Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:18:14 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng  (Đọc 45722 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #190 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2025, 08:40:43 pm »

ẢNH HƯỞNG CỦA CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH ĐẾN CỤC DIỆN CHIẾN TRƯỜNG ĐÔNG DƯƠNG VÀ CHÍNH TRƯỜNG NƯỚC PHÁP

PGS, TS NGUYỄN MẠNH HÀ
Nguyên Viện trường Viện Lịch sử Đảng,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


Xung quanh cuộc tiến công của quân Pháp ra Hòa Bình

Sau thất bại nặng nề ở mặt trận biên giới Đông Bắc Bắc Bộ cuối năm 1950, đạo quân viễn chinh Pháp buộc phải rút bỏ một loạt vị trí, địa bàn quan trọng dọc Đường số 4 từ thị xã Cao Bằng đến thị trấn Đình Lập, dài hàng trăm kilômét; phải rút bỏ cả thị xã Lào Cai, thị xã Hòa Bình. Thậm chí, Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương lúc đó là tướng Cácpăngchiê (Carpentier) còn nêu ý định rút bỏ cả Hà Nội, lui về phòng giữ Hải Phòng. Tình hình hoảng loạn trong hàng ngũ quân viễn chinh đã buộc Chính phủ Pháp phải gấp rút cử một phái đoàn do Lơtuốcnô (Letoumeau), Bộ trưởng Bộ Các quốc gia liên kết, còn gọi tắt là Bộ Thuộc địa, và tướng Gioăng (Juin) đứng đầu sang Đông Dương để tìm cách ngăn chặn cuộc tháo chạy này.


Tiếp đó, Chính phủ Pháp quyết định cử tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi (De Lattre de Tassigny) sang làm Cao ủy kiêm Tổng Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương thay cho Cácpăngchiê và Cao ủy Pinhông (Pignon). Đây là lần đầu tiên có một nhân vật cùng lúc nắm cả hai chức vụ cao nhất về chính trị, quân sự của Pháp ở Đông Dương. Sau khi tìm hiểu tình hình, tướng Đờ Lát đã mau chóng vạch ra một kế hoạch tổng quát về chính trị và quân sự nhằm giành lại quyền chủ động về chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ, đảo ngược chiều hướng thất bại của quân Pháp. Nội dung chủ yếu của kế hoạch này gồm những điểm: Xây dựng cấp tốc các binh đoàn cơ động (Groupement Mobile - GM) để đối phó với các đơn vị chủ lực của Việt Minh; tập trung bắt lính, xây dựng đạo quân tay sai người Việt cho Chính phủ Quốc gia của Bảo Đại nhằm chia sẻ trách nhiệm và tiếp tục thực hiện chủ trương"Dùng người Việt đánh người Việt"; xây dựng một phòng tuyến bê tông với khoảng 1.200 lô cốt bao quanh đồng bằng Bắc Bộ nhằm ngăn chặn chủ lực đối phương tiến công; tăng cường xin viện trợ của Mỹ để đối phó với "làn sóng đỏ" từ Trung Quốc tràn xuống...


Ngay khi đến Việt Nam đầu tháng 12 năm 1950, tướng Đờ Lát đã phải đối phó với 3 chiến dịch của chủ lực ta liên tiếp đánh vào trung du và đồng bằng Bắc Bộ trong nửa đầu năm 1951, đồng thời triển khai các nội dung của kế hoạch đã đề ra. Việc đối phó có kết quả các chiến dịch tiến công của ta, xây dựng được các binh đoàn cơ động, xây dựng được phòng tuyến bê tông, tăng thêm quân số cho đội quân bản xứ... đã đưa Đờ Lát đến một quyết định mạo hiểm là tung quân ra đánh chiếm khu vực Chợ Bến - Hòa Bình, mở đầu cho việc giành lại quyền chủ động chiến lược. Ngày 9 đến ngày 10 tháng 11 năm 1951, Bộ Chỉ huy quân Pháp huy động lực lượng mở cuộc hành binh Hoa Tuylíp (Tulipe) đánh chiếm khu vực Chợ Bến. Ngày 14 đến ngày 15 tháng 10, quân Pháp tiếp tục mở cuộc Hành binh Hoa Sen - Lôtuýt (Lotus) đánh chiếm khu vực Hoà Bình - sông Đà - Ba Vì.


Có 3 lý do chính giải thích cho hành động quân sự nêu trên của Bộ Chỉ huy quân Pháp. Một là, Đờ Lát cho rằng sau khi không đạt được mục tiêu và bị tổn thất trong các chiến dịch đánh vào trung du và đồng bằng, chủ lực của ta dường như đã từ bỏ ý định tổ chức tác chiến ở khu vực có địa hình trống trải đề tránh thương vong, nên đã mở Chiến dịch Lý Thường Kiệt trên địa bàn Nghĩa Lộ (9 - 10.1951). Sau trận chiến tại Nghĩa Lộ, với việc các đơn vị và các vị trí quân Pháp chiếm giữ vẫn được bảo toàn, Bộ Chỉ huy quân Pháp quyết định đánh ra Hòa Bình để buộc chủ lực của ta phải tham chiến và tin tưởng rằng sẽ đánh bại đối phương. Nếu giành được thắng lợi quân sự ở Hòa Bình sẽ giải toả sức ép của dư luận chính giới Pháp đòi hỏi phải có thắng lợi trên chiến trường, qua đó sẽ xin được thêm lực lượng và kinh phí của chính phủ Pháp và của Mỹ. Hai là, Hoà Bình là địa bàn giáp với đồng bằng, là nơi quân Pháp có thể phát huy được thế mạnh về hoả lực, về vận chuyển đường bộ, đường sông. Nếu đứng vững được tại Hoà Bình, quân Pháp sẽ cắt đứt được đường liên lạc của cuộc kháng chiến giữa Việt Bắc với Thanh Hoá và Khu 4. Ba là, việc chiếm đóng Hoà Bình sẽ chứng tỏ với Chính phủ Pháp và Chính phủ của Bảo Đại cam kết và khả năng của đạo quân viễn chinh sẽ từng bước chiếm lại những địa bàn đã phải rút bỏ trước đó, tiến tới sẽ chiếm đóng cả Thanh Hoá, khẳng định việc giành được thế chủ động chiến lược.


Như vậy, hơn 20.000 quân đã được huy động cho 2 cuộc tiến công chiếm đóng Chợ Bến, Hoà Bình. Ngày 15 tháng 10, Đờ Lát tổ chức cuộc họp báo tại Hà Nội thông báo chiến thắng. Đờ Lát tuyên bố: "Hôm nay với trận tiến công Hoà Bình, ta đã gây khó khăn lớn cho đối phương. Tiến công Hoà Bình có nghĩa là chúng ta đã buộc đối phương phải xuất trận. Trận Hoà Bình có ảnh hưởng quốc tế lớn"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2018.tr. 772). Đánh giá về sự kiện này, nhà sử học quân sự Pháp là tướng Yvơ Gra (Yves Gras) viết: "Việc chiếm đóng Hòa Bình đi trước chiến cuộc của Việt Minh. Nó làm đảo lộn các kế hoạch của họ. Sự có mặt của các binh đoàn cơ động Pháp ở trung tâm xứ Mường uy hiếp các đường cơ động của các lực lượng chiến đấu. Sự uy hiếp ấy, tầm quan trọng mà tướng Đờ Lát đưa lại cho Hòa Bình và sự tuyên truyền xung quanh nó, phải kích thích Việt Minh có sự phản ứng quy mô"1 (Yvơ Gra, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương 1945 - 1954, Nxb Plông, Pari, 1979, tr. 769, Bản dịch tiêng Việt của Hoàng Thanh Quang và Nguyễn Huy Cầu).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #191 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2025, 08:43:51 pm »

Về phía ta, việc quân Pháp đánh ra Chợ Bến, Hoà Bình đưa lại mấy điểm có lợi cho ta.

Thứ nhất, sau ba chiến dịch mở vào đầu năm 1951 không thành công, Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ Tổng Tham mưu chưa xác định rõ hướng hoạt động tiếp theo cho phù hợp với khả năng tác chiến của các đơn vị chủ lực. Bộ Tổng Tư lệnh cho rằng bộ đội chủ lực chưa đủ điều kiện tiến công vào những nơi địch tập trung đông lực lượng, có công sự vững chắc ở vùng Đông Bắc và trung du. Đối với Tây Bắc thì địa bàn rộng, đi lại, vận chuyển khó khăn, hạn chế việc sử dụng binh lực lớn và thắng lợi ở chiến trường Tây Bắc không gây được ảnh hưởng lớn đến cục diện chung. Vì thế, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định chọn địa bàn hữu ngạn sông Hồng thuộc Liên khu 3 để tiếp tục mở chiến dịch nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá bình định, hỗ trợ chiến tranh du kích phát triển.


Trong lúc bộ đội ta đang chuẩn bị mở Chiến dịch Liên khu 3 thì quân Pháp đánh ra Hoà Bình. Bộ Tổng Tư lệnh quyết định dừng việc chuẩn bị chiến dịch, tập trung cho Mặt trận Hoà Bình. Quyết định đánh ra Hoà Bình của Bộ Chỉ huy quân Pháp về khách quan đã gỡ được sự lúng túng cho ta trong chọn hướng mở chiến dịch và trên thực tế đã hạn chế được khó khăn, tổn thất nếu ta vẫn tiếp tục mở chiến dịch ở đồng bằng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng: "Đờ Lát đã cho ta những cơ hội bằng vàng để tiêu diệt sinh lực địch và cứu vãn tình hình địch hậu"2 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi kýy Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2018, tr. 773). Trong báo cáo gửi Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bí thư Tổng Quân ủy, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam nhận định: Với cuộc tiến công ra Chợ Bến, Hoà Bình, địch đã chiếm được một vị trí chiến lược quan trọng, cố gắng giành lại quyền chủ động, gây cho ta những khó khăn mới về chính trị, quân sự, kinh tế. Nhưng việc Bộ Chỉ huy quân Pháp phải sử dụng một bộ phận lực lượng cơ động để mở rộng phạm vi chiếm đóng, khiến quân số bị phân tán, đã tạo điều kiện cho chiến tranh du kích ở đồng bằng phát triển, đồng thời là cơ hội tốt cho ta đánh địch do chúng phải phân tán bố trí trên một địa bàn rộng, giao thông dễ bị chia cắt, công sự phòng ngự chưa được củng cố vững chắc. Tổng Quân ủy đề nghị Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Cho mở Chiến dịch Hoà Bình, chuyển hướng hoạt động thụ động sang tiến công địch mới chiếm đóng. Hoà Bình là hướng chính, các nơi khác là hướng phối hợp"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2018, tr. 774). Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng ra chỉ thị về nhiệm vụ phá cuộc tiến công Hoà Bình của địch, coi đây là cơ hội tốt để quân và dân ta tranh thủ tìm những chỗ sơ hở để đánh địch trên các mặt trận Hoà Bình và vùng địch đang chiếm đóng ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ.


Thứ hai, các đơn vị chủ lực của ta sẽ có địa bàn tác chiến thuận lợi hơn, dễ dàng cơ động, đảm bảo hậu cần, kỹ thuật hơn là ở đồng bằng. Bộ đội sẽ phát huy được sở trường đánh trên địa hình rừng núi, hạn chế được thương vong. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để đưa một số đơn vị chủ lực vào hoạt động ở đồng bằng, đẩy mạnh chiến tranh du kích, phối hợp tác chiến giữa mặt trận phía trước và mặt trận phía sau khiến cho quân địch phải bị động đối phó. Nếu chủ lực giành được thắng lợi trong Chiến dịch Hoà Bình thì ta vẫn giữ được quyền chủ động chiến lược, bảo vệ được đường liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4, khẳng định sở trường và khả năng tác chiến của bộ đội ở địa bàn rừng núi. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho cán bộ, chiến sĩ, dân quân du kích tham gia chiến dịch: "Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội tốt cho ta"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2018, tr. 776).


Sau khi thành lập Bộ Chỉ huy, Đảng ủy Chiến dịch Hoà Bình, gấp rút chuẩn bị lực lượng, vũ khí, đạn dược, trang bị, đảm bảo hậu cần và cách đánh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định nổ súng tiến công quân địch cùng lúc trên cả 2 mặt trận Hoà Bình và trong vùng địch chiếm đóng. Ngày 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 88, Đại đoàn 308 nổ súng đánh chiếm cứ điểm Tu Vũ nằm bên bờ hữu ngạn sông Đà, mở màn chiến dịch. Cùng ngày, các đơn vị của Đại đoàn 320 nổ súng tiến công thị trấn Phát Diệm (Ninh Bình). Tiếp sau đó, quân ta tổ chức các trận đánh trên khu vực sông Đà, Ba Vì, Đường số 6 và thị xã Hoà Bình. Đại đoàn 316 tiến vào hoạt động ở khu vực địch chiếm đóng thuộc Bắc Giang, Bắc Ninh. Đại đoàn 320 thâm nhập hoạt động ở Hà Nam, Nam Định, sau đó vượt sông Hồng sang đất Thái Bình, phối hợp với các lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương tiến công các vị trí địch, chống càn quét, phá chính quyền cơ sở của địch, xây dựng cơ sở, các đội du kích, các căn cứ du kích và khu du kích.


Sự phối hợp chiến đấu giữa 2 mặt trận đã khiến các binh đoàn cơ động vốn đã ít ỏi của địch buộc phải căng ra, phân tán lực lượng đối phó; lúc thì cơ động ra Hoà Bình, lúc thì phải quay trở lại đồng bằng để đối phó. BỊ đánh mạnh trên cả 2 mặt trận, lực lượng bị tổn thất, vùng chiếm đóng bị uy hiếp nghiêm trọng, cộng với cái chết vì bạo bệnh của tướng Đờ Lát (1.1.1952), nội bộ chính giới Pháp bất đồng sâu sắc về cuộc chiến tranh... đã đẩy quân Pháp vào tình thế ngày càng khó khăn, buộc Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương phải quyết định rút khỏi Hòa Bình bắt đầu từ ngày 5 tháng 2, kết thúc vào ngày 25 tháng 2 năm 1952. Cuộc tiến công chiếm đóng Hòa Bình của quân Pháp thất bại.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #192 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2025, 08:45:48 pm »

Ảnh hưởng của cuộc chiến Hoà Bình Đông - Xuân 1951 - 1952.

Đối với chiến trường Việt Nam, Đông Dương.

Về cục diện chiến lược:

Đối với cuộc kháng chiến, Chiến dịch tiến công Hoà Bình kết thúc thắng lợi càng củng cố thế chủ động chiến lược quân và dân ta giành được từ Chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950. Quyết định mở ngay chiến dịch tiến công sau khi quân địch đánh ra Hoà Bình thể hiện sự chủ động và kiên quyết giữ vững quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh khi cuộc kháng chiến đã chuyển sang giai đoạn phản công và tiến công.


Đối với quân Pháp, quyết định chủ động chọn địa bàn giao chiến, Tổng Chỉ huy Đờ Lát tin tưởng sẽ giành được thắng lợi dựa vào ưu thế về lực lượng, vũ khí và phương tiện chiến tranh. Sự tính toán chủ quan của Bộ Chỉ huy quân Pháp đã không tính đến sự bất lợi khi phải chiến đấu trên một chiến trường mà chủ lực đối phương có sở trường, có thể cơ động và ẩn nấp, hạn chế được thương vong. Trong khi đó, quân Pháp bộc lộ sơ hở khi phải phân tán đóng giữ trên một địa bàn rộng, tuy có cả đường bộ, đường sông nhưng rất dễ bị chặn đánh, cắt đứt; trong khi đó lại thiếu hụt lực lượng để bảo vệ đồng bằng. Việc một lần nữa phải rút chạy khỏi Hoà Bình sau hơn 3 tháng chiếm giữ đã cho thấy quân Pháp ngày càng lún sâu vào thế phòng ngự, lúng túng đối phó. Các binh đoàn cơ động của Pháp phải chạy như con thoi giữa Mặt trận Hoà Bình và Mặt trận đồng bằng đã thể hiện rõ điều đó.


Về địa bàn hoạt động:

Đối với ta, địa bàn hoạt động của bộ đội chủ lực ngày càng mở rộng và rất linh hoạt. Lần đầu tiên một đại đoàn chủ lực chủ động tiến vào hoạt động tác chiến trong một thời gian dài trên đất Thái Bình, nằm sâu trong vùng quân Pháp chiếm đóng, điều đó chứng tỏ không còn địa bàn nào là an toàn với quân Pháp. Đại đoàn 320 và Đại đoàn 316 vừa phối hợp tác chiến với Mặt trận Hoà Bình, vừa gây dựng cơ sở, đánh phá đồn bốt, hỗ trợ chiến tranh du kích phát triển, làm ruỗng nát hậu phương của địch. Hậu phương địch thực sự đã trở thành tiền phương của ta và đang trở thành hậu phương của cuộc kháng chiến.


Đối với quân Pháp, địa bàn chiếm đóng không những không mở rộng được mà còn tiếp tục bị thu hẹp. Tác giả Yvơ Gra phân tích:"Một cuộc rút lui vẫn cứ mãi mãi là một cuộc rút lui... Sự thực hiện cuộc rút lui khỏi Hoà Bình một cách hoàn hảo không che giấu được tất cả những gì tiêu cực của bản tổng kết chiến dịch... Dư luận công chúng chỉ thấy thắng lợi hay thất bại dưới dạng duy nhất của việc chiếm được đất hay bị mất đất. Theo cách nhìn này, thông cáo về việc rút lui khỏi Hoà Bình đã gây nên một cảm giác buồn nản, thậm chí thảm hại. Mưu toan duy nhất chuyển sang tiến công Việt Minh đã kết thúc bằng một cuộc rút lui. Mưu toan này đã gây nên bao nhiêu hy vọng thì nay sự thất vọng càng lớn bấy nhiêu"1 (Yvơ Gra, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương 1945 -1954, Sđd, tr. 813).


Về chỉ đạo chiến tranh.

Đối với ta, chỉ đạo chiến tranh của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trong Chiến dịch Hoà Bình đã có sự tiến bộ vượt bậc. Đây là lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến, ta đã đề ra và chỉ đạo thành công chủ trương điều động lực lượng và phối hợp tác chiến trên cả 2 mặt trận, khiến Bộ Chỉ huy quân Pháp càng thêm lúng túng đối phó, bộc lộ điểm yếu, sơ hở trong sử dụng lực lượng và bảo vệ địa bàn. Nếu trong cuộc tiến công quy mô lên Việt Bắc, do phần nào bị bất ngờ về phương thức tiến công và địa bàn tiến công, nên Trung ương Đảng, Bộ Tổng chỉ huy chủ trương tránh chỗ địch mạnh, đánh chỗ địch yếu, chia thành 3 mặt trận (Đường số 4; Đường số 3; Sông Lô - Đường số 2), sử dụng phương thức đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung tác chiến du kích trong vùng quân Pháp chiếm đóng, càn quét, thì trong Chiến dịch Hoà Bình, Trung ương Đảng, Bộ Tổng Tư lệnh đã xác định ngay từ đầu việc chia ra 2 mặt trận phía trước ở Hoà Bình và phía sau trong vùng địch chiếm đóng, sử dụng lực lượng cấp đại đoàn để đánh địch. Chiến dịch Hoà Bình đã chứng tỏ khả năng, sở trường và hiệu quả tác chiến trên vùng rừng núi của bộ đội ta. Đây là cơ sở để sau đó Trung ương Đảng, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định chọn hướng một cách chính xác, phù hợp, mở Chiến dịch tiến công Tây Bắc (14.10 - 10.12.1952), giành thắng lợi.


Đối với Pháp, cuộc tiến công và rút lui khỏi Hoà Bình đã bộc lộ sự tiến thoái lưỡng nan, bất lực của Bộ Chỉ huy đạo quân viễn chinh khi không dự tính được sự phản ứng và cách đánh của đối phương khiến cho vừa không giữ được khu vực mới chiếm đóng vừa làm cho vùng đồng bằng trở nên nguy cấp. Tác giả Yvơ Gra viết: "Các lực lượng Pháp - Việt Nam (quân đội của Bảo Đại) vẫn bị giam giữ trong miền đồng bằng, tại đó họ buộc phải chiến đấu chống sự xâm nhập ồ ạt của quân Việt Minh. Trong những điều kiện như vậy, phải chăng không bao giờ có thể thắng được Việt Minh. Phải chăng nước Pháp đã lâm vào ngõ cụt?"1 (Yvơ Gra, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương 1945-1954, Sđd, tr. 813). Bình luận của sử gia Yvơ Gra cho thấy một sự thật hiển nhiên: Tình thế của quân Pháp ở Việt Nam ngày càng bế tắc, bi đát và tuyệt vọng, càng cố hoạt động, vẫy vùng, thì càng lún sâu vào thất bại.


Đối với chính trường nước Pháp

Một là, cuộc tiến công ra Hoà Bình thất bại càng làm cho chính giới Pháp nhận thức rõ hơn khả năng có hạn của đạo quân viễn chinh đồng thời cũng thấy rõ thêm chiều hướng thất bại của cuộc chiến ở Đông Dương. Cuộc tiến công ra Hoà Bình ban đầu đã giải toả được áp lực phải có một chiến thắng quân sự, nhưng sự rút lui ngay sau đó lại mang đến sự thất vọng lớn khi mà quân Pháp phải giữ bí mật, bất ngờ, rút quân vào đêm tối để tránh bị phục kích. Điều đó làm cho chính giới Pháp hoài nghi về thắng lợi của cuộc tiến công ra Hoà Bình không giống như Bộ Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương thông báo. Giới chức quân sự Pháp cho rằng mặc dù đã có những thay đổi, lực lượng, kinh phí và phương tiện chiến tranh được tăng thêm nhưng đạo quân viễn chinh Pháp vẫn chỉ là một đạo quân thích hợp với chiến trường châu Âu về tổ chức và phương pháp tác chiến vì vẫn dựa chủ yếu vào sức mạnh của phương tiện, lực lượng cơ động, phụ thuộc nhiều vào đường sá và sự phục dịch nặng nề để đảm bảo hậu cần. Vì thế, đạo quân này không phù hợp đánh ở chiến trường rừng núi. Điều đó trái ngược với sự chủ động, linh hoạt thích ứng của chủ lực Việt Minh. Quân Pháp kéo ra một chiến trường được lựa chọn nhưng không thuận lợi để chờ cho chủ lực của đối phương tiến công một khi đối phương thấy có thời cơ và điều kiện hành động. Đây là điều bất lợi và sai lầm khi chủ lực Việt Minh đã trưởng thành nhiều sau 7 năm xây dựng và tác chiến.


Hai là, việc quân Pháp đánh ra Hoà Bình đã làm cho vùng đồng bằng bị sơ hở và đã bị đối phương tranh thủ khoét sâu vào sơ hở đó khiến hậu phương của quân Pháp trở thành chiến trường diễn ra các trận đánh trực tiếp giữa hai bên. Công cuộc bình định bị đe doạ bởi chiến tranh du kích phát triển, nhiều làng chiến đấu, khu du kích, căn cứ du kích hình thành, tồn tại khiến vùng Pháp chiếm đóng "giống như một bản đồ lên sởi". Thực tế đó lại làm bùng lên cuộc tranh cãi trong Quốc hội Pháp về cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Nước Pháp tham gia Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), buộc phải đóng góp 12 sư đoàn cho công cuộc phòng thủ châu Âu, trong khi đó vẫn phải tăng viện quân số và tiền bạc cho Đông Dương, nên cuộc chiến này ngày càng trở thành gánh nặng cho Chính phủ, Quốc hội Pháp và ngày càng phải phụ thuộc vào viện trợ của Mỹ. Tổng thống Pháp Vanhxăng Ôriôn (Vincent Auriol) thất vọng đặt câu hỏi: "Chúng ta làm gì ở đó? Tôi thấy không thể có giải pháp quân sự mà chỉ có một giải pháp chính trị, cần phải sớm đình chiến với Việt Minh"1 (Yvơ Gra, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương 1945 -1954, Sđd, tr. 780).


Cuộc tranh luận gay gắt về ngân sách chiến tranh tại Quốc hội Pháp ngày 28 tháng 12 năm 1951, trong lúc cuộc chiến ở Hoà Bình đang diễn ra, đã cho thấy sự chia rẽ nghiêm trọng trong chính giới Pháp. Ngân sách được đề nghị tăng từ 261 tỷ phơrăng vào năm 1951 lên tới 326 tỷ phơrăng vào năm 1952 (chỉ tính riêng cho lục quân), tương đương gần 1 tỷ mỗi ngày, ngày càng trở thành gánh nặng quá sức với nước Pháp. Trong khi những đại biểu cộng sản Pháp trong Quốc hội công kích kịch liệt chi phí chiến tranh, yêu cầu rút quân về nước, thì một số đại biểu của các đảng phái như: Phong trào Cộng hoà bình dân, Tập hợp vì nền Cộng hoà, Xã hội... lại phê phán cách điều hành chiến tranh của Chính phủ; tranh luận về vai trò, tầm quan trọng của Nam Kỳ hay Bắc Kỳ; đề nghị quốc tế hoá cuộc chiến tranh; đề nghị đàm phán để chấm dứt chiến tranh... Nhà sử học Yvơ Gra viết: "Tất cả các tham luận này được đăng tải rộng rãi trên báo chí, đã phản ảnh sự mệt mỏi của công luận Pháp đối với Đông Dương. Sau một thời gian dài thờ ơ, dư luận Pháp bây giờ nhận thấy cuộc chiến tranh này kéo dài mãi và tốn kém rất nhiều cho đất nước... Vậy là, khi thấy Đờ Lát vừa mất đi, các nhà lãnh đạo Pháp đã không còn giấu giếm rằng,đối với họ, một giải pháp quân sự ở Đông Dương là không thể thực hiện được"1 (Yvơ Gra, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương 1945 - 1954, Sđd, tr. 781 -782).


Chính phủ Pháp tiếp tục bị chia rẽ về cuộc chiến tranh Đông Dương. Sự bất lực vì không đề ra được một chiến lược thực sự cho Đông Dương là nguyên nhân chính dẫn tới sự sụp đổ của Chính phủ do Thủ tướng Rơnê Plêven (Réne Pléven) đứng đầu (8.1.1952). Ngày 18 tháng 1 năm 1952, Chính phủ mới của Thủ tướng Étga Phô (Edgar Faure) lên thay, tuyên bố tiếp tục cuộc chiến ở Đông Dương. Nước Pháp lại tiếp tục lún sâu vào cuộc chiến tranh hao người, tốn của và vô vọng ở Việt Nam và Đông Dương. Sự thất bại của quân Pháp trong cuộc tiến công ra Hoà Bình đã minh chứng cho chiều hướng đó.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #193 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2025, 08:49:41 pm »

CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH
BÀI HỌC VỀ SỰ NHẠY BÉN, SÁNG TẠO, ĐOÀN KẾT

Đại tá, PGS, TS TRẦN NGỌC LONG
Nguyên Phó Viện trường Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Vào những ngày này 70 năm về trước (1951), trên trang nhất của một số tờ báo lớn xuất bản ở Hà Nội và Pari xuất hiện dòng tít lớn chạy dài: Chiến dịch Hòa Bình là canh bạc lớn, là khẩu súng ngắn của De Lattre de Tassigny ngắm thẳng vào tim quân thù. Một sự trùng hợp khá lý thú là vào ngày 14 tháng 11 năm 1951 Tướng Đờ Lát (De Lattre de Tassigny) tổ chức họp báo khuếch trương cái gọi là "Chiến thắng Hòa Bình" và sáng ngày 15 tháng 11, ông cùng với tướng Xalăng đích thân bay lên Hòa Bình để "úy lạo binh sĩ" thì cũng đúng vào buổi sáng hôm đó, tại "đại bản doanh" kháng chiến ở Việt Bắc cũng diễn ra một cuộc họp quan trọng của Tổng Quân ủy đưa ra quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình. Và điều làm nhiều người ngạc nhiên hơn là tin thị xã Hòa Bình cùng nhiều vị trí quan trọng khác dọc hai bên bờ sông Đà và Đường số 6 rơi vào tay quân Pháp dội về căn cứ địa Việt Bắc không làm cho Bộ Tổng Tư lệnh của ta bất ngờ và lo lắng, mà ngược lại nó khuấy động bầu không khí tại cơ quan "Tổng hành dinh" thêm hào hứng và sôi nổi lạ thường. Từ vị Tổng Tư lệnh cho đến các cán bộ tham mưu, ai cũng cảm thấy nhẹ nhõm như vừa trút được gánh nặng trăn trở đènặng bấy lâu. Điều mà Bộ Tổng Tư lệnh cũng như cơ quan tham mưu băn khoăn, trăn trở ấy đã được giải tỏa mà theo như cách nói của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp thì: "Với việc cho quân đánh chiếm Hòa Bình, Đờ Lát đã cho ta cơ hội bằng vàng để tiêu diệt sinh lực địch và cứu vãn tình hình vùng địch hậu"1 (Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011,tr. 773, 774).


Tại Hội nghị này, Tổng Quân ủy đã đề nghị Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh "cho mở Chiến dịch Hòa Bình, chuyển hướng hoạt động thụ động sang tiến công địch mới chiếm đóng. Hòa Bình là hướng chính, các nơi khác là hướng phối hợp... Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích"2 (Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011,tr. 773, 774). Tại cuộc họp ngày 23 tháng 11 năm 1951, do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, Bộ Chính trị đã nhất trí với đề nghị của Tổng Quân ủy: Chuyển hướng chiến lược về Hòa Bình. Trên tinh thần đó, ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị về "Nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch", trong đó khẳng định rằng đây là cơ hội tốt để ta tiêu diệt địch. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có thư gửi cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch, trong đó Người chỉ rõ: "Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta. Muốn thắng thì ta phải tích cực, tự động, bí mật, mau chóng, kiên quyết, dẻo dai. Chắc thắng mới đánh... Bộ đội chủ lực đánh. Bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh..."3 (Hồ Chí Minh - Biên niên sự kiện quân sự (1919 - 1969) Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011, tr. 347). Có thể nói, hạ quyết tâm tiêu diệt địch ở Hòa Bình là một quyết định sáng suốt và hết sức nhạy bén của các cơ quan chỉ đạo chiến lược, chiến dịch. Sự nhạy bén và sáng suốt đó được biểu hiện trên một số vấn đề sau:


Về mặt chỉ đạo chiến lược, sau thắng lợi của Chiến dịch Biên Giới 1950, ta mở liên tiếp 3 chiến dịch ở trung du và đồng bằng, song cả 3 chiến dịch đều không thu được kết quả khả quan, "không hoàn thành được nhiệm vụ chiến lược đặt ra. Kết quả đó bắt nguồn từ những hạn chế về chỉ đạo chiến lược và nghệ thuật điều hành chiến dịch"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945 - 1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 123). Bước vào Thu - Đông 1951, trong khi việc xác định hướng tiến công chiến lược của ta đang là một trăn trở lớn đối với Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh thì việc quân Pháp nhảy vào Hòa Bình được coi là một sai lầm chiến lược của Bộ Chỉ huy quân Pháp và là cơ hội tốt cho ta. Điều đáng nói ở đây là ta đã triệt để tận dụng sai lầm đó để chuyển hướng tiến công chiến lược một cách kịp thời và linh hoạt để tiêu diệt khối chủ lực cơ động của chúng. Tuy nhiên, việc thay đổi hướng tiến công chiến lược lúc này, nhất là việc dừng ngay chiến dịch ở Liên khu 3 khi mà kế hoạch đã được phê duyệt và đang được triển khai để chuyển về mở Chiến dịch Hòa Bình là một vấn đề không hề đơn giản. Tại Hội nghị Tổng Quân ủy (15.11.1951), đa số ý kiến đều cho rằng, chuyển hướng tiến công chiến lược từ đồng bằng về vùng núi, dừng chiến dịch ở đồng bằng Liên khu 3 để tập trung lực lượng mở Chiến dịch Hòa Bình lúc này là hợp lý. Tuy nhiên, cũng có một số ý kiến tỏ ra băn khoăn vì cho rằng việc Bộ Chỉ huy quân Pháp dám bung lực lượng ra đánh chiếm Hòa Bình chứng tỏ chúng đang rất mạnh và ở thể chủ động. Ta không nên chạy theo địch khi mà kế hoạch tác chiến Đông - Xuân đã được phê duyệt và đang được triển khai một cách tích cực ở vùng đồng bằng, địch hậu Liên khu 3. Trong khi đó thì ngay cả đoàn cố vấn của Trung Quốc cũng khuyên ta: "Tốt nhất là quay về chiến tranh du kích, tiến hành chiến tranh nhân dân thật rộng rãi để hạn chế những chỗ mạnh của địch"2 (Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 250-260), cố vấn về tham mưu Mai Gia Sinh (Trung Quốc) cũng khuyên Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái rằng: Không nên bị động chạy theo địch ra hướng chiến trường do chúng đã lựa chọn, khi chúng chủ động giăng bẫy để thu hút chủ lực của ta1 (Trần Trọng Trung, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 516) thậm chí, ông Mai Gia Sinh còn cảnh báo: "Tôi biết trong chiến dịch này sẽ không có mặt các cố vấn. Các đồng chí lo trách nhiệm của mình nếu ta gặp khó khăn khi tiếp tục lao vào những trận đánh lớn. Đây là điều lo ngại chính đáng mà ta cần chú ý trong quá trình chỉ đạo tác chiến"2 (Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr. 775). Trước một số ý kiến còn tỏ ra băn khoăn như vậy, để tạo được sự đồng thuận về ý đồ chuyển hướng tiến công chiến lược, Hội nghị Tổng Quân ủy đã thảo luận, trao đổi rất thẳng thắn, dân chủ, cởi mở và cuối cùng cũng đi đến được sự thống nhất về việc chuyển hướng tiến công chiến lược. Đề nghị của Tổng Quân ủy đã được trình lên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh và được chuẩn y ngay sau đó.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #194 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2025, 08:51:20 pm »

Quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình là một quyết định kịp thời, nhạy bén và sáng suốt của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh. Nó được đưa ra trên cơ sở phân tích một cách khoa học và biện chứng, bám sát tình hình thực tiễn lúc bấy giờ. Rõ ràng là việc quân Pháp đánh chiếm được Hòa Bình cho thấy địch đang ở thế mạnh và chủ động. Kết quả khả quan của hành động quân sự này đã giúp quân Pháp mở rộng được phạm vi chiếm đóng, giành quyền kiểm soát được một số vị trí quan trọng và nguy hiểm hơn là cô lập căn cứ địa Việt Bắc với chiến trường Liên khu 3 và các mặt trận ở phía Nam; gây không ít khó khăn cho ta không chỉ về quân sự, mà cả về chính trị và kinh tế. Tuy nhiên, việc một lực lượng lớn binh lực của địch bị hút về Hòa Bình và Đường số 6 vô hình chung để lộ ra những khoảng trống và sơ hở ở vùng địch hậu, nếu ta biết khoét sâu "khoảng trống" này, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng địch hậu sẽ tạo được nhiều bất ngờ và lợi thế để phát triển thế và lực trên địa bàn này. Vả lại, việc địch tập trung một số lượng binh lực lớn lên chiến trường rừng núi - nơi vốn điều kiện địa hình không mấy thuận lợi, giao thông đi lại khó khăn, không phù hợp với tác chiến quy mô lớn, binh chủng hợp thành sẽ giảm thiểu rất nhiều ưu thế về trang bị, phương tiện và sức cơ động của quân Pháp. Quân địch lại vừa mới đứng chân ở Hòa Bình, chưa kịp làm quen với chiến trường mới và củng cố trận địa... Đây là những điểm yếu chí tủ' của quân Pháp mà ta có thể khai thác để nhân cơ hội này tiêu diệt được nhiều sinh lực của chúng. Trong mệnh lệnh tác chiến giao nhiệm vụ cho các đại đoàn trên hướng trung du và Mặt trận Hòa Bình, Bộ Tổng Tư lệnh đã xác định rất rõ chủ trương chuyển hướng tiến công, mở Chiến dịch Hòa Bình, đó là tranh thủ thời gian tiêu diệt lực lượng địch mới chiếm đóng, tiến tới giải phóng Hòa Bình. Lợi dụng lúc quân địch đang sơ hở, tranh thủ thời gian đẩy mạnh chiến tranh du kích, phát triển cơ sở, mở rộng căn cứ, phá kế hoạch Bộ Chỉ huy quân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng, tranh thủ vơ vét nguồn lực của ta trong vùng tạm chiếm.


Sự linh hoạt, sáng tạo của các cơ quan chỉ đạo, chỉ huy cả ở cấp chiến lược và chiến dịch được biểu hiện ở cả ngay trong quá trình chuẩn bị mở chiến dịch. Trong khi chờ đợi quyết định chuyển hướng tiến công chiến lược được Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh phê chuẩn, Bộ Tổng Tham mưu đã chủ động lệnh cho Đại đoàn 312 cơ động từ Tây Bắc xuống gần Hòa Bình để bảo vệ các căn cứ tiếp tế và tuyến đường vận chuyển; giám sát mọi động thái của địch tại đây. Song song với đó, Bộ Tổng Tham mưu cũng chỉ thị cho quân và dân các tỉnh đồng bằng Liên khu 3, lợi dụng triệt để sơ hở của địch ở vùng địch hậu, đẩy mạnh chiến tranh du kích; đồng thời chỉ thị cho Tổng cục Cung cấp chuẩn bị các kho hậu cần đủ bảo đảm tối thiểu cho 2 đại đoàn hoạt động. Trong quá trình chờ sự chuẩn y, để có sự chủ động và công tác chuẩn bị được chu đáo, Bộ Tổng Tham mưu đã giao nhiệm vụ sơ bộ cho các đại đoàn chủ lực, Liên khu Việt Bắc và Liên khu 3. Cả Bộ Tổng Tham mưu, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp... đều thân chinh ra mặt trận trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy các mặt hoạt động, bảo đảm có được sự chuẩn bị tốt nhất cho chiến dịch quan trọng này.


Trong quá trình diễn ra chiến dịch, cùng với chỉ huy đánh địch trên mặt trận chính (Hòa Bình - sông Đà - Đường số 6), Bộ Chỉ huy Chiến dịch còn đưa 2 đại đoàn luồn sâu vào vùng địch hậu phối hợp với quân và dân các địa phương đánh địch rộng khắp. Đây lại thêm một đòn hiểm buộc Bộ Chỉ huy quân Pháp phải căng kéo lực lượng cùng lúc đối phó với ta ở cả phía trước và phía sau. Điều này đã làm giảm áp lực đáng kể cho mặt trận chính. Nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa 2 mặt trận mà chỉ mới sau đợt 1 của chiến dịch, Bộ Chỉ huy quân Pháp đã bị đặt vào tình huống giằng xé giữa tập trung và phân tán lực lượng, do thiếu lực lượng cơ động để ứng cứu nên đối phó lúng túng, bị động. Hay nói một cách khác là ta đã buộc Bộ Chỉ huy quân Pháp phải chấp nhận một thất bại kép về chiến lược, thất bại trên cả 2 mặt trận.


Sự nhạy bén và sáng tạo trong Chiến dịch Hòa Bình không chi được biểu hiện ở việc chuyển hướng tiến công chiến lược từ địa bàn trung du, đồng bằng lên chiến trường rừng núi; mà còn ở chỗ ta đã kịp thời chuyển từ ý định chiến dịch phản công sang chuẩn bị và tiến hành chiến dịch tiến công quân địch đã chiếm đóng một cách linh hoạt1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945 - 1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 128). Ý định ban đầu của Bộ Chỉ huy Chiến dịch là lợi dụng khi quân địch vừa mới chiếm đóng, các vị trí chưa kịp củng cố, ta tranh thủ tổ chức tiến hành chiến dịch phản công, song do công tác chuẩn bị không triển khai kịp nên đã quyết định chuyển hình thái chiến dịch. Thực tế diễn biến và kết quả của Chiến dịch Hòa Bình cho thấy quyết định đó là phù hợp.


Vấn đề lựa chọn cách đánh trong Chiến dịch Hòa Bình cũng rất sáng tạo, phù hợp với đặc điểm chiến trường và khả năng, trình độ tác chiến của bộ đội ta lúc bấy giờ. Trong chiến dịch này, ta đã vận dụng thành công phương châm "tránh chỗ địch mạnh, đánh chỗ địch yếu". Cái hay, cái sáng tạo của Bộ Chỉ huy chiến dịch biểu hiện ở chỗ ta không vội vàng tiến công thẳng vào thị xã Hòa Bình - nơi đã được Bộ Chỉ huy quân Pháp xây dựng thành một tập đoàn cứ điểm và đang chủ động "chờ Việt Minh tới" để tiêu diệt, mà chọn sông Đà và dọc Đường số 6 làm mục tiêu chủ yếu để tiến công. Với cách đánh này, chúng ta vừa tránh được việc "húc đầu" vào những cứ điểm vững chắc, hạn chế được thương vong, tổn thất cho bộ đội... vừa có điều kiện để khoét sâu thêm điểm yếu chí từ của địch, đó là buộc chúng phải bung lực lượng ra cơ động trên hai trục giao thông chính là sông Đà và Đường số 6 để giải quyết vấn đề tiếp tế, tăng viện cho tập đoàn cứ điểm Hòa Bình. Hơn nữa, việc quân Pháp bung lực lượng ra đã cho ta thêm cơ hội để tiêu diệt chúng ngoài công sự, thực hiện có hiệu quả chủ trương đã được xác định ngay từ lúc bước vào chiến dịch, đó là "lấy tiêu diệt địch ngoài công sự làm chính".


Ngay từ đầu, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã xác định "Nơi nào địch sơ hở thì ta đánh, nơi nào có điều kiện tiêu diệt nhiều sinh lực địch thì ta đánh, không nhất thiết là đánh Hòa Bình"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945 -1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 136) và suốt trong cả quá trình diễn ra chiến dịch các hướng tiến công của ta vẫn kiên trì với điều đó. Việc Bộ Chỉ huy Chiến dịch chủ trương tập trung binh hỏa lực đột phá tuyến sông Đà - Ba Vì, bắt đầu bằng trận tiến công cụm cứ điểm Tu Vũ - núi Chẹ chứng minh cho thấy sự sắc sảo trong điều hành chiến dịch vì tiến công trên hướng này ta sẽ có điều kiện tiêu diệt nhiều sinh lực địch hơn. Đòn tiến công này không chỉ là một sự bảo đảm cho thắng lợi của trận mở màn chiến dịch, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thuận lợi; mà còn giúp cho việc mở hành lang vận chuyển hậu cần của chiến dịch được hanh thông.


Việc tập trung lực lượng đánh giao thông trên sông Đà và Đường số 6 cũng là một biểu hiện của sự sắc sảo trong điều hành chiến dịch. Tập đoàn cứ điểm Hòa Bình tồn tại được là dựa chủ yếu vào 2 tuyến giao thông huyết mạch này. Chính vì vậy, việc ta tập trung nỗ lực phong tỏa 2 trục giao thông quan trọng này ngay từ đầu chiến dịch đã góp phần cô lập tập đoàn cứ điểm Hòa Bình, gây cho quân Pháp rất nhiều khó khăn, mà như tướng Xalăng (Raoul Salan) sau này tiết lộ: "Đối phương muốn đẩy mạnh cuộc tiến công của họ và dốc mọi sự cổ gắng vào Đường số 6 và sông Đà khiến cho sự đi lại của chúng ta trên con đường này gặp rất nhiều khó khăn. Tôi tuyệt đối cần có nó. Khốn nỗi, việc duy trì tuyến đường đã chôn chân 16 tiểu đoàn. Đó là điều quá đáng..."1 (Hồi ký của Raoul Salan, Tập 2, Presses de la Cite, Paris, 1971, tr. 287).


Trong Chiến dịch Hòa Bình, mặc dù còn có một số trận đánh chúng ta chưa thể dứt điểm được, thương vong bộ đội còn cao, thực hiện "đánh điểm" có trận chưa thành công, song nhìn một cách toàn cục, chủ trương đề ra và chỉ đạo thực hiện nhất quán phương châm "đánh điểm, diệt viện" trong suốt cả 3 đợt của chiến dịch là một chủ trương hợp lý. Nó phản ảnh sự lựa chọn, cân nhắc sắc sảo của Bộ Chỉ huy Chiến dịch trong quá trình điều hành chiến dịch.


Tựu trung lại, từ Chiến dịch Hòa Bình có thể rút ra bài học về chỉ đạo chiến lược, đó là bản lĩnh và tính quyết đoán chuyển hướng tiến công chiến lược một cách kịp thời, là sự chỉ đạo phối hợp có hiệu quả giữa mặt trận chính với mặt trận sau lưng địch. Trong bối cảnh vũ khí, trang bị của lực lượng vũ trang ta còn hạn chế, sức mạnh của các đại đoàn chủ lực mới chỉ là sức mạnh có điều kiện. Sức mạnh đó chỉ có thể được nhân lên tại chiến trường rừng núi - nơi địch khó phát huy ưu thế về trang bị và khả năng ứng cứu, trong khi bộ đội ta lại có thể phát huy được sở trưởng, sở đoản của mình. Chính vì vậy, vấn đề chọn hướng tiến công chiến lược đúng có thể được coi là mang ý nghĩa quyết định thắng lợi của chiến dịch này.


Sự chỉ đạo, điều hành chiến dịch, đó là kiên quyết chuyển loại hình chiến dịch sao cho phù hợp với tình hình thực tế của chiến trường; là chọn hướng tiến công chủ yếu và kịp thời chuyển hướng tiến công chủ yếu giữa các đợt của chiến dịch một cách linh hoạt và sáng tạo; là lựa chọn phương thức tác chiến phù hợp với đặc điểm chiến trường và trình độ tác chiến của bộ đội; là nghệ thuật triệt đường tiếp tế, tiến tới bao vây, cô lập... cuối cùng buộc địch phải rút khỏi Hòa Bình; là thấu triệt và kiên định với phương châm "tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu", hạn chế ưu thế của địch, khoét sâu sai lầm và yếu điểm của chúng, lấy tiêu diệt địch ngoài công sự làm chính... Đó còn là lựa chọn phương châm tác chiến phù hợp với so sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch; nhằm đạt hiệu suất chiến đấu cao, đồng thời hạn đến mức thấp nhất thương vong của bộ đội...


Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình cùng với kết quả của các chiến dịch sau hai năm "chuyển lên đánh lớn", bước vào mùa khô năm 1952, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định chuyển hướng tiến công chiến lược lên chiến trường Tây Bắc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #195 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2025, 08:35:56 pm »

CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH - NHÌN NHẬN TỪ ĐỐI PHƯƠNG

Đại tá, TS TRƯƠNG MAI HƯƠNG
Nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


70 năm trôi qua (1951 - 2021) kể từ khi dân tộc Việt Nam chiến thắng thực dân Pháp ở Hòa Bình, những ô tư liệu dần được mở khóa, những bí mật sẽ không còn bí mật, nhưng tác động của Chiến dịch Hòa Bình còn mãi, vẫn cần được khám phá. Tại Pháp và các nước phương Tây còn có nhiều ý kiến trái chiều xung quanh Chiến dịch Hòa Bình. Trong suốt những năm qua, có nhiều nhà nghiên cứu về sử học quân sự đã đưa ra bình luận với những chiều cạnh khác nhau kể từ trước, trong và sau khi Chiến dịch Hòa Bình kết thúc. Thậm chí là cả tướng lĩnh, sĩ quan, binh sĩ Pháp trực tiếp tham chiến đã trả lời phỏng vấn báo chí cũng như thể hiện trong hồi ký của mình. Phần đông trong số họ đều công nhận thắng lợi của Việt Minh; đánh giá cao quân đội của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các mặt từ tổ chức ký luật, trình độ chiến đấu đến sự phối hợp không chỉ của chủ lực mà cả các lực lượng khác trong thời gian diễn ra chiến dịch. Và đương nhiên là còn có ý kiến đổ lỗi cho nhau, biện minh cho sự thất bại của Pháp.


Về phía Pháp, bước sang năm 1951, cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương gặp nhiều khó khăn, nội các lục đục liên tiếp, Chính phủ Pháp gửi công văn mật từ Pari sang Hà Nội với nội dung"Cần phải tiến công!". Tuy nhiên viện trợ từ chính quốc không được Quốc hội Pháp phê duyệt để bổ sung sang chiến trường Đông Dương kịp thời. Điều đó làm cho Đờ Lát đờ Tatxinhi (Jean de Lattre de Tassigny) - Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương rất bực bội, ông đã nói: "Pari chẳng hiểu gì cả! Họ cho rằng tôi án binh bất động, không có tinh thần tiến công và bỏ phí thì giờ, không biết kết thúc sớm chiến tranh". Sang tháng 9 và tháng 10 năm 1951, Đờ Lát công du sang Anh xin thêm viện trợ. Lúc này Mỹ đã cam kết gửi sang chiến trường Đông Dương 9.000 súng tiểu liên, 500 súng máy, 5.000 xe vận tải... Tuy nhiên, những cam kết trên đã không đáp ứng được yêu cầu của Đờ Lát, chưa kể Mỹ ra điều kiện phần lớn hàng viện trợ phải được sử dụng vào tổ chức trang bị cho lực lượng tay sai Quân đội Quốc gia Bảo Đại. Vậy nên, Đờ Lát đã gấp rút thực hiện việc đánh chiếm Hòa Bình, hy vọng bằng thắng lợi này sẽ kích thích Anh, Mỹ tăng cường viện trợ như đã hứa hẹn.


Thực hiện kế hoạch trên quân Pháp tiến hành đánh chiếm Hòa Bình vào ngày 9 tháng 11 năm 1951 với mong muốn rằng việc chiếm đóng Hòa Bình sẽ là "Khẩu súng ngắn chĩa thẳng vào tim quân thù..."1 (Trần Trọng Trung, Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 356). Đến ngày 15 tháng 11 năm 1951, địch chiếm được Hòa Bình hòng bịt chặt cửa ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, chặt đứt đường giao thông giữa căn cứ địa Việt Bắc với Nam Liên khu 3 và vùng tự do Liên khu 4. Chỉ tính riêng trên đoạn Đường số 6 dài chưa đầy 50km từ Xuân Mai đến Bến Ngọc, địch rải 11 đại đội Âu - Phi thuộc Trung đoàn bộ binh Marốc và bán Lữ đoàn lê dương chiếm giữ, ngoài ra còn một số đại đội bộ binh ngụy đóng xen kẽ.


Trong bối cảnh đó, sau khi chuẩn bị kỹ lưỡng, ngày 10 tháng 12 năm 1951, Quân đội nhân dân Việt Nam mở chiến dịch tiến công nhằm giành lại Hòa Bình. Khu vực phòng ngự Tu Vũ - Chẹ, vị trí phòng ngự then chốt của phân khu sông Đà cách thị xã Hòa Bình 30km về phía Bắc được lựa chọn là mục tiêu tiến công mở màn Chiến dịch Hòa Bình. Cứ điểm này do Tiểu đoàn Marốc số 1, một đại đội thuộc Tiểu đoàn ngụy Mường số 6, với xe tăng, xe thiết giáp chốt giữ. 20 giờ ngày 10 tháng 12, Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) được tăng cường 7 khẩu sơn pháo 75mm, cùng đại đội súng máy phòng không 12,7mm chia thành 3 mũi tiến công, đến 5 giờ sáng hôm sau, ta đã làm chủ hoàn toàn cứ điểm Tu Vũ.


Ngay lập tức, tin thất bại từ trận đầu bay về Hà Nội, Pari... Phòng Nhì như ngồi trên đống lửa, liên tục bị gọi và hòi về thực tế diễn biến ngày càng xấu của chiến dịch. Chỉ hai ngày sau khi bại trận, tờ Lơ Phigarô đã đăng tải "Thật khủng khiếp, Việt Minh chiến đấu hăng say không lúc nào ngưng. Rồi thất bại đến nhanh quá. Người Pháp cũng phải suy nghĩ lại việc chinh phục Đông Dương và đối phó với Việt Minh"1 (Báo Lơ Phigarô, số ra ngày 12 tháng 12 năm 1951, lưu tại Thông tấn xã Việt Nam). Còn tờ "Nước Pháp buổi chiều" thì đưa tin "Việt Minh đã làm chủ ngay từ đêm đầu tiên rồi. Tình hình binh lính Pháp và Âu - Phi rất đáng ngại. Từng đoàn quân lê lết trở về trước sức mạnh của Việt Minh"2 (Báo Nước Pháp buổi chiều, số ra ngày 15 tháng 12 năm 1951, lưu tại Thông tấn xã Việt Nam)...


Trên cương vị chỉ huy Tiểu đoàn dù số 6, Mácsen Bigia (Marcel Bigeard) sau này mới sang Đông Dương nhưng đã viết trong hồi ký của mình nặng lời chỉ trích Đờ Lát: "Sang Đông Dương cùng với một ngàn người, chỉ huy họ chiến đấu trong hai năm trời trong điều kiện ngày càng bi thảm hơn, ở đó chúng tôi biết rằng ngài Đờ Lát vĩ đại, xuất sắc của chúng tôi bị sa lầy, bất chấp tính hung hăng của ông"3 (Marcel Bigeard, Lời thú nhận muộn mằn, Nxb Hà Nội, Hà Nội, 2004, tr. 109). Đúng vậy, sau trận mở màn kết thúc nhanh chóng, trang sử Tu Vũ được đặt ra trong bầu không khí căng thẳng, lo âu ở cả Hà Nội và Pari. Đờ Lát lúc này lâm bệnh trọng, cùng với việc con trai duy nhất chết trận hồi tháng 3 năm 1951, cũng như các cuộc gọi điện thoại tới tấp từ chính quốc... làm cho sức khỏe của ông đã yếu và rồi gần như không thể chống lại được nữa với bệnh ung thư ngày càng nặng, buộc ông phải quay về Pháp điều trị vào ngày 19 tháng 11 năm 1951. Chính phủ Pháp cử người kế nhiệm là Raun Xalăng (Raoul Salan), tiếp tục thực hiện kế hoạch.


Nhận nhiệm vụ được giao, Xalăng khẩn trương bố trí lại lực lượng trên địa bàn. Các điểm cao 564,400, 600 trên dãy núi Ba Vì được Pháp cho quân đóng giữ nghiêm ngặt. Ngoài ra, còn có GM1 làm nhiệm vụ bảo vệ từ Đường số 6 đến sông Đà.

Những ngày tiếp theo của chiến dịch, tình hình quân Pháp càng trở nên bi thảm. Quân số hao hụt lớn do chết và bị thương, hàng tiếp tế khó khăn và thiếu, binh lính gần như bị kẹt cứng, nên tinh thần cả chỉ huy cũng rất hoang mang, lo sợ. Tờ Action dẫn rằng "Quân Việt tấn công dữ dội trận địa của chúng tôi. Họ xung phong nhiều đợt. Quân sĩ của chúng tôi nấp kín trong hầm hào, được bảo vệ bởi mìn, dây thép gai, lưới mắt cáo, nổ súng ở khoảng cách 40 mét... những gì sẽ diễn ra là rõ, chỉ sau ít giờ chiến đấu, các điểm cao đã thuộc về Việt Minh rồi"1 (Báo Action, số ra ngày 18 tháng 12 năm 1951, lưu Thông tấn xã Việt Nam). Trong báo cáo gửi Bộ Tham mưu quân viễn chinh Pháp tại Hà Nội chỉ rõ: "Quân của ông Giáp ở đâu ra ùn ùn, họ không chỉ chủ lực, họ có các tầng lớp khác là nhân dân cùng chiến đấu ác liệt, cần tăng viện binh, sức khỏe binh lính giảm sút. Trong khi quân Việt đánh rất quyết liệt. Chúng tôi cần sự hỗ trợ ngay..."2 (Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Pháp (1951 - 1952), lưu Thư viện Trung ương Quân đội). Nhưng rồi, tại Pari hầu như chỉ nghe ngóng thông tin từ Hà Nội chứ không có động thải trả lời. Thực tế đó làm cho Bộ Tham mưu quân Pháp tại Hà Nội rất lo lắng, không có phương sách nào cứu vãn, tình hình vẫn rất bi thảm, quân ngụy chán nản dẫn đến hạn chế về mọi mặt, không còn khả năng chiến đấu dài ngày trong điều kiện thiếu thốn.


Lúc này, Xalăng nhận thấy không đủ lực lượng để tiếp tục bảo vệ phòng tuyến sông Đà nên đã cố gắng xin tăng viện, nhưng bất thành. Đồng thời, ông tổ chức họp bàn với các tướng lĩnh, nhằm phán đoán về lực lượng và cách đánh của Việt Minh tiến hành trong những ngày tiếp theo. Thế nhưng, tất cả chỉ dừng lại ở sự thất vọng. Cuối cùng, Xalăng quyết định chỉ để lại cụm cứ điểm Đan Thê - La Phù, tất cả lực lượng còn lại được rút về tăng cường cho tuyến phòng ngự tại thị xã Hòa Bình.


Qua trinh sát nắm rõ tình hình suy yếu của địch, vào đêm mùng 7 tháng 1 năm 1952, Trung đoàn 102 tiến công thị xã Hòa Bình và hành lang bảo vệ Đường số 6 do Tiểu đoàn bộ binh số 2 thuộc bán Lữ đoàn lê dương số 13, cùng 4 khẩu pháo 105mm và1trung đội xe tăng chiếm giữ. Tại đây, do ta chưa nắm chắc địch, công tác chuẩn bị chiến trường, tổ chức chiến đấu còn đơn giản do thời gian gấp nên khi tổ chức tiến công đã bị địch phản pháo quyết liệt, bộ đội ta bị thương vong nhiều và ngay từ đầu không phát triển được. Nhân đà này, địch đã tung hô chiến thắng và báo cáo gửi về Bộ Tham mưu quân Pháp tại Hà Nội và Pari rằng, "Việt Minh đã bại trận, chúng ta đã xốc lại lực lượng và rồi chúng ta sẽ tiếp tục chiến thắng không lâu nữa"1 (Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Pháp (1951 - 1952), tài liệu lưu Thư viện Trung ương Quân đội). Còn Hãng tin AFP thì dẫn rằng "Phần thắng lại thuộc về phía Pháp. Quá rõ rồi! Vài ngày qua Việt Minh dồn lực lượng nhưng không chiến thắng nổi vũ khí hiện đại..."2 (Theo Tin tức thế giới, tài liệu lưu Thư viện Trung ương Quân đội). Vậy là từ ngày 11 đến ngày 31 tháng 1 năm 1952, viên Phó Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ớ Đông Dương vét hết lực lượng cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ giao cho Đại tá Gin chỉ huy thực hiện cuộc hành binh "Cái phễu soi" (Spéculum) nhằm đẩy bộ đội ta ra xa Đường số 6. Tiếp đó, chúng cử Trung tá Đuycuốcnô nhảy dù xuống Hòa Bình, thay Đại tá Clêmăng, ngườiđã mất tinh thần từ sau cuộc tấn công của bộ đội ta vào thị xã Hòa Bình.


Mặc dù vậy, theo tin tức tình báo thu thập được, địch biết rõ lợi thế của ta và yếu thế của chúng. Nếu không chủ động rút quân nhanh ra khỏi Hòa Bình thì tình hình chiến sự sẽ càng khó khăn cho Pháp. Qua tính toán, Xalăng đã âm thầm chuẩn bị kế hoạch rút quân mang tên "Cầu vồng" (Opération Arcenciel). Đến ngày 23 tháng 2 năm 1952, địch bắt đầu rút quân khỏi Hòa Bình. Các trung đoàn 36, 209 tổ chức truy đuổi, diệt một số địch. Trên Đường số 6, ta bắn rơi tại chỗ 1 máy bay Bearca của Pháp. Dù Xalăng cố tình gửi báo cáo với nhiều nội dung thuận lợi trên chặng đường rút quân, song không thể giấu giếm được. Tin tức được loan ra nhanh chóng và sự thật được phơi bày không chỉ ở Hòa Bình, Hà Nội mà cả ở Pari. Làn sóng biểu tình, đấu tranh buộc Chính phủ Pháp phải chấm dứt ngay cuộc chiến hao người, tốn của tại Đông Dương diễn ra mạnh mẽ. Tờ Nhân đạo chỉ rõ "Quân Việt đuổi theo rất quyết liệt, đối phương rất đông và có kỹ thuật. Quân Pháp hành quân trong đêm và hai bên đường đều có lính Âu - Phi nằm gục"1 (Báo Nhân đạo, số ra ngày 28 tháng 1 năm 1952, lưu Thông tấn xã Việt Nam). Còn tờ Thế giới thì ca ngợi Quân đội Việt Minh "Quân Việt đã có một trận thắng lớn, đè bẹp đối phương. Bởi vì họ thông thạo địa hình, họ đi len lỏi vào con đường nhỏ, hẹp rồi từ đó túa ra không biết là mấy trăm con người, họ ở thế áp đảo"2 (Báo Thế giới, số ra ngày 27 tháng 1 năm 1952, lưu Thông tấn xã Việt Nam).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #196 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2025, 08:38:21 pm »

Trong quá trình rút quân, Bộ Chỉ huy quân Pháp tại Hà Nội luôn nín thở để theo dõi đoàn quân bại trận. Tuy nhiên, họ tỏ ra tức giận và hối thúc các tướng lĩnh chỉ huy trên đường rút chạy. Sau cùng, họ không kìm chế được đã gọi điện thoại chỉ trích cả chỉ huy và binh lính không quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ và thốt ra rằng "Bọn họ hỏng hết rồi". Và như bị đổ thêm dầu vào lửa khi mà đồng loạt tại Pari, các trang báo giật tít trên trang nhất "Họ từ địa ngục trở về"; "Trang sử bi thảm"; "Cuộc rút quân đầy gian khó"... Nội dung các bài báo miêu tả rất kỹ về nỗi khổ cực trên đường rút chạy khỏi Hòa Bình của binh lính Pháp, đã bị Việt Minh truy đuổi và tiêu diệt. Tờ Paris Match thì miêu tả rất cụ thể: "Cảnh khốn quẫn của quân đội Pháp bị truy đuổi quyết liệt, gần như Việt Minh muốn trói chặt quân Pháp tại đất Hòa Bình này. Việt Minh đã dùng lối đánh ác hiểm để tiêu diệt chúng ta. Và đúng như dự đoán chúng ta đã thua rất đau. Tin tức này làm xé lòng các bà mẹ tai chính quốc có con đi lính tại chiến trường Đông Dương"1 (Báo Paris Maích, số ra ngày 18 tháng 12 năm 1951, lưu Thông tấn xã Việt Nam). Để hỗ trợ cho đợt rút quân này, quân Pháp đã bắn hơn 30 nghìn viên đạn pháo huy động hàng trăm lượt máy bay yểm trợ. Thế nhưng chi trong 3 ngày địch rút quân, bộ đội ta đã tiêu diệt 6 đại đội địch, phá hủy 23 xe quân sự, thu trên 100 tấn đạn dược và quân trang, quân dụng. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, địch rút quân về đến Xuân Mai, kết thúc cuộc hành binh đánh chiếm Hòa Bình đầy tham vọng.


Bị thua đau tại Hòa Bình, Bộ Tham mưu quân Pháp tại Hà Nội rối ren khi Pari chỉ trích và Quốc hội quay lưng. Tại buổi họp báo, Lơtuốcnô (Letoumeau) - Cao ủy Pháp tại Đông Dương, ngồi bên cạnh là tướng Xalăng, tướng Linarét và nhiều quan chức cao cấp khác đã trầm ngâm. Và rồi trước những câu hỏi của phóng viên, các tướng lĩnh chỉ trả lời chung chung, đổ lỗi cho thời tiết, khí hậu, địa hình rừng núi... không nghĩ đến nguyên nhân thất bại thê thảm ngày từ trận đầu là do sức ép quá lớn đối với binh lính không chi Pháp mà cả lính Âu - Phi và ngụy Việt. Đồng thời, là do đi những nước cờ sai lầm từ kế hoạch hành quân đánh chiếm lâu dài Hòa Bình của Pháp; cùng với đó là sự lớn mạnh của Việt Minh mà họ nhận ra nhưng vẫn cố tình bào chữa cho chủ quan của mình.


Đối với ta, sự thật chỉ ra rằng, Chiến dịch Hòa Bình đã góp phần tạo nên bước ngoặt của cuộc kháng chiến, đánh dấu bước trưởng thành về nghệ thuật chỉ đạo chiến lược, chiến dịch và điều hành chiến tranh của Đảng và Bộ Tổng Tư lệnh. Ngay tại thời điểm này, khi đánh giá tình hình hai bên, các học giả nước ngoài đều thống nhất nhận định "Trong trận này, Việt Minh cho thấy họ bắt đầu lớn mạnh và có thể đánh lớn với Pháp... từ trận Hòa Bình, người Pháp bắt đầu tuyệt vọng, hoàn toàn hết hy vọng đánh thắng ông Hồ Chí Minh"1 (Maicơn Mắc Clia, Việt Nam cuộc chiến tranh mười nghìn ngày, Thư viện Trung ương Quân đội dịch, tr. 92). Với thất bại tại Hòa Bình, tướng H. Nava (Henri Navarre) tuy không trực tiếp chỉ huy, điều hành, nhưng sau này cũng phải cay đắng thừa nhận trong cuốn hồi ký "Đông Dương hấp hối" rằng: Chúng ta đã bị thiệt hại nặng về chiến lược, không thu được một kết quả quyết định nào. Chiến dịch Hòa Bình đã giam chân các binh đoàn chủ lực cơ động tinh nhuệ của ta ở xa đồng bằng trong một thời gian dài. Do đó, đã tạo lợi thế cho đối phương đưa các binh đoàn chủ lực lọt vào đồng bằng hoạt động. Đối phương đã giành được thắng lợi quan trọng. Điều cần nói đến nữa chính là cuộc chiến tại Đông Dương đã không được lòng nhân dân Pháp, làn sóng dư luận bất bình lên cao độ, như quan điểm của nhà nghiên cứu sử học người Nhật Singô Sibata là: Sự kiện người Việt Nam kháng Pháp thời điểm diễn ra Chiến dịch Hòa Bình không chỉ tác động sâu sắc tới tinh thần của nhân dân Pháp mà cả nhân loại tiến bộ trên thế giới2 (Singô Sibata, Y nghĩa lịch sử thế giới của thắng lợi của cách mạng Việt Nam, trong Thế giới bàn về Việt Nam, Hà Nội, 1978).


Một nguyên nhân nữa dẫn đến thất bại của Pháp chính là đánh giá thấp đối phương, ỷ vào phương tiện chiến tranh hiện đại, có sự viện trợ của Mỹ. Và ngay khi thất bại tại Tu Vũ, Đại tá Clêmăng đã báo cáo từ Mặt trận Hòa Bình về Hà Nội cho tướng Xalăng rằng "Ngay sau trận Tu Vũ, đối phương đang dồn lực lượng đánh mạnh trên các trục giao thông thủy bộ thuộc phân khu sông Đà"3 (Trần Trọng Trung, Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu, Nxb Quân đôi nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 360). Tờ Chiến đấu của Pháp dẫn rằng "Ông Giáp có phương pháp riêngcủa mình... ông đã điều gần hết quân chính quy ra mặt trận Hòa Bình với một sự nhanh chóng kinh khủng"1 (Báo Chiến đấu, số ra ngày 2 tháng 6 năm 1952, Lưu Thông tấn xã Việt Nam). Còn, Tập san Quốc tế thì bình luận một cách thẳng thắn: Đối phương luôn vượt quân Pháp về tốc độ! Họ lợi dụng địa hình quen thuộc, lợi dụng thời cơ khi các cứ điểm của ta đứng chân chưa vừng để tiêu diệt binh lưc ta... việc tiêu diệt lực lượng ta là nhân tố quan trọng trong chiến lược dẫn đến chiến thắng về phía đối phương. Trong bản báo cáo của Bộ Tham mưu quân Pháp tại Hà Nội gửi về Pari đã nêu rõ "Không những đối phương đã điều 3 sư đoàn chủ lực lên mặt trận Hòa Bình mà 2 sư đoàn khác "coi như không có phòng tuyến Đờ Lát", đã tiến vào đồng bằng để giúp đỡ cho các đội du kích đang kiên trì hoạt động nay trong những vùng mà quân Pháp vừa càn quét"2 (Dẫn theo Trần Trọng Trung, Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 358).


Sự thật không chỉ dư luận tiến bộ Pháp đánh giá sai lầm của cuộc chiến tranh Đông Dương này mà cả Bộ Chỉ huy quân ngụy cũng lên tiếng chỉ trích Đờ Lát, cho rằng ông đã khinh thường đối phương, không lường định được sức mạnh của họ; rằng ông đã đưa quân lính của mình vào chốn rừng núi Hòa Bình để tự chuốc lấy cuộc sống kham khổ, bị cô lập, trong khi địa hình này là sở trường của đối phương.


Không cần bàn gì hơn nữa, sự thật Việt Minh giành thắng lợi tại Hòa Bình đã thúc đẩy phong trào cách mạng của ba nước Đông Dương và phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ tại chính nước Pháp cũng như trên thế giới. Từ đó, buộc Pháp phải đối phó với đối phương để lọt vào vùng đồng bằng; và rồi mọi cố gắng, nỗ lực bình định trong cả năm 1951 của Pháp bị xóa số hoàn toàn. Tuy nhiên, phải đến 20 năm sau, khi viết tập 2 cuốn hồi ký, Raun Xalăng mới cay đắng thốt lên rằng "Phải coi việc quân Pháp rút chạy và để mất vùng đất Hòa Bình là một thất bại thảm hại".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #197 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2025, 08:41:30 pm »

CHIẾN THẮNG HÒA BÌNH - TẦM VÓC VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ


Đại tá, TS VŨ TANG BỒNG
Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Kỹ thuật quân sự,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược, những hoạt động quân sự lớn hằng năm của ta và địch thường bắt đầu khi mùa khô đến.


Chuẩn bị cho mùa khô 1951 - 1952, từ ngày 27 tháng 9 đến ngày 5 tháng 10 năm 1951, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp, đánh giá tình hình và đề ra nhiệm vụ, phương châm kháng chiến cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Trung ương Đảng nhận định: Từ sau Chiến dịch Biên Giới - 1950, ta vẫn giữ được quyền chủ động trên chiến trường chính, liên tiếp mở 3 chiến dịch lớn ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, đã tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, nhưng chưa làm thay đổi được tình thế vì chưa có ưu thế quân sự hơn địch. Chiến tranh du kích của ta tuy vẫn tiếp tục phát triển nhưng hiện nay đang trài qua thời kỳ khó khăn, nhất là ở Bắc Bộ, Nam Bộ do địch tăng cường càn quét, bình định, đưa chiến tranh tổng lực lên mức độ cao. Các mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng của ta phối hợp với nhau còn chưa chặt chẽ; cuộc đấu tranh toàn diện về quân sự, chính trị, kinh tế ở các vùng địch tạm chiếm còn chưa được coi trọng đúng mức.


Quán triệt, cụ thể hóa nhiệm vụ quân sự do Hội nghị lần thứ hai của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra, ngày 9 và ngày 10 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp mở rộng, quyết định sử dụng một số đại đoàn luân phiên hoạt động phân tán ở trung du và hữu ngạn Liên khu 3 để thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, mở "Chiến dịch Liên khu 3" tiến công địch ở đồng bằng.


Trong khi ta đang chuẩn bị mở Chiến dịch Liên khu 3 thì tình hình lại nhanh chóng thay đổi do những động thái mới của Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Sau gần 1 năm ra sức củng cố, tăng cường xây dựng khối chủ lực cơ động, xây dựng phòng tuyến boongke bằng bê tông cốt sắt (Pháp gọi là Phòng tuyến Đờ Lát), gồm 113 vị trí, 1.200 lô cốt và hệ thống công sự nửa chìm nửa nổi chạy từ Hải Ninh, Hòn Gai, Quảng Yên qua Bắc Giang, Bắc Ninh sang Phúc Yên, Sơn Tây, Hà Đông xuống Hà Nam, Ninh Bình nhằm bao vây chia cắt đồng bằng Bắc Bộ, địa bàn chiến lược mà Pháp luôn coi là "then cửa của Đông Dương"1 (Đây là phòng tuyến nổi tiếng tốn kém. Riêng số xi măng để xây dựng là 51 triệu mét khối). Đến cuối năm 1951, Đờ Lát đờ Tátxinhi (viên tướng 5 sao, được Chính phủ Pháp bổ nhiệm làm Tổng Chỉ huy kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương từ ngày 15 tháng 12 năm 1950) cho rằng tình hình quân sự "nhìn chung cán cân đã nghiêng về phía Pháp... đã đến lúc có thể dứt khoát từ bỏ thái độ phòng ngự mà Pháp đã phải chịu đựng từ năm 1948, nhất là từ cuối năm 1950 để chuyển sang thế tiến công"2 (Yves Gras, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương, Nxb Plon, Pari, 1979, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam). Từ đánh giá trên, tháng 10 năm 1951, Bộ Chỉ huy quân Pháp huy động 10 tiểu đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn dù cùng nhiều máy bay, tàu chiến mở cuộc tiến công vào Thanh Hóa nhằm thọc sâu vào vùng tự do của ta, phá hậu phương quan trọng của cuộc kháng chiến, buộc chủ lực ta phải giao chiến ở địa bàn mới, xa căn cứ địa Việt Bắc. Nhưng do trên đường hành quân (chủ yếu xuất phát bằng đường biển từ Hải Phòng) gặp bão lớn nên cuộc tiến công của Pháp buộc phải bỏ dở. Ngay sau đó, Đờ Lát đờ Tátxinhi huy động phần lớn các binh đoàn cơ động hiện có ở Bắc Bộ mở cuộc tiến công đánh chiếm Hòa Bình - tỉnh tự do duy nhất còn lại của Liên khu 3. Đây là địa bàn quân Pháp buộc phải rút bỏ sau thất bại ở biên giới, Thu - Đông 1950. Mục tiêu của Đờ Lát đờ Tátxinhi là nhằm kéo chủ lực của ta vào nơi mà Bộ Chỉ huy quân Pháp sẽ bày sẵn thế trận để tiêu diệt; nối lại hành lang Đông - Tây; ngăn chặn giao thông tiếp tế và mọi hoạt động của ta từ Việt Bắc xuống Liên khu 3, Liên khu 4 và các liên khu, chiến trường phía Nam; bịt kín một cửa ngõ quan trọng tiến lên Tây Bắc, sang Thượng Lào; gây ảnh hưởng chính trị để củng cố tinh thần ngụy quân, ngụy quyền; tranh thủ viện trợ của Mỹ.


Cuộc hành quân đánh chiếm Hòa Bình được Đờ Lát đờ Tátxinlii giao cho tướng Xalăng chỉ huy chia làm 2 đợt:

Đợt 1, từ ngày 9 tháng 11 năm 1951, địch huy động 3 binh đoàn cơ động (GM1, GM2, GM3), 1 tiểu đoàn dù, 2 đại đội biệt kích (tổng cộng hơn 10 tiểu đoàn), được không quân, pháo binh chi viện mở Cuộc hành quân Tuylíp đánh chiếm khu vực chợ Bến (bao gồm huyện Lương Sơn thuộc tỉnh Hòa Bình và một phần huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông - nay thuộc thành phố Hà Nội). Sau 4 ngày, địch đã thiết lập được 20 vị trí dọc theo Đường số 21 từ Xuân Mai tới chợ Bến và từ Ba Thá đến Miếu Môn, hình thành tuyến phòng thủ Đường số 21 ở phía Nam Hòa Bình.


Đợt 2, trong 2 ngày 13 và 14 tháng 11, địch mở Cuộc hành quân Lôtuýt, sử dụng 5 binh đoàn cơ động (GM1, GM2, GM3, GM4, GM7), 3 tiểu đoàn dù (tổng cộng 20 tiểu đoàn), hơn 700 xe cơ giới, nhiều xe tăng, tàu chiến, máy bay theo Đường số 6 và sông Đà đánh chiếm thị xã Hòa Bình và khu vực dọc theo hai bên bờ sông Đà thuộc 2 huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn (tỉnh Hòa Bình)cùng các vị trí La Phù, Đồng Luận, Yến Mao, Tu Vũ (thuộc huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ).


Sau khi đánh chiếm Hòa Bình, Bộ Chỉ huy quân Pháp tổ chức thành 2 phân khu: Phân khu Bắc (sông Đà - Ba Vì) có 5 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn dù, 1 tiểu đoàn pháo, 1 trung đội xe tăng. Phân khu Nam (Hòa Bình - Đường số 6) có 6 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn pháo, 1 tiểu đoàn xe tăng. Phân khu Nam trở thành 1 tập đoàn cứ điểm với 28 vị trí lớn nhỏ - một hình thức tổ chức chiếm đóng quy mô tương đối lớn, lần đầu tiên xuất hiện ở chiến trường Đông Dương1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập V, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 421, 422).


Về phía ta, ngay từ cuối tháng 10 năm 1951, khi xây dựng kế hoạch tác chiến Đông - Xuân, Bộ Tổng Tư lệnh đã dự kiến tình huống phải đối phó với các cuộc tiến công của địch ra vùng tự do, nhất là hướng Lạng Sơn, Hòa Bình.

Ngày 15 tháng 10, nhận được tin địch đánh ra Hòa Bình, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh lập tức chỉ thị cho các địa phương, đơn vị đình chỉ công tác chuẩn bị Chiến dịch Liên khu 3. Ngày 18 tháng 11 năm 1951, trong báo cáo gửi Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh nhận định: "Cuộc tiến công ra Hòa Bình của địch sẽ gây cho ta những khó khăn, nhưng cũng tạo cho ta một cơ hội tốt để tiêu diệt sinh lực của chúng do chúng đã mang lực lượng cơ động tinh nhuệ ra bố trí phân tán trên một tuyến dài đột xuất, công sự chưa vững chắc, địa hình không thuận lợi. Vì phần lớn lực lượng cơ động đã tập trung vào mặt trận Hòa Bình nên lực lượng của chúng ở vùng địch hậu đồng bằng bị dàn mỏng, các vùng hữu ngạn, tả ngạn (Liên khu 3) đến trung du đều sơ hở hơn trước, khiến cho chiến tranh du kích ở đồng bằng có điều kiện phát triển"2 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 34). Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh kiến nghị: Mở chiến dịch tiến công địch ở Hòa Bình. Hòa Bình sẽ là hướng chính, trung du và đồng bằng Liên khu 3 là hướng phối hợp quan trọng1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 3 và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Liên khu 3 (1945 - 1955), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 299). Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị hoàn toàn nhất trí với nhận định và kiến nghị của Tổng Quân ủy - Bộ Tổng Tư lệnh. Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 22-CT/TƯ về "Nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch". Trung ương chỉ rõ: Đó là cơ hội tốt để ta đánh địch... ta phải nắm cơ hội tốt này tiêu diệt sinh lực địch trên mặt trận Chợ Bến, Hòa Bình, trên các mặt trận khác và khắp vùng sau lưng địch2 (Bộ Tư lệnh Quân khu 3 và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Liên khu 3 (1945 - 1955), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 299).


Theo chủ trương của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, trong chiến dịch, quân và dân ta sẽ thực hiện đánh địch trên cả hai mặt trận: Mặt trận chính diện Hòa Bình và mặt trận sau lưng địch. Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ đạo toàn chiến dịch và mặt trận chính diện. Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp được chỉ định làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch. Đối với mặt trận sau lưng địch, Trung ương Đảng chỉ thị tổ chức Ban Chỉ huy Mặt trận gồm các đồng chí ủy viên Thường vụ Liên khu ủy 3 và đồng chí Văn Tiến Dũng - Chính ủy kiêm Tư lệnh Đại đoàn 320. Đồng chí Lê Thanh Nghị - Bí thư Liên khu ủy kiêm Chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 3 được chỉ định tham gia Bộ Chỉ huy Chiến dịch, đồng thời trực tiếp làm Trưởng ban Chỉ đạo Mặt trận sau lưng địch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #198 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2025, 08:46:21 pm »

Trên mặt trận chính diện, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh sử dụng 3 đại đoàn bộ binh (308, 312, 304), 1 trung đoàn pháo cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích tổ chức phục kích, tập kích tiêu diệt quân cơ động của địch trên cả hai tuyến giao thông thủy - bộ (theo Đường số 6 và sông Đà), đồng thời tiến hành vây hãm, tiêu hao khối quân cơ động của địch trong các cứ điểm ở thị xã Hòa Bình. Ở mặt trận sau lưng địch, Đại đoàn 316 và Đại đoàn 320 được lệnh luồn sâu vào vùng địch hậu phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân đẩy mạnh các hoạt động tập kích, phục kích, phá tề, trừ gian, phát triển chiến tranh du kích nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, biến hậu phương của địch thành hậu phương của ta.


Cả hai mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch đều có sự lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức, chỉ huy, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, thống nhất từ Trung ương tới các liên khu, tỉnh, huyện.

Cuối tháng 11 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích tham gia Chiến dịch Hòa Bình. Người chỉ rõ: "Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là một cơ hội rất tốt cho ta... Bộ đội chủ lực đánh. Bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh. Các lực lượng phải phối hợp với nhau chặt chẽ để tiêu diệt sinh lực của địch"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập VI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 341).


Trước đòn tiến công của ta, ngày 23 tháng 2 năm 1952, Pháp buộc phải cho quân vội vã rút chạy khỏi thị xã Hòa Bình.

Trải qua hơn 2 tháng chiến đấu (10.12.1951 - 25.2.1952), quân và dân ta đã giành được thắng lợi ngoài dự kiến ban đầu. Trên mặt trận chính diện, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá huỷ 12 pháo và hơn 200 xe quân sự, thu 24 pháo và gần 800 súng các loại; giải phóng khu vực Hòa Bình - sông Đà2 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Tập 1 : Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 167), làm chủ hoàn toàn khu vực phía Tây đồng bằng Bắc Bộ, bảo vệ an toàn tuyến hành lang chiến lược của kháng chiến từ Việt Bắc đến Nam Bộ. Ta không chỉ đánh thiệt hại nặng các binh đoàn chủ lực cơ động chiến lược của địch màcòn phá được thế kìm kẹp của địch ở vùng tạm bị chiếm. Phá tan âm mưu thâm độc chia rẽ các dân tộc và chính sách "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" của địch.


Phối hợp nhịp nhàng với mặt trận chính diện, ở mặt trận sau lưng địch, quân dân ta đã tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu hơn 15.000 địch, thu 6.000 súng các loại. Các căn cứ du kích của ta được mở rộng, tạo thành thể liên hoàn từ Bắc Giang, Bắc Ninh qua Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hà Đông và Sơn Tây.


Chiến thắng Hòa Bình đã góp phần tạo nên bước ngoặt của cuộc kháng chiến, đánh dấu bước trưởng thành về nghệ thuật chỉ đạo chiến lược, chiến dịch và điều hành chiến tranh của Đảng và Bộ Tổng Tư lệnh. Đánh giá tình hình hai bên trong Chiến dịch Hòa Bình, các học giả nước ngoài đều thống nhất cho rằng: "Trong trận này, Việt Minh cho thấy họ bắt đầu lớn mạnh và có thể đánh lớn với Pháp... Từ trận Hòa Bình, người Pháp bắt đầu tuyệt vọng, hoàn toàn hết hy vọng đánh thắng ông Hồ Chí Minh. Và tình hình còn xấu đi nữa..."1 (Maicơn Mắc Clia, Việt Nam cuộc chiến tranh mười nghìn ngày, Thư viện Quân đội dịch, tr. 92).


Thắng lợi trên chủ yếu là do ta có chủ trương đúng, cùng một lúc triển khai tiến công địch trên cả hai mặt trận (mặt trận ngoại tuyến - mặt trận chính và mặt trận nội tuyến - sau lưng địch). Trong suốt quá trình chiến dịch, hai mặt trận này đã gắn bó hữu cơ với nhau, cùng tạo cho nhau giành thắng lợi. Và đã trở thành bài học quý về sự phối hợp chặt chẽ giữa mặt trận chính và mặt trận sau lưng địch trong các hoạt động tác chiến chiến lược sau này. Thắng lợi của ta cũng do địch có phần chủ quan, nóng vội. Sau khi đối phó với các đòn tiến công của chủ lực ta trong Xuân - Hè 1951, gây cho ta khá nhiều khó khăn qua việc thiết lập phòng tuyến Đờ Lát, qua các cuộc càn quét, bình định khốc liệt, Đờ Lát đờ Tátxinhi và giới hiếu chiến Pháp - Mỳ đều cho rằng đến lúc cỏ thẻ tiến công lại để đánh bại các đại đoàn chủ lực ta, giành lại thế chủ động chiển lược trên chiến trường chính nên đã đưa quân vào vùng rừng núi nhằm mục đích nghiền nát chủ lực ta, biến Hòa Bình thành "cối xay thịt Việt Minh". Bài học cần rút ra ở đây không chỉ ở phía địch mà cả ở phía ta là khi giành được thắng lợi lớn, dễ sinh ra chủ quan.


Lần đầu tiên trong một chiến dịch có quy mô chiến lược, lại không có sự tham gia của cố vấn Trung Quốc (trong Chiến dịch Hòa Bình, đoàn cố vấn Trung Quốc không tham dự do bận chỉnh huấn), ta đã phát huy cao độ tinh thần độc lập, tự chủ, trí thông minh sáng tạo, kiên quyết, táo bạo cùng một lúc mở nhiều đòn tiến công khác nhau; chỉ đạo các đòn tiến công đó phối hợp chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển, giành thắng lợi. Đây là một bước phát triển rất quan trọng về nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam; đồng thời là một bước tiến mới trong hạ quyết tâm, xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện tác chiến. Có thể nói thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đã thực sự mở ra tiền đề về chỉ đạo chiến lược, làm cơ sở cho chỉ đạo chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954.


Chiến thắng Hòa Bình khẳng định chủ trương đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, trực tiếp là của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh. Đó là trong khi đẩy mạnh vận động chiến vẫn phải phát triển du kích chiến rộng khắp. Khẳng định chiến tranh nhân dân của ta luôn cần có sự phối hợp chặt chẽ với tác chiến của các binh đoàn chủ lực. Chiến tranh nhân dân càng phát triển càng tạo điều kiện thuận lợi cho các binh đoàn chủ lực giành thắng lợi lớn. Thắng lợi của các binh đoàn chủ lực lại trực tiếp thúc đẩy chiến tranh nhân dân địa phương phát triển lên trình độ cao hơn.


Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về quy mô tác chiến chiến lược (bộ đội chủ lực hoạt động mạnh ở chiến trường chính và chiến trường sau lưng địch; chiến tranh nhân dân địa phương phát triển cao với các hình thức chiến thuật phong phú, sáng tạo). Việc chỉ đạo của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh cũng được nâng lên một trình độ mới, vừa bao quát, vừa cụ thể ở cả chiến trường chính và chiến trường phối hợp.


Về chỉ đạo chiến thuật, Chiến dịch Hòa Bình xuất hiện nhiều cách đánh phong phú, sáng tạo như coi trọng đánh địch ngoài công sự, đánh địch trên đường hành quân... Khi đánh địch trong công sự vững chắc đã vận dụng linh hoạt nhiều hình thức tác chiến. Lúc thì đột phá từ ngoài vào (công kiên), khi thì bí mật luôn vào trong trận địa địch, kết hợp đánh từ ngoài vào và từ trong đánh ra (tập kích). Lần đầu tiên một lực lượng lớn bộ đội chủ lực đánh sâu vào vùng địch tạm chiếm với đặc điểm đồng bằng sông nước, đồng ruộng trống trải nhưng đã vận dụng sáng tạo cách đánh kết hợp giữa tiến công và nổi dậy của quần chúng nên đã tạo được sức mạnh tổng hợp to lớn, tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng quân địch, giải phóng nhiều vùng đất đai, biến hậu phương địch thành tiền phương của ta, thành hậu phương của ta. Ngoài tác chiến, ta đã xây dựng được mối quan hệ gắn bó giữa quân và dân, tăng cường đoàn kết quân dân, đoàn kết lương - giáo, làm that bại âm mưu chia rẽ và chính sách "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh".


Có thể khẳng định, thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đã tạo đà cho quân dân ta giữ vững quyền chủ động chiến lược, tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #199 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2025, 08:49:39 pm »

TRẬN CÔNG KIÊN TIÊU DIỆT CỨ ĐIỂM TU VŨ
MẤY BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Đại tá, ThS NGUYỄN KHẮC BÌNH
Trưởng phòng Tổng kết chiến tranh,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Sau thất bại ở biên giới Thu - Đông 1950, do bị ta đánh liên tiếp ở trung du và một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, đã đẩy quân Pháp lâm vào thế phòng ngự bị động. Để giành lại quyền chủ động, mùa Đông năm 1951, chúng mở cuộc tiến công ra Hòa Bình, lập phòng tuyến sông Đà nối liền với tuyến phòng thủ trung du, sông Đáy nhằm tăng cường khả năng phòng thủ đồng bằng Bắc Bộ, cắt đứt đường liên lạc của ta giữa Chiến khu Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4. Với vị trí hiểm yếu là mắt xích quan trọng trong tuyến phòng thủ sông Đà, Tu Vũ (nay thuộc xã Tu Vũ, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ) được quân Pháp xây dựng thành cứ điểm phòng ngự then chốt "bất khả xâm phạm" của phân khu sông Đà, khống chế cả một vùng rộng lớn, bảo vệ tuyến giao thông vận chuyển đường sông quan trọng nổi Hòa Bình với hậu phương của chúng. Quân Pháp bố trí lực lượng gồm Tiểu đoàn bộ binh Marốc số 1 (1/2 er RTM) và 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn ngụy Mường thứ 6 cùng xe tăng, xe thiết giáp chiếm giữ. Trong quá trình phòng ngự, cứ điểm Tu Vũ được hỏa lực pháo binh từ các cứ điểm Chẹ, Đá Chông, Thủ Pháp và không quân chi viện, tổ chức phòng ngự thành 3 khu (khu A, khu B ở Đông Bắc ngòi Lát, khu C ở Tây Nam ngòi Lát).


Sau khi địch tiến công ra Hòa Bình, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định: Đây là cơ hội tốt cho ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch và hạ quyết tâm mở chiến dịch tiến công quân địch ở Hòa Bình. Trong chiến dịch này, Trung đoàn 88 thuộc Đại đoàn 308 được Bộ Chỉ huy Chiến dịch giao nhiệm vụ tiến công tiêu diệt địch ở cứ điểm Tu Vũ, mở màn cho Chiến dịch Hòa Bình với quyết tâm "trận đầu phải thắng, chỉ được phép thắng".


Thực hiện nhiệm vụ được giao, Trung đoàn 88 khẩn trương hoàn thành mọi công tác tổ chức chuẩn bị chiến đấu. 17 giơ ngày 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn thực hành cơ động chiếm lĩnh trận địa và nổ súng tiến công tiêu diệt địch. Sau hon 7 giờ chiến đấu quyết liệt (từ 23 giờ 5 phút ngày 10 tháng 12 đến 4 giờ ngày 11 tháng 12 năm 1951), quân ta đã giành được thắng lợi, tiêu diệt 159 tên địch, bắt 12 tên; bắn cháy 1 xe tăng, 2 xe thiết giáp; thu và phá hủy một số khẩu súng, pháo các loại. Chiến thắng Tu Vũ minh chứng bước trưởng thành lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, khả năng đánh thắng địch phòng ngự trong công sự vững chắc với lực lượng cỡ tiểu đoàn tăng cường, có xe tăng, thiết giáp và hỏa lực pháo binh chi viện mạnh, tạo tiền đề cho các trận công kiên lớn sau này trong các chiến dịch Tây Bắc, Điện Biên Phủ1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Một số trận đánh trong kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ, Tập III, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1992, tr. 58).


Với thắng lợi này, trận Tu Vũ đã để lại những bài kinh nghiệm quý về nghệ thuật chiến đấu công kiên, đó là:

1.Nắm chắc và đánh giá đúng về địch là cơ sở để xác định quyết tâm chiến đấu chính xác và xử trí đúng mọi tình huống trong quá trình chiến đấu

Tu Vũ là một trong những cứ điểm trên hệ thống phòng tuyến sông Đà của quân Pháp, hệ thống vật cản đã hoàn chỉnh với 4 lớp hàng rào kẽm gai (đơn, mải nhà, cũi lợn, bùng nhùng), có chiều sâu từ 40 - 80m, xen kẽ giữa các lớp hàng rào là các bãi mìn chống bộ binh. Cây cối xung quanh được phát quang thành vành đai trống trải, rộng khoảng 300m. Hệ thống công sự bố trí hình vòng, được xây dựng bằng gỗ, đất, nửa chìm nửa nổi, liên kết với nhau bằng giao thông hào. Cứ điểm được chia làm 3 khu, giữa các khu Có hàng rào bùng nhùng ngăn cách. Trong mỗi khu Có 1 lô cốt chính 2 tầng, cao 5m, tường dày 0,8m, hào chiến đấu, giao thông hào nối liền các lô cốt, hầm ngầm, ụ chiến đấu, tạo thành thế liên hoàn vững chắc. Cứ điểm Tu Vũ nằm ở ven sông Đà về phía tả ngạn nên 3 mặt còn lại của cứ điểm địch phòng ngự chắc, buộc đối phương khi tiến công phải đánh vào chỗ mạnh. Tuy vậy, Tu Vũ lại ở thế thấp hơn so với địa hình xung quanh, ta có điều kiện quan sát địch từ xa được. Mặt khác, cứ điểm bị ngòi Lát chia cắt nên thế liên hoàn, vững chắc trong phòng ngự của địch bị hạn chế.


Lực lượng địch chốt giữ trong cứ điểm là 1 tiểu đoàn lính Âu - Phi thiện chiến, có trang bị mạnh, ngoài ra còn được tăng cường một đại đội ngụy Mường, 1 xe tăng, 2 xe bọc thép và được một lực lượng lớn hỏa lực pháo binh (khoảng 19 đến 20 khẩu) chi viện từ các cứ điểm lân cận.


Thủ đoạn đối phó của địch là sử dụng lực lượng nhỏ tuần tra ban ngày, tổ chức các toán phục kích ban đêm trên các đường mòn quanh cứ điểm nhằm phát hiện sớm lực lượng tiến công của ta, sử dụng pháo binh bắn ngăn chặn từ xa. Khi bị tiến công, địch dựa vào hệ thống công sự, vật cản chống trả quyết liệt, sử dụng pháo binh ở Đá Chông, Thủ Pháp, Chẹ chi viện; cần thiết có thể yêu cầu cơ động lực lượng tăng viện từ Hòa Bình lên hoặc từ Chẹ sang ứng cứu. Có nguy cơ bị tiêu diệt, địch có thể lội sang cồn cát giữa sông Đà rồi dùng thuyền rút chạy sang cứ điểm Chẹ. Do ở vị trí cô lập, xa các cứ điểm lân cận nên dễ bị bao vây, khả năng tăng viện ứng cứu khó khăn, tinh thần binh lính dễ bị giảm sút khi bị tiến công.


Về phía ta, qua trinh sát nắm địch, ta đã nắm được tổ chức bố trí phòng ngự của địch trong cứ điểm, các thủ đoạn hoạt động của chúng, nhất là các thủ đoạn phục kích, tập kích bằng hỏa lực của địch, cơ sở để Trung đoàn 88 xác định cách đánh đúng, bí mật tiếp cận triển khai lực lượng, hình thành thế bao vây, cắt gỡ một phần hàng rào; đột nhiên dùng hỏa lực chế áp quân địch, mở cửa bằng bộc phá liên tục, nhanh chóng đánh chiếm đầu cầu, thọc sâu, chia cắt tiêu diệt từng bộ phận, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch, làm chủ trận đánh.


Đối phó với pháo binh địch, Trung đoàn nhận định ta không đủ khả năng để kiềm chế các trận địa pháo binh địch cả trong và ngoài căn cứ, nên biện pháp duy nhất là bảo đảm giữ bí mật hành động trong giai đoạn cơ động, triển khai lực lượng tiến công. Đối phó với địch, tuần tiễu, phục kích trên đường cơ động tiếp cận triển khai tiến công, Trung đoàn đã có phương án sử dụng lực lượng trinh sát bám nắm địch, tìm đường vòng tránh hoặc bao vây tiêu diệt gọn địch khi bị lộ. Nhưng trên thực tế ta lại chưa nắm được đối tượng này, do đó khi cơ động vào đã bị địch phát hiện, đội hình của Trung đoàn 88 bị lộ khi chưa vào đến vị trí xuất phát tiến công, Tiểu đoàn sơn pháo 75mm và bộ phận súng cối gặp địch phục kích, Tiểu đoàn 322 gặp địch tuần tra gần cứ điểm.


Sau khi dùng hỏa lực pháo binh bắn vào đội hình cơ động triển khai tiến công của ta và khi ta tiến công vào khu C lúc 23 giờ. Trong lúc khu A, khu B chưa bị tiến công, địch sai lầm chủ quan cho rằng lực lượng tiến công của ta vào khu A, khu B đã bị hỏa lực pháo binh sát thương nên không còn sức chiến đấu. Thường vụ Đảng ủy và chỉ huy Trung đoàn 88 đã đánh giá đúng tình hình, kịp thời ra lệnh nổ súng tiến công khu A và khu B khiến địch bị bất ngờ.


Nhận thấy có nguy cơ bị tiêu diệt, số quân địch còn sống sót trong cứ điểm rút chạy ra cồn cát giữa sông Đà, nhưng do ta vận dụng chưa tốt thủ đoạn chiến đấu (bao vây đón lõng) nên đã bỏ lỡ thời cơ tiêu diệt địch. Như vậy, nắm và đánh giá đúng về địch là một yêu cầu quan trọng liên quan đến kết quả của trận chiến đấu.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM