Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 02:39:09 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng  (Đọc 45856 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #170 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2025, 07:14:44 pm »

VẬN DỤNG SÁNG TẠO PHƯƠNG CHÂM "ĐÁNH ĐIỂM, DIỆT VIỆN" VÀ "LIÊN TỤC CHIẾN ĐÂU" GIÀNH THẮNG LỢI TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Đại tá, PGS, TS HOÀNG XUÂN NHIÊN
Khoa Chiến lược - Học viện Quốc phòng


Chiến dịch tiến công Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952) là chiến dịch lớn nhất kể từ khi ta mở đầu toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (12.1946) đến cuối năm 1951. Thắng lợi của chiến dịch có vai trò quan trọng trong việc phá tan âm mưu giành lại quyền chủ động của quân Pháp trên chiến trường Bắc Bộ, đẩy địch vào tình thế ngày càng khó khăn hơn. Đặc biệt, trong chiến địch, ta đã có chủ trương đúng và vận dụng tốt hai phương châm tác chiến chiến dịch: "Đánh điểm, diệt viện" và "liên tục chiến đấu". Đây là hai điểm đặc sắc của phương pháp tác chiến chiến dịch và cũng là một trong những nguyên nhân rất quan trọng trực tiếp quyết định thắng lợi của chiến dịch tiến công Hòa Bình.


Thứ nhất, về vận dụng phương châm "đánh điểm diệt viện "

Thực ra, "đánh điểm, diệt viện" là một trong những cách đánh sở trường đã được bộ đội ta vận dụng sớm và có hiệu quả ngay ở giai đoạn đầu chiến tranh, cũng như trong suốt quá trình chiến tranh. Phương pháp tác chiến này được vận dụng khi ta chưa đủ khả năng đột phá tiêu diệt lớn địch phòng ngự trong công sự và chủ trương lấy tiêu diệt sinh lực địch là chính; hoặc khi ta có lực lượng mạnh nhưng tránh phải đột phá không cần thiết, giảm được tiêu hao về lực lượng, phương tiện; nhất là, ta có thể thực hiện "lấy ít địch nhiều" theo tư tưởng tác chiến "công ở chỗ không có thành, đánh ở chỗ không có luỹ, chiến ở nơi không có trận", tiêu diệt địch, bồi dưỡng phát triển lực lượng ta... Trong đó, "đánh điểm" là tạo ra tình huống và thời cơ, tạo phản ứng dây chuyền để thực hiện mục đích chiến dịch, chiến đấu; còn "diệt viện" chỉ được tiến hành sau khi "đánh điểm" có kết quả, nhưng lại là mục đích chủ yếu của chiến dịch và cũng là nội dung căn bản khi vận dụng cách đánh này.


Trong Chiến dịch Hoà Bình, Đờ Lát đờ Tátxinhi đã huy động một lực lượng cơ động lớn ra phân tán trên một chiến trường đột xuất ở rừng núi1 (Từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 11 năm 1951, địch đã dùng 20 tiểu đoàn tinh nhuệ bộ binh và quân nhảy dù phối hợp hoạt động, tấn công chiếm đóng Hòa Bình). Khu Hòa Bình địch bố trí 4 tiểu đoàn trong thị xã và hình thành 6 cứ điểm nhỏ, phân tán theo Đường số 62 (Theo phân tích của Tổng Quân ủy, (trong thời điểm đó), nếu ta tác chiến lớn ở khu Hòa Bình thì việc cung cấp khó khăn và không tranh thủ được thời gian)... Khu sông Đà địch bố trí 5 tiểu đoàn chiếm đóng, gần đó còn có 2 tiểu đoàn của Trung đoàn cơ động số 4. Địch chia lực lượng thành hai khu then chốt phòng ngự (La Phù - Đan Thê và Tu Vũ - Núi Chẹ), mỗi nơi chúng bố trí 2 tiểu đoàn bộ binh, ngoài ra còn có tiểu đoàn nhảy dù ở Đá Chông. So sánh hai khu then chốt phòng ngự của địch ở khu sông Đà, Tổng Quân ủy nhận thấy: Địch ở khu then chốt La Phù - Đan Thê mạnh hơn; địch ở khu then chốt Tu Vũ - Núi Chẹ tương đối yếu hơn do các vị trí bố trí của chúng tương đối cô lập, cách xa nhau và ở khá xa căn cứ Sơn Tây - Trung Hà; nhất là từ căn cứ của địch đến khu then chốt này chỉ có một đường giao thông thủy là sông Đà và một đường giao thông bộ là đường Đá Chông - Núi Chẹ...


Căn cứ vào sự phân tích tình hình địch - ta, với những thuận lợi và khó khăn nói trên, Tổng Quân ủy quyết định tập trung lực lượng tiêu diệt địch ở Tu Vũ và Núi Chẹ, đồng thời tranh thủ đánh viện trên sông, trên bộ và bên hữu ngạn sông Đà... Thực hiện chủ trương đó, Tổng Quân ủy đã chỉ đạo bộ đội chủ lực áp dụng phương châm đánh điểm diệt viện (tùy theo điều kiện cụ thể, có thể vây điểm, diệt viện); đồng thời, nhấn mạnh: Trong đánh điểm, ta phải hết sức tranh thủ đánh sớm để giải quyết xong cuộc chiến đấu trong 1 đêm và phải chuẩn bị đánh địch ban ngày, cũng như hết sức tạo cơ hội diệt viện ban đêm; trong đánh viện, ta phải chuẩn bị tiêu diệt viện đường thủy, đường bộ, cơ giới, nhảy dù. Phương châm tác chiến của ta là: "Đánh điểm, diệt viện, tranh thủ diệt viện"; cách đánh có thể là: Phục kích, tập kích, kỳ tập, quấy rối, phá hoại, đánh sâu vào địch hậu, đánh điểm nhỏ, diệt viện nhỏ, vận động tiêu diệt địch đi càn quét hoặc tuần tiễu và sẵn sàng chuẩn bị để khi có điều kiện thì đánh điểm lớn vả diệt viện lớn... Triển khai ý định đó, trong kế hoạch tác chiến của ta xác định: Ở mặt trận chính diện ta đồng thời đánh địch cả trên Đường số 6 và khu vực Ba Vì, sông Đà. Trên chiến trường Đường số 6 thì đánh điểm, diệt viện, phá giao thông tiếp vận của địch; trên chiến trường Ba Vì, sông Đà thì tập kích pháo, đánh điểm nhỏ, diệt viện nhỏ, chặn hoặc diệt viện lớn; đồng thời cho một bộ phận hoạt động sâu vào địch hậu, giúp đỡ bộ đội địa phương, dân quân du kích Sơn Tây, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở địch hậu Sơn Tây...


Chủ trương vận dụng phương châm tác chiến "đánh điểm, diệt viện" của Tổng Quân ủy trong Chiến dịch tiến công Hòa Bình là hoàn toàn đúng đắn, bởi vì: Chủ lực của ta lúc đó chưa đủ điều kiện và khả năng tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm của địch; do đó, ta đã chủ trương (và đủ khả năng) đánh một số điểm để khêu ngòi, tạo điều kiện tiêu diệt quân viện là chủ yếu. Ở đây "đánh điểm" chỉ là thứ yếu, nên ta không đánh tất cả các cụm cứ điểm, các cứ điểm trong hệ thống tập đoàn cứ điểm địch, mà chỉ đánh một số cứ điểm, tạo điều kiện buộc địch phải đi viện... Như vậy, nhận thức về "đánh điểm" của ta có "mở rộng" hơn trước; "điểm"có thể là tiến công diệt gọn cứ điểm, cụm cứ điểm, cũng có thể là vây hãm, bức hàng, bức rút cứ điểm, cụm cứ điểm của địch... Việc đánh địch ra viện trong Chiến dịch Hòa Bình cũng có nét mới và phức tạp, khó khăn hơn đánh địch viện trong Chiến dịch Biên Giới (cuối tháng 10 đầu tháng 11 năm 1950), vì địch ra viện đường bộ ở Hòa Bình trong thể liên hoàn của tập đoàn cứ điểm, nên chúng phát huy được ưu thể cả về hỏa lực, xung lực và cơ động trên địa hình trống trải (sát liền với các căn cứ hậu phương của chúng). Mặc đù vậy, sự phát triển của nghệ thuật "đánh điểm, diệt viện" trong Chiến dịch Hòa Bình biểu hiện rõ, ở chỗ: Ta đã tận dụng địa hình của dãy núi Ba Vì, mạnh dạn đưa một số đại đoàn chủ lực vào sâu bên trong "phòng tuyến Sông Đà" của địch để thực hiện đánh viện. Tận dụng chỗ yếu của địch là chưa tổ chức kiểm soát được chặt chẽ địa bàn chúng mới đánh chiếm, ta ém quân ở những nơi địch sơ hở, bất ngờ để thực hiện những trận đánh vận động hết sức táo bạo như ở Ninh Mít và trên Đường số 87.


Đặc biệt, trong chiến dịch này ta đã thực hiện tốt một số trận đánh viện đường thủy trên sông Đà, trong đó có trận Lạc Song, quân ta đã nhấn chìm cả đoàn ca nô, tàu chiến của địch. Nhiều đơn vị đã vận dụng linh hoạt chiến thuật tập kích, tiêu diệt những cụm quân địch lâm thời phòng ngự ở bình độ 600 và 400 Ba Vì, tập kích sâu vào trận địa hỏa lực trong thị xã Hòa Bình... Đồng thời, nắm vững phương châm "đánh điểm, diệt viện", Đại đoàn 304 tích cực đánh địch tăng viện tiếp tế trên Đường số 6, bao vây uy hiếp địch trong thị xã, buộc chúng phải "bung ra" giải toả để ta tiêu diệt. Cũng trong chiến dịch, ta còn kết hợp tích cực diệt viện nhỏ và đánh càn để giữ thế, tạo thế và thời cơ cho những trận đánh viện vừa, đó là một phát triển mới... Tuy nhiên, về đánh điểm trong chiến dịch này vẫn còn bộc lộ một số thiếu sót. Trong các trận đánh điểm quan trọng, chỉ có trận Tu Vũ là giành thắng lợi, còn trận Pheo và Đầm Huống đã không thành công. Cũng dokhông dứt điểm hai trận đánh này, nên ta không cắt được Đường số 6, dẫn đến kết quả đánh địch rút chạy khỏi thị xã Hòa Bình đat kết quả thấp.


Ngoài ra, ở mặt trận vùng địch hậu, lúc đầu các đơn vi có khuynh hướng đánh những cứ điểm quan trọng để giải phóng đất đai, để mở rộng khu Căn cứ (Phố Mới, Nam Trực...), vì vây mà "không chắc thắng". Khi đó, Tổng Quân ủy đã giải thích rõ phương châm và chỉ thị là phải đánh "điểm nhỏ, viện nhỏ"... về sau, những cứ điểm nhỏ của địch tập trung thành cứ điểm tương đối lớn, Tổng Quân ủy chỉ thị phải áp dụng phương châm "vây điểm, diệt viện"... Nói chung, ở địch hậu ta nắm phương châm tương đối vững hơn ở mặt trận chính diện, vì vậy, hiệu quả đánh địch ở mặt trận địch hậu ngày càng cao hơn.


Từ thực tế vận dụng phương châm "đánh điểm, diệt viện" trong chiến dịch, đã cho ta những kinh nghiệm quý, đó là: Muốn tiêu diệt sinh lực địch phải "đánh điểm, diệt viện", chủ yếu là "diệt viện". Nếu không có điều kiện diệt viện thì phải cố gắng dùng mọi phương pháp (nghi binh, lừa địch...), dụ địch ra viện để đánh; bất đắc dĩ mới "đánh điểm" và nếu có "đánh điểm" thì cũng nhằm mục đích tạo cơ hội cho "diệt viện". Vì vậy, khi định đánh một điểm phải nghiên cứu xem đánh điểm đó có giúp gì cho việc diệt viện không và đi đôi với kế hoạch đánh điểm, cần phải có kế hoạch "diệt viện". Đồng thời, khi áp dụng phương châm "đánh điểm, diệt viện" cần bảo đảm chắc thắng (nhất là trong trường hợp đánh điểm). Muốn đánh "chắc thắng", vấn đề là không nhất thiết phải "đánh nhỏ", càng không phải là chỉ căn cứ vào truyền thống của đơn vị, mà phải nghiên cứu tình hình thật cụ thể, phân tích lực lượng, so sánh giữa ta và địch, phải bảo đảm cho ta có ưu thế binh lực, phải có kế hoạch giải quyết các khó khăn. Đối với những đơn vị khá, đã có nhiều thành tích, cấp trên cần chú trọng kiểm tra chu đáo để tránh chủ quan, khinh địch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #171 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2025, 07:16:09 pm »

Thứ hai, về vận dụng phương châm "liên tục chiến đấu "

Từ Chiến dịch Biên Giới năm 1950, ta bắt đầu có quan niệm về liên tục chiến đấu. Tuy nhiên, trong các chiến dịch trước, ta có đề ra phương châm liên tục chiến đấu và khi thực hiện thì ta đánh liên tiếp liền mấy trận trong một thời gian ngắn rồi nghỉ (nói chung, ta chỉ thực hiện liên tục chiến đấu trong thời gian ngắn...). Trong Chiến dịch tiến công Hòa Bình, Trung ương đề ra phương châm "liên tục chiến đấu" trong thời gian dài là vì âm mưu của địch rất thâm độc, chúng ta không thể phá âm mưu đó một cách nhanh chóng trong thời gian ngắn được. Hơn nữa, trình độ bộ đội ta còn kém, chưa có thể đánh lớn để thu những thắng lợi lớn ngay, vi thế ta cần hoạt động trong một thời gian dài để cộng nhiều thắng lợi nhỏ thành thắng lợi lớn, như vậy mới có thể phá được âm mưu của địch. Mặt khác, phương châm "liên tục chiến đấu" trong thời gian dài có thể thực hiện được, vì ta đánh địch trên hai mặt trận, phối hợp cả ở nội tuyến và ngoại tuyến, làm cho địch lúng tàng, do đó ta có thể duy trì được thế sơ hở của địch trong thời gian dài... Nhất là, ở Chiến dịch Hòa Bình, quan niệm về "liên tục chiến đấu" của ta khác trước, ta đánh liên tiếp mấy trận trong thời gian ngắn rồi nghỉ để củng cố và chân chỉnh; nghỉ rồi ta lại đánh, rồi lại nghỉ, cứ như vậy trong một thời gian tương đối dài... Tác dụng của phương châm này rất lớn, vì trước đây, địch cứ tưởng ta chỉ có thể tác chiến trong một thời gian ngắn và lần này, nhiều lúc địch cũng "cho là" ta đã kết thúc chiến dịch, nhưng rồi lại thấy ta hoạt động, chúng bị bất ngờ vì sự chiến đấu dẻo dai bền bỉ của bộ đội ta.


Đặc biệt, muốn đánh địch liên tục dài ngày, điều quan trọng nhất là ta phải có kế hoạch sử dụng lực lượng luân phiên tác chiến, chấn chỉnh bổ sung kịp thời. Thực hiện yêu cầu đó, khi sử dụng lực lượng ở mặt trận chính diện, Tổng Quân ủy không sử dụng toàn bộ lực lượng ngay một lúc, mà có kế hoạch sử dụng lần lượt từng đơn vị, luân phiên tác chiến và nghỉ ngơi (lúc thì thay đổi từng đại đoàn, lúc thì thay đổi từng trung đoàn...), điển hình như: Các trung đoàn 88 và 209 đánh địch trong đợt 1, sau đó được nghỉ ngơi chấn chỉnh, thay bằng các trung đoàn 102, 141 và 165 đánh địch trong đợt 2, do vậy, đến đợt 3, các trung đoàn 88 và 209 lại có thể tiếp tục tham chiến được. Trong vùng địch hậu, khi bộ đội chủ lực nghi thì bộ đội địa phương hoạt động... với cách làm đó, các đơn vị có thể thay nhau tác chiến, chấn chỉnh, học tập, rút kinh nghiệm, bổ sung quân số, trang bị và nghỉ ngơi để tăng cường sức chiến đấu.


Mặt khác, trong Chiến dịch Hòa Bình, địch đã sử dụng khối lượng lớn binh khí và máy bay, từ đó trong bộ đội phát sinh tư tưởng ngại thương vong; ở một số đơn vị, qua thắng lợi bước đầu, nảy sinh tư tưởng chủ quan tự mãn, muốn nghỉ ngơi... Lúc đầu Tổng Quân ủy cũng chưa phổ biến được kỹ phương châm "liên tục chiến đấu" nên ở đơn vị cơ sở có những biểu hiện nhận thức tư tưởng chưa đúng đắn, nhưng sau đó, Tổng Quân ủy đã kịp thời động viên chính trị, lãnh đạo tư tưởng, kiên quyết đấu tranh khắc phục những biểu hiện không phù hợp với phương châm "liên tục chiến đấu", từ đó bộ đội có ý chí quyết tâm cao và tinh thần chiến đấu bền bỉ dẻo dai. Cũng trong Chiến dịch tiến công Hòa Bình, ta đã phải chuẩn bị hậu cần trong điều kiện hết sức gấp rút, nhất là chiến dịch lại diễn ra trong dịp Tết cổ truyền của dân tộc, việc huy động nhân lực phục vụ tiền tuyến rất khó khăn, song Tổng Quân ủy đã kiên quyết cùng các cấp lãnh đạo, dân, chính, đảng ở cả Trung ương và địa phương, huy động nhân vật lực cho chiến dịch; đồng thời chú trọng chấn chỉnh tổ chức, tăng cường lãnh đạo quân y để đảm bảo việc săn sóc thương binh và tuyển mộ tân binh để bổ sung quân số cho các đơn vị.


Nhìn chung, Tổng Quân ủy đã thực hiện được phương châm "liên tục chiến đấu"; nhưng vì không có kế hoạch toàn diện nên phải giải quyết từng vấn đề và cũng gặp rất nhiều khó khăn. Việc điều động và sử dụng lực lượng cũng có lúc không hợp lý nên bộ đội bị mệt mỏi; giải quyết vấn đề cán bộ và vấn đề tân binh cũng có lúc chậm trễ, lãnh đạo tư tưởng và lãnh đạo cung cấp nhiều khi không cũng kịp thời. Nhất là, về động viên chính trị, lãnh đạo tư tưởng, lúc đầu Tổng Quân ủy không phổ biến kỹ phương châm "liên tục chiến đấu" nên dưới có một số tư tưởng sai lầm; có những đơn vị lập được công thì sinh ra tự mãn, muốn nghỉ ngơi; có đơn vị lo ngại mệt mỏi, thương vong, chất lượng bị sút..., song, Tổng Quân ủy đã kiên quyết đấu tranh chống những tư tưởng sai lầm đó. Vì vậy, trong Chiến dịch Hòa Bình, bộ đội ta đã chiến đấu liên tục tới hơn 100 ngày đêm, thời gian dài nhất của một chiến dịch từ trước tới lúc bấy giờ.


Từ thực tiễn quán triệt phương châm "liên tục chiến đấu" trong Chiến dịch tiến công Hòa Bình, cho ta những kinh nghiệm bổ ích, đó là: Nếu ta biết động viên và có kế hoạch chu đáo thì bộ đội có thể liên tục chiến đấu trong nhiều tháng, có khi lâu hơn nữa. Đồng thời, muốn chiến đấu liên tục thì phải có dự kiến, có kế hoạch toàn diện và đặc biệt chú trọng vấn đề sử dụng lực lượng và điều động bộ đội ngay từ khi bắt đầu chuẩn bị chiến dịch và cả trong quá trình thực hành tác chiến. Trong quá trình liên tục chiến đấu, vấn đề phổ biến phương châm và lãnh đạo tư tưởng cũng luôn có vai trò cực kỳ quan trọng. Nếu phương châm được thấu triệt, tư tưởng được thông, thì khả năng khắc phục khó khăn của quần chúng rất lớn (vấn đề cải tạo địa hình ở Đường số 6 để tránh máy bay, pháo binh địch; vấn đề bình thường hóa sinh hoạt, cải tiến cấp dưỡng... trong quá trình chiến dịch đã cho thấy rõ điều đó)...


Qua những dẫn giải ở trên, cho thấy: Việc xác định đúng phương châm "đánh điểm, diệt viện" và "liên tục chiến đấu" của Tổng Quân ủy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch là một trong những nguyên nhân quan trọng trực tiếp quyết định thắng lợi và cũng là hai điểm đặc sắc trong Chiến dịch tiến công Hòa Bình; đồng thời để lại những kinh nghiệm quý về phương pháp tác chiến chiến dịch tiến công. Mặc dù, trong các chiến dịch tiến công ở thế kỷ XXI về sau (nếu xảy ra ở nước ta), các yếu tố về địch, về ta và môi trường tác chiến ngày càng có sự thay đổi rất nhiều so với thời kỳ chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ ở thế kỷ XX; kẻ thù xâm lược có thể vẫn có ưu thế hơn ta về nhiều phương diện, nhất là vũ khí trang bị và phương tiện cơ động... do đó, ta vẫn phải quán triệt tốt quan điểm "công ở chỗ không có thành, đánh ở chỗ không có luỳ, chiến ở nơi không có trận", vận dụng sáng tạo phương châm "đánh điểm, diệt viện" và "liên tục chiến đấu" nhằm tiêu diệt địch, bồi dưỡng phát triển lực lượng ta... Vì vậy, những kinh nghiệm được đổi bằng xương máu của bộ đội trong chiến dịch tiến công Hoà Bình không chỉ góp phần làm phong phú thêm kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam và truyền thống đánh giặc của dân tộc ta, mà vẫn còn nguyên giá trị trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ở hiện tại và tương lai.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #172 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2025, 07:19:19 pm »

ĐÁNH PHÁ GIAO THÔNG TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Trung tá, ThS CÔNG PHƯƠNG KHƯƠNG
Phó Trưởng phòng Lịch sử Nghệ thuật quân sự,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Thực hiện kế hoạch giành lại thế chủ động trên chiến trường, cuối năm 1951, thực dân Pháp sử dụng 20 tiểu đoàn bộ binh cùng nhiều phương tiện chiến tranh chia thành 4 mũi mở cuộc hành quân Lôtuýt (Lotus) tiến đánh Hòa Bình. Mục tiêu của giới hiếu chiến Pháp trong cuộc hành quân nhằm thu hút, tiêu diệt lực lượng chủ lực của ta, nối lại hành lang Đông - Tây, khôi phục lại "tam giác sắt" Hà Nội - Sơn Tây - Hòa Bình; chặn đứng con đường vận chuyển, tiếp tế của ta lên căn cứ địa Việt Bắc.


Để duy trì sức chiến đấu cho hàng vạn quân đóng trên địa bàn rộng, xa hậu phương, trong đó có 6 tiểu đoàn bị cô lập trong thị xã Hòa Bình, ngay từ đầu quân Pháp đã đánh giá đúng vai trò, tầm quan trọng của các tuyến vận tải trọng tâm là sông Đà đối với tuyến đường thủy và Đường số 6 đối với tuyến đường bộ. Bảo vệ "cuống họng ướt" và "cuống họng khô" trở thành vấn đề có ý nghĩa sinh tử đối với quân Pháp trong cuộc hành binh lên Hòa Bình.


Về phía ta, trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, chủ động bám sát thực tiễn Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã nắm bắt thời cơ, kịp thời điều chỉnh kế hoạch, sớm phát hiện điểm yếu chí tử của địch. Cùng với các đợt tiến công vào các mục tiêu then chốt, nhiệm vụ đánh phá và khống chế các trục vận tải đường bộ và giao thông đường thủy được xác định là hướng hoạt động quan trọng nhằm không ngừng khoét sâu vào khó khăn của địch. Phương châm của chiến dịch là "đánh điểm, diệt viện", kết hợp chặt chẽ đánh công kiên với đánh phục kích giao thông, tiêu diệt quân viện trên sông, trên bộ, vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật đánh vận động, tiêu diệt từng bộ phận quân Pháp đi càn quét sục sạo, quân nhảy dù hoặc quân ứng cứu giải tỏa.


Về tuyến đường bộ, trên địa bàn chiến dịch có 3 trục đường lớn, phương tiện cơ giới có thể hoạt động. Đường số 89 chạy dọc theo sông Đà từ Trung Hà tới Hòa Bình; Đường số 87 nối thông Sơn Tây với Đường số 89 tại Đá Chông; Đường số 6 nối thông tuyến Đường số 21 với Đường số 89 qua Xuân Mai. Ngoài ra còn có tuyến Đường số 21 song song với Đường số 89 từ Sơn Tây về Xuân Mai. Trong hệ thống giao thông huyết mạch trên địa bàn chiến dịch, Đường số 6 được xác định là tuyến chính, ven đường có nhiều núi rừng xen kẽ đồi gianh. Để giành quyền kiểm soát tuyến đường trọng yếu, trên Đường số 6 quân Pháp bố trí lực lượng chiếm đóng gồm 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 trận địa pháo binh và 1 tiểu đoàn thiết giáp. Các cứ điểm đóng theo trục đường độc đạo, có từ 1 đến 2 đại đội bộ binh chiếm giữ. Lực lượng đồn trú tại những vị trí hiểm yếu như Pheo, Đồng Bến, An Trạch, Chẹ, Đá Chông... thường có 3 đại đội bộ binh được tăng cường 1 trung đội xe tăng và một đại đội pháo. Trên tuyến Đường số 89 từ Trung Hà đến Hòa Bình, địch đã xây dựng và củng cố hình thành tuyến phòng thủ dài khoảng 40km gồm các cứ điểm La Phù, Đan Thê, Đá Chông, Thủ Pháp, Chẹ, Tu Vũ... Trên tuyến đường thủy, sông Đà rộng từ 400-500m, sâu 5-8m, nước chảy mạnh, các tàu nhỏ có thế di chuyển thuận lợi.


Nắm chắc tư tưởng chỉ đạo tác chiến, các lực lượng tham gia chiến dịch đã tích cực, chủ động, tạo thời cơ, nắm thời cơ, tranh thủ thời gian, lợi dụng sơ hở của địch kiên quyết chia cắt địch ra từng bộ phận, kết hợp chặt chẽ đánh giao thông trên bộ, trên sông với diệt xe cơ giới, pháo binh và quân nhảy dù. Xác định việc Pháp tiến công lên Hòa Bình là một "cơ hội rất tốt để mình đánh giặc"1 (Những lài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 55), Bộ Chỉ huy Chiến địch quyết định tranh thủ thời gian địch mới chiếm đóng, công sự chưa kịp củng cố, lập trung bình hỏa lực đột phá khu phòng ngự sông Đà, đánh trận mở màn quyết định, tiêu diệt bộ phận sinh lực địch, mở đường giao thông, đồng thời tạo thế phát triển thuận lợi cho chiến dịch. Ngay khi quân Pháp thực hiện kế hoạch triển khai lực lượng, các đơn vị trên địa bàn đã chủ động tổ chức các trận đánh ngăn chặn. Đại đội 16 bộ đội địa phương huyện Kỳ Sơn, du kích xã Mông Hóa chặn đánh tiêu diệt một số quân dù. Đại đội công pháo thuộc Đại đoàn công pháo 351 và du kích xã Yên Mông tổ chức phục kích đánh địch trên các tuyến đường quân Pháp hành quân lên Hòa Bình. Tại tả ngạn sông Đà, ngày 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 được tăng cường 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 36 và 8 khẩu sơn pháo 75mm cùng 1 đại đội súng phòng không 12,7mm tiến công làm chủ cứ điểm Tu Vũ, sau đó tổ chức đánh quân địch tăng viện trên Đường số 89, đoạn từ Tu Vũ đến thị xã Hòa Bình2 (Sư đoàn 308, Lịch sử Sư đoàn 308 - Quân Tiên phong (1949 - 2009), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009, tr. 99). Ở hữu ngạn sông Đà, Đại đoàn 312 tiêu diệt cứ điểm Chẹ, phục kích trên Đường số 87 khu vực từ Sơn Tây đi Đá Chông và trên Đường số 89 đoạn từ Đá Chông đến Chẹ3 (Sư đoàn 312, Lịch sử Sư đoàn 312 (1950 - 2010), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010.tr. 100). Các lực lượng của Đại đoàn 312 tham gia chiến dịch cơ động vào vùng Ba Trại hoạt động trên Đường số 87 và phía Bắc Ba Vì đánh xe cơ giới, phá câu, tiêu diệt sinh lực địch, ngăn chặn các cuộc hành quân của quân Pháp từ Sơn Tây ứng cứu cho Chẹ và Tu Vũ.


Trên hướng thứ yếu, Đại đoàn 304 tổ chức lực lượng tiêu diệt một số điểm cao, cắt đường vận chuyển của quân Pháp trên Đường số 6. Đoạn đường từ Xuân Mai đến Bến Ngọc dài chưa đầy 50km, địch bố trí 11 đại đội Âu - Phi thuộc Trung đoàn bộ binh Marốc và bán lữ đoàn lê dương chiếm giữ cùng một số đại đội bộ binh người Việt đóng xen kẽ. Ở mỗi điểm cao địch đóng thành từng cụm từ 1 - 2 đại đội bộ binh. Các căn cứ thiết lập ở Xuân Mai, Ao Trạch, Gò Bùi, Đồng Bái, Đồng Bến và Thịnh Long ngoài lực lượng đông đảo còn được trận địa pháo yểm trợ. Trên phía Đường số 21, từ Xuân Mai đến Chợ Bến địch cũng tổ chức các cụm cứ điểm chiếm giữ các điểm cao, trong đó Gò Mối và Đồng Tâm là những vị trí có giá trị chiến thuật. Bộ Tư lệnh Đại đoàn 304 nhận định "ngoài tuyến vận chuyển trên sông Đà, Đường số 6 là tuyến huyết mạch duy nhất nối Hà Nội với Hòa Bình, nên địch sẽ giữ con đường này bằng mọi giá"1 (Sư đoàn 304, Lịch sử Sư đoàn 304, Tập I (1950 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011, tr. 56). Đại đoàn chủ trương sử dụng lực lượng trong đó Trung đoàn 66 đảm nhiệm từ Chuộm đến Dốc Động, chú trọng vùng từ Đầm Huống về Đồng Bái, Trung đoàn 9 chặn viện, tiêu diệt lực lượng tuần tiễu, càn quét từ Chợ Bờ đến ngã ba Chăm. Trung đoàn 57 đảm nhiệm đánh địch trên Đường số 21 từ Chợ Bến đến Xuân Mai bảo đảm cạnh sườn phía Nam của mặt trận.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #173 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2025, 07:20:58 pm »

Đầu tháng 12 năm 1951, Đại đoàn 304 đã cơ động tới phía Nam Đường số 6, sẵn sàng tổ chức tấn công địch, vây ép các vị trí trên đường. Ngày 2 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 66 Đại đoàn 304 phục kích trên quãng đường từ Cầu Dụ đến Hang Đá, cách Hòa Bình 15km về phía Đông Bắc. Do địch phát quang hai bên đường, nên phần lớn lực lượng tham gia chiến đấu phải giấu kín đội hình cách đường 500m. 11 giờ 45 phút, đoàn xe gồm 34 chiếc, trong đó có 30 xe từ Xuân Mai lên và 4 xe từ Hòa Bình xuống lọt vào trận địa. Bộ đội ta nổ súng tiêu diệt lực lượng đi đầuvà phía sau. Toàn bộ đội hình bị chặn lại ở khu vực Cầu Dụ. Dưới sự chi viện của hỏa lực, bộ đội vận động đánh thẳng vào đoàn xe. Sau 20 phút chiến đấu, 34 chiếc xe và toàn bộ quân địch trên xe bị tiêu diệt1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 374).


Sau trận đánh mở đầu thắng lợi, quân Pháp trên Đường số 6 liên tục bị uy hiếp. Do nắm vững quy luật hoạt động của địch trên 2 tuyến Đường số 6 và Đường số 21, Bộ Tư lệnh Đại đoàn chủ động xây dựng và triển khai nhiều phương án tác chiến. Ngày 13 tháng 12 năm 1951, các đơn vị của Đại đoàn 304 tổ chức 3 trận phục kích ở cầu Mè, cầu Vai Cời và Giang Mỗ. Tiểu đoàn 353 Trung đoàn 9 được tăng cường Đại đội 157, 1 trung đội SKZ, 1 trung đội thông tin, tiểu đội trinh sát, 1 trung đội địa phương tỉnh Hoà Bình phối hợp thực hiện trận phục kích ở làng Giang Mỗ, đoạn từ Hòa Bình đi Chợ Bờ. Khi quân Pháp lọt vào trận địa phục kích, các lực lượng tham gia chiến đấu đồng loạt nổ súng. Sau 30 phút, ta tiêu diệt 153 tên, bắt 71 tên, phá hủy hoàn toàn đoàn xe gồm 6 GMC, 2 MA, 1 Háptơrắc, 1 xe tăng, thu toàn bộ vũ khí, đồ dùng quân sự2 (Sư đoàn 304, Lịch sử Sư đoàn 304, Tập I (1950 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011.tr. 61). Trong quá trình thực hành chiến đấu, Tiểu đội trưởng Cù Chính Lan đã dũng cảm, mưu trí sử dụng lựu đạn tiêu diệt xe tăng địch.


Thắng lợi trong trận then chốt Tu Vũ đã tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, khai thông Đường số 89, mở rộng tuyến vận chuyển chiến lược, tiếp tục uy hiếp tuyến phòng thủ Đường số 6, tạo thế cho chiến dịch tiếp tục phát triển. Trên mặt trận Đường số 87, sáng ngày 11 tháng 12 năm 1951, 2 tiểu đoàn địa phương vận động phục kích diệt 2 đại đội bộ binh và 1 trung đội cơ giới địch ở Trung Thượng - Hạm Giá. Các trọng điểm án ngữ trên đường vận chuyển huyết mạch trên địa bàn chiến dịch lần lượt bị tiêu diệt. Trên Đường số 6 và Đường số 21, tính từ ngày 3 đến ngày 13 tháng 12 năm 1951, Đại đoàn 304 đã tiêu diệt 4 đoàn xe phá hủy hơn 60 xe vận tải và thiết giáp, diệt hơn 3 đại đội lính Âu - Phi Thắng lợi đó đã "làm cho việc giao thông, tiếp tế của địch trên đường bộ gặp nhiều khó khăn"1 (Thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi khen Đại đoàn 304 trong chiến dịch Hòa Bình ngày 24 tháng 12 năm 1951. Dẫn theo Sư đoàn 304, Lịch sử Sư đoàn 304, Tập I (1950 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011, tr. 62), góp phần tạo thế bao vây cụm cứ điểm sông Đà - Hòa Bình, uy hiếp địch từ phía Nam.


Sau thất bại ở Tu Vũ, sáng 11 tháng 12 năm 1951, địch cố mở thông tuyến sông Đà. Một đoàn canô từ phía Trung Hà tiến lên, bị Tiểu đoàn 84 Trung đoàn 36 phục kích ở Đoan Hạ, bắn chìm 1 chiếc, bắn bị thương 2 chiếc, số còn lại buộc phải rút chạy về Trung Hà. Chiều cùng ngày, một đoàn canô từ thị xã Hòa Bình xuống bị Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 141 phục kích ở Lạc Song, bắn chìm 1 chiếc, bắt 15 tù binh. Ngày 22 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 66 tổ chức trận địa phục kích dài 6km từ Lạc Song đến Đông Việt, cách thị xã Hòa Bình 10km. Khi đoàn tàu của địch từ Bến Ngọc xuôi Trung Hà lọt vào trận địa. Với sự chi viện của pháo binh, Trung đoàn 66 nổ súng diệt 4 canô và 1 tàu chiến, làm tê liệt tuyến vận tải đường sông của địch2 (Sư đoàn 308, Lịch sử Sư đoàn 308 - Quân Tiên phong (1949 - 2009), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009, tr. 100). Tuyến cơ động trên sông Đà của quân Pháp bị ta cắt đứt3 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 -2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 24).


Sau kết quả của đợt 1 và đợt 2, Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận định để tiếp tế cho Hòa Bình, quân Pháp phải cố giữ bằng được tuyến vận tải trên sông Đà và Đường số 6. Khi các cứ điểm then chốt của Phân khu Sông Đà - Ba Vì bị tiêu diệt, dẫn tới tuyến vận tải sông Đà bị tê liệt thì Đường số 6 càng trở thành đầu cầu "yết hầu" của địch. Chính vì vậy, các lực lượng tham gia chiến dịch được lệnh tiếp tục phát huy đánh vận động; đẩy mạnh đánh điểm nhỏ, diệt viện nhỏ ở khu vực thị xã Hòa Bình và vùng phụ cận. Đêm ngày 29 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 11 và Tiểu đoàn 16 thuộc Trung đoàn 141 Đại đoàn 312 bí mật tập kích địch ở các điểm cao 600, 165 và 400. Chỉ sau 10 phút chiến đấu ta đã làm chủ Điểm cao 400, đánh sập sở chỉ huy, trung tâm điện đài, diệt 1 đại đội, bắt 20 tên. 3 giờ 30 phút ngày 30 tháng 12 năm 1951, quân ta làm chủ Điểm cao 600, diệt 120 tên địch, bắt 136 tên1 (Sư đoàn 312, Lịch sử Sư đoàn 312 (1950 - 2010), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tr. 113). Phòng tuyến sông Đà của quân Pháp mất thêm một điểm dựa vững chắc.


Hoang mang trước các hoạt động tác chiến của ta, quân Pháp tăng cường củng cố phòng thủ các cứ điểm trên Đường số 6. Lực lượng chiếm đóng được tăng cường từ 1 đến 2 đại đội Âu - Phi, nhiều vị trí có xe tăng, pháo binh như Đầm Huống, Pheo, Gò Bùi, Đồng Bái, Ao Trạch. Cây cối hai bên đường được phát quang, những đoạn đường thường bị phục kích được rải quân canh gác nghiêm ngặt, việc vận chuyển tiếp tế được tổ chức thành đoàn lớn, có máy bay, xe tăng, thiết giáp hộ tống và pháo binh dọn đường. Quán triệt mệnh lệnh của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, Đại đoàn 304 quyết định lấy Đường số 6 làm hướng chính, các Trung đoàn 9 và Trung đoàn 57 tiếp tục tổ chức đánh một số cứ điểm dọc tuyến Đường số 6.


Trên Đường số 6, ngày 29 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 418 Trung đoàn 57 và Đại đội 91 pháo 75mm Đại đoàn 304 tiến công vị trí Đồi Mồi. Đó là một mỏm núi hình yên ngựa án ngữ trên Đường số 21, cách Xuân Mai 15km. Từ đây địch có thể kiểm soát ngã ba Vai Cời, khống chế thôn Mô và đường xuôi Chợ Bến do 1 đại đội Âu - Phi chiếm giữ với sự yểm trợ của pháo binh từ Chợ Bến - Miếu Môn. Hai ngày sau, đêm 31 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 400 Trung đoàn 9 tiến công cao điểm Hàm Voi, tiêu diệt 1 trung đội Âu - Phi. Mắt Đồi Mồi, Hàm Voi, hệ thống kiểm soát Đường số 6 của địch bị uy hiếp mạnh. Đêm 7 tháng 1 năm 1952 Trung đoàn 102 Đại đoàn 308 tiến công cứ điểm Pheo, một cứ điểm then chốt giữa thị xã Hòa Bình và hành lang bảo vệ Đường số 61 (Sư đoàn 308, Lịch sử Sư đoàn 308 quân Tiên phong (1949 - 2009), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009, tr. 101). Cũng trong đêm, Đại đội 41 Tiểu đoàn 84 Trung đoàn 36 Đại đoàn 308 tiếp cận trận địa pháo của địch ở khu Kiểm Lâm nằm sâu trong thị xã. Các đại đội 61 và 62 của Tiểu đoàn 80 áp sát Đồi Cháy, Đồi Dè. Đại đội 42 và Đại đội 43 thuộc Tiểu đoàn 84 áp sát vị trí Khuỷu, Dậm. Cùng lúc đó trên Đường số 6, Tiểu đoàn 265 thuộc Đại đoàn 304 phục kích ở Nước Vải, tiêu diệt 6 xe; Tiểu đoàn 400 tiêu diệt địch ở Gò Cuồn, Tiểu đoàn 782 Trung đoàn 66 tiêu hao địch ở vị trí Đầm Huống...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #174 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2025, 07:22:53 pm »

Cũng trong thời gian này, ngày 11 tháng 1 năm 1952, Đại đội 59 thuộc Trung đoàn 57 phục kích diệt gọn 2 đại đội địch ờ Ao Trạch, Gò Bùi, bắt 40 tên, trong đó có tên quan hai Lơ Blăng và tên quan một Boagiê. Ngày 12 tháng 1 năm 1952 Tiểu đoàn 375 Trung đoàn 9 phục kích diệt 2 trung đội địch, phá hủy 8 xe ở cầu Cụt Tai. Sáng ngày 14 tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn 418 phục kích đoạn giữa 2 cứ điểm Đồng Bái - Đồi Chum, phá hủy 5 xe. Liên tiếp trong 2 ngày 17 và 18 tháng 1 năm 1952, các đơn vị của Đại đoàn 304 đánh địch ở Đồi Hầu, đánh bại đợt phản kích của binh đoàn cơ động số 1, giữ vững điểm cao Đồi Mè. Đặc biệt, trong trận chiến dịch ngày 18 tháng 1 năm 1952 Đại đội 115 Tiểu đoàn 495 Trung đoàn 66 trên Điểm cao Đồi Mè đã đánh tan nhiều đợt xung phong của Binh đoàn cơ động số 1 của địch buộc chúng phải tháo chạy.


Đường bộ bị chia cắt, đường sông bị khống chế, uy hiếp buộc thực dân Pháp phải triển khai kế hoạch lập cầu hàng không chi viện cho Hòa Bình. Trong khi đó, sau đợt tiến công lớnngày 7 tháng 1 năm 1952 ta chủ trương tiếp tục cắt đứt Đường số 6, bao vây thị xã Hòa Bình, đưa thêm pháo khống chế thị xã và sân bay, cắt đứt đường hàng không. Sáng ngày 8 tháng 1 năm 1952, 3 khẩu pháo của Đại đội 755 nã đạn vào sân bay, bắn cháy chiếc Đacôta vừa hạ cánh. 10 giờ sáng cùng ngày, Đại đội 752 bắn rơi 1 chiếc khu trục. Đêm 10 tháng 1, tổ 3 người của Đại đội 43 Tiểu đoàn 84 Trung đoàn 36 bí mật lọt vào sân bay dùng bộc phá đánh hỏng chiếc Dăngcơ (Junker). Kể từ giờ phút này, không một chiếc máy bay nào dám hạ cánh xuống Hòa Bình. Tuyến đường không đến Hòa Bình của quân Pháp bị khống chế.


Sau những nỗ lực mở thông tuyến Đường số 87 và Đường số 89 thất bại, quân Pháp buộc phải chuyển sang củng cố tuyến Đường số 6, bảo vệ thị xã Hoà Bình. Ngày 6 tháng 1 năm 1952, Raun Xalăng quyết định rút toàn bộ lực lượng trên tuyến sông Đà (chỉ để lại cụm cứ điểm Đan Thê - La Phù) về được tăng cường cho tuyến phòng ngự thị xã Hòa Bình - Đường số 6, chuẩn bị cho cuộc rút lui.


Bám sát diễn biến chiến dịch, từ ngày 27 đến ngày 29 tháng 1 năm 1952, Tổng Quân ủy họp, nhận định: "Theo thế chung thì muốn hay không muốn, địch cũng phải rút khỏi Hòa Bình"1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 186). Căn cứ vào ý định của Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tham mưu xây dựng kế hoạch đánh quân Pháp rút chạy. Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 102) được phối thuộc Trung đoàn 209 Đại đoàn 312 phụ trách khu vực từ thị xã Hòa Bình tới Ao Trạch. Đại đoàn 312 được phối thuộc Trung đoàn 102 Đại đoàn 308 phụ trách đoạn từ Pheo tới Ao Trạch. Đại đoàn 304 phụ trách đoạn từ Ao Trạch tới Xuân Mai và đưa một trung đoàn vào chuẩn bị hoạt động ở vùng Chợ Cháy, Xuân Mai, Mai Lĩnh. Lực lượng pháo binh tổ chức hệ thống đài quan sát bám địch trên các điểm cao, quan sát rõ các khu vực Pheo, Bến Ngọc, An Trạch, Đồng Ben và thị xã Hòa Bình. Trung đoàn 675 đưa 3 đại đội sơn pháo, 1 đại đội súng cối 120mm, bố trí trên dãy điểm cao 140, 128 sát bờ tả ngạn sông Đà, sẵn sàng đánh địch rút chạy. Phương châm hoạt động của ta là triệt để phá hoại cầu cống, đường sá; luôn luôn quấy rối, phá kho tàng, phục kích đội tuần tiễu sửa đường; sẵn sàng diệt một bộ phận sinh lực địch rát lui.


Bị bao vây, cô lập ở Hòa Bình, lại bị đánh mạnh ở trung du, đồng bằng, quân Pháp buộc phải rút khỏi Hòa Bình. 17 giờ ngày 22 tháng 2 năm 1952, 5 tiểu đoàn Pháp ở thị xã lặng lẽ vượt sông Đà. Trung tá Ducunoa (Ducoumeau) và Đại tá Gin (Gilles) chỉ huy cuộc triệt thoái. Hơn 1.000 dân Mường, 20.000 binh sĩ cùng các chiến cụ, đạn dược khí giới vượt qua sông, tiến về Hà Nội trên Đường số 6.


Đại bộ phận quân Pháp đã qua sông, chỉ còn Tiểu đoàn 2 dù (2e BEP) và Tiểu đoàn 3 thuộc bán lữ đoàn lê dương thứ 13 (3/13e DBLE) đang được máy bay và đại bác bảo vệ chặt chẽ, tiếp tục qua sông. Phát hiện hoạt động của địch. Trung đoàn 36 lập tức sử dụng pháo đồng loạt bắn vào đội hình Pháp ở cả hai bên bờ sông Đà. Một chiếc ca nô bị bắn chìm, một số xe cơ giới bị phá huỷ. Từ 3 giờ ngày 23 tháng 2 năm 1952, Đại đoàn 351 tập trung 2 khẩu pháo 105mm, 6 khẩu sơn pháo, 10 súng cối bắn cháy, bắn hỏng 23 xe, trong đó có 2 xe tăng ở Phương Lâm, Bến Ngọc và Cầu Phao1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Bộ Tư lệnh Pháo binh, Lịch sử nghệ thuật sử dụng pháo binh trong chiến dịch (1945 -1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996, tr.45).


Máy bay Pháp nối nhau trút bom, bảo vệ cho binh lính rút chạy trên Đường số 6. Ngày 24 tháng 2 năm 1952, quân Pháp ở Ao Trạch tiếp tục rút về Đồng Bãi nhưng bị Trung đoàn 9 Đại đoàn 304 chặn đánh gây thiệt hại nặng. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, quân Pháp tiếp tục rút khỏi Đồng Bãi về Xuân Mai. Tính chung trong 3 ngày đánh địch rút lui, bộ đội ta đã tiêu diệt 6 đại đội địch phá hủy 23 xe quân sự, thu trên 100 tấn đạn dược và quân trang quân dụng1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập V, Phát triển thế tiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 442).


Cùng với tấn công vào các cứ điểm trọng yếu, quân ta trên khắp các mặt trận liên tục mở đợt phục kích tấn công, tiêu diệt sinh lực địch đồn trú trên các tuyến giao thông. Tiểu đoàn 161 đơn vị nòng cốt của Trung đoàn 12 cùng du kích xóm Chăm, thị xã Hòa Bình tổ chức phục kích, tiêu diệt 10 tên địch, phá hủy 1 xe quân sự trên đường từ thị xã vào dốc Cun. Đại đội 16 Kỳ Sơn và 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 616, Trung đoàn 12, phối hợp với 2 tiểu đoàn bộ đội chủ lực thuộc Trung đoàn 66, Liên khu 3 phục kích địch trên quốc lộ 6, tiêu diệt 34 xe của địch tại khu vực cầu Mè (Mông Hóa). Bộ đội địa phương, du kích xã Bình Thanh phối hợp cùng Đại đội 12 Tiểu đoàn 353 thuộc Trung đoàn 9 Đại đoàn 304 chặn đánh địch tại Giang Mỗ, phá 10 xe quân sự, trong đó có 1 xe tăng, tiêu diệt 153 tên, bắt 71 tên lính Âu - Phi...


Tham vọng bịt chặt con đường giao thông chiến lược từ Việt Bắc xuống phía Nam bị phá sản khiến quân Pháp "chẳng những chúng không giành lại được quyền chủ động mà lại trở thành bị động hơn trước"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 13 (1952), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr. 46). Thắng lợi trong Chiến dịch Hòa Bình có ý nghĩa "cực kỳ quan trọng về tiêu diệt địch, giải phóng đất đai, đặc biệt là tạo nên thế trận mới chưa từng có của ta ở vùng địch tạm chiếm ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ3 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 6). Trong quá trình thực hành chiến đấu, Bộ Chỉ huy Chiến dịch liên tục có sự điều chỉnh thế trận và sử dụng lực lượng. Sau khi quân Pháp bị tiến công trên khắp các mặt trận, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định điều chỉnh thế trận, chuyển hướng hoạt động của chiến dịch xuống phía Nam, lấy vùng Hòa Bình, Đường số 6 là hướng chính. Theo đó, ta vừa tập trung lực lượng đánh mạnh vào thị xã Hòa Bình, cắt Đường số 6, vừa đẩy mạnh tác chiến vùng địch hậu, chống địch càn quét. Đây là sự chuyển hóa thế trận rất linh hoạt, kịp thời, phù hợp với sự biến chuyển nhanh của tình hình; đồng thời, tạo sức ép lớn từ nhiều phía, buộc địch phải rút chạy mà không cần phải tổ chức các trận công kiên quy mô lớn. Thực hiện chủ trương đó, cùng với tổ chức các trận đánh xung quanh thị xã, chiến dịch tập trung lực lượng tiêu diệt địch trên Đường số 6, đẩy mạnh đánh phá giao thông, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Chỉ tính riêng Sư đoàn 304, trong 17 ngày đã đánh 10 trận trên Đường số 6, diệt 7 đại đội Âu - Phi tinh nhuệ, phá hủy 26 xe cơ giới, 5 khẩu pháo 105mm, làm chủ nhiều đoạn đường đây quân Pháp rơi vào tình thế bị động, lúng túng và rối loạn1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập V, Phát triển thế tiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 439).


Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã vận dụng sáng tạo phương châm "đánh điểm, diệt viện" phù hợp với điều kiện cụ thể và đạt mục đích, yêu cầu. Trên cơ sở nghiên cứu, nắm chắc tình hình địch, ta và địa bàn, Bộ Chỉ huy Chiến dịch xác định: Đánh điểm phải tranh thủ đánh sớm, giải quyết trận đánh trong một đêm, đánh viện, phải đồng thời đánh địch cả đường thủy, đường bộ, lực lượng cơ giới và quân dù; không kéo dài trận đánh mà cố gắng giải quyết ngay trong đêm. Các trận đánh điểm, diệt viện trong chiến dịch đều được chỉ đạo sâu sát, chặt chẽ, đạt hiệu quả chiến đấu cao. Lực lượng tham gia chiến dịch liên tục tổ chức các trận đánh nhỏ, diệt viện nhỏ tiến công vào một số căn cứ xung quanh thị xã Hòa Bình để tiêu hao, tiêu diệt lớn lực lượng địch; đồng thời, kết hợp chặt chẽ với các lực lượng đánh cắt giao thông, khống chế hoàn toàn các tuyến giao thông nối Hòa Bình với các vùng phụ cận.


Rút quân khỏi Hòa Bình không chỉ là thất bại về chiến thuật và chiến dịch mà còn là một "thiệt hại nặng nề về chiến lược"1 (Henri Nava, Thời điểm của những sự thật, Nxb Công an nhân dân - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội, 1994, tr. 43-44) của giới hiếu chiến Pháp. Chủ trương tập trung mọi nỗ lực đánh mạnh vào tuyến giao thông đường thủy, đường bộ và đường không đã góp phần hình thành thế trận bao vây chia cắt, tiêu diệt địch. Quân Pháp ngày càng bị dồn vào tình thế nguy khốn trên khắp các chiến trường, 6 tiểu đoàn trong thị xã Hòa Bình chỉ còn trông chờ vào những chuyến máy bay tiếp tế nhỏ giọt. Bằng những trận tiến công cứ điểm trên các trục đường giao thông, phục kích trên bộ, trên sông và trên không kết hợp với các hoạt động phá hoại cầu cống đường giao thông, ta đã uy hiếp và cắt đứt nguồn tiếp tế của địch, cô lập tập đoàn cứ điểm Hòa Bình. Sau khi Tu Vũ, một cứ điểm được Bộ Chỉ huy quân Pháp tập trung phòng ngự bị tiêu diệt, các tuyến Đường số 6, 21, 87, 89, một trong hai cái "ống thực quản" nối đến "dạ dày" thị xã Hòa Bình bị chặn đứng, từng bước vô hiệu hóa ngay trong đợt 1 chiến dịch. Các trận đánh trên sông của ta không những đã cắt đứt "cuống họng ướt" của địch, mà còn tạo điều kiện cho bộ đội đánh địch vận động ở khu vực Ba Vì. Tuyến giao thông cả đường thủy, đường bộ và đường không bị chia cắt và khống chế, các cứ điểm nhỏ xung quanh thị xã Hòa Bình liên tục bị tiến đánh, lực lượng ngày càng bị tiêu hao buộc quân Pháp phải kết thúc cuộc hành quân Lôtuýt.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #175 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2025, 08:35:50 pm »

KINH NGHIỆM TÁC CHIẾN TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH VỚI CÔNG TÁC HUẤN LUYỆN, ĐÀO TẠO CÁN BỘ Ở TRƯỜNG SĨ QUAN LỤC QUÂN 1 HIỆN NAY

Trung tướng, PGS, TS ĐỖ VIẾT TOẢN
Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1


Từ sau thất bại ở biên giới 1950, để cố gắng giành lại quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ, vào cuối năm 1951, chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương quyết định tập trung lực lượng lớn đánh chiếm Hòa Bình, nhằm bịt chặt con đường giao thông chiến lược từ Việt Bắc xuống phía Nam; bảo vệ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, lập lại "Xứ Mường tự trị" để mở rộng phạm vi thực hiện chính sách "Dùng người Việt đánh người Việt". Thực hiện kế hoạch đó, sau một thời gian củng cố thế phòng ngự và tăng cường lực lượng, ngày 14 tháng 11 năm 1951, tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi - Tổng Chỉ huy quân viễn chinh, kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương đã sử dụng một lực lượng quân cơ động chiến lược, bao gồm 20 tiểu đoàn bộ binh của các binh đoàn cơ động (GM) 1, 2, 3, 4, 7 và 7 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 2 đại đội xe tăng và nhiều tàu thuyền, phương tiện cùng lực lượng quân dù tiến công Hòa Bình với 4 cánh quân, hình thành 2 gọng kìm, từ phía Sơn Tây - Trung Hà xuống và từ Xuân Mai lên thị xã Hòa Bình. Sau khi chiếm được các mục tiêu trên, địch tổ chức phòng ngự thành 2 phân khu: Phân khu Sông Đà và Ba Vì (phía Bắc). Phân khu Hòa Bình và Đường số 6 (phía Nam), riêng ở thị xã Hòa Bình,quân Pháp tiến hành xây dựng cụm cứ điểm lớn, vững chắc gồm nhiều cứ điểm lớn, nhỏ khác nhau với lực lượng lớn gồm 6 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội xe tăng do Đại tá Clêmăng chỉ huy, Sở Chỉ huy địch đặt tại thị xã Hòa Bình.


Trên cơ sở bám sát diễn biến chiến trường, nắm chắc âm mưu thủ đoạn của địch, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh đã sớm nhận định tình hình, phán đoán đúng ý đồ hành động của địch, chủ động, kịp thời xác định biện pháp đối phó. Ngày 18 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định tình hình địch khi chúng tiến chiếm Hòa Bình. Trên cơ sở đó, quyết định mở Chiến dịch tiến công Hòa Bình, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá kế hoạch bình định của quân Pháp ở đồng bằng Bắc Bộ, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích vùng sau lưng địch. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: Đại đoàn 308, Đại đoàn 312, Đại đoàn 304 cùng các đơn vị binh chủng.


Với tinh thần quyết chiến, chủ động, sáng tạo, các đơn vị tham gia chiến dịch đã vận dụng linh hoạt, hiệu quả phương thức tác chiến "đánh điểm, diệt viện"; chỉ đạo các lực lượng ở mặt trận chính diện phối hợp chặt chẽ với mặt trận phía sau ở đồng bằng Bắc Bộ, tiêu diệt nhiều sinh lực địch tiến tới bao vây, cô lập hoàn toàn tập đoàn cứ điểm địch tại thị xã Hòa Bình, buộc chúng phải rút chạy trong thế bị động, tạo thuận lợi cho ta giành quyền chủ động về chiến lược. Trải qua hơn 2 tháng hoạt động tác chiến vô cùng gian khổ, ác liệt (10.12.1951 - 25.2.1952) với 3 đợt tác chiến liên tục, Chiến dịch Hòa Bình đã kết thúc thắng lợi vang dội. Ta đã đánh thiệt hại nặng lực lượng địch, phá kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của địch, giải phóng khu vực Hòa Bình, sông Đà với diện tích khoảng 2.000km2; tiêu diệt hơn 6.000 tên địch; thu 24 khẩu pháo các loại, 788 súng, 98 máy vô tuyến điện, phá hủy 12 khẩu pháo, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm và bắn cháy 17 canô, tàu, xuồng, phá hủy 246 xe quân sự1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến côngHòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 39). Ở mặt trận địch hậu (Trung du, Liên khu 3), chúng ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 15.000 tên, thu 6.000 súng các loại2 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư Quân sự Việt Nam, Quyển 1: Lịch sử quân Sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 167), làm cho thực dân Pháp càng lún sâu trong thế bị động chiến lược. Tại hướng đồng bằng (hướng phối hợp), chúng ta đã chủ động tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn, loại khỏi vòng chiến đấu trên 10 nghìn quân, bức hàng và bức rút khoảng 1.000 đồn bốt, tháp canh. Sự phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực trên hướng chủ yếu với lực lượng vũ trang trên hướng phối hợp làm phong phú thêm nghệ thuật tác chiến chiến dịch. Đồng thời, thắng lợi này đánh bại âm mưu của địch chiếm vùng tự do của ta kể từ sau Chiến thắng Biên Giới 1950, phá được ý đồ giành lại quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ của địch, đảm bảo đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc và Liên khu 3, Liên khu 4, phá tan âm mưu lập "Xứ Mường tự trị" của thực dân Pháp.


Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đánh dấu thành công của Đảng ta trong việc chỉ đạo chiến dịch và ghi dấu bước tiên mới về trình độ chiến thuật, kỹ thuật về khả năng chiến đấu liên tục, dài ngày của Quân đội ta trên 2 mặt trận rộng lớn và phức tạp. Đồng thời, thắng lợi đó tạo ra cơ hội cho các chiến trường khác đẩy mạnh chiến tranh du kích, liên tục tiến công tiêu diệt địch, phát triển lực lượng kháng chiến, mở rộng thêm nhiều vùng căn cứ làm cho cục diện chiến trường thay đổi ngày càng có lợi cho ta. 70 năm nhìn lại, chúng ta có điều kiện để nghiên cứu và nhận thức sâu sắc hơn tầm vóc, ý nghĩa của chiến dịch. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đã để lại những bài học kinh nghiệm tác chiến quý báu, đó là:


Thứ nhất vận dụng phương châm tác chiến "đánh điểm, diệt viện "

Trên cơ sở nắm bắt đúng tình hình địch, ta, điều kiện các mặt cùng kinh nghiệm từ các chiến dịch trước đó, Tổng Quân ủy và Bộ Chỉ huy Chỉ huy chiến dịch đã vận dụng linh hoạt phương châm tác chiến "đánh điểm diệt viện". Đây là một phương châm rất đúng đắn, sáng tạo nhờ đó ta đã phát huy được điểm mạnh, sở trường, hạn chế được những điểm yếu về lực lượng, phương tiện để giành thắng lợi Các trận đánh trong chiến dịch đều được Bộ Chỉ huy Chiến dịch chỉ đạo sâu sát, chặt chẽ, nên đạt hiệu quả chiến đấu cao. Điển hình như trận đánh cứ điểm Tu Vũ, trong đêm 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 tiến hành đánh chiếm Tu Vũ, buộc địch phải điều lực lượng từ Trung Hà lên chi viện, ta đã sử dụng Tiểu đoàn 84 Trung đoàn 36 phục kích ở Đoan Hạ, bắn chìm 1 canô bắn hỏng 2 chiếc, số còn lại phải rút chạy về Trung Hà. Địch chưa từ bò ý định cứu viện, tiếp tục điều lực lượng từ thị xã Hòa Bình xuống và bị Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 141 phục kích ở Lạc Song bắn chìm 1 canô, bắt 15 tù binh, buộc chúng phải rút chạy về thị xã Hòa Bình. Trận đánh cứ điểm Tu Vũ kết thúc, ta đã tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn lê dương địch được tăng cường xe tăng, pháo binh yểm trợ và tiêu diệt một số quân chi viện trong ngày 11 tháng 12 năm 1951. Thắng lợi của các trận đánh thể hiện sự phát triển về nghệ thuật "đánh điểm, diệt viện" của chiến dịch, không những thế, phương châm đó còn được thể hiện ở việc đánh điểm nhỏ, diệt viện nhỏ, liên tục đánh địch. Do chưa đủ lực lượng và các yếu tố bảo đảm để đánh tập đoàn cứ điểm có công sự vững chắc như hình thức tập đoàn cứ điểm địch ở thị xã Hòa Bình nên ta đã liên tục tổ chức các trận đánh nhỏ, tiến công vào các căn cứ xung quanh thị xã Hòa Bình để buộc địch phải điều lực lượng ứng cứu, tạo điều kiện cho ta phục kích tiêu diệt. Đồng thời, trong quá trình tiến công các cứ điểm địch, các đơn vị chủ lực đã kết hợpchặt chẽ với các lực lượng địa phương đánh cắt giao thông, khống chế hoàn toàn tuyến sông Đà và Đường số 6; các đường vận tải chi viện bị cắt, các cứ điểm nhỏ xung quanh thị xã Hòa Bình liên tục bị đánh, lực lượng bị tiêu hao, tinh thần hoang mang cực độ, quân Pháp buộc phải rút lui, không thực hiện được ý đồ chiếm đóng Hòa Bình.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #176 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2025, 08:36:29 pm »

Thứ hai, kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến trên mặt trận chính diện với mặt trận sau lưng địch

Sau khi tập trung quân đánh chiếm Hòa Bình, thực dân Pháp đã gây khó khăn cho ta về quân sự, chính trị và kinh tế, nhưng chúng cũng đứng trước mâu thuẫn gay gắt khi quân số có hạn mà phải căng kéo đối phó với nhiều nơi. Trong tình thế đó, nếu ta tổ chức tiến công trên nhiều mặt trận sẽ khiến địch bị động, cùng lúc phải đối phó trên nhiều hướng. Từ nhận định này, Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ Chỉ huy Chiến dịch chủ động nghiên cứu tìm chỗ sơ hở để tiêu diệt địch ở chiến trường Hòa Bình, kết hợp với đẩy mạnh tác chiến ở vùng sau lưng địch, khiến chúng "đầu đuôi không cứu được nhau", dẫn đến thất bại. Đây là quyết định đúng đắn, sáng tạo, vừa thể hiện tư tưởng chiến lược tiến công, vừa phát huy được cách đánh của ta trong thế trận chiến tranh nhân dân. Thực hiện chủ trương đó, tại mặt trận chính diện, ta tập trung tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, Núi Chẹ, các trọng điểm án ngữ tuyến vận chuyển huyết mạch trên sông Đà, kết hợp với đánh địch từ nhiều hướng. Do sợ mất 2 cứ điểm này, địch buộc phải điều quân từ phía sau lên, tạo điều kiện cho ta (mặt trận chính diện) tiếp tục tiêu diệt địch ứng cứu. Nắm thời cơ, mặt trận phía sau của ta đẩy mạnh hoạt động tác chiến ở Phát Diệm, Hà Nam và một số địa phương đồng bằng Bắc Bộ, diệt nhiều địch, giải phóng đất đai, phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích đẩy mạnh hoạt động... Như vậy, sự phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp trong hoạt động tác chiến của các lực lượng ở mặt trận chính diện với mặt trận sau lưng địch khiếnchúng luôn bị dộng, buộc phải nhiều lần điều lực lượng cơ động giữa hai chiến trường, không phát huy được hiệu quả của vũ khí, bị tổn thất lớn, mất the chủ động, chấp nhận "một thất bại kép" tròn cả 2 chiến trường. Sự kết hợp giữa tác chiến trên mặt trận chính diện với mặt trận sau lưng địch trong nghệ thuật tác chiến chiến dịch của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã tạo nên súc mạnh tồng hợp để giành thắng lợi.


Thứ ba, chuyển hóa thế trận linh hoạt; triệt để khai thác thế trận và hoạt động của các lực lượng trên địa bàn

Nhờ có ưu thế về hỏa lực và sức cơ động, quân Pháp nhanh chóng chiếm được thị xã Hòa Bình và chuyển ngay sang trạng thái phòng ngự. Chúng cũng xác định 2 tuyến vận tải chủ yếu đảm bảo cho quân chiếm đóng, đó là tuyến sông Đà và Đường số 6. Nhưng khi các cứ điểm then chốt của Phân khu Sông Đà - Ba Vì bị tiêu diệt, tuyến vận tải sông Đà bị tê liệt, thì Đường số 6 trở thành "yết hầu" cuối cùng của địch. Trong tình thế ấy, nếu ta tiếp tục uy hiếp mạnh, rất có thể địch sẽ dồn quân về thị xã Hòa Bình và tập trung lực lượng càn quét, bảo vệ hành lang Đường số 6 (đoạn phía Nam thị xã). Từ nhận định đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định điều chỉnh thế trận, chuyển hướng hoạt động của chiến dịch xuống phía Nam, lấy vùng Hòa Bình, Đường số 6 là hướng chính, ta vừa tập trung lực lượng đánh mạnh vào thị xã Hòa Bình, cẳt Đường số 6, vừa đẩy mạnh tác chiến vùng địch hậu, chống địch càn quét. Đây là sự chuyển hóa thế trận rất linh hoạt, kịp thời, phù hợp với sự biến chuyển nhanh của tình hình; đồng thời, tạo sức ép lớn từ nhiều phía, buộc địch phải rút chạy mà chúng ta không cần phải tổ chức các trận công kiên quy mô lớn. Cùng với đó, việc khai thác thế trận và hoạt động của các lực lượng trên địa bàn và công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu tác chiến cũng được ta thực hiện hiệu quả, kịp thời. Đặc biệt, Bộ Chỉ huy Chiến dịch kiên quyết cùng các cấp lãnh đạo dân, chính, đảng ở cả Trung ươngvà địa phương huy động nhân lực, vật lực, khu vực phòng thủ địa phương và chủ trương đưa một bộ phận lực lượng chủ lực tiến vào vùng địch hậu, phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng các căn cứ, khu du kích; trong khi bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương phối hợp tiêu diệt những đồn bốt của địch. Nhờ triệt để khai thác thế trận và hoạt động của các lực lượng trên địa bàn nên ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp, dồn quân Pháp ở Hòa Bình vào tình thế nguy khốn, buộc phải rút chạy, chấp nhận thất bại.


70 năm đã trôi qua, đến nay, những bài học kinh nghiệm về tác chiến trong Chiến dịch Hòa Bình có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đối với Trường Sĩ quan Lục quân 1, trong suốt 76 năm xây dựng, đào tạo, chiến đấu và trưởng thành, quá trình huấn luyện và đào tạo cán bộ, Nhà trường luôn quan tâm, chú trọng đến việc truyền thụ truyền thống tốt đẹp của dân tộc và kinh nghiệm chiến đấu của Quân đội ta cho người học, trong đó có những bài học kinh nghiệm tác chiến quý báu của Chiến dịch Hòa Bình. Trong điều kiện tác chiến mới, nhất là trong giai đoạn hiện nay, các vấn đề về địch, về ta đã có những thay đổi và phát triển, về địch, tổ chức biên chế, vũ khí trang bị hiện đại, thường xuyên được bổ sung, nâng cấp; khả năng tác chiến ở trình độ cao, có ưu thế về hỏa lực không quân, pháo binh; sức cơ động nhanh, tác chiến điện tử rộng rãi. Về ta, vũ khí trang bị tuy đã có sự đầu tư nâng cấp, trình độ tác chiến đã có sự phát triển, song vẫn còn những hạn chế nhất định... Để đánh thắng kẻ thù xâm lược trong mọi điều kiện hoàn cảnh, chúng ta cần phải tiếp tục bổ sung, nghiên cứu toàn diện các vấn đề, trong đó, nghiên cứu, vận dụng những bài học kinh nghiệm tác chiến của Chiến dịch Hòa Bình vào công tác huấn luyện, đào tạo cán bộ ở Trường Sĩ quan Lục quân 1 hiện nay có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường, cấp ủy, chỉ huy các cấp đặc biệt chú trọng việc nghiên cứu,vận dụng những bài học kinh nghiệm tác chiến đó vào quá trình giảng dạy và nghiên cứu khoa học, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ của Nhà trường, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #177 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2025, 08:39:12 pm »

Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp, Nhà trường đã và đang không ngừng nâng cao toàn diện chất lượng giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học; đào tạo cán bộ theo hướng "cơ bản hệ thống, thống nhất, chuyên sâu"; xây dựng, rà soát điều chỉnh, bổ sung, chuẩn hóa chương trình, nội dung đào tạo cho các đối tượng, đáp ứng nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu cũng như sự phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam; gắn lý thuyết với thực hành, coi trọng bồi dưỡng, phát triển năng lực thực hành, kỹ năng chỉ huy và tư duy sáng tạo cho người học. Quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 86-NQ/ĐUQSTW ngày 29 tháng 3 năm 2007 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) về công tác giáo dục và đào tạo trong tình hình mới, trên cơ sở kế thừa và phát huy truyền thống, nghệ thuật quân sự Việt Nam nói chung, những bài học kinh nghiệm tác chiến của Chiến dịch Hòa Bình nói riêng, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau:


Một là, tiếp tục bổ sung, chuẩn hóa mục tiêu, yêu cầu đào tạo cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của Nhà trường trong tình hình mới

Trên cơ sở vận dụng linh hoạt, sáng tạo nghệ thuật quân sự được đúc rút từ các trận đánh, các chiến dịch, trong đó có các bài học kinh nghiệm tác chiến tiêu biểu của Chiến dịch Hòa Bình vào chuẩn hóa mục tiêu, yêu cầu đào tạo, bảo đảm tốt việc kết hợp giữa truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu, trang bị kiến thức quân sự cơ bản với tổ chức cho học viên thực hành từ cương vị tiểu đội trưởng đến trung đội trưởng kiêm chức ở Nhà trường và thực tập ở các đơn vị trong toàn quân. Đội ngũ cán bộ được đào tạo ở Nhà trường khi về các đơn vị công tác, bước đầu đã khẳng định được năng lực, trình độ quản lý, chỉ huy, huấn luyện, rèn luyện bộ đội, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trước yêu cầu nhiệm vụ, sự phát triển của khoa học nghệ thuật quân sự và yêu cầu ngày càng cao của tác chiến hiện đại. Trên cơ sở những kết quả đạt được đó, Nhà trường được Bộ Quốc phòng tiếp tục tin tưởng, giao nhiệm vụ đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành nghệ thuật quân sự để kịp thời cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho toàn quân, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội trong điều kiện mới. Hiện nay, mục tiêu, yêu cầu, chương trình, nội dung đào tạo của Nhà trường ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, chuẩn hóa theo hướng lấy người học làm trung tâm, phát huy tính tích cực, tự giác của người học trên cơ sở xác định nội dung, kiến thức chuyên ngành phù hợp. Về nội dung các môn học khoa học xã hội và nhân văn quân sự, chú trọng bồi dưỡng thế giới quan, phương pháp luận, xây dựng lập trường giai cấp, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xác định tốt trách nhiệm chính trị, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đối với nội dung các môn khoa học quân sự và các môn khoa học khác, Nhà trường tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, điều chỉnh kịp thời vừa đáp ứng được yêu cầu cấp bách mà hoạt động quân sự đặt ra, vừa trang bị kiến thức cơ bản, truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu với tăng cường huấn luyện khả năng thực hành đế người học phát triển toàn diện.


Hai là, xây dựng, bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện nội dung, chương trình kế hoạch đào tạo phù hợp với điều kiện phát triển mới ở Nhà trường

Trong những năm qua, Trường Sĩ quan Lục quân 1 đã chỉ đạo các cơ quan, khoa, đơn vị phối hợp nghiên cứu, cập nhật những phát triển mới về địch, ta, môi trường tác chiến, nghệ thuật quân sự, cách đánh của chiến thuật cấp phân đội, trên cơ sở nội dung,chương trình đào tạo đã có sự chuẩn hóa, tiếp tục rà soát, bổ sung từng bước hoàn thiện nội dung, chương trình theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa gắn với mục tiêu, yêu cầu đào tạo, thực tiễn ở đơn vị cơ sở và của đối tượng đào tạo; bảo đảm tính hệ thống, thống nhất; giảm tỷ lệ khối lượng kiến thức giáo dục đại cương, tăng tỷ lệ khối kiến thức, thời gian huấn luyện chuyên ngành; chú trọng huấn luyện ban đêm; cập nhật nội dung mới, như tác chiến an ninh mạng. Điều chỉnh, bổ sung nội dung, chương trình phải phù hợp với điều kiện thực tiễn của Nhà trường, đối tượng huấn luyện, cơ sở vật chất, vũ khí trang bị và sự phát triển của nghệ thuật quân sự. Đồng thời, trang bị cho học viên những quan điểm tư tưởng của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; những phát triển mới của học thuyết quân sự, nghệ thuật quân sự và kỹ thuật quân sự; nội dung các hình thức chiến thuật cấp phân đội vận dụng trong điều kiện tác chiến hiện đại, chiến tranh công nghệ cao; kết hợp chặt chẽ giữa trang bị kiến thức với truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu; bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống; nâng cao năng lực thực hành theo chức vụ đảm nhiệm. Điều chỉnh, cắt giảm những nội dung không phù hợp, tăng thời lượng huấn luyện kỹ thuật hỏa khí đi cùng; giảm thời gian huấn luyện lý thuyết, tăng thời gian huấn luyện và ôn luyện thực hành; diễn tập tổng hợp; bổ sung huấn luyện tin học, ngoại ngữ, công nghệ thống tin; bồi dưỡng kỹ năng chỉ huy, quản lý, huấn luyện bộ đội, kỹ năng tiến hành công tác đảng, công tác chính trị cho người học.


Nội dung, chương trình đào tạo của Nhà trường phải được xây dựng chặt chẽ, khoa học, đúng chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo; bảo đảm cân đối về cơ cấu giữa các khối kiến thức khoa học quân sự, khoa học xã hội nhân văn theo từng chuyên ngành đào tạo; gắn lý thuyết với thực hành, hài hòa giữa trí lực và thể lực cho người học sát thực tế chiến đấu; đồng thời, phải bảo đảm tính đồng bộ, chuyên sâu từ khâu lập kế hoạch, xác định nội dung, đối tượng, tổ chức, biên chế, trang bị đến công tác bảo đảm. Coi trọng huấn luyện chuyên sâu kết hợp với rèn luyện học viên sát với yêu cầu, nhiệm vụ của từng cơ quan, khoa, đơn vị; duy trì và thực hiện tốt kế hoạch hoạt động "tiết thứ 9 và giờ thể thao buổi chiều" để bồi dưỡng nâng cao năng lực thực hành, rèn luyện thể lực, sức chịu đựng cho học viên, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ trong môi trường khắc nghiệt của hoạt động quân sự.


Ba là, coi trọng công tác giáo dục, truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu, đặc biệt là những bài học kinh nghiệm tác chiến trong Chiến dịch Hòa Bình vào quá trình đào tạo cán bộ ở Nhà trường trong giai đoạn hiện nay

Giáo dục, truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu là nội dung quan trọng trong huấn luyện quân sự nói chung, huấn luyện chiến thuật nói riêng, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo ở Nhà trường. Những bài học kinh nghiệm chiến đấu nói chung và những bài học kinh nghiệm trong Chiến dịch Hòa Bình nói riêng và đang được tiếp tục nghiên cứu để vận dụng hiệu quả vào quá trình đào tạo cán bộ ở Nhà trường. Hiện nay, số cán bộ trực tiếp kinh qua thực tiễn chiến đấu ngày một ít, do tuổi tác, sức khỏe, do đó ảnh hưởng lớn đến quá trình giáo dục, truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu cho người học. Vì vậy, trong thời gian vừa qua, Trường Sĩ quan Lục quân 1 đã thường xuyên thực hiện tốt công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu những bài học kinh nghiệm được đúc kết trong các trận chiến đấu, để bổ sung vào quá trình chuẩn bị và thực hành huấn luyện, bảo đảm sự gắn kết giữa lý luận với thực tiễn; giữa nhà trường với chiến trường. Trong điều kiện mới của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, việc nghiên cứu, vận dụng bài học kinh nghiệm tác chiến trong lịch sử vào công tác huấn luyện, đào tạo ở Trường Sĩ quan Lục quân 1 hiện nay càng có ý nghĩa quan trọng. Vì vậy, trong quá trình huấn luyện, đào tạo ở Nhà trường cần nghiên cứu, vận dụng những bài học kinh nghiệm tác chiến này với từng nội dung giảng dạy và hướng dẫn cho học viên biết vận dụng linh hoạt vào giải quyết các tình huống thực tiễn trong huấn luyện, chiến đấu; thường xuyên giáo dục cho học viên nhận rõ âm mưu thủ đoạn của địch; đặc điểm, tính chất của cuộc chiến tranh trong tương lai nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác, trình độ, năng lực xây dựng bản lĩnh vững vàng cho người học, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.


Những bài học kinh nghiệm từ Chiến dịch Hòa Bình còn được tiếp tục nghiên cứu cụ thể, tỷ mỷ để phục vụ thiết thực cho quá trình biên soạn giáo trình, tài liệu huấn luyện và đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng giảng dạy môn Lịch sử Đường lối quân sự ờ Nhà trường, củng cố niềm tin của người học vào vũ khí trang bị cách đánh và các hình thức chiến thuật của Quân đội ta. Quá trình giáo dục, truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu bước đầu đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, hệ thống giáo trình, tài liệu, các công trình tổng kết lịch sử qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ thường xuyên được Nhà trường cập nhật, bổ sung, làm mới. Để đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo cán bộ, Nhà trường càn coi trọng việc nghiên cứu, lựa chọn những bài học kinh nghiệm chiến đấu và nghệ thuật quân sự cho phù hợp; thông qua tư liệu lịch sử của từng trận đánh, từng chiến dịch để giáo dục, truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu và nghệ thuật quân sự cho học viên về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật, bảo đảm tính toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với đối tượng, thiết thực, dễ nhớ, dễ hiểu và dễ vận dụng. Chiến thắng của Chiến dịch Hòa Bình đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm tác chiến quý cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng vào công tác đào tạo cán bộ của Nhà trường, giúp người học hiểu rõ mối liên hệ giữa lý luận với thực tiễn; nguyên tắc và các tình huống cơ bản trong huấn luyện với thực tiễn chiến đấu để học viên có nhận thức đúng, tổng quan về các chiến lệ, kinh nghiệm chiến đấu, biết vận dụng vào thực tiễn huấn luyện, giảng dạy, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.


Chiến dịch tiến công Hòa Bình diễn ra cách đây 70 năm, những bài học kinh nghiệm tác chiến của chiến địch có giá trị lịch sử và hiện thực sâu sắc, chúng ta cần tiếp tục tập trung đi sâu nghiên cứu, phân tích, luận giải những vấn đề mới, nhất là loại hình chiến dịch tiến công làm cơ sở cho việc vận dụng trong công tác huấn luyện, đào tạo cán bộ ở Trường Sĩ quan Lục quân 1 nói riêng và trong xây dựng các phương án, kế hoạch, tổ chức lực lượng, huấn luyện của Quân đội ta nói chung, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #178 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2025, 08:48:51 pm »

CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH - BÀI HỌC TRONG HUẤN LUYỆN, ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Thiếu tướng, PGS.TS NGUYỄN HÙNG OANH
Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chính trị Bộ Quốc phòng


Chiến dịch Hòa Bình diễn ra từ ngày 10 tháng 12 năm 1951 đến ngày 25 tháng 2 năm 1952 trên địa bàn Hòa Bình - Sông Đà - Đường số 6. Chiến dịch có sự phối hợp chặt chẽ với "chiến trường sau lưng địch" ở trung du, đồng bằng Bắc Bộ và là một hướng tiến công quan trọng trong cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1951 - 1952 của quân dân ta. Thực hiện tốt phương châm tác chiến "đánh điểm diệt viện, liên tục chiến đấu, kiên quyết tích cực kiềm chế và diệt pháo địch", trải qua hơn 2 tháng chiến đấu liên tục, ta đã phá kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của địch, giải phóng khu vực Hòa Bình, sông Đà với diện tích khoảng 2.000km2; tiêu diệt được hơn 6.000 tên địch, thu 24 khẩu pháo các cỡ, 788 súng các loại, 98 máy vô tuyến điện, phá hủy 12 khẩu pháo, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm và bắn cháy 17 canô, tàu, xuồng, phá hủy 246 xe quân sự1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 39). Với thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình, ta đã đánh bại âm mưu của địch đánh chiếm vùng tự do của ta, phá tan ý đồ giành lại quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ của địch, đảm bảo đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc và Liên khu 3, Liên khu 4; đồng thời, phá tan âm mưu thâm độc chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của Pháp. Chính tướng Nava sau này đã phải thừa nhận: Chúng ta đã bị thiệt hại nặng nề về chiến lược, không thu được một kết quả quyết định nào. Chiến dịch Hòa Bình đã giam chân các binh đoàn chủ lực cơ động tinh nhuệ của ta ở xa đồng bằng trong một thời gian dài. Do đó đã tạo thế lợi cho đối phương đưa được các binh đoàn chủ lực lọt vào đồng bằng hoạt động. Đối phương đã giành được thắng lợi quan trọng1 (Henri Navarre, Đông Dương hấp hối (Hồi ký), Nxb Công an, Hà Nội, 2004, tr. 45.).


Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình được tạo nên từ nhiều yếu tố, trong đó có đóng góp quan trọng của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị. Trong suốt chiến dịch, công tác đảng, công tác chính trị đã phát huy vai trò đảm bảo cho đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, của Tổng Quân ủy đến từng cán bộ, đảng viên, quần chúng và biến đường lối, chủ trương, chính sách ấy thành sức mạnh trên chiến trường; biến quyết tâm của Trung ương Đảng, của Tổng Quân ủy thành quyết tâm của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Từ những đóng góp của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình có thể rút ra một số kinh nghiệm quan trọng:

Một là, thường xuyên nêu cao vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp gắn với phát huy trí tuệ tập thể trong tổ chức chuẩn bị và thực hành chiến đấu

Đây là bài học quý báu thể hiện vai trò lãnh đạo của Đảng trong những nhiệm vụ gian khó, phức tạp. Trước sự thay đổi về hình thức tác chiến theo phương châm mới, đồng thời do sự chênh lệch về quân số, vũ khí trang bị giữa ta và Pháp nên ngay từ khi thực dân Pháp đánh ra Hòa Bình, Tổng Quân ủy đã đề ra chủ trương tiến hành công tác chuẩn bị cho chiến dịch. Trong đó, yêu cầu quan trọng là cấp ủy, tổ chức đảng các đơn vị phải quán triệt sâu sắc nhận định của Trung ương và quyết tâm của Tổng Quân ủy,từ đó xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến đấu được giao. Trong trận tiến công cứ điểm Tu Vũ, Đảng ủy các tiểu đoàn và chi bộ các đại đội bộ binh đã làm tốt công tác sinh hoạt chi ủy, họp chi bộ để lãnh đạo nhiệm vụ. Các đại đội trên hướng chủ yếu như Đại đội 217 đã tập trung quán triệt mục đích, ý nghĩa trận đánh, vị trí của Tu Vũ trong phòng tuyến Sông Đà của địch và địa bàn để triển khai lực lượng chiến dịch của ta. Nhờ bàn bạc, đánh giá chính xác về địa hình, nhất là những khó khăn mà Đại đội phải khắc phục như dễ lạc hướng, khó lợi dụng để tránh pháo và đạn bắn thẳng... và chỉ ra những điểm mạnh của địch trong lô cốt mà ta phải tiêu diệt, hội nghị Chi ủy đã thông qua phương án bố trí và sử dụng lực lượng của Đại đội trưởng, đây là điểm then chốt trong chiến đấu tiến công địch phòng ngự.


Bên cạnh đó, việc phát huy tốt trí tuệ tập thể đã giúp các đơn vị có được cách đánh phù hợp, hiệu quả và khơi dậy được tinh thần đoàn kết lập công trong toàn đơn vị. Các đại đội đã làm tốt việc tổ chức hội nghị dân chủ quân sự với những phương pháp duy trì linh hoạt, sáng tạo. Trong đó, chú trọng việc nêu ý kiến của cán bộ chủ trì, cán bộ biết lắng nghe ý kiến của chiến sĩ, khơi gợi thảo luận và nắm chắc những vướng mắc trong nhận thức bộ đội để thống nhất kết luận. Nhờ vậy, việc thống nhất và triển khai chủ trương, biện pháp lãnh đạo nhiệm vụ chiến đấu tiến công của cấp ủy, tổ chức đảng được triển khai thông suốt từ cấp trên xuống cấp dưới, từ cấp ủy, tổ chức đảng đến từng đảng viên và quần chúng.


Hai là, thực hiện toàn diện, đồng bộ các nội dung hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, trọng tâm là công tác tư tưởng, công tác địch vận

Đây là bài học kinh nghiệm nổi bật của Quân đội ta trong Chiến dịch Hòa Bình. Hoạt động công tác đảng, công tác chính trị được tiến hành đồng bộ, toàn diện đã trực tiếp góp phần xây dựng ý chí quyết chiến, quyết thắng cho bộ đội và nhân dân, thúc đẩy sự tan rã trong nội bộ đối phương. Cụ thể, nhận rõ âm mưu thâm độc của địch và so sánh lực lượng giữa hai bên, quá trình tác chiến, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch và Phòng Chính trị Mặt trận liên tục có các chỉ thị chỉ đạo công tác tư tưởng giữ vững ý chí quyết tâm liên tục chiến đấu cho bộ đội. Đêm mùng 10 tháng 12 năm 1951, quân ta nổ súng tiến công cứ điểm Tu Vũ, mở màn chiến dịch. Sau những thắng lợi đầu tiên, ngày 18 tháng 12 năm 1951, Tổng cục Chính trị ra Chỉ thị số 4/H3 "Công tác chính trị đợt 2 Chiến dịch Hòa Bình" nêu rõ 7 vấn đề phải lãnh đạo đảm bảo thực hiện thắng lợi đợt 2 của chiến dịch, trong đó nhấn mạnh phải làm cho cán bộ, chiến sĩ quán triệt sâu sắc những nhận định về thắng lợi, tình hình và những chủ trương nhiệm vụ đợt 2 của Tổng Quân ủy và thư động viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng với chỉ thị trên, Tổng cục Chính trị liên tiếp có các chỉ thị, hướng dẫn từng mặt cụ thể như: "Thư gửi các đồng chí chính ủy, chủ nhiệm chính trị sư đoàn, trung đoàn", "Chỉ thị giữ bí mật trên đường hành quân và nơi trú quân", "Chỉ thị gửi các chính ủy, chủ nhiệm chính trị sư đoàn và trung đoàn: Nắm kịp thời cơ, ra sức tăng cường địch vận"... để lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị nắm chắc tình hình tư tưởng bộ đội, cổ vũ động viên tinh thần phấn khởi thi đua lập công đối với cán bộ, chiến sĩ.


Bên cạnh đó, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, công tác địch vận cũng được xác định là một trong những công tác trọng tâm. Trên cơ sở nắm, phân tích tình hình tâm lý binh lính địch, nhất là tư tưởng của lực lượng ngụy binh, nội dung của công tác địch vận tập trung tuyên truyền làm cho dân chúng và binh lính địch hiểu rõ tính chất của cuộc chiến tranh mà thực dân Pháp phát động là chiến tranh xâm lược, phi nghĩa; đồng thời, cũng làm cho họ nhận thức được cuộc chiến đấu mà nhân dân ta tiến hành là chiến đấu chống xâm lược, chiến tranh chính nghĩa. Mặt khác, làm cho binh lính địch nhận thức được trong chiến dịch này, sự thất bại của họ là tất yếu. Thông qua công tác địch vận làm cho binh lính địch hiểu rõ chính sách khoan hồng, nhân đạo của ta để họ quay súng, về với nhân dân. Đây chính là một trong những phương pháp hiệu quả nhất để làm cho binh lính và tà binh giác ngộ quay sang hàng ngũ ta, làm tan rã hàng ngũ địch, giảm sức chiến đấu của chúng. Chỉ thị về công tác chính trị đợt 3 chiến dịch ngày 2 tháng 1 năm 1952 của Tổng cục Chính trị nhấn mạnh: "Đặc biệt mở rộng địch vận, tiến công mạnh mẽ địch về tinh thần, kết hợp với tranh thủ thời gian liên tục diệt địch để khuếch trương chiến quả thu thêm nhiều thắng lợi mới"1 (Tổng cục Chính trị - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ 1945 -1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 122-123).


Ba là, chú trọng phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ các cấp, nêu cao tinh thần đoàn kết cán binh, đoàn kết quân dân, nhất là trong những nhiệm vụ khó khăn, gian khổ

Xác định rõ tính chất, yêu cầu của Chiến dịch Hòa Bình Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh luôn chú trọng phát huy tốt vai trò của các lực lượng, nhất là vai trò của đội ngũ cán bộ các cấp. Cán bộ không chỉ là những người thấm nhuần phương châm tác chiến mà còn là lực lượng nòng cốt, thường xuyên sâu sát bộ đội, kịp thời nắm bắt tâm tư, suy nghĩ của chiến sĩ để kịp thời động viên, khích lệ bộ đội. Trong các nhiệm vụ khó khăn, những trận chiến đấu gian khổ, hy sinh, đội ngũ cán bộ các cấp đã thực sự đi đâu và trở thành tấm gương sáng cho bộ đội học tập, noi theo. Tinh thần đoàn kết "cán - binh" cũng được khơi dậy và phát huy thường xuyên; qua đó đã giúp mỗi đơn vị tham gia chiến dịch thực sự trở thành một khối thống nhất, luôn đoàn kết, đồng lòng cùng quyết tâm đánh bại đối phương.


Đặc biệt, công tác dân vận được tập trung thực hiện có hiệu quả nhằm hai mục đích: Một là, huy động nhân lực, vật lực của nhân dân trong vùng tự do để phục vụ chiến dịch; hai là củng cố đoàn kết quân dân, giải phóng nhân dân thoát khỏi sự kìm kẹp của kẻ thù tại Hòa Bình. Thực hiện chủ trương này, các đơn vị chủ lực trên địa bàn đã làm tốt việc phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương và dân quân du kích khu vực Hòa Bình tăng cường giáo dục, động viên nhân dân, sẵn sàng đánh địch càn quét ra vùng tự do, điển hình như Đại đoàn 316 và Đại đoàn 320 phối hợp với lực lượng vũ trang quần chúng và các địa phương trung du, tả hữu ngạn sông Hồng, chủ động tích cực tiêu diệt địch, phá tề, trừ gian, tổ chức nhân dân chống càn để phối hợp chặt chẽ với chiến dịch. Do đó, khi bước vào đợt 3 của chiến dịch, trong vùng địch hậu, chiến tranh du kích của nhân dân phát triển mạnh mẽ, nhiều căn cứ được phục hồi và mở rộng, nhân dân Hòa Bình vùng dậy giải phóng, tích cực tham gia kháng chiến, buộc địch phải điều bớt lực lượng ở Hòa Bình, tạo thuận lợi cho quá trình tác chiến của ta.


Có thể khẳng định, thành công của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị đã góp phần quan trọng tạo nên chiến thắng của Chiến dịch Hòa Bình. Cùng với thắng lợi to lớn tại mặt trận sau lưng địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, Chiến thắng Hòa Bình tạo nên một bước ngoặt mới trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ta tiếp tục giữ quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính và làm cho hệ thống kìm kẹp của địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ tan ra từng mảng lớn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #179 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2025, 08:50:59 pm »

Hiện nay, yêu cầu xây dựng Quân đội ngày càng "tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân... cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 158) đang đặt ra đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa sức mạnh, hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội, nhất là ở đơn vị cơ sở. Trường Sĩ quan Chính trị Bộ Quốc phòng là cơ sở đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn có nhiệm vụ cung cấp đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhà trường luôn chủ động quán triệt, vận dụng sáng tạo bài học kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị trong đấu tranh cách mạng nói chung, trong Chiến dịch Hòa Bình nói riêng vào thực tiễn hoạt động của Quân đội và huấn luyện, đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội ở Trường Sĩ quan Chính trị. Để thực hiện tốt yêu cầu đó, cần tập trung vào những vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, chú trọng đổi mới chương trình, nội dung, nhất là môn học công tác đảng, công tác chính trị đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội

Trong đổi mới chương trình, nội dung, phương thức đào tạo đội ngũ cán bộ chính trị ờ Trường Sĩ quan Chính trị, cần nghiên cứu, triển khai thực hiện có hiệu quả phương hướng, nhiệm vụ "Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo... Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Sđd, tr. 232). Do vậy, căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu, đối tượng và thời gian đào tạo để đổi mới chương trình đào tạo cán bộ chính trị theo hướng "... chuẩn hóa, hiện đại hóa, sát thực tế và yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới"2 (Tổng cục Chính trị, Tài liệu học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2020, tr. 40), Trường Sĩ quan Chính trị chủ trương giảm lý thuyết, tăng thời gian tự học, tự nghiên cứu tìmhiểu của học viên; kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết với thực hành, đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học và truyền thụ kinh nghiệm, nhất là kinh nghiệm tiến hành các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Trường Sĩ quan Chính trị lần thứ X nhiệm kỳ 2020 - 2025 nhấn mạnh: "Chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo được đổi mới, chuẩn hóa, hiện đại hóa theo hướng lấy người học làm trung tâm; khắc phục cơ bản sự trùng lặp về nội dung giữa các bậc học, môn học"1 (Đảng ủy Trường Sĩ quan Chính trị, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hànhĐảng bộ khóa IX tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ X nhiệm kỳ 2020 - 2025, Hà Nội, 2020, tr. 3). Theo đó, chương trình, nội dung đào tạo nhất là nội dung chuyên ngành công tác đảng, công tác chính trị phải bảo đảm toàn diện, cơ bản, hệ thống nhưng không dàn đều mà có tính chuyên sâu phù hợp với trình độ nhận thức, kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động quân sự của từng đối tượng học viên. Yêu cầu chung đối với việc đổi mới nội dung đào tạo cán bộ chính trị là không hạ thấp yêu cầu, vừa tiếp cận với trình độ khoa học tiên tiến, vừa coi trọng kinh nghiệm truyền thống của Quân đội ta, đồng thời phải thích ứng yêu cầu thực tiễn xây dựng Quân đội, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị hiện nay. Đặc biệt, phải bám sát sự phát triển của lý luận chính trị quân sự và cập nhật quán triệt các quan điểm, đường lối mới nhất của Đảng, nghị quyết của Quân ủy Trung ương, chỉ thị, hướng dẫn của Tổng cục Chính trị và những kinh nghiệm tiến hành các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị vào nội dung đào tạo.


Thứ hai, đẩy mạnh đổi mới phương pháp giảo dục, đào tạo theo hướng tích cực, gắn người học vào thực tiễn đơn vị cơ sở

Thực tiễn chiến đấu, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật của bộ đội ở đơn vị cơ sở luôn vận động, phát triển liên tục đòi hỏi hoạt động công tác đảng, công tác chính trị cũng phải thường xuyên bám sát với sự phát triển ấy. Điều này đòi hỏi người cán bộ chính trị phải có đủ phẩm chất, năng lực và phương pháp tác phong công tác đủ sức đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ ở các đơn vị cơ sở trong toàn quân. Muốn vậy trước hết ngay trong quá trình đào tạo tại trường, học viên phải được trang bị phẩm chất, tri thức và kỹ năng cần thiết. Những phẩm chất, tri thức và kỹ năng này phải mang "hơi thở" của đơn vị sát với yêu cầu hoạt động của cán bộ chính trị nhưng cũng phải phù hợp với trình độ nhận thức của người học. Cách thức xác định lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ chính trị gồm: Cách thức truyền thụ hệ thống kiến thức khoa học; phương pháp trang bị kinh nghiệm thực tiễn, kỹ xảo, kỹ năng công tác đảng, công tác chính trị; bồi dưỡng thế giới quan, phương pháp luận khoa học; phương pháp giáo dục, rèn luyện hình thành phẩm chất nhân cách, phương pháp, tác phong công tác của cán bộ chính trị. Phương pháp huấn luyện, đào tạo phải theo hướng tích cực, khai thác tối đa khả năng tự học, tự nghiên cứu. Chú trọng các phương pháp mang tính trực quan, trực tiếp đưa người học vào các hoạt động thực hành công tác đảng, công tác chính trị để bồi dường kỹ năng nghề nghiệp. Kết hợp chặt chẽ huấn luyện trên lớp với tổ chức các hoạt động ngoại khóa, tham quan, thực tập để nâng cao hiệu quả đào tạo. Đội ngũ học viên đào tạo cán bộ chính trị phải tự quán triệt, xác định rõ ý thức trách nhiệm, yêu mến, gấn bó với nghề nghiệp, thấy rõ sự cần thiết phải học tập, rèn luyện, coi việc học tập, rèn luyện là một nhu cầu, là trách nhiệm, là nghĩa vụ và quyền lợi của mình. Từ nhận thức đúng đắn và tinh thần trách nhiệm cao trong thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện, từng học viên cụ thể hóa nó thành mục đích, kế hoạch tự đào tạo, bồi dưỡng rõ ràng và thiết thực.


Thứ ba, thường xuyên bồi dưỡng tinh thần đoàn kết "cán - binh", đoàn kết"quân - dân" cho học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội

Đoàn kết cán - binh, đoàn kết quân - dân là truyền thống quý báu gắn liền với lịch sử gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta. Đoàn kết chính là nguồn gốc động lực để Quân đội có được sức mạnh chiến đấu và chiến thắng. Thực tiễn trong Chiến dịch Hòa Bình nói riêng và xuyên suốt trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, xây dựng tinh thần đoàn kết cán - binh, đoàn kết máu thịt quân - dân luôn là yêu cầu quan trọng để nâng cao chất lượng chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của Quân đội. Cán bộ chính trị là người "trực tiếp chỉ đạo và tiến hành công tác đảng, công tác chính trị trong đơn vị"1 (Quân ủy Trung ương, Điều lệ Công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2018, tr. 93); là hạt nhân đoàn kết trong đơn vị, trực tiếp chỉ đạo và tiến hành công tác dân vận, củng cố vững chắc mối quan hệ đoàn kết máu thịt Quân đội với nhân dân. Do đó, quá trình đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội cần thường xuyên bồi dưỡng tinh thần đoàn kết cho học viên. Hoạt động bồi dưỡng phải bám sát tư tưởng của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò, tầm quan trọng của đoàn kết nội bộ; về vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân; luôn quán triệt và vận dụng sâu sắc các quan điểm, chỉ thị, hướng dẫn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác dân vận. Trên cơ sở đó xác định nội dung và hình thức bồi dưỡng tinh thần đoàn kết cho học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội bảo đảm phù hợp, hiệu quả.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM