Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:52:11 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng  (Đọc 45700 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #120 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2025, 09:19:06 pm »

4. Vận dụng bài học kinh nghiệm của quân và dân Liên khu 4 trong Chiến dịch Hòa Bình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực vẫn còn tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp khó lường, các nước lớn tiếp tục điều chỉnh chiến lược, tăng cường cạnh tranh lôi kéo các quốc gia. Khu vực châu Á, trong đó có Đông Nam Á là trọng điểm can dự và cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn. Bên cạnh âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù, nguy cơ đe dọa an ninh phi truyền thống diễn biến phức tạp. Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới có nhiều thay đổi so với trước, các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ với nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt; yêu cầu nhiệm vụ của lực lượng vũ trang Quân khu 4 trong tình hình mới có bước phát triển mới. Bài học kinh nghiệm về xây dựng lực lượng và tổ chức tác chiến trong Chiến dịch Hòa Bình đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Vì thế, vận dụng bài học kinh nghiệm của quân và dân Liên khu 4 trong Chiến dịch Hòa Bình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay cần quán triệt và thực hiện tốt một số nội dung sau:


Mọi cán bộ, đảng viên cần tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; tập trung mọi nguồn lực xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu vững mạnh về mọi mặt; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ vững mạnh rộng khắp; điều chỉnh vị trí đứng chân của các đơn vị, hình thành thế bố trí chiến lược bảo đảm nâng cao khả năng phòng thủ, sức mạnh sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của lực lượng vũ trang Quân khu trong tình hình mới.


Không ngừng nâng cao năng lực dự báo, kịp thời tham mưu cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng những phát triển mới về quốc phòng, quân sự, đối ngoại quốc phòng. Luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao, xử lý đúng đắn các tình huống về quốc phòng, an ninh, có biện pháp ứng phó, ngăn chặn từ xa; đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.


Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Duy trì nghiêm các chế độ sẵn sàng chiến đấu, tăng cường các biện pháp quản lý chặt chẽ biên giới, vùng trời, vùng biển; thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất trong thời kỳ mới. Chủ động và tích cực nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng theo đúng đường lối đối ngoại của Đảng, Nha nước, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác, phát triển với nước bạn Lào.


Vận dụng sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân vào tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ "chiến đấu" trong thời bình, thực sự là lực lượng nòng cốt, chỗ dựa tin cậy, vững chắc cho cấp ủy, chính quyền, nhân dân trong phòng chống thiên tai, dịch bệnh. Cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu 4 thực hiện đồng bộ các biện pháp xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, huấn luyện, nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu; phát huy tốt chức năng đội quân công tác, tích cực tiến hành công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh; góp phần xây dựng 6 tỉnh Bắc Trung Bộ mạnh về chính trị, kinh tế; vững chắc về quốc phòng, an ninh, xứng đáng với truyền thống quê hương Khu 4 anh hùng.


Thắng lợi của quân và dân ta trong Chiến dịch Hòa Bình có giá trị và ý nghĩa lịch sử quan trọng, đánh dấu bước phát triển của nghệ thuật chiến dịch, kế thừa và nâng lên tâm cao mới của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Lực lượng vũ trang Quân khu 4 tiếp tục phát huy phẩm chất, truyền thống vẻ vang 76 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, vận dụng bài học kinh nghiệm lịch sử từ Chiến dịch Hòa Bình vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên địa bàn Quân khu; luôn quán triệt sâu sắc chức năng, nhiệm vụ được giao, tiếp tục đoàn kết, thống nhất, tích cực đổi mới, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, làm nòng cốt cùng cấp ủy, chính quyền và nhân dân trên địa bàn thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #121 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2025, 09:24:31 pm »

HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN Ở LIÊN KHU 5
TRONG ĐÔNG - XUÂN 1951 -1952


Trung tướng THÁI ĐẠI NGỌC
Ủy viên Ban Chấp hànhTrung ương Đảng,
Ủy viên Quân ủy Trung ương,
Tư lệnh Quân khu 5


Sau thất bại tại biên giới Việt - Trung (Thu - Đông 1950), thực dân Pháp phải dựa vào Mỹ để tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Cuối năm 1950, Chính phủ Pháp cử Đờ Lát đờ Tátxinhi (De Lattre de Tassigny) sang làm Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương. Tới Đông Dương, Đờ Lát đưa ra một kế hoạch 4 điểm: 1- Tập trung quân Au - Phi tính nhuệ, xây dựng lực lượng cơ động mạnh, phát triển quân ngụy 2- Xây dựng phòng tuyến boongke, lập "vành đai trắng"; 3- Bình định vùng tạm chiếm; 4. Phá hoại vùng tự do bằng biệt kích thổ phỉ, gián điệp, máy bay oanh tạc, chiến tranh tâm lý, bao vây kinh tế. Thực dân Pháp ráo riết thực hiện "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt"; vừa tập trung đối phó với những đòn tiến công mới của ta, vừa bình định vùng tạm chiếm, gây cho ta không ít khó khăn, tổn thất. Đầu tháng 11 năm 1951, địch huy động 20 tiểu đoàn đánh chiếm Hòa Bình, lập phòng tuyến phòng ngự nhằm cắt đứt hành lang và phá công tác chuẩn bị tiến công của ta, thu hút chủ lực ta để tiêu diệt1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 255).


Đối với ta, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2.1951) nêu phương châm tác chiến là:"Lấy du kích chiến làm chính, vận động chiến làm phụ, nhưng phải đẩy mạnh vận động chiến tiến lên"1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 241, 242, 247,255). Để giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến, Đại hội xác định: "Đảng và Chính phủ ta phải xây dựng một quân đội nhân dân mạnh mẽ, chân chính với ba đặc điểm: Dân tộc, nhân dân và dân chủ"2 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 241, 242, 247, 255). Hội nghị lần thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (3.1951) xác định: "Củng cố và gia cường bộ đội chủ lực, đồng thời củng cố bộ đội địa phương và dân quân du kích"3 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam(1944 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 241, 242, 247,255). Trên chiến trường chính Bắc Bộ, ta tập trung xây dựng 3 đại đoàn bộ binh 312, 320, 316, Đại đoàn Công pháo 351; mở liên tiếp các chiến dịch: Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Lý Thường Kiệt đánh vào phòng tuyến của địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ.


Về cuộc tiến công của địch ở Hòa Bình, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy nhận định: "Cuộc tiến công của địch sẽ gây cho ta những khó khăn nhưng cũng tạo cho ta một cơ hội tốt để tiêu diệt sinh lực của địch"4 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam(1944 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 241, 242, 247,255). Tổng Quân ủy quyết định mở chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952), chiến dịch tiến công ở khu vực thị xã Hòa Bình - sông Đà - Đường số 6 nhằm tiêu diệt sinh lực dịch, đập tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của quân Pháp. Tư lệnh Chiến dịch là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 3 đại đoàn bộ binh (308, 312 và 304), Đại đoàn Công pháo 351 và lực lượng vũ trang địa phương. Tại mặt trận phối hợp, các đại đoàn 316, 320 được lệnh tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm ở đồng bằng Bắc Bộ, cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh địch, hỗ trợ nhân dân nổi dậy, phá tề, trừ gian, mở rộng khu du kích. Sau hơn 2 tháng chiến đấu, ta giải phóng khu vực Hòa Bình - sông Đà, giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4. Góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của Pháp1 (Từ điển Bách khoa quản sự Việt Nam, mục từ "Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2 1952)"). Trong chiến dịch này, lực lượng vũ trang của ta có bước tiến bộ mới về trình độ chiến thuật, kỹ thuật, về khả năng chiến đấu liên tục dài ngày, về sự phối hợp tác chiến giữa ba thứ quân.


Trong Đông - Xuân 1951 - 1952, tại Liên khu 5, hình thái chiến trường có 2 vùng rõ nét: Vùng địch tạm chiếm (Đà Nẵng, Tây Nguyên và cực Nam Trung Bộ), vùng tự do (Nam - Ngãi - Bình - Phú)2 (Gồm các tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên). Thực hiện kế hoạch Đờ Lát đờ Tátxinhi, quân Pháp ra sức củng cố và kiểm soát các thành phố, hải cảng có vị trí chiến lược quan trọng (Đà Nẵng, Nha Trang, Cam Ranh), đẩy mạnh "chiêu an" dồn dân ở vùng tạm chiếm, tập trung củng cố Tây Nguyên. Chúng liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét với quy mô từ 800 đến 1.000 quân, chà đi xát lại nhiều lần ở vùng đồng bằng, vùng giáp ranh và vùng rừng núi. Song song với việc đánh phá phong trao kháng chiến và thành lập hệ thống cứ điểm boongke, quân địch còn đẩy mạnh việc củng cố ngụy quyền, bắt lính và phát triển ngụy quân. Nhiều cơ sở của ta ở Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và Tây Nguyên bị tổn thất nặng.


Với đặc điểm chiến trường xa sự chỉ đạo của Trung ương, luôn bị địch bao vây, quân dân Liên khu 5 luôn nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, khắc phục khó khăn từng bước xây dựng lực lượng nhằm đối phó với địch. Bộ Tư lệnh Liên khu Chỉ đạo tiến hành sắp xếp kiện toàn biên chế tổ chức. Tổng số quân toàn Liên khu giảm nhưng tăng cường lực lượng chiến đấu lên gần 15%. Năm 1951, Liên khu 5 không tuyển tân binh nhưng vẫn thành lập được Tiểu đoàn 30 và bổ sung đầy đủ quân số cho 2 trung đoàn chủ lực 108 và 803. Lực lượng vũ trang địa phương cũng được kiện toàn, chỉ riêng 3 tỉnh Tây Nguyên (Gia Kon1 (Năm 1950, tỉnh Gia Lai và tỉnh Kon Tum hợp nhất thành tỉnh Gia Kon (Gia Công). Năm 1954, tách thành tỉnh Gia Lai và Kon Tum), Đắk Lắk, Lâm Đồng) và 4 tỉnh tạm bị địch chiếm ở đồng bằng (Quảng Nam - Đà Nẵng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận) đã bổ sung đầy đủ quân số cho 26 đội vũ trang tuyên truyền, 29 đại đội độc lập, 6 tiểu đoàn tập trung và 2 đội cảm tử. Các binh chủng tiếp tục được kiện toàn. Tháng 2 năm 1952, Liên khu tiếp thu kỹ thuật đặc công từ Nam Bộ, Trung đoàn 812 tổ chức lớp học đặc công đầu tiên gồm 46 cán bộ và chiến sĩ, sớm vận dụng trong chiến đấu2 (Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng, Tập 1, Kháng chiến chống Pháp, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 xuất bản 1986, tr. 177). Trong tác chiến, lực lượng vũ trang Liên khu 5 mưu trí sáng tạo, dũng cảm kiên cường, phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính Bắc Bộ, tiến hành căng kéo, kiềm chân, tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, lập nên nhiều thắng lợi to lớn, trong Đông - Xuân 1951 - 1952 đã có những hoạt động nổi bật sau:

Một là, đẩy mạnh du kích chiến, chú trọng vận động chiến ở vùng địch tạm chiếm, góp phần tiêu diệt, tiêu hao, kiềm chân quân địch

Đại hội đại biểu Đảng bộ Liên khu 5 lần thứ II (16.7 - 2.8.1951) xác định: Tác chiến phải tuyệt đối phục vụ cho nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ cơ sở, vận động chiến phải tất thắng và tiêu diệt địch, kết hợp nhiệm vụ bồi dưỡng lực lượng với nhiệm vụ phát triển chiến tranh du kích, chú ý công tác địch vận. Thực hiện chủ trương đó, Bộ Tư lệnh Liên khu 5 sử dụng Trung đoàn 108 tiến công tiêu diệt đồn Kon Plong, Kon Tum (6.8.1951). Từ đầu năm 1950, quân Pháp ở đồn Kon Plong đã chỉ huy, tiếp tế cho lực lượng nổi loạn ở Sơn Hà (Quảng Ngãi). Để giữ vững vùng tự do tỉnh Quảng Ngãi, ta phải tiêu diệt đồn Kon Plong. Đây là đồn khá lớn, công sự bằng gỗ đất nhưng dày và chắc. Quân địch tại đây khoảng 200 tên thuộc Tiểu đoàn sơn chiến số 5.


Trận tiến công đồn Kon Plong là trận đánh lớn trong Thụ - Đông 1951 của Liên khu 5, thành công cả về kỹ thuật, chiến thuật. Bộ đội sử dụng xe công đồn bắn chế áp hỏa lực địch, hỗ trợ tích cực cho bộ binh tiến công. Trước sức tiến công dũng mãnh của quân ta, địch ở lô cốt trung tâm phải giơ cờ trắng đầu hàng. Chiến thắng Kon Plong mở ra khả năng tác chiến và huấn luyện chiến thuật công kiên, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực Liên khu 5 đánh điểm diệt viện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn vận động chiến. Sau chiến thắng Kon Plong, đến cuối năm 1951, tình hình ở Sơn Hà cơ bản ổn định.


Phối hợp tác chiến với bộ đội chủ lực Liên khu 5, lực lượng vũ trang tỉnh Gia Kon tiến công vào vùng địch ở xung quanh Kon Plong, Kon Rẫy, Đắk Tô, Đắk Lây, xây dựng cơ sở cách mạng, giải tán ổ vũ trang phản động của địch ở Đắk Krông thu một số súng diệt ác, trừ gian, mở thế kìm kẹp quần chúng, đồng thời tổ chức bao vây uy hiếp, bức rút một số đồn nhỏ của địch. Các đội vũ trang tuyên truyền cũng đẩy mạnh hoạt động ở Đông và Tây Đường số 14, phát động quần chúng vừa đánh địch, vừa giữ vững bàn đạp, kiên quyết đưa vùng này thành khu du kích. Ở phía Bắc (giáp Quảng Nam), ta phát triển cơ sở ở 100 làng, nối liền với vùng căn cứ cách mạng ở Nam Lào.


Công tác xây dựng cơ sở cách mạng cũng đạt được nhiều thành công ở Đắk Lắk và Lâm Đồng. Vượt qua mọi khó khăn, cán bộ, đảng viên và chiến sĩ ta bám chắc vào buôn, rẫy, bắt nối với cơ sở cũ, tìm hiểu xây dựng cơ sở mới, xây dựng du kích, hồi phục các tổ chức cách mạng. Du kích, bộ đội địa phương và nhân dân liên tục phá hoại đường sá, cầu cống, phục kích các đoàn xe vận tải, các toán tiếp tế của địch gây cho chúng nhiều thiệt hại.


Tại Bình Thuận - địa bàn xa sự chỉ đạo và chi viện của Liên khu, các đơn vị vũ trang đều phải hết sức tiết kiệm đạn dược. Ta phát động phong trào chiến tranh du kích. Đến cuối năm 1951, ta củng cố được 700 cơ sở ở nội thị Phan Thiết, trong đó có gần 80 du kích mật. Tại Phú Hải và Phan Thiết, phong trào chống bắt lính, chống làm xâu ngày càng dâng cao, thu được nhiều thắng lợi. Đêm 28 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 86 Trung đoàn 812 Liên khu 5 cùng lực lượng vũ trang thị xã Phan Thiết tập kích vào căn cứ Căng Escpic. Lực lượng địch tại đây có 1 đại đội Âu - Phi, 1 trung đội pháo (2 khẩu 75mm) và hơn 100 học viên đào tạo hạ sĩ quan của Pháp. Ta diệt và làm bị thương hơn 150 quân địch, phá hủy 2 khẩu pháo, 2 xe bọc thép, thu 175 súng các loại. Đây là một trong những trận đánh lớn trên chiến trường Liên khu 5 trong Đông - Xuân 1951 - 1952, chiến lợi phẩm đã bổ sung cho lực lượng vũ trang, góp phần phá vỡ kế hoạch đào tạo bổ sung đội ngũ hạ sĩ quan của Pháp ở cực Nam Trung Bộ1 (Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, mục từ "trận Căng Esepic (28.12.1951)").
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #122 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2025, 09:25:37 pm »

Hai là, đánh bại cuộc hành quân của địch, bảo vệ vững chắc vùng tự do, tăng cường tiềm lực kháng chiến của ta

Tháng 2 năm 1952, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị: "Phải tranh thủ phá kế hoạch càn quét của chúng một cách chủ động", "Chuẩn bị thiết thực để chống càn quét thắng lợi"2 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam (1944- 1975), Sđd, tr. 263). Liên khu ủy 5 xác định: Đoàn kết, tổ chức tranh đấu mọi mặt, không để cho địch củng cốphòng tuyến, mở rộng vùng chúng tạm chiếm để thựchiện chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt". Tích cực xây dựng củng cốcơ sở đảng, các tổ chức quần chúng, tích trữ lực lượng, đợi thời cơ hành động. Giữ vững và phát triển đấu tranh vũ trang nội tuyến và ngoại tuyến1 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Kon Tum, Kon Tum - 30 năm chiến đấu kiên cường bất khuất, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Kon Tum xuất bản, 1993, tr. 55). Như vậy, nhiệm vụ giữ vững vùng tự do không cho địch mở rộng vùng tạm chiếm, tích trữ lực lượng, tăng cường tiềm lực kháng chiến đã được đặt ra.


Đối với thực dân Pháp, phải chống đỡ phong trào chiến tranh du kích, các trận tiến công của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương nhưng chúng vẫn không từ bỏ âm mưu "khoét sâu" vào vùng tự do. Từ tháng 4 đến tháng 5 năm 1952, 3.000 quân địch từ Tây Nguyên thực hiện cuộc hành quân Laterít (Latérite) do Lơcôc chỉ huy xuống miền Tây Quảng Ngãi hòng khôi phục lại lực lượng nổi loạn Sơn Hà ở lưu vực sông Re. Bộ Tư lệnh Liên khu điều Trung đoàn 108 và Trung đoàn 803 cơ động chiến đấu, đánh tan cuộc hành quân của địch, giữ vững địa bàn.


Nhằm tăng cường tiềm lực hậu cần tại chỗ, củng cố thực lực cho cuộc kháng chiến, nhân dân Quảng Nam, Phú Yên... ra sức đào ao, vét giếng chống hạn, khẩn trương gieo giống, tăng vụ. Đồng bào các dân tộc xen canh 2 hoặc 3 loại cây rau màu trong 1 rẫy. Cơ quan, xí nghiệp, các đơn vị bộ đội hăng hái tham gia sản xuất lương thực, thực phẩm. Tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp duy trì mức sản xuất ổn định. Các xưởng quân giới sản xuất một số súng đạn, trang bị phục vụ đánh công kiên. Tiết kiệm lương thực được thực hiện triệt để. Thắng lợi của phong trào thi đua sản xuất, thực hành tiết kiệm đã từng bước khắc phục được những khó khăn do thiên tai, địch họa gây ra, ổn định được đời sống của bộ đội và nhân dân, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến.


Như vậy, phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ trong Chiến dịch Hòa Bình, hoạt động tác chiến ở Liên khu 5 trong Đông - Xuân 1951 - 1952 đã góp phần đánh bại kế hoạch của Đờ Lát. Lực lượng vũ trang Liên khu 5 được kiện toàn, tăng cường lực lượng chiến đấu. Ta đẩy mạnh du kích chiến ở vùng địch tạm chiếm, tăng cường vũ trang tuyên truyền, xây dựng, củng cố và phát triển cơ sở cách mạng ở Đông và Tây Đường số 14, Bắc Kon Tum, nối liền với căn cứ cách mạng Nam Lào, ở nội thị Phan Thiết (Bình Thuận). Đặc biệt, ta tổ chức trận tiến công đồn Kon Plong (Kon Tum) và Căng Esepic (Bình Thuận) thắng lợi lớn, chiến lợi phẩm của 2 trận đánh này đã giải quyết được những nhu cầu bức thiết trong xây dựng và tác chiến của lực lượng vũ trang. Ở vùng tự do, ta sử dụng 2 trung đoàn chủ lực của Liên khu thực hành vận động chiến đánh tan cuộc hành quân của địch, giữ vững vùng tự do Quảng Ngãi. Phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm được tiến hành sâu rộng, đem lại hiệu quả thiết thực, tăng cường thực lực cho cuộc kháng chiến. Hoạt động tác chiến trên chiến trường Liên khu 5 đã góp phần tích cực tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, giữ vững thế trận và quyền chủ động của ta trên chiến trường, "chia lửa" với Chiến dịch Hòa Bình, phá tan kế hoạch Đờ Lát của thực dân Pháp.


Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai (nếu xảy ra), những kinh nghiệm tác chiến ở Liên khu 5 trong Đông-Xuân 1951 -1952có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đối với địa bàn dễ bị chia cắt chiến lược như Quân khu 5 thì việc phát huy cao độ tinh thần tực lực, tự cường, khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, chủ động tiến công địch, đánh địch càn quét, giữ vững căn cứ vừa là truyền thống cách mạng, vừa là kinh nghiệm quý báu. Với thế trận chiến tranh nhân dân đã được chuẩn bị trong khu vực phòng thủ, phòng thủ quân khu, tiến hành căng kéo, tiêu hao sinh lực địch; không ngừng tăng cường tiềm lực quân sự, quốc phòng, nhất là tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, bảo đảm hậu cần tại chỗ; tổ chức các trận đánh, chiến dịch vào các mục tiêu trọng yếu, từng bước đánh bại âm mưu, thủ đoạn của địch, giữ vững thế chủ động trên chiến trường; cùng với cả nước giành thắng lợi cuối cùng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #123 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2025, 08:17:51 pm »

QUÂN VÀ DÂN MIỀN ĐỒNG NAM BỘ
ĐẨY MẠNH TÁC CHIẾN TRONG ĐÔNG - XUÂN 1951 -1952


Thiếu tướng NGUYỄN TRƯỜNG THẮNG
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
Ủy viên Quân ủy Trung ương,
Tư lệnh Quân khu 7


Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952) có ý nghĩa quan trọng về mặt chiến lược, giải phóng khu vực Hòa Bình - sông Đà, giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4, đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của Pháp. Gắn với chiến công này, ngoài sự chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng,Tổng Quân ủy, sự đoàn kết, chiến đấu vô cùng quyết liệt anh dũng và mưu trí của quân dân trên các chiến trường khắp cả nước, miền Đông Nam Bộ cũng có sự phối hợp, "nổ súng chia lửa" góp phần vào thắng lợi trên mặt trận chính diện.


Cuối năm 1951, đầu năm 1952, quân Pháp tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách "bình định". Ở miền Đông Nam Bộ chúng thực hiện bao vây và lấn sâu vào vùng căn cứ của ta, chiếm đóng các khu vực tranh chấp, các vùng du kích, đồng thời tích cực càn quét bình định" để củng cố cơ sở kinh tế, chính trị, quân sự và các đường giao thông quan trọng. Để có đủ quân thực hiện nhiệm vụ trên, trong điều kiện lực lượng cơ động ngày càng bị động, phân tán trên nhiều chiến trường, nhất là chiến trường Hòa Bình - sông Đà, địch ráo riết phát triển ngụy quân, dùng bọn này làm lực lượng chiếm đóng "bình định" thay thế cho quân chính quy tập trung thành các đơn vị ứng chiến cơ động. Chúng thành lập Sư đoàn ứng chiến cơ động ngụy số 6, gồm 6 tiểu đoàn đóng trên các địa bàn miền Đông Nam Bộ.


Tại các thành phố, thị xã, địch thành lập các đội cảnh sát đô thị và đội biệt kích CDS (City Development Strategy). Trong phạm vi Phân liên khu miền Đông, chúng lập 104 đội CDS và 22 đội bổ sung. Đối với các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, chúng xúc tiến mạnh việc thân binh hóa giáo phái. Địch xây dựng 1 tiểu đoàn dân sự và 17 đại đội Cao Đài (chưa bao gồm hơn 1.000 tên Cao Đài liên minh của Trịnh Minh Thế), bố trí tại khu vực Tòa thánh Tây Ninh và khắp các tỉnh Bà Chợ1 (Được thành lập từ giữa năm 1951, bao gồm tỉnh Bà Rịa và Chợ Lớn), Thủ Biên2 (Được thành lập từ giữa năm 1951, bao gồm tỉnh Thủ Dầu Một và tỉnh Biên Hòa), Mỹ Tho, Long Châu Sa3 (Được thành lập từ giữa năm 1951, bao gồm tỉnh Long Xuyên, Châu Đôc và Sa Đéc). Lực lượng vũ trang Hòa Hảo của Năm Lửa, Nguyễn Giác Ngộ, Hai Ngoan, Ba Cụt cộng lại khoảng 10.000 tên được bọn chỉ huy người Pháp bố trí đánh phá Đồng Tháp Mười và các tỉnh đồng bằng sông Cưu Long. Ở miền Đông Nam Bộ, lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn gồm 12 đại đội cũng được thực dân Pháp sáp nhập vào "quân đội quốc gia" ngụy, chuẩn bị tiến tới thành lập trung đoàn. Thực dân Pháp cũng ưu tiên bố trí lực lượng cơ động Pháp cũng như ngụy ở miền Đông. Trong tổng số 25 tiểu đoàn ở Nam Bộ 17 tiểu đoàn được bố trí ở miền Đông, hầu hết là línhÂu - Phi.


Trên cơ sở đánh giá âm mưu và hành động của địch, Bộ Tư lệnh Nam Bộ ra chỉ thị: "Cuộc kháng chiến của ta còn trường kỳ và gian khổ. Trên chiến trường toàn quốc hiện nay, ta đang trong thời kỳ hoàn thành nhiệm vụ tích cực cầm cự chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công. Riêng ở Nam Bộ, thế giằng co của ta còn thấp kém, ta bị động nhiều vì du kích chiến tranh của ta chậm phát triển và lực lượng của ta còn kém hơn địch. Do đó, phương châm chiến lược của ta ở Nam Bộ vẫn du kích chiến là chính, học tập đánh vận động chiến trong trường hợp có điều kiện thuận lợi và phải tiêu hao và tiêu diệt sinh lực địch"1 (Nghị quyết quân sự 1952, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, hồ sơ 46, phông Nam Bộ, tr. 2).


Thực hiện chủ trương trên, Bộ Tư lệnh Nam Bộ đề ra các nhiệm vụ cụ thể:

1-Chống địch chiếm đóng sâu vào vùng tự do và đánh phá căn cứ.

2-Giữ vững và giành giật sức người, sức của với địch, đặc biệt ở vùng du kích, bồi dưỡng sức chiến đấu của ta, làm giảm sức chiến đấu của địch.

3-Tiêu diệt sinh lực địch, phát triển lực lượng ta, bảo vệ kinh tế, chú trọng nhiệm vụ sản xuất tự túc, chống bao vây kinh tế của giặc.

4.Tránh thế bị cắt đứt giữa miền Tây và miền Đông, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất và vận chuyển liên lạc thông suốt.

Thực hiện chủ trương, nhiệm vụ do Bộ Tư lệnh Nam Bộ đề ra, các địa phương miền Đông Nam Bộ tăng cường phát triển lực lượng, đẩy mạnh tác chiến, tiêu diệt địch, vừa bảo vệ vùng căn cứ vừa căng kéo địch, phối hợp với Chiến dịch Hòa Bình.


Ở tỉnh Gia Ninh2 (Được thành lập từ giữa năm 1951, bao gồm tỉnh Gia Định và tỉnh Tây Ninh), Tiểu đoàn tập trung 306, các đại đội độc lập huyện cùng du kích địa phương hướng trọng tâm hoạt động vào chống địch càn quét lấn chiếm "bình định". Tại Bời Lời, Trảng Bàng, ta chặn đánh nhiều cuộc càn quét của địch, gây cho chúngnhững thiệt hại đáng kể. Tại vùng căn cứ, phần đất phía Bắc tỉnh Tây Ninh cũ được xây dựng thành huyện căn cứ Dương Minh Châu, trở thành nơi đứng chân của Bộ Tư lệnh Phân liên khu miền Đông, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ và Tiểu đoàn 302.


Cuối năm 1951, các đơn vị bảo vệ căn cứ và nhân dân tại đây đã đánh tan cuộc càn gồm 20 tiểu đoàn bộ binh có cơ giới và máy bay yểm trợ của địch vào căn cứ Đồng Rùm, diệt gần 2 đại đội địch, bắn rơi 2 máy bay tại Đồng Sầm và Trâm Sụ. Tỉnh ủy Gia Ninh chuyển một số bộ phận cơ quan trọng yếu sang bên kia sông Sài Gòn thuộc địa phận Bến Cát (tỉnh Thủ Biên) tránh tập trung cao ở căn cứ, xây dựng hệ thống phòng thủ nhiều tầng, nhiều vùng, bảo vệ căn cứ từ xa. Nhân dân đào hầm hào, gài mìn, lựu đạn và lập hệ thống nắm địch, báo động từ ngoài căn cứ. Công nhân các sở cao su tiến hành bãi công, ngấm ngầm phá hoại kinh tế địch và hoạt động diệt bọn cai xu ác ôn, thám báo tề điệp tại sở. Đồng bào các vùng tạm chiếm tiếp tục đấu tranh chống thuế, chống bắt lính.


Đặc điểm nổi bật ở Gia Ninh là công tác Cao Đài vận phát triển mạnh. Các đơn vị vũ trang, các huyện tổ chức học tập chính sách Cao Đài vận trong cán bộ, chiến sĩ, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và nhân dân, phát động toàn dân vận động lính Cao Đài, giáo dục đồng bào tín đồ bỏ khu vực xung quanh đồn bốt về làng cũ kêu gọi thanh niên Cao Đài tòng quân tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp. Kết quả, phong trào này đã làm hạn chế hoạt động của quân đội Cao Đài và những khó khăn do số tín đồ Cao Đài bị địch lợi dụng gây ra. Nhiều binh sĩ Cao Đài bỏ ngũ về nhà làm ăn. Một số lính còn ở tháp canh, đồn bốt làm nội ứng hỗ trợ cho lực lượng vũ trang ta đánh lấy bốt, diệt tháp canh.


Mặt khác, ta kiên quyết đối phó với bọn ngoan cố Cao Đài liên minh do Trịnh Minh Thế cầm đầu. Bọn này thân Mỹ, thường đóng sâu vào những vùng căn cứ của ta để làm áp lực với Pháp và đánh phá ta từ bên trong. Từ Tây Ninh, giả danh chống Pháp, chúng lấn sâu vào các vùng giải phóng, đóng một số bốt sâu vào rừng, như Bác Rù, Xóm Mía, Trà Xiêm, Rừng Nhum... thuộc huyện Châu Thành. Hằng ngày, chúng tung quân đi ruồng bố cướp giật của cải của nhân dân và chặn bắt cán bộ, du kích, gây tình hình hết sức căng thẳng, làm cho ta gặp rất nhiều khó khăn trong thực hiện chính sách "Cao Đài vận". Do đó, chúng ta dùng Tiểu đoàn 302, Tiểu đoàn 306 và Đại đội bộ đội địa phương huyện Châu Thành tập trang đánh nhiều trận, gỡ hết các bốt, giải phóng các vùng bị chúng lấn chiếm.


Tại các đô thị lớn như Sài Gòn, Vũng Tàu, cùng với phong trào phá hoại kinh tế, các đội biệt động tiếp tục tổ chức các trận đánh nhỏ lẻ phối hợp với các đơn vị vũ trang đánh "thọc sâu, rút nhanh" nhằm phá các cơ sở kinh tế và tiêu hao sinh lực địch. Các chiến sĩ biệt động dũng cảm táo bạo, được nhân dân gọi là quyết tử quân. Ban ngày họ cải trang thành lính Cao Đài, diệt tên Tây lai Phòng nhì Phơrăngxoa (François) - một tên ác ôn đã giết hại nhiều cán bộ của ta và nhân dân. Tập kích Bốt AK Chợ Lớn giữa ban ngày, trừng trị tên Móc - một tên phản bội chỉ điểm lợi hại của giặc...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #124 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2025, 08:18:58 pm »

Đêm 21, rạng ngày 22 tháng 12 năm 1951, Đội Biệt động thị xã Vũng Tàu tiến công khu nhà nghỉ mát của sĩ quan Pháp ở trung tâm thị xã. Nhờ có cơ sở mật bên trong của ta cung cấp tình hình đội đã đột nhập an toàn vào khu nhà giữa lúc địch đang tập trung ăn bữa tôi. Trận đánh diễn ra chỉ trong 8 phút, ta tiêu diệt 52 sĩ quan Pháp, trong đỏ có tên thiếu tướng.


Tại Thủ Biên, trong tháng 11 và tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 303 liên tục đánh địch tại địa bàn các huyện Châu Thành, Lái Thiêu, Vĩnh Cửu, diệt các bốt: Nhà Thờ, Vĩnh Ký, Bọng Dầu, Trà Vinh và Máy Nước, tiêu hao nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch. Các đơn vị vũ trang huyện Hớn Quản phối hợp với bộ đội tỉnh phục kích đánh địch trên Đường số 3, Đường số 14.Tính riêng từ tháng 5 đến tháng 12 năm 1951, lực lượng vũ trang Hớn Quản đã đánh 25 trận (trong đó có 8 trận đánh tháp canh, 10 trận đánh giao thông, 4 trận chống càn), phá tháp canh Xa Cát, Tham Rót, cầu Tân Định.


Ở Bến Cát, du kích các xã Thanh Tuyền, Thanh An, Phú An, An Điền, An Tây... phối hợp với đại đội độc lập huyện (Đại đội Lê Hồng Phong) và Tiểu đoàn 303 đánh quân địch đi sửa đường, diệt các tháp canh trên Đường số 7, Đường liên tỉnh số 14, đường sắt Sài Gòn - Lộc Ninh và phục kích bắn chìm 2 tàu địch, bắn bị thương 7 tàu khác trên sông Sài Gòn đoạn lên Dầu Tiếng. Ở Lái Thiêu, lực lượng vũ trang huyện kiên trì bám đất, bám dân tổ chức các trận đánh nhỏ lẻ, ngăn chặn, tiêu hao quân địch, phối hợp với đại đội độc lập huyện (Đại đội Nguyễn An Ninh) và bộ đội tỉnh chiến đấu đánh địch càn quét, bảo vệ Chiến khu Thuận An Hòa. Trong 3 tháng cuối năm 1951, lực lượng vũ trang huyện đã đánh 34 trận lớn nhỏ, gây cho địch nhiều thiệt hại. Du kích các xã Thuận Giao, Bình Nhâm, Hưng Định... hỗ trợ nhân dân trong căn cứ đào hầm hào, xây dựng trạm giao liên, đưa đón cán bộ từ Sài Gòn, Thủ Dầu Một vào rừng Cò My, Chiến khu Thuận An Hòa và ngược lại.


Đầu năm 1952, địch liên tục tổ chức các cuộc càn quy mô lớn vào các căn cứ của ta với quy mô từ tiểu đoàn trở lên. Chúng tổ chức các cuộc càn lớn vào Chiến khu Đồng Tháp Mười, Chiến khu Đ, Chiến khu Dương Minh Châu. Thượng tuần tháng 2, địch tập trung quân ở Suối Đá, Dầu Tiếng chuẩn bị mở cuộc hành quân "Nhà lá" càn quét vào Chiến khu Dương Minh Châu. Tiểu đoàn 304 phối hợp với Đội biệt động Dầu Tiếng đã bất ngờ tập kích vào khu vực Sở Chỉ huy, diệt tại chỗ tên quan năm Tham mưu trưởng hành quân cùng với một số sĩ quan khác, bẻ gãy cuộc hành quân ngay tại căn cứ xuất phát của địch.


Tại Chiến khu Đồng Tháp Mười, từ tháng 2 đến tháng 6 năm 1952, chúng liên tiếp thực hiện các cuộc hành quân "Gió lốc" 1, 2, 3, 4, trong đó có 3 cuộc càn lớn có lực lượng tham gia từ 1 đén 3 tiểu đoàn. Tại Chiến khu Đ, chỉ tính riêng Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 43 bộ binh thuộc địa Pháp đã tổ chức 6 cuộc càn cấp tiểu đoàn, không kể các cuộc đột kích và càn quét nhỏ vào các căn cứ nhỏ, các làng du kích của ta trên khắp chiến trường miền Đông. Quân và dân ta ở các vùng căn cứ liên tục phải đối phó với các cuộc càn, chặn đánh, tiêu hao sinh lực địch bảo vệ an toàn căn cứ.


Vừa chống càn, phá vây, giữ vững căn cứ, các lực lượng vũ trang vừa tỏa ra các địa bàn chủ động tìm đánh địch, vừa đánh vừa rút kinh nghiệm, xây dựng phát triển lực lượng, từng bước đưa trình độ tác chiến của các đơn vị bộ đội theo kịp diễn biến cuộc kháng chiến. Tiểu đoàn 303 để lại 2 đại đội bảo vệ Chiến khu Đ, 2 đại đội khác về hoạt động ở vùng Châu Thành, Lái Thiêu, Bến Cát... Tiểu đoàn 302 để lại 1 đại đội bảo vệ căn cứ Xuyên Phước Cơ, 1 đại đội khác về hoạt động ở Long Thành. Các tiểu đoàn khác đều phân tán lực lượng ra hoạt động khắp các vùng tự do và vùng du kích.


Trong khi đó, du kích các xã vùng căn cứ địa và vùng du kích vừa phối hợp tác chiến với bộ đội, vừa độc lập tác chiến đánh nhỏ lẻ tiêu hao địch, dùng mìn, lựu đạn gài bao vây các bốt, các ngả đường giao thông, phá đường sá, cầu cống, hạn chế địch đi lại, càn quét, bắt lính, gom dân. Tiêu biểu nhất là phong trào du kích ở các huyện Bến Cát, Đồng Nai, Lái Thiêu. Các đội vũ trang tuyên truyền, biệt động bám dân, bám địa bàn xây dựng cơ sở đánh địch có kết quả ở vùng cao su Dầu Tiếng, Hớn Quản, Phú Riềng, thị xã Thủ Dầu Một, thị trấn Lái Thiêu, Định Thành, Bến Súc, Phước Hòa, Tân Ba.


Năm 1952, một trận đánh lớn của ta đã nổ ra tại chi khu Cần Giờ. Chi khu này do 2 đại đội quân Cao Đài đóng giữ dưới quyền chỉ huy của tên quan hai kiêm Chi khu trường người Pháp. Đây là một căn cứ quan trọng chốt chặn đầu cầu từ Biển Động vào Sài Gòn, nằm trong hệ thống phòng thủ đường vận chuyển quốc tế, đồng thời làm bàn đạp đánh phá kìm kẹp nhân dân vùng Nam Rừng Sác. Lực lượng tiến công của ta gồm 1 đại đội của Tiểu đoàn 300 do đồng chí Nguyễn Văn Bứa chỉ huy và 1 đại đội địa phương liên huyện do đồng chí Trần Minh Tâm chỉ huy. Đêm 29 tháng 1 năm 1952 (tức mùng 3 Tết Nhâm Thìn), quân ta ở Long Thạnh và Đông Hòa được nhân dân địa phương giúp đỡ phương tiện đã bất ngờ đột kích từ phía biển lên. Có cơ sở nội tuyến trong chi khu, theo kế hoạch mở sẵn cổng đồn cho quân ta xông vào nổ súng diệt gọn 2 đại đội địch, làm chủ khu vực chi khu đến sáng. Địch huy động 30 tàu chiến lớn nhỏ đến ứng cứu, chặn hết các ngả sông rạch. Một bộ phận quân ta phải trụ lại trong khu vực Mũi Bần. Sau 10 ngày, nhờ sự giúp đỡ của nhân dân địa phương về phương tiện đi lại và chỉ đường, bộ phận này thoát được vòng vây địch về căn cứ an toàn.


Thắng lợi của trận Cần Giờ không chỉ có ý nghĩa về mặt quân sự mà còn tạo sự tin tưởng, phấn khởi trong nhân dân, mở ra khí thế mới trong phong trào kháng chiến ở vùng liên huyện. Các đơn vị tham gia chiến đấu được Bộ Tư lệnh Phân liên khu miền Đông gửi điện khen.


Đã 70 năm trôi qua kể từ ngày Chiến dịch Hòa Bình giành thắng lợi (25.2.1952) nhưng ý nghĩa to lớn mang tầm chiến lược của chiến thắng này trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến nay vẫn giữ nguyên giá trị. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình cho thấy bước tiến mới về trình độ chiến thuật, kỹ thuật, về khả năng chiến đấu liên tục dài ngày của Quân đội ta, đồng thời cho thấy tài thao lược của Đảng ta, trực tiếp là Tổng Quân ủy trong lãnh đạo, chỉ đạo chiến dịch. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đã tạo ra cơ hội cho các chiến trường khác, trong đó có chiến trường Đông Nam Bộ đẩy mạnh chiến tranh du kích, liên tục tiến công, tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng căn cứ, làm cho cục diện chiến trường thay đổi ngày càng có lợi cho cách mạng.


Ngày nay, đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới và đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện trên mọi lĩnh vực. Tuy nhiên, tình hình thế giới diễn biến hết sức phức tạp. Trong xu thế toàn cầu hóa, chúng ta đối diện với sự cạnh tranh gay gắt về kinh tế và những nguy cơ và thách thức đối với quốc phòng, an ninh. Quân khu 7 là địa bàn chiến lược, trọng điểm, có biên giới, biển đảo, đô thị, đồng bằng, rừng núi; là nơi phát triển năng động về mọi mặt. Tuy nhiên, đây cũng là địa bàn các thế lực thù địch tập trung chống phá quyết liệt nhằm thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ. Trong những năm qua, triển khai thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng theo đường lối đổi mới của Đảng, của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 tập trung xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh về chính trị, nỗ lực vươn lên, lập thêm nhiều thành tích mới, tập trung xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.


Trong bối cảnh đó, những bài học kinh nghiệm trong lịch sử chống ngoại xâm nói chung, bài học về sự phối hợp giữa các chiến trường trong chiến tranh giải phóng, sự phối hợp đẩy mạnh tác chiến trong Đông - Xuân 1951 - 1952 của quân dân miền Đông Nam Bộ đối với Chiến dịch Hòa Bình, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc vẫn còn nguyên giá trị cả lý thuyết và thực tiễn, cân được nghiên cứu, vận dụng trong điều kiện mới, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #125 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2025, 08:20:41 pm »

CHIẾN TRƯỜNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
TRƯỚC VÀ TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH


Trung tướng NGUYỄNXUÂN ĐẠT
Tư lệnh Quân khu 9


Sau Chiến dịch Biên Giới Thu - Đông 1950, cục diện chiến tranh ở Việt Nam và trên toàn Đông Dương đã có những thay đổi lớn, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta chuyển sang bước ngoặt quan trọng. Khả năng thất bại của quân Pháp ngày càng rõ, chi phí cho chiến tranh Đông Dương ngày càng nặng, đã vượt qua những chi phí kiến thiết mà nước Pháp đang càn. Tới năm 1951, chi phí cho chiến tranh Đông Dương đã lên tới 308 tỷ phơrăng (Franc), gấp 2,5 lần chi phí cho tái thiết đất nước Pháp sau Thế chiến thứ hai. Thực dân Pháp thấy rõ không thể một mình theo đuổi cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Pháp buộc phải dựa vào đế quốc Mỹ để tiếp tục chiến tranh xâm lược. Ngày 23 tháng 12 năm 1950, Mỹ ký hiệp định chính thức về viện trợ quân sự cho Pháp và bọn bù nhìn. Được Mỹ tiếp sức, Pháp chủ trương quyết giữ Đông Dương, tập trung lực lượng phòng ngự và bình định đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời tăng cường lực lượng, chuẩn bị phản công giành lại quyền chủ động chiến lược đã mất trên chiến trường chính Bắc Bộ. Chính phủ Pháp cử tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi (De Lattre de Tassigny) sang làm Cao ủy kiêm Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Vừa nhận chức, Đờ Lát đã gửi tờ trình đặc biệt xin viện binh, lý do là với thực lựchiện có không đủ sức chống cự lại đối phương. Chính phủ Pháp cho lấy ở Bắc Phi 11 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn kỵ binh thiết giáp, 4 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn công binh và 1 tiểu đoàn truyền tin.


Tới Đông Dương, Đờ Lát đã ngăn chặn quân Pháp rút quân một cách rối loạn khỏi hành lang Đông Bắc và đưa ra một kế hoạch gồm các điểm: Gấp rút tập trung nỗ lực của đạo quân viễn chinh Pháp (quân Âu - Phi) vào Bắc Bộ xây dựng một lực lượng cơ động chiến lược mạnh, ra sức phát triển ngụy quân; thiết lập một phòng tuyến chạy bao quanh vùng châu thổ để ngăn cách đồng bằng, trung du với miền rừng núi Bắc Việt Nam; tiến hành chiến tranh tổng lực, bình định cho được các vùng tạm chiếm; đánh phá ác liệt căn cứ, hậu phương và chuẩn bị tiến công ra vùng tự do của ta hòng gây thanh thế và lấy lại tinh thần binh lính, làm cơ sở xin Mỹ tăng viện trợ với ý đồ giành lại quyền chủ động.


Thực hiện kế hoạch trên, địch ráo riết bắt lính, tập trung quân cơ động, xúc tiến xây phòng tuyến boongke ở Bắc Bộ, lập vành đai trắng, đẩy mạnh bình định khắp chiến trường Bắc Bộ. Thủ đoạn bình định chủ yếu của thực dân Pháp là càn quét, càn quét lớn kết hợp với càn quét vừa và nhỏ, càn quét ngắn ngày kết hợp với càn quét dài ngày. Bao vây, chia cắt kết hợp với càn đi, càn lại nhiều lần để tiêu diệt lực lượng quân sự, đánh phá cơ sở, giành dân và cướp đoạt của cải, phá hoại kinh tế của ta. Với những thủ đoạn vô cùng ác liệt, kế hoạch của Đờ Lát đã gây cho ta rất nhiều khó khăn mới.


Đối với miền Nam Việt Nam, tướng Săngxông (Chanson) sau khi thay thế Đờ Latua (De Latour) tiếp tục công cuộc bình định. Mặc dù bị rút bớt 7 tiểu đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn pháo binh để tăng cường lực lượng yểm trợ cho chiến trường Bắc Bộ nhưng chúng vẫn tiếp tục đẩy mạnh các cuộc hành quân bình định, đế tăng quân số, Bảo Đại ra sắc lệnh tổng động viên nâng quân ngụylên 110.000 tên, thành lập được 68 tiểu đoàn các loại. Săngxông chủ trương đóng thêm đồn bốt và tháp canh, chia cắt chiến trường. Chúng lấn chiếm, củng cố và khống chế được những vùng đông dân có nhiều tín đồ đạo giáo, đồng thời lập những đơn vị cơ động ứng chiến để tăng cường các cuộc càn quét. Chúng thành lập 2 tiểu đoàn cơ động: Tiểu đoàn 1 BMEO phụ trách các tỉnh sông Tiền và Tiểu đoàn 2 BMEO phụ trách các tỉnh sông Hậu. Thực hiện bình định lấn chiếm tỉnh Bến Tre, phần lớn các tỉnh Vĩnh Long - Trà Vinh xong, địch mở rộng càn quét, đánh phá 2 tỉnh Cần Thơ và Rạch Giá. Địch huy động 15 tiểu đoàn càn quét 6 xã thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ và 3 huyện Long Mỹ và Giồng Riềng, Châu Thành của tỉnh Rạch Giá. Ở Hà Tiên và Rạch Giá, địch đóng lại đồn bốt ở Giồng Riềng, Tri Tôn và Sóc Xoài.


Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Nam Bộ đề ra chủ trương lãnh đạo: Chủ động kiềm chế địch trên chiến trường Nam Bộ và tiến lên kịp với phong trào toàn quốc. Muốn chủ động kiềm chế địch phải giành giật Khu 8, tiến công kiềm chế ở Khu 7, giữ vững Khu 9, giúp phong trào cách mạng ở Campuchia phát triển và phối hợp chặt chẽ với Tây Nguyên và cực Nam Trung Bộ. Nắm vững phương châm chiến lược du kích là chính, học tập đánh vận động chiến, đẩy mạnh vận động chiến tiến tới. Tình hình chiến sự thời gian này diễn ra gay gắt, địch ra sức càn quét lấn chiếm, ta quyết phá, bẻ gãy các cuộc tiến công của địch, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích, tổ chức tập kích, phục kích, giáng cho địch những đòn đích đáng, gây nhiều tổn thất cho địch. Theo chỉ thị của Bộ Tư lệnh Nam Bộ về mở chiến dịch "phá ngụy", trọng điểm của chiến dịch là Long Châu Hà (Khu 9) và Long Châu Sa (Khu Cool. Các tỉnh khác phối hợp bằng cách kiềm chân địch tại chỗ và tăng cường hoạt động vào vùng có đông dân cư...


Thực hiện chủ trương đó, để khắc phục khó khăn, vươn lên giành thế chủ động, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 mở Chiến dịch Long Châu Hà II; trọng điểm của chiến dịch là 2 huyện Châu Thành (Long Xuyên) và Châu Phú A. Trước khi mở chiến dịch, ta nghi binh đánh Rạch Giá, buộc địch huy động 250 lính Pháp và Bắc Phi cùng một số sĩ quan ngụy ở Cần Thơ, Long Xuyên đến tăng cường cho Rạch Giá. Tại Cần Thơ, ta tổ chức phá hoại trong thị xã và thị trấn Ô Môn, phá cầu Trà Nóc, cầu Bò Ót và vũ trang tuyên truyền trong vùng Thốt Nốt. Tại thị xã Châu Đốc, ta tổ chức quấy rối địch. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm có: Trung đoàn Tây Đô (3 tiểu đoàn 402, 404, 406), 2 đại đội địa phương tỉnh Long Châu Hà, đội biệt động của Ban Hòa Hảo vận 304, các trung đội du kích tập trung của các huyện Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Phú A, 2 đơn vị công binh trợ chiến và các tổ chức làm công tác dân vận ở các nơi ta mở chiến dịch. Sau 3 đợt thực hành chiến dịch, ta diệt 300 tên, bắt nhiều tên khác, phá hủy 4 lô cốt và nhiều tháp canh, thu 21 súng, trong đó có 2 khẩu đại liên, về mặt chính trị, ta đã tiến sâu vào vùng sau lưng địch, tuyên truyền, giải thích cho đồng bào theo đạo Hòa Hảo thấy được âm mưu thâm độc của thực dân Pháp và tay sai, hiểu rõ tính chất của cuộc kháng chiến, chính sách của Mặt trận Việt Minh, của Chính phủ kháng chiến và đã gây dựng được một số cơ sở. Phối hợp với chiến dịch của Quân khu 9 Quân khu 8 mở chiến dịch "phá ngụy" ở huyện Phú Châu, tỉnh Long Châu Sa ngày 16 tháng 3 năm 1951. Sau 7 ngày đêm hoạt động liên tục, quân dân tại đây đã tiêu diệt 150 tên, bắt 16 tên (có 4 lính lê dương), bắn hỏng 2 tàu, thu 5 trung liên, 2 súng cối 60mm và nhiều súng trường... Chiến dịch phối hợp này tuy chưa đạt hiệu suât cao về mặt quân sự, nhưng về chính trị ta đã giành thắng lợi quan trọng, mở được "đột phá khẩu" vào vùng Hòa Hảo, nơi quân Pháp và bọn phản động tay sai đã kiểm soát, khống chế lâu năm, cũng là nơi ta đã tốn nhiều xương máu mà chưa vào được. Kết quả thực hiện 2 chiến dịch kế tiếp nhau của 2 quân khu đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào giết giặc lập công của quân và dân đồng bằng sông Cửu Long.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #126 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2025, 08:22:27 pm »

Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2.1951), Thường vụ Xứ ủy Nam Bộ họp Hội nghị mở rộng nhằm triển khai những chủ trương, đường lối của Đảng đối với Nam Bộ và định hướng về các lĩnh vực của công cuộc kháng chiến ở Nam Bộ: Phát triển du kích chiến tranh; tăng cường mạnh mẽ bộ đội địa phương; xây dựng chủ lực mạnh về tác chiến, xây dựng Đảng. Phát triển chính quyền dân chủ nhân dân, phá chính quyền địch; chính sách ruộng đất; tăng gia sản xuất tự cung tự cấp; công tác tài chính, tiên tệ; về bao vây,phá hoại kinh tế địch; tăng cường công tác địch ngụy vận; xây dựng, củng cố căn cứ địa về mọi mặt cả quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa...; xác định biện pháp tranh thủ tối đa sự chi viện của Trung ương, nhất là về quân sự (củng cố và mở thêm những đường giao thông vận tải, cả đường thủy lẫn đường bộ từ nước ngoài và từ Trung ương về Nam Bộ...


Tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương (khoá II) đã quyết nghị thành lập Trung ương Cục miền Nam thay cho Xứ ủy Nam Bộ. Cơ cấu nhân sự và phạm vi công tác của Trung ương Cục được xác định: Gồm các ủy viên Trung ương ở Nam Bộ, đồng chí Lê Duẩn làm Bí thư. Nhiệm vụ và phạm vi phụ trách của Trung ương Cục được quy định rõ: Căn cứ các nghị quyết của Trung ương và Bộ Chính trị đề chỉ đạo công tác cho Nam Bộ và bộ phận Đảng Lao động Việt Nam ở Cao Miên (Campuchia). Ủy ban kháng chiến Nam Bộ tiếp tục đứng chân lâu dài trên địa bàn trung tâm căn cứ địa vùng đồng bằng sông Cửu Long ờ Đông Tháp Mười và vùng u Minh.


Lúc này, thực dân Pháp tăng cường bình định Nam Bộ, đánh phá phong trào kháng chiến trên các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa... Trung ương Cục đề ra nhiệm vụ: "Giành lại thế chủ động chiến trường, phát triển sâu rộng du kích chiến tranh trên chiến trường Nam Bộ"; chỉ đạo sáp nhập 17 tỉnh, thành của Nam Bộ thành 11 tỉnh và đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn; giải thể Khu 7,Khu 8, Khu 9, phân chia Nam Bộ thành 2 phân liên khu là Phân liên khu miền Đông và Phân liên khu miền Tây, tiến hành củng cố lại bộ máy chính quyền, đoàn thể; kiện toàn tổ chức đảng; chuyển đổi công tác đảng trong Quân đội. Cơ cấu lại hệ thống tổ chức đảng ở Nam Bộ, từ 4 khu thành 2 phân liên khu bộ, mỗi phân liên khu bộ có 1 phân liên khu ủy lãnh đạo. Thực hiện các nhiệm vụ quân sự, phát triển thế chủ động chiến lược để giữ vững chiến tranh du kích, ứng phó với những biện pháp quân sự mới của đối phương, về tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang: Lập Ban Căn cứ địa Nam Bộ; thành lập Bộ Tư lệnh các phân liên khu; tổ chức hội nghị bí thư chi bộ đại đội toàn Nam Bộ, quán triệt nhiệm vụ đẩy mạnh chiến tranh du kích chống địch càn quét, lấn chiếm, chú trọng xây dựng đơn vị cơ sở đại đội; quán triệt quan điểm chiến trường Nam Bộ là chiến trường du kích; đẩy mạnh công tác địch vận.


Để thực hiện chủ trương tiến sâu vào sau lưng địch, tước vũ khí các sóc được địch vũ trang, phá hệ thống chiếm đóng của địch mở rộng địa bàn giải phóng, giành lại đồng bào Khơme đang bị kìm kẹp; củng cố và phát triển cơ sở cách mạng của ta trong vùng địch kiểm soát. Tháng 5 năm 1951, Quân khu 9 mở Chiến dịch Sóc Trăng II. Địa bàn chiến dịch là các huyện Thạnh Trị, Vĩnh Châu, Long Phú, Châu Thành thuộc tỉnh Sóc Trăng; trọng điểm là huyện Thạnh Trị. Lực lượng tham gia chiến dịch có Trung đoàn Tây Đô phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích tại chỗ. Đồng chí Nguyễn Chánh - quyền Tư lệnh Quân khu làm Chỉ huy trưởng Chiến dịch. Ngày 13 tháng 5 năm 1951, trận đánh đầu tiên mở đầu chiến dịch do Tiểu đoàn 408 (từ Tiểu đoàn 402 đổi phiên hiệu) tiến công đồn Xã Sang (xã Tuân Tức). Qua 1 ngày chiến đấu ác liệt, giằng co, ta chỉ đánh thiệt hại nặng bốt chính, diệt 4 lô cốt và tiêu hao một bộ phận quân địch từ Sóc Trăng đến tiếp viện. Ngày 15 tháng 5 năm 1951, Tiểu đoàn 410 (từ Tiểu đoàn 404) đánh đồn Xẻo Me (Vĩnh Châu). Sau 3 giờ chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, ta tiêu diệt đồn chính và 4 lô cốt. Sau đó, Tiểu đoàn triển khai đánh quân tăng viện của địch từ thị xã Bạc Liêu đến. Địch bắn pháo và thả bom napan vào trận địa ta. Bộ đội kiên trì bám trụ trận địa chờ quân địch đến gần mới nổ súng. Kết quả: Ta diệt 2 trung đội, số còn lại bỏ chạy, phá hủy 7 xe. Trận này tuy giành thắng lợi nhưng Tiểu đoàn cũng bị thương vong nhiều vì phi pháo và bom của địch. Đến 15 giờ cùng ngày, Tiểu đoàn 2 BMEO của địch từ Cần Thơ đến cứu viện, Tiểu đoàn 410 tiếp tục chiến đấu. Địch cho máy bay thả bom, bắn pháo yểm trợ cuộc hành quân. Tiểu đoàn chiến đấu dũng cảm, diệt trên 50 tên, buộc chúng phải rút lui trước lúc trời tối. Tuy nhiên, vừa phải tiến công đồn địch và 2 lần liên tiếp đánh địch tăng viện, Tiểu đoàn bị thiệt hại nặng, trên 30 đồng chí hy sinh và bị thương.


Cùng thời gian này, ở phía mặt trận thứ yếu của chiến dịch cũng đã chiến đấu đánh nhiều trận đạt hiệu suất cao, diệt nhiều địch phá lộ, cắt đứt giao thông. Đặc biệt trong chống cuộc càn quét của tiểu đoàn thân binh ngụy (BVN) ở Phụng Hiệp, Tiểu đoàn 406 diệt gần 70 tên, bắn rơi 1 máy bay khu trục và diệt gọn trung đội biệt kích ở Phú Hữu (Châu Thành, Cần Thơ). Trong Chiến dịch Sóc Trăng II, cùng với thắng lợi về quân sự, ta đã tạo được ảnh hưởng lớn về mặt chính trị trong đồng bào Khơme, thông qua công tác tuyên truyền, đồng bào Khơme trên địa bàn đã nhận thức đúng đắn về chính sách đại đoàn kết của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ủng hộ kháng chiến, không mắc mưu của thực dân Pháp. Qua đó, ta đã tạo được một khí thế mới trong quần chúng gây dựng cơ sở cách mạng trong vùng sóc Khơme bị đích tạm thời chiếm đóng.


Ngày 31 tháng 7 năm 1951, tại thị xã Sa Đéc, tướng Săngxông - Tư lệnh quân Pháp ở Nam Bộ và Thái Lập Thành - Thủ hiến Nam Việt của Chính phủ Bảo Đại cùng nhiều sĩ quan khác đang dự cuộc duyệt binh ở thị xã đã bị cảm tử quân Phan Văn Út (còn gọi là Út Ngọ, tức Triệu Hoàng Minh) ném lựu đạn. Thái Lập Thành chết tại chỗ, Săngxông bị trọng thương và chết sau vài giờ, 4 sĩ quan Pháp bị thương. Tuy tiêu diệt được kẻ thù nhưng đồng chí Phan Văn Út cũng đã anh dũng hy sinh.


Thời gian này địch đã tiến sâu vào Đồng Tháp Mười trên trục kênh Nguyễn Văn Tiếp, chiếm Ngã Sáu, Thiên Hộ. Tiểu đoàn 307 về đứng chân ở Đồng Tháp Mười để bảo vệ chiến khu, đánh địch bảo vệ căn cứ, tiêu diệt gần 200 tên địch, bắn chìm và cháy 4 tàu trên kênh Nguyễn Văn Tiếp và thực hiện nhiệm vụ vận chuyển tiếp tế cho miền Đông trong thời điểm miền Đông bị bão lụt; hỗ trợ cho phong trào chống lấn chiếm và phát động chiến tranh du kích, phân tán từng đại đội để phối hợp cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích tiêu hao, tiêu diệt địch làm công tác "ngụy địch vận" được 1 trung đội Hòa Hảo bỏ đồn về quê hương (Long Xuyên). Tháng 9 năm 1951, lực lượng vũ trang Khu 8 cũ đã tổ chức các cuộc tiến công liên tiếp vào hệ thống kho của địch ở thị trấn Cái Bè (Mỹ Tho): Đốt cháy 1 kho xăng, 1 kho chứa 1.000 tấn đạn các cỡ và 1 kho chứa 20 xe vận tải của địch, tiêu diệt 1 đồn lính Âu - Phi gồm 80 tên và 1 đồn lính biệt kích 100 tên.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #127 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2025, 08:24:28 pm »

Lúc này, Trung ương Cục chủ trương tổ chức đủ ba thứ quân tinh gọn và hiệu quả, giải thể các đơn vị chủ lực cấp trung đoàn liên trung đoàn, tổ chức lại thành các tiểu đoàn, các đại đội để phù hợp với khả năng cung ứng hậu cần và trang bị kỹ thuật, giúp các đơn vị đứng vững trên địa bàn được phân công, tiến sâu vào vùng địch tạm thời chiếm đóng.


Tháng 7 năm 1951, Bộ Tư lệnh Nam Bộ quyết định giải thể Liên trung đoàn 109-111 và Trung đoàn Tây Đô, phân tán các tiểu đoàn chủ lực về hoạt động tại các vùng trọng điểm bố trí ở các tỉnh thích hợp với tình hình chung, đồng thời tăng cường các đơn vị trợ chiến như công binh, pháo nhẹ, đặc công, để phát huy được hiệu quả tác chiến. Lúc này ở Nam Bộ chỉ bố trí 2 tiểu đoàn chủ lực cơ động: Tiểu đoàn 302 ở Phân liên khu miền Đông, Tiểu đoàn 307 ở Phan liên khu miền Tây, mỗi tỉnh đều xây dựng tiểu đoàn tập trung. Các phân liên khu Còn có các đại đội độc lập để tăng cường cho vùng yếu, các đội vũ trang tuyên truyền để hoạt động vùng sau lưng địch và các đội binh chủng như: Đặc công, pháo binh, công binh, đội săn tàu bằng thủy lôi... Các nơi đều củng cố các đại đội địa phương huyện để đủ sức bảo vệ địa phương mình và phát triển lực lượng dân quân du kích để đẩy mạnh chiến tranh du kích phát triển rộng khắp.


Cuối năm 1951, các phân liên khu tập trung củng cố tổ chức, bố trí lại lực lượng hợp lý, thống nhất chỉ huy, giảm quân số cơ quan để đưa ra đơn vị chiến đấu, tăng cường cán bộ về cơ sở, củng cố ban chỉ huy tỉnh đội để đủ sức chỉ huy các lực lượng vũ trang trong tỉnh. Những việc làm thiết thực đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác chiến, đẩy mạnh du kích chiến tranh, phá thế bao vây lấn chiếm của địch.


Trước âm mưu hành động tiến công lên Hòa Bình của thực dân Pháp, ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp và quyết định: Đề nghị Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh cho mở chiến dịch tại Hoà Bình, chuyển hướng hoạt động thụ động sang tiến công địch mới chiếm đóng. Trung ương giao nhiệm vụ cho Nam Bộ và Nam Trung Bộ phối hợp với chiến trường chính, hạn chế lực lượng của Pháp ở đồng bằng Bắc Bộ bằng cách phát triển mạnh chiến tranh nhân dân ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ: Đối với miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ, phải tùy hoàn cảnh ở đó, tùy công tác đang tiến hành mà ra sức hoạt động mạnh hơn, nhất là chiến tranh du kích để tiêu diệt địch và kìm hãm địch, không cho chúng điều quân ra chi viện Bắc Bộ.


Để Nam Bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ phối hợp, ngoài giao nhiệm vụ, Trung ương cũng đặt vấn đề chi viện cho miền Nam. Ngày 7 tháng 12 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương đã có nghị quyết về tiếp tế cho miền Nam. Trong nghị quyết này đã xác định tầm quan trọng của việc tiếp tế cho miền Nam, nhằm tạo điều kiện về vũ khí, cán bộ, tiền bạc để tăng cường hoạt động.


Dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Trung ương Cục, lực lượng vũ trang ba thứ quân, nhất là bộ đội địa phương tỉnh, huyện được tăng cường; dân quân, tự vệ và du kích xã phát triển; nhiều đội võ trang tuyên truyền hoạt động trong các vùng nông thôn tạm chiếm, vùng ngụy Cao Đài, Hoà Hảo, công giáo, vùng dân tộc thiểu số. Thực hiện phương châm phát triển kinh tế phục vụ kháng chiến, moi khả năng, điều kiện sản xuất đều được phát huy nhằm đảm bảo tự cung tự cấp, đặc biệt là ở những vùng căn cứ; sản xuất dựa vào nhân dân, tin ở nhân dân; tăng gia sản xuất và tiết kiệm, lấy nông nghiệp làm chủ yếu... Thực hiện chủ trương phát triển mạnh chiến tranh nhân dân ở Nam Bộ, sau khi điều chỉnh thế bố trí lực lượng, cán bộ được tăng cường về cơ sở, địa phương, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, các lực lượng đã trụ vững trên địa bàn được giao. Tuy nhiên, lúc này lực lượng địch ở đồng bằng sông Cửu Long còn mạnh, hệ thống đồn bốt còn dày đặc. Do đó, ta chủ trương trong thời gian này là không cho địch chia cắt giữa miền Tây và miền Đông, mỗi địa phương là một trận tuyến chống địch càn quét, lấn chiếm. Quân và dân ra sức giết giặc lập công với nhiều hình thức khác nhau. Ta và địch đã dần chuyển sang thế giằng co quyết liệt, khắp các tỉnh quân ta đều lập được chiến công.


Đầu năm 1952, ở Cần Thơ, Tiểu đoàn 308 tiến công tiêu diệt hàng trăm tên địch ở Ô Môn và Châu Thành, thu 60 súng các loại. Cũng trong thời gian này, 4 chiếc tàu địch càn quét vào 2 huyện Châu Thành và Giồng Riềng đã bị quân dân Cần Thơ dùng thủy lôi diệt 1 tàu và tiêu diệt 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 16 BVN địch. Trên chiến trường Sóc Trăng, 2 tiểu đoàn địch có xe lội nước và máy bay yểm trợ tiến hành càn quét vào vùng Long Mỹ đã bị lực lượng của 2 tiểu đoàn 307 và 410 chặn đánh ở Giồng Sao. Trận đánh kéo dài suốt ngày, đến tối, địch di chuyển quân qua Trà Bang Nhỏ, đóng tại Trà Kết, lại bị Tiểu đoàn 308 tập kích tiêu diệt 2 đại đội...


Tại Long Châu Hà, địch dùng 3 tiểu đoàn Âu - Phi đánh vào Ba Chúc để yểm trợ cho lực lượng đóng đồn và tiến công vùng căn cứ của ta ở Bảy Núi. Lực lượng vũ trang của ta phục kích diệt gần hết 1 đại đội lê dương tại cầu sắt Vĩnh Thông, bẻ gãy cuộc càn quét của địch. Ta tiến đánh đồn Phố Đà, phá thế bao vây vùng Ba Chúc...


Ở Bạc Liêu, Tiểu đoàn 307 đã phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích tiêu diệt 100 tên ở Lai Hòa và phá hủy hàng chục xe quân sự của địch. Đại đội địa phương huyện Giá Rai đã phối hợp với đại đội cơ động của tỉnh diệt đồn Cây Giang và đồn Cầu Sập cùng nhiều tháp canh trên lộ Đông Dương 16 từ Bạc Liêu đi Cà Mau. Đội võ trang tuyên truyền của ta trừng trị viên thiếu tá Trương Văn Xương giữa ban ngày ngay tại thị xã Bạc Liêu, làm cho bọn ác ôn tại đây phải khiếp đảm...


Từ ngày 19 đến ngày 28 tháng 2 năm 1952, ta chặn đánh và phá tan cuộc hành quân càn quét lớn "Gió lốc 2" của địch vào Chiến khu Đồng Tháp Mười. Trong cuộc càn này, địch đã huy động lực lượng lên đến 3.000 quân, 75 xe lội nước, 39 tàu chiến và được máy bay yểm trợ. Quân và dân ta đã đánh địch suốt 17 ngày đêm liền, ta đã tiêu diệt 780 tên, làm bị thương 790 tên, bắn chìm 3 tàu chiến, phá hủy 4 xe lội nước, lực lượng còn lại của địch phải rút chạy.


Hoạt động của quân và dân đồng bằng sông Cửu Long góp phần cùng toàn Miền thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Trung ương Đảng giao, phối hợp có hiệu quả với chiến trường chung, liên tục tiến công căng kéo, kìm chân địch, chống địch chia cắt chiến lược, phá thế liên kết, cắt đứt nguồn bảo đảm hậu cần từ miền Tây lên miền Đông, không cho chúng điều động lực lượng ra tiếp ứng ở chiến trường chính Bắc Bộ. Đồng thời, lực lượng vũ trang đồng bằng sông Cửu Long đã làm tốt công tác dân vận binh địch vận, phát triển chiến tranh du kích, tuyên truyền vận động làm thất bại âm mưu của địch vũ trang cho đồng bào dân tộc và tôn giáo chống lại lực lượng kháng chiến, xây dựng được mối quan hệ đoàn kết, tin cậy với đồng bào các dân tộc, tôn giáo, nhất là đồng bào Khơme Nam Bộ. Đây cũng là cơ sở quan trọng để huy động sức mạnh tổng hợp toàn dân, thực hiện chiến tranh nhân dân trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Những kinh nghiệm đó tiếp tục được vận dụng sáng tạo trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) và được nghiên cứu vận dụng trong xây dựng đồng bằng sông Cửu Long giàu mạnh cũng như bảo vệ Tổ quốc trên địa bàn chiến lược Tây Nam Bộ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #128 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2025, 08:31:58 pm »

NGHỆ THUẬT TÁC CHIẾN HIỆP ĐỒNG BINH CHỦNG
TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Đại tá, TS VŨ NGỌC THỦY
Viện trưởng Viện Khoa học Nghệ thuật quân sự,
Học viện Quốc phòng


Cách đây 70 năm, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, trực tiếp là Tổng Quân ủy, quân và dân ta đã giành thắng lợi trong Chiến dịch Hòa Bình. Đây là chiến thắng mang ý nghĩa chiến lược về quân sự và chính trị; đánh dấu bước trưởng thành và tiến bộ của Quân đội nhân dân Việt Nam, đặc biệt là nghệ thuật tác chiến hiệp đồng binh chủng. Đánh hiệp đồng binh chủng là lối đánh cơ bản của bộ binh, kết hợp với các hoạt động tác chiến chi viện của lực lượng binh chủng pháo binh, phòng không, công binh, thông tin... theo ý định kế hoạch tác chiến thống nhất, nhằm tạo sức mạnh tổng hợp đánh bại quân địch phòng ngự và chiếm đóng trên mặt trận chính diện ở Hòa Bình và phía sau lưng địch.


Tháng 11 năm 1951, Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương tập trung lực lượng lớn đánh chiếm tỉnh Hòa Bình, một vị trí chiến lược đặc biệt (chỉ cách Hà Nội 76km), nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược; mở rộng khu vực chiếm đóng, bịt chặt đường giao thông từ Việt Bắc đi các liên khu 3, 4; tiêu diệt một bộ phận chủ lực và phá thế chuẩn bị tiến công Thu - Đông của ta. Để thực hiện kế hoạch đó, trong các ngày 9 và 14 tháng 11, chúng huy động lực lượng cơ động mạnh gồm bộ binh, pháo binh, xe tăng - thiết giáp mở 2 cuộc hành quân Tuylíp và Lôtuýt đánh chiếm các khu vực Chợ Bốn, thị xã Hòa Bình, Đường số 6, Ba Vì... Sau khi chiếm được các mục tiêu, chúng để lại 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 4 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp; tổ chức phòng ngự thành 2 phân khu: Phân khu Bắc là sông Đà - Ba Vì thuộc thị xã Hòa Bình; Phân khu Nam là Đường số 6.


Tại phân khu Hòa Bình - Đường số 6, địch tập trung lực lượng bố trí phòng ngự theo kiểu tập đoàn cứ điểm bao gồm cả trận địa pháo binh, sân bay, sở chỉ huy. Phân khu sông Đà - Ba Vì được chia làm 2 khu then chốt phòng ngự gồm: La Phù - Đan Thê và Tu Vũ - Núi Chẹ; ngoài ra, khu vực Chợ Bến được thiết lập là tiền đồn phía Đông bảo vệ cho Hòa Bình.


Trước những diễn biến về địch như trên, Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá tan ý đồ chiếm đóng của chúng; đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch. Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hòa Bình gồm: Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy đồng chí Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng, đồng chí Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư Đảng ủy. Lực lượng tham gia trên mặt trận chính gồm các đại đoàn 304 308 312 và Đại đoàn Công pháo 351; trên mặt trận phối hợp gồm các đại đoàn 316, 320, cùng lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Hòa Bình và một số địa phương trên địa bàn tác chiến. Diễn biến chiến dịch chia làm 3 đạt. Đợt 1 (10 - 26.12.1951), chiến dịch tập trung lực lượng, phương tiện đột phá tuyến sông Đà. Sử dụng Đại đoàn 312 đánh địch càn quét trên Đường số 87, Đại đoàn 308 tiến công tiêu diệt địch ở cứ điểm Tu Vũ, đồng thời tiêu diệt một bộ phận địch ở cứ điểm Chợ Bến, Thu Cúc - Lai Đồng. Đợt 2 (27 - 31.12.1951), chiến dịch phát triển tiến công tiêu diệt địch ở tuyến sông Đà, cắt đứt đường tiếp tế của địch. Đợt 3 (7.1 - 25.2.1952), lợi dụng lúc quân địch phòng ngự có nhiều sơ hở, chiến địch đánh cắt Đường số 6, bao vây thị xã Hòa Bình, buộc địch phải rút chạy.


Sau hơn 2 tháng chiến đấu, Chiến dịch Hòa Bình đà tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bức hàng, bức rút hơn 1.000 đồn bốt, thu giữ nhiều loại vũ khí, phá hủy nhiều loại phương tiện chiến tranh của chúng. Đặc biệt chiến dịch đã đánh bại âm mưu chiếm đóng, phá tan ý đồ giành thế chủ động chiến lược trên chiến trường Bắc Bộ của địch; giải phóng một vùng đất đai rộng lớn, khai thông giữa Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4 và tạo điều kiện làm thay đổi tương quan so sánh lực lượng có lợi cho ta, giành ưu thế quân sự trên chiến trường Bắc Bộ. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đã đánh dấu bước đầu hình thành nghệ thuật tác chiến hiệp đồng binh chủng, được thể hiện trên một số vấn đề sau:

Một là, công tác tổ chức chuẩn bị tác chiến hiệp đồng binh chủng chặt chẽ, chu đáo

Để chuẩn bị mở Chiến dịch Hòa Bình, công tác chuẩn bị tác chiến hiệp đồng binh chủng rất chặt chẽ, công phu, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng ta mà trực tiếp là Bộ Chỉ huy Chiến dịch, về lực lượng, đã tập trung toàn diện cả lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ. Lực lượng cơ động gồm các binh đoàn chủ lực mạnh nhất của chiến trường, được biên chế đầy đủ các đơn vị binh chủng: Pháo binh, phòng không, công binh, thông tin... Lực lượng tại chỗ đã huy động hàng chục nghìn dân công phục vụ mở đường, vận chuyển vật chất, đạn dược. Sử dụng lực lượng trinh sát chiến trường với đầy đủ thành phần bộ binh, binh chủng chiến đấu, bảo đảm. Từng binh chủng nắm chắc nhiệm vụ của mình, bí mật triển khai lực lượng, công binh sẵn sàng cắt gỡ một phần hàng rào, mở cửa bằng bộc phá liên tục; pháo binh chuẩn bị vị trí triển khai trận địa sẵn sàng chế áp hỏa lực vào các mục tiêu phòng ngự của địch chi viện cho các đơn vị bộ binh chiến đấu, các đơn vị bộ binh tận dụng kết quả chi viện của các binh chủng, xác định đường hướng vượt qua cửa mở nhanh chóng đánh chiếm đầu cầu, thọc sâu, chia cắt, tiêu diệt từng bộ phận địch.


Hai là, xác định đổi tượng, mục tiêu cho các lực lượng tham gia tác chiến hiệp đồng binh chủng phù hợp, tránh chỗ mạnh, đánh chỗ sơ hở của địch

Địch tiến công và chiếm giữ khu vực Hòa Bình, chỗ mạnh của chúng là quân số đông, hỏa lực phi cơ, pháo binh, xe tăng mạnh. Khi ta mở màn chiến dịch thí bố trí của địch đã khá vững chắc, dựa vào các điểm cao khống chế và công sự kiên cố, hình thành các cứ điểm và cụm cứ điểm liên hoàn, có thể hỗ trợ nhau, nhất là bằng hỏa lực. Nơi mạnh của địch là tập trung phòng ngự hình thành tập đoàn cứ điểm trong thị xã Hòa Bình, một trong những mục đích của địch là thu hút chủ lực của ta đến một chiến trường mà chúng đã lựa chọn và chuẩn bị trước để tiêu diệt và như tướng Đờ Lát đã tuyên bố là khiến cho các sư đoàn Việt Minh không còn có thể ngóc đầu lên được.


Về ta, đang trong giai đoạn đẩy mạnh chiến tranh du kích, chuẩn bị thế và lực để phản công, phương hướng tác chiến chiến lược lúc này vẫn là tiêu diệt sinh lực địch, nhưng chưa phải là giải phóng đất đai. Ngay từ đầu, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã xác định: Nơi nào địch sơ hở thì ta đánh, nơi nào có điều kiện tiêu diệt sinh lực địch thì ta đánh, không nhất thiết là đánh Hòa Bình. Bộ Chỉ huy đã chọn khu sông Đà là hướng tiến công chính, vì trên hướng này ta có điều kiện tiêu diệt sinh lực địch. Trên hướng sông Đà, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã nhận thấy địch phòng ngự ở khu La Phù - Đan Thê mạnh hơn và có điều kiện yểm hộ thuận lợi cả đường bộ và đường sông. Khu then chốt phòng ngự Tu Vũ - Núi Chẹ của địch yếu hơn; đặc biệt, cứ điểm Tu Vũ là đầu cầu án ngữ nhưng;tương đối phân tán, sơ hở. Chủ trương của chiến dịch là đánh mạnh địch trên hướng sông Đà, tập trung lực lượng đánh trận then chốt hiệp đồng binh chủng vào khu vực phòng ngự then chốt của địch ở Tu Vũ; đồng thời, chỉ đạo đánh nhỏ liên tục trên Đường số 6 đã thể hiện việc lựa chọn mục tiêu vừa sức cho các lực lượng tác chiến hiệp đồng binh chủng nhằm vào chỗ yếu của địch mà tiêu hao, tiêu diệt sinh lực của chúng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #129 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2025, 08:33:46 pm »

Ba là, tập trung lực lượng đánh hiệp đồng binh chủng tiêu diệt các mục tiêu trên sông và trên bộ, khoét sâu khó khăn về giao thông, vận tải tiếp tế của địch

Để vận chuyển tiếp tế cho hàng vạn quân địch rải ra trên một địa bàn rộng, xa hậu phương, trong đó có các tiểu đoàn bị cô lập trong thị xã Hòa Bình, chúng dựa vào 2 tuyến đường vận tải sông Đà và Đường số 6 (địch gọi là "cuống họng ướt" và "cuống họng khô"). Ngay từ đầu, chúng tập trung lực lượng bảo vệ 2 tuyến này và xác định đây là vấn đề sinh tử trong cuộc hành binh ra Hòa Bình.


Bộ Chỉ huy Chiến dịch sớm phát hiện khó khăn lớn nhất này của địch. Trong suốt quá trình chỉ đạo tác chiến, chiến dịch tập trung lực lượng bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng, coi đánh giao thông vận tải trên sông, trên bộ là hướng hoạt động quan trọng của các lực lượng, nhằm không ngừng khoét sâu khó khăn của địch về vận tải tiếp tế. Trong đợt 1 và đợt 2, ta lấy sông Đà - Ba Vì làm hướng tiến công chính, trên hướng này, ta đã tập trung lực lượng lớn pháo binh của các sư đoàn chi viện cho lực lượng bộ binh đánh địch; sang đợt 3, nỗ lực của ta tập trung đánh vào tuyến Đường số 6, kết hợp tác chiến của bộ binh, pháo binh, với hoạt động đánh phá hoại đường sá, cầu cống của lực lượng công binh làm nòng cốt đã đem lại hiệu suất chiến đấu rất cao. Trong suốt thời gian này, dù tiến công cứ điểm hay phục kích địch trên bộ, trên sông, các hoạt động tác chiến phá hoại cầu đường đều được Bộ Chỉ huy Chiến dịch quan tâm chỉ đạo. Kết quả là ta đã uy hiếp và cắt đứt nhiều nguồn tiếp tế bằng đường bộ, đường thủy của địch.


Đường vận chuyển trên sông của địch đã bị ta vô hiệu hóa ngay từ đợi 1 chiến dịch; trong đó trận phục kích ngày 23 tháng 12 của quân ta đã làm thất bại cố gắng cuối cùng của địch hòng khai thông tuyến giao thông sông Đà. Các trận đánh địch trên sông không những đã cắt đứt "cuống họng ướt"của địch mà còn tạo thêm điều kiện cho bộ đội đánh hiệp đồng binh chủng tiêu diệt địch vận động trong khu vực Ba Vì. Đồng thời, liên tục đánh nhiều trận phục kích uy hiếp sự vận chuyển và hành quân của địch trên Đường số 6, con đường bộ huyết mạch duy nhất còn lại "cuống họng khô" của chúng - với chức năng nuôi sống tập đoàn cứ điểm Hòa Bình và các vị trí dọc theo Đường số 6. Trong thời điểm này, pháo binh được tổ chức thành các đơn vị nhỏ bố trí phân tán trên địa hình có lợi, sử dụng hỏa lực khống chế giao thông, đánh xe cơ giới, tàu xuồng, đã khống chế 2 trục đường vận chuyển trên sông, trên bộ của địch và đẩy địch vào tình thế nguy khốn, chỉ còn trông chờ vào những chuyến máy bay tiếp tế nhỏ giọt hằng ngày. Khi lực lượng bộ binh tiến công vào các cứ điểm thì vai trò của lực lượng pháo binh và các lực lượng bảo đảm lại càng quan trọng, đã tổ chức thành các khẩu đội, trung đội, bố trí trận địa bắn ở sẵn các mục tiêu trọng tâm bắn có lợi, chi viện có hiệu quả cho bộ binh tiến công.


Bốn là, đánh hiệp đồng binh chủng được thể hiện qua phương châm "đánh điểm, diệt viện"

Địa hình vùng Hòa Bình - sông Đà - Đường số 6 thuận lợi cho bộ đội phát huy sở trường, thực hiện phương châm "đánh điểm, diệt viện". Trong suốt quá trình tác chiến, Bộ Chỉ huy Chiến dịch luôn nhấn mạnh phương châm "đánh điểm diệt viện" và nhắc nhở cán bộ chỉ huy các cấp nhiều vấn đề về phương thức tác chiến hiệp đồng binh chủng. Trong đánh điểm phải tập trung lực lượng chủ lực mạnh, đặc biệt là pháo binh, nắm chắc thời cơ tranh thủ đánh sớm, giải quyết xong trận đánh trong một đêm; đồng thời phải tích cực chuẩn bị để nếu cuộc chiến đấu kéo dài thì có thể tiếp tục đánh ban ngày. Khi đánh viện, phải xác định đánh cả đường thủy, đường bộ và cả quân dù; đánh cả ban ngày, đồng thời phải chú trọng tạo thời cơ và không bỏ lỡ cơ hội diệt viện ban đêm. Tiêu biểu như trận đánh cứ điểm Tu Vũ của Trung đoàn 88, chiến dịch đã sử dụng Tiểu đoàn sơn pháo 75mm của Đại đoàn 308 bố trí ở cự ly gần cách trận địa địch 100m, đã phát huy hiệu quả rất rõ, cùng với lực lượng súng máy phòng không 12,7mm, đánh hiệp đồng binh chủng đã tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn lê dương địch được xe tăng, pháo binh yểm trợ chỉ trong 1 đêm (10.12.1951). Sử dụng pháo binh chi viện kịp thời cho bộ binh đánh vận động phục kích trên Đường số 6 trong ngày 12 tháng 12 năm 1951. Trong đợt 2, chiến dịch vẫn kiên trì thực hiện phương châm "đánh điểm, diệt viện" nhưng linh hoạt hơn như đánh điểm nhỏ, diệt viện nhỏ, đánh liên tục. Tranh thủ diệt viện bằng cách đánh linh hoạt của nhiều binh chủng với các hình thức chiến thuật, thủ đoạn chiến đấu như phục kích, tập kích, kỳ tập, quấy rối, phá hoại, đánh sâu trong lòng địch.


Bước sang đợt 3, cùng với chủ trương chuyển hướng chủ yếu xuống vùng Hòa Bình - Đường số 6, Bộ Chỉ huy Chiến dịch vẫn kiên trì cách đánh hiệp đồng binh chủng và nhấn mạnh phải áp dụng một cách hết sức linh hoạt, lúc thì nặng về đánh điểm, lúc thì nặng về đánh viện và sử dụng lực lượng hỏa lực cho phù hợp. Khi nhận thấy quân địch ở cụm cứ điểm thị xã Hòa Bình còn mạnh, ta chưa đù sức và tập trung lực lượng đánh cụm cứ điểm, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã tổ chức các trận đánh hiệp đồng binh chủng quy mô nhỏ tiến công vào một số căn cứ xung quanh thị xã Hòa Bình để tiêu hao, tiêu diệt địch. Đồng thời kết hợp chặt chẽ với các lực lượng lồ đội cơ động vật cản của công binh đánh cắt giao thông khống chế hoàn toàn tuyến đường vận chuyển sông Đà và Đường số 6. Khi tiến công vào các cứ điểm vòng ngoài thị xã Hòa Bình, lực lượng pháo binh đã thực hiện chiến thuật "đặt gần, bắn thẳng", đã chi viện có hiệu quả cho các lực lượng tác chiến; đồng thời sử dụng các lực lượng phòng không, công binh, thông tin tham gia bảo đảm, bảo vệ các lực lượng chiến đấu. Khi bị ta đánh mạnh vào các căn cứ bên ngoài, kết hợp với đánh cắt giao thông, địch trong cụm cứ điểm Hòa Bình bị bao vây, cô lập, tinh thần bị hoang mang cực độ, buộc phải rút lui, không thực hiện được ý đồ chiếm đóng thị xã Hòa Bình.


Trong quá trình tác chiến hiệp đồng binh chủng, chiến dịch cũng nhận thấy còn nhiều thiếu sót như: Có lúc còn "nặng về đánh điểm", hoặc chưa bảo đảm chắc thắng trong chỉ đạo đánh điểm; các cấp chỉ huy còn thiếu hướng dẫn các biện pháp cụ thể. Khi đề ra chủ trương đánh nhỏ trên Đường số 6 để kìm giữ địch cấp chiến dịch chưa quán triệt đầy đủ chủ trương và nhiệm vụ nên tư tưởng của một số cán bộ, chiến sĩ không thông suốt, ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện, về chỉ đạo đánh địch rút lui, mặc dù Bộ Chỉ huy đã dự kiến từ trước nhưng cũng thiếu biện pháp chỉ đạo kịp thời nên không đạt được kết quả như mong muốn.


Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai (nếu xảy ra), đối tượng tác chiến của ta có thể là quân đội của các thế lực thù địch và đồng minh, có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn ta về nhiều mặt; được trang bị vũ khí, phương tiện hiện đại, chủ yếu là vũ khí công nghệ cao, khả năng cơ động nhanh, tình huống tác chiến diễn ra rất mau lẹ, khẩn trương, ác liệt và khó lường, về ta, sẽ tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện bằng tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của địch. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển và vận dụng những kinh nghiệm tác chiến hiệp đồng binh chủng trong Chiến dịch Hòa Bình trong điều kiện tác chiến mới, theo những định hướng sau:

Một là, nghiên cứu điều chỉnh tổ chức, biên chế, trang bị cho các đơn vị chủ lực cơ động binh chủng hợp thành, quân chủng, binh chủng phù hợp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến lên hiện đại. Phấn đấu đến năm 2025 xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh; đến năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại, đáp ứng nhiệm vụ tác chiến bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Hai là, chủ động triển khai toàn diện công tác huấn luyện cho từng lực lượng, cả chủ lực và địa phương, bộ binh, quân, binh chủng chiến đấu, bảo đảm. Coi trọng phương châm huấn luyện "Cơ bản, thiết thực, vững chắc", lấy huấn luyện kỹ thuật làm cơ sở, huấn luyện chiến thuật làm trung tâm, giỏi đánh bằng vũ khí có trong biên chế và thành thạo tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng ở mọi quy mô, lấy quy mô nhỏ là chính. Thường xuyên tổ chức diễn tập tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng. Từng bước áp dụng công nghệ thông tin trong huấn luyện, theo hướng mô phỏng hiệp đồng tác chiến quân, binh chủng.

Ba là, làm tốt công tác bảo đảm tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng. Chủ động và tiến hành đầy đủ các mặt bảo đảm như nắm địch, cơ động lực lượng, thông tin liên lạc, phòng chống vũ khí công nghệ cao, công sự ngụy trang, hậu cần, kỹ thuật... Chủ động và sớm triển khai công tác củng cố, xây dựng công sự trận địa phòng thủ, tiến hành ngụy trang, nghi binh theo kế hoạch. Xây dựng khu vực phòng thủ các tỉnh, thành phố vững mạnh, làm nền tảng cho hoại động tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng. Các binh chủng bảo đảm như thông tin, công binh, hóa học... cần chủ động phối hợp và huy động tiềm năng cơ sở vật chất trong khu vực phòng thủ. Tiếp tục quán triệt và thực hiện lời huấn thị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tư lệnh Chiến dịch Hòa Bình: "Trong lĩnh vực đấu tranh vũ trang, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh nhân dân của các binh đoàn chủ lực là nội dung rất cơ bản của nghệ thuật phát động cả nước đánh giặc ở nước ta" nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM