Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:26:53 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng  (Đọc 45710 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #200 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2025, 08:52:35 pm »

2. Quán triệt sâu sắc vị trí, ý nghĩa của trận đánh, xây dựng quyết tâm chiến đấu cao, chuẩn bị chu đáo là yếu tố quyết định thắng lợi

Quán triệt nhiệm vụ là một bước trong công tác tổ chức chuẩn bị chiến đấu của cấp ủy và người chỉ huy các cấp. Hiệu quả của việc quán triệt nhiệm vụ phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm của người chỉ huy, khả năng giáo dục thuyết phục của đội ngũ cán bộ, đảng viên và trình độ giác ngộ của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Trong trận Tu Vũ, do tính chất quan trọng của trận đánh nên chỉ huy Trung đoàn 88 được Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp - Tư lệnh Chiến dịch trực tiếp giao nhiệm vụ. Đại tướng chỉ rõ: "Trung đoàn 88 đánh có thể thuận lợi, nhưng cũng có thể phải trả giá đắt; một trung đoàn không xong thì ta dùng hai trung đoàn, dù phải hy sinh bộ phận cho toàn bộ cũng phải làm..."1 (Chỉ thị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi giao nhiệm vụ cho Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308 Vương Thừa Vũ và Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88 Thái Dũng. Dẫn theo: Một số trận đánh trong kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ (1945 - 1975), Tập III, Sđđ, tr. 47).


Quán triệt nhiệm vụ được giao, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 88 nhận rõ trận đánh mở màn chiến dịch có vị trí, ý nghĩa rất quan trọng, tạo thế cho lực lượng chiến dịch vào triển khai đội hình tiến công quân địch ở thị xã Hòa Bình. Tu Vũ là một vị trí then chốt trong phòng tuyến sông Đà của địch nên trận chiến đấu ở đây sẽ diễn ra vô cùng ác liệt. Nhận thức đầy đủ vị trí, ý nghĩa, tính chất ác liệt của trận đánh, Đảng ủy, chỉ huy Trung đoàn 88 đã tập trung lãnh đạo tư tưởng, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ nhiệm vụ, đoàn kết nhất trí, quyết tâm đánh thắng, hoàn thành tốt nhiệm vụ mà cấp trên tin tưởng giao phó, đồng thời lấy lại niềm tin cho bộ đội sau trận đánh Chùa Cao không thành công.


Trên cơ sở làm tốt công tác giáo dục, quán triệt nhiệm vụ, xây dựng quyết tâm, Trung đoàn 88 bắt tay vào công tác chuẩn bị chiến đấu với tinh thần "tất cả để chiến thắng". Mặc dù thời gian tổ chức chuẩn bị chiến đấu gấp và ngắn, bộ đội vẫn được huấn luyện bổ sung về cách đánh bộc phá, cách tháo gỡ mìn, cách cắt hàng rào, cách đánh ụ súng, lô cốt...; Trung đoàn 88 tổ chức đoàn cán bộ chuẩn bị chiến trường về số lượng, thành phần, nội dung, thời gian hợp lý. Đã nắm chắc được địa hình, tình hình địch, đường hành quân cơ động chiếm lĩnh; bố trí đội hình chiến đấu, hướng đột kích chủ yếu, thứ yếu... nên giai đoạn thực hành chiến đấu thuận lợi, đúng như phương án tác chiến. Trong Hội nghị dân chủ quân sự, thảo luận về phương án tác chiến trên sa bàn, đã phát huy được trí tuệ tập thể tìm ra cách đánh hay nhất. Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1521 (Có tài liệu nói là Đại đội 225) (Tiểu đoàn 29) đã thảo luận sôi nổi về cách đánh mở cửa và đánh chiếm đầu cầu, đề ra giải pháp phải đánh chiếm các ụ súng vệ tinh và lô cốt E cùng một lúc mới bảo đảm giữ được đầu cầu; đánh chiếm đầu cầu phải đúng thời cơ ngay sau khi mở thông cửa mở. Nhiều đồng chí xung phong nhận nhiệm vụ khó khăn phức tạp về mình, dành thuận lợi cho đồng đội.


Nhờ chuẩn tốt công tác tư tưởng, quá trình hành quân chiếm lĩnh, bị địch phát hiện dùng hỏa lực bắn ngăn chặn, bộ đội bị thương vong, có đơn vị mất liên lạc, tình huống diễn biến phức tạp nhưng toàn đơn vị vẫn quyết tâm chiến đấu. Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn 88 đã nhanh chóng hội ý, thống nhất nhận định: Khả năng đánh thắng địch vẫn còn; do đó đã kịp thời động viên bộ đội giữ vững quyết tâm "Đánh thắng Tu Vũ, dù phải hy sinh như thế nào cũng đánh thắng"2 (Nguyễn Quốc Dũng, Ý nghĩa lịch sử và mấy vấn đề nghiên cứu về chiến thắng Tu Vũ, Kỷ yếu Hội thảo Chiến thắng Tu Vũ 10.12.1951, tr. 23). Mặc dù bị thương vong do pháo địch bắn nhưng cán bộ, chiến sĩ sau phút đầu lúng túng đã bình tĩnh lợi dụng địa hình tránh pháo binh địch sát thương, vận dụng kỹ thuật chiến đấu để vượt qua làn hỏa lực đày đặc của địch vào vị trí triển khai tiến công, với tinh thần "địch bắn là việc của nó, tiến lên an toàn là việc của ta"1 (Một số trận đánh trong kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ, Tập III, Sđd, tr. 62). Trong tình huống pháo binh của ta gặp khó khăn, không chi viện được cho bộ binh mở cửa, đột phá, Tiểu đoàn 29 nêu khẩu hiệu "có gì đánh nấy" và đã chủ động bí mật cắt gỡ hàng rào của địch (được 60m trên tổng số 80m), giảm bớt thời gian bộc phá của phân đội mở cửa. Trong chiến đấu công kiên, rút ngắn được thời gian mở cửa là yếu tố rất quan trọng, bảo đảm cho đột phá nhanh, hạn chế thương vong cho bộ đội, địch không kịp đối phó. Trong chiến đấu ở tung thâm, địch sử dụng xe thiết giáp và bộ binh ra phản kích ngăn chặn, khẩu đội ĐKZ đi cùng Đại đội 213 (Tiểu đoàn 23) kịp thời bắn cháy xe thiết giáp, cùng với bộ binh đẩy lùi các đợt phản kích của địch. Trong chiến đấu, các đơn vị đã chủ động chi viện cho nhau như Đại đội 152 bị hỏa lực địch ngăn chặn không phát triển tiến công được, chỉ huy Tiểu đoàn 29 lệnh cho Đại đội 1542 (Có tài liệu nói là Đại đội 217) tiến qua cửa mở của Đại đội 152 vào chiến đấu, kiên quyết đánh chiếm các mục tiêu, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Chiến sĩ chiến đấu dũng cảm, mưu trí, chủ động, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ như Tiểu đội bộc phá của Đại đội 217 đánh 9 quả, tiêu diệt nhiều tên địch, tuy nhiên 12 đồng chí anh dũng hy sinh; chiến sĩ thông tin hữu tuyến điện bị thương vong nhưng kiên quyết nối thông đường dây bị đứt do pháo địch bắn, bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt; chiến sĩ Hảo, Đại đội 152 ôm bộc phá 20kg lao lên đánh sập hầm ngầm, diệt toàn bộ quân địch và đã anh dũng hy sinh. Hành động dũng cảm của đồng chí Nghĩa liên lạc đi về như "con thoi" giữa chỉ huy Trung đoàn và các phân đội, đã bảo đảm cho chỉ huy được kịp thời. Đây là kết quả của công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng của Trung đoàn 88, đã xây dựng tinh thần đoàn kết gắn bó giữa cán bộ và chiến sĩ; dũng cảm, dám xả thân vì thắng lợi của đơn vị


3. Chủ động hiệp đồng, chỉ huy mưu trí, linh hoại, kiên quyết tiến công tiêu diệt địch

Trận tiến công cứ điểm Tu Vũ gặp khó khăn ngay từ khi Trung đoàn 88 đang hành quân tiếp cận địch, do trinh sát không nắm được lực lượng địch tuần tra, phục kích nên đội hình của Trung đoàn 88 bị lộ khi chưa vào đến vị trí xuất phát tiến công, bộ phận của ta trên hướng chủ yếu gặp địch buộc phải nổ súng, yếu tố bí mật không còn, pháo binh địch bắn mạnh vào đội hình quân ta, Sở Chỉ huy Trung đoàn 88 cũng bị pháo địch bắn, buộc phải di chuyển ra ngòi Lát, bộ đội thương vong nhiều, Trung đoàn mất liên lạc với các đơn vị, nhất là với Tiểu đoàn 322. Trong điều kiện đó, việc chỉ huy hiếp đồng rất khó khăn. Do đã dự kiến trước được tình huống nên các đơn vị đã tích cực khắc phục khó khăn, chủ động thực hiện nhiệm vụ được giao theo kế hoạch, chỉ huy bộ đội vượt qua làn hỏa lực bắn chặn của pháo địch vào vị trí triển khai. Tiểu đoàn 322 vào chiếm lĩnh trận địa xong đúng giờ quy định; Tiểu đoàn 29 và Tiểu đoàn 23 sau khi vào vị trí triển khai đã nhanh chóng chỉ huy lực lượng mở cửa lên cắt gỡ hàng rào của địch; Thường vụ Đảng ủy Tiểu đoàn 29 họp đánh giá tình hình và hạ quyết tâm ngay dưới làn đạn pháo của địch.


Khi đã quá thời gian nổ súng theo kế hoạch, không liên lạc được với chỉ huy Trung đoàn, Tham mưu trưởng Trung đoàn đã nhanh chóng chỉ huy Tiểu đoàn 322 nổ súng đánh địch ở khu C, thu hút sự tập trung của địch về hướng này, tạo điều kiện cho lực lượng tiến công khu A và khu B vào triển khai được thuận lợi. Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, các tiểu đoàn 29 và 23 vẫn kiên quyết chỉ huy bộ đội tiếp cận địch, bí mật cắt gỡ hàng rào. Nhờ công tác chuẩn bị chu đáo, ý thức chấp hành mệnh lệnh chiến đấu nghiêm, kế hoạch hiệp đồng chặt chẽ, chỉ huy mưu trí linh hoạt nên Đảng ủy, chỉ huy Trung đoàn 88 có cơ sở để hạ quyết tâm chính xác: Tiếp lục chỉ huy bộ đội tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ. Tuy yếu tố bí mật không còn nhưng Trung đoàn 88 đã đánh giá đúng khả năng của ta, tinh thần quân địch, kiên quyết hạ lệnh tiến công nên khi ta nổ súng địch vẫn bị bất ngờ, bị động đối phó.


Chiến thắng Tu Vũ là trận công kiên lớn nhất mở đầu thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình. Những bài học về nghệ thuật tác chiến công kiên đúc rút từ thực tiễn đã góp nhiều kinh nghiệm quý cho các trận đánh, chiến dịch tiếp sau. Những kinh nghiệm đó đến nay vẫn có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng vào công tác huấn luyện sẵn sàng chiến đấu của bộ đội, xây dựng Quân đội tiến lên chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #201 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2025, 09:00:26 pm »

BÀI HỌC VỀ CÔNG TÁC BẢO ĐẢM KỸ THUẬT
TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Đại tá, ThS ĐỖ VĂN HÌNH
Trưởng phòng Lịch sử Hậu cần - Kỹ thuật quân sự,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Để giành thể chủ động trên chiến trường Bắc Bộ, ngày 9 và ngày 14 tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp tập trung một lực lượng lớn tiến công đánh chiếm Hòa Bình. Đánh giá đúng âm mưu, thủ đoạn của địch, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình nhằm tiêu diệt sinh lực địch, đập tan kế hoạch đánh chiếm Hoà Bình của địch.


Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952) có sự tham gia của các đại đoàn bộ binh 312, 316, 308, 304, 320, Đại đoàn Công pháo 351 và bộ đội địa phương của các tỉnh Hòa Bình, Sơn Tây... hoạt động trong phạm vi rộng trên nhiều hướng khác nhau, trong đó có 2 đại đoàn luồn sâu vào hoạt động trong vùng địch tạm chiếm. Vì vậy, công tác bảo đảm kỹ thuật hết sức nặng nề, đòi hỏi phải có quyết tâm cao, kiên quyết vượt qua mọi gian khổ, hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ. Mặt khác, với việc đánh ra Hòa Bình, địch đã khống chế gắt gao tuyến giao thông huyết mạch của ta từ Việt Bắc xuống Liên khu 3 và Liên khu 4, trực tiếp uy hiếp căn cứ hậu phương của Liên khu 3, làm cho công tác bảo đảm kỹ thuật của ta càng thêm khó khăn, phức tạp. Để bảo đảm cho chiến dịch giành thắng lợi, Tổng cục Cung cấp đã sử dụng nhiều biện phápnhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời vũ khí, trang bị kỹ thuật cho các lực lượng tham gia chiến dịch. Công tác bảo đảm kỹ thuật đã đóng góp một phần quan trọng vào thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình, qua đó đã để lại những bài học kinh nghiệm quý.


Một là, chủ động làm tốt công tác chuẩn bị vũ khí, trang bị kỹ thuật nhanh chóng, kịp thời đáp ứng nhu cầu của chiến dịch

Nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu hậu cần - kỹ thuật của toàn bộ chiến dịch, Tổng Quân ủy và Tổng cục Cung cấp quyết định thành lập 2 ban cung cấp tiền phương. Ban Cung cấp Mặt trận Bắc Hòa Bình bảo đảm cho 2 đại đoàn 308, 312 và một số đơn vị binh chủng. Ban Cung cấp Mặt trận Nam Hòa Bình bảo đảm cho Đại đoàn 304 đánh địch trên Đường số 6, Nam Hòa Bình và Đại đoàn 320 hoạt động ở vùng địch hậu. Các cơ quan Tổng cục ở hậu phương trực tiếp bảo đảm cho Đại đoàn 316 hoạt động ở vùng Trung du.


Ngay sau khi nhận được sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy, mặc dù đang phải chuẩn bị cho kế hoạch Thu - Đông 1951 - 1952, nhưng Tổng cục Cung cấp đã chỉ thị cho các đơn vị trực tiếp liên hệ với các địa phương để giải quyết vấn đề bảo đảm kỹ thuật và tiến hành sử dụng ngay số cán bộ đang làm nhiệm vụ chuẩn bị cho Thu - Đông chuyển sang phục vụ cho kế hoạch tác chiến mới. Số vũ khí, đạn dược đang trên đường vận chuyển cho Chiến dịch Liên khu 3 được lệnh chuyển về kho dự trữ ở Đồn Vàng (Phú Thọ) để cung cấp kịp thời cho các đơn vị khi chiến dịch bắt đầu.


Thực hiện công tác bảo đảm vũ khí, đạn dược cho Chiến dịch Hòa Bình, Tổng cục Cung cấp chủ trương tranh thủ khả năng phương tiện cơ giới, tận dụng ưu thế vận chuyển bằng tàu thuyền để giảm số lượng dân công vận tải bộ, sử dụng xe ôtô chuyển vũ khí, đạn dược đến Đoan Hùng, sau đó chuyển tiếp đến Phú Thọ. Ban Cung cấp Tiền phương có nhiệm vụ tiếp nhận và vận chuyển vũ khí, đạn dược theo yêu cầu của các mặt trận trên địa bàn được phân công phụ trách. Ban tổ chức bảo đảm kỹ thuật trên 3 tuyến vận chuyển cơ giới. Do quãng đường từ Đoan Hùng đến Đồn Vàng dài 80km bị pháo địch đánh phá liên tục nên chỉ sử dụng được 12 xe ôtô vận chuyển những loại vũ khí, đạn dược thật cần thiết cho các mặt trận. Trên tuyến vận chuyển đường thủy, ta lợi dụng những đoạn sông Hồng, sông Bứa (dài khoảng 50km), huy động 100 tàu thuyền của nhân dân có trọng tải khoảng 500kg/chiếc để vận chuyển vũ khí, đạn dược cho bộ đội. Lực lượng dân công vận chuyển vũ khí, đạn dược được tổ chức theo dây chuyền. Để giảm bớt thời gian và tổn thất trong quá trình vận chuyển, Ban Cung cấp Tiền phương bố trí các trạm, kho phù hợp với cung đường vận chuyển và đủ sức của dân công đi và về trong 1 ngày.


Nhờ có sự chuẩn bị vũ khí, trang bị kỹ thuật tương đối tốt ở Đông Xuân 1951 - 1952 nên lực lượng kỹ thuật của Cục Quân giới, Cục Vận tải và các đại đoàn trong Chiến dịch Hòa Bình được tổ chức gọn, cơ động và triển khai công tác nhanh nhóng, kịp thời. Mặt khác, do nắm được tình hình khả năng bảo đảm vận tải ở địa phương nên ta đã khắc phục khó khăn về việc vận chuyển vũ khí, trang bị kỹ thuật được nhanh chóng bảo đảm cho bộ đội chiến đấu.


Ở Mặt trận Nam Hòa Bình, do đường giao thông với Việt Bắc bị địch đánh phá nên vũ khí, đạn dược không chuyển về được. Vì vậy, sau khi tiến hành bổ sung cho các đơn vị, các kho thiếu nghiêm trọng đạn dự trữ; nhất là đạn cối, đạn pháo và bộc phá. Trước tình hình đó, Ban Quân khí Tiền phương đề nghị với Đảng ủy Mặt trận chỉ thị cho các đơn vị tiết kiệm đạn, đồng thời giao cho Quân giới Liên khu 3 và Liên khu 4 gấp rút nhồi lắp một số đạn cối 81 mm để kịp thời cấp phát cho các đơn vị. Ban còn cử cán bộ nghiên cứu, tổ chức đường vòng tránh, phối hợp với Ban Cung cấp Tiền phương Mặt trận Bắc Hòa Bình vận chuyển vũ khí đạn từ căn cứ địa Việt Bắc vòng qua thị xã Hòa Bình xuống Liên khu 3.


Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, do địch đánh phá ác liệt nên đến cuối đợt 2 của chiến dịch (27 -31.12.1951), tuyến đường này mới được đưa vào sử dụng. Chính vì vậy, trong giai đoạn đầu chiến dịch, vũ khí, đạn dược ở mặt trận Nam Hòa Bình không bảo đảm được. Trước tình hình trên, Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhanh chóng chỉ thị cho các đơn vị hoạt động ở khu vực Ba Vì chuyển một phần đạn của mình tiếp tế cho các đơn vị ở phía Nam Đường số 6.


Trong Chiến dịch Hòa Bình, mặc dù Tổng cục Cung cấp, Ban Cung cấp Tiền phương ở Mặt trận Nam Hòa Bình và Mặt trận Bắc Hòa Bình đã hết sức cố gắng nhưng vẫn còn một số hạn chế xảy ra trong quá trình bảo đảm kỹ thuật. Điển hình như: Kế hoạch hoặc các đề xuất, dự kiến về nhu cầu thực tế về vũ khí, đạn dược của từng đơn vị chưa được tính kỹ nên nhiều nơi còn lúng túng trong quá trình bảo đảm; dầu mỡ bảo quản thiếu nhiều. Việc bảo đảm đồng bộ cho vũ khí, đạn dược chưa được chú ý ngay từ đầu như các loại ngòi nổ, vỏ đạn, liều phóng không phù hợp với đạn cối; kíp nổ, dây mìn, nụ xùy không đồng bộ với thuốc nổ; ngòi đạn pháo không đi theo với đạn pháo... Trong đợt 1 (10-26.12.1951), khi lực lượng ta tiến công Tu Vũ, rất nhiều thuốc nổ không sử dụng được vì thiếu nụ xùy... Các cấp chưa phổ biến những kiến thức cơ bản cũng như kinh nghiệm bảo quản vũ khí, đạn dược cho dân công nên trong quá trình vận chuyển đã để xảy ra nhiều lỗi kỹ thuật, ảnh hưởng đến chất lượng của vũ khí, đạn dược, gây lãng phí. Trình độ năng lực của cán bộ, nhân viên chuyên môn còn yếu, cấp nhầm đạn cối thành đạn khói, nhầm ngòi nổ đạn cối 81mm của Pháp bằng ngòi đạn pháo 75mm nên không sử dụng được...


Vì vậy, để bảo đảm đầy đủ vũ khí, đạn dược đáp ứng yêu cầu chiến đấu của bộ đội, phải luôn có một lượng dự trữ ở căn cứ hậu phương, bố trí kho tàng ở các khu vực cơ động, khi cần thì phải bổ sung được ngay. Quá trình diễn biến chiến dịch, vũ khí, đạn dược ở Việt Bắc tuy có sẵn và đủ, nhưng ở 2 liên khu 3 và 4 là nơi dễ bị cắt đứt đường vận chuyển, lượng dự trữ lại quá ít. Khi chiến dịch diễn ra mới bắt đầu vận chuyển xuống thì địch đã phá đường nên Mặt trận Liên khu 3 gặp nhiều khó khăn về cung cấp đạn dược. Các loại đạn cối, lựu đạn và bộc phá thiếu nhiều. Sau đó, ta phải tổ chức đường vận chuyển đạn ở phía Tây thị xã Hòa Bình nên gặp rất nhiều khó khăn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #202 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2025, 09:02:00 pm »

Hai là, linh hoạt bảo đảm vũ khí, đạn dược đầy đủ cho bộ đội tác chiến liên tục, dài ngày, ngay trong lòng địch; sử dụng vũ khí của địch để đánh địch

Trong điều kiện chiến đấu liên tục, dài ngày, đòi hỏi phải có kế hoạch cung cấp đầy đủ và vận chuyển nhanh chóng, kịp thời vũ khí, trang bị kỹ thuật theo nhu cầu chiến đấu của bộ đội. Trong Chiến dịch Hòa Bình, mặc dù địch chiếm đóng thị xã Hòa Bình, cắt đường vận chuyển xuống Liên khu 3, ta vẫn tìm được cách vận chuyển đạn dược từ Việt Bắc xuống để tiếp tế cho các mặt trận. Ở giai đoạn đầu chiến dịch, đường vận chuyển đi vòng qua phía Tây Hòa Bình chưa được thông suốt nên ta phải điều chuyển đạn dược của các đơn vị ở phía Bắc Đường số 6 cho Mặt trận Nam Hòa Bình. Ở vùng địch tạm chiếm, tuy vận chuyển rất khó khăn nhưng ta vẫn bảo đảm tiếp tế đạn dược liên tục cho các đơn vị; đồng thời, đề ra phương châm lấy vũ khí, đạn thu được của địch bổ sung cho ta, nhưng vẫn coi nguồn tiếp tế ở hậu phương là rất quan trọng và không thể thiếu. Diễn biến của chiến dịch đã chứng tỏ: Ở vùng địch tạm chiếm, ta thu được nhiều vũ khí, đạn, không chỉ bổ sung kịp thời phần lớn các loại đạn con cho chiến dịch mà còn thừa để cung cấp cho bộ đội địa phương; tuy nhiên, các loại đạn cối, đạn pháo, lựu đạn, mìn, bộc phá thì vẫn phải tiếp tế từ hậu phương vào.


Ngoài ra, để bảo đảm vũ khí đầy đủ cho bộ đội tác chiến liên tục, dài ngày, điều quan trọng, cần thiết là phải kịp thời sửa chữa số vũ khí hư hỏng và cung cấp đầy đủ nhiên liệu, vật liệu cần thiết cho bộ đội bảo quản vũ khí trong chiến dịch. Trong Chiến dịch Hòa Bình, ta không dự kiến trước là chiến dịch kéo dài nên thiếu vật tư, phụ tùng cho bộ đội tiến hành công tác bảo quản, sửa chữa số vũ khí hư hỏng chưa được khắc phục kịp thời.


Đặc biệt, do bị địch đánh phá hoặc cắt đứt đường vận chuyển, dự kiến việc tiếp tế vũ khí, đạn dược từ vùng tự do vào vùng địch gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, trước khi vào vùng địch, cần phải trang bị các loại vũ khí có thể sử dụng được đạn chiến lợi phẩm. Đồng thời, cần phát động tinh thần tích cực lấy vũ khí, đạn dược của địch bổ sung cho ta, giảm được lượng lớn đạn phải chuyển từ vùng tự do vào, nhưng cũng phải coi trọng việc tiếp tế các loại đạn dược cần thiết như đạn cối, đạn pháo, mìn, lựu đạn, bộc phá... cho mặt trận trong lòng địch.


Ở mặt trận trong lòng địch, Tổng cục Cung cấp xây dựng kế hoạch bảo đảm vũ khí đạn cho 7 trung đoàn chiến đấu trong vòng 4 tháng. Đây là một nhiệm vụ đặc biệt khó khăn vì dễ bị địch đánh phá hoặc cắt đứt đường tiếp tế. Do đó, phải giải quyết những vấn đề khó khăn về cung cấp vũ khí, đạn dược trong lòng địch. Lực lượng kỹ thuật đã bảo đảm tương đối đầy đủ đạn dược cho bộ đội chiến đấu liên tục, dài ngày là nhờ trước khi vào vùng địch, một số đơn vị ta đã thay đổi trang bị, sử dụng các loại súng mà quân địch đang dùng để có thể tận dụng đạn dược chiến lợi phẩm; đồng thời, tập trung vận chuyển các loại đạn dược cần thiết cho các đơn vị chiến đấu.


Căn cứ vào tình hình thực tế của từng địa phương, Tổng cục đã quyết định lấy hậu phương địch làm hậu phương ta, lấy vu khí, trang bị của địch bổ sung cho ta. Bên cạnh đó, Tổng cục cũng tổ chức hệ thống kho tàng ở ngay sát vùng địch tạm chiếm, tranh thủ mọi khả năng tiếp tế, bổ sung vũ khí, đạn dược cho bộ đội. Ban Cung cấp Tiền phương dựa vào các kho ở Nho Quan (Ninh Bình)tổ chức ra các kho dự trữ đạn trên đường vào vùng địch tạm chiếm như Cốc Thông, Thung Mật, Bồng Lạng, Trường Yên...


Ban Cung cấp Tiền phương chủ trương tận dụng triệt để vũ khí, đạn dược chiến lợi phẩm thu được của địch, đồng thời tích cực bổ sung từ vùng tự do để bảo đảm cho chiến đấu. Chỉ đạo cho các đơn vị trang bị cho bộ đội trước khi hành quân vào vùng tạm chiếm bằng các loại vũ khí mà địch đang sử đụng để tận dụng hết chiến lợi phẩm thu được sau mỗi trận đánh. Thực hiện chủ trương này, các đơn vị đã tích cực thu hồi vũ khí, đạn chiến lợi phẩm và đưa vào sử dụng ngay một số loại, nhất là loại đạn con. Tuy nhiên, các loại đạn dược hỏa lực mạnh như đạn cối, đạn pháo, lựu đạn, mìn và bộc phá vẫn phải tiếp tục tiếp tế từ hậu phương. Trên hướng vận chuyển từ Đồng Cốc đi Chợ Bờ, đến cuối tháng 1 năm 1952, Ban Cung cấp đã sử dụng dân công vận chuyển 2.000kg thuốc nổ, 1.600kg quả đạn cối. Trên hướng từ Đồng Cốc đi Tu Vũ, lực lượng vận chuyển cơ giới đã sử dụng 4 xe ôtô chuyển được 7,59 tấn vũ khí giao cho kho quân khí tại chân đèo Mòn1 (Quân đội nhản dân Việt Nam, Công tác hậu cần Chiến dịch Hoà Bình (Đông Xuân 1951 -1952), Tổng cục Hậu cần xuất bản, 1978, tr. 132). Để bảo đảm cho các đơn vị chiến đấu ở cà mặt trận chính diện và trong lòng địch, cùng với sự giúp đỡ của nhân dân, ngoài số đạn được đã cấp theo quy định, Tổng cục Cung cấp còn cấp bổ sung cho các đơn vị gần 280 tân vũ khí, đạn dược2 (Tổng cục Kỹ thuật, Lịch sử ngành Kỹ thuật Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1 (1945 -1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996, tr. 136), góp phần bảo đảm cho chiến dịch giành thắng lợi.


Ba là, xây dựng lực lượng bảo đảm kỹ thuật có bản lĩnh chính trị vững vàng, tổ chức phù hợp với nhiệm vụ của chiến dịch

Để bảo đảm kịp thời vũ khí, đạn dược cho chiến dịch trong điều kiện phạm vi hoạt động rộng, lại thường xuyên bị địch đánh phá Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo cho lực lượng bảo đảm kỹ thuật làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho mọi quân nhân thấu suốt đường lối quân sự, chính trị của Đảng; nhận rõ vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo đảm kỹ thuật phục vụ chiến dịch; động viên cán bộ, chiến sĩ nêu cao quyết tâm, ý thức trách nhiệm, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ. Qua đó, xây dựng được tinh thần quyết chiến, quyết thắng và trách nhiệm chính trị cho cán bộ, chiến sĩ vượt qua mọi khó khăn, hy sinh, thử thách để bảo đảm kịp thời vũ khí, trang bị cho chiến dịch.


Bên cạnh đó, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc xây dựng cơ quan kỹ thuật các cấp như: Cơ quan kỹ thuật tiền phương, tổng kho, kho trung chuyển, kho dự trữ tạm thời vũ khí, trang bị kỹ thuật, bộ phận thu dọn chiến trường, bộ phận đi cùng cơ quan hậu cần theo dõi tình hình các đơn vị. Trong Chiến dịch Hòa Bình, thời gian đầu, Cơ quan Quân khí Tiền phương chưa thành lập được nên công tác bảo đảm kỹ thuật quân khí mới chỉ đảm nhiệm được việc theo dõi nắm tình hình thực lực và công tác bảo quản vũ khí, đạn dược. Sau đó, Ban Quân khí Tiền phương được hình thành, có Tổng kho quân khí, Kho trung tuyến, các kho tạm được lực lượng quân khí phối hợp theo dõi, bảo quản và cấp phát khi cần. Ngoài ra, đã tổ chức lực lượng kỹ thuật cơ động để sửa chữa vũ khí hỏng tại các kho, sửa chữa các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hư hỏng nhẹ kịp thời cung cấp cho đơn vị.


Ở Mặt trận Bắc Hoà Bình, trên cơ sở nghiên cứu tình hình chiếm đóng và âm mưu của địch cũng như ý định tác chiến của ta, Ban Cung cấp Tiền phương đã xây dựng hệ thống kho tàng ở2tuyến. Tuyến thứ nhất được tổ chức dọc theo đường vận chuyển từ Thục Luyện (Thanh Sơn - Phú Thọ) đến Đồng Cốc làm nhiệm vụ tiếp tế cho các đơn vị hoạt động từ Tu Vũ đến Đoan Hạ và ở phía Bắc Ba Vì. Tuyến thứ hai được xây dựng ở Bản Thôn làm nhiệm vụ bảo đảm cho các đơn vị hoạt động ở Mặt trận Bắc Hoà Bình và hữu ngạn sông Đà.


Để kịp thời nắm bắt tình hình hoạt động cung cấp vũ khí, ngay thời gian đầu Chiến dịch Hòa Bình, đã có một số bộ phận nhỏ theo dõi và tổ chức bảo quản vũ khí, đạn được vận chuyển trên đường từ Đoan Hùng đi Yến Mao. Ngày 28 tháng 12 năm 1951, Ban Quân khí Tiền phương được thành lập, biên chế gồm Trưởng ban và 11 cán bộ chuyên môn, 1 cán bộ phụ trách công tác chính trị, 9 bảo quản viên, 5 liên lạc viên và một số nhân viên hành chính. Ban bố trí Tổng kho quân khí ở Đồn Vàng (có trữ lượng 50 tấn với 3 bảo quản viên), Kho trung tuyến ở đèo Luồng và 2 kho tạm ở Đoan Hùng và Đồng Cốc (mỗi kho có trữ lượng 30 tấn với 2 bảo quản viên). Kho trung tuyến và Tổng kho do Ban trực tiếp phụ trách, còn các kho tạm do lực lượng vận tải quản lý nhưng được quân khí phối hợp theo dõi, bảo quản và cấp phát khi cần. Ngoài ra, Ban còn tổ chức Bộ phận thu dọn chiến trường và bộ phận cơ quan (gọi là Ban Bộ) đi cùng Ban Cung cấp Tiền phương để theo dõi tình hình các đơn vị. Bộ phận thu dọn chiến trường gồm 3 cán bộ chuyên môn, 2 bảo quản viên và 3 liên lạc, với nhiệm vụ thu dọn vũ khí, đạn dược trên dọc Đường số 6 (dài trên 20km), Xuân Mai và thị xã Hòa Bình. Bộ phận Ban Bộ gồm có Trưởng ban Quân khí Tiền phương, 1 cán bộ chính trị, 3 phái viên chuyên môn, 1 thống kê, 1 kế toán tổng hợp, 1 y tá, 3 liên lạc và 1 cấp dưỡng, với nhiệm vụ theo dõi tình hình vũ khí, trang bị kỹ thuật của các đơn vị1 (Tổng cục Hậu cần, Công tác hậu cần Chiến dịch Hoà Bình (Đông Xuân 1951 - 1952), Sđd, tr. 257 - 260).


Với thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình, ta đã đánh bại âm mưu của thực dân Pháp đánh chiếm vùng tự do của ta kể từ sau Chiến thắng Biên Giới (1950), phá được ý đồ giành lại quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ của địch, bảo đảm đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc và Liên khu 3, Liên khu 4. Thắng lợi đó có một phần đóng góp quan trọng của công tác bảo đảm kỹ thuật, đồng thời cũng đã để lại những kinh nghiệm quý có thể vận dụng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay và tương lai.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #203 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2025, 09:04:48 pm »

BƯỚC PHÁT TRIỂN CỦA HÌNH THỨC CHIẾN THUẬT CÔNG KIÊN TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Đại tá, ThS PHẠM ANH TUẤN
Trưởng phòng Lịch sử Nghệ thuật quân sự,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình trong chiến cục Đông - Xuân 1951 - 1952, cùng với thắng lợi lớn tại mặt trận sau lưng địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, tạo nên bước ngoặt mới trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong Chiến dịch Hòa Bình, nghệ thuật chiến dịch đã giải quyết thành công nhiều vấn đề mới, đó là vận dụng tốt phương châm tác chiến chiến dịch "đánh điểm, diệt viện" và "liên tục chiến đấu". Đây là hai điểm đặc sắc của cách đánh chiến dịch và là nguyên nhân quan trọng trực tiếp quyết định thắng lợi của Chiến dịch. Trong đó "đánh điểm" bằng chiến thuật công kiên có bước phát triển, được thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau:


1. Chọn khu vực tác chiến chủ yếu, mục tiêu đánh trận công kiên mở màn chiến dịch chính xác

Trong hầu hết các chiến dịch tiến công của ta, chọn mục tiêu mở màn chiến dịch thường là tiến công cứ điểm hoặc cụm cứ điểm địch bằng chiến thuật công kiên (tiến công địch trong công sự vững chắc). Vấn đề đầu tiên của nghệ thuật chiến dịch tiến công là chọn đúng mục tiêu mở màn, phù hợp với khả năng trình độ của ta, bảo đảm đánh thắng trận đầu, tạo đà phát triển chiến dịch. Trong những chiến dịch thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, cómột số chiến dịch chọn mục tiêu mở màn chiến dịch chưa phù hợp nên trận đánh không thành công, do chọn mục tiêu quá lớn như đồn Phủ Thông trong Chiến dịch Đường số 3 ( 1948); Phân khu An Châu trong Chiến dịch Đông Bắc 1 (1948) và đồn Phố Lu, Nghĩa Đô trong Chiến dịch Lê Hồng Phong (1950), ta không đủ sức dứt điểm hoặc thời gian trận đánh kéo dài, dẫn đến thương vong nhiều, không đánh được lực lượng ứng cứu của địch, ảnh hưởng đến quá trình phát triển cũng như kết quả chiến dịch.


Đến Chiến dịch Biên Giới 1950, ta chọn cụm cứ điểm Đông Khê để đánh trận then chốt mở màn chiến dịch là phù hợp. Mặc dù cụm cứ điểm Đông Khê không lớn nhưng ở vị trí hiểm yếu, có nhiều sơ hở, vừa đảm bảo chắc thắng trận đấu để khêu ngòi, thu hút và kéo viện binh của địch, ta có điều kiện tiêu diệt lớn quân địch ngoài công sự.


Rút kinh nghiệm cả thành công và chưa thành công trong chọn mục tiêu mở màn trong các chiến dịch trước đó. Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hòa Bình rất chú trọng việc chọn khu vực tác chiến chủ yếu, mục tiêu mở màn. Qua quá trình nghiên cứu, đánh giá tình hình, Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận thấy: Sau khi đánh chiếm thị xã Hòa Bình, sông Đà và Đường số 6, địch tổ chức phòng ngự quy mô lớn, với những cứ điểm mạnh. Toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch được chia thành 2 phân khu: Hòa Bình - Đường số 6 (khu Nam) và sông Đà - Ba Vì (khu Bắc). Ở phân khu sông Đà - Ba Vì, địch tổ chức 2 tuyến phòng ngự then chốt (hai tiểu khu): La Phù - Đan Thê và Tu Vũ - Núi Chẹ. Tiểu khu La Phù - Đan Thê, địch mạnh hơn vì các vị trí gần nhau có thể yểm hộ lẫn nhau dễ dàng, đồng thời gần các căn cứ Trung Hà, Sơn Tây và có nhiều đường giao thông thủy, bộ, thuận lợi cho việc chi viện, ứng cứu. Tiểu khu Tu Vũ - Núi Chẹ, địch yếu hơn, nhiều sơ hở hơn, lại ở vào thế cô lập, có sông ngăn cách, xa các căn cứ Trung Hà, Sơn Tây. Muốn ứng cứu cho tiểu khu này, địch chỉ có một đường thủy (sông Đà)và một đường bộ (Đường số 87). Căn cứ vào tình hình ta - địch, sau khi thảo luận, cân nhắc, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định tập trung lực lượng tiêu diệt cụm cứ điểm Tu Vũ - Núi Chẹ, đồng thời đánh địch vận chuyển trên sông Đà. Trong quá trình chuẩn bị chiến đấu, địch phát hiện chủ lực ta vượt sông sang hữu ngạn, nên đã điều Binh đoàn cơ động số 4 (GM4) càn quét phía Tây Nam Ba Vì, đồng thời tăng cường cho Núi Chẹ một trung đội xe tăng. Mặt khác, sau trận đánh địch càn quét, Trung đoàn 209 Đại đoàn 312 không kịp đánh vị trí Núi Chẹ theo kế hoạch. Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định hoãn đánh vị trí Núi Chẹ, nhưng vẫn quyết tâm tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ mở màn chiến dịch theo kế hoạch.


Từ những đánh giá toàn diện tình hình địa hình, tình hình địch và khả năng của ta, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết tâm tập trung binh, hỏa lực tiến công cứ điểm Tu Vũ bằng chiến thuật công kiên, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, vừa triệt đường tiếp tế chủ yếu của địch trên sông, vừa mở đường giao thông vận chuyển chiến dịch của ta, đồng thời tạo thế phát triển thuận lợi cho chiến dịch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #204 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2025, 09:06:50 pm »

2. Tổ chức, sử dụng lực lượng bảo đảm chắc thẳng trận công kiên mở màn chiến dịch

Tổ chức, thực hành trận đánh mở màn trong chiến dịch tiến công của ta thời kỳ này thường là trận công kiên (tiến công vào cứ điểm địch có công sự vững chắc), nhằm thực hiện phương châm "đánh điểm, diệt viện". Đây là trận đánh có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhằm tạo ra chuyển biến có lợi hoặc quyết định thắng lợi của chiến dịch. Để giành thắng lợi trận công kiên mở màn, phải vận dụng tổng hợp nhiều biện pháp, thủ đoạn tác chiến, giải quyết nhiều nội dung, trong đó một nội dung quan trọng là tổ chức, sử dụng lực lượng tiến công, bảo đảm chắc thắng.


Trong Chiến dịch Hòa Bình, để tiêu diệt cứ điểm cấp tiểu đoàn địch tăng cường (cứ điểm Tu Vũ), trong đợt 1, ta sử dụng một trung đoàn được tăng cường. Các trận đánh công kiên tiếu diệt cứ điểm cấp tiểu đoàn địch (Pheo, Đầm Huống) trong đợt 3, ta thường sử dụng lực lượng một trung đoàn bộ binh. Trận công kiên tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ là một điển hình. Tu Vũ là một cứ điểm đột xuất nằm bên tả ngạn sông Đà thuộc xã Tu Vũ, huyện Tam Thanh tỉnh Phú Thọ. Vị trí này trải đài 250m trên bờ sông Đà, chiều rộng khoảng 100m, địa hình tương đối bằng phằng, được chia làm 3 khu; A, B,C, riêng khu C độc lập ở phía Nam, ngăn cách với khu A, khu B bằng ngòi Lát rộng 6m. Cứ điểm Tu Vũ do Tiểu đoàn 1 bộ binh thuộc Trung đoàn 1 bộ binh Marốc và 1 đại đội thuộc tiểu đoàn ngụy Mường số 6 và 1 phân đội xe tăng (3 chiêc) chiếm đóng. Khu A có sở chỉ huy tiểu đoàn, 2 đại đội bộ binh, 6 ụ chiến đấu bao quanh một lô cốt lớn, được trang bị hỏa lực mạnh (súng máy 12,7mm, ĐKZ 57mm, cối 81mm). Khu B có 1 đại đội bộ binh được trang bị ĐKZ 57mm, pháo 37mm, có một lô cốt lớn và nhiều ụ chiến đấu. Khu C có 1 đại đội bộ binh một lô cốt lớn và 7 ụ chiến đấu. Cứ điểm được xây dựng khá kiên cố, các lô cốt chính cao 5m, có 2 đường hầm, tường dày 0,8m, các lô cốt, hầm ngầm, ụ chiến đấu được nối với nhau bằng hệ thống giao thông hào, tạo thành khu vực phòng ngự vững chắc. Xung quanh cứ điểm có 6 hàng rào dây thép gai (kiểu mái nhà, cũi lợn, bùng nhùng) dày 80m, giữa các hàng rào là bãi mìn. Cứ điểm Tu Vũ được 19 khẩu pháo từ Đá Chông, Chẹ, Thủ Pháp yểm trợ.


Để bảo đảm chắc thắng trận công kiên tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, mở đầu chiến dịch. Ta sử dụng Trung đoàn 88, Đại đoàn 308 được tăng cường Tiểu đoàn 80, Trung đoàn 36, 8 khẩu sơn pháo 75mm, 1 đại đội súng máy phòng không 12,7mm. Trong kế hoạch chiến đấu, Trung đoàn 88 sử dụng Tiểu đoàn 29 được tăng cường 1 khẩu ĐKZ 57mm, 2 khẩu badôca, được hỏa lực Trung đoàn 88 chi viện, tổ chức 2 mũi đột phá, đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu, có nhiệm vụ tiêu diệt Sở Chỉ huy Tiểu đoàn 1 và lực lượng địch tại khu A. Tiểu đoàn 23 được tăng cường 1 khẩu đội ĐKZ 57mm, 2 đại liên, được pháo binh của Trung đoàn 88 chi viện, tổ chức 2 mũi đột phá, đảm nhiệm hướng tiến công thứ yếu, có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở khu B. Tiểu đoàn 322 được lãng cường 1 đại đội bộ binh thuộc Tiểu đoàn 80, hai khẩu đội ĐKZ 57mm, 2 cối 82mm, 2 đại liên, 1 sơn pháo 75mm, tổ chức 2 mũi đột phá, đảm nhiệm hướng tiến công phối hợp, có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở khu C. Tiểu đoàn 80 (thiếu) làm lực lượng dự bị của Trung đoàn. Tiểu đoàn pháo binh 75mm có nhiệm vụ bắn trực tiếp tiêu diệt các hỏa điểm, các lô cốt, ụ súng của địch, yểm trợ cho bộ binh trên các hướng và tổ chức một bộ phận kiềm chế pháo binh địch ở Núi Chẹ và sẵn sàng bắn chặn địch ứng cứu bằng đường sông. Bộ phận cối 82mm (7 khẩu) chi viện cho Tiểu đoàn 29 đột phá. Trận địa phòng không bảo vệ đội hình chiến đấu của Trung đoàn.


Theo kế hoạch, đêm mùng 10 tháng 12 năm 1951, các đơn vị của Trung đoàn 88 chiếm lĩnh trận địa và nổ súng tiến công, ngay từ đầu, trận đánh diễn ra rất ác liệt dưới hỏa lực của pháo binh địch, đến 4 giờ 30 phút ngày 11 tháng 12 năm 1951, sau 5 giờ 30 phút chiến đấu, Trung đoàn 88 hoàn toàn làm chủ cứ điểm Tu Vũ.


Trận Tu Vũ là trận công kiên lớn trong Chiến dịch Hòa Bình, có bước phát triển mới trong tổ chức, sử dụng lực lượng, khẳng định khả năng một trung đoàn bộ binh của ta được tăng cường có thể đánh thắng một tiểu đoàn địch được tăng cường xe tăng, thiết giáp, phòng ngự cứ điểm có công sự vững chắc, được hỏa lực pháo binh chi viện mạnh. Sau trận đánh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi điện khen ngợi: "Nó chứng tỏ bước tiến bộ nhanh của quân ta trong thời kỳ chỉnh huấn vừa qua về chiến thuật, kỹ thuật cũng như về tư tưởng"1 (Dẫn theo Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử chiến thuật Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 1975), Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 347). Đây cũng là trận đánh thể hiện bước phát triển trong nghệ thuật đánh trận then chốt mở đầu chiến dịch bằng hình thức chiến thuật công kiên của bộ đội ta.


3.Tổ chức chỉ huy kiên quyết, chặt chẽ, vận dụng linh hoạt chiến thuật, thủ đoạn tác chiến, nhanh chóng tiêu diệt địch, giành thắng lợi.

Trong các chiến dịch từ đầu năm 1948 đến năm 1950, ta nhận thấy, địch thường dựa vào hệ thống cứ điểm, cụm cứ điểm, kết hợp với lực lượng ứng cứu giải tỏa. So sánh lực lượng giữa ta và địch còn rất chênh lệch, kinh nghiệm đánh công kiên (đánh địch trong công sự vững chắc) của bộ đội ta còn hạn chế, ta lựa chọn cách đánh phù hợp thời kỳ này là "đánh điểm, diệt viện", "đánh địch ngoài công sự là chủ yếu". Mặc dù trong đợt 3, trận công kiên tiêu diệt cứ điểm Pheo của Trung đoàn 102, Đại đoàn 308 và vị trí Đầm Huống của Trung đoàn 66, Đại Đoàn 304 không thành công do trình độ chỉ huy của cán bộ ta còn hạn chế, nắm địch không chắc, sử dụng lực lượng không phù hợp. Nhưng ngay ở đợt 1, trận tiến công cứ điểm Tu Vũ, trận then chốt mở đầu Chiến dịch Hòa Bình là trận công kiên lớn đã giành thắng lợi. Những thành công trong vận dụng chiến thuật công kiên tiêu diệt cứ điểm độc lập của địch ở đồng bằng là do cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 88 và các đơn vị đã làm tốt công tác chuẩn bị, có quyết tâm chiến đấu cao. Điểm nổi bật về vận dụng chiến thuật trong trận chiến đấu là chỉ huy trung đoàn đã chọn điểm đột phá chính xác, tập trung binh, hỏa lực vào hướng chủ yếu, sử dụng lực lượng trên hướng thứ yếu và hướng phối hợp hợp lý. Ngay từ đầu khi nổ súng, Trung đoàn 88 nhanh chóng phá sự liên kết phòng thủ của địch, tạo điều kiện cho các mũi đột phá, thọc sâu phát triển chiến đấu, chia cắt, tiêu diệt địch. Trong thực hành chiến đấu, mặc dù yếu tố bí mật không còn do những thiếu sót trong quá trình tổ chức chuẩn bị chiến đấu nên bị địch phát hiện dùng pháo binh và sử dụng lực lượng đánh chặn, gây cho Trung đoàn 88 khó khăn khi tiếp cận, nhưng chỉ huy trung đoàn đã kịp thời củng cố đơn vị, tổ chức cho đội hình phía sau vượt lên áp sát hàng rào địch (sang hai bên sườn của xung kích 1) để tránh hỏa lực của địch ngăn chặn sát thương phía sau đội hình, không cho chúng phân tuyến. Trong điều kiện thực tế địa hình, Trung đoàn 88 đã tổ chức đột phá và phát triển chiến đấu hợp lý thành 6 mũi đột phá cùng một lúc nên đã hạn chế thương vong, vừa phân tán được sự đối phó của địch, vừa nhanh chóng hình thành được nhiều mũi chia cắt, phá vỡ thế trận phòng ngự của địch, từng bước tiêu diệt toàn bộ quân địch.


Cứ điểm Tu Vũ bị san bằng, địch phải thú nhận: "Rất khó lý giải cho sự sụp đổ ở Tu Vũ. Phải chăng là do thiếu xây dựng công sự? Hay là do chuẩn bị phòng thủ kém? Phải chăng là do hỏa lực kém chính xác mặc dù pháo binh đã bắn đến 5.000 viên đạn trong đêm đó? Hay là do sự yếu ớt, bắt buộc của đội quân đồn trú? Người ta không biết một trận tiến công như trận mà đồn này phải gánh chịu, thật là một thách thức đáng sợ"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử chiến thuật Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 1975), Tập 1, Sđd, tr. 348).


Cứ điểm Tu Vũ được Bộ Chỉ huy quân Pháp coi là "vững như bàn thạch" bị tiêu diệt, đồng thời quân Pháp bị phục kích liên tục ở Ninh Mít, Đường số 87, Lạc Song... Đường vận chuyển trên sông Đà, một trong hai "cái ống thực quản" nối đến "dạ dày" là thị xã Hòa Bình bị chặn đứng, phòng tuyến phòng thủ sông Đà của địch bị lung lay, buộc địch phải điều gấp hai binh đoàn cơ động số 1 và số 4 đang càn quét ở Bắc Ninh về vùng Ba Vì.


Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra), đối tượng tác chiến của ta đã có nhiều thay đổi cả về tổ chức biên chế, có vũ khí, trang bị, phương tiện hiện đại, hỏa lực mạnh và sức cơ động cao, tác chiến mạng, tác chiến điện tử rộng rãi. Các chiến dịch tiến công được tiến hành dù ở môi trường tác chiến nào, vào thời gian nào, với loại hình và quy mô nào, đều nằm trong thế phòng thủ chung của đất nước, thế trận chiến tranh nhân dân phát triển cao và dựa vào các khu vực phòng thủ địa phương để đánh địch. Thế phòng thủ chung của đất nước đã được chuẩn bị và xây dựng từ thời bình, là điều kiện cơ bản tạo nên thế trận đánh địch rộng khắp, căng kéo, thu hút, giam chân, phân tán lực lượng và sự đối phó của địch, bảo đảm cho chiến dịch có điều kiện, thời cơ tập trung mọi nỗ lực giành thắng lợi. Ta đánh địch bằng sức mạnh tổng hợp của các lực lượng; kết hợp tác chiến chính quy với tác chiến du kích, đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn. Kết hợp lực, thế và thời cơ để tạo ưu thế hơn địch trong những thời điểm quyết định, giành thắng lợi.


Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, với điều kiện vũ khí, trang bị và phương tiện của ta còn nhiều hạn chế so với đối tượng tác chiến. Do đó, ta vẫn phải "lấy nhỏ đánh lớn", "lấy ít địch nhiều", lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, lấy tiêu diệt sinh lực địch ngoài công sự là chính. Việc lựa chọn mục tiêu "đánh điểm", bằng chiến thuật công kiên thường chọn nơi địch có vị trí hiểm yếu, nếu bị ta tiến công sẽ ảnh hưởng lớn hoặc phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch, buộc địch phải ứng cứu giải tỏa bằng đường bộ hoặc đổ bộ đường không vào khu vực ta đã dự kiến và được chuẩn bị sẵn để ta có điều kiện tiêu diệt lớn quân địch ngoài công sự.


Vận dụng chiến thuật công kiên, đặc điểm nổi bật là địch phòng ngự trong công sự vững chắc và đã có những thay đổi so với trước đây, lô cốt, hầm hào, ụ súng được xây vững chắc hơn, hệ thống vật cản phức tạp và kiên cố hơn. Để bảo vệ, chi viện cho các cứ điểm, cụm cứ điểm, địch sử dụng hỏa lực không quân, pháo binh với cường độ mạnh hơn, đòi hỏi ta phải vận dụng linh hoạt chiến thuật, thủ đoạn tác chiến. Ngoài việc tập trung ưu thế lực lượng, ta cần phải chọn đúng điểm đột phá, nơi địch yếu và hiểm yếu; sau khi đột phá qua cứ điểm vòng ngoài, nhanh chóng thọc sâu đánh vào mục tiêu chủ yếu bên trong, từng bước chia cắt, tiêu diệt từng bộ phận địch; kết hợp đột phá chính diện với tiến công bên sườn, vừa tiến công vừa củng cố lực lượng trong quá trình phát triển chiến đấu, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, nhất là giữa bộ binh với pháo binh.


Sự phát triển chiến thuật công kiên trong Chiến dịch Hòa Bình vẫn còn có giá trị cả lý luận và thực tiễn, cần được kế thừa và vận dụng một cách sáng tạo, nghiên cứu và giải quyết những vấn đề mới, trong điều kiện mới để phát triển lên một trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #205 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2025, 08:22:30 pm »

VỀ MỘT SỐ TRẬN ĐÁNH KHÔNG THÀNH CÔNG
TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Đại tá PHẠM HỮU THẮNG
Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Nghệ thuật quân sự,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Đầu tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp tập trung một lực lượng lớn đánh chiếm Hoà Bình nhằm mục đích mở rộng khu Chiếm đóng, tăng cường phòng ngự phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, ngăn chặn đường liên lạc vận chuyển của ta giữa Việt Bắc với Liên khu 3, đồng thời tiêu diệt một bộ phận sinh lực, phá sự chuẩn bị tiến công Thu - Đông của ta. Trước tình hình trên, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định đây là một cơ hội hiếm có để ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch và chủ trương mở một cuộc tiến công lớn đánh địch trên cả hai mặt trận: Tập trung chủ lực ở hướng chính là Hoà Bình và mạnh bạo đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực, tiến tới phá tan kế hoạch chiếm đóng Hoà Bình của chúng, đẩy mạnh chiến tranh du kích (trọng tâm là đồng bằng Bắc Bộ).


Chiến dịch Hòa Bình diễn ra từ ngày 10 tháng 12 năm 1951 đến ngày 25 tháng 2 năm 1952, qua hơn 2 tháng chiến đấu liên tục, bộ đội ta vận dụng tốt 2 phương châm tác chiến chiến dịch: "Đánh điểm, diệt viện" và "liên tục chiến đấu" thực hiện thành công nhiều trận công kiên, vận động, tập kích bằng lực lượng tinh nhuệ vào sâu hậu phương địch, đánh địch vận chuyển trên sông... diệt nhiều sinh lực, cứ điểm, phương tiện vũ khí của chúng, góp phần rất quan trọng trực tiếp quyết định thắng lợi của chiến dịch.


Tuy nhiên, do nhiều lý đo (cả khách quan và chủ quan), ở một số đơn vị đà có các trận đánh không thành công, không thực hiện được mục tiêu đề ra, bộ đội thương vong nhiều, ảnh hưởng đến kết quả chiến dịch như các trận Đồi Mồi (28 - 29.12.1951), Hàm Voi (30.12.1951), Pheo (7 - 8.1.1952), Đầm Huống (8.1.1952). Ở mặt trận sau lưng địch, có trận Phát Diệm (9 - 10.12.1951) cũng không thành công. Bài viết này, tác giả đề cập đến 2 trận tiêu biểu không thành công đã được tổng kết để thấy rõ kết quả và nguyên nhân không thành công của các trận đánh.


1. Trận Đồi Mồi (28 - 29.12.1951)

Đầu tháng 12 năm 1951, Đại đoàn 304 đã tới phía Nam Đường số 6 và nhanh chóng triển khai lực lượng đánh địch trên Đường số 6. Ngày 12 tháng 12, Trung đoàn 66 của Đại đoàn phục kích trên quãng đường từ Cầu Dụ đến Hang Đá, diệt 34 chiếc xe quân sự và toàn bộ quân địch trên xe. Ngày 13 tháng 12, Tiểu đoàn 352 thuộc Trung đoàn 9 cùng 1 trung đội bộ đội địa phương Hoà Bình phục kích ở làng Giang Mỗ, đoạn từ Hoà Bình đi chợ Bờ, diệt 5 xe GMC và xe tăng cùng 1 đại đội Âu - Phi. Trong trận này, Tiểu đội trưởng Cù Chính Lan đã dũng cảm, mưu trí tiếp cận dùng lựu đạn diệt xe tăng địch, mở đầu cách đánh xe tăng bằng lựu đạn của bộ đội ta.


Bước vào đợt 2 của chiến dịch, Đại đoàn 304 tiếp tục được giao nhiệm vụ đánh địch trên hướng Đường số 6 và phân khu ngoại vi chợ Bến - Đường số 21. Đêm 28, rạng sáng ngày 29, Tiểu đoàn 418 thuộc Trung đoàn 57 tiến công cứ điểm Đồi Mồi và đêm 30 tháng 12, Tiểu đoàn 400 thuộc Trung đoàn 9 tiến công vị trí Hàm Voi. Cả 2 trận đều không thành công, bộ đội thương vong nhiều.


Cứ điểm Đồi Mồi thuộc xóm Lộc Môn, xã Trung Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình1 (Năm 2009, xã Trung Sơn có 5 xóm (Chũm, Bến Cuối, Lộc Môn, Đồng Lạt và Tân Thành), số dân hơn 4.200 người, chủ yếu dân tộc Mường (chiếm hơn 90%), diện tích đất tự nhiên 1.269,33ha, diện tích đất canh tác 230ha) do 1 đại đội lính Âu - Phi chiếm giữ. Cứ điểm nằm trên đồi cao khống chế trục Đường số 21, đoạn từ Xuân Mai đến Chợ Bến, có công sự bằng gỗ đất, hệ thống giao thông hào khép kín, 5 lớp rào kẽm gai, một số mìn chống bộ binh, mìn phát sáng; có 2 trận địa súng cối 81mm và được các trận địa pháo binh từ Đa Sĩ, Miếu Môn, Xuân Mai chi viện.


Tiểu đoàn 418 (có 3 đại đội bộ binh 54, 59 và 60) là đơn vị chủ công của Trung đoàn 57. Khi tiến công cứ điểm Đồi Mồi, Tiểu đoàn được tăng cường đại đội trợ chiến của Trung đoàn (súng cối 81 và 82mm), 1 trung đội súng máy 12,7mm và 1 đại đội sơn pháo 75mm. Trong đợt 1 của chiến dịch, Tiểu đoàn 418, Trung đoàn 57 liên tục đánh địch trên trục Đường số 21, cán bộ, chiến sĩ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, lực lượng, vũ khí, trang bị của đơn vị bị tổn thất, tiêu hao chưa được bổ sung đầy đủ.


Sau một thời gian làm công tác chuẩn bị chiến đấu, đúng 18 giờ ngày 28 tháng 12, từ khu vực trú quân, Tiểu đoàn 418 bắt đầu hành quân chiếm lĩnh trận địa. Đến 21 giờ, bộ đội triển khai chiếm lĩnh trận địa, làm công sự trận địa, sẵn sàng nổ súng tiến công quân địch. Tiểu đoàn 418 triển khai tiến công theo 3 hướng: Hướng tiến công chủ yếu, từ hướng Đông đánh vào vị trí chỉ huy, trận địa súng cối và 1 trung đội bộ binh địch, do Đại đội bộ binh 60 đảm nhiệm (được tăng cường trung đội súng máy 12,7mm, được đại đội trợ chiến súng cối (81 và 82mm) và đại đội sơn pháo 75mm (2 khẩu) chi viện trực tiếp); hướng tiến công thứ yếu 1, từ hướng Tây Bắc đánh vào 2 trung đội bộ binh địch; hướng thứ yếu 2, hướng Tây Nam do Đại đội bộ binh 54 (thiếu 1 trung đội) làm nhiệm vụ kiềm chế hoả lực và nghi binh.


Theo quy định, Tiểu đoàn nổ súng tiến công vào 0 giờ 30 phút ngày 29 tháng 12, nhưng do đại đội sơn pháo và trung đội súng máy 12,7mm triển khai chậm nên Tiểu đoàn phải lùi thời gian nổ súng thêm 30 phút. Đúng 1 giờ, Tiểu đoàn đồng loạt nổ súng mở cửa mở, tiến công cứ điểm. Do bộ phận hỏa lực bố trí không phù hợp nên hiệu quả chi viện không cao. Trong khi đó, địch trong cứ điểm được sự chi viện của pháo binh ở các cứ điểm lân cận chống trả quyết liệt nên bộ đội mở cửa mở và xung phong đánh chiếm đầu cầu gặp rất nhiều khó khăn. Trên hướng chủ yếu, Đại đội 60 chiếm được một phần mỏm A, nhưng bộ đội thương vong gần hết. Trên hướng thứ yếu 1, Đại đội 59 đánh chiếm được một vài đoạn chiến hào dài khoảng 20m, phát triển lên đỉnh mỏm A nhưng bị quân địch dùng hoả lực mạnh chặn lại, bộ đội thương vong lớn nên không tiếp tục phát triển được (đại đội trưởng và chính trị viên hy sinh, chính trị viên phó bị thương nặng; các cán bộ trung đội 1 và 2 đều bị thương vong). Tiểu đoàn đưa trung đội dự bị và lực lượng trên hướng thứ yếu 2 vào tăng cường cho hướng chủ yếu, song do hỏa lực địch khống chế mạnh nên bộ đội không phát triển thêm được và tiếp tục thương vong thêm.


Sau 3 giờ chiến đấu, Tiểu đoàn 418 bị thương vong nhiều nhưng chỉ chiếm được một phần cứ điểm nên buộc phải lui quân. Kết quả, ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 lính Âu - Phi nhưng bộ đội thương vong, mất tích gần 200 người1 (Tiểu đoàn 418: Hy sinh 41, trong đó có 5 cán bộ đại đội (1 đại đội trưởng, 2 đại đội phó, 2 chính trị viên), 1 trung đội trưởng, 2 trung đội phó, 4 tiểu đội trưởng, 3 tiểu đội phó; bị thương 130, trong đó có 1 đại đội trưởng, 1 đại đội phó, 3 trung đội trưởng, 7 trung đội phó, 8 tiểu đội trưởng, 10 tiểu đội phó; mất tích 16 người, trong đó có1 trung đội trưởng, 7 tiểu đội trưởng. Đại đội trợ chiến: Hy sinh 2, bị thương 1. Đại đội sơn pháo: Hy sinh 5 (có 1 đại đội phó, 1 khẩu đội trưởng); bị thương 12, mất tích 1) (trong đó nhiều cán bộ đại đội, trung đội), vũ khí tiêu hao lớn.


Trận đánh không thành công một phần do địch ở địa thế có lợi, hỏa lực mạnh, song về chủ quan, Tiểu đoàn có nhiều hạn chế màsau đó trong tổng kết trận đánh đã chỉ ra, đó là: Trinh sát nắm tình hình địch, địa hình còn sơ sài nên phương án chiến đấu không sát thực tế. Trong triển khai đội hình chiến đấu, nhiều bộ phận còn ỷ lại thời gian gấp, đất đá cứng nên chưa tích cực đào công sự ẩn nấp, làm trận địa cho hoả lực, hố bắn cho xung lực, nên bộ đội thương vong cao ngay khi bộ đội còn ở khu vực triển khai. Bố trí binh lực còn phân tán, chưa thực sự ưu tiên cho hướng chủ yếu. Công tác hiệp đồng chiến đấu giữa hoả lực và xung lực chưa tốt nên hoả lực chi viện chưa hiệu quả cho bộ binh mở cửa mở và đánh địch ở tung thâm; công tác tổ chức chỉ huy của cán bộ các cấp còn nhiều hạn chế. Khi Đại đội 60 và Đại đội 59 đã có một bộ phận đánh chiếm được một phần trận địa địch, chỉ huy chưa kịp thời đưa lực lượng từ bên ngoài vào, nhất là các khẩu đội hoả lực để tăng cường sức tiến công cho các đơn vị bên trong, phát huy thành quả. Khi được lệnh của Tiểu đoàn 418 di chuyển bộ đội từ Tây Nam mỏm B sang phía Đông mỏm A, Đại đội 54 chỉ có 6đồng chí tới đúng vị trí, còn lại là bị thương và thất lạc.


Như vậy, trận Đồi Mồi không thành công nguyên nhân có một phần do địch có lợi thế về địa hình và hỏa lực. Song, về chủ quan, trong chuẩn bị cũng như thực hành chiến đấu, Tiểu đoàn 418 còn có nhiều khuyết điểm nghiêm trọng dẫn đến hiệu quả chiến đấu của bộ đội không cao, thương vong lớn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #206 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2025, 08:24:22 pm »

2. Trận Pheo (7-8.1.1952)

Bước vào Đợt 3 của Chiến dịch Hòa Bình, Tổng Quân ủy quyết định chuyển hướng chính của chiến dịch sang tuyến thị xã Hoà Bình - Đường số 6 nhằm cắt Đường số 6, tiêu diệt sinh lực địch, tiếp tục kiềm chế quân cơ động địch tại Hòa Bình để các mặt trận phối hợp và vùng sau lưng địch tiếp tục đẩy mạnh hoạt động. Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận thấy một số trung đoàn mạnh của ta vẫn còn sung sức nên chủ trương tổ chức một số trận đánh lớn trên Đường số 6, đoạn kế cận với Hòa Bình nhằm tiếp tục uy hiếp quân địch không cho chúng rút lực lượng cơ động về tăng cường cho đồng bằng. Nhưng 2 trận đánh đồn Pheo và Đầm Huống đều không thành công.


Đồn Pheo, trọng điểm của đợt tiến công, là cụm cứ điểm được xây dựng ở khu vực làng Pheo, huyện Kỳ Sơn, Hoà Bình, trên trục Đường số 6, cách thị xã Hoà Bình 10km về phía Đông Bắc. Cụm cứ điểm gồm 3 cứ điểm bố trí thành thế chân kiềng: Cứ điểm A (đồn Pheo) xây dựng trên quả đồi cao từ 30 - 40m; cứ điểm B xây dựng ngay trong làng Pheo (cách đồn Pheo khoảng 100m) và cứ điểm C (đồn Miều) cũng được xây dựng trên quả đồi cao 25m, cách cứ điểm A khoảng 500m. Các cứ điểm có hệ thống công sự dã chiến tương đối vững chắc, xung quanh có từ 2 - 4 lớp hàng rào. Hoả lực trong các cứ điểm khá liên hoàn và có khả năng chi viện được cho nhau. Địa hình xung quanh khu vực phức tạp, có lợi cho trận địa phòng ngự của địch.


Cụm cứ điểm do Tiểu đoàn 2 thuộc bán Lữ đoàn lê dương thứ 13 chiếm giữ. Riêng cứ điểm B có 2 đại đội bộ binh, 1 đại đội pháo 105mm, 1 trung đội xe tăng và Sở Chỉ huy Tiểu đoàn.

Lực lượng ta tiến công Pheo là Trung đoàn 102 của Đại đoàn 308 (có các tiểu đoàn 18, 54, 79 và các đại đội trực thuộc) được tăng cường Tiểu đoàn 23 của Trung đoàn 88, Tiểu đoàn sơn pháo 75mm (6 khẩu) và 2 đại đội súng máy phòng không 12,7mm (12 khẩu). Trung đoàn là một đơn vị có kinh nghiệm trong đánh công kiên, nhưng ít kinh nghiệm và kỹ thuật đánh xe tăng, nhiều chiến sĩ mới chưa tận mắt nhìn xe tăng địch.


Ngày 4 tháng 1 năm 1952, Trung đoàn tổ chức đi trinh sát thực địa, do gặp địch nên bộ đội không vào được cứ điểm, kết quả trinh sát chưa cụ thể. Tuy vậy, do thời gian gấp, Trung đoàn vẫn quyết tâm đánh Pheo theo kế hoạch của trên. Trung đoàn chủ trương tập trung lực lượng tiêu diệt cứ điểm A và B, sau đó diệt cứ điểm C. Nhiệm vụ các đơn vị như sau: Tiểu đoàn 54 là hướng chủ yếu tiến công cứ điểm A từ hướng Đông Bắc; Tiểu đoàn 79 (được tăng cường 1 đại đội của Tiểu đoàn 23) là hướng thứ yếu, tiến công cứ điểm B từ hướng Tây Bắc; Tiểu đoàn 18 bao vây, kiềm chế cứ điểm C; Tiểu đoàn 23 là lực lượng dự bị.


Chiều ngày 7 tháng 1, Trung đoàn 102 hành quân chiếm lĩnh trận địa. Do Đại đoàn thống nhất lại giờ nổ súng vào 24 giờ nên lúc 21 giờ các đơn vị của Trung đoàn được lệnh dừng lại cách cứ điểm từ 500 - 700m. Đúng 24 giờ, các đơn vị của toàn mặt trận bắt đầu nổ súng, Trung đoàn 102 cũng lập tác phát lệnh nổ súng, song một số bộ phận còn ở cách cứ điểm trên 200m nên các hướng mở cửa đều không đúng ý định. Sau khoảng 30 phút chiến đấu, cả 2 hướng chủ yếu và thứ yếu đều mở được cửa mở và đưa lực lượng vào chiến đấu trong tung thâm, song do bộ đội ùn tắc ở tiền duyên, đột phá không kiên quyết và không có hoả lực đi cùng nên các mũi đều bị địch ngăn chặn, không phát triển được. Hướng thứ yếu đánh vào cứ điểm B, bộ đội ta còn bị xe tăng địch đánh bật ra ngoài. Trong khi đó, pháo binh địch ở thị xã Ao Trạch bắn mạnh vào các khu vực xung quanh cứ điểm, nhất, là dọc Đường số 6, phía Bắc cứ điểm A, làm cho cuộc chiến đấu của Trung đoàn càng khó khăn. Khoảng 4 giờ ngày 8 tháng 1, trên hướng chủ yếu (cứ điểm A), Tiểu đoàn 54 đang kiên cường chiến đấu giành giật với địch thì 3 xe tăng từ làng Pheo cơ động sang phản kích, bộ đội ta không có vũ khí chống tăng, bị đánh bật ra khỏi cứ điểm.


Đến 5 giờ 30 phút, thấy không còn khả năng tiến công, Trung đoàn 102 tổ chức rút quân. Do kế hoạch rút quân không chặt chẽ, bộ đội ta bị hoả lực địch phong toả thương vong rất lớn. Riêng Đại đội 213 và một bộ phận của Đại đội 277 bị địch bao vây không rút ra được, bộ đội phải chiến đấu đơn độc đến gần trưa, phần lớn cán bộ, chiến sĩ bị hy sinh, một số đồng chí bị bắt làm tù binh. Kết quả, Trung đoàn 102 không diệt được cụm cứ điểm địch, chỉ diệt khoảng 90 tên địch, nhưng ta bị hy sinh 262, bị thương 318, bị bắt 261 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Tập 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 1.042).


Trận Pheo không thành công dẫn đến dự kiến đánh viện của Chiến dịch Hòa Bình cũng không thành. Nguyên nhân chủ yếu là do công tác điều tra cứ điểm sơ sài, không nắm chắc địch; sử dụng binh hoả lực dàn đều, không tập trung cho hướng chủ yếu; chỉ huy, hiệp đồng không chặt chẽ; khu vực tiền duyên lộn xộn, ùn tắc, đột phá không kiên quyết táo bạo.


Nói về trận đánh này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: "Pheo vẫn nằm trong khả năng tiêu diệt của 102, một trung đoàn công kiên dày dạn kinh nghiệm, từ đầu chiến dịch vẫn được để dành cho nhiệm vụ quan trọng... Thắng lợi của các đơn vị bạn trong những trận công kiên trước đó đã làm cho 102 chủ quan. Công tác điều tra cứ điểm quá sơ sài. Khi phổ biến kế hoạch tác chiến, bàn cát của Trung đoàn không thể hiện rõ sự bố phòng cẩn mật của địch. Cấu trúc phòng ngự của trung tâm đề kháng Pheo sau này được chọn làm thí dụ giảng dạy trong nhà trường quân sự của Pháp. Lực lượng tiến công của ta bị sử dụng phân tán, chia đều làm ba tiểu đoàn đánh ba nơi. Tư tưởngchủ quan của cán bộ truyền sang chiến sĩ. Đơn vị trợ chiến khi ra trận không mang theo cơ số đạn dự trữ, vì anh em cho rằng: "Đánh một loáng là xong, mang làm gì cho nặng!... Đại đoàn cũng chịu trách nhiệm một phần vì nắm tình hình không sát, không phát hiện kịp thời những sai lầm về tư tưởng và tổ chức của cấp dưới... Thất bại này cũng có phần trách nhiệm của Bộ Chỉ huy Chiến dịch. Trong quá trình chuẩn bị, chúng tôi chú ý tới trận biệt kích pháo nhiều hơn"2 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 308).


Sau khi chiến dịch kết thúc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đi thăm thị xã Hòa Bình và khu vực Đồng Bến, đồn Pheo đã nhậnthấy: "Một hình thái phòng ngự mới của quân Pháp ở miền rừng núi. Nó hoàn toàn khác với các cứ điểm của địch trước đây. Khi tiến đánh một cứ điểm nằm trong một hệ thống, bộ đội ta lúc nào cũng bị đạn bắn thẳng của địch đe dọa từ nhiều phía, có khi từ cả bốn phía. Thất bại trong trận Đồn Pheo không phải không có những lý do mới"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 327).


Có thể khẳng định, những trận công kiên không thành công trong Chiến dịch Hòa Bình (Đồi Mồi, Hàm Voi, Pheo, Đầm Huống...), tiêu biểu là 2 trận Đồi Mồi và Pheo như đã trình bày đều có nguyên nhân chủ quan là chính. Các cứ điểm ở Hòa Bình tuy đã được củng cố nhưng vẫn còn là công sự dã chiến, chúng liên kết với nhau thành một hệ thống, nhưng vẫn nằm rải trên những tuyến dài, trong khả năng tiêu diệt của bộ đội ta. về nguyên nhân khách quan: Pháo địch vẫn là trở ngại lớn nhất trong những trận công kiên của ta. Khi tiến công, bộ đội ta không chỉ bị sát thương bởi hỏa lực mạnh của địch từ trong căn cứ mà còn bị sát thương lớn bởi hỏa lực chi viện từ xa của những trận địa pháo được tính toán kỹ lưỡng. Những hoạt động kiềm chế sức mạnh pháo địch của ta lúc đó vẫn chưa hiệu quả. Chúng ta chưa có khả năng dùng pháo binh tiêu diệt những trận địa pháo của địch. Dùng súng cối để kiềm chế pháo địch không dễ dàng.


Những trận công kiên thành công và không thành công trong Chiến dịch Hoà Bình đã giúp bộ đội ta rút ra kinh nghiệm để ngày một tiến bộ trong những trận công kiên tiếp theo. Để rồi đến Chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội ta đã thực hiện thành công những trận công kiên Him Lam, Độc Lập, đồi A1, đồi C1... không chỉ lớn về quy mô mà đã có nội dung của những trận chiến đấu hiện đại. Rõ ràng những thành công trong những trận công kiên ở Điện Biên Phủ đều có những dấu ấn từ những kinh nghiệm rút ra từ các trận đánh ở Hòa Bình cũng như các chiến dịch khác.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #207 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2025, 08:44:03 pm »

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐÁNH ĐỊCH RÚT CHẠY
TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Đại tá NGUYỄN ÁNH NGỌC
Trưởng phòng Khoa học quân sự Quân khu 3


Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952) có ý nghĩa chiến lược quan trọng cả về quân sự và chính trị, đây quân Pháp vào thế lúng túng, bị động về chiến dịch, dẫn đến phòng ngự bị động về chiến lược, chấm dứt thời kỳ địch có thể dễ dàng thực hiện các cuộc hành quân đánh chiếm sâu vào vùng giải phóng; đồng thời mở ra vùng căn cứ du kích, khu du kích liên hoàn, rộng lớn ở đồng bằng, trung du Bắc Bộ. Chiến dịch cũng để lại nhiều kinh nghiệm quý, trong đó có vấn đề đánh địch rút chạy cho lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.


Chiến dịch Hòa Bình diễn ra dài ngày và trên địa bàn rộng. Ở mặt trận chính, lực lượng tham gia có các đại đoàn bộ binh 304, 308, 312, Đại đoàn công pháo 351. Ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, các đại đoàn 316, 320 tiến sâu vào vùng sau lưng địch, cùng lực lượng vũ trang của Liên khu 3 và các địa phương tiến công địch, phát động nhân dân nổi dậy diệt tề, trừ gian, nhanh chóng mở rộng các khu du kích, căn cứ du kích, tạo thế mới cho ta trong vùng địch tạm chiếm và phối hợp với chiến trường chính.


Sau khi đánh chiếm các vị trí then chốt, quân Pháp tổ chức phòng ngự thành 2 phân khu là sông Đà - Ba Vì (khu Bắc) và Hòa Bình - Đường số 6 (khu Nam); trong đó thị xã Hòa Bình được xây dựng theo hình thức tập đoàn cứ điểm với 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 4 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội công binh và 1 trung đội xe tăng1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Tập 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 165).


Trong đợt 1 Chiến dịch Hòa Bình (10-26.12.1951), trên mặt trận chính, ta tập trung đột phá phòng tuyến Sông Đà, trước hết là đánh địch càn quét ở phía Nam Ba Vì, tiến công diệt cứ điểm Tu Vũ, phục kích cắt đứt tuyến vận chuyển trên sông Đà, uy hiếp Đường số 6. Đồng thời, ở mặt trận địch hậu, các đại đoàn 320, 316 phối hợp với lực lượng vũ trang Liên khu 3 và các địa phương, tiến công địch liên tục, rộng khắp, nhất là ở Ninh Bình, Bắc Ninh, khiến quân Pháp phải điều quân từ Hòa Bình về đối phó, sau đó lại cơ động quân từ Bắc Ninh lên ứng cứu cho khu vực sông Đà, Ba Vì.


Trong đợt 2 (27 - 31.12.1951), ta tiếp tục đánh mạnh hướng sông Đà - Ba Vì, tập trung tiêu diệt địch ở các điểm cao 400, 600. Trên hướng Đường số 6, ta tiến công các cứ điểm Đồi Mồi, Hàm Voi. Quân Pháp cố gắng tăng viện cho Hòa Bình nhưng không thể đánh thông được tuyến Sông Đà, phải chuyển sang củng cố tuyến Đường số 6, bảo vệ thị xã Hòa Bình.


Ngày 7 tháng 1 năm 1952, ta tiến công các cứ điểm Pheo, Đầm Huống, mở đầu đợt 3 của chiến dịch. Trong giai đoạn này, ta chuyển hướng tiến công chủ yếu sang Đường số 6 và bao vây thị xã Hòa Bình, đã tập kích tiêu diệt trận địa pháo và 4 vị trí địch ở thị xã, đánh cắt giao thông, làm tê liệt tuyến vận chuyển của chúng trên Đường số 6. Tình hình chiến trường có những chuyển biến nhanh chóng, các binh đoàn cơ động của địch đều bị thiệt hại nặng, không còn khả năng tổ chức một trận đánh quy mô lớn với ta.


Với lực lượng rút về từ phòng tuyến Sông Đà, hệ thống phòng ngự của địch ở thị xã Hòa Bình và trên Đường số 6 được củng cố chặt chẽ, đặc biệt là hỏa lực pháo binh. Ở đồng bằng, địch không còn đủ lực lượng cơ động đối phó với những hoạt động ngày càng mạnh của ta. Cũng trong thời gian này, tướng Đờ Lát - Cao ủy kiêm Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, tác giả của kế hoạch tiến công ra Hòa Bình bị bệnh chết, làm cho quân Pháp trên chiến trường rất hoang mang, dao động, đồng thời tác động mạnh đến hy vọng giành chiến thắng ở Đông Dương trong chính giới Pháp. Cùng với chi phí tốn kém cho cuộc chiến tranh, Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) yêu cầu nước Pháp phải bổ sung lực lượng tham gia phòng thủ châu Âu, khiến nội bộ Chính phủ Pháp bất đồng gay gắt. Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận định: Địch đang có dấu hiệu chuẩn bị rút quân nên đã hạ quyết tâm: Vận dụng linh hoạt nhiều thủ đoạn tác chiến, tích cực tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận nhỏ quân địch, tác chiến kết hợp với phá hoại, chuẩn bị tiêu diệt một bộ phận quân địch khi chúng rút lui.


Trên cơ sở đó, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã giao nhiệm vụ sẵn sàng đánh địch cho các đơn vị với phạm vi, địa bàn hoạt động cụ thể. Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 102) được phối thuộc Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312), có nhiệm vụ tiêu diệt quân địch từ thị xã Hòa Bình tới Ao Trạch, trong đó tập trung ở khu vực phía Bắc. Đại đoàn 312 (thiếu Trung đoàn 209) được phối thuộc Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308), phụ trách từ Xóm Pheo đến Ao Trạch, trong đó tập trung ở phía Nam, sẵn sàng tiêu diệt địch từ Phương Lâm tới Xóm Pheo và phối hợp với Đại đoàn 304 ở khu vực Đồng Bái. Đại đoàn 304 đảm nhiệm từ Ao Trạch đến Xuân Mai, có nhiệm vụ tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quân địch. Ta cũng điều động một trung đoàn chuẩn bị vào hoạt động ở vùng Chợ Cháy, Xuân Mai và Mai Lĩnh.


Từ ngày 9 tháng 1 năm 1952, lực lượng ta bát đầu hoạt động mạnh trên Đường số 6, trong đó tập trung đánh phá giao thông. Cũng trong giai đoạn này, quân Pháp mở cuộc hành binh "Cái phễu soi" (Speculum) nhằm đẩy ta ra xa Đường số 6, mở đầu cho cuộc rút quân1 (Thời điểm này, thị xã Hòa Bình và Đường số 6 đang nằm trong vòng vây của 3 đại đoàn ta). Tướng Xalăng đã huy động hầu hết lực lượng cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ, gồm Binh đoàn cơ động số 1, nhiều tiểu đoàn dù vào cuộc hành binh. Kế hoạch nít lui của quân Pháp mang tên "Cuộc hành binh Cầu vồng" (Opération Arcenciel) được hoạch định hết sức thận trọng và tuyệt đối bí mật, gồm 5 "pha" với 5 màu khác nhau, tương ứng với 5 cung độ được chia ra trên đoạn đường từ thị xã Hòa Bình tới Xuân Mai. Pha màu trắng là khởi đầu cuộc rút quân ở thị xã Hòa Bình, pha màu đỏ là từ Bến Ngọc tới xóm Pheo, pha màu lam từ giữa Đồng Bến đến Ao Trạch, pha màu vàng từ Đèo Kẽm tới Mộ Thôn, pha màu lục là đoạn cuối cùng từ Mộ Thôn tới Xuân Mai.


Thực hiện kế hoạch, địch tập trung một lực lượng lớn quân cơ động và quân dù ở Xuân Mai, sau đó tiến về phía Ao Trạch. Để bảo đảm bí mật, việc chuẩn bị cho "Cuộc hành binh cầu vồng" được che giấu dưới hình thức hoạt động tăng cường chung cho các vị trí. Quân Pháp tổ chức chiếm đóng các điểm cao hai bên trục Đường số 6, phát quang các bụi rậm đề phòng lực lượng ta phục kích; cho máy bay bắn phá nhiều điểm dọc đường nhằm bảo vệ cho lực lượng công binh sửa chữa cầu, đường... Khi bị ta chặn đánh, địch nhanh chóng tìm nơi ẩn nấp, gọi máy bay, đại bác bắn phá, oanh tạc dữ dội vào đội hình ta. Tới Ao Trạch, quân Pháp xây dựng nơi đây thành một "thị xã Hòa Bình mới" với 13 cụm pháo binh. Trên đường tới thị xã Hòa Bình, địch bị Đại đoàn 304 tổ chức đánh chặn, khiến nhiều tiểu đoàn dù bị thương vong, phải quay trở lại Ao Trạch. Địch đưa Binh đoàn cơ động số 1 lên thay thế. Đến ngày 13 tháng 1 năm 1952, địch mới tới gần thị xã Hòa Bình.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #208 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2025, 08:45:08 pm »

Cuối tháng 1 năm 1952, Tổng Quân ủy nhận định: "Theo thế chung, dù muốn hay không muốn, địch cũng phải rút khỏi Hòa Bình"1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 37). Đầu tháng 2 năm 1952, những biểu hiện của cuộc rút quân ngày càng rõ hơn. Ngày 13 tháng 2, quân Pháp rút pháo binh thương binh và các cơ quan chỉ huy từ thị xã Hòa Bình qua Bến Ngọc. Tiếp đó, chúng chiếm thêm một số điểm cao nhằm bảo vệ lực lượng từ thị xã Hòa Bình khi qua sông. Quá trình rút lui, địch thực hiện rất thận trọng, có các đội tuần tiễu bảo vệ và xe tăng pháo binh đi kèm.


Đêm 16 tháng 2, một số đại đội thuộc Trung đoàn 141 (Đại đoàn 312) tiến công cứ điểm Chung Minh nhưng không thành công. Ngày 22 tháng 2, bộ đội địa phương đánh một số trận vận động phục kích nhỏ ở Nam Bến Ngọc, Phương Lâm. Ta cũng pháo kích vào đoạn đường từ Bến Ngọc đến xóm Pheo, diệt 2 đại đội phá hủy 23 xe quân sự. Ngày 23 tháng 2, địch rút khỏi thị xã Hòa Bình, Trung đoàn 36 xuất kích, diệt 2 đại đội địch ở Thịnh Lang. Do có phi pháo yểm trợ, quân địch rút từ Bến Ngọc về Chung Minh, xóm Pheo, Đầm Huống rồi về Ao Trạch, ta không tổ chức được các trận đánh hiệu quả. Ngày 24 tháng 2, Trung đoàn 9 thuộc Đại đoàn 304 chặn đánh địch ở Đá Lỗ, Ao Trạch, diệt gần 2 đại đội địch, Trung đoàn 57 dùng hỏa lực bắn đuổi diệt một số quân địch. Đến ngày 25 tháng 2, quân địch rút khỏi Đồng Bái về Xuân Mai kết thúc cuộc hành quân chiếm đóng Hòa Bình.


So sánh với việc rút quân khỏi Cao Bằng, cuộc rút lui của quân Pháp khỏi Hòa Bình đã thành công. Địch dùng tới 30.000 viên đạn pháo để yểm trợ cho cuộc rút quân. Ta chỉ tiêu diệt được khoảng 6 đại đội địch, phá hủy khoảng 20 xe cơ giới, thu vài trăm tấn đạn... Việc rút lui khỏi Hòa Bình được xem "là "chiến công lớn" duy nhất của đội quân viễn chinh Pháp trong Đông Xuân 1951 - 1952"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2018, tr. 804).


Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Cùng với loại khỏi vòng chiến đấu hàng vạn quân địch, thu, phá hủy lượng lớn vũ khí và trang bị kỹ thuật, giải phóng hàng nghìn kilômét vuông, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược, chiếm đóng "xứ Mường", chia cất chiến trường Bắc Bộ của thực dân Pháp. Sự phối hợp giữa chiến trường chính và địch hậu đã khiến quân Pháp phải chấp nhận "một thất bại kép về chiến lược", thất bại trên cả 2 mặt trận. Từ thực tiễn nghiên cứu quá trình đánh địch rút chạy, rút ra một số vấn đề cơ bản như sau:

Một là, cần nắm chắc và dự báo, đánh giá đúng tình hình địch, ta; thực hành bao vây, chia cắt nhanh; xây dựng phương án tác chiến phù hợp.

Nắm chắc và dự báo, đánh giá đúng tình hình của đối tượng tác chiến chiến dịch là công việc rất khó khăn. Thực tế, trong Chiến dịch Hòa Bình, ta đã dự đoán khá sát về địch. Ngay từ khi mở chiến dịch, trong xác định cách đánh, ta đã đề ra nhiệm vụ sẵn sàng đánh địch rút chạy. Trong đợt 2, khi Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định chuyển hướng tiến công chủ yếu xuống Đường số 6, khống chế vận chuyển trên sông Đà, vây chặt địch trong thị xã Hòa Bình, ta tiếp tục đề ra phương án đánh địch rút chạy. Giữa tháng 2 năm 1952, ta phán đoán địch sẽ rút khỏi Hòa Bình vì tác giả của việc đưa quân lên Hòa Bình là Đờ Lát bị bệnh, phải trở về Pháp và đã chết, trong khi đó, chúng không thế bỏ vùng đồng bằng đang bị ta đánh mạnh. Trên cơ sở đánh giá tình hình và phán đoán các dấu hiệu từ phía địch (án binh bất động ở thị xã Hòa Bình, tổ chức khai thông Đường số 6, chốt thêm một số điểm cao khống chế...), Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã sớm dự báo việc quân địch sẽ rút lui, từ đó chỉ đạo tăng cường trinh sát, đồng thời xây dựng kế hoạch, bố trí lực lượng đánh địch rút chạy, trong đó tập trung vào hướng tiến công chủ yếu ở khu vực phía Bắc Đường số 6.


Tuy nhiên, quá trình đánh địch rút chạy, ta cũng bộc lộ những hạn chế. Đó là còn máy móc, chưa linh hoạt như trong đợt 3, khi chuyển ra đánh nhỏ ở Hòa Bình và Đường số 6, ta đã mất nhiều thời gian, không thực hiện được đầy đủ kế hoạch, ảnh hưởng đến việc đánh địch mở đường và rút lui. Một số đơn vị hoạt động ở mặt trận chính chưa nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của mặt trận địch hậu. Do đó, khi quân Pháp mở Đường số 6 để rút quân khỏi Hòa Bình, chưa nhận thức hết chủ trương đánh nhỏ, kiềm giữ địch ở Hòa Bình là mục đích phối hợp với địch hậu nên đã không tích cực hoạt động. Trong trận đánh căn cứ Chung Minh (10.2), ta chưa phán đoán đúng tình hình địch, quá trình tiến công việc bố trí và sử dụng lực lượng chưa tập trung. Ta cũng chưa thực hiện được chiến thuật đánh cắt Đường số 6 nhằm chia cắt triệt để giữa thị xã Hòa Bình và Xuân Mai, do đó không chặn được quân địch rút lui khỏi thị xã Hòa Bình và tiêu diệt chúng. Quá trình truy kích địch, Trung đoàn 9 và Trung đoàn 57 (Đại đoàn 304) bố trí trận địa xuất kích xa, lại bị pháo binh và máy bay địch ngăn cản, nên có mặt muộn trên Đường số 6. Sáng ngày 24 tháng 2, Trung đoàn 9 mới bắt kịp quân địch ở phía đông Đèo Kẽm...


Hai là, kịp thời cơ động lực lượng, tiến hành truy kích địch bằng nhiều mũi, hướng; bám sát địch, đánh mạnh liên tục vào đội hình địch.

Trong đợt 3 của Chiến dịch Hòa Bình, ta đã đẩy mạnh các hoạt động đánh nhỏ ở mặt trận chính, đồng thời phát động rộng rãi chiến tranh du kích ở vùng địch hậu. Để chuẩn bị đánh địch rút chạy, ta đã bố trí lực lượng ở nhiều hướng nhằm tổ chức đánh địch, đồng thời sẵn sàng tiêu diệt lực lượng rút chạy. Khi quân địch rút chạy, ta đã tổ chức đánh địch từ nhiều hướng, mũi và liên tục bám sát địch. Đêm 22 tháng 2 năm 1952, trước những dấu hiệu bắn phá ác liệt của pháo binh địch (nhằm tiêu thụ hết đạn pháo, không để rơi vào lực lượng ta), ta đã theo dõi sát tình hình, sẵn sàng xuất kích tiêu diệt địch. Trung đoàn 36 ở phía Bắc thị xã Hòa Bình, do cả những yếu tố chủ quan và khách quan, mãi khi trời sáng mới tới thị xã, một bộ phận quân địch đã qua sông, bộ phận còn lại được máy bay, đại bác bảo vệ; tuy nhiên, với tinh thần kiên quyết tiến công, ta đã bắn chìm 1 canô, phá hủy một số xe cơ giới. Trung đoàn 209 tiến công địch ở xóm Pheo bị máy bay bắn phá ác liệt nhưng đã bám sát đội hình phía sau của chúng, bắn cháy 1 máy bay.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #209 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2025, 08:45:59 pm »

Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tác phong dân chủ, kiên quyết, cụ thể; làm tốt công tác bảo đảm về mọi mặt.

Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là kết quả của sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chỉ huy Chiến dịch; sự dũng cảm, hy sinh của mỗi cán bộ, chiến sĩ và sự góp sức của người dân trên cả mặt trận chính và mặt trận địch hậu. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, trong đánh địch rút chạy, một số cán bộ có tác phong thiếu sâu sát, cụ thể trong trận Hàm Voi (23.2.1952), đơn vị báo cáo đã tiêu diệt hoàn toàn 2 đại đội địch nhưng thực tế chỉ diệt được 2 trung đội... Trong việc đánh địch rút lui, Tổng Quân ủy nhận định đó là cơ hội tốt để ta tiêu diệt địch, tuy nhiên vẫn có một số cán bộ cho rằng "không thể đánh được", nên chưa quán triệt sâu sắc quyết tâm chiến đấu tới cán bộ cấp dưới và chiến sĩ, làm ảnh hưởng đến trận đánh, bỏ lỡ cơ hội tiêu diệt sinh lực địch.


Trong những ngày cuối cùng của chiến dịch, quá trình truy kích địch, lực lượng ta đã cơ động đến muộn do trời tối và sự đánh phá ác liệt của pháo binh, không quân địch (Trung đoàn 36), khi trời sáng mới tới thị xã, phần lớn quân địch đã qua sông, nên ta chỉ tiêu diệt được rất ít sinh lực và phương tiện chiến tranh của chúng. Cùng với đó, công tác bảo đảm cũng có những hạn chế như việc chuẩn bị đạn pháo không đúng chủng loại, lẫn nhiều đạn khói, gây khó khăn trong quá trình chiến đấu.


Bốn là, xây dựng tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên quyết, bền bỉ cho cán bộ, chiến sĩ, đồng thời giữ nghiêm kỷ luật chiến trường.

Trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch cũng như trong đánh địch rút chạy, các đơn vị đã giáo dục cho bộ đội tinh thần chiến đấu dũng cảm theo phương châm tiêu diệt sinh lực địch, chiến đấu liên tục, dẻo dai, bền bỉ. Qua đó, đã động viên bộ đội nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, chiến đấu liên tục trong thời gian dài. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy: "Công tác chính trị chưa làm tốt công tác tư tưởng đối với cán bộ, sự kết hợp công tác tư tưởng với công tác tổ chức trong cán bộ chưa chặt chẽ, nên tác phong và tư tưởng cán bộ trong lãnh đạo, chỉ huy còn bộc lộ nhiều sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng, dẫn đến kết quả chiến dịch bị hạn chế thắng lợi"1 (Tổng cục Chính trị, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ 1945 - 1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 127). Một số đơn vị xảy ra tình trạng có cán bộ, chiến sĩ chưa chấp hành nghiêm kỷ luật chiến trường. Khi xác định kế hoạch đánh địch rút lui khỏi Hòa Bình, một số cán bộ tỏ ra lo ngại, do dự, cho là không đánh được. Tổng Quân ủy đã triệu tập cán bộ từ cấp trung đoàn trở lên để nhận định tình hình, phán đoán kế hoạch rút lui của địch rồi mới xác định cách đánh. Từ đó, xây dựng kế hoạch chiến đấu cụ thể, đồng thời giúp bộ đội thêm tin tưởng vào kế hoạch đánh địch.


Chiến dịch Hòa Bình là thắng lợi lớn của ta, đánh dấu những bước phát triển mới về nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật, đồng thời để lại nhiều kinh nghiệm quý trên nhiều phương diện cho chiến tranh nhân dân Việt Nam. Những vấn đề về đánh địch rút chạy đã cung cấp cho lực lượng vũ trang những cơ sở thực tiễn quan trọng để nghiên cứu, vận dụng cho những chiến dịch tiếp theo, góp phần nâng cao hiệu suất chiến đấu, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp sớm đến ngày thắng lợi hoàn toàn.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM