Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:46:42 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử  (Đọc 29216 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #80 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2025, 07:26:18 pm »

Nắm vững quan điểm trên, phục vụ Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Đảng đoàn và lãnh đạo Bộ Công an, Ban An ninh Trung ương Cục đã chỉ đạo an ninh các cấp tập trung lực lượng cho phía trước, phối hợp chặt chẽ với quân đội nhân dân và các lực lượng khác chủ động tiến công địch, đồng thời tích cực bảo vệ giao thông, giữ gìn bí mật các kế hoạch vận chuyển, bảo vệ các cuộc hành quân, trú quân, đảm bảo vũ khí nằm trong tay những người tin cậy; bảo vệ kho tàng đường hành lang vận chuyển, góp phần đảm bảo hậu cần, vũ khí, đạn dược cho chiến trường.


Tại Trị - Thiên, lực lượng an ninh chia thành nhiều tô công tác bám sát địa bàn, phối hợp với các lực lượng vũ trang bảo vệ nhân dân đi sơ tán; điều tra bắt giữ tên Pả Ker và đồng bọn lôi kéo người ở thôn Rò Leng, xã Thuận, huyện Hướng Hoá, sang Lào theo địch; bảo vệ các cơ quan lãnh đạo Khu ủy, Tỉnh ủy, Bộ chỉ huy chiến dịch; truy bắt biệt kích thám báo ở khu vực ven Đường 9; đồng thời hướng vào đô thị, thị xã, thị trấn, vùng xung yếu cùng với các lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị, đẩy mạnh diệt ác phá kìm, hạ uy thế địch, hỗ trợ quần chúng nổi dậy đấu tranh chống bình định, phát triển phong trào nông thôn đồng bằng và thành phố.


Đầu năm 1971, Đội trinh sát vũ trang Cam Lộ (Quảng Trị) phối hợp với bộ đội đánh bốt Cu Hoan, diệt 14 tên địch; tiến công bọn biệt kích trên tuyến Trường Sơn, diệt 10 tên, thu nhiều vũ khí. Ở thị xã Quảng Hà, tổ trinh sát vũ trang cải trang là biệt động quân đột nhập Ty sắc tộc, diệt 7 tên, làm bị thương 11 tên.


Cùng thời gian trên, Đội trinh sát vũ trang thành phố Huế, do đồng chí Vũ Hồng Sơn chỉ huy, phối hợp với lực lượng biệt động tập kích vào xã Thủy Phước, đánh sập trụ sở, diệt và làm bị thương 15 lính địa phương. Đêm 28 tháng 2 năm 1971, an ninh huyện Hương Trà phối hợp với lực lượng biệt động đột nhập vào ấp chiến lược Đốc Bưu, xã Hương Sơ (phía bắc thành phố Huế), diệt 2 tề điệp, làm bị thương 4 tên, thu 6 súng và một số lựu đạn. Tháng 2 năm 1971, đội trinh sát vũ trang thành phố Huế tập kích vào phân chi cảnh sát Việt Nam cộng hòa ở xã Mỹ Thủy - địa bàn bình định trọng điểm của địch ở huyện Hương Thủy, diệt 15 tên, phần lớn là cảnh sát nghĩa quân và nhân viên chính quyền xã của chúng. Tiếp đó, Đội trinh sát vũ trang phối hợp với Tổ biệt động tiến công trung đội bảo an, diệt và bắt 36 tên, thu nhiều vũ khí, gây thối động trong hàng ngũ địch.


Thông qua phát động quần chúng phòng gian bảo mật, lực lượng an ninh Trị Thiên - Huế phối hợp với lực lượng khác đẩy mạnh tiến công chính trị vào bọn phản cách mạng, làm rõ 29 đối tượng làm tình báo viên cho địch ở vùng căn cứ nam Hướng Hoá; điều tra truy bắt tên Nguyễn Thám là mật báo viên của "Biệt đội sưu tầm" khu vực Phong Nhiêu, Phong Điền (Thừa Thiên); kịp thời ngăn chặn Nguyễn Hồng Minh là cán bộ Ban Binh vận Khu Trị - Thiên âm mưu trốn theo địch.


Tháng 3 năm 1971, quân đội Sài Gòn tổ chức cái gọi là "mừng chiến thắng" ở rạp hát Tân Tân trên đường Trần Hưng Đạo, thành phố Huế. Nắm được tình hình, đội trinh sát vũ trang nội đô bố trí nữ trinh sát Nguyễn Thị Lài cải trang lọt vào đặt mìn hẹn giờ, diệt và làm bị thương hàng chục sĩ quan và binh lính địch, gây náo động trong thành phố.


Trong trận địch càn quét vào xã Mỹ Thủy, huyện Hương Thủy, chúng đã phát hiện ra hầm bí mật của đồng chỉ huyện ủy viên và Xã đội trưởng. Đồng chí Nguyễn Đình Xướng, cán bộ an ninh vũ trang làm nhiệm vụ bảo vệ, cùng đồng đội dũng cảm dùng súng AK và lựu đạn chiến đấu diệt 12 tên địch, bắn bị thương một số tên khác. Bị trúng đạn gẫy chân, biết không thể thoát khỏi vòng vây địch, đồng chí Xướng đã chiến đấu, hút hoả lực địch về phía mình và đã anh dũng hy sinh để đồng đội đưa cán bộ lãnh đạo chuyển sang hầm bí mật khác an toàn1 (Đồng chí Nguyễn Đình Xướng được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 6 tháng 6 năm 1976). Đó là tấm gương của đồng chí Vũ Hồng Sơn, an ninh vũ trang thành phố suốt thời gian gần 2 năm hoạt động ở vùng Tứ Tây (Thủy An) luôn bị địch càn quét, lùng sục nhưng vẫn trung thành tuyệt đối với Đảng, bám trụ kiên cường, chiến đấu quên mình để bảo vệ cán bộ và cơ sở cách mạng. Ngày 17 tháng 3 năm 1971, địch càn quét phát hiện hầm bí mật của ta. Chúng cho cảnh sát bao vây, dùng loa gọi hàng. Đồng chí Vũ Hồng Sơn cùng đồng đội dũng cảm bất ngờ bật nắp hầm đánh trả địch quyết liệt, diệt 3 tên, làm bị thương 5 tên trước lúc hy sinh1 (Đồng chí Vũ Hồng Sơn được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 29 tháng 1 năm 1996).


Những trận diệt ác phá kìm, vũ trang tuyên truyền bảo vệ Đảng, bảo vệ cơ sở cách mạng của an ninh Trị Thiên đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh chống địch càn quét, bình định, góp phần đưa 117 thôn tranh chấp giành được quyền làm chủ; 472/841 thôn có cơ sở quần chúng, 40 xã vùng giáp ranh có lực lượng an ninh xã và trung bình mỗi xã có 15 du kích. Những cuộc đấu tranh chống địch bắt lính, đôn quân, chống "quân sự hoá" học đường, chống vây ráp khủng bố, đòi chồng con tham gia chiến trận ở Đường 9 - Nam Lào trở về diễn ra hàng ngày. Qua đấu tranh, ta đã liên kết được mặt trận chống Mỹ rộng rãi, nhiều tổ chức yêu nước ra đời, làm cho hậu phương địch bị rối loạn, buộc phải phân tán lực lượng đối phó ở cả phía trước phía sau, hệ thống kìm kẹp của chúng ở cơ sở rệu rã và tan ra từng mảng.


Đến ngày 23 tháng 3 năm 1971, quân dân ta và các lực lượng cách mạng Lào đã đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ và quân đội Sài Gòn ở Đường 9 - Nam Lào, loại khỏi vòng chiến đấu 19.960 tên, bắt 1.142 tên; đánh thiệt hại nặng 3 sư đoàn tinh nhuệ của quân ngụy Sài Gòn; phá hỏng và thu được một khối lượng lớn vũ khí,  phương tiện chiến tranh của địch. Lực lượng tình báo gián điệp, cảnh sát, tâm lý chiến, bình định nông thôn và bộ máy kìm kẹp của địch ở cơ sở cũng bị tổn thất nặng nề.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #81 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2025, 07:33:27 pm »

2. Đẩy mạnh hoạt động trên các chiến trường phối hợp.

Phối hợp với Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, an ninh các tỉnh Khu 5 đã cùng các lực lượng vũ trang tổ chức hàng trăm trận diệt ác, phá kìm, trấn áp hàng ngàn đối tượng là ngụy quyền ác ôn, tình báo gián điệp, phượng hoàng, cảnh sát, bình định của địch. Đáng chú ý là trận đánh ngày 9 tháng 2 năm 1971 của trinh sát vũ trang Hồ Thị Phương và Mai Thị Luận, an ninh quận 3 Đà Nẵng, đã bí mật gài mìn dưới gầm xe Jeép, diệt tên Hồ Diệp, trưởng ban hoạt vụ tình báo sưu tầm Vùng I chiến thuật và 3 sĩ quan ngụy. Tại Bình Định, an ninh phối hợp với lực lượng vũ trang liên tục tiến công địch, loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn tên, bắt hàng trăm tề điệp, cảnh sát ác ôn, bình định; xoá 15 khu đồn, giải phóng hàng chục thôn ấp của huyện Phù Mỹ, Hoài Nhơn. Từ ngày 24 tháng 4 đến 4 tháng 5 năm 1971, an ninh vũ trang bảo vệ Tỉnh ủy Bình Định cùng lực lượng vũ trang địa phương phối hợp chống địch càn quét vào khu vực Đồi Chè, huyện Phù Cát, tiêu diệt và làm bị thương hàng trăm tên, trong đó có nhiều tên Mỹ và lính đánh thuê nước ngoài quân đội bảo vệ tuyệt đối an toàn các cơ quan và lãnh đạo của tỉnh.


Ở Khu 6, an ninh phối hợp với lực lượng vũ trang được cơ sở hỗ trợ đánh diệt đoàn bình định số 13 tại ấp Lâm An, sát quận lỵ Thiên Giáo (Bình Thuận); diệt tên Nam Thiên, ấp phó an ninh ấp Dinh Cầu (Bình Tuy); trừng trị tên Quảng Đắc Trung, phó chủ tịch đảng "cộng hoà đại chúng" quận bộ Hàm Tân; tiến công làm tan rã đoàn bình định ở Nhuận Đức (Ninh Thuận). Tại Lâm Đồng, an ninh và lực lượng vũ trang địa phương tiến công Toà hành chính, Khu sĩ quan quân đội Sài Gòn ở thị xã Bảo Lộc; đột nhập ấp chiến lược Tân Lạc, Đồng Lạc và đoàn bình định ở quận lỵ Di Linh, gây cho địch nhiều thiệt hại. Trong những tháng đầu năm 1971, An ninh Tuyên Đức cùng các lực lượng khác đẩy mạnh tấn công chính trị vào hàng ngũ địch, tán phát trên 2 vạn truyền đơn, hàng trăm thư cảnh cáo bọn tề điệp, làm tan rã 6 ban tề ấp, trung đội phòng vệ dân sự; phối hợp với lực lượng vũ trang tiến công vào chi khu Đức Trọng, Tùng Nghĩa, Cầu Đất và 3 phân chi cảnh sát, làm cho địch hoang mang lo sợ, nhiều tên làm việc cầm chừng, có tên bỏ việc.


Trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, lực lượng An ninh kiên cường bám trụ, xây dựng cơ sở nắm tình hình, phối hợp với bộ đội và du kích địa phương đánh địch, trừng trị những tên đầu sỏ ác ôn và công an cảnh sát, tề điệp có nhiều nợ máu với nhân dân; làm tan rã nhiều đoàn bình định, hỗ trợ quần chúng nổi dậy đấu tranh phá thế kìm kẹp, giành quyền làm chủ. Đêm 13 tháng 3 năm 1971, trinh sát vũ trang thị xã Long Khánh đột nhập rạp hát Đồng Tâm đặt mìn diệt 16 tên, trong đó có 2 sĩ quan cảnh sát đặc biệt, 2 đại úy quân cảnh, 1 ủy viên Toà thị chính tỉnh. Ngày 14 tháng 3, an ninh huyện Trảng Bom (Bà Rịa) điều tra bắt Nguyễn Thị Dê - mật báo viên của Chi cảnh sát Kiểm Tân, đã nhiều lần chỉ điểm cho địch đánh phá cơ sở cách mạng.


Tiếp đó, An ninh phân khu miền Đông cùng du kích Long Cang tiến công đoàn bình định của địch ở xã Phước Vân, diệt 5 tên, trong đó có xã trưởng; An ninh xã Phước Tân kết hợp với binh vận tuyên truyền kêu gọi 150 phòng vệ dân sự và gần 100 bảo an rã ngũ về với gia đình.


Giữa năm 1971, An ninh Bà Rịa - Long Khánh điều tra bắt giữ Thích Thông Ngộ, tên thật là Huỳnh Văn Tài (tức Huỳnh Cao Lãnh) quê ở Đức Phổ (Quảng Ngãi) làm tình báo viên cho địch. Y đã bị ta bắt khi đang xây dựng cơ sở mật báo cho dịch ở Xuân Lộc.

Tại Sài Gòn - Gia Định, lực lượng trinh sát vũ trang phối hợp với biệt động liên tục tiến công vào các mục tiêu thuộc cơ quan đàn áp của địch như trại A Mắc (190 Trần Quốc Toản), bót Hàng Keo - Chi Lăng (Phan Đăng Lưu) gây cho chúng nhiều thiệt hại. Đặc biệt, ngày 10 tháng 11 năm 1971, trinh sát vũ trang Vũ Quang Hùng và Lê Văn Châu phục kích tại ngã tư đường Cao Thắng - Phan Thanh Giản (Điện Biên Phủ) trừ diệt tên phản động gây nhiều tội ác với nhân dân.


Tại Tây Ninh, vận dụng phương thức đấu tranh "hai chân, ba mũi", lực lượng An ninh cùng bộ đội địa phương mở các đợt tấn công vào các thị trấn, huyện lỵ hỗ trợ quần chúng đấu tranh chính trị, chống phá kế hoạch bình định của địch, ở Gò Dầu, an ninh phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tấn công 3 chi khu cảnh sát, diệt 67 tên gây thôi động hàng ngũ địch. Hầu hết các cuộc hành quân càn quét, lấn chiếm của địch bị quân và dân ta bỏ gãy. Vùng căn cứ giải phóng được giữ vững, lõm du kích, lõm chính trị phát triển, tạo thế đứng chân cho các lực lượng phá thế kìm kẹp của địch.


Ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, phong trào quần chúng đấu tranh chống địch càn quét, bình định gom dân diễn ra sôi động và quyết liệt. Căn cứ Tỉnh ủy Mỹ Tho vừa chuyển về xã Long Tiên huyện Cai Lậy thì địch cho 2 tiểu đoàn, có máy bay yểm trợ đến càn quét. Lực lượng An ninh vũ trang bảo vệ Tỉnh ủy phối hợp với bộ đội và du kích địa phương tích cực chống càn, đánh lui nhiều đợt tấn công của địch. Trong lúc máy bay địch đang quần đảo, đồng chí Nguyễn Việt Thành (Tư Bốn) an ninh vũ trang bảo vệ Tỉnh ủy đã dũng cảm vượt qua lửa đạn, đưa các đồng chí lãnh đạo đến căn cứ dự bị an toàn. Trong 3 ngày chiến đấu, đồng chí Nguyễn Việt Thành đã diệt và làm bị thương 50 tên địch. Ngày 22 tháng 9, địch đổ quân càn quét vào xã Mỹ Phước Tây, lực lượng an ninh và vũ trang địa phương phối hợp chiến đấu diệt và làm bị thương 30 tên. Bọn chúng co cụm bị ta dùng dàn thun bắn lựu đạn gây sát thương hàng chục tên, phải bỏ dở cuộc càn quét. Tính đến cuối năm 1971, toàn tỉnh Mỹ Tho giải phóng 87 xã ấp với 67.000 dân, hàng trăm xóm ấp khác trước đây bị địch kìm kẹp gắt gao nay được nới lỏng. Chiến tranh du kích phục hồi.


Thế tiến công bằng "hai chân, ba mũi" của quân và dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long ngày càng mạnh mẽ quyết liệt làm cho địch lúng túng bị động đối phó Kế hoạch bình định của chúng bị đẩy lùi, hậu phương dịch ngày càng mất ổn định.

Hòa chung chiến thắng vang dội trên khắp các chiến trường, ngày 31 tháng 5 năm 1971, quân và dân hai nước Việt Nam - Campuchia đã đánh thắng cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" của Mỹ và quân đội Sài Gòn, làm thất bại âm mưu của chúng hòng cô lập và bóp nghẹt cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam và nhân dân Campuchia.


Cùng thời điểm trên, quân và dân Tây Nguyên chủ động đánh địch, lập công xuất sắc, đập tan cuộc hành quân "Quang Trung 4" của quân đội Sài Gòn ra vùng Ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia, bảo vệ vững chắc căn cứ, kho tàng, đường vận chuyển chiến lược của ta.


Sau gần 4 tháng (8.2 - 31.5.1971), quân và dân ta đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ hy sinh, phối hợp với quân và dân Lào, Campuchia đánh bại hoàn toàn ba cuộc hành quân "Lam Sơn 719", "Toàn thắng 1-71", "Quang Trung 4" của địch trên các địa bàn chiến lược Đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và ngã ba biên giới. Chiến công to lớn đã làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam mở ra điều kiện mới cho quân và dân ta đẩy mạnh chống phá bình định, khôi phục thế trận chiến tranh nhân dân trên ba vùng chiến lược, đồng thời tạo thế mới, lực mới cho cách mạng Lào và Campuchia tiến lên giành thắng lợi cuối cùng.


Chiến tranh đã lùi xa, thắng lợi Đường 9 - Nam Lào năm 1971 trở thành mốc son trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân hai nước Việt Nam - Lào. Thắng lợi đó để lại nhiều kinh nghiệm quý về nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân của Đảng ta; về tổ chức lực lượng cả nước đánh giặc, trong đó có sự phối hợp chiến đấu và bảo đảm an ninh của lực lượng công an nhân dân; về phát huy sức mạnh đoàn kết, liên minh chiến đấu với nhân dân Lào và nhân dân Campuchia, tạo điều kiện phát triển thế tiến công chiến lược vững chắc trên chiến trường ba nước Đông Dương, mở ra khả năng đánh thắng hoàn toàn chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #82 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2025, 07:35:02 pm »

HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VÀ NHÂN DÂN THỪA THIÊN - HUẾ TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971

Đại tá ĐẶNG NGỌC NGHĨA
Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy -
Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thừa Thiên - Huế


Năm tháng sẽ qua đi, nhưng sự tích anh hùng của một thời sục sôi "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" là những giá trị nhân văn cao cả của các thế hệ người Việt Nam vẫn sống mãi với thời gian, với lịch sử. Cùng với các lực lượng vũ trang có mặt trên chiến trường Quảng Trị, lực lượng vũ trang và nhân dân Thừa Thiên - Huế đã tích cực tham gia phối hợp chiến đấu và đảm bảo chiến đấu trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971, góp phần tô thắm chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.


Tiếp tục thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh"1 (Quân đội Sài Gòn cộng với hỏa lực và hậu cần Mỹ là "công thức cơ bản" để thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ), đầu năm 1971, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn bán đảo Đông Dương, tổ chức những cuộc phản kích quy mô lớn, hòng giành thắng lợi có tính quyết định, làm chuyển biến cục diện chiến trường, tạo thế ổn định cho chính quyền Sài Gòn, rút thêm quân Mỹ về nước. Đối với chiến trường Trị - Thiên, mục tiêu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn khi mở cuộc hành quân đánh ra vòng ngoài là nhằm triệt phá kho tàng dự trữ chiến lược của ta; cắt đứt đường hành lang của tuyến vận tải quân sự chiến lược 559 - Đường Hồ Chí Minh; lập tuyến ngăn chặn cuộc tiến công của Quân giải phóng miền Nam; thử thách vai trò tác chiến của quân đội Sài Gòn thay thế cho quân Mỹ rút dân về nước; tạo thế gây sức ép đối với ta trên mặt trận ngoại giao.


Nhằm mục tiêu đó, đầu tháng 2 năm 1971, địch, huy động 45.000 quân (gồm 30.000 quân đội Sài Gòn và 15.000 quân Mỹ), với sự chi viện trực tiếp của hỏa lực không quân, pháo binh Mỹ, mở cuộc hành quân mang tên "Lam Sơn 719", đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào. Ngoài ra tham gia cuộc hành quân này còn có một bộ phận quân phái hữu Lào phối hợp hoạt động ở phía tây Đường 9 và Mường Noòng.


Kế hoạch tác chiến của cuộc hành quân "Lam Sơn 719" được Bộ chỉ huy quân Mỹ và quân đội Sài Gòn xác định gồm các bước: trước hết, nhanh chóng đánh chiếm Sê Pôn làm chủ đoạn đường từ Bản Đông lên Sê Pôn, cắt đứt đường tiếp tế chính của ta; tiếp đó, đánh phá vùng Sa Đi - Mường Noòng, tiến vào Xa Van Na Khẹt; đánh phá vùng A Túc (Quảng Trị) đến A Sầu, A Lưới (Thừa Thiên) để mở rộng hành lang cơ động cho những cánh quân Mỹ yểm trợ phía sau tiến vào đất Lào. Đế quốc Mỹ dự dịnh sẽ kết thúc thắng lợi cuộc hành quân "Lam Sơn 719" trước khi mùa mưa bắt đầu ở Lào (5-1971).


Sớm nắm được ý đồ và dự đoán, đúng kế hoạch hành quân của địch, ngay từ đầu tháng 8 năm 1970, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã chỉ thị cho Quân khu Trị - Thiên và Mặt trận Đường 9 khẩn trương chuẩn bị chu đáo để mở một chiến dịch phản công quy mô lớn, đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của chúng. Chấp hành chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Quân khu Trị - Thiên chuẩn bị những phương án đánh địch trong năm 1971. Mặt trận Đường 9 chuẩn bị sẵn sàng 3 phương án, cụ thể là: đánh địch tiến công hạn chế ra Nam Quân khu 4; phối hợp đánh địch hành quân lên khu vực Đường 9 - Nam Lào; chủ động tiến công trên tuyến phòng ngự theo kế hoạch mùa Xuân 1971. Trong chỉ thị cho Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Bộ Chính trị khẳng định quyết tâm: "Nhất thiết phải thắng địch trong chiến dịch này, dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào cũng phải quyết tâm thắng lớn, vì đây là trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược"; các địa phương cần nắm cơ hội, đó là phần lớn lực lượng cơ động của địch được điều động ra tuyến ngoài (Đường 9 - Nam Lào) mà đẩy mạnh tiến công và nổi dậy đánh phá "bình định" của địch, mở rộng vùng giải phóng.


Khi địch bắt đầu cuộc hành quân, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (mật danh là Bộ Tư lệnh 702)1 (Theo Quyết định số 51/QD-QP, ngày 4 tháng 2 năm 1971, do đồng chí Lê Trọng Tấn - Tổng tham mưu phó làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy). Tham gia chiến dịch này gồm các đơn vị trong Binh đoàn 70 (các sư đoàn 304, 308, 320), Sư đoàn 2 (Quân khu 5), Sư đoàn 324 (134), 4 tiểu đoàn xe tăng, 3 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn pháo cao xạ, các trung đoàn, tiểu đoàn của Mặt trận B5, B4 và Đoàn 559.


Sau hơn 50 ngày đêm chiến đấu (30.1 - 23.3.1971), quân và dân Mặt trận Đường 9 - Nam Lào đã đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch, tiêu diệt và làm bị thương 19.960, bắt 1.142 tên; tiêu diệt 2 lữ đoàn, 1 trung đoàn, 5 tiểu đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo binh, 4 thiết đoàn, phá hủy và bắn rơi 556 máy bay, phá hủy 1.138 xe cơ giới1 (BQP-VLSQSVN, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002 tr.277)... Sư đoàn 1 bộ binh quân đội Sài Gòn bị tổn thất lớn, trong đó có 5 tiểu đoàn bị thiệt hại từ 33 đến 50% quân số. Thiết đoàn 7 bị thiệt hại trên 50% quân số. Những tổn thất nặng nề về quân số và phương tiện chiến tranh trên đây càng gây tâm lý hoang mang, dao động trong binh lính và nhân viên chính quyền các cấp của chế độ Sài Gòn.


Phối hợp với Mặt trận Đường 9 - Nam Lào, lực lượng vũ trang và nhân dân Thừa Thiên - Huế đã tổ chức nhiều trận đánh ở vùng sâu, vùng ven, hỗ trợ cho việc khôi phục và phát triển phong trào ở vùng đồng bằng.

Ở thành phố Huế, các đơn vị lực lượng vũ trang thành phố Huế tổ chức nhiều trận đánh ở vùng sâu, vùng ven. Phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân có nhiều chuyển biến mới, diễn ra liên tục, dồn dập bao gồm nhiều tầng lớp, đã hình thành được nhiều tổ chức công khai hợp pháp, với những nội dung phong phú như: đòi dân sinh, dân chủ, đòi lật đổ Thiệu - Kỳ - Khiêm, đòi hoà bình, đòi Mỹ rút quân... Đặc biệt, sinh viên và học sinh Huế đã chủ động củng cố lại các tổ chức hợp pháp của mình; đưa người về nông thôn, đồng bằng các huyện Phú Vang, Phú Lộc, Quảng Điền, vào các thôn ấp bị địch tập trung để tổ chức các cuộc nói chuyện với nông dân về tình hình đấu tranh ở thành phố, tuyên truyền về thất bại của địch trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #83 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2025, 07:35:58 pm »

Phối hợp với Mặt trận Đường 9 - Nam Lào, trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch, thực hiện chỉ lệnh nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên, Trung đoàn 6 liên tục tiến công nhằm giam chân một bộ phận lực lượng lớn quân địch ở khu vực đường 12, không cho chúng tăng viện cho các cuộc hành quân "Lam Sơn 719".


Ở vùng đồng bằng, ngày 28 tháng 2 năm 1971, một số đơn vị vũ trang thành phố Huế cùng với lực lượng biệt động huyện Hương Trà đột nhập vào ấp chiến lược Đốc Bưu (xã Hương Sơ), tiêu diệt và làm bị thương nhiều tên dân vệ tịch thu toàn bộ súng và lựu đạn. Ở Hương Thủy, một đội trinh sát vũ trang đã đánh vào phân khu cảnh sát ở Mỹ Thủy tiêu diệt 15 tên địch, ở Phú Vang, ta bí mật tổ chức du kích ngay trong lực lượng phòng vệ dân sự như ở Phú Hồ trong lực lượng nghĩa quân như ở Phú Đa. Du kích mật ở những nơi này đã lấy vũ khí của địch để đánh địch và cung cấp cho lực lượng vũ trang huyện hàng trăm quả lựu đạn. Ở Phú Lộc, trong lúc Trung đoàn 4 được Quân khu giao nhiệm vụ đánh địch tạo thế, lực lượng vũ trang huyện và du kích ở Khu 1, 2 cùng đội biệt động huyện liên tục chiến đấu, giam chân lực lượng địch, không để chúng nống ra Đường 9 - Nam Lào tăng viện cho cuộc hành quân.


Sau thất bại của cuộc hành quân "Lam Sơn 719", thế và lực của địch bị suy sụp mạnh. Để cứu vãn tình thế, trấn an tinh thần binh lính và thăm dò lực lượng ta, địch tổ chức các cuộc hành quân lên miền Tây Quảng Trị và Thừa Thiên, tổ chức các buổi lễ "mừng thắng lợi" cuộc hành, quân "Lam Sơn 719"; đồng thời đẩy mạnh hoạt động bình định ở đồng bằng, ngăn chặn vùng giáp ranh, ra sức đôn quân, bắt lính để bổ sung quân số, ráo tiết tiến hành các hoạt động phục vụ cho cuộc bầu cử Tổng thống nhiệm kỳ mới của chính quyền Sài Gòn.


Từ tháng 4 năm 1971 trở đi, địch liên tiếp mở các cuộc hành quân "tìm diệt" quy mô lớn lên miền núi như cuộc hành quân "Lam Sơn 720" của Sư đoàn 1 bộ binh quân lực Việt Nam cộng hòa và địa phương quân lên vùng Tà Lương, A Tây và một số cuộc hành quân khác lên vùng Nam Đông, Bình Điền. Với tinh thần cảnh giác cao, ngày 2 tháng 6, bộ đội ta đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 369 thủy quân lục chiến (2-6-1971) và đánh bại các cuộc hành quân khác, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, góp phần làm thất bại kế hoạch đánh phá căn cứ hậu phương, hậu cần của địch.


Phát huy thắng lợi trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, vào cuối tháng 3 năm 1971, điệp báo thành phố Huế, gồm các đồng chí Nguyễn Quang Yên, Nguyễn Thị Lài..., bằng lối đánh "xuất quỷ, nhập thần", sử dụng bộc phá đánh vào nhiều căn cứ, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều tên ác ôn đầu sỏ. Tháng 4 năm 1971, một phân đội của lực lượng vũ trang do đồng chí Nguyễn Đình Xướng phối hợp với một tổ biệt động thành phố Huế, phục kích đánh vào một trung đội bảo an ở xã Thủy An, tiêu diệt và làm bị thương 36 tên địch.


Kết quả, trong nửa đầu năm 1971, lực lượng vũ trang và nhân dân Thừa Thiên - Huế đã đánh 912 trận, loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn tên (có 135 ác ôn), hỗ trợ hàng ngàn lượt quần chúng nổi dậy đấu tranh chính trị. 300 gia đình kéo đến bệnh viện Huế tìm người thân bị thương đưa về điều trị, 50 gia đình từ huyện Phú Lộc kéo ra Huế đến sở chỉ huy Sư đoàn 1 bộ binh địch đòi chồng, con làm cho chính quyền sở tại địch càng thêm bối rối.


Sau thất bại tại Đường 9 - Nam Lào, Mỹ và chính quyền Sài Gòn càng thêm hoang mang, dao dộng. Tận dụng thời cơ thuận lợi này, đồng thời với việc đẩy mạnh đấu tranh quân sự với chính trị, Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế chủ trương nhanh chóng tập trung xây dựng phong trào, lấy những thôn xã làm bàn đạp mở ra những vùng mới, tiếp tục phát triển cơ sở cách mạng trên phạm vi địa bàn rộng lớn, gồm các xã Quảng Phước, Quảng Ngạn (Quảng Điền), Phong Chương, Phong Dinh (Phong Điền), Vinh Thái, Vinh Phú, Phú Da, Phú Lương, Phú Hồ (Phú Vang), Thủy Thanh, Thủy Phù (Hương Thủy), đưa hơn 2/3 số cán bộ cơ sở địa phương ra hoạt động hợp pháp. Ta đã từng bước khôi phục cơ sở Đảng, cơ sở chính trị ở vùng tranh chấp, vùng địch tạm chiếm, giữ vững và phát triển phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng vũ trang tại chỗ tiến công tiêu diệt địch đạt hiệu quả cao. Ví như, từ tháng 6 đến tháng 9 năm 1971, bộ đội địa phương và du kích Phong Điền tiến công trụ sở chính quyền cấp quận của địch; bộ đội huyện và du kích xã Quảng Điền tiêu diệt một trung đội bảo an địch ở An Lỗ, đánh vào Đồng Lâm và Phò Nam tiêu diệt một trung đội dân vệ và nhiều tên ác ôn khét tiếng của địch.


Đi đôi với đấu tranh vũ trang, phong trào đấu tranh chống địch khủng bố, chống đôn quân, bắt lính, đòi chấm dứt chiến tranh, rải truyền đơn phản đối bầu cử tổng thống... thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân khắp các địa phương tham gia, kéo dài từ tháng này sang tháng khác. Từ sau thất bại của quân đội Sài Gòn trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719", trung bình mỗi ngày có từ 500 đến 600 người kéo ra Quảng Trị đấu tranh đòi bồi thường tính mạng chồng, con chết trận. Mặt khác, phong trào phản chiến, đào ngũ, rã ngũ diễn ra ở các đơn vị quân lực Việt Nam cộng hòa, điển hình là, hơn 500 binh lính chủ lực thuộc Vùng I chiến thuật địch, đóng ở phía tây thành Huế đào ngũ, trong đó có cả những trung đội hỏa lực (súng máy) chạy sang hàng ngũ cách mạng, tham gia du kích. Được lực lượng vũ trang hậu thuẫn trực tiếp, nhân dân nhiều xã đã nổi dậy phá các khu tập trung, khu dồn dân của địch, trở về quê cũ làm ăn, như Thủy Châu, Thủy Phương (Hương Thủy), Lộc Bổn, Lộc Tụ (Phú Lộc)...


Cùng với phong trào phát triển ở nông thôn, đồng bằng, ở miền núi, ta đẩy mạnh phong trào sản xuất tự túc, tạo nguồn hậu cần tại chỗ. Các lực lượng vũ trang cùng với nhân dân miền núi tập trung mở các tuyến giao thông, chuẩn bị cho các cuộc hành quân lớn như các đường: 71, 72, 73. Bộ đội, du kích và nhân dân miền núi nâng cao cảnh giác, phát hiện và tiêu diệt kịp thời các toán thám báo, biệt kích địch để bảo vệ kho tàng, căn cứ địa cách mạng. Thế chiến lược trên ba tuyến vùng được củng cố, căn cứ địa cách mạng ngày càng vững chắc.


Vượt qua thời kỳ khó khăn, lực lượng vũ trang ba thứ quân ở chiến trường Trị Thiên - Huế không ngừng được củng cố phát triển lớn mạnh, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ của mỗi thứ quân, tạo sức mạnh hiệp đồng tác chiến, làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân địa phương phát triển và giành thắng lợi. Điều quan trọng nhất là, lực lượng vũ trang tại chỗ và nhân dân Thừa Thiên đã khẳng định được vai trò phối hợp, hiệp đồng tác chiến với bộ đội chủ lực cơ động để làm nên những thắng lợi lớn, mà chính Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 là một minh chứng tiêu biểu và sống động.


Như vậy, kể từ sau thắng lợi chiến lược Xuân Mậu Thân (1968), Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào năm 1971 chính là dấu mốc quan trọng không chỉ đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân tộc ta nói chung mà thắng lợi này đã mở ra điều kiện thuận lợi để quân và dân Thừa Thiên - Huế tiếp tục củng cố lại lực lượng và phong trào cách mạng trên cả ba vùng chiến lược, chuẩn bị mọi mặt trực tiếp cho cuộc Tiến công chiến lược năm 1972.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #84 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2025, 08:04:18 pm »

ĐÒN TIẾN CÔNG CỘNG HƯỞNG VỚI CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO TẠI MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

Đại tá, PGS, TS HỒ SƠN ĐÀI
Trưởng phòng Khoa học Công nghệ và Môi trường - Quân khu 7


Đầu năm 1971, với hơn 1,1 triệu quân trên toàn chiến trường Nam Việt Nam, trong đó gần một phần ba là quân chiến đấu Mỹ, cùng với việc đẩy mạnh sâu rộng hoạt động bình định, Mỹ - ngụy cùng lúc mở ba cuộc hành quân lớn: "Lam Sơn 719" (Đường 9 - Nam Lào, từ 9-2 đến 23-3), "Toàn thắng 1-71" (miền Đông Nam Bộ - Đông Bắc Campuchia, từ 4-2 đến 31-5) và "Quang Trung 4" (Bắc Tây Nguyên - khu vực Ba biên giới, từ 27-2 đến cuối tháng 5-1971). Cả ba cuộc hành quân nói trên đều nằm trong một động thái thống nhất nhằm thực hiện có hệ thống biện pháp chiếm đất giành dân, truy diệt Quân giải phóng và triệt phá cơ sở hậu cần, ngăn cắt hành lang vận chuyển chi viện Bắc - Nam trong chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ khởi từ đầu năm 1969. Diễn biến của các chiến dịch phản công đánh bại các cuộc hành quân nói trên không diễn ra đơn lẻ, cục bộ, mà gắn kết thành một hệ thống, có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình chiến đấu. Chiến dịch phản công của Quân giải phóng đánh bại cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" và các hoạt động tiến công địch của quân và dân Đông Nam Bộ trong mùa Xuân 1971 là đòn tiến công thực hiện đồng thời nhịp nhàng, có hiệu quả với Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719".


Bước vào năm 1969, nước Mỹ đang lâm sâu vào vũng lầy của cuộc chiến ở Việt Nam. Mặc dù vậy, tập đoàn cầm quyền Mỹ vẫn ngoan cố kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược bằng những thủ đoạn mới rất thâm độc, xảo quyệt, kể cả việc mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương. Sau khi nhậm chức, Tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ R.Níchxơn (Richard Nixon) buộc phải thay "Chiến lược phản ứng linh hoạt" đã bị phá sản bằng "Chiến lược ngăn chặn thực tế" với tên gọi "Học thuyết Níchxơn". Ứng dụng cụ thể của học thuyết Níchxơn là chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" với nội dung: chuyển giao dần nhiệm vụ chiến đấu cho quân đội Sài Gòn, đẩy mạnh "bình định", mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, ngoại giao nước lớn để tạo áp lực với ta hòng bóp nghẹt cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia.


Tại Đông Nam Bộ, lợi dụng sai lầm của ta trong việc chậm chuyển hướng tiến công sau Tết Mậu Thân, Mỹ - chính quyền Sài Gòn triển khai liên tiếp các kế hoạch "bình định", chuyển từ "bình định cấp tốc", "bình định xây dựng và phát triển" sang "bình định đặc biệt", "bình định bổ túc", "chương trình cộng đồng tự vệ, cộng đồng phát triển địa phương"..., đồng thời tiến hành hàng nghìn cuộc hành quân càn quét, thiết lập mới hàng nghìn đồn bốt. Sau gần một tháng hoạt động cài thế, chiếm bàn đạp Thiện Ngôn - Xa Mát dọc trục lộ 22, sáng ngày 4 tháng 2 năm 1971, Liên đoàn biệt động quân số 6 và Lữ đoàn kỵ binh thiết giáp số 3 quân đội Sài Gòn bất ngờ tiến công thị xã Suông và sân bay Chúp thuộc tỉnh Kông Pông Chàm (Campuchia), mở đầu cuộc hành quân mang tên "Toàn thắng 1-71". Mục đích của cuộc hành quân là nhằm bao vây, tiêu diệt một bộ phận chủ lực Quân giải phóng, lập tuyến ngăn chặn hành lang vận tải chiến lược và phá hủy kho tàng của lực lượng kháng chiến ở miền Đông Nam Bộ và Đông Bắc Campuchia. Để thực hiện cuộc hành quân, địch huy động một lực lượng lớn quân đội Sài Gòn gồm 3 sư đoàn bộ binh (3, 8, 25), 1 lữ đoàn kỵ binh thiết giáp (số 3), 1 liên đoàn biệt động quân (số 3), 5 thiết đoàn tăng - thiết giáp (400 xe tăng, xe bọc thép), 12 tiểu đoàn pháo binh (216 khẩu từ 105 đến 175mm) và 5 tiểu đoàn quân Campuchia của Lon Non, chưa kể lực lượng không quân chi viện của Mỹ từ các sân bay trong khu vực.


Như thế, hoạt động "bình định", cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" và các hành động quân sự khác của Mỹ - quân đội Sài Gòn ở Đông Nam Bộ là một phần trong toàn bộ hoạt động trong các cuộc "chiến tranh giành dân", "chiến tranh hủy diệt" và "chiến tranh bóp nghẹt" trên toàn cõi Đông Dương của chúng.


Hành động của địch gây ra cho cách mạng ở miền Nam những khó khăn tổn thất hết sức nặng nề. Ở Đông Nam Bộ cơ sở cách mạng bị vỡ từ Tết Mậu Thân chưa kịp phục hồi. Lực lượng vũ trang địa phương giảm đến mức thấp nhất do phần lớn quân đã "đôn" lên các đơn vị chủ lực và các tiểu đoàn mũi nhọn, số còn lại bị tổn thất trong các đợt chiến đấu chống phản kích, không còn đủ sức chống trả các cuộc hành quân "bình định" của địch. Quân đội Sài Gòn lần lượt tái chiếm hầu hết vùng nông thôn đồng bằng, xoá các căn cứ "lõm" xung quanh Sài Gòn, lấn dần và chia cắt các căn cứ kháng chiến như Chiến khu Đ, căn cứ địa Bắc Tây Ninh, Chiến khu Rừng Sác... Không còn chỗ dựa là thế trận chiến tranh nhân dân địa phương, các đơn vị chủ lực Quân giải phóng buộc phải rút về vùng biên giới. Các cơ quan Trung ương Cục miền Nam, Bộ chỉ huy Miền dời lên khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia. Bộ chỉ huy Phân khu 6 (nội đô Sài Gòn) dời về miền Tây Nam Bộ. Bộ chỉ huy các phân khu miền Đông phải liên tục di chuyển trong vùng Chiến khu Đ... Tình hình trên đặt ra nhu cầu khách quan cần phải thay đổi phương hướng đấu tranh cho phù hợp với tình hình.


Ngay sau ngày Mỹ làm đảo chính ở Campuchia, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nhận định: hành động phiêu lưu mở rộng chiến tranh của Mỹ đã làm cho ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia tuy có chế độ chính trị, đặc điểm lịch sử - văn hoá khác nhau nhưng giờ đây đều có chung một kẻ thù xâm lược và "Đông Dương đã trở nên một chiến trường thống nhất". Từ đó chủ trương: động viên nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên cả hai miền nước ta, tăng cường khối đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương làm cho lực lượng của ba nước trở thành một khối thống nhất có một chiến lược chung. Ngày 9 tháng 2 năm 1971 Bộ Chính trị gửi điện cho Trung ương Cục, Quân ủy Miền trong đó chỉ đạo: phải nắm lấy thời cơ, đẩy mạnh tiến công và nổi dậy, đập tan kế hoạch bình định của địch, hướng trọng điểm là đồng bằng Nam Bộ, xung quanh Sài Gòn và vùng biên giới Campuchia. Trên cơ sở đó, Trung ương Cục miền Nam chủ trương "chuyển mạnh hướng chỉ đạo, xây dựng thế chiến lược tiến công mới", triển khai các hoạt động quân sự và chính trị nhằm làm thất bại mọi âm mưu mới của địch, góp phần làm chuyển biến cục diện ở miền Nam và Đông Dương.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #85 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2025, 08:04:54 pm »

Quán triệt sự chỉ đạo của Đảng, tại Đông Nam Bộ, Phân khu ủy và Bộ chỉ huy các phân khu đã chỉ đạo các lực lượng vũ trang nắm vững tình hình, dự kiến âm mưu của địch, phân vùng, tổ chức lực lượng, xây dựng các phương án tác chiến nhằm bẻ gãy các hành động quân sự của địch, hỗ trợ phong trào đấu tranh ở vùng tạm bị chiếm phát triển. Các tình huống phương án được các đơn vị Quân giải phóng xây dựng đặt trong mối liên quan chung, có tính toán đầy đủ tới sự chi phối, tương tác với các chiến trường ở Việt Nam và cả ở Lào cũng như Campuchia.


Theo đó, ngay trước ngày quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" Bộ chỉ huy Miền đã dự kiến đúng âm mưu của địch và chuẩn bị sẵn phương án tác chiến. Một chiến dịch phản công của Quân giải phóng được chủ động triển khai với lực lượng gồm 3 sư đoàn bộ binh (5, 7, 9), 2 trung đoàn pháo binh, 1 trung đoàn đặc công, các đơn vị binh chủng thông tin, công binh, vận tải cùng lực lượng chiến đấu tại chỗ. Diễn biến chiến dịch chia làm 3 giai đoạn. Trong giai đoạn 1 (từ 9-2 đến 4-3), quân địch tiến công đánh chiếm Suông, Chúp, thọc sâu xuống Đầm Be Xoheng. Quân giải phóng chặn đánh trên từng khu vực tổ chức nhiều cuộc tập kích, phục kích ở Chúp, Xnuôn, Cầu Cháy, đẩy đối phương lui về phòng ngự dọc tuyến đường 7. Trong giai đoạn 2 (từ 5-3 đôn 16-4), quân địch nống ra lập bàn đạp tái chiếm khu vực sân bay Chúp. Quân giải phóng sau khi tập trung lực lượng tiêu diệt địch ở Tun Trea, Lung Miên không thành công, chuyển sang bao vây tiến công địch ở Pona Ray - Khona. Trong giai đoạn 3 (từ 17-4 đến 31-5), Quân giải phóng tập trung toàn lực lượng vây ép Xnuôn, truy kích quân địch rút chạy và chặn đánh quân cứu viện, bao vây tiến công địch trên hướng sông Tongle Tok, đường 7. Kết quả, Quân giải phóng đã loại khỏi chiến đấu hơn 20.000 tên địch, bắn rơi 238 máy bay, phá hủy 1.500 xe quân sự, 167 khẩu pháo, thu gần 2.000 súng, hơn 300 tấn đạn và nhiều phương tiện binh khí kỹ thuật khác.


Trong quá trình diễn ra chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71", quân và dân Đông Nam Bộ đẩy mạnh các hoạt động quân sự và chính trị trên các vùng rừng núi, đồng bằng và đô thị. Các sư đoàn chủ lực Miền vừa phối hợp đánh quân Sài Gòn, quân Lon Non ở chiến trường Campuchia vừa tích cực tác chiến trên địa bàn các tỉnh Đông Nam Bộ, đặc biệt là khu vực dọc biên giới hai nước. Lực lượng vũ trang các phân khu thuộc Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn trước đây liên tục tổ chức các trận giao chiến với Lữ đoàn 173 dù, Lữ đoàn 199, Trung đoàn 11 kỵ binh thiết giáp Mỹ, một số đơn vị lính đánh thuê...


Tại Long An - Kiến Tường, quân và dân Phân khu 23 chống cuộc càn quét dài ngày của địch bắt đầu từ ngày 10 tháng 2 năm 1971, đánh hơn 600 trận, loại khỏi chiến đấu hàng nghìn tên địch. Riêng trên chiến trường biên giới, lực lượng vũ trang Phân khu đã đánh trên 38 trận, loại khỏi chiến đấu hàng trăm tên. Phần lớn cơ sở cách mạng ở nông thôn và vùng ven trên địa bàn tỉnh được khôi phục lại. Các lõm căn cứ được mở mới từ dọc sông Vàm Cỏ đến Vườn Thơm - Bà Vụ.


Tại Tây Ninh, lực lượng vũ trang vận dụng phương thức "hai chân, ba mũi" mở các đợt hoạt động quân sự nhằm vào hệ thống đồn bốt địch trên dọc quốc lộ 13, quốc lộ 22 và các cuộc hành quân của quân đội Sài Gòn nống ra vùng giáp ranh. Đội biệt động thị xã và các đơn vị an ninh đột kích 120 ấp chiến lược, xây dựng lại gần 300 cơ sở mật. Toàn tỉnh phát động được 260 cuộc đấu tranh chính trị dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Trên 3.000 thanh niên thoát ly vào căn cứ kháng chiến.


Tại Bà Rịa - Long Khánh, lực lượng vũ trang bám trụ đánh địch, bẻ gãy 3 cuộc hành quân lớn của quân đội Hoàng gia Úc vào Chiến khu Minh Đạm, làm phá sản chiến thuật ô, ụ của chúng. Các lực lượng kháng chiến kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, binh vận, kết hợp lực lượng bên ngoài với cơ sở nội tuyến bên trong, giải phóng hàng loạt xã, ấp, đặc biệt là các đồn điền cao su dọc tỉnh lộ 2.


Tại Gia Định và vùng ven Sài Gòn, Trung đoàn 268 và Trung đoàn Quyết Thắng cùng lực lượng du kích xã đẩy mạnh hoạt động đánh địch, phát động phong trào chiến tranh du kích ở Củ Chi, Trảng Bàng, Gò Vấp, Hóc Môn, đặc biệt ở các xã An Nhơn Tây, Phú Mỹ Hưng, Trung Lập Thượng... Chỉ trong tháng 4 năm 1971, du kích Củ Chi phá hủy gần 80 xe tăng, xe bọc thép của địch, diệt hàng chục ác ôn. Đoàn Đặc công 10 ở Rừng Sác tập kích tàu địch trong quân cảng Nhà Bè, bắn cháy tàu dầu 10.000 tấn nhiên liệu trên sông Lòng Tàu, phá vỡ thế bao vây của địch, nối lại các hành lang tiếp vận từ Rừng Sác đôn khu vực dân cư vùng tạm bị chiếm.


Trong thành phố Sài Gòn và các tỉnh lỵ miền Nam, phong trào đấu tranh chính trị phát triển lên một mức độ mới từ sau khi Mỹ mở rộng chiến tranh ra các nước Đông Dương. Các cuộc đấu tranh dưới nhiều hình thức khác nhau, gắn liền với từng biến cố chính trị diễn ra công khai, thành nhiều đợt liên tiếp nhau, có sự phối hợp nhiều lực lượng và kết nối giữa Sài Gòn với các đô thị khác. Lực lượng thanh niên, học sinh, sinh viên xuống đường biểu tình đòi Mỹ rút quân về nước, đả đảo Níchxơn, đả đảo Nguyễn Văn Thiệu, chống "quân sự hoá học đường", chống bắt lính, rồi đánh lính Mỹ, đốt xe Mỹ (chỉ tính từ tháng 12-1970 đến tháng 2-1971, đã có 37 xe Mỹ bị đốt cháy trên đường phố Sài Gòn). Giới văn nghệ sĩ dấy lên phong trào "Hát cho đồng bào tôi nghe" với những ca khúc yêu nước và cách mạng, thôi thúc lòng người. Giới văn hoá, trí thức phát động phong trào "Tìm về dân tộc" với nội dung tẩy chay nền văn hoá lai căng thực dân mới. Lực lượng công nhân nghiệp đoàn bãi công chống thuế lương bổng, chống sa thải. Các tầng lớp bình dân thành thị đấu tranh chống chiến tranh, đòi lập lại hoà bình, chống thủ đoạn gian lận, độc diễn trong bầu cử... Phong trào đấu tranh của thanh niên, học sinh, công nhân, trí thức, ký giả, tín đồ Phật giáo, Công giáo và các lực lượng chính trị đối lập với chính quyền Thiệu đã làm nên một mặt trận đấu tranh có quy mô lớn và rất sôi nổi, một đòn tiến công mạnh mẽ, có khả năng lan toả nhanh chóng.


Chương trình "bình định đặc biệt" và cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" cùng với các cuộc hành quân quy mô lớn khác trên chiến trường ba nước Đông Dương nằm trong chuỗi nỗ lực của Mỹ-ngụy nhằm tạo bước đột biến tiến tới hoàn thành chương trình "Việt Nam hoá chiến tranh", thực chất là nhằm giành chiến thắng cho chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ sau thất bại của chiến lược "chiến tranh cục bộ". Chuỗi nỗ lực ấy diễn ra trong bối cảnh cách mạng miền Nam nói chung và miền Đông Nam Bộ nói riêng đang trong thời đoạn khó khăn cùng cực. Nhận thức đầy đủ chủ trương của Trung ương Đảng trước sai lầm chiến lược của Mỹ khi mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, các cấp ủy Đảng và Bộ chỉ huy quân sự ở miền Đông Nam Bộ đã kịp thời nắm vững thời cơ, điều chỉnh chủ trương, kế hoạch và hệ thống biện pháp, huy động quân và dân toàn Miền vào cuộc phản công đánh địch bình định và hành quân càn quét trong thế trận chung của ba nước Đông Dương.


Thắng lợi của quân và dân Đông Nam Bộ trong hoạt động chống địch bình định nói chung và chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" trong mùa Xuân 1971 nói riêng đã loại khỏi vòng chiến đấu một bộ phận lớn sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, góp phần tạo ra thế và lực mới trên chiến trường Đông Nam Bộ, đặc biệt trên vùng biên giới Việt Nam - Campuchia. Trong tương quan chung, nó vừa có ý nghĩa chi phối, phân tán, cầm chân quân địch tại chỗ - địa Bản Đông Nam Bộ, trong đó có thành phố Sài Gòn - thủ đô của chính quyền Việt Nam cộng hòa, nơi phát ra chủ trương và chỉ đạo điều hành các hoạt động quân sự nói chung, chỉ đạo và điều hành các cuộc hành quân "Lam Sơn 719", "Toàn thắng 1-71" và "Quang Trung 4" nói riêng, nơi mà mỗi biến cố chính trị và quân sự đều có sức lan toả, ảnh hưởng nhanh chóng và sâu rộng đến nhiều nước trên thế giới, trong đó có nước Mỹ. Hoạt động chống bình định và chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" là đòn tiến công cộng hưởng với nỗ lực của toàn quân, toàn dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia nói chung, với Quân giải phóng miền Nam giành thắng lợi trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào mùa Xuân năm 1971 nói riêng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #86 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2025, 08:06:59 pm »

VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN XUNG PHONG QUẢNG TRỊ TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO

LÊ MINH TUẤN
Bí thư Tỉnh đoàn Quảng Trị


Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đã trôi qua 40 năm, nhưng những bài học lịch sử từ chiến dịch này vẫn còn nguyên giá trị. Đó không chỉ là bản hùng ca được viết nên bởi tình hữu nghị anh em đặc biệt Việt - Lào, mà đó còn là một trong những chiến dịch thể hiện đầy đủ những nét đặc sắc của nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam. Trong chiến công chung ấy, không thể không kể đến những đóng góp to lớn của lực lượng thanh niên xung phong trên mỗi nẻo đường chiến dịch đầy bom đạn, thử thách và hy sinh.

1. Đôi nét về lực lượng thanh niên xung phong Quảng Trị.

Cách đây 60 năm, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta bước vào giai đoạn quyết liệt, với tầm nhìn chiến lược về vai trò của thế hệ trẻ trong sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo và giao cho Ban Thường vụ Đoàn Thanh niên cứu quốc Việt Nam chuẩn bị việc thành lập lực lượng xung phong nhằm phát huy sức mạnh dời non lấp biến của thế hệ trẻ, xung kích phục vụ kháng chiến thắng lợi và là "trường học lớn" đào tạo các cán bộ cho Đảng, Nhà nước phục vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội tương lai. Ngày 15 tháng 7 năm 1950, Bác Hồ đã quyết định thành lập đội thanh niên xung phong công tác đầu tiên, gồm 225 đội viên. Quyết định lịch sử ấy đã tạo ra môi trường để các thế hệ thanh niên Việt Nam thể hiện lòng yêu nước, rèn luyện tinh thần chịu đựng gian khổ, khó khăn, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc. Kể từ đó, các thế hệ thanh niên xung phong đã lập nên nhiều chiến công xuất sắc trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc và nhiều thành tích vẻ vang trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nên truyền thống thanh niên xung phong anh hùng.


Là một bộ phận hợp thành trong phong trào cách mạng của thanh niên xung phong cả nước, tháng 4 năm 1965, Liên đội thanh niên xung phong giải phóng Quảng Trị ra đời với 300 đội viên, sau đó các đơn vị 331, 771, DKT2-XB, 368 và B30-VK2 lần lượt ra đời với hơn 1.000 đội viên.


Nhiệm vụ chính của lực lượng thanh niên xung phong Quảng Trị là vận chuyển vũ khí, lương thực phục vụ bộ đội chiến đấu, tải đạn ra mặt trận, cáng tải và chăm sóc thương binh, đào hầm hào, làm nhà, lán trại, kho hàng, làm đường giao thông, trực tiếp tham gia chiến đấu bảo vệ hành lang, bảo vệ các mục tiêu kinh tế trọng điểm.


Lực lượng thanh niên xung phong Quảng Trị được chia thành 3 bộ phận để làm nhiệm vụ ở 3 tuyến:

- Một bộ phận gồm 300 đồng chí thuộc liên đội thanh niên xung phong giải phóng chuyên bám vùng giáp ranh, cùng với các tiểu đoàn K8, K10, K14 trinh sát nắm tình hình hoạt động của địch, vừa chuyển vũ khí về đồng bằng phục vụ chiến đấu, vừa tiếp tế lên vùng hậu cứ, chuyển thương binh về nơi an toàn, vận động nhân dân ủng hộ kháng chiến, khi cần thiết tăng cường lực lượng chiến đấu cho K8, K10.

- Một bộ phận khoảng 400 đồng chí thuộc đơn vị 331, 771, B30-VK2 làm nhiệm vụ bám đường, bám tuyến suốt ngày đêm, chờ khi có hàng miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam là tiếp nhận. Bộ phận này hoạt động hết sức linh hoạt và sáng tạo, chia thành 10 tốp gùi cõng chạy tiếp sức từ trạm này qua trạm khác, từ đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh vào kho hầm, lán an toàn để phục vụ chiến đấu, phục vụ Khu ủy Trị - Thiên, Tỉnh ủy Quảng Trị. Họ luôn sát cánh cùng bộ đội Đoàn 559 san lấp hố bom, sửa chữa đường trên tuyến đường Hồ Chí Minh.

- Một bộ phận thuộc đơn vị DKT2-XB có 368 đồng chí làm nhiệm vụ xây dựng hầm hào, lán trại, kho tàng phục vụ các cơ quan lãnh đạo và bảo vệ các công trình trọng điểm nơi địa đầu tuyến lửa khu vực Vĩnh Linh.

Thanh niên xung phong Quảng Trị luôn bám trụ chiến trường từ những ngày đầu thành lập, vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, không tiếc máu xương, chiến đấu hy sinh lập nhiều chiến công hiển hách. Có thể khẳng định bất cứ một trận đánh nào, một chiến dịch nào diễn ra ở Mặt trận Quảng Trị đều có sự đóng góp xứng đáng của lực lượng thanh niên xung phong Quảng Trị, hoặc trực tiếp chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu, vận chuyển vũ khí lương thực ra mặt trận, cáng tải và chăm sóc thương binh, chôn cất liệt sĩ, đào hầm, làm nhà, lán trại, kho hàng, làm đường giao thông, trực tiếp cùng với các đơn vị bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực tham gia chiến đấu nhiều trận lớn nhỏ, góp phần lập nhiều chiến công vang dội.


Trong kháng chiến chống Mỹ, thanh niên xung phong Quảng Trị đã vận chuyển trên 800 ngàn tấn vũ khí, lương thực, thực phẩm, thuốc men chi viện cho chiến trường Trị Thiên; đưa hàng ngàn công văn, thư tín đến các cấp lãnh đạo, chỉ huy đảm bảo không thất lạc; chuyển về hậu cứ hàng trăm tấn tài liệu thu giữ được của địch; đưa đón hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ ra Bắc, vào Nam; vận động nhân dân vùng giải phóng đóng góp 900 tấn lương thực cho cách mạng; xây dựng nhiều căn cứ, hậu cứ cho Khu ủy Trị - Thiên và Tỉnh ủy Quảng Trị...


Trong gian lao rèn luyện, thanh niên xung phong Quảng Trị đã hun đúc tinh thần yêu nước, yêu dân tộc, trung thành tuyệt đối với Đảng, kiên cường bám trụ, chịu đựng mọi gian khổ hy sinh, giữ vững niềm tin vào thắng lợi cuối cùng, sẵn sàng hiến dâng những năm tháng đẹp nhất của tuổi thanh xuân cho quê hương, đất nước. Hàng trăm đồng chí đã được kết nạp Đảng tại mặt trận, nhiều đồng chí được đề bạt bổ sung vào lực lượng chủ lực. Trên 100 đồng chí đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công, danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ. Trên 1.000 đồng chí được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lực lượng thanh niên xung phong Quảng Trị đã có 85 đồng chí hy sinh và 475 đồng chí bị thương, hàng trăm đồng chí khác bi bệnh tật, bị nhiễm chất độc da cam/điôxin và để lại nhiều di chứng nặng nề cho thế hệ sau...


Ghi nhận những cống hiến, hy sinh và những thành tích xuất sắc của thanh niên xung phong Quảng Trị, ngày 22 tháng 2 năm 2010, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho thanh niên xung phong Quảng Trị.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #87 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2025, 08:07:35 pm »

2. Vai trò của thanh niên xung phong Quảng Trị trong Chiến dịch phần công Đường 9 - Nam Lào.

Lực lượng thanh niên xung phong Quảng Trị tham gia Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào gồm có:

- Đại đội 771: Phụ trách tuyến đường từ bắc sông Bến Hải đến bắc sông Ba Lòng, có nhiệm vụ tham gia mở đường cho chiến dịch, vận chuyển vũ khí đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men cho chiến trường, đưa đón bộ đội, cán bộ vào chiến dịch và đưa thương binh ra tuyến sau điều trị, làm bệnh viện dã chiến (Bệnh viện H9), cứu thương, trực tiếp tham gia chiến đấu, dẫn giải tù binh phản chiến của Trung đoàn 56 ra Bắc...

- Đại đội 331, DKT2-XB, Trung đội nữ B30-VK2 và một số tiểu đội của Liên đội thanh niên xung phong giải phóng Quảng Trị: mở đường, vận chuyển vũ khí đạn dược, lương thực, thực phẩm cho chiến dịch, đào hầm hào, làm lán trại, kho hàng...

Bên cạnh lực lượng thanh niên xung phong Quảng Trị, tham gia phục vụ Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào còn có lực lượng thanh niên xung phong Quảng Bình, Hà Tĩnh, Thanh Hoá, Nghệ An và hàng trăm dân công hoả tuyến của các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Hướng Hóa, Đắc Krông. Vào những lúc cao điểm, lực lượng thanh niên xung phong và dân công hoả tuyến tham gia chiến dịch lên đến trên 1.000 người. Trong không khí sục sôi đánh Mỹ của cả nước, hàng trăm thanh niên Quảng Trị và các tỉnh Bắc Trung Bộ đã hăng hái bước vào chiến dịch, không quản ngại gian khổ, nguy hiểm. Tinh thần của tuổi trẻ đã biến những nẻo đường chiến dịch dưới mưa bom bão đạn của kẻ thù trở thành ngày hội của chí khí anh hùng cách mạng.


Các chiến sĩ thanh niên xung phong luôn phải đối mặt với muôn vàn hiểm nguy rình rập: bom đạn do địch đánh phá cung đường ác liệt suốt ngày đêm, chất độc hóa học rải xuống khắp nơi thiêu rụi cả cánh rừng, cái đói, cái rét, ốm đau bệnh tật luôn đe dọa. Cuộc sống khổ cực, thiếu thốn trăm bề nhưng các anh, các chị vẫn cố gắng vượt lên tất cả dùng môn rừng thay cơm, tàn mái tranh thay muối, chặt cây giang, cây nứa để lấy nước uống thay nước suối đã bị nhiễm độc. Trong gian khổ hiểm nguy, các chiến sĩ thanh niên xung phong vẫn "vai trăm cân, chân vạn dặm, vững tay cuốc, tay xẻng mở đường tải đạn, vận chuyển hàng hóa, thư tín, vừa chăm sóc đưa thương binh về tuyến sau bảo vệ đường dây huyết mạch Bắc - Nam thông suốt. Có lúc địch đánh vào đội hình, hàng hóa, vũ khí không vận chuyển được bằng cơ giới, nhưng sau đó các chiến sĩ thanh niên xung phong đã tổ chức gùi thồ với số lượng hàng hóa nặng gấp đôi để đảm bảo cung câp đu yêu cầu nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, xứng đáng với danh hiệu "Kiện tướng hành lang, gương mẫu đảm đang, chân đồng vai sắt". Các chiến sĩ thanh niên xung phong thường xuyên cõng trên lưng từ 50 - 60kg hàng hóa trong khi rất nhiều chiến sĩ trọng lượng cơ thể chưa đến 45kg.


Tuy vậy, trong gian khổ, ác liệt của chiến tranh, giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, những người thanh niên xung phong vẫn luôn lạc quan yêu đời, giữ vững niềm tin sắt son vào Đảng, Bác Hồ và thành công của cuộc kháng chiến. Họ đã dùng lời thơ, tiếng hát để "át tiếng bom" và động viên nhau quyết tâm đánh giặc, cả ngày gùi cõng vũ khí, lương thực, làm đường, lưng áo ướt đẫm mồ hôi và bùn đất, nhiều người không có quần áo để thay, nhưng đêm đêm vẫn sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, kể chuyện quê nhà, tổ chức dạy văn hóa cho những người chưa biết chữ, trao đổi kinh nghiệm công tác, chiến đấu đánh giặc rất sôi nổi... Tình cảm đồng chí, đồng đội như trong một gia đình, sông đầm ấm yêu thương, động viên nhau chịu dựng gian khổ, hy sinh, giữ vững niềm tin về ngày chiến thắng.


Thanh niên xung phong Quảng Trị và các tỉnh Bắc Trung Bộ đã có sự đóng góp tích cực vào thắng lợi của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Máu xương của biết bao thanh niên xung phong đã đổ xuống từng mét đường cho cung đường nối liền thông suốt, đảm bảo lực lượng, vũ khí, lương thực cho chiến dịch toàn thắng. 40 năm đã trôi qua, nhưng tinh thần sẵn sàng xung phong đảm nhận những nhiệm vụ khó khăn, gian khổ, chấp nhận mọi thử thách ác liệt của các chiến sĩ thanh niên xung phong có sức cổ vũ mạnh mẽ lớp lớp thanh niên hôm nay vươn lên. Hào khí của thế hộ thanh niên xung phong đi trước vẫn âm vang, thôi thúc hàng triệu trái tim tuổi trẻ hôm nay tình nguyện, xung phong "lên rừng, xuống biển" làm nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, xoá đói giảm nghèo, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo, sẵn sàng gia nhập lực lượng vũ trang bảo vệ an ninh trật tự, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ của đất nước, luôn xứng đáng với lời khen ngợi của Bác Hồ kính yêu "Đâu cần thanh niên có /Việc gì khó có thanh niên".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #88 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2025, 08:11:27 pm »

CÔNG TÁC BẢO ĐẢM PHÒNG HOÁ CỦA BỘ ĐỘI HOÁ HỌC TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO (1971)

Đại tá, TS NGUYỄN THÀN HỮU
Ban Tổng kết - Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu


Đầu năm 1971, Mỹ và quân đội Sài Gòn bắt đầu thực hiện kế hoạch đánh ra vòng ngoài bằng các cuộc tiến công trên chiến trường Lào, Campuchia nhằm triệt phá và cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược của ta... Trong các cuộc tiến công nói trên, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là lớn nhất, nhằm cắt đường vận chuyển chiến lược của ta từ gốc, triệt phá cơ sơ, kho tàng, hậu cần chiến lược, làm cho chủ lực ta không thể đánh lớn trong những năm 1971, 1972...


Để đánh bại âm mưu của địch, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chủ trương mở chiến dịch phản công ở Đường 9 - Nam Lào, nhằm giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, làm thay đổi cục diện chiến trường Đông Dương đánh bại một bước cơ bản chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ.


Cục Hoá học được Bộ Tổng Tham mưu giao nhiệm vụ tham mưu cho Bộ chỉ đạo công tác bảo đảm phòng hoá cho các lực lượng tham gia chiến dịch và sử dụng vũ khí đặc chủng chiến đấu tiêu diệt địch. Đây là lần thứ hai, Cục Hoá học được giao nhiệm vụ bảo đảm phòng hoá cho một chiến dịch lớn trên chiến trường Trị - Thiên.


Chấp hành mệnh lệnh của Bộ, căn cứ tình hình, nhiệm vụ cụ thể, Cục Hoá học đã tăng cường cán bộ và phân đội hoá học vào Trị - Thiên, thành lập Phòng Hoá học chiến dịch trên cơ sở lực lượng hoá học B70 và Bộ Tư lệnh 702, trong đó có các đồng chí Kiều Đức Minh, Phạm Hường, Bùi Chương, Hồ Sĩ Bửu, Nguyễn Ngọc Linh... do đồng chí Trịnh Minh Quát làm trưởng phòng. Trực thuộc Phòng Hoá học chiến dịch có một đại đội hoá học của B70 và một tiểu đội hoá học của Bộ Tư lệnh 702.


Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định trong chiến dịch này dịch sử dụng vũ khí hoá học chủ yếu là loại chứa chất độc CS dạng khói và bột với nồng độ cao, đánh vào các mục tiêu quan trọng của ta, nhất là các trận địa hoả lực, trận địa chốt, trận địa vây lấn. Từ nhận định trên, Bộ Tổng Tham mưu giao cho Bộ đội Hoá học nhiệm vụ bảo đảm cho các lực lượng tham gia chiến địch có đủ khả năng đề phòng được loại chất độc địch đang sử dụng với quy mô lớn, nồng độ cao; chủ yếu tập trung bảo đảm cho các đơn vị đánh hiệp đồng binh chủng trên hướng chính của chiến dịch, nhất là đối với các mục tiêu quan trọng. Riêng cơ quan, phân đội hoá học cấp chiến dịch phải chuấn bị để có thể làm được nhiệm vụ trong một số tình huống địch liều lĩnh sử dụng chất độc có độc tính cao hơn; nghiên cứu sử dụng phân đội hoá học tham gia chiến đấu hiệp đồng binh chủng để rút kinh nghiệm; dùng màn khói ngụy trang bảo đảm cho xe tăng và bộ binh chiến đấu ban ngày ở một số tình huống; dùng phân đội phun lửa phối hợp chiến đấu với bộ binh và đặc công.


Nhiệm vụ cụ thể là lổ chức các đài quan sát bảo đảm cho sở chỉ huy các cấp; tiến hành trinh sát bảo đảm các trục đường cơ động chính từ phía sau ra phía trước, các khu vực trọng điểm thuộc hậu phương chiến dịch; làm nòng cốt hướng dẫn cách đề phòng, tiêu độc và khắc phục hậu quả chất độc hoá học do dịch tập kích cho tất cả các lực lượng tham gia chiến dịch; tổ chức kho dự trữ khí tài hoá học sẵn sàng cấp phát bổ sung cho các đơn vị; sử dụng khí tài phát khói ngụy trang che khuất cho xe tăng và nghi binh đánh lừa địch trên một hướng chiến dịch; tổ chức thu tang vật hoá học của địch ở các vị trí bị ta đánh tiêu diệt và những nơi địch rút chạy.


Trên cơ sở cán bộ, phân đội hoá học tại chỗ và được tăng cường, Phòng Hoá học chiến dịch bố trí tại sở chỉ huy Bộ Tư lệnh 702 hai cán bộ và một tiểu đội có nhiệm vụ làm nòng cốt phòng hoá cho cơ quan, các đơn vị trực thuộc và cơ động trinh sát các tình huống hoá học thuộc hậu phương chiến dịch. Tại Bộ Tư lệnh B70 (hướng chủ yếu của chiến dịch) có 5 cán bộ và một đại đội, bố trí trên đường cơ động của chiến dịch, các khu vực trọng điểm, bảo đảm cho chỉ huy sở B70; làm nòng cốt phòng hoá, tổ chức kho bổ sung khí tài và sẵn sàng cơ động bảo đảm cho các đơn vị ở các khu vực Cha Ky, Mường Trương; tăng cường cho Sư đoàn 308 một tổ và các trung đoàn binh chủng thuộc B70 không có biên chế hoá học làm nòng cốt phòng hoá; tăng cường một trung đội bảo đảm màn khói ngụy trang cho xe tăng chiến đấu; tham gia nghi binh chỉ huy sở giả; tăng cường súng phun lửa cho bộ binh và đặc công của B70 chiến đấu. Tại hướng đông, bố trí trong khu vực Sở chỉ huy 155 bảo đảm phòng hoá cho sở chỉ huy; sẵn sàng cơ động trinh sát các tình huống hoá học; sử dụng từng tổ đến các đơn vị, các khu vực chiến đấu huấn luyện và hướng dẫn phòng hoá; dùng khói nghi binh và ngụy trang bảo đảm cho pháo mặt đất chiến đấu. Các trung đoàn, sư đoàn hướng chủ yếu đặt đài quan sát bảo đảm cho sở chỉ huy trung, sư đoàn và làm lực lượng cơ động phòng hoá; tăng cường cho các tiểu đoàn bộ binh làm nhiệm vụ nòng cốt phòng hoá; thực hành trinh sát và thu tang vật hoá học.


Trên hướng chủ yếu của chiến dịch, lực lượng phòng hoá được biên chế và tăng cường đủ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ; có lực lượng cơ động cho các khu vực chủ yếu phía trước và cả phía sau của chiến dịch, đáp ứng được với yêu cầu cơ động và kịp thời trong công tác bảo đảm. Những đơn vị trước đây không có lực lượng hoá học đã kịp thời tăng cường để triển khai nhiệm vụ phòng hoá.


Lực lượng hoá học của các đơn vị còn lại như sau: Sư đoàn 308 có một đại đội; Sư đoàn 312 có ba cán bộ và một trung đội; Sư đoàn 324 có 4 cán bộ và 4 tổ; Sư đoàn 304 có một cán bộ; Trung đoàn 2 và Trung đoàn 6 Sư đoàn 304 mỗi trung đoàn có một cán bộ và hai tiểu đội; Trung đoàn 4 Sư đoàn 320 có một cán bộ và một tiểu đội; Trung đoàn 9 công binh B70 có một cán bộ; Sư đoàn 2 có ba cán bộ và một trung đội; B5 có ba cán bộ và hai tiểu đội. Trong giai đoạn chuẩn bị, Bộ đã tăng cường cho chiến dịch hai tiểu đội; giữa chiến dịch tăng cường cho B70 một đại đội súng phun lửa 24 khẩu.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #89 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2025, 08:12:15 pm »

Được giao nhiệm vụ bảo đảm khí tài phòng hoá, chỉ trong một thời gian ngắn, Kho 61 - Cục Hoá học đã cấp phát tại chỗ và trực tiếp vận chuyển cho chiến dịch 224.664 mặt nạ phòng độc các loại, 61 khẩu súng phun lửa nhẹ, 394 thùng khói hải quân, 10.462 hộp khói cỡ nhỏ, 2.000 hộp trinh độc; đồng thời ém sẵn 10.570 mặt nạ các loại tại Binh trạm 26 sẵn sàng cấp phát khi có lệnh. Trước khi bước vào chiến dịch, hướng chủ yếu B70 được bổ sung 15.000 mặt nạ M04, bảo đảm 90-100% số lượng, có dự trữ khoảng 30%; các đơn vị của Đoàn 559 chủ yếu dùng khí tài ứng dụng, sau được bổ sung 15.060 mặt nạ, 30 máy dò độc, bảo đảm 60%; các đơn vị của B5 được bảo đảm 100% cho lực lượng chiến đấu, dự trữ khoảng 25%; binh, quân chủng thuộc Bộ Tư lệnh 702 được bảo đảm từ 50-100% mặt nạ M04; Sư đoàn 312 và Sư đoàn 324 trang bị mặt nạ ứng dụng là chủ yếu, một số ít mặt nạ KT-68 và mặt nạ thu được của địch. Trong quá trình chiến dịch, Phòng Hoá học đã bổ sung cho các hướng và các đơn vị. Đồng thời B70 đã bố trí hai kho khí tài tại ngã ba Dân chủ và Cha Ky, đã cấp bổ sung 5.000 mặt nạ các loại cho các đơn vị. Việc vận chuyển bổ sung khí tài chủ yếu do xe vì các kho khí tài bố trí cùng với kho gạo và kho đạn.


Ta có quyết tâm rất lớn, trong khi địch cũng có nhiều âm mưu và tham vọng lớn, thể hiện tính chất ngoan cố, liều lĩnh phiêu lưu và mạo hiểm. Từ đó, tính chất chiến dịch sẽ rất gay go, ác liệt và phức tạp. Địch sẽ dốc hết lực lượng, khả năng và áp dụng mọi biện pháp, kể cả việc sử dụng chất độc hoá học để bảo đảm cuộc hành quân của chúng thắng lợi và cứu vãn tình thế bị thất bại. Vì vậy, chúng ta phai nghiên cứu, chỉ đạo công tác phòng hoá như thế nào cho phù hợp và đạt được hiệu quả cao nhất.


Trước khi tiến hành cuộc hành quân "Lam Sơn 719", địch đã có sự chuẩn bị để sử dụng vũ khí hoá học. Mệnh lệnh tác chiến của tướng Hoàng Xuân Lãm - chỉ huy trưởng cuộc hành quân, đã quy định việc sử dụng các loại vũ khí hoá học. Giao nhiệm vụ cho các sư đoàn, lữ đoàn, địch đã chỉ thị cho các đơn vị phải đề phòng khi chúng sử dụng chất độc hoá học và đề phòng "Việt Cộng" có khả năng sử dụng đạn hoá học. Lực lượng bộ binh, dù, thủy quân lục chiến, biệt động quân, thiết giáp, pháo binh địch đều được trang bị 100% mặt nạ. Mỗi tên có từ 1-2 quả lựu đạn CS thể khói và bột. Súng M79 mỗi cơ số có từ 6 - 12 viên đạn CS. Mỗi đại đội có từ 3 - 4 máy phóng đạn SC kiểu E8. Ngoài ra, chúng còn trang bị ống phóng CS cỡ 40mm và được không quân, pháo binh Mỹ chi viện hoá học bằng không quân và pháo binh. Binh lính địch được huấn luyện từ 2 - 3 giờ về cách phòng chống hơi cay... Trên chiến trường miền Nam, địch còn nhiều cơ sở tàng trữ, lắp ráp và kho chứa chất độc. Riêng chiến trường Quảng Trị, địch tổ chức phòng ngự lâu ngày, có hệ thống công sự, chướng ngại vật tương đối vững chắc, địa hình quen thuộc, đường cơ động thuận tiện; địch tập trung mọi khả năng quyẽt giữ phòng tuyến nên nhiều năm địch đã sử dụng chất độc hoá học, chất cháy trong chiến đấu.


Đặc điểm công tác phòng hoá của ta trong chiến dịch này là phải bảo đảm cho lực lượng lớn, trên một không gian rộng ước khoảng 2.400km2, lực lượng ta và địch đều tập trung, mật độ binh khí dày dặc, chiến đấu quyết liệt, hướng gió, địa hình có thể tạo điều kiện để dịch dùng chất độc và chất cháy. Mặt khác, trong điều kiện phải bảo đảm cho nhiều hướng với những nhiệm vụ khác nhau như tác chiến hiệp đồng binh chủng, tình huống chiến đấu diễn biến phức tạp và trong điều kiện khẩn trương, đánh xong chiếm giữ, củng cố và phát triển, việc bảo đảm trang bị và bổ sung khí tài phòng hoá có nhiều khó khăn. Trình độ đề phòng và xử lý tình huống hoá học của các đơn vị đều đã được huấn luyện, có kinh nghiệm đề phòng chất độc CS thể khói, được trang bị khí tài đầy đủ, ý thức phòng hoá có tiến bộ, song lực lượng nòng cốt phòng hoá có hạn, hệ thống tổ chức cơ quan, phân đội phòng hoá chưa hoàn chỉnh, trình độ còn thấp so với yêu cầu nên địch sử dụng vũ khí hoá học với quy mô lớn, độc tính cao ta sẽ gặp khó khăn. Các phân đội chuyên môn về tổ chức, trình độ và trang bị chưa đáp ứng được khi phải xử lý những tình huống tiêu độc cho mặt đất, cho người và binh khí kỹ thuật cỡ lớn...


Ngày 8 tháng 2 năm 1971, đúng như nhận định của ta, lực lượng địch gồm 47 tiểu đoàn bộ binh, 9 thiết đoàn và 21 tiểu đoàn pháo của quân đội Sài Gòn, 7 tiểu đoàn thủy quân lục chiến và 2 tiểu đoàn cơ giới Mỹ, được hàng trăm máy bay trực thăng, máy bay cường kích và B-52 chi viện, mở cuộc hành quân đánh chiếm Đường 9 - Nam Lào. Chúng dự tính chậm nhất là sau hai ngày hành quân sẽ đặt chân tới Sê Pôn và sau đó sẽ ào ạt tiến xuống Xa Van Na Khẹt, hình thành tuyến ngăn chặn, chia cắt tuyến chi viện chiến lược Bắc - Nam. Nhưng thực tế cuộc hành quân của địch vừa bắt đầu đã liên tiếp bị quân ta phản công quyết liệt. Địch bị thiệt hại nặng buộc phải co cụm ở Bản Đông để chống đỡ và chúng đã sử dụng chất độc hoá học để đánh vào các khu vực trú quân, tập kết, các vị trí bố trí triển khai và các mục tiêu chiến đấu quan trọng của ta.


Do được chuẩn bị chu đáo từ trước, ở hướng chủ yếu của chiến dịch, các phân đội hoá học của B70, Sư đoàn 308, Trung đoàn 6 Sư đoàn 320, Trung đoàn 2 Sư đoàn 304 đã tích cực làm công tác bảo đảm phòng hoá cho đơn vị mình. Lực lượng hoá học đã phân tán thành các tổ, nhóm bảo đảm cho bộ đội tác chiến, tổ chức quan sát, trinh sát, phát hiện địch đánh chất độc, dùng màn khói ngụy trang, nghi binh bảo đảm cho bộ đội chiến đấu. Chỉ trong một số ngày đầu, địch đã 15 lần đánh chất độc hoá học vào các chốt 311, 351, 402, 229, 863, 684; bốn lần đánh vào các trận địa hoả lực; 14 lần đánh vào các khu vực trú quân, sở chỉ huy, kho tàng, đài quan sát chỉ huy pháo của ta. Lực lượng hoá học được bố trí tại các đơn vị nói trên đã tích cực, chủ động phát hiện triệu chứng địch sử dụng chất độc hoá học, thông báo, báo động kịp thời để bộ đội phòng chống có hiệu quả, bình tĩnh xử lý kịp thời các tình huống địch tập kích hoá học, giữ vững sức chiến đấu và bảo đảm cho bộ đội chiến đấu liên tục giành thắng lợi. Nhiều tình huống địch đánh chất độc vào đội hình chiến đấu của ta đã được lực lượng hoá học trinh sát và khắc phục ngay hậu quả đã củng cố lòng tin cho các lực lượng chiến đấu đối với Bộ đội Hoá học.


Bên cạnh nhiệm vụ phòng hoá, các phân đội hoá học còn sử dụng màn khói ngụy trang, nghi binh bảo đảm cho bộ đội chiến đấu. Từ ngày 17 tháng 2 đến ngày 25 tháng 2 năm 1971, tổ hoá học của B70 đã phối hợp với lực lượng thông tin dùng khói nghi binh khu vực sở chỉ huy giả, thu hút 6 đợt B-52 và 31 lần chiếc phản lực đến ném bom toạ độ. Tổ này còn trinh sát thực địa chuẩn bị khói ngụy trang bảo đảm cho tiểu đoàn xe tăng T54 cơ động phản kích đánh địch ở đồi Không tên, điểm cao 456 và Bản Đông, nhưng do tình hình địch và nhiệm vụ xe tăng thay đổi nên chưa thực hành thả khói. Phân đội hoá học của B5 cũng chuẩn bị bốn trận địa pháo giả, một tuyến khói nghi binh, một tuyến khói ngụy trang che khuất bảo đảm cho một trung đoàn pháo chiến đấu, nhưng chưa thực hiện trận thả khói nào vì không có thời cơ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM