nổ suốt 3 giờ, đồng chí Hồng nối xong mối đứt thứ 20 thì trận đánh kết thúc thắng lợi. Còn đồng chí Vũ Văn Nghĩa - chiến sĩ liên lạc chuyển đạt trên đường làm nhiệm vụ bị 3 vết thương (ở má, chân và lưng), nhưng khi thấy đồng đội bị thương, đồng chí Nghĩa đã cố gắng cõng đồng đội về chỗ an toàn, băng bó và đào công sự cho đồng đội ẩn nấp. Khi chiến sĩ bộc phá đánh hàng rào, đến quả thứ 3 thì hết bùi nhùi, không đợi lệnh, đồng chí Nghĩa lao xuống gặp chính trị viên phó lấy bật lửa trao cho đồng đội đánh tiếp. Sau đó, đồng chí Nghĩa còn giúp chỉ huy điều động xung kích, hỏa lực đánh địch cho đến khi trận đánh kết thúc thắng lợi.


Trên Đường số 6 (Xuân Mai - thị xã Hòa Bình), thông tin liên lạc đã bảo đảm cho Đại đoàn 304 vừa hành quân từ Thanh Hóa ra đánh các trận vận động phục kích và phục kích, tiêu biểu là các trận ở Cầu Dụ và Giang Mỗ. Ở trận Cầu Dụ, chiến sĩ liên lạc chuyển đạt Đào Văn An bị thương nặng do bom napan của địch. Đồng chí An gắng chịu đau, lết đến giao lệnh kịp cho đơn vị vận động chặn đầu đoàn xe cơ giới địch, diệt 34 xe. Còn trận Giang Mỗ, khi đường dây điện thoại bị đứt, chiến sĩ Trần Văn Lục đã xung phong đi nối, khi đường dây vừa được nối thông thì Lục bị thương ở cánh tay. Gặp chiến sĩ Bùi Ngọc Bích liên lạc chuyển đạt đang trên đường chuyển lệnh bị thương khá nặng ở đầu, đồng chí Lục dìu đồng chí Bích vào vị trí ẩn nấp, băng bó vết thương cho đồng đội rồi thay đồng chí Bích tiếp tục đi chuyển đạt. Nhờ vậy, đơn vị của đồng chí Cù Chính Lan kịp thời xuất kích tiêu diệt xe tăng địch.


Phòng tuyến sông Đà của địch bị vỡ, các trận đánh tiếp theo, Ban Thông tin Chiến dịch giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn Thông tin dã chiến 303 triển khai ngay đường dây điện thoại từ Sở Chỉ huy qua sông Đà xuống các đơn vị bên hữu ngạn. Trong điềukiện cực kỳ khó khăn khi phải thiết lập một đường dây hữu tuyến điện qua sông rộng, nước chảy mạnh, địch rải quân bên hữu ngạn và hằng ngày cho máy bay kiểm soát dọc sông, pháo của chúng vẫn bắn vào hai bên bờ theo chi điểm của máy bay trinh sát. Song với ý chí quyết tâm, linh hoạt, sáng tạo của những chiến sĩ Thông tin liên lạc, đường dây điện thoại qua sông Đà đã được triển khai theo đúng kế hoạch. Bên cạnh đó một đường đây khác đã được triển khai từ xóm Bún qua trận địa pháo bên tả ngạn kéo sang hữu ngạn vào Đại đoàn 308, vượt Đường số 6 sang Đại đoàn 304. Đây là đường dây vu hồi, song cùng một lúc Bộ Chỉ huy Chiến dịch có thể dùng cả 2 đường dây để chỉ huy các cánh, mũi tiến công. Cùng thời gian chuẩn bị cho trận phục kích trên sông và khi đường dây qua sông Đà đã được triển khai xong, Bộ Chỉ huy Chiến dịch chỉ thị cho Ban Thông tin triển khai một đường dây hữu tuyến điện xuống Đại đoàn 312 để Bộ Chỉ huy Chiến dịch theo dõi và chỉ đạo trực tiếp Trung đoàn 141 tập kích tiêu diệt quân địch ở Điểm cao 400 (Ba Vì).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #113 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2024, 10:02:23 pm »

Đợt 2 (27.12 - 25.2.1952), Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định đưa phần lớn lực lượng chủ lực áp sát Đường số 6 từ Xuân Mai lên thị xã Hòa Bình, dùng một lực lượng nhỏ kiềm chế các vị trí Chẹ, Đá Chông, cắt đứt hẳn đường vận tải tiếp tế của địch trên sông Đà, giam chặt quân địch trên mặt trận Hòa Bình. Đồng thời chỉ đạo các đơn vị chủ lực đánh mạnh trong hậu phương địch tạm chiếm ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích phối hợp tổ chức chặt chẽ với Mặt trận Hòa Bình. Lúc này, mạng thông tin liên lạc từ Bộ Chỉ huy Chiến dịch xuống các đại đoàn nhanh chóng được củng cố, tổ chức phát triển thêm một số tuyến mới theo yêu cầu của chiến dịch, chủ yếu là liên lạc vô tuyến điện và hữu tuyến điện. Mạng vô tuyến điện tăng cường liên lạc vượt cấp cả ở Mặt trận Hòa Bình và chiến trường hậu phương địch. Hai đường dây từ Bộ Chỉ huy Chiến dịch qua sông Đà đếnĐại đoàn 312 và Đại đoàn 308 vẫn được duy trì, củng cố vững chắc và phát triển ra Đường số 6. Thông qua 2 đường dây này, giúp cho Bộ Chỉ huy Chiến dịch chỉ đạo các đại đoàn, trung đoàn đánh giam chân địch ở trong cứ điểm.


Khi lực lượng thông tin liên lạc đang bảo đảm liên lạc ở hai bên Đường số 6 để các đơn vị đánh giam chân địch thì Ban Thông tin Chiến dịch được lệnh tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc để Bộ Chỉ huy Chiến dịch theo dõi, chỉ đạo các đơn vị chuẩn bị cho trận tập kích sâu vào thị xã Hòa Bình và cụm pháo binh địch. Nhận được nhiệm vụ, Ban Thông tin Chiến dịch đã chỉ đạo các lực lượng thông tin liên lạc tích cực, khẩn trương liên tục chuẩn bị suốt mấy ngày đêm. Ngày 27 tháng 1 năm 1952, Tổng Quân ủy họp nhận định, dù muốn hay không muốn, địch cũng phải rút khỏi Hòa Bình. Căn cứ vào ý định của Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tham mưu xây dựng kế hoạch đánh quân Pháp rút chạy. Từ ngày 9 tháng 2, địch có biểu hiện muốn rút khỏi thị xã Hòa Bình và Đường số 6, Ban Thông tin Chiến dịch đã chuẩn bị trước cho tình huống này và kịp thời thông báo cho thông tin các đại đoàn cùng chuẩn bị, phát triển kéo dài đường dây hữu tuyến điện. Các đơn vị cấp tiểu đoàn được lệnh đấu đinh vào đường dây hữu tuyến điện của chiến dịch sẵn sàng đợi lệnh. Ngày 13 tháng 2, qua đường dây hữu tuyến điện, Bộ Chỉ huy Chiến dịch lệnh cho các đơn vị sẵn sàng tiến đánh thị xã Hòa Bình, chặn đường rút lui của địch trên Đường số 6. Bị bao vây, cô lập ở Hòa Bình, lại bị đánh mạnh ở trung du, đồng bằng, buộc địch phải rút khỏi Hòa Bình. Khi các đơn vị tiến vào khu vực tác chiến mới, đường dây liên lạc đang củng cố thì đêm 22, rạng sáng 23 tháng 2 năm 1952, đài quan sát chiến dịch điện về báo cáo địch đang rút khỏi thị xã Hòa Bình, thông tin liên lạc tiếp tục phục vụ cho chỉ huy pháo binh của ta bắn chặn, bộ binh ta truy kích đánh địch rút khỏi Hòa Bình chạy về hướng Xuân Mai.


Trên hướng phối hợp, ở mặt trận trung du và đồng bằng, sau 1 tuần địch đánh và chiếm đóng thị xã Hòa Bình, qua mạng vô tuyến điện chiến lược, Bộ Tổng Tư lệnh đã lệnh cho Trung đoàn 42 (trung đoàn chủ lực cơ động của Khu Tả Ngạn) tiến vào hoạt động ở 2 tỉnh Hải Dương và Hưng Yên; Đại đoàn 316 vào hoạt động ở trung du và Đại đoàn 320 vào hoạt động ở đồng bằng Liên khu 3 để phối hợp với Mặt trận Hòa Bình. Theo chỉ thị của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, Ban Thông tin Chiến dịch hằng ngày giúp Bộ Chỉ huy Chiến dịch theo dõi sát hoạt động của các đơn vị ở mặt trận này, chỉ đạo vô tuyến điện giữ vững liên lạc với các đơn vị để phối hợp chiến đấu.


Ở hướng Đại đoàn 316 tiến vào trung du, các chiến sĩ báo vụ thường xuyên giữ liên lạc với đài canh của Cục Thông tin liên lạc, thông qua đó chuyển báo cáo hoạt động của Đại đoàn về Bộ Chỉ huy Chiến dịch. Sau khi chọc thủng tuyến phòng thủ của địch ờ Vĩnh Phúc - Phúc Yên, Đại đoàn 316 tiến sâu vào Bắc Ninh, Bắc Giang, mở rộng và nối liền các khu Căn cứ du kích rồi tiến ra sát Đường số 5. Trên đường tiến quân, Đại đoàn truy quét một loạt vị trí địch, trong đó có các cứ điểm có công sự boongke nằm trên phòng tuyến boongke của địch. Khi xuất hiện cứ điểm có công sự boongke của địch, Cục Thông tin liên lạc đã nghiên cứu phương án dùng bộ đàm để tổ chức thông tin liên lạc bảo đảm chỉ huy chiến đấu. Nhưng số bộ đàm ta thu được của địch chưa nhiều, lại nằm rải rác ở các đại đoàn, trung đoàn, chưa thể tập trung về để huấn luyện nên không sử dụng được. Vì vậy, việc tổ chức và giữ vững thông tin liên lạc vẫn chủ yếu phải dùng hữu tuyến điện và liên lạc chuyển đạt, thông tin đơn giản. Trong trận đánh cứ điểm Larivê ở Phúc Yên của Trung đoàn 174, đây là loại cứ điểm có công sự boongke lần đầu tiên quân ta gặp phải. Trong trận này xuất hiện tấm gương chiến sĩ hữu tuyến điện Triệu Văn Báo. Vào lúc tiểu đoàn của đồng chí Báo hết bộc phá, cần xin trung đoànchi viện thì đường dây liên lạc bị đứt, đạn pháo địch vẫn nổ xung quanh. Đồng chí Báo nhảy ra khỏi công sự để đi nối dây, khi nối đến mối nối thứ tư thỉ 2 đầu dây văng đi mỗi đầu một nơi. Khi tìm được thi hai đầu dây không đủ dài để nối nữa, Báo đã đưa hai đầu dây vào miệng dùng răng căn chặt lại cho tín hiệu chạy qua, thông tin thông suốt, trung đoàn kịp thời điêu bộc phá đến cho tiểu đoàn đánh sập lô cốt cuối cùng của địch. Trận đánh kết thúc, đồng đội tìm thấy đồng chí Báo đang nằm ngất xỉu, răng vẫn cắn chặt 2 đầu dây.


Sau những chiến thắng ở khu vực Chợ Bến, Đại đoàn 320 bí mật tiến vào đồng bằng Bắc Bộ (Liên khu 3). Để giữ vững liên lạc từ Bộ Chỉ huy Chiến dịch với Đại đoàn, Ban Thông tin Chiến dịch một mặt dùng cụm điện đài chiến lược ở hậu phương với các đài canh một mặt dùng điện đài của chiến dịch. Bằng phương pháp này đã bảo đảm vững chắc liên lạc từ Bộ đến Đại đoàn suốt cả quá trình chiến đấu; đồng thời còn bảo đảm chỉ huy vượt cấp từ Bộ Chỉ huy Chiến dịch đến các trung đoàn, các tiểu đoàn thuộc Đại đoàn. Trong trận tiến công của Đại đoàn vào thị trấn Phát Diệm, đánh viện ở Yên Ninh, Phúc Nhạc và Ngô Khê bắt đầu vào đêm mùng 9 tháng 12 năm 1951, thông tin liên lạc vô tuyến điện trực canh liên tục; các mũi tiến công đến đâu đường dây hữu tuyến điện được kéo tới đó, giúp cho sự chỉ đạo, chỉ huy của các trung đoàn đến các tiểu đoàn luôn thông suốt. Tiêu biểu là trận Trung đoàn 52 của Đại đoàn chặn viện trên Đường số 10, trận địa chính ở làng Yên Ninh, các chiến sĩ Thông tin liên lạc đã vượt qua vành đai trắng rải dây qua 5 vị trí của địch để bảo đảm thông tin cho Trung đoàn diệt gọn 2 đại đội của địch. Điên cuồng trước thất bại bị mất 2 đại đội, địch tập trung 12 máy bay với đại bác ở thị xã Ninh Bình bắn vào làng nơi quân ta đóng quân. Trung đoàn 52 cần điều gấp các đơn vị ra khỏi vòng lửa đạn, chuẩn bị đánh địch theo kế hoạch, chiến sĩ liên lạc Trương Công Man xin nhận nhiệm vụ truyền lệnh.Trong khi vận động, hai lần đồng chí Man bị bom xăng bám cháy, phải lăn vào vũng trâu đằm lấy bùn dập lửa, một lần phải đội đất ngoi lên vì bị bom nổ vùi lấp, nhưng lệnh của Trung đoàn được truyền xuống các đơn vị kịp thời.


Trong đêm địch rút khỏi thị xã Hòa Bình, điện đài của Đại đoàn 320 nhận được điện báo của Bộ: Có thể chúng sẽ quay về tập trung đối phó với ta ở đồng bằng, nhất là tả ngạn. Đại đoàn cần có kế hoạch tổ chức chống càn và thường xuyên giữ liên lạc với Bộ. Trận chống càn lớn mang tên "Thủy Ngân" đã xảy ra. Tại Sở Chỉ huy Trung đoàn 64 đặt ở một làng thuộc huyện Lý Nhân, đồng chí Trung đoàn trưởng nhận được điện tối khẩn của Bộ thông báo tình hình địch và chỉ thị cho Trung đoàn tổ chức đánh địch càn quét. Trận phá càn kéo dài suốt 10 ngày đêm liền của Trung đoàn đã kết thúc thắng lợi. Tại sở Chỉ huy của Đại đoàn 320, gần 50 lượt máy bay địch tới bắn phá ác liệt, chiến sĩ báo vụ của đơn vị vẫn bình tĩnh giữ vững liên lạc; khi tổ đài được lệnh di chuyển đến địa điểm mới, báo vụ viên vừa mở máy bắt liên lạc đã thấy điện đài của Bộ phát tín hiệu yêu cầu nhận điện, đó là bức điện của đồng chí Tổng Tư lệnh gửi đồng chí Văn Tiến Dũng - Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn 320 "Anh Hùng vượt vây sang Nam Định bàn với Thanh Giang đánh phối hợp ngoại tuyến. Văn". Chấp hành lệnh của Tổng Tư lệnh, Đại đoàn 320 vượt sông Hồng liên lạc với Đại đoàn 304 cùng đánh địch tiến từ phía Nam lên. Trận phá càn của 2 đại đoàn chủ lực đã giành thắng lợi.


Sau hơn 2 tháng, ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi. Ở Mặt trận Hoà Bình, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá huỷ 12 pháo và hơn 200 xe quân sự, thu 24 pháo và gần 800 súng các loại; giải phóng khu vực Hoà Bình - sông Đà, giữ vững đường giao thông chiến lược giữa Việt Bắc và các liên khu 3, 4; đập tan âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược,mở rộng vùng chiếm đóng và lập "Xứ Mường tự trị"của Pháp. Ở mặt trận dịch hậu, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 15.000 địch, thu 6.000 súng các loại, mở rộng nhiều khu du kích và căn cứ du kích, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm.


70 năm đã trôi qua nhưng Chiến dịch Hòa Bình vẫn là trang sử vàng chói lọi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc, thắng lợi của chiến dịch thể hiện sự chỉ đạo chiến lược tài tình củaĐảng ta đối với chiến dịch tiến công, sự phát triển nghệ thuật quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tác chiến liên tục dài ngày trên mặt trận rộng lớn và phức tạp. Còng tác thông tin liên lạc trong Chiến dịch Hòa Bình đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho bộ đội Thông tin liên lạc ngày nay, đó là tinh thần quyết tâm vượt mọi khó khăn, gian khổ, chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ trong chiến đấu; chủ động, linh hoạt, sáng tạo giữ vững mạch máu thông tin liên lạc trong mọi tình huống. Truyền thống và những bài học kinh nghiệm đó sẽ tiếp thêm sức mạnh giúp cho cán bộ, chiến sĩ Thông tin liên lạc quyết tâm xây dựng Binh chủng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng, Quân đội và nhân dân giao cho.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #114 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2025, 08:49:39 pm »

QUÂN VÀ DÂN TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 1 PHỐI HỢP TÁC CHIẾN VỚI CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH


Trung tướng NGUYỄN HỒNG THÁI
Ủy viên Ban Chấp hànhTrung ương Đảng,
Ủy viên Quân ủy Trung ương,
Tư lệnh Quân khu 1


Thời điểm diễn ra Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 -25.2.1952) địa bàn Quân khu 1 ngày nay là một phần của Liên khu Việt Bắc1 (Ngày 4 tháng 11 năm 1949, Chủ tịch Chính phủ ra sắc lệnh số 127/SL thành lập Liên khu Việt Bắc trên cơ sở hợp nhất Liên khu 1 và Liên khu 10, gồm: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phúc Yên, Quảng Yên, Hòn Gai, Hải Ninh, Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Vĩnh Yên, Lai Châu, Sơn La và châu Mai Đà). Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Việt Bắc là địa bàn diễn ra nhiều chiến dịch có ý nghĩa chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh như Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, Chiến dịch Biên Giới 1950... Trong Đông - Xuân 1951 - 1952, thực hiện chủ trương và sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, quân và dân Liên khu Việt Bắc nói chung, các tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 ngày nay nói riêng, đã đẩy mạnh tác chiến trên hướng phối hợp, góp phần vào thắng lợi chung của Chiến dịch Hòa Bình.


Sau thất bại ở biên giới Việt - Trung trong Thu - Đông 1950, thực dân Pháp ráo riết triển khai thực hiện Ke hoạch Đờ Lát, củng cố và tăng cường xây dựng một lực lượng lớn binh lực ở đồng bằng Bắc Bộ. Tháng 11 năm 1951, quân Pháp tập trung một lực lượng lớn mở cuộc tiến công đánh chiếm Hòa Bình nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược; mở rộng khu Chiếm đóng, bịt chặt cửa ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, chặn đường liên lạc vận chuyển của ta giữa Việt Bắc và các liên khu 3, 4; tiêu diệt một bộ phận chủ lực và phá sự chuẩn bị tiến công Thu - Đông của ta. Cuộc tiến công do tướng Xalăng - Phó Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương trực tiếp chỉ huy.


Ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp mở rộng, sau khi nghe Bộ Tổng Tham mưu báo cáo tình hình địch đánh chiếm vào Hòa Bình và tình hình sẵn sàng chiến đấu của bộ đội ta, đã đề xuất hoãn mở chiến dịch ở Liên khu 3 để mở chiến dịch tại Hòa Bình. Ta nhận định mở chiến dịch Hòa Bình là có lợi hơn vì địch mới ra chưa được củng cố. Hòa Bình là chiến trường rừng núi nên ta dễ bao vây, chia cắt địch, mặt khác việc tiếp giáp với Việt Bắc có điều kiện cơ động lực lượng và bảo đảm hậu cần thuận lợi. Hơn nữa, các đại đoàn chủ lực của ta lại đều đang bố trí gần Hòa Bình tranh thủ được thời gian nổ súng sớm; ta không thể để địch chia cắt hành lang liên lạc và đường vận chuyển giữa Liên khu Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4 vi sẽ gây nhiều khó khăn, phức tạp sau này.


Ngày 17 tháng 11 năm 1951, Bộ Tổng Tham mưu tổ chức Hội nghị giao nhiệm vụ sơ bộ cho các đại đoàn 308, 316 và Liên khu Việt Bắc. Tiếp đó, ngày 18 tháng 11 năm 1951, tại An toàn khu Việt Bắc, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy nhận định: Đánh ra Hòa Bình, đích đã phân tán lực lượng cơ động ra một địa hình rừng núi hiểm trợ, binh lực ở đồng bằng Bắc Bộ bị dàn mỏng và tương đối sơ hở; đây là một cơ hội hiếm có để ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Từ nhận định trên, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tiến công lớn trên hai mặt trận: Tập trung chủ lực trên mặt trận chính Hòa Bình; đồng thời đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm. Bộ Chính trị quyết định tổ chức Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hòa Bình: Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch: Đại tướng Võ Nguyên Giáp; Tham mưu trưởng: Thiếu tướng Hoàng Văn Thái; Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Chiến dịch: Nguyễn Chí Thanh. Lực lượng tham gia chiến dịch trên mặt trận chính diện gồm 3 đại đoàn bộ binh: 308, 312, 304 và Đại đoàn công pháo 351; trên mặt trận phối hợp, 2 đại đoàn bộ binh 316, 320 tiến sâu vào vùng sau lưng địch ở trung du và đồng bằng sông Hồng cùng các lực lượng tại chỗ tiến công địch, diệt tề trừ gian, mở rộng các khu du kích và căn cứ du kích.


Cùng thời gian này, trước tình hình vùng hậu phương của địch ở đồng bằng, trung du Bắc Bộ có nhiều sơ hở nên thuận lợi cho ta, Trung ương Đảng và Bộ Tổng Tư lệnh chủ trương điều một phần bộ đội chủ lực vào vùng địch hậu, trong đó có Việt Bắc đê phối hợp cùng lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích ở vùng địch kiểm soát.


Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị" về nhiệm vụ phả cuộc tấn công Hòa Bình của địch’’ xác định rõ: "Chiến trường Bắc Bộ lúc này là cơ hội rất tốt cho chiến tranh du kích phát triển, nhiệm vụ là phải phá tan cuộc tiến công Hòa Bình của địch"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 596). Khi quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Người chỉ rõ: "Nay địch ra cho ta đánh. Đó là cơ hội tốt nhất cho ta. Bộ đội chủ lực đánh, bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh. Các lực lượng phải phối hợp chặt chẽ với nhau để tiêu diệt sinh lực địch, để đánh tan kế hoạch Thu Đông của chúng"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 242).


Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh, ngày 10 tháng 12 năm 1951, quân ta bắt đầu nổ súng tiến công quân địch, mở màn Chiến dịch Hòa Bình. Chiến dịch diễn ra qua 3 đợt (10.12.1951 -25.2.1952)2 (Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, CD, Quyển 1, Lịch sử quân sự, Mụctừ: "Chiến dịch Hòa Bình"). Sau hơn 2 tháng chiến đấu ở Mặt trận Hòa Bình, quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hờn 6.000 tên địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng các loại và phá hủy 12 khẩu pháo và hơn 200 xe quân sự, thu 12 khẩu pháo và gần 800 súng các loại, giải phóng khu vực Hòa Bình - sông Đà giữ vững đường giao thông chiến lược giữa Việt Bắc - Quân khu 1 với Liên khu 3, Liên khu 4, đập tan âm mưu lập lại quyền chủ động chiến lược, mở rộng vùng chiếm đóng và lập "Xứ Mường tự trị"của thực dân Pháp3 (Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, CD, Quyển 1, Lịch sử quân sự, Mục từ: "Chiến dịch Hòa Bình").
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #115 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2025, 08:52:03 pm »

Để hỗ trợ lực lượng vũ trang Việt Bắc đánh địch tại vùng địch hậu phối hợp với mặt trận chính diện Hòa Bình, Bộ đã bố trí Đại đoàn 316 kết hợp với Trung đoàn 246 đang ở Bắc Giang, Bắc Ninh; đưa Trung đoàn 98 vào đánh chiếm vùng Gia Bình, Lương Tài (Bắc Ninh); Trung đoàn 174 hoạt động ở tuyến ngoài, tiêu diệt một vài cứ điểm của địch và chủ động sẵn sàng tiêu diệt quân địch nếu chúng đánh ra vùng tự do Việt Bắc. Ngoài ra Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo cánh quân ở phía Bắc Đường số 13 (Bắc Giang), khi có điều kiện thuận lợi thì cho một bộ phận vào vùng địch hậu tác chiến cùng quân và dân Hòa Bình; Trung đoàn 176 bố trí đề phòng địch đánh ra Đường số 4 (Lạng Sơn) có thể cho một bộ phận xuống Đường số 13 hoạt động. Đại đoàn 320 sử dụng Trung đoàn 64 vào vùng địch hậu để hoạt động phối kết hợp đánh địch.


Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy, để chuẩn bị tốt mọi mặt cho chiến dịch, cuối tháng 11 năm 1951, Thường vụ Liên khu ủy Việt Bắc họp bàn chủ trương phối hợp và nhận định đây là thời cơ tốt nhất cho ta đẩy mạnh hoạt động tác chiến và mở rộng căn cứ du kích ở vùng địch hậu; trên cơ sở đó tiếp tục chỉ đạo lực lượng vũ trang Liên khu và các địa phương phối hợp với các đơn vị chủ lực của Bộ mở các đợt tác chiến tấn công quân địch rộng khắp nhằm kết hợp với Mặt trận Hòa Bình.


Tại hướng Bắc Ninh, Bắc Giang, ngoài lực lượng bộ đội địa phương tỉnh, huyện và dân quân du kích, còn có các đơn vị thuộc Đại đoàn 316 và Trung đoàn 246 đẩy mạnh tác chiến. Hai trung đoàn 174 và 98 tiến vào Bắc phần Bắc Ninh tiêu diệt một số vị trí địch trên Đường số 18 (đoạn Bắc Ninh đi Phả Lại). Trung đoàn 98 diệt vị trí Cầu Ngà. Trung đoàn 174 hai lần đánh vị trí Phổ Mới nhưng đều không thành công. Đầu tháng 12 năm 1951, các trung đoàn này vượt sông cầu, sông Đuống xuống Nam phần Bắc Ninh. Ngày 9 tháng 12, Tiểu đoàn 215 (Trung đoàn 98) đánh đồn Thứa (thuộc Lang Tài) bắt toàn bộ sĩ quan, binh lính địch, thu trên 100 súng các loại. Ngày 13 tháng 12, Tiểu đoàn 215 lại chặn đánh một cánh quân của Binh đoàn cơ động số 3 địch từ Cẩm Giàng đi càn ở Cổ Lâm, Lĩnh Mai (Gia Lương)1 (Tổng kết chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân tỉnh Bắc Ninh trong kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954 và chống chiến tranh phả hoại của giặc Mỹ (1965 -1972), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 87-90).


Trong những ngày cuối tháng 12 năm 1951, bộ đội ta còn bẻ gãy nhiều cuộc càn ở Gia Phó, Lĩnh Mai, phục kích địch trên Đường số 18, diệt 1 trung đội lính Âu - Phi đánh bốt Đậu (Thuận Thành), uy hiếp cầu Đuống và thị trấn Gia Lâm. Tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn Thiên Đức cùng các đơn vị chủ lực của Bộ đánh phá nhiều vị trí địch ở Nam phần Bắc Ninh, vây hãm đồn Kênh Vàng (15.1) và các đồn Thiên Thai, Văn Thai, Vệ Đạo, đánh phá quận lỵ Thuận Thành...


Ngày 25 tháng 1, quân ta tổ chức trận phục kích chặn đánh tiểu đoàn viện binh địch từ cầu Đuống theo trục Đường số 3 lên Bắc phân Bắc Ninh, phá 7 xe quân sự (có 3 xe tăng và bọc thép), diệt và đánh bị thương 2 đại đội địch, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Ngày 26 tháng 1, dân quân du kích xung quanh khu vực Đông Côi (Thuận Thành, Bắc Ninh) phối hợp với Tiểu đoàn 215 - bộ đội chủ lực chặn đánh một cánh quân của Binh đoàn cơ động số 2 (GM2) càn trên dọc Đường số 38, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 2 đại đội địch (có trên 100 tên bị diệt)1 (Tổng kết chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân tỉnh Bắc Ninh trong kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954 và chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ (1965 - 1972), Sđd, tr. 88). Cuối tháng 1 năm 1952, bộ đội địa phương Bắc Ninh cùng dân quân, du kích tiếp tục đánh vào vị trí Trạm Trại diệt và bắt 55 tên, thu toàn bộ vũ khí. Trong những ngày đầu tháng 1 năm 1952, chủ lực ta vây hãm vị trí Thiên Thai và đánh viện binh địch ở Nghi An Cứu Cáp (ngày 7 và 8 tháng 2) theo Đường số 18, diệt trên 300 tên. Tiểu đoàn Thiên Đức diệt gọn vị trí Tiên Xá và cùng một bộ phận của Trung đoàn 98 bao vây bức hàng vị trí Mão Điền bên bờ sông Đuống. Chỉ tính riêng tháng 1 năm 1952, quân và dân Bắc Ninh liên tiếp tiêu diệt 12 vị trí, bao vây gọi hàng và bức rút 14 vị trí khác, diệt 850 tên địch, bắt 260 tên khác, thu nhiều vũ khí trong đó có 4 khẩu đại liên, 65 trung liên và tiểu liên. Trong những ngày tháng chiến đấu kiên cường, mưu trí, anh dũng, bộ đội Trung đoàn 98 và lực lượng vũ trang tỉnh Bắc Ninh đã tiêu diệt hơn 2.000 tên địch, làm bị thương gần 200 tên2 (Tổng kết chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân tỉnh Bắc Ninh trong kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954 và chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ (1965 - 1972), Sđd, tr. 88).


Tại tỉnh Bắc Giang, Tỉnh đội quyết định đưa Tiểu đoàn 61 vào phía Nam huyện Lạng Giang, Yên Dũng đánh địch, mở rộng khu Căn cứ du kích Yên Dũng, phối hợp chặt chẽ với Chiến dịch Hòa Bình; thực hiện nhiệm vụ phá tề trừ gian, diệt biệt kích, củng cố cơ sở phát triển du kích chiến tranh, chống địch càn quét bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, bảo vệ và khơi thông Đường số 13, bảo đảm liên lạc giữa vùng tự do và khu Căn cứ, tuyệt đôi giữ bí mật lực lượng sẵn sàng chiến đấu đánh địch.


Ngày 6 tháng 12 năm 1951, địch cho 200 quân cùng xe tăng, xe lội nước tấn công từ Thái Đào xuống Đông Loan để bảo vệ cho lực lượng của chúng đi canô từ Phả Lại lên Phủ Lạng Thương. Tiểu đoàn 61 bí mật, kiên trì phục kích, bất ngờ đánh chặn, toàn bộ lực lượng địch đã lọt vào trận địa, bị tiêu diệt 45 tên (một nửa là lính Âu - Phỉ), bị thương 10 tên, bắt 5 tên, phát hủy 1 xe cơ giới và thu một số vũ khí. Thắng lợi trận đầu của lực lượng vũ trang tỉnh Bắc Giang đã tạo đà cho việc giải phóng hầu hết các xã Nam Lạng Giang và Bắc Yên Dũng, lập thêm các khu du kích mới gồm Dĩnh Kế, Thái Sơn, Tân Dân, Nội Hoàng, Phấn Dũng nối liền với khu Căn cứ du kích Yên Dũng. Chiến thắng Quỳnh Sơn, Chợ Rào mở ra bước ngoặt của chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch... Đây là cơ sở quan trọng để Bộ Tư lệnh Liên khu Việt Bắc chỉ đạo gấp rút xây dựng vùng căn cứ du kích thực sự vững mạnh, sẵn sàng đối phó với âm mưu mới của địch. Phong trào rào làng, đắp lũy xây dựng thôn trang chiến đấu; phong trào giết giặc lập công được phát triển mạnh mẽ. Tiểu đoàn 61 phối hợp với các đơn vị bộ đội huyện Yên Dũng, Lạng Giang, Việt Yên tìm những nơi sơ hở những mục tiêu quan trọng để đánh địch1 (Ngày 20 tháng 12 năm 1951, du kích đã tiêu diệt bọn tề phản độngg ở Hoàng Mai (Việt Yên). Ngày 21 tháng 12 năm 1951, ta phục kích đánh địch đi tuần ở Phán Dũng. Ngày 30 tháng 12 năm 1951, ta phục kích đánh địch ở Bằng Lương và ngày 8 tháng 1 năm 1952, ta chống càn ở Ảm Trứ). Tiêu biểu là trận vận động phục kích đánh địch trên Đường số 13 ngày 29 tháng 1 năm 1952 (Mùng 3 Tết Nguyên đán) khi chúng từ thị xã Phủ Lạng Thương đi Kế. Lực lượng của ta tham gia ngoài 4 đại đội của Tiểu đoàn 61 còn có 1 đại đội của huyện Lạng Giang, 1 đại đội của Tiểu đoàn 88 thuộc Trung đoàn 176 (Đại đoàn 316), du kích các xã Thái Sơn và Dĩnh Kế. Do chuẩn bị tốt, chỉ huy hiếp đồng chặt chẽ, sau 4 đợt tấn công (từ 6 giờ sáng đến 14 giờ), ta đã tiêu diệt 105 tên địch, làm bị thương 28 tên, bắt 12 tên lính Âu - Phi, phá hỏng 6 xe tăng và xe thiết giáp, thu 6 súng tiểu liên, 3 trung liên, 5 đại liên, 13 súng trường, 2 súng ngắn và một số chiến lợi phẩm khác1 (Tổng kết chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân tỉnh Bắc Ninh trong kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954 và chống chiến tranh phá hoại củagiặc Mỹ (1965 - 1972), Sđd, tr. 92-93). Đây là trận đánh thắng lợi giòn giã của bộ đội địa phương và dân quân du kích tỉnh, làm cho hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền hoang mang dao động, cơ sở của ta được củng cố, phát triển, trình độ tác chiến của bộ đội có nhiều tiến bộ rõ rệt. Tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn 61 cùng bộ đội huyện và dân quân du kích Yên Dũng chống càn ở Âm Trứ, Đức La.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #116 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2025, 08:54:23 pm »

Khắp các địa phương trên địa bàn Quân khu 1, bộ đội cùng dân quân du kích và nhân dân bao vây bức hàng nhiều vị trí lẻ, tháp canh hương dũng, tổng dũng, làm cho cơ sở ngụy quyền bị tan rã từng mảng. Ta thành lập thêm một số khu du kích và căn cứ du kích ở Yên Dũng, Nam Lạng Giang và Nam Việt Yên, hình thành khu Chiến đấu gồm 88 thôn, chạy dài 20km, nối liền với khu du kích Tiên - Quế - Võ.


Tại tỉnh Thái Nguyên, để chi viện cho các chiến trường và Chiến dịch Hòa Bình, tính đến cuối năm 1951, tỉnh Thái Nguyên đã bổ sung cho bộ đội chủ lực hết 4/5 quân số bộ đội địa phương. Cùng với việc xây dựng và phát triển lực lượng, tổ chức phối hợp bảo vệ an toàn khu, những tháng cuối năm 1951, đầu năm 1952, tỉnh Thái Nguyên đã cử một số đơn vị bộ đội địa phương và du kích về các vùng Kim Anh (Vĩnh Phúc) và Bắc Giang phối hợp với bộ đội chủ lực đánh địch, giải thoát 3 cán bộ của ta bị địch bắt giữ, tiêu diệt hơn 200 tên (trong đó có 1 tên quan hai Pháp), phá hủy 1 khẩu đại bác, 1 xe thiết giáp, 1 xe vận tải, bắt 4 lý trưởng, thu 3 xe đạp và 1 cặp tài liệu, giải phóng cho một số đồng bào ta bị địch bắt giữ1 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên, Lịch sử Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên, xuất bản năm 2014, tr. 62, 64)...


Bên cạnh đó, thực hiện nhiệm vụ được giao, quân và dân trên địa bàn Quân khu 1 còn tích cực hoàn thành tốt nhiệm vụ đảm bảo giao thông vận tải, huy động sức người, sức của cho tiền tuyến. Để đảm bảo thông suốt tuyến đường vận chuyển khối lượng lớn hàng hóa, phương tiện chiến tranh do các nước anh em viện trợ từ các tỉnh biên giới theo Quốc lộ 3, 1B về xuôi cho kháng chiến, Trung ương đã giao cho các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên tập trung mọi nỗ lực mở rộng, giữ vững thông suốt các tuyến đường bằng mọi giá, trước mắt là đảm bảo phục vụ Chiến dịch Hòa Bình. Những tháng cuối năm 1951, đầu năm 1952, quân và dân các tỉnh trên đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ huy động nhân lực đảm bảo giao thông vận tải, vận chuyển hàng hóa ra chiến trường phục vụ bộ đội ta chiến đấu đánh địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo xây dựng lực lượng, tổ chức trấn áp bọn phản động, sẵn sàng phối hợp chiến đấu đề phòng địch mở cuộc tấn công đánh chiếm Đường số 4.


Sau khi Chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi, đúng như ta dự đoán, ngay sau khi rút khỏi Hòa Bình, Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp lập tức tung quân ra càn quét vùng tạm bị chiếm để tiêu hao, tiêu diệt và đẩy lùi bộ đội chủ lực ta, đánh phá cơ sở vàphong trào chiến tranh du kích, củng cố lại thế phòng thủ và khôi phục quyền kiểm soát của chúng. Các lực lượng vũ trang Việt Bắc vẫn tiếp lục chiến đấu ngoan cường chống lại các cuộc hành quân, càn quét của địch1 (Theo Lịch sử lực lượng vũ trang Quân khu 1 - Việt Bắc (1945 - 2015) Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 116: Từ ngày 14 tháng 4 đến ngày 2 tháng 5 năm 1952 địch sử dụng tới 5 binh đoàn cơ động, 2 tiểu đoàn pháo binh (có 48 khẩu 105mm), 2 tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp và xe cơ giới mở liên tiếp các cuộc càn quét đẫm máu với mật danh Poóctô, Pôlô, Tuyếccô vào tỉnh Bắc Ninh. Tại đây, các đơn vị tham chiến của ta (chủ yếu gồm Tiểu đoàn 433 Thiên Đức, Tiểu đoàn 18, Trung đoàn 98 chủ lực của Bộ, đại đội bộ đội các huyện và dân quân du kích địa phương) chiến đấu hết sức ngoan cường, dũng cảm, tiêu diệt trên 2.000 tên địch, làm bị thương hàng nghìn tên khác thu nhiều súng và đồ dùng quân sự. Ta bị tổn thất không nhỏ, bộ đội và dân quân du kích có gần 700 đồng chí hy sinh, trên 500 đồng chí bị thương, hàng trăm đồng chí bị thất lạc hoặc mất tích. Địch còn giết hại trên 100 thường dân, bắt hơn 1.000 thanh niên, đốt 3.170 nhà, triệt phá hàng nghìn mẫu lúa và hoa màu, giết và bát hàng nghìn gia súc), bảo vệ địa phương. Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị đúc kết và phổ biến kịp thời những kinh nghiệm quý báu về tổ chức bám nắm, đề ra các biện pháp tổ chức chống địch càn quét hiệu quả, giảm thương vong; phối hợp tác chiến giữa các lực luợng bằng nhiều cách đánh linh hoạt, sáng tạo; đồng thời kết hợp chặt chẽ tác chiến với địch vận, trừng trị bọn ác ôn ngoan cố chống phá cách mạng và có nợ máu với nhân dân.


Với những nỗ lực trong phối hợp tác chiến với Chiến dịch Hòa Bình, lực lượng vũ trang Liên khu Việt Bắc, trong đó có quân và dân thuộc địa bàn Quân khu 1 ngày nay, đã đánh 301 trận, diệt 2.607 tên, bắt 1.204 tên, góp phần bức hàng, bức rút và hạ hơn1.000 đồn bốt, tháp canh địch, tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực địch, làm cho chúng bị phân tán, tạo điều kiện thuận lợi để ta triển khai tác chiến tiêu diệt đánh địch tại Hòa Bình. Các căn cứ du kích của ta được mở rộng và nối liền thành thể liên hoàn từ Bắc Giang, Bắc Ninh, vượt qua Đường số 5 tới Hải Dương, Hưng Yên, xuống Thái Bình, Nam Định, hàng triệu dân được giải phóng. Đồng thờiquân và dân Việt Bắc còn làm tốt công tác địch vận, tuyên truyền, giác ngộ được 4.626 ngụy binh rời hàng ngũ địch quay về với cách mạng. Thắng lợi của quân dân ta trong Chiến dịch Hòa Bình đã khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh. Đóng góp vào thắng lợi của chiến dịch có sự phối hợp tác chiến ở địch hậu với chiến trường chính của quân và dân trên địa bàn Quân khu 1. Thắng lợi đó đã để lại cho lực lượng vũ trang Quân khu một số bài học kinh nghiệm quý báu, đó là:

Thứ nhất, luôn quán triệt, tổ chức thực hiện tốt chủ trương, quan điểm của Đảng về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng

Quán triệt và thực hiện các chỉ thị, quyết định của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương về phá cuộc tấn công của địch, mở cuộc tấn công lớn trên 2 mặt trận (mặt trận chính diện Hòa Bình và vùng địch hậu Bắc Bộ, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm) và Thư kêu gọi, động viên toàn thể cán bộ chiến sĩ, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chiến dịch, dưới sự chỉ đạo của Tổng Quân ủy, Liên khu ủy, lực lượng vũ trang Liên khu Việt Bắc luôn bám sát, chấp hành nghiêm các chủ trương của Trung ương, Tổng Quân ủy, xác định rõ và giao nhiệm vụ cụ thể cho các địa phương; tổ chức chỉ đạo xây dựng căn cứ, lực lượng, đẩy mạnh chiến tranh du kích, phối hợp với lực lượng của Bộ tác chiến tiêu hao, phân tán sinh lực địch, hỗ trợ cho chiến trường chính, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao; tổ chức lực lượng bảo vệ vững chắc an toàn khu; huy động nhân lực, vật lực cho tiền tuyến.


Thứ hai, đánh giá đúng các âm mưu, thủ đoạn của địch, phối hợp vận dụng linh hoạt các hình thức tác chiến, thực hành lối đánh du kích, xây dựng căn cứ du kích liên hoàn vững chắc, mở rộng địa bàn tác chiến

Bám sát vào nhiệm vụ được Tổng Quân ủy, Bộ Chính trị giao, các lực lượng vũ trang Việt Bắc đã nắm chắc tình hình, đánh giá đúng tương quan lực lượng, tổ chức lực lượng hợp lý tại địa bàn, đặc biệt tại các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh; vận dụng linh hoạt các hình thức tác chiến, lối đánh du kích; kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến trên mặt trận chính diện với phía sau lưng địch. Bên cạnh đó, tổ chức thiết lập, xây dựng được hệ thống căn cứ du kích, căn cứ chiến đấu liên hoàn vững chắc; tổ chức nghi binh đánh địch và phối hợp tác chiến với lực lượng chủ lực luôn đảm bảo kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, linh hoạt, phát huy được hiệu quả cao. Lực lượng vũ trang Việt Bắc còn tổ chức bám nắm, nghiên cứu, nắm vững âm mưu, thủ đoạn, chỗ mạnh, chỗ yếu của địch để mở các trận đánh giành thắng lợi. Thắng lợi các đợt phối hợp tác chiến giữa lực lượng vũ trang các địa phương với chủ lực chiến đấu tại Bắc Ninh, Bắc Giang, thậm chí mở rộng xuống một số khu vực các tỉnh đồng bằng, hoặc việc cơ động lực lượng từ Thái Nguyên xuống Bắc Giang, Vĩnh Phúc phối hợp tác chiến là những minh chứng xác đáng về bài học này của lực lượng vũ trang Liên khu. Bài học về mở rộng địa bàn tác chiến ra ngoài phạm vi lãnh thổ đảm bảo phòng thủ, bảo vệ địa bàn từ xa và hoạt động tác chiến du kích trong thời gian diễn ra chiến dịch vẫn còn nguyên giá trị để Quân khu vận dụng chỉ đạo nhiệm vụ tác chiến chiến dịch của lực lượng vũ trang trong khu vực phòng thủ hiện nay.


Thứ ba, kết hợp giữa tác chiến quân sự với công tác chính trị, tổ chức vận động quần chúng nhân dân và làm tốt công tác địch vận

Thành công của Chiến dịch Hòa Bình để lại cho Quân khu 1 không chỉ những bài học kinh nghiêm về công tác phối hợp tác chiến về mặt quân sự mà còn để lại bài học sâu sắc về sự kết hợp giữa công tác quân sự với công tác chính trị, công tác vận động quần chúng nhân dân và làm tốt công tác địch vận. Kết hợp với các hình thức tác chiến, lực lượng vũ trang các tỉnh thuộc địa bàn Quân khu 1 đã tích cực vận động nhân dân ủng hộ các đơn vị chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương cả về vật chất và tinh thần, đảm bảo cho bộ đội tác chiến; vận động nhân dân xây dựng các làng chiến đấu, căn cứ chiến đấu liên hoàn. Đồng thời, ngoài việc bức hàng, ta còn làm tốt công tác địch vận, tuyên truyền, giác ngộ binh lính địch và gia đình họ, quay về với Tổ quốc. Trong thời gian diễn ra Chiến dịch Hòa Bình, quân và dân Việt Bắc đã tuyên truyền vận động và kêu gọi được 4.626 ngụy binh rời hàng ngũ địch quay về với cách mạng cùng nhân dân chống lại kẻ thù. Đây là những kinh nghiệm quý báu cần tiếp tục vận dụng vào tình hình thực tiễn hiện nay để không ngừng nâng cao hiệu quả việc vận động nhân dân chấp hành tốt mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu "diễn biến hòa bình", chia rẽ của các thé lực thù địch, xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần trong khu vực phòng thủ ngày càng vững mạnh.


Thứ tư, phối hợp, chỉ đạo làm tốt việc huy động cung cấp nhân lực, vật lực; tổ chức tốt các hoạt động bảo đảm để tiến hành tác chiến thắng lợi

Ngoài những bài học nêu trên, qua Chiến dịch Hòa Bình, chúng ta có thể nhận thấy, để đảm bảo cho các lực lượng phối hợp tác chiến thành công, còn phải phối hợp, chỉ đạo làm tốt việc huy động cung cấp nhân lực, vật lực; tổ chức tốt các hoạt động bảo đảm để tiến hành tác chiến thắng lợi. Thực tiễn từ Chiến dịch Hòa Bình đã chứng minh, quân và dân Việt Bắc đã tích cực hoàn thành tốt nhiệm vụ vận động nhân dân, huy động sức người, đóng góp sức của cho tiền tuyến; bảo đảm tốt nhiệm vụ giao thông vận tải vận chuyển hàng hóa, phương tiện phục vụ chiến dịch. Nhândân các dân tộc không chỉ ủng hộ công sức, vật chất nuôi dưỡng, giúp đỡ lực lượng vũ trang địa phương, chủ lực chiến đấu, xây dựng căn cứ và tham gia chiến đấu ở vùng địch hậu mà còn ủng hộ đóng góp hàng nghìn tấn lương thực, thực phẩm cho bộ đội chiến đấu ngoài chiến trường, góp phần cho Chiến dịch Hòa Bình giành thắng lợi hoàn toàn. Đây là bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu, để Quân khu vận dụng, tiếp tục chỉ đạo, phát huy nguồn lực tại chỗ để nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm và hoạt động của Hội đồng cung cấp các cấp trên địa bàn trong nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ và tác chiến phòng thủ hiện nay.


Kỷ niệm 70 năm ngày mở màn chiến dịch, cũng như thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là dịp để quân, dân cả nước nói chung, lực lượng vũ trang Quân khu 1 nói riêng ôn lại truyền thống hào hùng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại. Với lòng tự hào từng là căn cứ địa kháng chiến, có nhiều đóng góp quan trọng cho chiến dịch thắng lợi, quân và dân Quân khu 1 tiếp tục phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng được Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng và nhân dân giao cho, đem hết sức mình đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #117 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2025, 08:58:47 pm »

QUÂN VÀ DÂN LIÊN KHU 4 VỚI CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH


Trung tướng NGUYỄN DOÃN ANH
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
Ủy viên Quân ủy Trung ương,
Tư lệnh Quân khu 4


Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952) là chiến địch tiến công của Quân đội nhân dân Việt Nam ở khu vực thị xã Hòa Bình - sông Đà - Đường số 6 nhằm tiêu diệt sinh lực địch, đánh bại kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của thực dân Pháp, phá vỡ phòng tuyến Sông Đà và tạo điều kiện phát triển chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc Bộ. Thắng lợi của chiến dịch có ý nghĩa chiến lược cả về chính trị và quân sự, đánh bại kế hoạch quân sự của thực dân Pháp nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ. Thực dân Pháp ngày càng lún sâu vào thế phòng ngự bị động về chiến lược, lúng túng về chiến dịch, đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta phát triển sang giai đoạn mới.


Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là kết quả của sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng, sự anh dũng chiến đấu của quân, dân Hòa Bình và cả nước. Trong đó, quân và dân Liên khu 4 đã đồng lòng chung sức cùng cả nước củng cố hậu phương, chống phá âm mưu lấn chiếm của địch, là chiến trường thu hút giam chân địch, phối hợp chia lửa với chiến trường chính; vừa là hậu phương cung cấp sứcngười, sức của, góp phần quan trọng để chiến dịch giành thắng lợi, được thổ hiện trên một số nội dung sau:

1. Đấu tranh khôi phục cơ sở vùng bị tạm chiếm, chống phá âm mưu bình định lấn chiếm của địch

Nhằm tiếp tục đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, sẵn sàng phối hợp tác chiến với chiến trường chính Bắc Bộ, tháng 2 năm 1951, tại Mặt trận Bình - Trị - Thiên, Liên khu ủy tổ chức Hội nghị quân chính tại Chiến khu Ba Lòng để quán triệt nhiệm vụ quân sự năm 1951. Hội nghị quyết định tiến hành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong cán bộ, chiến sĩ nhằm thống nhất nhận thức sâu sắc về nhiệm vụ tác chiến. Trên cơ sở đó, nêu cao tinh thần khắc phục khó khăn, quyết tâm "xây đà chiến thắng", bám dân, bám đất, giữ vững địa bàn, chăm lo củng cố mọi mặt, đẩy mạnh chiến tranh du kích, đánh bại âm mưu bình định của địch, đưa phong trào ở Bình - Trị - Thiên tiến kịp các chiến trường.


Đợt sinh hoạt chính trị đã kịp thời củng cố tổ chức và tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ. Tại Mặt trận Bình - Trị - Thiên, ngày 12 tháng 2, Tiểu đoàn 436 được Tiểu đoàn pháo binh 888 chi viện, tiến công tiêu diệt hoàn toàn vị trí An Gia trong hệ thống phòng thủ Phú Óc - Sịa huyện Quảng Điền. Ngay sau đó, địch cho quân đến tiếp viện, giải tỏa hòng chiếm lại vị trí này, nhưng Trung đoàn 101 vẫn kiên quyết chiến đấu, làm chủ vị trí trên; đồng thời, kịp thời tổ chức rút kinh nghiệm phương thức đánh công kiên, tập kích vào các vị trí phòng thủ lô cốt, tháp canh vững chắc của địch.


Sau Chiến thắng An Gia, Bộ Chỉ huy Mặt trận chủ trương giao cho Trung đoàn 101 cường tập vị trí Phổ Lại nhằm tiêu diệt lực lượng địch tại đây, làm tan rã tinh thần binh lính địch, nhất là Tiểu đoàn 7 ngụy quân. Đêm mùng 9 tháng 3 năm 1951, Trang đoàn 101 tổ chức cường tập tiêu diệt vị trí Phổ Lại, thu toàn bộvũ khí. Chiến thắng Phổ Lại cùng với Chiến thắng An Gia đã bè gãy tuyến phòng ngự Phú Ốc - Sịa của địch. Để tiếp tục chỉ đạo các hoạt động quân sự, Thường vụ Liên khu ủy ra nghị quyết, chỉ rõ: "Trên chiến trường Bình - Trị - Thiên, chiến tranh du kích là chính, quy mô tác chiến của chủ lực là trung đoàn, khi cần có thể tổ chức hai trung đoàn, nhưng phải chuẩn bị chu đáo, chủ động đánh tiêu diệt ăn chắc, đánh quân ứng chiến là chính"1 (Nghị quyết số 52-NQ-LK4 ngày 19 tháng 3 năm 1951, tài liệu lưu trữ tại Phòng Khoa học quân sự Quân khu 4).


Để đối phó với ta, thực dân Pháp đã tổ chức trận càn lớn vào Thanh Hương – Mỹ Xuyên. Chúng đã huy động trên 2.200 quân ứng chiến tinh nhuệ có pháo binh, công binh, cơ giới và máy bay chi viện, chia làm 2 cánh hành quân chiếm lĩnh trận địa, hình thành thế bao vây căn cứ Thanh Hương - Mỹ Xuyên. Thực hiện nghị quyết Thường vụ Liên khu ủy, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Liên khu, Trung đoàn 95 và Trung đoàn 101 nhanh chóng hành quân trong đêm chiếm lĩnh trận địa, kịp thời nổ súng đánh địch, mở đầu trận chống càn.


Từ ngày 10 đến ngày 13 tháng 3 năm 1951, Trung đoàn 95 và Trung đoàn 101 đã phối hợp với lực lượng dân quân và bộ đội địa phương 2 huyện Phong - Hải tổ chức trận chống càn Thanh Hương - Ưu Điềm bằng chiến thuật vận động chiến lớn nhất từ trước đến nay, tiêu diệt gọn cả binh đoàn của Pháp (1.200 tên chết và bị thương). Đây là trận vận động chiến quy mô với toàn bộ lực lượng chủ lực có mặt trên chiến trường, cơ động nhanh, kết hợp chặt chẽ giữa phản kích, đột kích, tập kích với bám trụ vững vàng, bẻ gãy từng cánh quân của địch. Lực lượng vũ trang Liên khu 4 đã phối hợp tác chiến chặt chẽ giữa quân và dân, giữa đấu tranh quân sự, chính trị và binh vận, tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn, liên tục tiến công làm cho địch dù có lực lượng ứng chiến lớn và phương tiện chiến tranh hiện đại nhưng vẫn bị thất bại. Kế hoạch của Đờ Lát nhằm tiêu diệt chủ lực của ta và tham vọng dùng ngụy quyền đảm nhiệm chiến trường Bình - Trị - Thiên để rút quân ứng chiến tăng cường cho chiến trường Bắc Bộ bị phá sản.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #118 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2025, 09:17:04 pm »

2. Tập trung xây dựng lực lượng vũ trang, bảo vệ hậu phương vững chắc, cung cấp sức người, sức của cho chiến trường chính Bắc Bộ

Tháng 6 năm 1951, khi vào kiểm tra tình hình và giao nhiệm vụ cho Liên khu 4 Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ rõ: "Một mặt vẫn tiếp tục đẩy mạnh tác chiến ở Bình - Trị - Thiên, tránh chủ quan khinh địch, chống tư tưởng ăn to đánh lớn trong một số cán bộ, đẩy mạnh xây dựng lực lượng địa phương thay thế các trung đoàn chủ lực, xúc tiến sớm việc tập trung Đại đoàn 325, xây dựng thành đại đoàn cơ động trong đội hình các đại đoàn chủ lực của Bộ. Một mặt Liên khu phải tập trung sự nỗ lực cao nhất xây dựng và bảo vệ vững chắc hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh, vừa sẵn sàng chi viện sức người, sức của cho chiến trường chính Bắc Bộ"1 (Dẫn,theo Lịch sử Quân khu 4 0945 - 2015), Tập 1: Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 -1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 265). Lực lượng vũ trang Liên khu 4 tiếp tục xây dựng và hoàn thiện kế hoạch tác chiến bảo vệ hậu phương, xây dựng lực lượng ba thứ quân sẵn sàng bổ sung cho chủ lực; tinh giản cơ quan Liên khu bộ để tăng cường lực lượng chi viện cho chiến trường.


Các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương được tăng cường huấn luyện, nâng cao năng lực chiến đấu. Các kho dự trữ lương thực ở các địa phương được thành lập nhằm tăng cường khả năng cung cấp nhanh nhất cho nhu cầu chiến trường. Các trung đoàn 9, 103 ở Thanh - Nghệ - Tĩnh, các trung đoàn 18, 101, 95 ở Bình - Trị - Thiên tiếp tục được củng cố, phát triển.


Các đơn vị binh chủng pháo binh, công binh trực thuộc Bộ Chỉ huy Mặt trận, 3 tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh vừa tích cực xây dựng hậu phương, vừa đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang cả về số lượng, chất lượng, vũ khí trang bị. Hình thức tổ chức lực lượng vũ trang đủ "ba quân, sáu cấp"1 (). Trang bị vũ khí, quân trang cho bộ đội ngày càng tốt hơn; toàn Liên khu đã tổ chức được 30 xưởng sản xuất, sửa chữa vũ khí, cung cấp cho bộ đội đánh giặc với hệ thống "binh xưởng" của Liên khu và Bộ Quốc phòng. Công tác xây dựng lực lượng vũ trang được gắn liền với các đợt sinh hoạt chính trị tư tưởng và các lớp huấn luyện nâng cao kỹ thuật tác chiến cho bộ đội đáp ứng yêu cầu mới.


Trên cơ sở phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, quân và dân Binh - Trị - Thiên đã tích cực tham gia phong trào thi đua "giết giặc lập công, sản xuất lập công, đề cao chiến sĩ1 (Dân quân, du kích của thôn xã, bộ đội địa phương của huyện, tỉnh, bộ đội chủ lực của tỉnh, Liên khu), mở đầu bằng hội mừng chiến thắng Trung Du diễn ra khắp các đơn vị. Tại Quảng Trị, Thừa Thiên, bộ đội cùng du kích các huyện Phong - Quảng - Triệu - Hải liên tiếp mở những trận tiến công địch trên tuyến phòng ngự Phú Óc - Sịa. Sau trận đánh giao thông của Trung đoàn 101 là trận đánh công kiên đầu tiên của Trung đoàn 95 vào vị trí Ba Dốc, với sự hiệp đồng chặt chẽ của cà 3 lực lượng. Trung đoàn 95 vừa đánh địch trong công sự kiên cố, vừa đánh quân tiếp viện, đồng thời tổ chức, giúp đỡ nhân dân từ đô thị đến nông thôn nổi dậy chống địch đi càn, chống bắt lính, dồn dân. Các lực lượng bám nắm địa bàn của Trung đoàn 101, Trung đoàn 95 đã phát động nhân dân trong các thị xã, thành phố Huế đứng lên đấu tranh đòi tự do đi lại. Các đội cơ sở hoạt động trong lòng địch tích cực quấy rối, phục kích, tập kích, ám sát địch, làm rối loạn an ninh, buộc địch phải tập trung lực lượng đối phó.


Tại Thanh - Nghệ - Tĩnh, các cấp ủy Đảng tập trung củng cố dân quân, xây dựng lực lượng hậu bị. Lực lượng dân quân vừa sản xuất, vừa tham gia chiến đấu bảo vệ hậu phương. Bằng những biện pháp kiên quyết và tích cực, tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa đưa Tiểu đoàn 195 và Tiểu đoàn 275 ra Mặt trận Phú Thọ. Lực lượng vũ trang tỉnh Hà Tĩnh vừa giúp dân vùng trọng điểm, vừa sẵn sàng đánh địch, kiên quyết bảo vệ hậu phương và phối hợp dân quân, du kích tổ chức được 2.700 dân công, vận chuyển 1.000 tấn gạo đáp ứng yêu cầu phục vụ mặt trận1 (Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị lực lượng vũ trang Quân khu 4 (1945 - 2000), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 216). Trường Quân chính Liên khu, trường quân sự các tỉnh cải tiến phương pháp huấn luyện, đào tạo bồi dưỡng cấp tốc 2.000 cán bộ sơ cấp cho mặt trận phía Bắc.


Để đảm bảo lực lượng dân công phục vụ Chiến dịch Hòa Bình, đầu tháng 11 năm 1951, Bộ Tư lệnh Liên khu huy động lực lượng bao gồm dân công từng đợt và dân công thường trực. Ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh đẩy mạnh cuộc vận động công trái quốc gia, xây dựng lực lượng tại chỗ, tổ chức chiến dịch dân công, thi đua sản xuất động viên bỗ sung cho chiến trường và chi trong thời gian ngắn đã huy động 145.724 người tham gia và phục vụ chiến dịch.


Nhận thức rõ trách nhiệm của hậu phương với tiền tuyến trong điều kiện đường sá xa xôi, địa hình hiểm trở và khí hậu khắc nghiệt, nhưng với tinh thần "tất cả vì tiền tuyến", Liên khu 4 đã huy động hàng vạn dân công cùng với bộ đội bí mật mở đường, gùi thồ, gồng gánh vận chuyển hàng vạn tấn lương thực cùng vũ khí, đạn dược ra chiến trường. Cùng với ngành Hậu cần Quân đội và các địa phương khác, nhân dân vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh đã góp phần vận chuyển gần 20 tấn vũ khí, đạn dược, 6.275 tấn lương thực, 70 tấn thịt lợn và 50 tấn thực phẩm khác, huy động 333.400 lượt người đi dân công với 11.914.000 ngày công cho chiến dịch1 (Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Liên khu 4 (1945 - 1954), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 385).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #119 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2025, 09:18:18 pm »

3. Đẩy mạnh hoạt động phối hợp, tiêu diệt sinh lực địch, củng cố và mở rộng căn cứ du kích, chia lửa với Chiến dịch Hòa Bình

Trong khi cuộc chiến đấu ở Liên khu 4 đang diễn ra quyết liệt thì ở Bắc Bộ, Đờ Lát tập trung lực lượng mở cuộc tiến công lớn ra Hòa Bình. Tổng Quân ủy nhận định: "Địch đang mang lực lượng cơ động tinh nhuệ phân tán trên một tuyến dài đột xuất, công sự chưa vững chắc, địa hình không thuận lợi, tạo cho ta một thời cơ tốt để tiêu diệt sinh lực chúng"2 (Dẫn theo: Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr. 447). Trung ương quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình nhằm vây diệt quân cơ động của địch. Các chiến trường khác trên toàn quốc phải hoạt động phối hợp tích cực. Bộ đội chủ lực đánh, bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh. Các lực lượng phải phối hợp với nhau chặt chẽ, để tiêu diệt sinh lực địch, đánh tan kế hoạch Thu Đông của chúng3 (Lịch sử Quân khu 4 (1945 - 2015), Tập 1, Sđd, tr. 272).


Chấp hành Chỉ thị của Trung ương Đảng và Thư kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Liên khu ủy 4 tổ chức cuộc Hội nghị mở rộng, đánh giá tình hình và đề ra chủ trương: Trong lúc lo đối phó với chủ lực ta ở Hòa Bình, địch sẽ sơ hở ở các chiến trường và sẽ bị hạn chế khả năng tiếp viện vào Bình - Trị - Thiên. Do vậy, Bình - Trị - Thiên phải đẩy mạnh hoạt động phối hợp, tranh thủ tiêu diệt địch, củng cố và mở rộng căn cứ du kích, giải phóng đất, giành dân, củng cố thế đứng trên chiến trường. Bộ Chỉ huy Phân khu Bình - Trị - Thiên kịp thời xác định: Nơi địch sơ hở lúc này là Bắc Quảng Bình, mục tiêu tiến công là hệ thống chiếm đóng của địch ở huyện Bố Trạch. Bộ Chỉ huy điều Trung đoàn 95 nhanh chóng cơ động ra Bắc Quảng Trị đánh địch.


Ngày 10 tháng 11 năm 1951, Tiểu đoàn 227 tiêu diệt tháp canh Phúc Tự; Tiểu đoàn 302 đánh vào Hoàn Lão, phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích Bố Trạch đã diệt 13 lô cốt và tháp canh ờ xung quanh Hoàn Lão, xóa sổ Tiểu đoàn số 25 của ngụy; hầu hết huyện Bố Trạch được giải phóng. Trung đoàn 101 diệt một số tháp canh ở Hương Trà (Thừa Thiên), san bằng lô cốt Bác Vọng, Giáp Viên, Vân Cự. Bộ đội Thừa Thiên diệt 2 trung đội địch ở Nông và 2 trung đội ở suối Đá Dầm. Đại đội Hương Thủy diệt 1 trung đội trên đường Vân Dương. Tại Quảng Trị, tiểu đoàn tỉnh phá càn Bích La, Đại đội Cam Lộ tập kích quân ứng chiến trên đường Đập Huyện. Tiêu biểu là trận chống càn của dân quân du kích và nhân dân xã Vĩnh Hoàng (huyện Vĩnh Linh). Từ ngày 23 đến ngày 25 tháng 1 năm 1952, địch liên tiếp bị tập kích, phục kích, tiêu hao, buộc chúng phải rút khỏi Vĩnh Hoàng. Kết quả, ta đã đánh bại được trận càn của 3 tiểu đoàn địch, có máy bay pháo binh chi viện, diệt gần 50 tên, phá hủy 2 xe quân sự, bảo vệ được nhân dân và vùng du kích.


Tiếng súng phối hợp với Chiến dịch Hòa Bình rền vang khắp chiến trường Bình - Trị - Thiên. Hơn 1.000 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Hàng loạt lô cốt, tháp canh bị san bằng. Hàng chục hội tê bị phá. Vùng giải phóng Bắc Quảng Bình được mở rộng. Vì thế, từ tháng 1 năm 1952, địch thay đổi thủ đoạn hoạt động, rút các vị trí lẻ và cô lập để tập trung các đơn vị ứng chiến, phối hợp lực lượng chiếm đóng mở các cuộc càn quét trên một diện hẹp và dài ngày, nhằm vào căn cứ du kích và vùng đứng chân của lực lượng chủ lực ta. Để đối phó với thủ đoạn mới của địch, đồng thời tìm ra phương thức tác chiến thích hợp, Đảng ủy Mặt trận đã nghiên cứu kỹ tình hình, cố gắng khai thác những sai lầm của địch; sử dụngsức mạnh tổng hợp lực lượng ba thứ quân, đẩy mạnh hoạt động, tập trung vào đánh phá giao thông, quấy rối đô thị nhằm phân tán lực lượng cơ động của địch; sử dụng 1 trung đoàn chủ lực đanh vào 1 cứ điểm trọng yếu của chúng nhằm tiêu diệt sinh lực địch và tiếp tục phối hợp với chiến trường chính có hiệu quả; tổ chức lại chiến trường, bộ đội địa phương Thừa Thiên tiến công địch tại đô thị và Đường số 1; Trung đoàn 18 và bộ đội địa phươngQuảng Bình đánh giao thông, tập kích thị xã Đồng Hới và hoạt động nghi binh, thu hút quân ứng chiến của địch; Trung đoàn 95 cùng đoàn Quảng Trị và Đại đội Gio Linh đánh ở Nam Đông. Trung đoàn 101 và bộ đội Cam Lộ, Triệu Phong đánh địch ở ngay tại khu vực đứng chân.


Phối hợp với Chiến dịch Hòa Bình và tận dụng thời cơ thuận lại quân và dân Liên khu 4 tiếp tục thế chủ động tiến công tiêu diệt địch,mở rộng vùng giải phóng, củng cố thế đứng chân vững chắc, ngăn không cho địch đưa quân tiếp ứng chi viện cho các chiến trường khác. Tính đến cuối năm 1951, quân và dân Liên khu 4 đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 7.000 quân địch, phá 70 lô cốt và 5 đồn, số vu khí và đạn dược thu được đủ trang bị cho 1 trung đoàn; địch buộc phải rút khỏi 1 vùng rộng lớn thuộc phía Bắc tỉnh Quảng Bình. Đây là một thành tích to lớn của quân và dân Liên khu 4 trong việc thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng làm nhiệm vụ phối hợp thu hút và phân tán lực lượng địch, chia lửa với chiến trường.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM