Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:41:16 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng  (Đọc 45592 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #130 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2025, 08:45:35 pm »

NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC VÀ SỬ DỤNG LỰC LƯỢNG
TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Trung tướng, PGS, TS HOÀNG VĂN MINH
Giám đốc Học viện Lục quân


Chiến dịch Hòa Bình diễn ra trên địa bàn Hòa Bình - sông Đà - Đường số 6, được sự phối hợp chặt chẽ của mặt trận sau lưng địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Đây là hướng tiến công quan trọng của cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1951 - 1952. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình cùng mặt trận sau lưng địch tạo nên bước phát triển mới trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ta tiếp tục giữ vững quyền chủ động chiến lược trên chiến trường.


Sau thất bại ở biên giới trong Thu - Đông năm 1950, tiếp đó lại bị ta đánh mạnh ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ khiến quân Pháp lâm vào thế phòng ngự bị động; chi phí cho chiến tranh ở Đông Dương ngày càng nặng, vượt quá những chi phí kiến thiết mà nước Pháp đang cần. Do đó, các nhà cầm quân của thực dân Pháp cần phải có một hành động hiệu quả và một thắng lợi để có tiếng vang gây thiện cảm ở Quốc hội Pháp.


Cuối tháng 10 năm 1951, tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi (DeLattre de Tassigny) tuyên bố "Đã tới lúc giành lại thế chủ động trên chiến trường, buộc Việt Minh tiếp nhận chiến đấu trên một địa điểm do Pháp lựa chọn". Thực hiện ý định trên, địch tiến hành mở cuộc tiến công lên Hòa Bình, lập phòng tuyến sông Đà nối liền với tuyến phòng thủ trung tâm nhằm nối lại "hành lang Đông - Tây", thực hiện tăng cường khả năng phòng thủ đồng bằng Bắc Bộ. Để tiến công lên Hòa Bình, ngày 9 tháng 11 năm 1951, địch mở cuộc hành binh Tuylíp (Tulipe) đánh chiếm chợ Bến nhằm cắt đứt đường di chuyển của Việt Minh từ Việt Bắc xuống đồng bằng. Ngày 14 tháng 11 năm 1951, địch mở tiếp cuộc hành binh Lôtuýt (Lotus) đánh chiếm thị xã Hòa Bình. Chiều ngày 15 tháng 11 năm 1951, địch đã hình thành 2 cụm quân ở sông Đà - Ba Vì và Đường số 6 - thị xã Hòa Bình, quân Pháp tuyên bố đã làm chủ được Hòa Bình. Tại Hà Nội, tướng Đờ Lát đã loan tin chiến thắng Hòa Bình và đã tuyến bố rằng việc tiến công Hòa Bình đã gây khó khăn lớn cho đối phương; nó có ý nghĩa chiến lược là chúng ta đã buộc đối phương phải xuất trận; trận Hòa Bình có ảnh hưởng quốc tế lớn.


Trước tình hình trên, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định: Đây là một thời cơ hiếm có cho ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Bởi vì, khi đánh lên Hòa Bình, chúng phải phân tán lực lượng cơ động trên một mặt trận rộng lớn; địa hình hiểm trở; hệ thống công sự chưa vững chắc. Mặt khác, khi tiến công lên Hòa Bình, địch phải tập trung phần lớn quân cơ động nên lực lượng ở đồng bằng bị dàn mỏng, bộc lộ nhiều sơ hở. Từ nhận định trên Trung ương Đảng chủ trương mở một cuộc tiến công lớn trên cả hai mặt trận chính diện và vùng địch hậu. Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương ra Chỉ thị số 22-CT/TƯ "về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch". Bộ Chính trị quyết định tổ chức Bộ Chỉ huy Chiến dịch, do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh, đồng chí Nguyền Chí Thanh làm Chủ nhiệm Chính trị, do đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng và thành lập Đảng ủy Chiến dịch do dồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách Bí thư, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Phó Bí thư Đảng ủy. Đây là chiếndịch đầu tiên Quân đội ta tiến công vào quân địch phòng ngự theo hình thức tập đoàn cứ điểm, về nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng trong chiến dịch được thể hiện trên một số vấn đề như sau:


Thứ nhất, tổ chức, sử dụng lực lượng kết hợp đánh địch trên cả hai mặt trận chính diện và sau lưng địch

Xuất phát từ chủ trương đánh địch trên cả hai mặt trận, ta đã tổ chức lực lượng đánh địch trên mặt trận chính là Hòa Bình, mặt trận sau lưng địch là vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Về lực lượng, trên mặt trận chính sử dụng 3 đại đoàn 308, 312, 304 và Đại đoàn Công pháo 351 kết hợp với lực lượng tại chỗ. Ở mặt trận sau lưng địch, ta sử dụng các đại đoàn 316, 320, các trung đoàn 246, 238 và 46 cùng lực lượng vũ trang địa phương. Các chiến trường Khu 4, Khu 5, Nam Bộ khi được lệnh thì đẩy mạnh tác chiến phối hợp. Như vậy, với cách tổ chức lực lượng như trên, ta đã tạo được thế trận đánh địch rộng khắp trên các chiến trường, buộc địch phải phân tán đối phó, tạo điều kiện cho chiến trường chính đánh những đòn quyết định giải phóng Hòa bình.


Trên mặt trận chính (Hòa Bình), ý định của chiến dịch là tập trung lực lượng đột phá khu vực phòng thủ sông Đà, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở đường giao thông vận chuyển, đồng thời tạo thế phát triển thuận lợi cho chiến dịch. Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá về địch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch sử dụng Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 đánh địch trên hướng chủ yếu. Để phá vỡ phòng tuyến sông Đà, Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 102) ở tả ngạn sông Đà có nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, đánh viện binh của địch trên sông Đà đoạn từ thị xã Hòa Bình đến Tu Vũ. Đại đoàn 312 ở bên hữu ngạn sông Đà, có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở Chẹ, đánh viện binh địch trên đường bộ từ Sơn Tây đi Đá Chông và từ Đá Chông đến Chẹ. Đại đoàn 304 đánh địch trên hướng thứ yếu của chiến dịch, có nhiệm vụ kiềm chế mọi hoạt động của địch ở thị xã Hòa Bình và đánh địch trên Đường số 6. Lực lượng dự bịcủa chiến dịch sử dụng Trung đoàn 102, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương bố trí ở khu vực cổ Tuyết sẵn sàng đánh địch càn quét ra vùng tự do (Hạc Trì, Lâm Thao, Hưng Hóa và Đường số 2).


Ở mặt trận sau lưng địch, Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ cho 2 đại đoàn 316 và 320 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương ở vùng trung du, tả ngạn sông Hồng chủ động tích cực tiêu diệt địch, phá tề, trừ gian, tổ chức quần chúng chống địch càn quét để phối hợp chặt chẽ với mặt trận chính diện.


Như vậy, từ cách tổ chức, sử dụng lực lượng trên, ta đã tạo được thế trận đánh địch rộng khắp ở cả mặt trận chính và vùng địch hậu. Trên mặt trận chính, từ việc nghiên cứu, tìm ra sơ hở của địch để tổ chức, sử dụng lực lượng phù hợp, tập trung trên hướng chủ yếu; có lực lượng tiến công địch trong công sự đủ mạnh để đánh những trận then chốt; có lực lượng đánh địch càn quét, ứng cứu bằng đường bộ, đường sông và lực lượng dự bị thích hợp. Việc ta thực hành tiến công trên mặt trận ở Hòa Bình, đồng thời đẩy mạnh tác chiến ở mặt trận sau lưng địch khiến thế bố trí chiến lược của địch bị rối loạn, rơi vào thế bị động, cùng lúc phải đối phó trên nhiều hướng, dẫn đến không thể ứng cứu cho nhau. Có thể nói đây là một quyết định đúng đắn, sáng tạo trong tổ chức, sử dụng lực lượng; thể hiện tư tưởng chiến lược tiến công, phát huy được cách đánh của ta trong thế trận chiến tranh nhân dân.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #131 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2025, 08:46:45 pm »

Trên thực tế, trong đợt 1 của chiến dịch, khi ta tiến công cứ điểm Tu Vũ, núi Chẹ trên phòng tuyến sông Đà - Ba Vì, kết hợp với đánh nhỏ lẻ trên nhiều khu vực, buộc địch phải điều lực lượng từ phía sau lên, tạo điều kiện cho ta đánh địch ứng cứu. Chớp thời cơ, ở mặt trận sau lưng địch, Đại đoàn 320 và Đại đoàn 316 cùng lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh hoạt động tác chiến ở vùng Bắc Ninh, Phát Diệm và một số địa phương ở đồng bằng Bắc Bộ, buộc địch phải điều lực lượng từ Hòa Bình về bảo vệ đồng bằng Bắc Bộ, nhưng sau đó lại phải điều quân trở lại ứng cứu cho Hòa Bình. Như vậy, sự phối hợp nhịp nhàng, ăn kliớp trong hoạt động tác chiến của các lực lượng ờ 2 mặt trận chính diện và sau lưng địch khiển chúng bị động, buộc phải nhiều lần điều động lực lượng cơ động giữa 2 chiến trường, mất thế chủ động dẫn đến "một thất bại kép".


Trong Chiến dịch Hòa Bình, từ việc tổ chức, sử dụng lực lượng phù hợp đã tạo điều kiện cho chiến dịch chuyển hóa thế trận linh hoạt. Ngay từ đầu, trong âm mưu đánh chiếm Hòa Bình, địch đã xác định 2 tuyến vận tải cho quân chiếm đóng, đó là tuyến sông Đà và Đường số 6. Tuy nhiên, khi các cứ điểm then chốt của Phân khu sông Đà - Ba Vì bị tiêu diệt, dẫn tới tuyến vận tải sông Đà bị tê liệt thì Đường số 6 trở thành "yết hầu". Trước tình hình trên, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã điều chỉnh lại lực lượng, tiếp tục tiến công nhiều vị trí trên phòng tuyến sông Đà - Ba Vì như Đá Chông, Hưng Hóa, tiêu diệt địch ở các điểm cao 600, 400...


Trên hướng thứ yếu, Đại đoàn 304 tiến công một số cứ điểm trên Đường số 6, khống chế, uy hiếp địch ở thị xã Hòa Bình. Bị đánh mạnh trên Đường số 6 và thị xã Hoà Bình, địch phải rút bỏ các vị trí ở tuyến sông Đà về bảo vệ thị xã Hòa Bình. Từ diễn biến trên chiến trường, Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhanh chóng chuyển hóa thế trận, chuyển hướng hoạt động của chiến dịch xuống phía Nam, lấy vùng Hòa Bình và Đường số 6 là hướng chính. Tập trung lực lượng đánh mạnh vào thị xã Hòa Bình, cắt Đường số 6, gây cho địch nhiều thiệt hại; đồng thời tiếp tục đưa một bộ phận chủ lực tiến vào vùng địch hậu, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương, dân quân du kích tiêu diệt nhiều sinh lực địch, mở rộng các căn cứ du kích. Từ việc chuyển hóa thế trận linh hoạt, kịp thời, phù hợp với diễn biến tình hình, tạo sức ép từ nhiều phía, buộc địch phải rút khỏi Hòa Bình. Đây là bước phát triển về nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng trong tác chiến chiến dịch.


Thứ hai, tập trung lực lượng đánh trận then chốt tiêu diệt địch trong công sự, tạo thế, thời cơ để tiêu diệt địch ngoài công sự

Trong các chiến dịch được mở trước Chiến dịch Hòa Bình, với phương châm "đánh điểm, diệt viện", có chiến dịch đã đạt được hiệu suất chiến đấu cao, như Chiến địch Biên Giới năm 1950, ta tập trung ưu thế về lực lượng tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Đông Khê, điều được 2 binh đoàn địch (Lơ Pagiơ và Sáctông) đến ứng cứu để tiêu diệt. Tuy nhiên, 3 chiến dịch tiếp theo (Chiến dịch Trần Hưng Đạo, Chiến dịch Hoàng Hoa Thám và Chiến dịch Quang Trung), ta vẫn thực hiện phương châm "đánh điểm, diệt viện" nhưng hiệu quả chiến đấu không cao, không hoàn thành được nhiệm vụ chiến lược xác định. Có nhiều nguyên nhân để dẫn tới tình trạng trên nhưng nguyên nhân chủ yếu là chọn quá nhiều mục tiêu đánh điểm, chưa tập trung lực lượng đủ mạnh để tiêu diệt điểm nên không kéo được viện binh của địch ra; tổ chức, sử dụng lực lượng chưa phù hợp nên bỏ 15 nhiều thời cơ đánh viện.


Rút kinh nghiệm trong các chiến dịch trước, trong Chiến dịch Hòa Bình, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã vận dụng phương châm "đánh điểm, diệt viện" một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với điều kiện cụ thể và mục đích đề ra. Điều này được thể hiện trong tổ chức, bố trí lực lượng của chiến dịch. Trên cơ sở nghiên cứu đánh giá về địch, điều kiện địa hình ở khu vực Ba Vì và Hòa Bình chiến dịch đã tổ chức lực lượng đánh địch rộng khắp trên cả hướng chủ yếu, thứ yếu, kết hợp giữa tập trung và phân tán. Vì vậy, trong cả 3 đợt của chiến dịch, ta đã tiến hành nhiều trận đánh với các quy mô khác nhau, đánh cả trong và ngoài công sự, làm cho địch phải phân tán đối phó.


Trận tiến công cụm cứ điểm Tu Vũ ờ phòng tuyến sông Đà - Ba Vì trong đợt 1 của chiến dịch, đây là trận đánh mở đầu chiến dịch. Để đảm bảo chắc thắng, tạo điều kiện cho ta đánh địch ngoài công sự, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã tập trung lực lượng ưu thế hơn địch, với quy mô cấp trung đoàn bộ binh có hiệp đồng binh chủng. Cụ thể, ta sử dụng Trung đoàn 88 thuộc Đại đoàn 308, tăng cường 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 36, 8 khẩu sơn pháo 75mm, 1 đại đội súng máy phòng không 12,7mm. Lực lượng còn lại của Đại đoàn 308 đảm nhiệm đánh viện binh của địch trên sông Đà từ Hòa Bình đến Tu Vũ. Từ chỗ ta tập trung lực lượng chiếm ưu thế, nên chỉ trong 1 đêm (10.12.1951), Trung đoàn 88 đã đánh chiếm được cụm cứ điểm Tu Vũ, tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn lê dương được tăng cường xe tăng, pháo binh. Lực lượng cơ động của chiến dịch đã tiêu diệt và đánh bại nhiều cuộc hành quân ứng cứu của địch trong ngày 11 tháng 12 năm 1951 trên cả đường sông và đường bộ, làm cho chúng bị thiệt hại nặng.


Sau khi kết thúc đợt 1, Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận định, khi bị mất cứ điểm Tu Vũ, địch sẽ tiếp tục điều quân từ các chiến trường khác đến để củng cố phòng tuyến sông Đà. Mặt khác, ở khu vực sông Đà, Ba Vì, ta vẫn có điều kiện để đánh điểm, diệt viện nếu ta khéo nghi binh, tạo thế, trong khi địch vân còn dùng sông Đà để tiếp tế cho lực lượng ở thị xã Hòa Bình. Từ nhận định trên Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã củng cố, tổ chức lại lực lượng trên hướng chủ yếu.


Đợt 2 chiến dịch, ta sử dụng Đại đoàn 308 tiến công địch ở Đá Chông diệt viện trên sông Đà, Trung đoàn 88 chấn chỉnh đội hình ở Hưng Hóa. Đại đoàn 312 tiến công tiêu diệt địch ờ Điểm cao 600 và núi Chẹ, đánh viện binh từ Mỹ Khê lên Ba Vì, Trung đoàn 209 chấn chỉnh đội hình ờ Giếng Ông. Trên hướng thứ yếu, Đại đoàn 304 tiếp tục thực hiện nhiều trận đánh trên Đường số 6, khống chế địch ở thị xã Hòa Bình. Với cách tổ chức, bố trí lực lượng và hoạt động tác chiến của ta như trên, địch phải phân tán lực lượng để đối phó; khi phòng tuyến sông Đà - Ba Vì bị phá vỡ, địch phải rút quân về bảo vệ thị xã Hòa Bình. Đây là sự phát triển cao về nghệ thuật tác chiến chiến dịch nói chung, nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng nói riêng của Chiến dịch Hòa Bình.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #132 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2025, 08:47:46 pm »

Thứ ba, tổ chức, sử dụng lực lượng đánh nhỏ lẻ, kìm giữ địch ở Hòa Bình, tạo điều kiện cho mặt trận sau lưng tiêu diệt lớn quân dịch và phát triển chiến tranh du kích

Sau đợt 1 và đợt 2 của chiến dịch, địch bị tổn thất nặng nề, kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của chúng ngày càng gặp nhiều khó khăn, về ta, mặc dù bị tiêu hao, tổn thất về lực lượng và phương tiện nhưng tinh thần chiến đấu của bộ đội lên cao, tin tưởng vào khả năng thắng lợi của chiến dịch. Từ những thuận lợi trên, sau khi nghiên cứu chiến trường, bước vào đợt 3 (7.1 - 25.2.1952), Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định chuyển phần lớn lực lượng chủ lực xuống cắt Đường số 6. Tranh thủ lúc địch còn sơ hở, ta tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đẩy mạnh công tác địch vận, bám sát, bao vây chặt địch ở Hòa Bình. Đại đoàn 308 phụ trách Bắc Đường số 6, tiêu diệt địch ở Pheo, Đầm Huống. Đại đoàn 312 phụ trách Nam Đường số 6, đoạn Nam thị xã Hòa Bình từ Phương Lâm đến Ao Trạch. Đại đoàn 304 phụ trách đánh địch ở Nam và Bắc Đường số 6 đoạn từ Ao Trạch về Xuân Mai. Bị đánh thiệt hại lớn, phòng tuyến sông Đà bị bức rút, thị xã Hòa Bình bị bao vây, Đường số 6 bị cắt đứt liên tục, buộc địch phải tập trung phần lớn lực lượng về mở Đường số 6 và giải vây cho thị xã Hòa Bình. Trước những diễn biến về địch, Bộ Chỉ huy Chiến dịch hạ quyết tâm tiếp tục cắt Đường số 6, bao vây địch trong thị xã Hòa Bình bằng cách tổ chức nhiều trận đánh nhỏ và liên tục; cố giam chân địch để mặt trận sau lưng đẩy mạnh chiến tranh du kích.


Với phương châm "đánh điểm, diệt viện", cùng với tập trung lực lượng chiếm ưu thế, đánh những trận then chốt, tạo đột biến cho chiến dịch phát triển thì việc đánh điểm nhỏ, diệt viện nhỏ, đánh liên tục cũng được thực hiện rất nhiều trên toàn địa bàn chiến dịch. Nghệ thuật đó được xuất phát từ chỗ ta chưa đủ điều kiện về lực lượng, công tác bảo đảm và kinh nghiệm để đánh tập đoàn cứ điểm có công sự vững chắc như tập đoàn cứ điểm ở thị xã Hòa Bình lúc bấy giờ. Vì vậy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã liên tục tổ chức, sử dụng lực lượng tiến hành các trận đánh nhỏ (cả đánh điểm và diệt viện) tiến công vào một số căn cứ xung quanh thị xã Hòa Bình để tiêu hao, tiêu diệt lớn lực lượng địch. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng đánh cắt giao thông, khống chế hoàn toàn tuyến sông Đà và Đường số 6. Các cứ điểm nhỏ xung quanh thị xã Hòa Bình liên tục bị đánh, tuyến vận tải chi viện bị cắt; lực lượng bị tiêu hao, tổn thất, tinh thần cả tướng lẫn quận hoang mang cực độ, buộc quân Pháp phải rút lui, không thực hiện được ý đồ chiếm đóng Hòa Bình.


Khi mặt trận chính (ở Hòa Bình) kìm giữ được quân chủ lực cơ động của địch, mặt trận sau lưng (ở trung du, đồng bằng Bắc Bộ) cũng thu được thắng lợi lớn. Bộ đội chủ lực kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương hoạt động mạnh ở khu vực trung du va Liên khu 3, chiến tranh du kích phát triển cả về bề rộng và chiều sâu ở vùng trung du, nhất là khu vực Bắc Ninh, ta tiêu diệt, bức hàng nhiều vị trí và đánh viện tốt; khu vực đồng bằng, ta đã tập kích tiêu diệt nhiều đồn, bốt, tập kích sân bay Bạch Mai, làm cho địch bị thiệt hại lớn; chiến tranh du kích phát triển mạnh đã đẩy quân địch vào thế ngày càng nguy khốn. Thắng lợi to lớn ở mặt trận sau lưng địch đã làm thay đổi tình hình ở đồng bằng Bắc Bộ, có ý nghĩa quyết định vào thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình; chiến tranh du kích được phục hôi và phát triển.


Thứ tư, tổ chức, sử dụng lực lượng luân phiên bảo đảm tác chiến liên tục, dài ngày

Với âm mưu giành lại thế chủ động trên chiến trường, cuối năm 1951, Bộ Chỉ huy quân Pháp ở Hà Nội đã tung mệt lượng lớn binh lực cùng phương tiện chiến đấu vào Hòa Bình nhằm thu hút, tiêu diệt lực lượng chủ lực của ta, nối lại hành lang Đồng - Tây, khôi phục lại "tam giác sắt" là "Hà Nội - Sơn Tây - Hòa Bình";chặn đứng con đường vận chuyển, tiếp tế của ta từ Liên khu 3, Liên khu 4 lên Việt Bắc. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội vàng để quân ta tiêu diệt sinh lực địch. Tháng 11 năm 1951, khi quân Pháp huy động 20 tiểu đoàn, có máy bay, pháo binh yểm trợ tiến công đánh chiếm Hòa Bình; tổ chức chiếm đóng thành 1 hình thức tập đoàn cứ điểm (gồm 28 cứ điểm lớn, nhỏ), Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đề ra chủ trương"chiến đấu liên tục", thời gian chiến dịch có thể kéo dài từ 2 đến 3 tháng. Vì vậy, muốn đánh được liên tục dài ngày, chiến dịch phải có kế hoạch sử dụng lực lượng luân phiên tác chiến, chỉnh huấn bổ sung kịp thời.


Chấp hành chủ trương của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy trong Chiến dịch Hòa Bình, Bộ Chỉ huy Chiến dịch không sử dụng toàn bộ lực lượng ngay cùng một lúc mà thực hiện kế hoạch sử dụng lần lượt từng đơn vị, luân phiên tác chiến và nghỉ ngơi chỉnh huấn, học tập rút kinh nghiệm, bổ sung quân số, vũ khí, trang bị, vật chất bảo đảm, bồi dưỡng kỹ, chiến thuật, kinh nghiệm chiến đấu cho tân binh. Cụ thể, các trung đoàn bộ binh 88 và 209 đánh trong đợt 1, sau đó nghỉ ngơi chỉnh huấn, thay bằng các trung đoàn bộ binh 102, 36, 141, 165 đánh trong đợt 2, đến đợt 3, ta chỉ sử dụng 1/3 lực lượng đánh địch, 2/3 lực lượng vừa tranh thủ chấn chỉnh, vừa sẵn sàng chiến đấu. Các trung đoàn bộ binh 88 và 209 tiếp tục bước vào chiến đấu với ý chí, quyết tâm cao hơn. Công tác quân y của chiến dịch cũng được tổ chức điều trị chu đáo, bảo đảm cho thương binh nhanh chóng hồi phục trở lại đơn vị tiếp tục chiến đấu. Nên khi bước vào đợt 3, các đại đoàn 308, 312 đã tiếp nhận lại 2/3 số lượng thương binh đã phục hồi sức khỏe. Cùng với đó, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng ý chí quyết tâm cũng được Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quan tâm, tổ chức, tiến hành chặt chẽ. Vì vậy, trong suốt quá trình chiến dịch, ý chí, quyết tâm chiến đấu của bộ đội ta luôn được củng cố và nâng cao, bão đảm chiến đấu bền bỉ, dẻo dai, liên tục, làm cho quân địch phái bất ngờ.


Tóm lại, thắng lợi của Chiến dịch tiến công Hòa Bình là thắng lợi có ý nghĩa quan trọng về chiến lược trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta. Qua chiến dịch, ta đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý về nghệ thuật quân sự. Bài học về nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng trong Chiến dịch Hòa Bình đã được vận dụng mang lại hiệu quả cao, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954) và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975). Đây là những bài học cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo vào tác chiến trong điều kiện mới của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nếu xảy ra trong tương lai.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #133 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2025, 07:25:15 pm »

NGHỆ THUẬT TIẾN HÀNH TRẬN THEN CHỐT
TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Thiếu tướng, PGS, TS, NGUYỄN THANH HIỆP
Phó Hiệu trường Trường Sĩ quan Lục quân 2


Ngày 9 tháng 11 năm 1951, quân Pháp mở cuộc hành quân Tuylíp (Tulipe), dưới sự chỉ huy của Đờ Linarét (De Linares). Các GM (1,2, 3), tiểu đoàn dù lê dương và 2 đại đội Commăngđô số 21, 22 chia thành 3 mũi tiến công Chợ Bến, mở đầu cho kế hoạch tái chiếm Hòa Bình. Sau khi chiếm được chợ Bến, ngày 14 tháng 11, dưới quyền chỉ huy của Tướng Xalăng (Salan), Phó Tổng Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã chỉ huy cuộc hành quân Lôtuýt (Lotus) đánh chiếm Hòa Bình. Với âm mưu chiếm đóng lâu dài cho nên sau khi đánh chiếm được Hòa Bình, quân Pháp đã chuyển vào phòng ngự rất chặt chẽ nhằm ngăn chặn ta tiến công từ nhiều hướng, tạo bàn đạp vững chắc để tiếp tục đánh lên Phú Thọ. Chúng tổ chức phòng ngự thành phân khu sông Đà - Ba Vì (Phân khu Bắc), phân khu Hòa Bình - Đường số 6 (Phân khu Nam) với 28 cứ điểm. Lực lượng mỗi cứ điểm từ 1 đại đội đến 1 tiểu đoàn bộ binh được tăng cường xe tăng, pháo binh. Các cứ điểm, phân khu được liên kết chặt chẽ với nhau, hình thành khu Chiến địa liên hoàn, rộng lớn. Đây là kiểu phòng ngự dạng tập đoàn cứ điểm, lần đầu tiên được thực dân Pháp tổ chức ởĐông Dương, với ý định lừa dụ, thu hút và tiêu diệt chủ lực của ta ở chiến trường chúng đã chuẩn bị và có nhiều lợi thế.


Trước âm mưu của địch, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình, tập trang chủ lực ở hướng chính (các đại đoàn 308, 312, 304 và Đại đoàn Công pháo 351), đưa một bộ phận quan trọng vào hoạt động ở vùng địch hậu (các đại đoàn 316, 320) nhằm tiêu diệt một bộ phận chủ lực, tiến tới đập tan ý định chiếm đóng Hòa Bình, đồng thời, đẩy mạnh chiến tranh du kích và tiêu hao sinh lực địch ở đồng bằng Bắc Bộ. Chiến dịch đã diễn ra từ ngày 10 tháng 12 năm 1951 đến ngày 25 tháng 2 năm 1952, mở đầu bằng trận then chốt tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, liên tục tiến công các mục tiêu quan trọng như Điểm cao 600, cứ điểm Pheo, đánh viện trên sông Đà, địch rút chạy khỏi Hòa Bình. Sau hơn 2 tháng, chiến dịch đã giành thắng lợi to lớn về quân sự, chính trị, kinh tế, làm thay đổi tình thệ chiến lược ở đồng bằng Bắc Bộ, có bước phát triển toàn diện về nghệ thuật chiến dịch, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá.


Trận tiến công cứ điểm Tu Vũ diễn ra trong đêm mùng 10 và ngày 11 tháng 12 năm 1952 là trận then chốt của chiến dịch, đã tiêu diệt phần lớn tiểu đoàn lê dương tinh nhuệ bậc nhất của quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Đây cũng là trận công kiên cấp trung đoàn bộ binh tăng cường, chiến đấu hiệp đồng binh chủng lớn nhất của Quân đội ta cho đến thời điểm này. Lần đầu tiên ta tiêu diệt cụm cứ điểm tiểu đoàn bộ binh tăng cường, có pháo binh, xe tăng, xe thiết giáp phòng ngự trong công sự vững chắc, được hỏa lực chi viện rất mạnh. Nghệ thuật tiến hành trận then chốt trong Chiến dịch Hòa Bình được thể hiện trên một số nội dung cơ bản sau:

Một là, nghệ thuật xác định trận then chốt

Nét độc đáo và sự phát triển về nghệ thuật trong Chiến dịch Hòa Bình là xác định chính xác trận then chốt, lần đầu tiên ta đánh trận then chốt mở đầu vào cứ điểm mạnh nhất trong hệ thống phòng ngự của địch. Nếu như trong các chiến dịch tiến công trước đây, chúng ta thường lựa chọn các cứ điểm, cụm cứ điểm do 1 đến 2 đại đội bộ binh địch phòng ngự thì trong chiến dịch này ta chọn cứ điểm tiểu đoàn bộ binh tăng cường.


Qua nghiên cứu chiến trường, âm mưu, thủ đoạn của địch, Bộ Chỉ huy Chiến dịch xác định thời gian chiến dịch kéo dài từ 2 đến 3 tháng, được chia thành nhiều đợt. Trong đó, các lực lượng phải kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ tác chiến đạt 1, tạo điều kiện cho đợt sau phát triển thuận lợi. Cùng với đó, xác định phương châm tác chiến là "đánh điểm, diệt viện". Tuy nhiên, đánh trận then chốt mở đầu ở đâu để tạo phản ứng dây chuyền, thúc đẩy chiến dịch phát triển thuận lợi là vấn đề rất khó khăn, có nhiều mâu thuẫn phức tạp cần phải giải quyết, nhất là đối với chiến dịch có ý nghĩa chiến lược như Chiến dịch Hòa Bình.


Trên cơ sở nghiên cứu chiến trường, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định chọn tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ là trận then chốt mở đầu trong đợt 1. Tu Vũ là cứ điểm án ngữ trên trục đường liên tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ, cách thị xã Hòa Bình 30km về phía Bắc, nằm sát bờ Tây của sông Đà. Cứ điểm này có vị trí đặc biệt quan trọng trong phân khu sông Đà - Ba Vì, do Tiểu đoàn lê dương 1 thuộc Trung đoàn Marốc 2 đảm nhiệm phòng ngự, được phối thuộc 1 đại đội bộ binh thuộc Tiểu đoàn 6 (ngụy Mường), 1 trung đội thiết giáp (6 chiếc). Địch ở Tu Vũ bảo vệ thị xã Hòa Bình từ xa, ngăn chặn ta tiến công từ Yên Lãng, sẵn sàng cơ động ứng cứu cho cứ điểm Đá Chông, Đoan Hạ, Chẹ (Phân khu Bắc), cứ điểm Pheo, Đầm Huống, Ao Trạch (Phân khu Nam). Mặc dù ở vị trí xung yếu nhưng cứ điểm Tu Vũ lại tương đối độc lập so với các cứ điểm khác, gần Chẹ, Đá Chông nhưng lại bị chia cắt bởi sông Đà. Đồng thời, khu A và khu B của cứ điểm cũng bị chia cắt với khu C bởi ngòi Lát.


Thực tế diễn biến chiến dịch cho thấy xác định trận then chốt mở đầu tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ là hoàn toàn đúng đắn, khoa học và đạt đến tầm cao của nghệ thuật. Bởi vì, địch âm mưu tập trung lực lượng mạnh và bố trí có chiều sâu ở phân khu Sông Đà - Ba Vì. Do đó, nếu lựa chọn mục tiêu mở đầu là các cứ điểm vòng ngoài của Phân khu Bắc, tiến công từ Nam Phú Thọ xuống, ta phải liên tục đột phá qua các cụm cứ điểm vững chắc, liên hoàn. Đồng thời, lựa chọn mục tiêu mở đầu, xác định trận then chốt ở khu vực này, ta sẽ rơi vào bẫy do quân địch đã chuẩn bị sẵn. Bên cạnh đó, các cứ điểm này ở xa thị xã Hòa Bình, không tạo ra sự uy hiếp trực tiếp đến mục tiêu chủ yếu của địch, vì vậy, khó tạo đột biến chiến dịch. Một điểm quan trọng nữa là hỏa lực pháo binh, phòng không, sức cơ động của ta chưa chiếm ưu thế so với địch để có thể duy trì sức đột phá liên tục, dài ngày nếu tiến công trực diện vào phân khu sông Đà - Ba Vì. Như vậy, có thể khẳng định Chiến dịch Hòa Bình đã đạt đến tầm nghệ thuật về xác định trận then chốt, mục tiêu mở đầu khi lần đầu tiên ta tiến công vào hệ thống phòng ngự kiểu tập đoàn cứ điểm. Xác định chính xác trận then chốt mở đầu đánh vào vị trí xung yếu nhất trong hệ thống phòng ngự đã phá thế liên hoàn của địch trên phòng tuyến sông Đà, buộc chúng phải ứng cứu giải tỏa, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thuận lợi. Bên cạnh đó, trận then chốt tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ không chỉ thực hiện được yêu cầu đánh vào mục tiêu "nhạy cảm, hiểm yếu, tạo phản ứng dây chuyền" mà còn tiêu diệt bộ phận sinh lực quan trọng, gây tâm lý hoang mang đối với quân Pháp.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #134 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2025, 07:26:07 pm »

Hai là, nghệ thuật lập thế đánh trận then chốt

Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là kết quả đấu trí, đọ lực quyết liệt giữa ta và địch. Bộ Chỉ huy Chiến dịch, các lực lượng có liên quan đã giải quyết thành công nhiều vấn đề về nghệ thuật lập thế, tạo lực. Trong đó, lập thế đánh trận then chốt là nét độc đáo, sáng tạo tiêu biểu. Đây là tiền đề quan trọng để Bộ Chỉ huy Chiến dịch chỉ huy đánh thắng trận then chốt, chuyển hóa thế trận tiêu diệt địch ứng cứu giải tỏa đường bộ, đường sông, cũng như phát triển chiến dịch thuận lợi.


Lực lượng đánh địch trong công sự được tổ chức thành 3 hướng tiến công. Mỗi hướng do 1 tiểu đoàn bộ binh đảm nhiệm, được phối thuộc từ 1 đến 3 khẩu đội hỏa lực bắn thẳng. Hướng tiến công chủ yếu do Tiểu đoàn bộ binh 29 đảm nhiệm (được phối thuộc 1 khẩu ĐKZ 75mm, 2 khẩu badôca; được 4 khẩu pháo 75mm, 7 khẩu cối 82mm trực tiếp chi viện), bố trí ở gốc gạo phía Bắc ngòi Lát đánh thẳng vào Sở Chỉ huy của Tiểu đoàn lê đương 1. Tiểu đoàn bộ binh 23 (được phối thuộc 1 khẩu ĐKZ 75mm, 2 khẩu đại liên; được 2 khẩu sơn pháo 75mm trực tiếp chi viện), bố trí ở Bắc và Tây Bắc cứ điểm, đảm nhiệm hướng tiến công thứ yếu, hình thành 2 mũi tiêu diệt khu A, sẵn sàng đánh viện binh từ làng Tu Vũ. Tiểu đoàn bộ binh 322 (được tăng cường 1 đại đội bộ binh, 1 khẩu sơn pháo 75mm, 2 khẩu ĐKZ 75mm, 2 khẩu cối 82mm, 2 khẩu đại liên), đảm nhiệm hướng tiến công phối hợp, hình thành 2 mũi từ Nam và Tây Nam đánh vào khu C, sẵn sàng đánh địch ứng cứu giải tỏa bằng đường bộ, đường sông. Sở Chỉ huy Chiến dịch bố trí ở Xóm Giớn. Sở Chỉ huy Trung đoàn bộ binh 88 và Tiểu đoàn bộ binh 80 (thiếu 1 đại đội) bố trí ở núi Yên Lãng sẵn sàng tăng cường sức chiến đấu cho các bộ phận, cơ động đánh địch ứng cứu giải tỏa bằng đường bộ từ làng Tu Vũ xuống, ứng cứu giải tỏa bằng đổ bộ đường không. Hỏa lực do chiến dịch phối thuộc, Trung đoàn bộ binh 88 trực tiếp nắm để chi viện chung. Trận địa hỏa lực được bố trí ở Đông Nam sân bay dã chiến.


Để hỗ trợ cho đánh trận then chốt, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã cơ động Đại đoàn 312 sang hoạt động ở bờ Đông, khu vực Ba Vì, hình thành thế bao vây, chia cắt Phân khu Bắc và Phân khu Nam. Bên cạnh đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch giao choTrung đoàn bộ binh 209 bao vây, kiềm chế pháo binh ở cứ điểm Chẹ, thực hiện cài xen với địch. Do đó, khi lực lượng tiến công địch trong công sự thực hành đánh chiếm mục tiêu, quân Pháp ở cứ điểm Chẹ đã không dám vượt sông tăng viện phản kích cho Tu Vũ. Trên đường liên tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ, Bộ Chỉ huy Chiến dịch triển khai Tiểu đoàn bộ binh 84 thuộc Trung đoàn bộ binh 36 ở Bắc Đồng Cam chặn viện của địch từ Đoan Hạ, Đá Chông bảo vệ đội hình phía Bắc của lực lượng tiến công địch trong công sự. Tiểu đoàn bộ binh 6 thuộc Trung đoàn bộ binh 141, Tiểu đoàn bộ binh 1 thuộc Trung đoàn bộ binh 36 bố trí ở Lạc Song, Đồng Việt (cách thị xã Hòa Bình khoảng 10km) để đánh địch ứng cứu giải tỏa bằng đường bộ, đường sông. Ngoài ra, Trung đoàn bộ binh 36 còn sẵn sàng tăng cường sức chiến đấu, thay thế cho Trung đoàn bộ binh 88 khi trận then chốt gặp khó khăn.


Với nghệ thuật sáng tạo, khoa học trong tổ chức, bố trí, triển khai lực lượng tiến công địch trong công sự và các lực lượng có liên quan đã hình thành thế đánh trận then chốt vững chắc, hiểm hóc, bao vây, chia cắt, cài xen, rộng khắp. Lực lượng đánh trận then chốt được tổ chức, sử dụng tập trung, ưu tiên cho hướng chủ yếu, kết hợp chặt chẽ giữa binh lực với hỏa lực, hình hành thế tiến công liên tục, phát huy sức mạnh tổng hợp của các đơn vị. Vì vậy, ta đã trói chặt địch trong công sự, chia cắt chúng thành nhiều cụm mục tiêu nhỏ, cô lập cứ điểm Tu Vũ với các cứ điểm khác; bao vây chặt địch cả vòng trong và vòng ngoài. Quá trình cơ động vào chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công, mặc dù bị địch phát hiện và sử dụng hỏa lực bắn chặn quyết liệt nhưng các tiểu đoàn đã kịp thời áp sát hàng rào vật cản, từng bước siết chặt vòng vây. Do đó, ta càng đánh càng phát huy sức mạnh, địch càng đánh càng bị suy yếu và nhanh chóng bị tiêu diệt.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #135 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2025, 07:27:04 pm »

Ba là, nghệ thuật thực hành đánh trận then chốt

Trận then chốt tiến công cứ điểm Tu Vũ không chỉ có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với Chiến dịch Hòa Bình mà còn có tác động đối với cấp chiến lược. Do đó, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định lựa chọn Trung đoàn bộ binh 88 thuộc Đại đoàn 308 đảm nhiệm tiêu diệt. Đây là đơn vị đã tham gia nhiều chiến dịch, đảm nhiệm nhiều trận đánh quan trọng, dày dạn kinh nghiệm, có tinh thần chiến đấu cao. Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tư lệnh Chiến dịch đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho Ban Chỉ huy Trung đoàn (Trung đoàn trưởng Thái Dũng, Chính ủy Trung đoàn Đặng Quốc Bảo). Bên cạnh đó, Bộ Tổng Tham mưu cử đồng chí Lê Đình Cúc làm phái viên đi cùng, giúp đỡ Trung đoàn, trực tiếp nắm tình hình để báo cáo Tư lệnh Chiến dịch và Bộ Tổng Tham mưu.


Bộ Chỉ huy Chiến dịch chỉ đạo Trung đoàn bộ binh 88 thực hiện cách đánh công kiên, sẵn sàng chuyển sang đánh ban ngày. Ban Chỉ huy Trung đoàn đã chỉ huy Tiểu đoàn bộ binh 29 và các đơn vị đảm nhiệm tiến công trên hướng chủ yếu. Trung đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Nam Hà trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn bộ binh 322 tiến công tiêu diệt khu C. Trung đoàn phó Hùng Sinh trực tiếp chỉ huy bộ phận hỏa lực (Tiểu đoàn pháo binh 90, Đại đội cối 82mm, Đại đội súng máy phòng không 12,7mm). Như vậy, ở cấp trung đoàn và các tiểu đoàn làm nhiệm vụ chủ yếu, quan trọng đều được tăng cường chỉ huy, trực tiếp theo dõi, đôn đốc, giúp đỡ trong quá trình chiến đấu.


Quá trình vào chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công, hướng tiến công chủ yếu của Trung đoàn bộ binh 88 bị lộ, từ 20 giờ ngày 10 đến 1 giờ ngày 11 tháng 12, địch từ các cứ điểm Chẹ, Đá Chông và Tu Vũ đã bắn ra xung quanh cứ điểm khoảng 5.000 quả đạn pháo, cối các loại gây thương vong lớn cho Trung đoàn. Bước ngoặt thành công đối với trận then chốt tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ có dấu ấn rất lớn của lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong điều hành trận đánh, xử trí tình huống. Có thể thấy, ở thời điểm khó khăn, ác liệt nhất, giữa ranh giới "lui quân hay tiếp tục đánh" và "đánh liệu có thắng không?" thì vai trò tiền phong, tinh chiến đấu của đảng ủy các tiểu đoàn, trung đoàn, của Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã phát huy cao độ, kiên định, sáng suốt, kịp thời lãnh đạo đơn vị ổn định tổ chức, đội hình tiến công. Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận định lực lượng tiến công tuy gặp nhiều khó khăn, có thương vong tổn thất nhưng bộ đội đã tiếp cận gần địch, ta vẫn nắm quyền chủ động để giành thắng lợi. Do đó, Tư lệnh Đại đoàn 308 đã kịp thời chỉ thị cho lực lượng tiến công tiếp tục động viên bộ đội khắc phục khó khăn, kiên quyết thực hiện nhiệm vụ tiến công địch trước lúc trời sáng. Sự kiên quyết này xuất phát từ vai trò rất quan trọng của đảng ủy, chỉ huy các cấp trong chiến đấu. Ở thời khắc khó khăn, gian khổ, ác liệt nhất, Bộ Chỉ huy Chiến dịch và lực lượng đánh trận then chốt vẫn kiên định với nhiệm vụ được giao, xác định rõ có thể phải "hy sinh bộ phận để giành thắng lợi đại cục". Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn bộ binh 88 đã tổ chức hội nghị ngay tại trận địa, các ý kiến đều thể hiện ý chí quyết tâm chiến đấu cao, kiên quyết khắc phục khó khăn để đánh thắng trận then chốt. Trung đoàn đã phân công cán bộ trực tiếp xuống chỉ huy các đơn vị, phổ biến nghị quyết của Thường vụ Đảng ủy, ổn định lại tổ chức, đội hình chiến đấu cho các bộ phận.


Mặc dù, có thời điểm bị pháo binh địch đánh phá quyết liệt nhưng các tiểu đoàn đã duy trì hiệp đồng chặt chẽ, chủ động thực hiện nhiệm vụ được giao. Trên hướng tiến công thứ yếu tiếp cận địch thuận lợi hơn, chớp thời cơ, Trung đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Nam Hà đã ra lệnh cho Tiểu đoàn bộ binh 322 thực hành nổ súng tiến công, xung phong tiêu diệt khu C, tạo điều kiện cho Tiểu đoàn bộ binh 29, Tiểu đoàn bộ binh 23 tiến công tiêu diệt khu B, khu A. Đến 4 giờ ngày 11 tháng 12, trung đoàn đã hoàn toàn làm chủ cứ điểm Tu Vũ, sẵn sàng chuyển sang đánh địch ứng cứu giải tỏa. Từ diễn biến và thắng lợi của chiến dịch cho thấy: Nếu lãnh đạo, chỉ huy các cấp không kiên quyết đánh thắng trận then chốt mở đầu thì sẽ không phá vỡ được hệ thống phòng tuyến sông Đà - Ba Vì, không tạo ra phản ứng dây chuyền, buộc địch phải ứng cứu giải tỏa cũng như rút chạy khỏi thị xã Hòa Bình. Sự chỉ đạo kiên quyết của Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch, quyết tâm cao của các đơn vị, linh hoạt chỉ huy, xử trí tình huống là yếu tố cơ bản để ta giành lại quyền chủ động, chuyển khó khăn thành thuận lợi.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #136 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2025, 07:27:37 pm »

Bốn là, nghệ thuật chỉ đạo vận dụng hình thức chiến thuật, biện pháp chiến dịch

Nếu lựa chọn cứ điểm Tu Vũ làm mục tiêu then chốt mở đầu là sự sáng suốt, bước phát triển tư duy chiến dịch của Tổng Quân ủy thì đánh thắng trận then chốt lại thể hiện tài thao lược của Bộ Chỉ huy Chiến dịch. Trong đó, chỉ đạo vận dụng hình thức chiến thuật, biện pháp chiến dịch để đánh trận then chốt là nét độc đáo, sáng tạo điển hình.


Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá chính xác hình thái phòng ngự và âm mưu của địch, Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận định mặc dù quân Pháp tổ chức phòng ngự rất chặt chẽ nhưng điểm yếu nhất của hệ thống phòng thủ sông Đà là cứ điểm Tu Vũ. Khi mục tiêu này bị tiến công, địch có thể kịp thời tăng viện phản kích, ứng cứu giải tỏa từ nhiều hướng tới bằng đường bộ, đổ bộ đường không, đường sông. Muốn thực hiện được ý định "diệt viện" thì "đánh điểm" phải nhất định thành công. Do đó, để tiêu diệt cứ điểm lớn được tăng cường pháo binh, tăng thiết giáp, chiến dịch xác định và chỉ đạo lực lượng đánh địch trong công sự vận dụng hình thức chiến thuật công kiên (tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc). Tư tưởng chỉ đạo trong trận chiến đấu này được xác định là tiến công kiên quyết, liên tục, đánh nhanh, tiến chắc, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, sẵn sàng chuyển sang đánh viện ban ngày.


Từ kinh nghiệm trong các trận then chốt như trận tiến công Chùa Cao, trận tiến công cứ điểm Đông Khê... bị kéo dài do hỏa lực chế áp, chi viện của ta có phần hạn chế. Chính vì vậy, trong trận tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã quyết định tiến công bằng sức mạnh chiến đấu hiệp đồng binh chủng. Đồng thời, đây là cứ điểm lớn, ta cũng xác định tiến công ban đêm, dự kiến sẵn sàng chuyển sang đánh ban ngày. Do đó, lực lượng tiến công địch trong công sự đã được phối thuộc Tiểu đoàn bộ binh 80 thuộc Trung đoàn bộ binh 36, Tiểu đoàn pháo binh 90 (sơn pháo), 1 đại đội súng máy phòng không 12,7mm.


Bên cạnh đó, Bộ Chỉ huy Chiến dịch chỉ đạo lực lượng đánh trận then chốt không chỉ "quyết đánh" mà còn phải "biết đánh", làm công tác chuẩn bị chiến đấu chu đáo, chặt chẽ. Trong đó, các đơn vị lấy cấp đại đội bộ binh làm đơn vị cơ sở để tổ chức huấn luyện bổ sung chiến thuật công kiên, phương pháp mở cửa, cách tiêu diệt các mục tiêu kiên cố như lô cốt, hầm ngầm, nhà âm, các mục tiêu trong tung thâm trận địa. Trong thực hành chiến đấu, khi địch bắn phá ra bên ngoài dữ dội, Chiến dịch đã chỉ huy lực lượng tiến công chuyển từ bí mật chiếm lĩnh sang cơ động, chiếm lĩnh trận địa trong hành tiến. Các hướng tiến công linh hoạt vận dụng phương pháp mở cửa trong điều kiện địch đánh phá ác liệt. Quá trình chiến đấu, các tiểu đoàn bộ binh kịp thời chuyển hóa thế trận, tổ chức truy kích địch rút chạy, tiêu diệt nhiều sinh lực, phương tiện của chúng.


Một điểm đặc sắc nữa trong đánh trận then chốt tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ là Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã vận dụng kết hợp nhiều biện pháp tác chiến rất linh hoạt và hiệu quả. Tư lệnh Chiến dịch chỉ đạo Đại đoàn 316 và Đại đoàn 320 đẩy mạnh hoạt động phá tề, diệt ngụy ở vùng địch hậu, Đại đoàn 312 đánh rộng khắp ở khu vực Ba Vì trong ngày 10 tháng 12, kiềm chế pháo binh địch ở cứ điểm Chẹ. Trung đoàn bộ binh 36 bố trí đánh địch ứng cứu giải tỏa trên sông Đà, đường liên tỉnh Hòa Bình - Phú Thọ. Lực lượng tiến công địch trong công sự vận dụng kết hợp thủ đoạn đột phávới thọc sâu, bao vây, chia cắt, kiên quyết đánh địch trong công sự với chủ động truy kích địch rút chạy bằng hỏa lực, xung lực. Nghệ thuật vận dụng linh hoạt, kết hợp chặt chẽ các biện pháp chiến dịch đã góp phần quan trọng làm suy yếu địch, hỗ trợ kịp thời cho đánh thắng trận then chốt.


Thắng lợi của Chiến dịch tiến công Hòa Bình có ý nghĩa chiến lược trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đánh dấu sự trưởng thành mọi mặt của Quân đội ta. Trong đó, nghệ thuật tiến hành trận then chốt có bước phát triển cả về tư duy xác định mục tiêu mở đầu, lập thế, điều hành tác chiến, chỉ đạo vận dụng hình thức chiến thuật và biện pháp chiến dịch. Mặc dù trận then chốt trong Chiến dịch Hòa Bình đã diễn ra cách đây 70 năm nhưng đến nay các bài học kinh nghiệm vẫn có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đây là cơ sở quan trọng để Quân đội ta vận dụng vào huấn luyện tác chiến, nghiên cứu khoa học quân sự, phát triển nghệ thuật chiến dịch tiến công trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong tương lai (nếu xảy ra).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #137 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2025, 07:30:26 pm »

PHỐI HỢP TÁC CHIẾN GIỮA MẶT TRẬN SAU LƯNG ĐỊCH TRUNG DU VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
VỚI MẶT TRẬN CHÍNH DIỆN HÒA BÌNH

Đại tá, TS TRẦN VĂN THỨC
Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Pháp,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Sau khi quân Pháp đánh chiếm Hòa Bình, Ban Chấp hành Trung ương ra Chỉ thị số 22-CT/TƯ ngày 24 tháng 11 năm 1951 "về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch" xác định nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Chỉ thị nêu rõ:

"1. Đánh và chiếm Chợ Bến và Hòa Bình, địch phải phân tán các đội ứng chiến của chúng trên một mặt trận rộng lớn, rừng núi hiểm trở, công sự chưa kịp xây dựng, chưa kịp củng cố. Đó là cơ hội tốt để ta đánh địch.

2. Địch dùng phần lớn lực lượng Âu - Phi tinh nhuệ của chúng ở Hòa Bình, buộc phải sơ hở các mặt trận khác và ở sau lưng địch. Đó cũng là cơ hội tốt để ta đánh địch trên các mặt trận ấy và hoạt động mạnh trong vùng du kích nhất là ở tả ngạn Hồng Hà. Vậy ta phải nắm cơ hội tốt này tranh thủ thời gian để đánh địch, tiêu diệt sinh lực địch trên mặt trận Chợ Bến, Hòa Bình, trên các mặt trận khác và khắp vùng du kích sau lưng địch, nhằm mục đích phá âm mưu quân sự mới của địch"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 596).


Trung ương Đảng chủ trương mở một cuộc tiến công lớn ở hướng chính là Hòa Bình đồng thời ở mặt trận sau lưng tích cực phối hợp tác chiến nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tạo thế trận tổng hợp phá tan kế hoạch của địch trong Đông - Xuân 1951 - 1952. Theo đó, Bộ Quốc phòng xác định quyết tâm phá tan âm mưu của địch trong Đông - Xuân 1951 - 1952, nhấn mạnh việc địch đưa lực lượng vào chiến trường Hòa Bình là cơ hội tốt để tiêu diệt chúng, đồng thời phải đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các nơi sau lưng địch hiện đang sơ hở. Để tận dụng kịp thời cơ hội này, quân và dân ta phải tranh thủ thời gian, vừa chuẩn bị vừa ra trận, khắc phục mọi khó khăn, đánh cho địch những đòn nặng.


Triển khai kế hoạch tác chiến, Bộ Quốc phòng huy động 3 đại đoàn bộ binh (308, 312, 304), Đại đoàn công pháo 351 cùng lực lượng vũ trang tỉnh Hòa Bình mở chiến dịch tiến công địch ở mặt trận chính diện Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952). Đồng thời, tại mặt trận sau lưng địch - trung du và đồng bằng Bắc Bộ, 2 đại đoàn (320, 316) và Trung đoàn 246 trực thuộc Bộ cùng các đơn vị chủ lực Liên khu 3 và lực lượng vũ trang địa phương các tỉnh trung du và đồng bằng Bắc Bộ, thực hiện phối hợp với mặt trận chính diện Hòa Bình, tiến công địch ở khắp nơi, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích rộng khắp.


Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng, Ban Chỉ huy Mặt trận đồng bằng Bắc Bộ được thành lập do đồng chí Lê Thanh Nghị - Bí thư Liên khu ủy kiêm Chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 3 làm Trưởng ban, các đồng chí ủy viên Thường vụ Liên khu ủy 3, Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn 320 là thành viên.


Ngày 27 tháng 11 năm 1951, Ban Chỉ huy Mặt trận đồng bằng Bắc Bộ họp xác định kế hoạch đẩy mạnh tác chiến, phối hợp với mặt trận Hòa Bình. Theo đó, Đại đoàn 320 và Trung đoàn 42 chủ lực Liên khu 3 cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích đẩy mạnh tác chiến trên nhiều nơi thuộc địa bàn Liên khu 3.


Đêm 9 rạng sáng ngày 10 tháng 12 năm 1951 các trung đoàn 48, 52 (Đại đoàn 320) hành quân vượt qua nhiều làng tề phối hợp cùng bộ đội địa phương tỉnh Ninh Bình tiến đánh địch ở Phát Diệm. Dưới sự chỉ huy của Tỉnh đội Ninh Bình, bộ đội địa phương, dân quân du kích các huyện Yên Mô, Gia Viễn, Gia Khánh,... liên tục bao vây, quấy rối, kiềm chế các vị trí địch ở Chợ Trung, Phươc Nhạc, Bình Hải, Dương Điền, Đò Mười, Bình Hòa; buộc địch phải tháo chạy khỏi các vị trí Tuy Lộc, Lộc Bà, Bình Sa. Ngày 4 tháng 1 năm 1952, một đơn vị của Đại đoàn 308 cùng dân quân du kích Khánh Trung - Khánh Thiện chủ động đánh địch bỏ gãy nhiều cuộc tiến công của chúng, giữ vững Khu du kích Khanh Trung - Khánh Thiện.


Được sự hỗ trợ của Trung đoàn 64, bộ đội địa phương cùng dân quân du kích Hà Nam liên tục chiến đấu, tiêu diệt, tiêu hao nhiều sinh lực địch, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với binh địch vận phá vỡ hàng loạt vị trí tề dõng, xây dựng cơ sở chính trị và làng xã chiến đấu ở nhiều nơi. Nhiều khu du kích được hình thành, chính quyền cách mạng đã phát huy hiệu quả trong việc giúp dân Ổn định đời sống, tổ chức sản xuất; lực lượng dân quân du kích phát triển mạnh mẽ.


Dù không có bộ đội chủ lực tăng cường nhưng các tỉnh Hà Đông Sơn Tây đã huy động bộ đội địa phương và dân quân du kích tận dụng thời cơ tấn công địch. Chỉ trong thời gian ngắn các vị trí Quang Tó, Canh Hoạch, Chợ Dầu, Chương Dương, Cầm Cơ của địch bị xóa bỏ. Bằng áp lực quân sự kết hợp với binh vận ta đã bức rút các vị trí Lường Dụ, Lạc Đạo, La Phù, Lộc Dư, Tneu Đông và một số vị trí ở các đường số 71, 72, 73. Vào cuối tháng 12 năm 1951, Tỉnh ủy Hà Đông mở đợt tổng phá tề, phục hồi cơ sở ở 171 thôn, mở 5 khu du kích ở Nam Ứng Hòa, Đông và Tây Phú Xuyên, Đông Thường Tín và Nam Liên Nam.


Sau khi đã mở rộng vùng giải phóng, tạo thế đứng chân ờ Ninh Bình và Hà Nam, cuối tháng 12 năm 1951, Ban Chỉ huy Mặt trận đồng bằng quyết định đưa Trung đoàn 48 và 52 tiến vào Nam Định cùng lực lượng vũ trang địa phương tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng khu du kích, đồng thời mở đường cho lực lượng Đại đoàn 320 tiến sang Thái Bình.


Đêm 28 và 29 tháng 12, Tiểu đoàn Yên Ninh (Trung đoàn 52) và Tiểu đoàn Thanh Lũng (Trung đoàn 48) vượt sông Đáy tiến công các vị trí Hải Lạng, Phù Sa, Nam Trực, Ngọc Tịnh, nhưng không thành công. Tuy vậy, sự xuất hiện của bộ đội chủ lực khiến cho binh lính địch ở Phù Sa, Liễu Đề hốt hoảng bỏ chạy. Nắm bắt cơ hội, Huyện ủy Nghĩa Hưng lãnh đạo quân dân địa phương nổi dậy diệt đồn Chương Nghĩa, phá toàn bộ tổ chức hội tề của địch ở các xã trung tâm huyện. Đầu tháng 1 năm 1952, bộ đội địa phương và Trung đoàn 64 đột nhập vào thành phố Nam Định tiến công địch ở nhiều vị trí. Sau khi đánh vào các vị trí Nam Trực, Ngọc Tịnh, Vân Đàn không thành công, bộ đội ta chuyển sang bao vây, dùng áp lực quân sự kết hợp binh vận, uy hiếp địch, hỗ trợ cho nhân dân các huyện phía Nam Nam Định phá tề, trừ gian và chuyển sang đánh phục kích.


Đêm 13 tháng 1 năm 1952, Đại đoàn 320 (thiếu Trung đoàn 64) trở lại vùng địch hậu phía Nam Nam Định. Ngày 14 tháng 1 Tiểu đoàn 337 cùng bộ đội địa phương Nam Định phục kích tại làng Kiên Trung. Tiếp đó, Tiểu đoàn Thanh Lũng phục kích ở Thẫn Lỗ. Đến giữa tháng 1 năm 1952, trên địa bàn Nam Định ta đã bức rút, bức hàng 40 vị trí, diệt và phá bỏ 87 trong 107 ban tề vũ trang, mở ra các khu du kích, căn cứ du kích ở miền Nam tỉnh, các khu du kích của ba huyện phía Bắc được khôi phục, nối liền với các khu du kích của Hà Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #138 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2025, 07:31:46 pm »

Chớp thời cơ quân địch hoang mang dao động trước đòn tấn công của Đại đoàn 316 trên địa bàn Bắc Ninh, quân dân Cẩm Giàng (Hải Dương) nổi dậy phá tề, mở rộng khu du kích Vĩnh Giang, Bình Định. Ngày 15 tháng 12, bộ đội Cẩm Giàng cùng bộ đội huyện Gia Lương (Bắc Ninh) giành thắng lợi trong trận chống càn ở thị trấn Cẩm Giàng. Đêm 19 tháng 12, bộ đội và du kích Thanh Hà diệt đồn hương dũng ở huyện lỵ Thanh Hà, giải tán vị trí Thừa Liệt, tiêu diệt vị trí An Liệt, Đông Phan và xóm 6 xã Minh Phúc, mở khu du kích, uy hiếp Đường số 190. Ngày 20 tháng 12, diệt vị trí tổng dũng Văn Thai, tháp canh Đan Tràng; du kích dọc đường sắt Hà Nội - Hải Phòng và Đường số 5 liên tục mở các đợt tiến công uy hiếp con đường vận chuyển của địch. Quân dân Nam Sách đánh tan gần 80 tháp hương canh, hương đồn, phá thế kìm kẹp địch lập từ ngày đầu lấn chiếm.


Đầu năm 1952, với sự trợ giúp của Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316), lực lượng vũ trang Hải Dương đẩy mạnh tiến công địch, diệt vị trí Hồ; diệt 3 đồn hương dũng ở Thanh Hà; phục kích ở Cầu Rạng; bộ đội tỉnh tập trung hoạt động ở Nam Gia Lộc, Bắc Thanh Miện, bức rút một số vị trí, xây dựng khu du kích trên địa bàn xã Phạm Kha và xã Đồng Quang.


Đêm mùng 3 tháng 2, Trung đoàn 174 và lực lượng vũ trang địa ta mở đợt hoạt động lớn ở Bình Giang tiêu diệt hơn 20 vị trí, bắt hơn 300 tên địch, thu 40 súng các loại. Các xã Hồng Mi, Vĩnh Thị, Thúc Khanh, Tân Hồng, Bình Minh trở thành khu du kích liên hoàn. Trong các đêm 17 và 19 tháng 2, Đại đội Quang Trung (Cẩm Giàng) tiến công tiêu diệt Hà Xá, Phí Xá. Trung đoàn 42 tập kích vị trí An Lại (Tứ Kỳ), tiêu diệt vị trí Văn Độ, Tiểu khu Phương Điếm cùng nhiều vị trí khác.


Tại Hưng Yên, đêm mùng 7 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 664 (Trung đoàn 42) phục kích ở An Tảo, cách thị xã 2km, diệt gọn đại đội Commăngđô. Cùng lúc đó, tiểu đoàn bộ đội tỉnh bức rút các vị trí ở Tây Nam huyện Yên Mỹ, giải phóng các xã Hoàng Long, Yên Phú và một phần xã Dân Chủ. Quá hoảng sợ, đêm mùng 8 tháng 12, đơn vị bảo chính đoàn đóng ở Thượng Tài bỏ chạy, một nửa xã Thanh Long được giải phóng. Cùng ngày, đại đội bộ đội tỉnh tiến sang phía Đông huyện Văn Giang diệt đồn Nhân Nội, uy hiếp vị trí Đa Ngưu, giải phóng xã Tân Tiến. Cũng trong đêm mùng 8, Tiểu đoàn 664 diệt đồn An Tảo, uy hiếp thị xã Hưng Yên từ hướng Bắc. Đại đội huyện Tiên Lữ và dân quân du kích diệt đồn Vân Phương, bức rút đồn Đông Chiểu, An Chiểu, Phương Chiểu, Hải Yên,... Vành đai phòng thủ phía Đông thị xã Hưng Yên bị phá bung, Đường số 39 bị cắt đứt, tuyến giao thông thủy trên sông Luộc bị ta khống chế trên quãng dài 20km. Vùng giải phóng phía Đông thị xã Hưng Yên - phía Tây Tiên Lữ được nối liền với căn cứ du kích Hưng Nhân (Thái Bình).


Ngày 7 tháng 2 năm 1952, Tiểu đoàn 664 và lực lượng vũ trang Hưng Yên tiến hành hàng chục trận chiến đấu, diệt một số đồn bốt và binh lính địch, trực tiếp uy hiếp sân bay Gia Lâm và thế phòng thủ phía Đông Nam Hà Nội.

Lực lượng vũ trang và nhân dân tỉnh Kiến An đẩy mạnh tiến công quân sự trên toàn địa bàn, tiêu hao sinh lực địch đồng thời phát động đấu tranh chính trị, khôi phục và phát triển cơ sở trong vùng tạm chiếm, phục hồi khu du kích Tiên Lãng, Vĩnh Bảo. Khu du kích Tiên Lãng - Vĩnh Bảo được khôi phục và giữ vững càng củng cố thêm niềm tin vào sức mạnh của chiến tranh nhân dân nơi năm sâu trong vùng địch hậu.


Sau những thành công trên mặt trận Ninh Bình, Hà Nam, Nam Định, ngày 25 tháng 1 (29 Tết Nhâm Thìn), Đại đoàn 320 đã vào Thái Bình an toàn. Ngày 26 tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn Đống Đa (Trung đoàn 48) phối hợp cùng du kích phục kích trên Đường số 39, đánh tan 1 trung đội Âu - Phi. Trận mở màn thắng lợi đã gây tiếng vang lớn. Thừa thắng, bộ đội và du kích tiêu diệt luôn 3 vị trí ở Tiền Hải và Đông Hưng làm rung chuyển hệ thống chiếm đóng của Pháp ở Nam thị xã Thái Bình.


Thực hiện kế hoạch mở rộng khu du kích phía Nam sông Trà Lý, rạng sáng ngày 31 tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn Đống Đa và Tiểu đoàn pháo binh 834 tiến công tiêu diệt Chi khu quân sự La Cao. Nghe tin La Cao thất thủ, quân địch ở các đồn Vũ Lăng, Giáo Nghĩa (Kiến Xương) mang súng quy hàng, quân ở Trà Lý (Tiền Hải) bỏ đồn tháo chạy.


Phát huy chiến thắng La Cao, bộ đội và du kích liên tiếp tổ chức đánh phục kích, công kiên diệt đồn bốt địch. Tiểu đoàn 66 bộ đội địa phương tỉnh bao vây bức hàng 9 vị trí vệ sĩ Công giáo, giải phóng huyện Tiền Hải. Tiếp đó, đơn vị tiến quân về phía Nam huyện Vũ Tiên, Kiến Xương phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiêu diệt và bức hàng 12 vị trí lớn nhỏ.


Trong khi đó, Trung đoàn 52 (Đại đoàn 320) và một bộ phận pháo binh của Đại đoàn vượt sông Trà Lý tiến công địch ờ Thái Ninh Thụy Anh, Đông Quan. Trong các ngày 9 và 10 tháng 2, Trung đoàn 52 tổ chức bao vây các vị trí Trà Linh, Diêm Điền, Đông Hòa, Bình Lạng (Thụy Anh).


Ở phía Nam Đường số 10, các tiểu đoàn Tiên Yên, Kiên Trung, Thanh Lũng (Đại đoàn 320) đã phối hợp với du kích, bộ đội địa phương tiến hành bao vây, bức hàng, bức rút hàng loạt vị trí địch ở Thái Ninh, Thụy Anh, Phụ Dực, Duyên Hà. Phát huy tinh thần chủ động, lực lượng vũ trang các huyện phía Bắc tổ chức bao vây, bức rút một số vị trí như Hải An, Đồng Phó, An Lạc, trong đó có những vị trí có trên đại đội chốt giữ như Tạ Xá (Tiên Hưng), Nguyệt Lãng (Thư Trì), cẩm Phán (Quỳnh Côi),...


Ngày 8 tháng 2, Tiểu đoàn Tiên Yên tiến lên miền Bắc Thái Bình, bao vây, bức hàng các vị trí Dốc Văn, Phú Vật; bộ đội địa phương, dân quân, du kích các huyện Hưng Nhân, Duyên Hà, Quỳnh Côi bức rút 5 vị trí, phục hồi khu du kích, căn cứ du kích Tiên - Duyên - Hưng.


Tiếp đó, Đại đoàn 320 điều động Tiểu đoàn 706 (Trung đoàn 64) từ Hà Nam sang đánh đồn Đào Thành (Thái Bình), Tiểu đoàn Tiên Yên làm nhiệm vụ đánh viện ở Hà Nguyên. Bốt Đào Thành bị phá, nhân dân địa phương phấn khởi mở cống đưa nước về đồng ruộng, kịp thời gieo cấy vụ mùa.


Ngày 15 tháng 2, Tiểu đoàn Trung Thành và Thanh Lũng (Trung đoàn 42 Đại đoàn 320) cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích chặn đánh quyết liệt cuộc càn của địch ở Thái Ninh, Thụy Anh.

Được sự hỗ trợ của Đại đoàn 316, Trung đoàn 246 chủ lực Bộ và Trung đoàn 238 chủ lực Liên khu 3, quân dân các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc đẩy mạnh hoạt động tiến công địch, củng cố thế trận chiến tranh nhân dân trên địa bàn.

Các trung đoàn (174 và 98 của Đại đoàn 316) tiến vào phía Bắc tỉnh Bắc Ninh tiêu diệt một số vị trí địch trên Đường số 18. Trong những ngày cuối tháng 12, lực lượng vũ trang ở Bắc Ninh chủ động tiến công, bẻ gãy nhiều cuộc càn của địch ở Gia Phó, Lĩnh Mai; phục kích trên Đường số 18 đánh bốt Đậu (Thuận Thành), uy hiếp các vị trí địch ở cầu Đuống và thị trấn Gia Lâm.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #139 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2025, 07:33:10 pm »

Tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn Thiên Đức (Bắc Ninh) cùng các đơn vị chủ lực của Bộ đánh phá nhiều vị trí ở Nam phần Bắc Ninh. Đại đội 317 (Tiểu đoàn 249) "độn thổ" phục kích trên Đường số 20. Ngày 15 tháng 1 năm 1952, các đơn vị của Đại đoàn 316 phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích diệt đồn Vân Thái, bức rút đồn Am Trai (Gia Lương), giải tán hội tề ở Cường Tráng. Tiểu đoàn 439 diệt đồn Kênh Vàng, bức rút đồn bảo an Đan Giàng, mở rộng vùng giải phóng Gia Lương, mở đường sang huyện Nam Sách (Hải Dương).


Tiểu đoàn 251 (Trung đoàn 174) cùng dân quân du kích đánh vị trí Đam Trai. Một bộ phận của Trung đoàn 98 bức hàng vị trí Mão Điền bên bờ sông Đuống. Tiểu đoàn Thiên Đức diệt đồn Tiên Xá. Trong 2 ngày 7 và 8 tháng 2, Trung đoàn 98 cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích vây hãm vị trí Thiên Thai. Ngày 22 tháng 2, Tiểu đoàn 938 (Trung đoàn 98) phối hợp với du kích địa phương giải tán hội tề ở làng Đồng Kỵ. Các trận tiến công của lực lượng vũ trang ta đã làm cho tình hình địch ở Bắc Ninh xấu đi rõ rệt. Tỉnh trưởng Bắc Ninh phải cấp báo "Tình hình ở đây hết sức nguy ngập, Việt Minh hoành hoành dữ dội và đã chiếm được nhiều nơi, riêng huyện Thuận Thành có 69 làng thì 68 làng theo Việt Minh, còn Lạc Thổ có bốt đóng cũng có ý định cắt đứt với Chính phủ Quốc gia để ngả về Việt Minh"1 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bắc Ninh, Bắc Ninh lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 228).


Thực hiện chỉ thị của Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái, Đại đoàn 316 vừa chuẩn bị chống càn quét vừa khẩn trương phát triển vùng hoạt động sang Nam Sách (Hải Dương). Ngày 23 tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn 249 và 255 (Trung đoàn 174) vượt sông Thái Bình sang phối hợp tác chiến với tiểu đoàn chủ lực Quảng Yên.


Tại Bắc Giang, ngày 6 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 61 của tỉnh phục kích tại Quỳnh Sơn, Chợ Rào. Trung đoàn 176 (Đại đoàn 316) liên tục uy hiếp địch trên Đường số 13. Đại đội 812, 813 đánh địch mở rộng vùng tự do Lạng Giang. Từ trung tuần tháng 12 năm 1951, các đơn vị của Tiểu đoàn 888 (Trung đoàn 176) luồn sâu đánh địch ở Yên Dũng, hỗ trợ cho chiến tranh du kích phát triển. Cuối tháng 12, Tiểu đoàn 61 cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích Yên Dũng, Lạng Giang đẩy mạnh diệt tề, trừ gian, bức rút các đồn hương dũng, làm tan rã chính quyền cơ sở của địch ở nhiều nơi, mở thêm các khu du kích ở Yên Dũng, Nam Lạng Giang, Nam Việt Yên, hình thành căn cứ du kích gồm 88 thôn, trải dài 20km nối liền với khu du kích Tiên - Quế - Võ (Bắc Ninh).Tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn 61 cùng bộ đội huyện và dân quân du kích Yên Dũng chống càn ở Am Trứ, Đức La. Tiếp đó, ngày 30 tháng 1, Tiểu đoàn 61 phối hợp với bộ đội huyện Lạng Giang phục kích trên Đường số 13, đoạn từ thị xã Bắc Giang đến Kế.


Ở Vĩnh Phúc, quân và dân địa phương đồng loạt tiến công các vị trí Đông Đồ, Tàng Mi (Đông Anh), Phù Lỗ Đông (Kim Anh), Trung Hà, Ngọc Long, Ngọc Tường (Yên Lãng); tiến hành tổng phá tề, lùng bắt trừ diệt bọn phản động, làm tan rã hoàn toàn các bốt hương dũng, bảo an ở Yên Lãng và một phần Bình Xuyên, giải phóng 20 xã phía Nam thị xã Phúc Yên.


Tóm lại, từ tháng 12 năm 1951 đến cuối tháng 2 năm 1952, mặt trận sau lưng địch - trung du và đồng bằng Bắc Bộ đã phối hợp tác chiến với mặt trận chính diện Hòa Bình, tiến công địch cả về quân sự và chính trị rộng khắp, tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu hơn 15.000 binh lính, diệt 160 cứ điểm do quân chủ lực của địch chiếm giữ, triệt phá trên 1.000 vị trí do bọn tề vũ trang, tổng dõng vệ sĩ, thu và phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh. Tổng diện tích số làng xã được giải phóng lên đến 4.800km2, bằng hai phần ba diện tích của đồng bằng châu thổ, hơn 2 triệu đồng bào thoát khỏi ách kìm kẹp của kẻ thù, khu du kích, căn cứ du kích được mở hầu hết ở các huyện trên địa bàn đồng bằng, bao gồm 109 xã, 842 thôn; khu du kích bao gồm 163 xã và 1.469 thôn với số là 3.038.265 người1 (Vũ Quang Hiển, Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 160, 161, 162). Nhiều khu du kích, căn cứ du kích liên huyện, liên tỉnh được xuất hiện tạo thành thể liên hoàn từ Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh qua Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây. Phần lớn kết quả bình định đồng bằng Bắc Bộ theo kế hoạch Đờ Lát của quân Pháp đã bị phá vỡ2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 -1954), Tập 5 - Phát triển thế tiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 464).


Kể từ ngày đầu cuộc chiến tranh (23.9.1945 đến cuối 1951 đầu năm 1952), hao tổn về binh lực, phương tiện chiến tranh ở mặt trận sau lưng và mặt trận chính diện Hòa Bình là thiệt hại lớn nhất của Pháp. Thắng lợi của quân và dân ta ở mặt trận sau lưng địch trung du và đồng bằng Bắc Bộ là thắng lợi "cực kỳ quan trọng về tiêu diệt địch, giải phóng đất đai, đặc biệt là tạo nên thế trận mới chưa từng có của ta ở vùng địch tạm chiếm ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 6). Âm mưu củng cố phòng tuyến, tiến công ra vùng tự do của ta và giành lại quyền chủ động của thực dân Pháp bị thất bại nặng, "chẳng những chúng không giành lại được quyền chủ động mà lại trở thành bị động hơn trước"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 46). Phía thực dân Pháp cũng phải thừa nhận: "Cuộc hành quân chấm dứt bằng cuộc rút chạy của chúng ta trong những điều kiện khó khăn mà không đạt được một kết quả chiến lược nào. Rủi thay, cuộc chiến ở Hòa Bình đã giữ chân lực lượng cơ động của ta ở xa đồng bằng qua lâu do đó đã tạo điều kiện cho Việt Minh xâm nhập vào đây với số lượng lớn. Và từ đó, bắt đầu tình trạng "ruỗng nát" mỗi ngày một tăng, dần dần làm bất động đại bộ phận đạo quân viên chinh. Đối phương đã giành thắng lợi căn bản"3 (Henri Nava, Thời điểm của những sự thật, Nguyễn Huy cầu dịch, Nxb Công an nhân dân - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội, 1994, tr. 43-44).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM