Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:27:44 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử  (Đọc 29259 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #100 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2025, 07:45:45 pm »

Ở phía tây, các đơn vị của Bộ đội Trường Sơn tăng cường bảo vệ khu tam giác Sê Pôn - Tha Mé - La Hạp. Sư đoàn 968 phối hợp với quân và dân bạn tiêu diệt nhiều sinh lực địch và ngụy Lào; diệt và bắt sống gần 300 tên, thu 115 súng. Ở phía tây nam, Binh trạm 41 Bộ đội Trường Sơn phối hợp với Sư đoàn 324 đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn thủy quân lục chiến Sài Gòn ở các điểm cao 550, 540, 532. Địch phải liều mạng cho trực thăng bốc số quân còn lại ở các cao điểm và đã bị hỏa lực của các đại đội súng máy thuộc Binh trạm 32, Binh trạm 33, Binh trạm 41 đánh mạnh, 40 trực thăng bị cháy và phá hủy.


Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Quân đội Sài Gòn - lực lượng nòng cốt thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" ở Việt Nam bị giáng một đòn tiêu diệt nặng nề. Âm mưu của địch hòng cắt đứt tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn bị thất bại.


Trong chiến dịch này, các lực lượng của Bộ đội Trường Sơn đã chiến đấu thắng lợi giờn giã 481 trận, tiêu diệt 5.695 tên, bắt 778 tên; bắn rơi 356 máy bay địch trên tổng số 620 chiếc bị bắn rơi của toàn chiến dịch, thu 24 khẩu pháo, 116 xe tăng, xe bọc thép và ô tô. Đồng thời, Bộ đội Trường Sơn đã phối hợp với các lực lượng chủ lực của Bộ và của bạn tiêu diệt, bắt hàng vạn tên địch, phá hủy và thu nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh, đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch.


Với những chiến công đó, ngày 31 tháng 3 năm 1971, Ban Chấp hành Trung ương Đảng gửi thư khen cán bộ, chiến sĩ Mặt trận Đường 9 - Nam Lào "Đánh giỏi, thắng giờn giã, lập công xuất sắc". Thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của quân đội ta. Nó chứng tỏ quân chủ lực và nhân dân ta có đủ sức mạnh đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ. Thắng lợi của chiến dịch cũng khẳng định biện pháp tiến hành "cuộc chiến tranh ngăn chặn" tuyến đường Hồ Chí Minh của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã bị phá sản.


Ngày 15 tháng 5 năm 1971, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Trường Sơn họp kiểm điểm việc thực hiện nhiệm vụ vận chuyển chi viện mùa khô năm 1970 - 1971, trong đó nhấn mạnh, mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng Bộ đội Trường Sơn đã nỗ lực cao độ, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ Quân ủy Trung ương giao, trong đó nhiệm vụ trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào được hoàn thành xuất sắc, với khối lượng hàng vận chuyển gần 1 vạn tấn, cao hơn chỉ tiêu dự báo ban đầu 8,6 lần, xấp xỉ bằng 35% tổng khối lượng đã giao cho các chiến trường, đảm bảo thỏa mãn mọi nhu cầu vật chất cho chiến dịch. Đã chỉ huy và đảm bảo cho trên 2.000 xe pháo vượt Trường Sơn vào địa bàn chiến dịch. Bên cạnh đó, các đơn vị Bộ đội Trường Sơn bảo đảm và đưa đón được 88.000 quân vào các chiến trường, mở thêm cửa khẩu mới; khôi phục trên 4.000km đường cũ; làm lại hàng trăm cầu, phà, ngầm; mở thêm 1.153km đường mới, đảm bảo vững chắc cho vận chuyển chiến lược và chiến dịch.


Đánh giá kết quả tham gia Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Trường Sơn nhấn mạnh: "Trong hoàn cảnh vừa làm nhiệm vụ phục vụ chiến dịch, vừa trực tiếp tác chiến chiến dịch trên cả hai hướng đông và tây Trường Sơn mà thực hiện được khối lượng như vậy là một cố gắng phi thường, một thắng lợi to lớn. Thắng lợi đó có ý nghĩa đảm bảo đầy đủ, kịp thời vật chất cho các hướng chiến trường ở thời điểm có tính quyết định".


Thắng lợi của công tác vận tải chiến lược cùng với thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào là thắng lợi tổng hợp của Bộ đội Trường Sơn. Trước hết là đánh bại âm mưu ngăn chặn, cắt đứt tuyến vận tải chiến lược của đối phương ở khu vực trung tâm Đường 9; mở rộng căn cứ chiến lược với chính diện từ đông sang tây Trường Sơn khoảng 200km; phát triển thêm chiều sâu; mở thêm nhiều trục dọc, cải thiện thế trận vận tải chiến lược.


Thắng lợi đó chứng tỏ các lực lượng trên toàn tuyến đã phát huy vai trò của một hướng chiến trường trọng yếu; hoàn thanh xuất sắc nhiệm vụ tổ chức chỉ huy tác chiến binh chủng hợp thành trên hướng phối hợp của chiến dịch; cùng quân dân Lào tiêu diệt nhiều binh đoàn của quân ngụy Lào, Thái Lan, đánh bại âm mưu hợp điểm với quân đội Sài Gòn, giữ vững thông suốt tuyến hành lang vận tải phía tây; thực hiện xuất sắc vai trò lực lượng tác chiến tại chỗ đánh bại chiến thuật "trực thăng vận"; ngăn chặn địch từ đầu và trong quá trình chiến dịch; tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực, phương tiện chiến tranh, làm rối loạn dịch cả trước và sau lưng; phối hợp tạo điều kiện cho binh đoàn chủ lực cơ động đánh địch tập trung tiêu diệt lớn quân địch.


Đồng thời, tuyến chi viện Trường Sơn đã phát huy vai trò một căn cứ chiến lược làm nhiệm vụ tổng hợp, chuẩn bị chiến trường cho chiến dịch, xây dựng các khu tập kết, hệ thống đường cơ động cho các lực lượng binh khí kỹ thuật, xây dựng mạng thông tin, hệ thống kho tàng, hệ thống đảm bảo cấp cứu, chuyển thương, hệ thống cầu đường vận chuyển. Đó là hạ tầng cơ sở tạo nên những điều kiện cơ bản cho tổ chức chiến dịch và là yếu tố góp phần quyết định thắng lợi của chiến dịch.


Thắng lợi của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã để lại những bài học sâu sắc cho quá trình tổ chức vận chuyển chiến dịch, chiến lược, phối hợp, hiệp đồng giữa các lực lượng tham gia chiến đấu, đó là:

- Sự nhận định và đánh giá đúng của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trưng ương Đảng, của Quân ủy Trung ương và Tổng Tư lệnh về âm mưu, thủ đoạn của địch khi chúng chuyển từ chiến lược "chiến tranh cục bộ" sang chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh"; sự chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời của Bộ Tổng tư lệnh; sự quyết đoán, táo bạo và sáng tạo của Bộ Tư lệnh chiến dịch.

- Sự chuẩn bị đầy đủ, chu đáo của Bộ Tư lệnh Trường Sơn và Quân khu Trị Thiên về cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, vũ khí đạn dược; đặc biệt là chuẩn bị thế trận và lực lượng phòng không hết sức mạnh mẽ của bộ đội Trường Sơn.

- Đã kết hợp tốt lực lượng chiến đấu của Bộ, lực lượng trên chiến trường Trị Thiên và Bộ đội Trường Sơn; hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, ăn khớp trên các hướng đông, tây và Mặt trận Trị Thiên; phát huy tốt lực lượng chiến đấu tại chỗ.

- Đoàn kết chiến đấu chặt chẽ của quân và dân Việt Nam - Lào, tiêu diệt địch ở phía tây Mường Phìn; đặc biệt là sự chủ quan của Mỹ và Sài Gòn khi đánh giá thấp sức mạnh của ta ở chiến trường này vào đầu năm 1971.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #101 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2025, 07:47:21 pm »

QUÂN VÀ DÂN KHU 5 - TÂY NGUYÊN CHIA LỬA VỚI CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971

Thiếu tướng LÊ CHIÊM
Tư lệnh Quân khu 5


Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Khu 5 là chiến trường ác liệt, quân và dân Khu 5 đã chiến đấu kiên cường đánh bại nhiều cuộc hành quân và các nỗ lực bình định của địch, đồng thời đã phối hợp và chia lửa với các chiến trường, trong đó có Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, góp phần tạo nên chuyển biến chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Cuộc tiến công chiến lược Tết Mậu Thân 1968, quân và dân ta đã giáng đòn quyết định làm thất bại chiến lược "chiến tranh cục bộ". Nhưng với bản chất ngoan cố, Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" hòng kéo dài và mở rộng chiến tranh trên bán đảo Đông Dương. Chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" tập trung vào 3 mục tiêu: "Hủy diệt, giành dân và bóp nghẹt", với 3 biện pháp chiến lược: Phát triển quân đội Sài Gòn cả về số lượng và chất lượng; tăng cường bình định giành dân tiêu hao và đẩy lùi lực lượng cách mạng, củng cố và xây dựng chính quyền ở các cấp; tiến hành cuộc chiến tranh "bóp nghẹt", tổ chức những cuộc hành quân đánh phá cắt đứt đường hành lang vận chuyển chiến lược, phá vỡ các cơ sở hậu cần của ta, qua đó, làm suy yếu sức chiến đấu của lực lượng vũ trang cách mạng.


Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào là một nỗ lực quân sự cao nhất nhằm thực hiện "chiến tranh bóp nghẹt" của Mỹ và Sài Gòn; là cuộc hành quân có tầm quan trọng quyết định đối với chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh".

Trên cơ sở lường định tình hình, dự đoán âm mưu và hành động của địch, từ giữa năm 1970, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã chỉ rõ: nắm vững thời cơ, tập trung lực lượng, kiên quyết tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bảo vệ bằng được Đường Hồ Chí Minh, chuẩn bị sẵn sàng đánh địch trên các hướng: Đường số 9, vùng Ba biên giới và Đông Bắc Campuchia, sẵn sàng đánh thắng địch khi chúng liều lĩnh tiến công ra nam Quân khu 4.


Khi cuộc hành quân của địch bắt đầu, Bộ Chính trị đã chỉ thị cho Quân ủy Trung ương: "Nhất thiết phải đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào, vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược".

Tham gia Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào lực lượng vũ trang Quân khu 5 có Sư đoàn bộ binh 2 - là sư đoàn chủ lực cơ động của Quân khu 5, sinh ra và lớn lên giữa những ngày cả nước sục sôi khí thế "quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược".

Với truyền thống dũng cảm, kiên cường, mưu trí, chủ động, sáng tạo, đánh liên tục, đánh tập trung, đánh hiệp đồng binh chủng, đánh theo mệnh lệnh, "nắm thắt lưng địch mà đánh", có lệnh là đi, đã đánh là thắng, Sư đoàn 2 đại diện cho lực lượng vũ trang Quân khu trực tiếp chiến đấu trong đội hình chiến dịch có ý nghĩa chiến lược quan trọng này.


Ngay từ tháng 9 năm 1970, khi vừa mới tạm ổn định vị trí đóng quân, Sư đoàn đã bắt tay ngay vào nhiệm vụ chuấn bị chiến đấu. Cán bộ các cấp trong Sư đoàn lần lượt nghiên cứu địa hình, nghiên cứu phương án tác chiến cho từng tình huống cụ thể. Đồng thời, Sư đoàn quán triệt nhiệm vụ công tác đảng, công tác chính trị mà Quân ủy Miền đã xác định khi Mỹ thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" trên chiến trường miền Nam: "Tập trung mọi nỗ lực xây dựng cho toàn thể lực lượng vũ trang một lập trường cách mạng thật kiên định, một quyết tâm chiến đấu sắt thép thật cao, một khí thế tiến công thật mãnh liệt và một số lượng đông, chất lượng cao để bảo đảm cho các lực lượng vũ trang giải phóng sát cánh cùng toàn dân tộc liên tục đẩy mạnh tổng công kích... giành thắng lợi quyết định"1 (Hồ sơ 118CT, MQ47, tr. 152). Để phát huy cao độ nhân tố chính trị tinh thần cho bộ đội tham gia Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Sư đoàn bộ binh 2 đã xây dựng quyết tâm chiến đấu cao, ý thức kỷ luật nghiêm, nhất là kỷ luật chiến trường; nêu cao tinh thần đoàn kết, hiệp đồng chặt chẽ, động viên được khí thế giết giặc lập công; trong bất cứ tình huống nào cũng phải nỗ lực vượt bậc, quyết tâm chiến đấu giành thắng lợi.


Bước vào chiến dịch, Sư đoàn được Bộ tăng cường Trung đoàn bộ binh 64, Trung đoàn Pháo binh 368 và một lực lượng xe tăng, pháo phòng không cùng lực lượng tại chỗ thuộc Đoàn 559. Sư đoàn được chuẩn bị chu đáo về lực lượng hậu cần, kỹ thuật. Nhiệm vụ của Sư đoàn cùng với lực lượng tại chỗ đánh địch trên hai hướng: hướng từ phía tây Bản Đông đến Sê Pôn và hướng khu tam giác Tam Luông - Sa Đi - Mường Noòng.


Lần đầu tiên tác chiến hiệp đồng binh chủng trong đội hình chiến dịch lớn gồm nhiều đơn vị pháo binh, cao xạ, thiết giáp, được bảo đảm đầy đủ về trang bị kỹ thuật, toàn Sư đoàn đều phấn khởi và quyết tâm cao. Song, bước vào chiến dịch, Sư đoàn lại gặp khó khăn lớn: toàn bộ cán bộ quân sự cấp trưởng, từ tiểu đoàn trở lên lúc bấy giờ đều đi chuẩn bị chiến trường ở Tây Nguyên. Trong khi đó, giai đoạn đầu chiến dịch, Sư đoàn lại phải chiến đấu trên hai hướng xa nhau, việc chỉ huy càng thêm khó khăn. Hội nghị Đảng ủy Sư đoàn, sau khi phân tích thuận lợi, khó khăn, đã quyết nghị động viên toàn thể cán bộ, chiến sĩ nêu cao quyết tâm, chiến đấu tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, bảo vệ vững chắc hành lang chiến lược và các căn cứ kho tàng trong phạm vi chiến đấu.


Theo kế hoạch, Trung đoàn Ba Gia và các đơn vị trực thuộc của Sư đoàn kiên quyết chặn đánh không cho địch nối liền Bản Đông với Sê Pôn, Thà Khống, kiên quyết tiêu diệt địch ngay nếu chúng đổ quân xuống thị xã Sê Pôn; Trung đoàn 141 khẩn trương đánh tan quân ngụy Lào từ Phu Đơ Tuyn đến Pha Lan, Mường Noòng, trước khi quân ngụy Sài Gòn đánh Đường 9. Tiếp theo, Trung đoàn 141 có nhiệm vụ đánh quân Sài Gòn trong khu vực Sa Đi - Tam Luông - Mường Noòng. Quyết tâm chiến đấu của Sư đoàn được Thường vụ Đảng ủy và Mặt trận thông qua và nhanh chóng triển khai trước khi quân địch vượt qua biên giới sang Lào. Sư đoàn bộ binh 2 là sư đoàn có kinh nghiệm thành công trong việc chủ động tiến công đập tan các cuộc hành quân của địch. Trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Sư đoàn đã kịp thời phát hiện chiến thuật chủ yếu của địch, tìm ra cách đánh hiệu quả.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #102 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2025, 07:53:26 pm »

Mở cuộc hành quân ra Đường 9 - Nam Lào, về lý thuyết, các đơn vị quân đội Sài Gòn nắm thế chủ động trong việc lựa chọn phương hướng, thời gian tiến công cũng như tổ chức lực lượng. Vì vậy, vấn đề quan trọng nhất đặt ra cho cán bộ, chiến sĩ sư đoàn là bằng cách nào để giữ cho được quyền chủ động chiến dịch và biết giữ vững quyền chủ động đó trong suốt quá trình chiến dịch, xây dựng kế hoạch tác chiến phù hợp. Trên thực tế, trong quá trình tham gia Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Sư đoàn bộ binh 2 luôn giữ được quyền chủ động và có kế hoạch tác chiến sáng tạo, phán đoán được các tình huống cơ bản của địch, xử lý linh hoạt, phù hợp với các tình huống, tiến hành nhiều trận đánh đạt hiệu quả cao mà tiêu biểu là các trận đánh tiêu diệt Trung đoàn 1/11 quân đội Sài Gòn ở Phu Rệp và diệt Trung đoàn 2/11 ở điểm cao 660. Những kết quả của Sư đoàn đã góp phần làm cho Thê đội 2 chiến dịch của địch không phát huy được tác dụng, bắt buộc địch phải dừng cuộc tiến công, chuyển dần vào phòng ngự ở Bản Đông và chuẩn bị rút chạy.


Cuộc hành quân "Lam Sơn 719", một cuộc hành quân có tầm quan trọng của một trận quyết chiến chiến lược của địch, đã thất bại hoàn toàn.

Bằng thắng lợi ở các điểm cao 723, 660, tiêu diệt Trung đoàn 1, đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 2, cũng tức là đã đánh quỵ Sư đoàn 1 quân Sài Gòn, Sư đoàn 2 đã góp phần tích cực vào chiến thắng vang dội của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào.

Đánh giá hoạt động của Sư đoàn trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch đã kết luận:

"Nhận trọng trách ở hướng Tây và Tây Nam của Mặt trận, Sư đoàn 2 hợp đồng với các đơn vị bạn đã hoàn thành xuất sắc cả hai nhiệm vụ: bảo vệ Đường Hồ Chí Minh ở khu vực Sê Pôn; tiêu diệt được nhiều sinh lực, phá được nhiều phương tiện chiến tranh của địch, nêu cao được truyền thống của Quân khu 5. Các đồng chí đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, cơ động nhanh chóng, đoàn kết hiệp đồng tốt với các đơn vị bạn. Tích cực chủ động, mưu trí, anh dũng lập công. Đặc biệt là tác chiến kết hợp với binh vận, đánh thắng hai trận lớn, tiêu diệt Trung đoàn 1 và đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 2 của Sư đoàn 1 ngụy trên khu vực điểm cao 723, 660, bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí, làm chủ chiến trường. Chiến công của các đồng chí đánh dấu một bước tiến bộ mới rất quan trọng của Sư đoàn và góp phần xứng đáng vào thắng lợi rất to lớn của Chiến dịch lịch sử Đường 9 mùa Xuân năm 1971"1 (Trích nhận xét của Đảng ùy và Bộ Tư lệnh chiến dịch).


Hoà chung tiếng súng chiến đấu của chiến dịch đánh địch ở Đường 9 - Nam Lào, trên chiến trường Khu 5, quân dân quân khu đã tiến công đồng loạt hầu hết vào các thành phố, thị xã, căn cứ quân sự, các chi khu quận lỵ, thị trấn trên khắp các tỉnh ven biển của Khu 5, ngăn chặn từng bước mọi thủ đoạn đánh phá của kẻ thù. Tháng 3 và 4 năm 1971, khi quân địch đang sa lầy và rút chạy hỗn loạn ở Đường 9 - Nam Lào, trên chiến trường Khu 5, ta đã tiến công Tiểu đoàn 1/45 (thiếu) Lữ đoàn 196 Sư đoàn Amêricơn của Mỹ ở căn cứ Xã Đốc (Trà Mi - Quảng Nam, 27-3-1971), loại khỏi vòng chiến đấu nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn này của quân Mỹ. Với trận đánh Núi Thành (26-5-1965) tiêu diệt đại đội Mỹ đầu tiên và trận Xã Đốc - diệt tiểu đoàn Mỹ cuối cùng, quân và dân Khu 5 đã vinh dự mở đầu và kết thúc nhiệm vụ đánh tiêu diệt từng đơn vị quân chiến đấu Mỹ, ghi các mốc son trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Cùng với đòn tiến công của chủ lực, chiến tranh du kích cũng được phát triển mạnh ở thành phố, thị xã và vùng ven, nhất là thành phố Đà Nẵng, ở nội thành Đà Nang, ta đã tiến công địch trên một số đường phố. Ở nông thôn và vùng ven, các hoạt động tập kích, phục kích của quân và dân các địa phương ngày càng phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng. Nhiều đội du kích đã diệt gọn từng trung đội địch. Các hình thức đánh địch bằng vũ khí thô sơ và vũ khí tự tạo ngày càng phát triển. Có những bãi mìn liên hoàn của du kích Quảng Nam, Quảng Ngãi đã diệt một lúc hàng chục lính Mỹ, lính Sài Gòn, phá hủy nhiều xe cơ giới, bọc thép, xe tăng của địch. Phối hợp chặt chẽ ba mũi giáp công, quân và dân Khu 5 đã liên tục tiến công và nổi dậy giành nhiều thắng lợi trong việc chống phá kế hoạch "bình định" của địch, nhất là những vùng mà Mỹ cho là trọng điểm bình định trên địa bàn Khu 5. Hàng loạt các cứ điểm bị quân và dân các tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên đã bao vây bức hàng, bức rút. "Bình định nông thôn" - biện pháp chiến lược chủ yếu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong "Việt Nam hóa chiến tranh" đã bị đẩy lùi từng bước.


Giữ vững thế chủ động liên tục tiến công trên khắp các chiến trường, quân dân Tây Nguyên liên tục đánh địch giành nhiều thắng lợi. Cuối tháng 1 năm 1971, trong lúc các đơn vị chủ lực của ta ở Mặt trận Tây Nguyên triển khai kế hoạch chiến dịch tiến công, cũng là lúc Quân đoàn 2 quân đội Sài Gòn cũng đang đánh chiếm bàn đạp, chuẩn bị tiến công qua vùng Ba biên giới. Trước tình hình đó, từ chuẩn bị mở chiến dịch tiến công, ta nhanh chóng chuyển sang mở chiến dịch phản công. Khi lực lượng ta cơ động đến khu vực chiến đấu thì quân địch đã chiếm được các tuyến bàn đạp. Bộ Tư lệnh Mặt trận quyết định hình thành thế bao vây tiêu diệt địch. Sau 2 ngày tiến công liên tục (ngày 27 và 28-2), ta đã tiêu diệt Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 42. Ngày 4 tháng 3 quân ta tiếp tục tiến công, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 42 và Tiểu đoàn 22 quân biệt động. Cuộc tiến công ra vùng Ba biên giới của Quân đoàn 2 đã bị đập tan ngay từ khi mới triển khai lực lượng. Tiếp đó, từ phản công, quân ta chuyển sang tiến công vào tuyến phòng ngự cơ bản của địch, đánh chiếm Ngọc Ring Rua, một điểm cao không chế có giá trị chiến thuật quan trọng trong tuyến phòng ngự Plei Cần - Đăk Mot - Đăk Tô. Mắt xích quan trọng nhất của tuyến phòng ngự hướng tây nam Tân cảnh bị phá vỡ. Đập tan cuộc hành quân ra vùng Ba biên giới, tiếp tục giành thắng lợi khi tiến công vào tuyến phòng ngự cơ bản của địch, chủ lực Tây Nguyên đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt lớn sinh lực địch, phối hợp chiến trường, tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân các địa phương đẩy mạnh hoạt động diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ, làm thất bại kế hoạch "bình định nông thôn" của địch. Nhân dân hai tỉnh Gia Lai, Đăk Lăk nổi dậy phá banh hàng loạt ấp chiến lược trong khu vực trọng điểm "bình định". Hệ thống kìm kẹp của địch trong khu vực ngã ba đường 7, đường 14 bị phá vỡ một mảng lớn. Vùng làm chủ của ta mở rộng và từng bước tạo được thế liên hoàn. Bộ đội địa phương và du kích luồn sâu tập kích vào hàng chục mục tiêu quân sự địch, của các tuyến phòng thủ vòng trong. Sau 3 tháng hoạt động, ta đã giành lại quyền làm chủ với mức độ khác nhau ở 25 làng với trên 20 ngàn dân, làm thất bại một bước quan trọng chương trình "bình định nông thôn" của địch trên địa bàn Tây Nguyên.


Thắng lợi to lớn của quân và dân Khu 5, Tây Nguyên đã chứng tỏ sự tiến bộ đồng đều của ba thứ quân về chính trị, tư tưởng và trình độ chiến thuật, kỹ thuật.

Thắng lợi của quân và dân Khu 5, Tây Nguyên trong mùa Xuân 1971 đã góp phần quan trọng đánh bại bước đầu chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ. Phối hợp với Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, quân và dân Khu 5 đã đẩy mạnh, tiến công địch cả về quân sự, chính trị, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch và phương tiện chiến tranh, phá rã nhiều khu dồn dân, mở rộng vùng giải phóng. Cùng với Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, thắng lợi của quân và dân Khu 5 trong năm 1971 đã tạo được cơ sở vững chắc, chuẩn bị cho những năm sau giành thắng lợi to lớn hơn nữa, cùng quân dân cả nước hoàn thành công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam, thong nhất Tổ quốc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #103 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2025, 07:56:19 pm »

SƯ ĐOÀN 308 TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971

Đại tá NGUYỄN BÁ THÔNG
Phó Chính ủy Sư đoàn 308 - Quân đoàn 1


Sư đoàn 308 là một trong những sư đoàn chủ lực của Bộ tham gia chiến đấu ngay từ đầu trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng quan trọng này, thay mặt toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, tôi xin được nêu rõ hơn về quá trình hoạt động của Sư đoàn 308 trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 - một chiến dịch quan trọng, góp phần đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ.


Theo trục thời gian của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngày 22 tháng 7 năm 1968, sau khi Sư đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở Đường 9 - Khe Sanh được lệnh rút quân ra miền Bắc để tiến hành bổ sung quân số, tổ chức huấn luyện và làm công tác dân vận (tại Hải Dương và Hà Tây). 12 giờ ngày 1 tháng 2 năm 1971, tại thành phố Vinh (Nghệ An), Sư đoàn 308 được Bộ Tư lệnh Binh đoàn B70 giao nhiệm vụ hành quân cấp tốc vào chiến trường, thực hiện đánh địch trên hướng chủ yếu (bắc Đường 9), phối hợp chặt chẽ cùng toàn mặt trận đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ và quân đội Sài Gòn.


Thực thi mệnh lệnh, toàn đội hình Sư đoàn, do Tư lệnh Nguyễn Hữu An và Chính ủy Nguyễn Hùng Phong chỉ huy, lập tức hành quân bằng phương tiện cơ giới của Đoàn 559 tiến thẳng rà mặt trận với khẩu hiệu:

   "Đang tiến gặp địch phải đánh,
   Đến nơi địch ra phải đánh
   Đảm bảo trận đầu phải thắng
   Quyết giành thắng lợi hoàn toàn"



Chỉ sau 8 đến 10 ngày vừa hành quân cơ giới vừa đi bộ, đội hình cơ bản của Sư đoàn đã có mặt tại khu vực tác chiến thoo kế hoạch. Trung đoàn 88 là đơn vị đầu tiên của Sư đoàn xuất phát từ Lệ Thủy (Quảng Bình) vào tới vị trí tập kết ở A Lia, động Tà Púc ngày 8 tháng 2 năm 1971. Tiếp đến là Trung đoàn 102 và khối cơ quan Sư đoàn, các đơn vị trực thuộc hành quân từ Nghệ An, ngày 10 tháng 2 vào tới Mường Chương, Làng Ho, Tà Dịt.


Bộ Tư lệnh Mặt trận để lại Trung đoàn 36 làm nhiệm vụ phòng thủ ở khu vực núi Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh), nhưng sau đó ít ngày cũng được lệnh cơ động vào Đường 9, dừng chân ở khu vực Mường Chương - Sa Lít.

Tại khu vực đường 16, sáng ngày 9 tháng 2 năm 1971, Trung đoàn 88 dẫn đầu đội hình Sư đoàn, vừa hành quân tới A Lia, gặp ngay lúc địch đổ quân xuống điểm cao 316, sát trận địa pháo của quân ta ở Làng Sen. Đại đội 10, Tiểu đoàn 6 lập tức vận động tiến công, đánh thiệt hại nặng Đại đội 2 Tiểu đoàn biệt động quân 21, diệt 80 tên địch, bảo vệ an toàn trận địa pháo này.


Vào lúc 2 giờ sáng ngày 11 tháng 2, Trung đoàn 88 tiến công Tiểu đoàn biệt động quân 37 ở đông nam Tà Púc, diệt 62 tên, thu 7 súng và 2 máy thông tin PRC25. Cùng ngày 11 tháng 2, Đại đội cối 82mm thuộc Tiểu đoàn 14 của Sư đoàn phối hợp cùng Đại đội 15 súng ĐKZ75mm (Trung đoàn 88) tập kích căn cứ hoả lực và sở chỉ huy Liên đoàn biệt động quân Tà Púc phá hủy pháo 105mm, 1 pháo 155mm, diệt một số tên và làm hỏng nặng khu trung tâm thông tin của sở chỉ huy liên đoàn địch. Quân ta vừa đánh, vừa điều chỉnh bố trí lại lực lượng, gấp rút triển khai thế trận phản công địch.


Thực hiện quyết tâm của Mặt trận, từ ngày 15 tháng 2, các lực lượng ta bắt đầu phản công tiêu diệt địch trên cả 3 hướng, tập trung vào hướng chủ yếu (bắc Đường 9).

Điểm cao 500, do Tiểu đoàn số 39 Liên đoàn 1 biệt động quân Sài Gòn chiếm giữ, được chọn là mục tiêu đánh "mở cửa". Đây là vị trí tiền tiêu quan trọng nằm sát trục đường 16B, nối đường 16A với Bản Đông, cách Bản Đông về phía nam 14km. Địch ở đây có thể không chế được Đường 16A, khu kho hậu cần của ta ở Mường Chương, ngã ba Cha Ky, ngăn chặn quân ta triển khai binh khí kỹ thuật nặng xuống phía Nam và tiếp tế cho bộ đội tuyến trước. Tiểu đoàn 39 biệt động quân của địch là tiểu đoàn ác ôn khét tiếng "Vừa giỏi phòng ngự, vừa giỏi tiến công, quen đánh rừng núi", biên chế gần 500 quân, có hoả lực khá mạnh (2 ĐKZ 106,7mm, 2 ĐKZ 75mm, 4 cối 81mm, 9 đại liên), lại được hoả lực pháo binh từ các căn cứ động Tà Púc điểm cao 543, Bản Đông, Lao Bảo và không quân Mỹ sẵn sàng chi viện. Bộ chỉ huy quân đội Sài Gòn hy vọng điểm cao 500 sẽ là một "cánh cửa thép" ngăn chặn quân ta trên hướng bắc.


Xác định đây là trận đánh có ý nghĩa quan trọng, tác động lớn đến quá trình phát triển toàn bộ chiến dịch, nên để đảm bảo chắc thắng, Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định dùng chiến thuật vây lấn, tiến tới tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch trên điểm cao này. Lực lượng sử dụng cho trận đánh gồm Trung đoàn 102 (thiếu Tiểu đoàn 8 ), được tăng cường Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 88 và 5 đại đội pháo của mặt trận.


Theo kế hoạch đã được phê chuẩn, đêm 15 rạng 16 tháng 2, Trung đoàn 102, do Trung đoàn trưởng Hoàng Ngọc Tý và Chính ủy Nguyễn Hữu Ích chỉ huy cùng các lực lượng tăng cường tiến vào xây dựng trận địa vây lấn quân địch ở điểm cao 500. Tiếp sau đó, liên tục trong 2 ngày 16 và 17 tháng 2, từ các trận địa vây lấn, quân ta vừa dùng hỏa lực bắn phá, vừa dùng bộ binh áp sát trận địa địch, đào công sự chiến đấu. Mặc dù phi pháo địch oanh kích dữ dội, vòng vây của quân ta ngày càng thắt chặt. Mạng lưới phòng không của Sư đoàn và mặt trận khống chế chặt chẽ bầu trời khu vực điểm cao 500, máy bay lên thẳng của địch hoàn toàn không hạ cánh được. Tiểu đoàn biệt động quân 39 bị cô lập hoàn toàn.


Để phát triển thế trận, ngày 17 tháng 2, Sư đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 88 từ chiến hào vây lấn đánh chiếm mỏm số 2 dãy điểm cao 500. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 do dự. Bộ Tư lệnh Sư đoàn lập tức cách chức và giao quyền chỉ huy Tiểu đoàn cho Tiểu đoàn phó Nguyễn Hữu Sự. 23 giờ ngày 18 tháng 2, Tiểu đoàn 6 nổ súng tiến công đánh chiếm mỏm số 2.


Theo kế hoạch, Trung đoàn 88 điều Đại đội 3, Tiểu đoàn 4 và một khẩu đội 12,7mm lên thay Tiểu đoàn 6 chốt giữ mỏm 2. Vào lúc 6 giờ ngày 19 tháng 2, địch bất ngờ ném bom vào chốt của ta rồi phản kích chiếm lại trận địa.

Không để mất bàn đạp vừa giành được, 7 giờ cùng ngày, Đại đội 11 Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 102 được lệnh theo đường hào vây lấn của Tiểu đoàn 6 tiến lên chiếm lại mỏm 2. Sau 30 phút chiến đấu, Đại đội 11 đánh bật quân địch, khôi phục lại trận địa, diệt tại trận 16 tên.


Tình hình phát triển thuận lợi, 20 giờ ngày 19 tháng 2, Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định dùng Tiểu đoàn 7, có pháo binh hiệp đồng đánh vào các vị trí còn lại của địch trên điểm cao 500. Sau 2 giờ chiến đấu, hai tiểu đoàn 7 và 9 tiêu diệt phần lớn lực lượng của Tiểu đoàn biệt động quân 39, lam chủ hoàn toàn mỏm số 3. Địch co cụm lại cố thủ ở mỏm số 4 và 5.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #104 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2025, 07:58:41 pm »

Với phương châm đánh chắc, thắng chắc, Sư đoàn lệnh cho các đơn vị tạm dừng, giữ vững trận địa đã giành được, củng cố lực lượng để đánh dứt điểm vào ngày hôm sau. 16 giờ 30 phút ngày 20 tháng 2, ta hoàn toàn làm chủ điểm cao 500. Sau 6 ngày đêm vây lấn, Sư đoàn giành thắng lợi vang dội, diệt gọn Tiểu đoàn 39 biệt động quân, bắn rơi 6 máy bay, thu toàn bộ súng, đạn của chúng, mở tung cánh cửa phía bắc của chiến dịch.


Ngày 21 tháng 2, Bộ Tư lệnh điều Trung đoàn 102 vào bao vây Tiểu đoàn 21 biệt động quân ở điểm cao 316, thay cho Trung đoàn 88 chuyển sang bao vây Tiểu đoàn 2 dù ở điểm cao 655 (A Dinh). Sư đoàn chủ trương tiếp tục chiến thuật vây lấn tiêu diệt quân địch ở các điểm cao 316 và 655. Trước sự uy hiếp của quân ta, ngày 24 tháng 2, địch dùng máy bay lên thẳng bốc Tiểu đoàn 21 rút khỏi điểm cao 316, chuyển tiếp qua A Dinh, rồi sau đó về điểm cao 979 (Tà Púc). Tới đây, tuyến phòng thủ ngoài cùng của địch đã bị quân ta đập vỡ.


Được lệnh của Bộ Tư lệnh Mặt trận, Sư đoàn sử dụng Trung đoàn 88 bao vây tiêu diệt Tiểu đoàn 2 dù ở điểm cao 655; đồng thời đưa Trung đoàn 102 ra phối hợp cùng Trung đoàn 24, Sư đoàn 304 chia cắt Đường 9 (đoạn Lao Bảo đến Bản Đông). Cùng lúc đó, Trung đoàn 36, cũng được lệnh từ Mường Chương tiến xuống phía đông đường 16B, tiến công tiêu diệt Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn 8 dù của địch. Dưới quyền chỉ huy của Trung đoàn trưởng Chử Văn Trác và Chính ủy Nguyễn Quang Việt, trong 5 ngày đêm chiến đấu liên tục (27-2 - 3-3), Trung đoàn 36 được tăng cường Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 64 và một đại đội xe tăng có pháo binh mặt trận chi viện, vận động tiến công vào đội hình quân địch trên một khu vực dài 5km từ đồi Không tên, chân điểm cao 543 đến đồi Mâm Xôi nằm sát đường 16B. Phát huy truyền thống của một đơn vị đánh vận động giỏi, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 36 vừa tìm địch vừa đánh, cùng các đơn vị bạn tiêu diệt hoàn toàn Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn 7 dù, phá hủy 30 xe tăng M41, 51 xe M113, bắn rơi 3 máy bay F4H, 4 máy bay trực thăng vũ trang, diệt và bắt hơn 500 tên địch, thu nhiều vũ khí, phương tiện quân sự của địch, trong đó có 1 xe M41, 3 xe MI 13 còn nguyên vẹn.


Trong trận chiến đấu này đã xuất hiện nhiều tấm gương anh dũng. Đại đội trương Phạm Tuấn Bá linh hoạt, quyết đoán, chỉ huy Đại đội 2 bắn cháy, phá hủy 8 xe tăng, phá vỡ vành đai bên ngoài của địch, mở đường cho đơn vị tiến công. Đại đội trưởng Nguyễn Văn Toán dũng cảm thọc sâu phá hủy 7 xe tăng địch. Chiến sĩ nuôi quân Nguyễn Xuân Hoan tự chích máu viết đơn xin chuyển sang đơn vị chiến đấu và anh dũng hy sinh trong trận đánh, v.v.


Cũng thời gian trên, tại khu vực điểm cao 655, Trung đoàn 88 vây lấn, tích cực chuẩn bị tiêu diệt Tiểu đoàn 2 dù. Trước tình hình Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn dù 8 bị tiêu diệt, Tiểu đoàn 2 bí mật luồn rừng chạy về Đường 9, bỏ lại ở điểm cao 655 toàn bộ xe ủi, pháo 105mm và các trang bị nặng khác. Do không nắm được tình hình địch, Trung đoàn bỏ lỡ cơ hội tiêu diệt địch.


Tuy Tiểu đoàn 2 dù chưa bị tiêu diệt nhưng cánh quân bảo vệ sườn bắc của địch đã hoàn toàn bị đập nát. Quân ta từ phía bắc trực tiếp uy hiếp cánh quân chủ yếu của địch trên Đường 9 và Bản Đông.

Từ ngày 3 đến ngày 8 tháng 3, Sư đoàn đã đưa hầu hết lực lượng áp sát Đường 9. Trung đoàn 102 chỉ để lại Tiểu đoàn 7 ở khu vực điểm cao 500 làm lực lượng dự bị cơ động bảo vệ phía sau.

Tiểu đoàn 9 ra giữ khu vực các điểm cao 400B và 334, khống chế đoạn Đường 9 giáp với Lao Bảo. Tiểu đoàn 8 ra điểm cao 311, cùng với Trung đoàn 24 ở điểm cao 351, khống chế đoạn Đường 9 từ Lao Bảo đến Bản Đông. Trung đoàn 88 tiếp tục truy lùng Tiểu đoàn dù 2 của địch. Trung đoàn 36 được lệnh quay trở lại đội hình Sư đoàn 308 tiến xuống bao vây, sẵn sàng cùng các đơn vị bạn tiến công tiêu diệt quân địch ở Bản Đông.


Từ ngày 14 đến ngày 17 tháng 3, cuộc chiến đấu giành quyền kiểm soát Đường 9 giữa ta và địch diễn ra vô cùng quyết liệt.

Sau hơn 10 ngày truy lùng địch, Trung đoàn 88 bám sát bao vây và tiêu diệt gọn Tiểu đoàn dù 2 ở khu vực đồi Gùi, Thống Nhất (Bản Búc - Làng Con) xoá sổ hoàn toàn Lữ đoàn 3 dù. Trung đoàn 102 ra cắt Đường 9. Tiểu đoàn 8 liên tục chiến đấu dưới hoả lực ác liệt của phi pháo địch, đánh lui hơn 20 trận phản kích của Lữ đoàn dù 2, giữ vững điểm cao 311, tiêu diệt gần 450 tên địch, bắn cháy 65 xe tăng, thiết giáp, bắn rơi 3 máy bay. Tiểu đoàn 9 ở điểm cao 334 phá hủy 3 xe tăng và diệt 74 tên địch.


Từ trung tuần tháng 3, trận địa chốt của Trung đoàn 102 ở các điểm cao 311 và 334, cùng trận địa của Trung đoàn 24 ở điểm cao 351 chặn đứng mọi hoạt động của địch trên Đường 9. Trung đoàn 102 và công binh Sư đoàn, đào gần 200 mét đường ở khu vực điểm cao 311 sát sông Sê Pôn, cắt đứt giao thông cơ giới của địch.


Phán đoán khả năng quân địch sẽ rút chạy, Bộ chỉ huy Mặt trận lệnh cho Sự đoàn 308 và Sư đoàn 304 đưa lực lượng luồn sâu xuống phía nam Đường 9, kiên quyết ngăn chặn và tiêu diệt địch, không cho địch chạy thoát cả người lẫn phương tiện. Sư đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 102, tiến gấp xuống Phương Mọi (nam Đường 9). Kế hoạch của ta đang được triển khai, thì ngày 18 tháng 3, đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt, địch bỏ Bản Đông tháo chạy. Cùng lúc đó, cánh quân phía Nam của địch bị quân ta tiến công tiêu diệt một bộ phận lớn. Số còn lại rút chạy hỗn loạn.


Trên toàn Mặt trận, quân ta thừa thắng chuyển sang truy kích. Các đơn vị của Sư đoàn 308 cùng các đơn vị bạn tràn lên đánh vào đội hình địch, tiếp đó truy kích dịch, diệt 1.726 tên, bắt 100 tên, thu và phá hủy 113 xe tăng, xe bọc thép, 24 khẩu pháo, 50 máy bay các loại, ở phía đông, các lực lượng đặc công tập kích cụm cơ giới Mỹ ở Bông Kho, đánh tàu ở cảng Cửa Việt, tập kích dịch ở Tà Cơn, diệt nhiều giặc lái và nhân viên kỹ thuật, phá hủy 42 máy bay lên thẳng, 6 xe tăng... Đáng tiếc là do nắm tình hình không đầy đủ, bao vây không chặt, quân ta không đón lõng chặn địch ở nam Đường 9, nên để một bộ phận lớn quân địch vứt bỏ xe, pháo, luồn rừng, vượt sông Sê Pôn, từ Huội San thoát chạy về phía Lao Bảo và Khe Sanh.


Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc. Sau hơn 50 ngày đêm liên tục chiến đấu, quân ta thu được thắng lợi to lớn, đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, bảo vệ tuyến vận chuyển chiến lược. Riêng Sư đoàn 308 loại khỏi chiến đấu 4.023 tên địch, băt 127 tên, diệt gọn Thiết đoàn 17 và 4 tiểu đoàn (Tiểu đoàn 39 biệt động quân, Tiểu đoàn 2 và 8 dù, Tiểu đoàn 44 pháo), đánh thiệt hại nặng, Liên đoàn 1 biệt động quân và Tiểu đoàn dù 1, phá hủy 337 xe các loại (có 205 xe tăng, xe bọc thép), 45 khẩu pháo cối cỡ lớn, thu gần 500 súng các loại (có 18 pháo cỡ lớn) cùng hàng chục tấn vũ khí, đạn dược, trang bị kỹ thuật.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #105 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2025, 08:01:26 pm »

Với những chiến công và thành tích đã đạt được trong chiến dịch, Sư đoàn 308 và Trung đoàn 36 đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Hai. Trung đoàn 102 và 8 đơn vị khác được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba; 74 đơn vị từ trung đội đến tiểu đoàn và 611 cán bộ, chiến sĩ được tặng thưởng Huân chương Chiến công các loại. Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 36) và Đại đội 7 (Trung đoàn 102) lập công xuất sắc trong trận diệt Thiết đoàn 17 và chốt giữ điểm cao 311 đã được tuyên dương danh hiệu "Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân". Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cũng được phong cho Bác sĩ Nguyễn Ngọc Đắc, Tiểu đoàn quân y 24 và chiến sĩ Phạm Văn Đỡ thuộc Đại đội 11 Trung đoàn 88.


Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào năm 1971 là một trong những thắng lợi lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta. Bộ đội chủ lực ta đã thực hiện đánh tiêu diệt lớn, tiêu diệt gọn nhiều đơn vị tinh nhuệ thuộc lực lượng dự bị chiến lược của quân đội Sài Gòn có sự chi viện tối đa của hoả lực và cố vấn quân sự Mỹ. Đây là thắng lợi quan trọng trên hướng chiến lược chủ yếu, phối hợp cùng các chiến dịch khác trong Xuân - Hè 1971, góp phần làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta, làm chuyển biến cục diện chiến trường.


Chiến công của Sư đoàn 308 trong chiến dịch là thành quả của quá trình huấn luyện, chiến đấu gian khổ, sáng tạo. Qua chiến dịch, Sư đoàn đã trưởng thành thêm một bước quan trọng và rút ra nhiều bài học bổ ích về cách tổ chức chốt giữ các mục tiêu chiến dịch, chiến thuật trong phòng ngự, cũng như trong tiến công, làm phong phú thêm truyền thống chiến đấu và chiến thắng của Sư đoàn. Đó là những bài học:

1. Phải có công tác giáo dục chính trị, xây dựng ý chí quyết tâm cho bộ đội một cách kịp thời trước mỗi trận chiến đấu. Phải tổ chức kiện toàn biên chế, tổ chức. Nắm chắc chất lượng đội ngũ cán bộ vì cán bộ có tốt thì đơn vị mới tốt, mới hoàn thành được các nhiệm vụ được giao, tổ chức kết nạp Đảng cho những đồng chí có thành tích trong quá trình công tác, huấn luyện và chiến đấu, đưa tính Đảng vào trước mỗi trận đánh, kịp thời động viên khích lệ tinh thần bộ đội. Phải nắm bắt tư tưởng, kịp thời động viên bộ đội, có biểu dương khen thưởng kịp thời trong và sau mỗi trận chiến đấu.

2. Phải tổ chức rèn luyện bộ đội có sức khoẻ bền bỉ, dẻo dai, chịu đựng gian khổ, sẵn sàng chiến đấu cao, hành quân xa, mang vác nặng trong điều kiện địa hình phức tạp, khó khăn, đói khát nhưng khi gặp địch vẫn có thể chiến đấu được ngay và giành thắng lợi.

3. Công tác tổ chức phải chu đáo, nắm chắc được địa hình, làm tốt công tác chuẩn bị và xây dựng ý chí quyết tâm cao, biết vận dụng cách đánh vào từng địa hình để giành thắng lợi.

4. Tổ chức huấn luyện từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Bổ sung quân đến đâu thì đều phải huấn luyện thêm cho cán bộ, chiến sĩ thành thạo các động tác chiến đấu bộ đội phải được huấn luyện nhiều về kỹ thuật cá nhân luồn sâu, đánh gần, đánh trong điều kiện chuẩn bị gấp.

5. Đánh tập trung, đánh liên tục, đánh những đòn tiêu diệt lớn quân địch và phải phối hợp hiệp đồng giữa bộ binh và hoả lực một cách nhịp nhàng.

Trải qua hơn 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, hết đánh Pháp, đánh Mỹ đến chiến đấu bảo vệ Tố quốc, chống chiến tranh phá hoại, chống âm mưu "diễn biến hoà bình" của địch khi tác chiến ở chiến trường trọng điểm, khi làm nhiệm vụ chiến lược ở hậu phương, lớp lớp cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308 luôn quán triệt tốt quan điểm của Đảng, tư tưởng quân Sự Hồ Chí Minh, luôn luôn chăm lo xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị, coi đây là yếu tố quyết định mọi thắng lợi. Trong những năm sắp tới, Sư đoàn không ngừng hoàn chỉnh về tổ chức biên chế trang bị cho phù hợp với yêu cầu chiến đấu trong tình hình mới và khả năng kinh tế của đất nước, từ đơn thuần bộ binh đến một tổ chức sư đoàn gồm nhiều đơn vị binh chủng hợp thành, từ bộ binh đến bộ binh cơ giới cho phù hợp với tình hình và yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng.


Nhận rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ hết sức nặng nề đối với một sư đoàn chủ lực cơ động, toàn thể cán bộ, chiến sĩ đoàn Quân Tiên Phong luôn học tập các tấm gương dũng liệt của lớp lớp thế hệ đi trước về tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo đặc biệt trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971 trong xây dựng đơn vị và huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. Vận dụng linh hoạt lời dạy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp "Hễ đánh là thắng, hễ đánh là tiêu diệt sinh lực địch" vào thực hiện nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu ở đơn vị. Thường xuyên coi trọng rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật, huấn luyện cơ bản và ứng dụng, đổ mồ hôi trên thao trường để giành thắng lợi trên chiến trường, luyện quân để lập công, lập công để có thêm kinh nghiệm.


Là đơn vị được Bộ và Quân đoàn giao cho nhiệm vụ thường xuyên đón các đoàn khách trong nước và quốc tế, trong bất cứ tình huống nào, Sư đoàn luôn làm tốt công tác chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu cao, bảo đảm an toàn tuyệt đối không để xảy ra bất kỳ tình huống bất trắc nào. Luôn củng cố và xây dựng Sư đoàn là đơn vị có cảnh quan có môi trường "Sáng - Xanh - Sạch - Đẹp".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #106 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2025, 03:11:49 pm »

CHIẾN THẲNG LẠC SONG - TRẬN PHỤC KÍCH TIÊU BIỂU
TRÊN SÔNG ĐÀ TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Đại tá LÊ TRÙNG DƯƠNG
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp tập trang lớn lực lượng tiến công lên Hòa Bình nhằm mở rộng phạm vi chiếm đóng, lập phòng tuyến ngăn chặn đường liên lạc giữa Chiến khu Việt Bắc và Liên khu 3 của ta; đồng thời âm mưu lập "Xứ Mường tự trị" hòng làm thay đổi so sánh lực lượng, giành quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, Sau khi chiếm được các mục tiêu, địch tổ chức hệ thống phòng ngự quy mô lớn gồm 28 cứ điểm mạnh, hình thành 2 tuyến phòng ngự dọc theo Đường số 6 và sông Đà. Toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch được chia thành 2 phân khu: Phân khu Sông Đà - Ba Vì ở phía Bắc, gồm 5 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn dù, 1 trung đội xe tăng, 1 tiểu đoàn pháo binh; Phân khu Hòa Bình - Đường số 6 ở phía Nam, gồm 6 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội xe tăng. Ngoài ra, địch còn tổ chức lại Phân khu Chợ Bến, biến vị trí này trở thành 1 tiền đồn bảo vệ Hòa Bình ở phía Đông. Trước tình hình chiếm đóng của địch, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định mở chiến dịch Hòa Bình, nhằm mục đích tiến công tiêu diệt một bộ phận sinh lực, tiến tới phá tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của địch; đồng thời, mạnh bạo đưa một bộ phận chủ lực vào hoạtđộng trong vùng địch hậu, đẩy mạnh chiến tranh du kích, trọng tâm là vùng đồng bằng Bắc Bộ1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tất các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 365-366). Trên Mặt trận Hòa Bình Bộ Chỉ huy Chiến dịch sử dụng 3 đại đoàn bộ binh (308, 312, 304) và Đại đoàn công pháo 351; trong đó, Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 đánh địch trên hướng chủ yếu, có nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực và phá vỡ tuyến phòng ngự Sông Đà của địch; Đại đoàn 304 đánh địch trên hướng thứ yếu, làm nhiệm vụ kiềm chế hoạt động của địch ở thị xã Hòa Bình và đánh địch trên Đường số 6.


Thực hiện phương châm "đánh điểm, diệt viện", kết hợp chặt chẽ giữa đánh công kiên với đánh phục kích giao thông, tiêu diệt quân địch cả trên bộ và trên sông, trong đợt 1 (10 - 26.12.1951) trên hướng chủ yếu của chiến dịch, các đơn vị của Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 đã khắc phục mọi khó khăn ác liệt, kiên quyết tiến công, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá vỡ phòng tuyến Sông Đà của địch, tạo thế trận và thời cơ thuận lợi để chiến dịch phát triển. Trong quá trình đó, Trung đoàn 36 (thiếu 1 tiểu đoàn) thuộc Đại đoàn 308 là đơn vị được giao nhiệm vụ đánh viện binh địch phía tả ngạn sông Đà, tạo điều kiện để Trung đoàn 88 được tăng cường lực lượng và hỏa lực, thực hiện thắng lợi trận đánh mở màn, tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ (10.12.1951), một cứ điểm mạnh nhưng rất hiểm yếu trên tuyến phòng thủ Sông Đà.


Thực hiện nhiệm vụ được giao, Trung đoàn 36 (thiếu 1 tiểu đoàn) sử dụng Tiểu đoàn 84 và 1 đại đội pháo binh 75mm được tăng cường, xây dựng trận địa phục kích ở khu vực Đoan Hạ (phía Bắc Tu Vũ 15km); Tiểu đoàn 80 cùng các phân đội pháo binh, phòng không thuộc Tiểu đoàn 387 tăng cường cho Trung đoàn 36, xây dựng trận địa phục kích ở khu vực Lạc Song (phía Nam Tu Vũ 10km). Đêm mùng 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 88 và các lực lượng được tăng cường, nổ súng tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, mở đầu chiến dịch giành thắng lợi giòn giã. Cũng trong đêm 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 36 và các đơn vị được tăng cường, cơ động chiếm lĩnh trận địa phục kích ở cả 2 khu vực Nam và Bắc Tu Vũ, đảm bảo bí mật, sẵn sàng nổ súng đánh địch. Nắm chắc thời cơ đánh viện mở ra, từ ngày 11 đến ngày 14 tháng 12 năm 1951, các đơn vị thuộc Trung đoàn 36 bám sát chiến trường, đánh 3 trận phục kích địch vận chuyển trên sông Đà ở các khu vực Đoan Hạ, Lạc Song và Yên Mão. Tuy nhiên, do chưa có kinh nghiệm đánh địch trên sông, bố trí pháo binh ở vị trí tầm bắn bị hạn chế, khả năng quan sát chỉ bao quát được một phần ba sông phía bờ đối diện nên Trung đoàn đã để lọt đoàn tàu, canô địch chạy qua trận địa1 (Bộ Tư lệnh Quân đoàn I, Sư đoàn 308, Lịch sử Sư đoàn 308 - Quân Tiên phong (1949 - 2009), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009, tr. 100).


Quyết tâm cắt đứt triệt để mọi hoạt động giao thông, vận chuyển của địch trên sông Đà, được sự chỉ đạo của Bộ Chỉ huy Chiến dịch và chỉ huy Đại đoàn 308, Trung đoàn 36 tổ chức rút kinh nghiệm, điều chỉnh đội hình chiến đấu, quyết đánh một trận tiêu diệt gọn, tiến tới không cho một chiếc tàu chiến, canô nào của địch đi lại nữa2 (Đại đoàn Quân Tiên phong, Ký sự, Tập I, II, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1978, tr. 400). Theo đó, Trung đoàn 36 tổ chức lại khu vực trận địa phục kích dài 6km, đoạn từ Lạc Song đến Đồng Việt, cách thị xã Hòa Bình10km; bố trí lực lượng thành 3 tuyến liên hoàn, mỗi tuyến đều có đủ các bộ phận pháo binh, phòng không và bộ binh, riêng Đại đội 241 của Tiểu đoàn phòng không 387 được bố trí tập trung ở tuyến giữa để bảo vệ đội hình chiến đấu; đoạn sông này có nhiều khúc quanh co, phía bờ đối diện có nhiều núi cao, có thể quan sát địch trên sông Đà từ xa, nên Trung đoàn 36 bố trí thêm một đài quan sát ở vị trí thuận lợi bên kia sông, báo hiệu bằng làn khói khi tàu chiến, canô địch sắp tới, giúp cho bộ đội ta kịp thờicơ động vào trận địa phục kích. Sau khi hoàn chỉnh tổ chức lại trận địa phục kích, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 36 kiên trì mai phục, giữ bí mặt trận địa, kiên quyết đánh một trận tiêu diệt gọn quân địch trên sông Đà.


Đúng như nhận định của ta, sáng 22 tháng 12 năm 1951, một đoàn gồm 5 chiếc canô, 1 tàu chiến (loại LCT) thuộc Thủy đội xung kích số 2 của địch, xuất phát từ bến Ngọc (Hòa Bình) theo dòng sông Đà cơ động về Trung Hà. Bám sát diễn biến và nắm chắc tình hình địch, các bộ phận phục kích của Trung đoàn 36 được ngụy trang kín đáo, theo đường xuất kích dưới tán rừng, bí mật vận động, chiếm lĩnh các vị trí chiến đấu bên tả ngạn sông Đà. Đến 11 giờ ngày 22 tháng 12 năm 1951, đoàn tàu địch gồm 5 canô chạy trước, mỗi chiếc cách nhau khoảng hơn 100m, chiếc tàu chiến LCT chạy sau cùng, lọt vào trận địa phục kích. Ngay lập tức,4khẩu ĐKZ và đại liên ở tuyến đầu, bất ngờ nổ súng bắn mạnh vào chiếc tàu chiến LCT, khóa chặt đường rút của địch. Cùng lúc đó, ở tuyến giữa, Đại đội sơn pháo 75mm cùng bộ binh cũng đồng loạt nổ súng vào đội hình địch, tiêu diệt 4 chiếc canô. Quân địch chống trả quyết liệt và mở hết tốc độ, chạy thục mạng, hòng thoát khỏi trận địa phục kích nhưng khi chiếc tàu chiến LCT và 1 canô địch cố chạy đến tuyến phục kích thứ 3 của ta, bị 3 khẩu sơn pháo 75mm bắn tập trung 8 quả đạn, chiếc tàu chiến LCT bị tiêu diệt, chiếc canô bị hư hỏng dạt sang bờ đối diện. Lúc này, các đại đội bộ binh dùng hỏa lực tiêu diệt và bắt gần hết số binh lính địch bơi vào bờ. Trận đánh diễn ra trong vòng 20 phút, giành được thắng lợi giòn giã, ta diệt gọn Thủy đội xung kích số 2 và 2 đại đội yểm trợ của quân Pháp, bắn chìm 4 canô và 1 tàu chiến. Sau trận này, đường tiếp tế của địch trên sông Đã hoàn toàn bị tê liệt1 (Bộ Tổng Tham mưu, Ban Tổng kết - Biên soạn lịch sử, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991, tr. 536).


Ngay sau trận đánh địch trên sông Đà, các đại đội bộ binh và pháo binh nhanh chóng theo đường xuất kích rút vào rừng, Đại đội 241 của Tiểu đoàn phòng không 387 bố trí ở tuyến giữa rút sau cùng, sẵn sàng bắn máy bay địch, bảo vệ đội hình rút quân. Khi các đại đội bộ binh và pháo binh vừa rút khỏi, địch dùng pháo binh từ đồn Pheo bắn cấp tập hơn 200 quả đạn vào đúng những nơi bộ đội ta vừa rút quân; đồng thời không quân địch cho nhiều tốp máy bay nhào đến đánh phá, Đại đội phòng không 241 kiên cường đánh trả đến 5 giờ chiều ngày 22 tháng 12 năm 1951, bắn rơi 1 chiếc máy bay khu trạc và bắn bị thương 2 chiếc khác1 (Đại đoàn Quân Tiên phong, Ký sự, Tập I, II, Sđd, tr. 406), bảo vệ các đơn vị của Trung đoàn 36 và các đại đội pháo binh rút quân vào rừng an toàn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #107 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2025, 03:14:07 pm »

Có thể khẳng định, trận phục kích đánh địch cơ động trên sông Đà ngày 22 tháng 12 năm 1951 của Trung đoàn 36 và các đơn vị được tăng cường thực sự là một trận phục kích đường sông kiểu mẫu lúc bấy giờ. Trong trận đánh này, Trung đoàn 36 đã chấp hành nghiêm chỉ đạo của Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hòa Bình, tổ chức kiểm điểm, rút kinh nghiệm nghiêm túc, thẳng thắn chỉ rõ những nguyên nhân không thành công của các trận phục kích không hiệu quả trước đó. Do vậy, Trung đoàn 36 đã đánh giá chính xác điều kiện địa hình, nắm chắc quy luật hoạt động trên sông Đà của địch, lựa chọn khu vực phục kích, tổ chức sử dụng lực lượng phù hợp, bố trí đội hình chiến đấu có chiều sâu, theo dõi chặt chẽ tình hình địch, chóp thời cơ thực hiện trận đánh và có cách đánh kiên quyết, sáng tạo, đạt hiệu quả chiến đấu cao. Chiến thắng Lạc Song cùng với Chiến thắng Tu Vũ và các trận phục kích địch ở Ninh Mít, Đường số 87 đã phá vỡ phòng tuyến sông Đà của địch. Đặc biệt, với Chiến thắng Lạc Song, ta đã thực hiện thắng lợi mục tiêu cắt đứt giao thông vận chuyển, tiếp tế trên sông Đà của địch,"một trong hai cái ống thực quản nối đến dạ dày là thị xã Hòa Bình bị chặn đứng"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử chiến thuật Quân đội nhân dân Việt Nam (1945 - 1975), tập I, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 348), tạo thế trận có lợi thúc đẩy Chiến dịch Hòa Bình phát triển. Qua trận phục kích Lạc Song ngày 22 tháng 12 năm 1951 của Trung đoàn 36 và các đơn vị được tăng cường, có thể rút ra mấy kinh nghiệm trong chiến đấu phục kích đường sông.


Một là, lựa chọn khu vực trận địa phục kích đường sông: Để có được Chiến thắng Lạc Song (22.12.1951), Trung đoàn 36 đã kịp thời rút kinh nghiệm những thiếu sót về chọn trận địa phục kích ở Đoan Hạ (11.12.1951), Yên Mão (14.12.1951). Khu vực trận địa phục kích được chọn từ Lạc Song đến Đồng Việt dài 6km, nơi đây ta có điều kiện giấu quân trong những cánh rừng kín đáo, đoạn sông này có nhiều khúc quanh co, dòng chảy sát bờ tả ngạn, bên hữu ngạn nhiều chỗ bị sạt lở, vì vậy, tàu chiến, canô địch buộc phải đi gần bở phía tả ngạn hơn, ta có điều kiện phát huy hiệu quả các loại hỏa lực để tiêu diệt tàu địch. Thực tế đã chứng minh, sự lựa chọn trận địa phục kích của Trung đoàn 36 ở khu vực này là hoàn toàn chính xác, trận đánh diễn ra nhanh, gọn, đạt hiệu quả chiến đấu cao, giành thắng lợi giòn giã. Qua thắng lợi của trận phục kích Lạc Song, yêu cầu chung về lựa chọn trận địa phục kích đường sông được hình thành. Đó là phải chọn phục kích ở những nơi lòng sông hẹp, dòng sông có nhiều khúc quanh co, ta có điều kiện phát huy hỏa lực bắn thẳng, bắn gần để đạt hiệu quả sát thương cao. Trận địa phục kích phải đảm bảo giấu quân bí mật, tiện cơ động, thuận lợi cho bố trí đội hình chiến đấu và phát huy được hết khả năng, sức mạnh của các thành phần lực lượng, nhất là các loại hỏa lực, tạo bất ngờ và đẩy địch vào thế bất lợi. Những yêu cầu về lựa chọn trận địa phục kích rất quan trọng, trực tiếp tác động đến thắng lợi của hình thức chiến thuật phục kích đường sông của bộ đội ta.


Hai là, tổ chức sử dụng lực lượng, bố trí đội hình phục kích: Sau khi xác định khu vực trận địa phục kích, Trung đoàn 36 đã tổ chức sử dụng lực lượng, bố trí đội hình chiến đấu thành 3 tuyến có chiều sâu tới 6km, mỗi tuyến có 1 đại đội bộ binh và 1 đại đội hỏa lực (pháo binh, phòng không, ĐKZ), hình thành các bộ phận chặn đầu, khóa đuôi, bộ phận tiến công chủ yếu, bộ phận hỏa lực mặt đất, bộ phận hỏa lực phòng không, bộ phận dự bị. Ngoài ra, Trung đoàn 36 còn căn cứ thực tiễn địa hình, bố trí thêm 1 đài quan sát của pháo binh ở sườn một ngọn núi cao bên phía bờ sông đối diện để kịp thời phát hiện tàu địch sắp cơ động tới khu vực trận địa phục kích và trực tiếp báo hiệu bằng đám khói, giúp cho các bộ phận nhanh chóng vào vị trí sẵn sàng chiến đấu. Trận địa các khẩu đội pháo binh, ĐKZ, đại liên đều được bố trí ở những vị trí gần bờ sông, có xạ giới rộng, bao quát được toàn bộ những khúc quanh của dòng sông, do vậy, khi mục tiêu xuất hiện, các loại hỏa lực của ta đều phát huy hiệu quả sát thương để tiêu diệt địch. Riêng tuyến giữa, Trung đoàn 36 sử dụng thêm 1 đại đội phòng không của Tiểu đoàn 387, bố trí ở khu vực giữa trận địa để bảo vệ đội hình chiến đấu. Sau trận phục kích đánh địch trên sông, Đại đội phòng không 241 đã kiên cường đánh máy bay địch hiệu quả, bảo vệ đội hình bộ binh, pháo binh rút quân an toàn. Như vậy, với việc tổ chức sử dụng lực lượng, bố trí đội hình chiến đấu phù hợp, có nhiều sáng tạo, linh hoạt, Trung đoàn 36 đã nắm chắc mọi hoạt động của địch, chớp thời cơ nổ súng, đánh trúng mục tiêu chủ yếu, tiêu diệt gọn quân địch trong thời gian ngắn, bảo vệ đội hình rút quân an toàn sau trận đánh. Đây là một trong những nguyên nhân làm nên Chiến thắng Lạc Song trong Chiến dịch Hòa Bình.


Ba là, kiên trì mai phục, giữ bí mặt trận địa, hành động tiến công kiên quyết, táo bạo: Nguyên nhân không thành công của mấy trận phục kích ban đầu được Trung đoàn 36 chỉ ra là do "tư tưởng nóng vội, muốn "ăn ngay", chưa tổ chức trận địa chu đáo,...cảnh giới đặt quá gần. Công sự pháo làm nắp che kín. Xạ giới hẹp. Bắn xong một phát, khói tỏa mù mịt trong hầm, không tiếp lục nhìn rõ mục tiêu"1 (Đại đoàn Quân Tiên phong, Ký sự, Tập I, II, Sđd, tr. 400). Để khắc phục những khuyết điểm trên, Trung đoàn 36 đã kết hợp chặt chẽ các biện pháp trinh sát, nắm chắc địch, lợi dụng địa hình, lựa chọn đúng khu vực phục kích, tổ chức sử dụng lực lượng và bố trí lại đội hình chiến đấu cho phù hợp, nhất là vị trí bắn của các khẩu đội pháo binh, ĐKZ, đại liên, bảo đảm phát huy hết sức mạnh hỏa lực. Đồng thời, Trung đoàn tiến hành nhiều hình thức động viên bộ đội kiên trì mai phục, ngụy trang kín đáo, giữ bí mật mọi hành động, kiên quyết đánh một trận tiêu diệt gọn quân địch cơ động theo dòng sông Đà. Sau khi tổ chức lại trận địa phục kích, Trung đoàn 36 đã 4 lần phải thay lá ngụy trang, giữ bí mặt trận địa 6 ngày liền. Trước khi Thủy đội xung kích số 2 của quân Pháp rời bến Ngọc về Trung Hà, chúng cho 1 máy bay trinh sát bay dọc sông và thả nhiều bè nứa trôi sông, hòng nghi binh, đánh lừa bộ đội ta bộc lộ, nhưng nhờ có công tác tổ chức chuẩn bị chiến đấu tốt, toàn trận địa phục kích vẫn tuyệt đối giữ bí mật, khiến cho địch hoàn toàn bị bất ngờ. Chỉ đến khi toàn bộ đội hình đoàn tàu chiến, canô địch lọt hẳn vào khu vực trận địa phục kích, hỏa lực pháo binh, ĐKZ của ta mới bắt đầu phát hỏa mãnh liệt, chặn đầu, khóa đuôi, phát huy sức mạnh các loại hỏa lực, tiến công kiên quyết, tiêu diệt gọn quân địch. Có thể khẳng định, trong trận phục kích này, Trung đoàn 36 đã tận dụng triệt để yếu tố bí mật, bất ngờ, tiến công kiên quyết, táo bạo, đánh trúng mục tiêu chú yếu ngay từ đầu, đó là một trong những nhân tố quan trọng làm nên Chiến thắng Lạc Song ngày 22 tháng 12 năm 1951 của bộ đội ta.


Bốn là, đánh nhanh, kết thúc chiến đấu, rút quân nhanh: Trận phục kích Lạc Song của Trung đoàn 36 diễn ra vào buổi trưa, tàu chiến, canô địch có khả năng cơ động nhanh, hỏa lực tự bảo vệ mạnh, ngoài ra chúng còn được hỏa lực pháo binh từ các trận địaở núi Chẹ, đồn Pheo, hỏa lực không quân chi viện, phản ứng linh hoạt. Do vậy, nếu không đánh nhanh, kết thúc chiến đấu và rút quân nhanh, Trung đoàn 36 có thể bị tổn thất lớn. Để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao, Trung đoàn 36 đã quán triệt rõ mục tiêu, yêu cầu của trận đánh, tổ chức rút kinh nghiệm nghiêm túc và tiến hành công tác chuẩn bị chu đáo, xác định rõ mục tiêu bắn trên sông đối với hỏa lực pháo binh, ĐKZ, đại liên và các loại vũ khí bộ binh. Riêng hỏa lực phòng không vừa tham gia đánh địch trên sông, vừa thực hiện nhiệm vụ chủ yếu đánh máy bay địch. Do đó, các loại hỏa lực tham gia trận đánh đều phát huy hết uy lực, đánh trúng mục tiêu chủ yếu, trận đánh diễn ra trong vòng 20 phút đã tiêu diệt gọn Thủy đội xung kích số 2 và 2 đại đội yểm trợ của địch. Ngay sau trận đánh này, Trung đoàn 36 nhanh chóng tổ chức rút quân, trong đó, bộ binh và pháo binh rút trước, Đại đội phòng không 241 rút sau. Vừa bảo vệ đội hình rút quân, vừa đánh trả máy bay địch, Trung đoàn tránh được tổn thất do hỏa lực pháo binh, không quân địch gây ra. Qua trận đánh này, vấn đề đánh nhanh, kết thúc chiến đấu, rút quân nhanh trong chiến đấu phục kích càng được khẳng định và trở thành một kinh nghiệm quý của bộ đội ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Trận phục kích Lạc Song của Trung đoàn 36 và các lực lượng tăng cường diễn ra trong đợt tiến công mở đầu Chiến dịch Hòa Bình, giành được thắng lợi giòn giã. Trong bối cảnh lực lượng vũ trang nói chung, các đại đoàn bộ đội chủ lực và một số binh chủng của Quân đội ta nói riêng đều đang trong quá trình củng cố tổ chức, huấn luyện và bổ sung vũ khí, trang bị, kinh nghiệm chiến đấu chưa nhiều, do đó, Chiến thắng Lạc Song không những cổ vũ, khích lệ tinh thần quyết đánh, quyết thắng của bộ đội ta, giành nhiều thắng lợi lớn hơn trong Chiến dịch Hòa Bình mà còn đem lại nhiều kinh nghiệm quý về lựa chọn khu vực trận địa, tổ chức sử dụng lực lượng, bố trí đội hình chiến đấu, cách đánh phụckích đường sông, góp phần phát triển nghệ thuật chiến đấu phục kích của Quân đội ta. Với những ý nghĩa đó, Chiến thắng Lạc Song thực sự là một trận phục kích điển hình về đánh địch cơ động đường sông, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #108 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2025, 03:18:32 pm »

ĐỊCH VẬN - MŨI VU HỒI GÓP PHẦN VÀO THẮNG LỢI
CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Đại úy, ThS NGUYỄN NGỌC TOÀN
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Kế thừa và phát huy truyền thống "đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo", đánh giặc bằng "tâm công", trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), quân và dân ta luôn chú trọng tuyên truyền tư tưởng nhân nghĩa, hòa hiếu, đánh vào tinh thần nhằm làm thức tỉnh lương tri binh sĩ quân đội địch, trong đó, nhiều người là con em đồng bào dân tộc ít người. Trong Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952), công tác địch vận được tiến hành thường xuyên và liên tục, trên cả hai mặt trận chính diện và sau lưng địch, trở thành"mũi vu hồi" lợi hại góp vào thắng lợi chung của chiến dịch.


Tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp tập trung một lực lượng lớn mở cuộc tiến công đánh chiếm Hòa Bình nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược; mở rộng khu Chiếm đóng, bịt chặt cửa ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, chặn đường liên lạc vận chuyển của ta giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4; tiêu diệt một bộ phận chủ lực và phá sự chuẩn bị tiến công Thu - Đông 1951 của ta. Ngày 9 tháng 11, quân Pháp sử dụng 3 binh đoàn cơ động (GM1, GM2, GM3), 1 tiểu đoàn dù, 2 đại đội biệt kích mở cuộc hành quân Tuylíp (Tulipe) đánh chiếm khu vực Chợ Bến. Đến ngày 14 tháng 11, chúng tăng cường thêm 2 binh đoàn cơ động (GM4, GM7), 3 tiểu đoàn dù, 7 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp và 2 đại đội xe tăng mở tiếp cuộc hành quân Lôtuýt (Lotus) đánh chiếm thị xã Hòa Bình, Đường số 6, khu vực sông Đà - Ba Vì. Sau khi chiếm được Hòa Bình, Pháp huy động lực lượng và phương tiện nhanh chóng tổ chức tuyến phòng ngự tại đây.


Đánh giá tình hình và âm mưu địch, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định: Đây là một cơ hội hiếm có để ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Từ đó, quyết định mở cuộc tiến công lớn trên hai mặt trận: Tập trung chủ lực trên mặt trận chính Hòa Bình, đồng thời đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm. Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hòa Bình được thành lập do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư Đảng ủy, đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng. Lực lượng tham gia chiến dịch trên mặt trận chính gồm 3 đại đoàn bộ binh (308, 312, 304) và Đại đoàn công pháo 351; trên mặt trận phối hợp gồm 2 đại đoàn bộ binh 316 và 320.


Để phối hợp có hiệu quả cùng với các lực lượng tiến công địch, công tác địch vận được tiến hành ngay từ khi có ta ý định mở chiến dịch. Ngày 18 tháng 11 năm 1951, đồng chí Nguyễn Chí Thanh và Hoàng Văn Thái trực tiếp đi nắm tình hình chiến trường. Cùng đi với đoàn, ngoài cán bộ của Văn phòng và các cục: Tuyên huấn, Bảo vệ, Tổ chức, còn có cán bộ của Cục Địch vận. Đến ngày 19 tháng 11 năm 1951, cơ quan chính trị Chiến dịch ra chỉ thị "Tuyên truyền về cuộc hành binh của địch ở Hòa Bình" gửi toàn mặt trận để triển khai mọi hoạt động công tác chính trị trong chiến dịch, trong đó nhấn mạnh phối hợp tác chiến với công tác dân vận, địch vận... Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 22-CT/TƯ "về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch", nhận định: "Đó là cơ hội tốt để ta đánh địch... Vậy ta phải nắm cơ hội tốt này tranh thủ thời gian để đánh địch, tiêu diệt sinh lực của địch trên mặt trận Chợ Bến,Hòa Bình, trên các mặt trận khác và khắp vùng du kích sau lưng địch"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 596, 598). Trong đó nhấn mạnh: "Đồng thời với việc đánh địch trên mặt trận mới phải động viên lực lượng toàn dân phá kế hoạch chiếm đóng của địch, phá kế hoạch tổ chức ngụy quân, đặt cơ sở ngụy quyền, tuyên truyền lừa phỉnh nhân dân Mường, phá chính sách lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 596, 598)... Ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, "là cơ hội tốt để tiến hành công tác vận động ngụy binh"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 596, 598).


Trong 2 ngày 23 và 24 tháng 11 năm 1951, Thường vụ Tỉnh ủy Hòa Bình họp hội nghị bất thường, xác định: Đẩy mạnh công tác địch ngụy vận, coi đây là một trọng tâm công tác. Tuyên truyền vạch rõ âm mưu "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" của thực dân Pháp, nêu bật chính sách khoan hồng của Đảng, Chính phủ. Bộ đội, du kích phải giữ nghiêm kỷ luật đối với tù, hàng binh, phải kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến với địch ngụy vận nhưng tránh hữu khuynh4 (Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hòa Bình, Tập 1: 1929 - 1954, Tỉnh ủy Hòa Bình xuất bản, 1993, tr. 279).


Ngày 9 tháng 12 năm 1951, Thường vụ Tỉnh ủy Hòa Bình phát động cuộc thi đua lập công với ba nội dung: Phát triển chiến tranh du kích, thi đua giết giặc lập công, đẩy mạnh địch ngụy vận, tích cực phục vụ tiền tuyến. Theo đó, trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch, Ban địch vận các cấp, các đơn vị phối hợp cùng các lực lượng, đoàn thể, chính quyền địa phương, tích cực triển khai thực hiện với nhiều nội dung, biện pháp, hình thức phong phú như: Phát tán hàng nghìn bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi ngụy binh, thông báo của Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh Hòa Bình về việc thi hành chính sách khoan hồng của Đảng và Chính phủ đối với những người lầm đường theo giặc nay trở về với nhân dân, gọi loa vào đồn bốt địch, rải truyền đơn... Các cán bộ địch vận và các đoàn thể trực tiếp đến từng gia đình có con em đang đi lính cho giặc, để tuyên truyền, giải thích rõ về những lỗi lầm của người thân họ, về chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng, Chính phủ và thắng lợi tất yếu của chiến dịch, của cuộc kháng chiến. Động viên gia đình kêu gọi người thân của họ về quê làm ăn, sinh sống hoặc làm nội ứng, cung cấp tình hình địch cho cách mạng.


Khi mọi công tác chuẩn bị được hoàn tất, 23 giờ đêm 10 tháng 12 năm 1951, ta nổ súng tiến công cứ điểm Tu Vũ - một vị trí quan trọng trên tuyến phòng ngự sông Đà, mở màn chiến dịch. Đến 5 giờ sáng 11 tháng 12, ta hoàn toàn làm chủ trận địa. Trận đánh đã làm rung chuyển toàn tuyến phòng ngự sông Đà của địch. Sau đó, ta tổ chức nhiều trận phục kích cắt đứt tuyến vận chuyển của địch trên sông Đà, uy hiếp Đường số 6, đồng thời đánh mạnh ở vùng địch hậu Bắc Ninh. Thực dân Pháp buộc phải rút bớt lực lượng cơ động từ Hòa Bình về Bắc Ninh để đối phó, nhưng ngay sau đó lại đưa quân trở lại cửu nguy cho Hòa Bình. Trong đợt này, công tác địch vận chưa được chú ý đúng mức.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #109 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2025, 03:20:21 pm »

Để đợt 2 Chiến dịch, công tác địch vận phát huy có hiệu quả, ngày 18 tháng 12 năm 1951, Tổng cục Chính trị ra Chỉ thị số 4/H3 về công tác chính trị đợt 2 Chiến dịch Hòa Bình. Chỉ thị nêu rõ: "Trong đợt 1 công tác địch vận không được chú trọng mấy, phần lớn các đơn vị vi phạm khuyết điểm đối với hàng binh, tù binh địch. Do ý thức căm thù chưa đúng đắn và việc giáo dục ý thức địch vận còn kém"1 (Tổng cục Chính trị - Cục Dân vận và tuyên truyền đặc biệt, Công tác dân vận và tuyên truyền đặc biệt trong Quân đội nhân dân Việt Nam 1947 - 2002 - Biên niên, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 146). Nhận định, trước mắt tinh thần địch còn rất yếu kém sau chiến thắng của ta, Chỉ thị nhấn mạnh: "Cần phải chú trọng công tác địch vận và đặc biệt lần này phải chú trọng vận động ngụy binh Mường. Ngoài ra, phải giáo dục tinh thần căm thù đúng đắn cho toàn thổ đội viên có ý thức địch vận đối với thường binh và nì binh, hàng binh địch"1 (Tổng cục Chính trị - Cục Dân vận và tuyên truyền đặc biệt, Công tác dân vận và tuyên truyền đặc biệt trong Quân đội nhân dân Việt Nam 1947 - 2002 - Biên niên, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 146, 147).


Sang đợt 2, ta tiếp tục đánh mạnh hướng sông Đà - Ba Vì, tập kích diệt địch ở các điểm cao 400 và 600; trên hướng Đường số 6, ta tiến công các cứ điểm Đồi Mồi, Hàm Voi. Quân Pháp cố gắng tăng viện cho Hòa Bình nhưng vẫn không đánh thông được tuyến Sông Đà, phải chuyển sang củng cố tuyến Đường số 6, bảo vệ thị xã Hòa Bình. Trước tình hình quân Pháp ở Mặt trận Hòa Bình đang dao động, ngày 24 tháng 12 năm 1951, Tổng cục Chính trị có chỉ thị gửi chính ủy và chủ nhiệm chính trị các đại đoàn, trung đoàn tham gia chiến dịch, nêu rõ: "Hiện nay tinh thần binh lính địch đang rất căng thẳng và khá hoang mang, ở khắp các chiến trường đã có những vụ đầu hàng lẻ tẻ, điều này chứng tỏ chúng đang có những mầm mống muốn chạy sang hàng ngũ ta... Tổng cục nhắc nhở các chính ủy và Chủ nhiệm Chính trị tích cực làm cho các cấp thấm nhuần sự quan trọng của công tác địch vận lúc này, tham gia tích cực làm tan rã hàng ngũ địch..."2 (Tổng cục Chính trị - Cục Dân vận và tuyên truyền đặc biệt, Công tác dân vận và tuyên truyền đặc biệt trong Quân đội nhân dân Việt Nam 1947 - 2002 - Biên niên, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 146, 147).


Trước khi bước vào đợt 3 chiến dịch, ngày 2 tháng 1 năm 1952, Tổng cục Chính trị ra Chỉ thị về công tác chính trị đợt 3 chiến dịch, trong đó nhấn mạnh: "Mở rộng địch vận, tiến công mạnh mẽ về tinh thần, kết hợp với tranh thủ thời gian liên tục diệt địch để khuếch trương chiến quả thu thêm nhiều thắng lợi mới"3 (Tổng cục Chính trị - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Công tác đảng, công tác chính trị chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ 1945 - 1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 122-123). Đến ngày 5 tháng 1 năm 1952, Tổng cục Chính trị ra tiếp Chỉ thị về việc mở rộng công tác địch ngụy vận trên chiến trường Hòa Bình và quy định những điểm chính trong chính sách tù, hàng binh gửiđến các tỉnh ủy: Hòa Bình, Sơn Tây, Phú Thọ, các cấp ủy Đảng trong Quân đội, các cơ quan công tác chính trị và công tác địch vận của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương. Chỉ thị nhấn mạnh vai trò của lãnh đạo, chỉ huy trong giáo dục nhận thức, kiểm tra, tổ chức thực hiện; nhắc nhở, uốn nắn các đơn vị về những hành động, thái độ không đúng, nhất thời của cán bộ, chiến sĩ ở các phân đội với tù binh, hàng binh địch.


Bước sang đợt 3 chiến dịch, ngày 7 tháng 1 năm 1952, ta chuyển hướng tiến công chủ yếu sang Đường số 6 và bao vây thị xã Hòa Bình. Sau nhiều ngày bị bao vây, cô lập ở Hòa Bình, lại bị đánh mạnh ở trung du, đồng bằng, sáng 23 tháng 2 năm 1952, quân Pháp buộc phải rút khỏi Hòa Bình. Khi địch rút chạy khỏi Hòa Bình, bộ đội địa phương và du kích trên khắp địa bàn Hòa Bình vừa đánh địch vừa kêu gọi nhân dân và ngụy binh tìm mọi cách để thoát khỏi sự dồn ép của địch, trở về với làng xóm quê hương. Tại thị xã Hòa Bình, trong những ngày quân ta tập trung lực lượng vây đánh địch ở thị xã Hòa Bình và Đường số 6, quanh khu vực thị xã Hòa Bình từ Thịnh Lang đến Quỳnh Lâm, nơi nào cũng có cán bộ, cơ sở kháng chiến hoạt động thường xuyên, bám sát địch và vận động ngụy binh đào, bỏ ngũ, phản chiến. Đêm đến, các đồng chí được phân công vào tận các bản làng mà địch đang kiểm soát để gây dựng cơ sở. Các anh Thắng, anh Đài ở Thịnh Lang; chị Hữu, chị Khuyên trong Hội Phụ nữ thị xã liên hệ chặt chẽ với bộ đội, cung cấp tình hình hoạt động của địch, dẫn đường cho bộ đội làm công tác địch vận. Kết quả có hơn 50 tên, cả lính lê dương và ngụy quân bỏ đồn chạy ra đầu hàng, được ta đón tiếp và đối xử nhân đạo1 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hòa Bình, Hòa Bình - Lịch sử kháng chiếnchống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 -1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 143).


Phối hợp với chiến trường chính, ở vùng địch hậu Bắc Bộ, Ban Chỉ huy Mặt trận đồng bằng được thành lập do đồng chí LêThanh Nghị - Bí thư Liên khu ủy kiêm Chủ tịch ủy ban Kháng chiến hành chính Liên khu 3 làm Trưởng Ban Chỉ đạo. Thành phần Ban Chỉ huy gồm các đồng chí ủy viên Thường vụ Liên khu ủy 3 và Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn 320. Ngày 27 tháng 11 năm 1951, Ban Chỉ huy Mặt trận đồng bằng họp bàn quán triệt nhiệm vụ và xác định kế hoạch Đông - Xuân 1951 - 1952 nhằm đẩy mạnh phối hợp tác chiến với mặt trận chính diện; tập trung đánh mạnh ở vùng địch hậu phá vỡ hệ thống chiếm đóng của địch; phục hồi, mở rộng và củng cố các khu du kích, căn cứ du kích; đẩy mạnh công tác địch vận làm tan rã từng mảng khối ngụy quân, ngụy quyền, giành lại kho nhân tài, vật lực của Liên khu1 (Bộ Tổng Tham mưu, Chiến tranh du kích trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954), Chuyên đề: Đặc trưng của chiến tranh du kích vùng đồng bằng Liên khu 3 trong kháng chiến chống Pháp, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 90).


Ngày 25 tháng 2 năm 1952, tin chiến thắng từ Hòa Bình, cùng những hoạt động quân sự mạnh mẽ ở vùng sau lưng địch làm cho một bộ phận binh lính địch có tâm lý hoang mang, dao động, gia đình binh lính lo lắng cho tính mạng của chồng con. Trong khi đó, đông đảo nhân dân ngày càng phấn khởi, tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Đây là điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh công tác địch vận. Tính chung toàn chiến dịch, Đại đoàn 320, các trung đoàn 42, 46 và các lực lượng địa phương đồng bằng Liên khu 3 đã tiêu diệt, bắt hơn 10.000 tên địch, vận động hàng nghìn lính ngụy bỏ ngũ, tiêu diệt 160 cứ điểm do chủ lực địch đóng giữ, cùng khoảng 1.000 vị trí tề vũ trang2 (Bộ Tổng Tham mưu, Chiến tranh du kích trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954), Chuyên đề: Đặc trưng của chiến tranh du kích vùng đồng bằng Liên khu 3 trong kháng chiến chống Pháp, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 90).


Với nhiều nội dung, hình thức, biện pháp vận động phong phú, như: Vận động và tổ chức gia đình ngụy binh, đến đồn bốt địch đòi trả chồng, con về sum họp gia đình, phụng dưỡng bổ, mẹ già, đòi cho biết tin chồng, con... Từ tháng 11 năm 1951 đến tháng 3 năm 1952, các tỉnh vùng địch hậu Bắc Bộ đã phát động được 167 cuộc đấu tranh của 40 vạn người nhà binh lính đòi trả chồng, con; giải thoát cho 31.070 thanh niên mới bị bắt lính; thả 37 lần, tổng cộng 7.803 tù binh người Việt; vận động cơ sở nhân mối là binh lính người Việt hỗ trợ bộ đội và du kích giành thắng lợi trong 176 trận nội ứng đánh đồn; vận động được 10.285 binh sĩ, 32 hạ sĩ quan người Việt bỏ ngũ, quay về với Tổ quốc, mang theo 1.145 súng các loại1 (Báo Cứu quốc, số 2016, ngày 1 tháng 4 năm 1952, tr. 1. Dẫn theo: Lê Văn Cử, Công tác địch vận trong Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952), Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 7.2016, tr. 53-54).


Nhờ chủ trương và các biện pháp đúng đắn, linh hoạt, sáng tạo, trong Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952), cùng với đòn tiến công quân sự, chính trị, mũi đấu tranh địch vận trở thành "mũi vu hồi", góp phần đập tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của thực dân Pháp. Qua đó, góp phần giương cao ngọn cờ chính nghĩa, đưa nguyện vọng hòa bình chân chính của nhân dân Việt Nam đến với các dân tộc trên thế giới; đồng thời, củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân từng bước đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi cuối cùng.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM