vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #130 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2026, 09:11:55 pm » |
|
GIÀNH VÀ GIỮ QUYỀN CHỦ ĐỘNG TRÊN CHIẾN TRƯỜNG - YẾU TỐ TRỰC TIẾP QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI CỦA CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 Đại tá, TS TRẦN VĂN THỨC Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Pháp - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Đại úy, ThS LÊ VĂN CỬ Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào (30-1 - 23-3-1971) là chiến dịch phản công có ý nghĩa chiến lược. Thắng lợi của chiến dịch đã làm thay đổi tương quan so sánh lực lượng và cục diện chiến trường, góp phần làm thất bại một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ mở ra thời cơ mới thuận lợi cho cách mạng Việt Nam Lào và Campuchia. Góp phần tạo nên thắng lợi đó bao gồm nhiều yếu tố tạo thành, trong đó, giành và giữ quyền chủ động chiến lược trên chiến trường là yếu tố trực tiếp quyết định. Điều đó được thể hiện: 1. Phán đoán đúng âm mưu, ý đồ hành động của địch, nghiên cứu nắm vững quy luật hoạt động tiến công của chúng. Đến cuối năm 1970, tuy liên tiếp bị thất bại trên chiến trường ba nước Đông Dương, nhưng đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố tiếp tục thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", quan trọng là củng cố thế phòng ngự ở miền Nam Việt Nam, cố giữ cho tình hình Campuchia không xấu thêm và giằng co với ta ở Lào. Để đạt mục tiêu trên, đế quốc Mỹ tính toán rằng phải cắt đứt được hoàn toàn tuyến vận tải chiến lược từ Bắc vào Nam của ta, làm cho các lực lượng cách mạng ở miền Nam suy yếu, không thể đánh tập trung quy mô lớn trong mùa khô 1971 và cả trong năm 1972. Một trong những trọng điểm được chúng xác định là khu vực Đường 9 - Nam Lào do đây là nơi tập trung nhiều kho tàng dự trữ chiến lược của ta, là "cuống họng" của tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh. Thực hiện mục tiêu đầy tham vọng đó, chúng đồng thời mở ba cuộc hành quân chiến lược 1 (Hành quân "Lam Sơn 719" đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào: hành quân Toàn thắng 1-71" đánh lên Kông Pông Chàm, Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia) và hành quân "Quang Trung 4" đánh ra vùng Ngã ba biên giới) tại ba địa điểm trên tuyến hành lang chiến lược Bắc - Nam, âm mưu phân tán lực lượng chủ lực ta để tập trung vào hướng Nam Lào đồng thời thực hiện chia cắt tuyến vận chuyển chiến lược của ta ở ba điểm Sê Pôn, A Tô Pơ, Mỏ Vẹt - Lưỡi Câu, trong đó Sê Pôn được xác định là trọng điểm. Sớm nhận rõ âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù, ngay từ đầu năm 1970, Bộ Chính trị đã chỉ ra: địch tiếp tục thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" ở miền Nam Việt Nam với các biện pháp chủ yếu: đẩy mạnh "bình định" nông thôn; tích cực xây dựng và phát triển quân Sài Gòn để thay quân Mỹ rút dần về nước; củng cố chính quyền các cấp; tập trung đánh phá hậu cần của ta để làm suy yếu lực lượng cách mạng. Để thực hiện ý đồ trên, đế quốc Mỹ sẽ mở rộng chiến tranh ra các nước khác trên bán đảo Đông Dương theo những phương thức và hạn độ mà chúng cho là thích hợp. Tháng 6 năm 1970, Bộ Chính trị họp ra Nghị quyết về Tình hình mới ở bán đảo Đông Dương và nhiệm vụ mới của chúng ta, xác định nhiệm vụ cho quân và dân ta là: "tăng cường khối đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương, trở thành một khối thống nhất có một chiến lược chung, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ba nước chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai" 1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 31, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 250). Về âm mưu, thủ đoạn cụ thể của địch, Bộ Chính trị nhận định: Sau thất bại khi đánh sang Campuchia, địch sẽ còn tiếp tục các hành động quân sự mới và chỉ rõ phương hướng tiến công của địch trong mùa khô 1970-1971 là hành lang chiến lược Trung - Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Quyết tâm của ta là nhất thiết bảo vệ bằng được tuyến vân tải chiến lược Bắc - Nam, chuẩn bị sẵn sàng đánh địch trên các hướng: Đường 9, vùng Ba biên giới và Đông Bắc Campuchia. Trường hợp địch đánh ra Đường 9 thì đó là thời cơ thuận lợi cho ta tiêu diệt chúng. Về khả năng địch đánh ra Đường 9 - Nam Lào, ta phán đoán như sau: - Nếu địch đánh ra hướng Đường 9 - Nam Lào, chúng có thể bất ngờ đánh và chiếm các khu vực Bản Đông, Sê Pôn, Mường Noòng với lực lượng mỗi nơi một chiến đoàn. - Địch sẽ sử dụng 15 đến 20 tiểu đoàn quân Sài Gòn, phía tây có sự phối hợp với quân ngụy Lào và quân Thái Lan khoảng từ 8 đến 10 tiểu đoàn. Khu vực có thể đánh chiếm là Bản Đông, Sê Pôn, Mường Phìn, Pha Lan. - Sử dụng tập trung quân Sài Gòn, có quân Mỹ yểm trợ khoảng 25 đến 30 tiểu đoàn đánh ra Đường 9, đoạn Na Bô, Tha Mé. Ở phía tây có khoảng 13 đến 15 tiểu đoàn quân phái hữu Lào và quân Thái Lan hoạt động phối hợp. Trên cơ sở phán đoán đó, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo các đơn vị nghiên cứu các thủ đoạn tiến công, cách ra quân đánh chiếm từng mục tiêu; nhận định về những điểm mạnh, yếu của địch đổ có các phương án tác chiến thích hợp. Cũng do phán đoán đúng âm mưu cơ bản của địch, nên khi thực hành chiến dịch, sau khi bẻ gãy cánh Bắc của chúng, ta tiếp tục phán đoán đúng hai khả năng có thể xảy ra: Một là, địch ngoan cố tiếp tục lên Sê Pôn để cố thực hiện mục đích ban đầu hoặc mục đích hạn chế hơn nhằm vớt vát ảnh hưởng về chính trị. Hai là, địch chuyển xuống hướng nam. Trong đó, ta nhấn mạnh khả năng thứ nhất và đã có những biện pháp thực tế để tăng cường phòng thủ Sẽ Pôn, buộc địch phải điều chỉnh kế hoạch, từ bỏ âm mưu đánh chiếm Sê Pôn. Vậy là, do phán đoán đúng ý đồ của địch, ta đã giành quyền chủ động, buộc địch phải điều chỉnh kế hoạch, bị động đối phó với ta. Không những phán đoán đúng âm mưu, ý đồ hành động của địch, ta còn nghiên cứu nắm vững quy luật hoạt động trong chiến dịch tiến công của chúng. Ngay từ đầu, ta đã phán đoán dịch có thể huy động 30 - 35 tiểu đoàn bộ binh, sử dụng hoả lực không quân, pháo binh tối đa cùng nhiều phương tiện cơ động để tạo ưu thế ngay từ đầu. Địch sẽ tiến công bằng nhiều cánh, nhiều mũi, dùng máy bay lên thẳng đổ bộ lớn, dùng lực lượng cơ giới lớn làm nòng cốt thọc sâu của các mũi đột kích chính. Các chiến đoàn, trung đoàn địch sẽ được sử dụng để tiến công thọc sâu, dùng máy bay lên thẳng để đổ quân chiếm các điểm cao. Với khu vực Đường 9 - Nam Lào, địch sẽ lấy Đông Hà làm hậu cứ, Khe Sanh - Lao Bảo làm tuyến triển khai lực lượng hành quân, Đường 9 làm trục tiến công chủ yếu có kết hợp với hai cánh bảo vệ sườn phía bắc và phía nam con đường này. Ta còn dự kiến, sau khi chiếm được Bản Đông, có thể địch sẽ tiến lên Sê Pôn hoặc lật cánh xuống Sa Đi - Mường Noòng. Thực tế chiến dịch, về cơ bản đã diễn ra như đúng dự kiến của ta. Với những phán đoán chính xác, ta đã sớm tích cực chuẩn bị chiến trường, lực lượng và công tác bảo đảm, bày sẵn thế trận, sẵn sàng chiến đấu tiêu diệt địch trong thế chủ động.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #131 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2026, 09:13:13 pm » |
|
2. Tổ chức chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị mọi mặt bao dam và các lực lượng tham gia chiến dịch, kể cả lực lượng tại chỗ và cơ động.
Trên cơ sở phán đoán đúng âm mưu, ý đồ hành động của địch, từ mùa Hè năm 1970, Quân ủy Trung ương chủ trương chủ động chuẩn bị mọi mặt trên các chiến trường Trung Hạ Lào và nam Quân khu 4, đồng thời chỉ thị các Bộ Tư lệnh chiến trường 132 và B3 (Nam Bộ và Tây Nguyên) tiến hành chuẩn bị chiến trường ở Đông Bắc Campuchia và vùng Ba biên giới. Bộ Tổng Tham mưu vạch kế hoạch tác chiến, điều động lực lượng ém sẵn ở các hướng dự kiến địch có thể tiến công lớn.
Xác định đây là chiến dịch tác chiến hiệp đồng binh chủng lớn, khối lượng vật chất phải tiêu thụ nhiều, bộ đội phải cơ động nhanh, kịp thời; một mạng lưới đường sá chiến dịch tương đối hoàn chỉnh, bao gồm đường trục dọc, đường ngang, đường nhánh, đường vòng, v.v. đã nhanh chóng được hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu vận chuyển của chiến dịch.
Việc tổ chức tốt mạng lưới đường sá, công tác bảo đảm hậu cần được tiến hành chu đáo đã đáp ứng yêu cầu của một chiến dịch phản công hiệp đồng binh chủng lớn. Ngay từ tháng 11 năm 1970, các trạm hậu cần và các cụm kho chiến dịch bắt đầu được xây dựng. Công tác vận chuyển được tiến hành khẩn trương. Tính đến tháng 1 năm 1971, trước khi chiến dịch bắt đầu, lượng vật chất đưa vào các hướng chiến dịch đã lên tới 60 nghìn tấn, có thể bảo đảm cho 4 đến 5 vạn quân tác chiến trong thời gian từ ba đến bốn tháng. Ngoài ra, trên các tuyến vận tải thuộc Đoàn 559, hơn 30.000 tấn vật chất dự trữ cũng đã được tập kết, cất giấu1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập VI: Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.254). Các sư đoàn chủ lực cơ động được trang bị đầy đủ vật chất, tiến hành triển khai trinh sát thực địa, sẵn sàng bước vào trận đánh.
Trên cơ sở các bệnh viện, bệnh xá của Đoàn 559, Mặt trận Trị - Thiên, Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị và các đội điều trị, đội phẫu thuật của Cục Quân y, mạng lưới quân y chiến dịch được xây dựng, có khả năng cấp cứu và điều trị ở tuyến một cho hàng ngàn thương, bệnh binh.
Hệ thống thông tin liên lạc phục vụ tác chiến cũng được tổ chức chuẩn bị sẵn sàng. Do có sự chuẩn bị chu đáo, khi chiến dịch bắt đầu, lãnh đạo và chỉ huy chiến dịch đã sử dụng được mạng vô tuyến cơ bản để chỉ huy lực lượng tại chỗ đánh địch, kịp thời ngăn chặn bước tiến của chúng, đồng thời chỉ huy bộ đội chủ lực cơ động triển khai đội hình chiến dịch và đánh đòn phủ đầu một cách chủ động, tạo nên sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động, đưa dịch vào thế trận của ta đã bày sẵn để tiêu hao, tiêu diệt chúng.
Để chủ động đối phó với địch, ta đặc biệt chú trọng công tác tổ chức lực lượng tham gia chiến dịch, tổ chức trinh sát chiến trường chu đáo.
Tháng 6 năm 1970, Bộ tăng cường cán bộ và cơ quan cho Đoàn 968 để trực tiếp tổ chức chuẩn bị chiến trường ở Trung Hạ Lào. Các lực lượng thuộc Mặt trận B4, B5 gấp rút điều chỉnh lực lượng, tổ chức thế trận sẵn sàng đánh địch. Sư đoàn 2 chủ lực Quân khu 5 được bí mật điều động từ Quế Sơn lên khu vực này. Phần lớn cán bộ từ cấp tiểu đoàn trở lên thuộc các lực lượng tham gia chiến dịch đều được đi nghiên cứu địa hình và đề ra kế hoạch tác chiến. Các lực lượng này bao gồm lực lượng tại chỗ thuộc quyền Bộ Tư lệnh 559, lực lượng các quân chủng, binh chủng phòng không, pháo binh, xe tăng, các sư đoàn chủ lực của Bộ và của Quân khu 5 lúc đó đang tập kết tại địa bàn. Đến tháng 9 năm 1970, một số đơn vị chủ lực của Bộ và của Quân khu 5 có mặt tại khu vực địa bàn chiến dịch, tiếp tục tiến hành nghiên cứu, xác định phương án tác chiến của mình và diễn tập theo phương án. Đến giữa tháng 10 năm 1970, việc nghiên cứu địa hình, chuẩn bị kế hoạch tác chiến đã xong một bước cơ bản ở chiến trường Trung, Hạ Lào. Hàng ngàn hầm trú ẩn, lán trại được các đơn vị công binh của Mặt trận bí mật xây dựng trong rừng, sẵn sàng tham gia chiến dịch.
Về lực lượng tham gia chiến dịch, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh quyết định huy động một lực lượng lớn, gồm Binh đoàn 70 (có các sư đoàn 304, 308, 320), Sư đoàn 324, Sư đoàn 2, các đơn vị vũ trang Mặt trận B5 (Đường 9 - Bắc Quảng Trị), B4 (Quân khu Trị - Thiên), Đoàn 559, bốn trung đoàn pháo binh, bốn trung đoàn pháo cao xạ, ba trung đoàn công binh, ba tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp và một số tiểu đoàn đặc công của Bộ.
Nhờ có sự chủ động chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị lực lượng nên ngay khi địch bắt đầu triển khai lực lượng xuất phát tiến công (30-1-1971), các lực lượng chiến đấu của ta trên toàn mặt trận đã nhanh chóng tổ chức đội hình, tạo thế trận sẵn sàng đánh địch. Bộ Tư lệnh mặt trận ra lệnh cho các lực lượng tại chỗ đánh ngăn chặn, làm chậm bước tiến của địch, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực cơ động đánh những trận tiêu diệt lớn. Các bộ phận của Đoàn 559 khẩn trương chấn chỉnh tổ chức, bổ sung nhiệm vụ cho phù hợp với yêu cầu chiến đấu. Lực lượng phòng không được tăng cường để bảo vệ tuyến vận chuyển. Các kho tàng gần các trọng điểm địch đánh phá được sơ tán để bảo đảm an toàn. Các đơn vị thuộc Binh đoàn 70 và Sư đoàn 2 khẩn trương hành quân đến các vị trí tập kết. Các lực lượng của B5 được gấp rút triển khai theo phương án đánh địch đã xác định.
Tổ chức chuẩn bị chiến trường tốt, cụ thể, chuẩn bị mọi mặt bảo đảm và lực lượng tham gia chiến dịch chu đáo là yếu tố cơ bản để ta giành và giữ quyền chủ động chiến lược trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào (1971).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #132 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2026, 09:14:18 pm » |
|
3. Có kế hoạch chiến dịch chính xác,: đầy đủ với nhiều phương án tác chiến.
Trên cơ sở các phán đoán và lực lượng đã được chuẩn bị, ta đã chủ động xây dựng quyết tâm, lựa chọn đúng khu vực tác chiến chủ yếu, làm tốt việc giành quyền chủ động từ tay dịch. Trên hình thái chung của chiến trường, ta không chọn đoạn từ Lao Bảo về phía đông là khu vực tác chiến chủ yếu vì địa hình trống trải, gần các căn cứ lớn do quân Sài Gòn và Mỹ phòng giữ. Nếu chọn khu vực này, khi ta tập trung lực lượng, binh khí kỹ thuật thì khó giữ bí mật bất ngờ, dễ bị hỏa lực của địch sát thương và không có khả năng tiêu diệt lớn quân địch. Kế hoạch tác chiến chiến dịch xác định đoạn từ Bản Đông - Lao Bảo - Khe Sanh là khu vực tiêu diệt địch chủ yếu, trong đó lấy Bản Đông - Lao Bảo làm khu vực quyết chiến, do địa hình khu vực này thuận lợi cho tác chiến hiệp đồng binh chủng, vừa đạt mục đích bảo vệ được các mục tiêu chiến dịch trọng yêu và vừa tiêu diệt lớn quân địch. Ta còn xác định phải kiên quyết chặn và tiêu diệt địch ở Bản Đông, nên đã chủ động không chặn đứng quân địch ở Lao Bảo, để cho chúng vượt qua, tổ chức lực lượng ngăn chặn từng bước và phòng giữ chắc phía tây Bản Đông, kiên quyết không cho địch tiến lên đánh chiếm Sê Pôn. sử dụng lực lượng tại chỗ ngăn chặn, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, tiêu diệt từng bộ phận, làm suy giảm sức tiến công của địch; đồng thời sử dụng lực lượng cơ động tập trung đánh những trận then chốt, bẻ gãy cánh quân phía Bắc, đánh thiệt hại nặng cánh quân phía nam, uy hiếp và bao vây cánh quân chủ yếu, đẩy địch từ thế chủ động ban đầu thành thế bị động, lúng túng, tiến không được, lật cánh, chuyển hướng cũng không thể thực hiện được. Ta còn xác định trong lúc đánh địch ở các khu vực tác chiến nói trên, phải tăng cường lực lượng đánh địch ở Đường 9 phía bên Việt Nam và phía sau lưng địch nhằm quấy rối, kéo căng lực lượng địch để tiêu diệt lớn.
Bên cạnh kế hoạch tác chiến ở Đường 9 (gồm cả Trung, Hạ Lào), ta còn có kế hoạch tác chiến của Binh đoàn 70 phối hợp với lực lượng vũ trang Quân khu 4 sẵn sàng tiêu diệt địch nếu chúng liều lĩnh tiến công ra Quân khu 4. Ta còn dự tính có thể sử dụng Binh đoàn 70 chủ động tiến công vào một chiến trường khác trong trường hợp địch gặp khó khăn, không đánh ra Đường 9 hoặc Quân khu 4. Ngoài ra, còn có kế hoạch tác chiến của lực lượng Mặt trận B5 và của lực lượng trực thuộc Bộ Tư lệnh 559, chủ động đánh địch trước khi chúng tiến công ra Trung, Hạ Lào. Các tuyến giao thông vận tải và các mục tiêu trọng yếu thuộc Quân khu 4 được tăng cường lực lượng cao xạ bảo vệ. Các huyện ven biển từ Thanh Hoá đến Nam Định được tăng cường 10 đại đội bộ đội địa phương sẵn sàng đánh địch tập kích đường biển.
Như vậy, kế hoạch tác chiến đã được ta chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ, sẵn sàng đối phó với các tình huống có thể xảy ra một cách chủ động ngay từ đầu chiến dịch.
4. Chỉ đạo chiến dịch, nhất là chỉ đạo thực hành chiến dịch đúng đắn, linh hoạt, sáng tạo.
Khi cuộc hành quân của địch bắt đầu, Bộ Chính trị chi thị cho Quân ủy Trung ương nhất thiết phải đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào, vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược, và nhận định: địch đưa chủ lực đánh ra tuyến ngoài, lại là chiến trường rừng núi rất thuận lợi cho ta tiêu diệt chúng; mặt khác tạo nên sơ hở rất lớn ở tuyến trong của địch, ta có điều kiện để đánh phá "bình định" của chúng. Đây là thời cơ lớn phải hết sức tranh thủ để đẩy mạnh mọi hoạt động; phải tiêu diệt lực lượng tinh nhuệ của địch, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh quân sự và chính trị ở nông thôn đồng bằng và ở các đô thị. Thắng trận này sẽ ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ba nước Đông Dương. Giành thắng lợi ta giữ được tuyến vận tải chiến lược, tiêu diệt được một bộ phận quan trọng quân chủ lực địch, phá hủy một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh của chúng, làm thất bại cố gắng cao nhất trong quá trình thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", tạo chuyển biến căn bản có tính chiến lược cho phong trào cách mạng ba nước Đông Dương.
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, đáp ứng yêu cầu về lãnh đạo, chỉ huy của chiến dịch phản công có tầm quan trọng đặc biệt này, Bộ Tư lệnh 702 được thành lập, gồm các đồng chí Thủ trưởng Bộ, có một số đồng chí thủ trưởng và cán bộ thuộc các cơ quan của Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị và Tổng cục Hậu cần cùng các quân chủng, binh chủng. Bộ Tư lệnh 702 có đủ khả năng và quyền hạn chỉ đạo, chỉ huy tất cả các lực lượng tham gia chiến dịch, bảo đảm sự lãnh đạo chỉ huy thống nhất, sự phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả của các chiến trường phối hợp và các lực lượng giam gia chiến dịch.
Về chỉ huy thực hành chiến dịch, lúc đầu, căn cứ vào âm mưu và sự triển khai lực lượng của địch, ta bố trí quân sẵn sàng ứng phó cả hai tình huống địch hành quân ra Đường 9 - Nam Lào và tiến công ra nam Khu 4. Đến cuối tháng 1, đầu tháng 2 năm 1971, nhận thấy phía nam Khu 4 chi là hướng địch nghi binh, nên Bộ Tổng Tham mưu quyết định chuyển trọng tâm chuẩn bị tác chiến vào hướng Đường 9 - Nam Lào. Vì vậy, ngày 7 tháng 2, khi địch triển khai xong toàn bộ lực lượng trên các khu vực bàn đạp thì cũng là lúc các sư đoàn chủ lực thuộc Binh đoàn 70 và lực lượng vũ trang Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị đã hoàn tất các mặt chuẩn bị chiến dịch và chiến đấu, sẵn sàng đón đánh địch, giành quyền chủ động chiến trường.
Trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch; nắm vững thời cơ chuyển sang tiến công trên toàn tuyến khi địch đã bị đánh thiệt hại tương đối nặng, không còn đủ sức tiếp tục tiến công mà phải dừng lại, chuẩn bị rút lui; dự đoán khá chính xác các tình huống cơ bản và xu thế phát triển của nó, nên đã chủ động sử dụng lực lượng tại chỗ, lực lượng cơ động, từng bước tạo thế chiến dịch có lợi, đưa địch vào mưu kế, thế trận đã chuẩn bị sẵn của ta; vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật và thủ đoạn tác chiến, kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngự ngoan cường, vững chắc với tích cực chủ động tiến công, thực hành đánh những trận then chốt tiêu diệt lớn quân địch, buộc địch phải dừng lại phòng ngự trong thế bị cô lập, tinh thần hoang mang, phải bỏ lại toàn bộ xe pháo, vũ khí nặng luồn rừng rút chạy.
Bên cạnh những ưu điểm trên, Bộ chỉ huy chiến dịch đã thành công trong chỉ đạo chiến thuật đánh bại các thủ đoạn chiến thuật chính cũng là những điểm mạnh của địch. Ta đã đánh bại được chiến thuật dùng máy bay lên thẳng đổ quân lớn, chiến thuật dùng kỵ binh, thiết giáp làm lực lượng đột kích chính, chiến thuật dùng cụm chốt trên điểm cao để làm bàn đạp tiến công hoặc phòng thủ. Qua đó, vô hiệu hoá được những điểm mạnh của địch là không quân, thiết giáp, pháo binh và công sự, làm cho địch phải chuyển từ chủ động tiến công sang bị động đối phó trong nhiều tình huống chiến dịch.
Trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, để thực hành phản công có hiệu quả, ta đã giành và giữ quyền chủ động ngay từ đầu và trong suốt quá trình chiến dịch. Thành công và cũng là yếu tố quyết định trực tiếp thắng lợi của chiến dịch trước hết là, ta đã phán đoán chính xác hướng tiến công của địch, chủ động chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị hậu cần, kỹ thuật và lực lượng tham gia chiến đấu, làm tốt kế hoạch tác chiến, dự đoán các tình huống và chủ động đối phó; công tác chỉ đạo, chỉ huy thực hành chiến dịch đúng đắn, xác định chính xác khu vực diệt địch chủ yếu là từ Lao Bảo đến Bản Đông, phát hiện chỗ yếu của địch để có những đòn điểm huyệt chính xác tiêu diệt chúng.
Thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đánh dấu một bước phát triển cao của nghệ thuật, chiến dịch Việt Nam nói chung, nghệ thuật chiến dịch phản công nói riêng, trong đó có nghệ thuật giành và giữ quyền chủ động trên chiến trường - yếu tố trực tiếp quyết định thắng lợi của chiến dịch. Việc nghiên cứu và vận dụng những giá trị lịch sử của nghệ thuật giành và giữ quyền chủ động trên chiến trường trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào vào điều kiện tác chiến mới của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #133 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2026, 09:16:17 pm » |
|
BẤT NGỜ - YẾU TỐ QUAN TRỌNG GIÀNH THẮNG LỢI TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 Đại tá NGUYỄN VIẾT BÌNH Trưởng ban Tổng kết Lịch sử Lào - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 của quân và dân ta thắng lợi là một chiến thắng mang tầm cỡ chiến lược trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Với việc đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của quân đội Việt Nam Cộng hòa có sự yểm trợ của quân Mỹ, chiến dịch đã làm sụp đổ một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, mở ra cục diện mới trên chiến trường, tạo so sánh lực lượng ngày càng có lợi cho cách mạng ba nước Đông Dương. Thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 xuất phát từ nhiều nguyên nhân, từ vai trò chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, nghệ thuật chỉ huy, điều hành của Bộ Tư lệnh Chiến dịch đến tinh thần quyết chiến, quyết thắng của bộ đội ta, v.v... ở đây, chỉ đề cập đến một vấn đề liên quan đến nghệ thuật quân sự, đó là yếu tố bất ngờ - một nguyên tắc tác chiến quan trọng trong mọi cuộc chiến tranh nói chung trong chiến dịch và chiến đấu nói riêng. Vậy trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, bất ngờ đạt được thành tựu trên cơ sở nào và tác động như thế nào đến thắng lợi của ta và thất bại của địch? Có thể xem xét trên nhiều khía cạnh mới thấy hết ý nghĩa quan trọng của nó. Thứ nhất, bất ngờ đạt được bằng việc ta đã tập trung được một lực lượng lớn binh chủng hợp thành tại khu vực tác chiến, và ngay trong những ngày đầu, chủ lực ta đã xuất hiện với một loạt trận đánh vừa và lớn ở khu vực bắc Đường 9 mà Mỹ, ngụy không ngờ tới. Người ta được biết, đã có nhiều quan điểm khác nhau trong Bộ chỉ huy cuộc hành quân "Lam Sơn 719", thậm chí cả những tướng lĩnh ở Lầu Năm Góc về phản ứng của ta đối với cuộc hành quân. Theo các nguồn tin phương Tây, đầu năm 1971, tình báo Mỹ ước tính lực lượng của quân đội Bắc Việt Nam và Việt Cộng (tức ta-TG) tại khu vực là 22.000 người, gồm 7.000 lính chiến đấu, 10.000 người trong các đơn vị hậu cần, hỗ trợ và 5.000 quân Pathét Lào 1 (David Fulgham & Terrence: South Vietnam on Trial, Boston Publishing Company, 1984, tr.66). Vì thế, tình báo Mỹ cho rằng cuộc hành quân sẽ bị chống cự yếu ớt, do ở đây chỉ có lực lượng bảo vệ hành lang, kho tàng... Mặt khác, khả năng tăng viện của họ được xác định là 2 sư đoàn đóng ở phía Bắc khu phi quân sự (nam Quân khu 4 của ta-TG) sẽ đến sau hai tuần và hy vọng các hoạt động nghi binh sẽ giữ chân các đơn vị này trong thời gian diễn ra cuộc hành quân 2 (David Fulgham & Terrence, Sdd, tr.72)... Mặc dù tướng Abram (Abrams) ở Sài Gòn đã cảnh báo, không như ở Campuchia, tại các căn cứ ỏ Lào, quân đội đối phương sẽ trụ lại và chiến đấu đến cùng. Ngày 11 tháng 12 năm 1970 Abram đã báo cáo với đô đốc Mắc Kên (Mc. Cain) rằng: đội hình bộ binh, thiết giáp và pháo hạng nặng của quân đội Bắc Việt đã có mặt ở Nam Lào..., các đơn vị chủ lực đang ở xung quanh Sê Pôn và chắc chắn sẽ bảo vệ chặt các trung tâm hậu cần của họ trước bất kỳ hoạt động nào của "đồng minh". Lời khuyến cáo của Abram đã bị Bộ chỉ huy cuộc hành quân phớt lờ; thậm chí, các phi công Mỹ, lính biệt động quân, lính dù, lính thủy đánh bộ của quân đội Việt Nam Cộng hòa còn cho rằng cuộc hành quân sẽ là "cuộc dạo chơi" đến những ngọn đồi được đặt theo tên các nghệ sĩ lừng danh mà họ hâm mộ... Và chỉ đến khi chủ lực ta tiến hành một loạt các trận đánh như trận tiêu diệt Tiểu đoàn 21 biệt động quân, trận tiêu diệt 2 đại đội dù ở điểm cao 456 (bắc Đường 9) và hướng tiến công chủ yếu trên Đường 9 bị chặn đứng tại Bản Đông..., địch mới ngỡ ngàng không hiểu tại sao chủ lực Bắc Việt Nam lại xuất hiện sớm như vậy? Với lực lượng lớn binh chủng hợp thành bao gồm Binh đoàn B70 (gồm các sư đoàn 308, 320, 304), Sư đoàn 324, Sư đoàn 2; các đơn vị cỡ trung đoàn tăng, thiết giáp, pháo binh, pháo phòng không, công binh đã có mặt ngay từ những ngày đầu chiến dịch (chưa kể lực lượng tại chỗ của B4, B5, Đoàn 559), tham gia các trận đánh lớn ở bắc và nam Đường 9, thực sự là đòn bất ngờ lớn đối với các đơn vị được coi là tinh nhuệ của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Như vậy, "cuộc dạo chơi" trên vùng rừng núi Nam Lào của binh lính quân lực Việt Nam Cộng hòa trở thành "một cuộc tháo chạy" 1 (J. Pimlot, Việt Nam - Những trận đánh quyết định, Trung tâm Thông tin khoa học công nghệ và môi trường, 1997 (tài liệu dịch), tr.139) hoảng loạn không gì ngăn giữ được trước sức tiến công mãnh liệt của bộ đội ta. Được biết, khi ta bao vây cứ điểm hỗn hợp Bản Đông, dùng hỏa lực pháo binh tập trung bắn phá kiên quyết vào khu vực, các đơn vị dù, thiết giáp của địch đã luồn rừng tháo chạy, bỏ lại toàn bộ pháo và xe tăng, thiết giáp trên Đường 9. Cuối cùng, hỏa lực không quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa lại phải tiêu hủy chính những vũ khí, trang bị của mình để tránh rơi vào tay đối phương. Thứ hai, bất ngờ đạt được bởi cách đánh sáng tạo và linh hoạt của bộ đội ta, và cũng bởi lần đầu tiên ta tiến hành một chiến dịch phản công hiệp đồng quân, binh chủng có quy mô lớn nhất từ trước đến lúc đó. Với lực lượng lớn binh chủng hợp thành, với thế trận đã được bày sẵn, ta đã kịp thời sử dụng lực lượng tại chỗ ngăn chặn, vây hãm các cánh quân địch, tập trung bẻ gãy cánh Bắc, đánh thiệt hại nặng cánh Nam, kiên quyết ngăn chặn dịch ở Bản Đông. Đặc biệt, về mặt chiến thuật, Bộ chỉ huy chiến dịch đã chỉ đạo các lực lượng vận dụng nhiều hình thức chiến thuật như phòng ngự kết hợp với tiến công; bao vây kết hợp đột phá các cụm lực lượng địch có xe tăng, thiết giáp; chốt chặn đánh địch đổ bộ đường không kết hợp với cơ động tiêu diệt địch trên các điểm cao; lùng sục, vây quét kết hợp với truy kích địch rút chạy, luồn sâu đánh hiểm vào hạu cứ, kho tàng, sở chỉ huy của địch... Nét nổi bật là trong quá trình chiến dịch, không kể hiệp đồng chung về mặt chiến dịch, Bộ chỉ huy chiến dịch đã tổ chức được nhiều trận đánh hiệp đồng binh chủng với sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ binh, pháo binh, xe tăng, thiết giáp, phòng không cỡ trung đoàn, hoặc trung đoàn tăng cường. Việc phát huy sức mạnh của các binh chủng thành sức mạnh tổng hợp biểu hiện bằng các trận chiến đấu hiệp đồng binh chủng đã tạo điều kiện cho ta giành thắng lợi to lớn, liên tiếp đưa đến thắng lợi hoàn toàn cho chiến dịch. Có thể nói, những trận thắng chủ yếu trong chiến dịch đều diễn ra dưới hình thức chiến đấu hiệp đồng binh chủng: từ trận đánh cao điểm 500, 543, trận phản kích đồi 456, cao điểm 723, 660 đến trận Bản Đông và cuối cùng là trận điểm cao 550. Đó là những trận đánh "thể hiện sự thiện chiến và quyết tâm cao làm cho đối phương sửng sốt và ấn tượng" 1 (Thời báo Niu Yoóc, ngày 28 tháng 3 năm 1973). Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, "Đây là lần đầu tiên quân đội ta tiến hành thắng lợi một chiến dịch phản công hiệp đồng binh chủng có quy mô lớn đánh tiêu diệt quân địch" 2 (Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr.372). Đúng như các bình luận viên quân sự phương Tây lúc đó đã cho rằng: Chiến sự bùng nổ ở Hạ Lào không giống như bất cứ trận chiến nào trước đo trong chiến tranh Việt Nam. Đây là lần đầu tiên quân đội Bắc Việt (tức Quân đội nhân dân Việt Nam) bỏ chiến thuật cũ và tiến hành phản công theo kiểu chiến tranh chính quy truyền thống, lần đầu tiên họ mở các cuộc tấn công lớn bằng bộ binh với sự yểm trợ của thiết giáp và pháo binh hạng nặng để đè bẹp các vị trí của quân lực Việt Nam Cộng hòa. Mặc dù có sự cảnh báo của tướng Abơram, nhưng Bộ chỉ huy cuộc hành quân "Lam Sơn 719" vẫn tin rằng "chủ lực Bắc Việt chỉ có thể chiến đấu phân tán cỡ đại đội, tiểu đoàn" và "mối de dọa từ các đơn vị thiết giáp chỉ được coi là tối thiểu" 3 (David Pulgham & Terrence,... Sdd, tr.72). Do sự đánh giá sai lầm đó mà Bộ chỉ huy cuộc hành quân "Lam Sơn 719" sinh ra chủ quan và hoàn toàn bất ngờ trước cách đánh của ta. Đến khi cánh Bắc bị bẻ gãy và cánh Nam bị tổn thất nặng, lực lượng chủ yếu trên hướng Đường 9 bị bao vây tại Bản Đông, buộc phải đưa thê đội hai vào chiến đấu, quân đội Việt Nam Cộng hòa mới hiểu rằng chúng khó mà tiến đến được Sê Pôn như Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: chỉ cần tiến đến Sê Pôn rồi rút. Người ta ngạc nhiên khi đài phát thanh Sài Gòn đưa tin quân lực Việt Nam Cộng hòa đã đến được Sê Pôn. Sự thật thế nào? Một đơn vị cỡ trung đoàn thiếu gồm Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 2 biệt động quân được 271 trực thăng UH-1 đổ xuống cách đông bắc thị trấn Sê Pôn 4km đã bị Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 ta bao vây, truy lùng, buộc phải rút chạy về điểm cao 660 phía Nam Đường 9 và sau đó bị các đơn vị thuộc Sư đoàn 2 ta đánh thiệt hại nặng. Trong khi đó, trên hướng chính - Đường 9, các đơn vị dù, thiết giáp đã bị các cụm chốt của ta ở phía Tây Đường 9 chặn đứng tại Bản Đông, không thực hiện được ý định tiến đến Sê Pôn và đang có nguy cơ bị bao vây, tiêu diệt hoàn toàn... Còn ở phía Tây Đường 9, các binh đoàn cơ động GM30, GM33 của quân phái hữu Lào cũng bị liên quân Việt - Lào đánh thiệt hại nặng ở Pha Lan, Phu Đô Tuya buộc phải rút về Đồng Hến, Xa Ra Van, không tiến đến được Mường Phìn, Mường Noòng phối hợp với hướng chính trên Đường 9 theo dự kiến.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #134 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2026, 09:18:33 pm » |
|
Thứ ba, ta đã giành được bất ngà bằng việc xây dựng được hệ thống phòng không dày đặc trong khu vực tác chiến (rộng chừng 2.200km2), gây bất ngờ lớn cho các phi đội trực thăng đổ quân của Mỹ. Khác với dự đoán của tình báo Mỹ trước đó cho rằng, các cuộc không kích chiến thuật và pháo sẽ làm mất tác dụng của số lượng vũ khí phòng không được ước tính là từ 170 đến 200 khẩu! Trong khi đó, với 4 trung đoàn pháo phòng không 37mm và 57mm (gồm các trung đoàn 230, 237, 241, 491) của Bộ, cùng nhiều tiểu đoàn, đại đội phòng không độc lập của Đoàn 5591 (Đoàn 559 có 7 binh trạm ở nam và bắc Đường 9, tổ chức mỗi binh trạm khoảng 5 đại đội súng máy phòng không 12,7mm và 14,5mm; toàn tuyến có 33 đại đội súng máy và 8 tiểu đoàn pháo cao xạ), của các đơn vị thuộc B5, B4 ngay từ những ngày đầu chiến dịch đã bắn rơi gần 100 trực thăng đổ quân, làm hạn chế việc cơ động lực lượng và chi viện của địch. Ngay ngày 10 tháng 2 năm 1971, Đài BBC đã đưa tin: "Quân đội Việt Nam Cộng hòa tiến lên đường mòn Hồ Chí Minh đã vấp phải lưới lửa phòng không dày đặc chưa từng có của Bắc Việt, 50 máy bay lên thẳng đã bị bắn hạ, như vậy là đã trúng kế điệu hổ ly sơn của họ"2 (Đài BBC, Anh, ngày 10 tháng 2 năm 1971). Đặc biệt, lực lượng bắn máy bay tầm thấp của Đoàn 559 được bố trí hết sức khéo léo và cực mạnh. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo tác chiến là "...vừa tiêu diệt sinh lực địch, vừa phá hủy phương tiện chiến tranh của chúng, chú trọng đánh máy bay, cơ giới và pháo binh của địch..."3 (Quân ủy Trung ương: Chỉ thị số 009/QUTƯ/A ngày 9 tháng 2 năm 1971, phông QUTƯ, Hồ sơ số: 713, lưu trữ K4 Bộ Quốc phòng), Đoàn 559 đã lấy hàng trăm súng máy phòng không 12,7mm, 14,5mm dự trữ trong kho chưa chuyển vào các chiến trường để trang bị rộng rãi cho bộ đội các binh trạm. Bằng số lượng lớn súng máy phòng không, kết hợp với các loại pháo phòng không của các đơn vị chủ lực và tại chỗ, ta đã tổ chức được mạng lưới bắn máy bay rộng khắp, đạt hiệu quả cao, làm thất bại chiến thuật "trực thăng vận" của địch, cần phải nói thêm rằng, cho đến thời điểm trước khi mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719", chiến thuật "trực thăng vận" vẫn được giới quân sự Mỹ tranh cãi là có hay không nhược điểm? Và so sánh trực thăng chở quân với xe bọc thép chở quân. Tuy nhiên, nhược điểm của chiến thuật "trực thăng vận" đã bộc lộ rõ khi lực lượng phòng không của ta được tổ chức chặt chẽ, nhiều tầm, kết hợp với pháo mặt đất tạo thành lưới lửa "trùm lên các phi đội trực thăng của địch đang lao xuống các bãi đổ bộ". Kết quả trong toàn chiến dịch, 556 máy bay, trong đó có 505 máy bay lên thẳng đã bị lực lượng phòng không ta bắn rơi và phá hủy. Đây là chiến dịch bộ đội ta bắn rơi nhiều máy bay nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Không còn nghi ngờ gì nữa, sau cuộc hành quân "Lam Sơn 719", thậm chí cho đến sau cuộc chiến tranh Viêt Nam, trong các mệnh lệnh hành quân và hoạt động tác chiến của quân đội Mỹ, vai trò của trực thăng đổ quân bị lu mờ, chiến thuật "trực thăng vận" bị coi nhẹ và người ta chú trọng đến chiến thuật "thiết xa vận" với vai trò của xe bọc thép chở quân và trực thăng vũ trang.
Thứ tư, ta đạt được bất ngờ bằng tốc độ cơ động nhanh lực lượng chủ yếu của chiến dịch đến khu vực tác chiến, đảm bảo bí mật, an toàn. Chúng ta biết rằng, để giành thắng lợi trong chiến dịch và chiến đấu, về mặt nghệ thuật phải giữ được quyền chủ động và đảm bảo tính cơ động cao. Yếu tố thứ nhất, đòi hỏi bất ngờ; yếu tố thứ hai, tạo ra bất ngờ. Nói cách khác, chủ động và cơ động linh hoạt có mối quan hệ hữu cơ với nhau, làm tiền đề cho nhau và là những nguyên tắc hàng đầu của nghệ thuật quân sự. Quyền chủ động của ta trong chiến dịch thể hiện ở chỗ: từ việc nắm chắc địch, nhất là âm mưu và thủ đoạn của chúng, ta đã bày sẵn thế trận, chủ động tiến công ngay từ khi địch chưa vượt qua biên giới và trong suốt quá trình tác chiến, quyền chủ động vẫn được giữ vững cho đến khi kết thúc chiến dịch. Để giành và giữ vững quyền chủ động đó, trong chiến dịch ta đã tạo được một loạt bất ngờ đối với địch cả về lực lượng, phương tiện và tốc độ cơ động. Chẳng hạn, việc cơ động lực lượng chủ yếu của Binh đoàn B70 với khối lượng lớn binh khí, trang bị kỹ thuật, vượt đường dài, vượt trọng điểm đánh phá, nhanh chóng triển khai chiến đấu ngay từ đầu chiến dịch cho thấy tốc độ cơ động cao của chủ lực ta. Được biết, để tiến hành cuộc hành quần "Lam Sơn 719", sau khi triển khai lực lượng ra Đông Hà, Ái Tử, Khe Sanh, Bộ chỉ huy cuộc hành quân đã đưa Lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ tập vượt sông ở phía tây cầu Đông Hà, đưa Lữ đoàn 258 lính thủy đánh bộ ra cửa Thuận An xuấng tàu đi lên hướng Bắc, cho một số tàu thuộc Hạm đội 7 tiến vào vùng biển nam Quảng Bình, làm như chuẩn bị phối hợp tiến công ra bắc khu phi quân sự. Hành động nghi binh của quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã không thực hiện được do ta nắm được ý đồ chiến lược của địch là đánh phá tận gốc tuyến vận tải chiến lược nên đã kịp thời cơ động lực lượng chủ yếu đến khu vực Đường 9 - Nam Lào. Vậy là, hành động nghi binh của quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã bị thất bại, đã bị "tương kế, tựu kế". Việc cơ động lực lượng với tốc độ cao và nhanh chóng tnên khai đội hình chiến đấu đã tạo nên bất ngờ lớn đối với quân Mỹ và Việt Nam Cộng hỏa. Thực tế diễn biến chiến dịch còn cho thấy, chỉ bằng việc tập trung được ưu thế về lực lượng, phương tiện, tiến hành những trận tiêu diệt lớn các cụm quân chu yếu của địch tại khu vực từ Lao Bảo đến Bản Đông - khu vực tác chiến chủ yếu của chiến dịch, và bằng lối đánh vây ép, buộc địch phải ra phản kích hoặc rút chạy đã tạo điều kiện cho ta đánh vận động, giáng cho chúng những đòn bất ngờ liên tiếp.
Như vậy, trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971, ta đã giành được bất ngờ ở cả cấp độ chiến dịch và chiến thuật. Đặc biệt, về phương diện nghệ thuật chiến dịch, bất ngờ đạt được trong những phạm vi hoạt động có ý nghĩa nhất: xác định đúng hướng, mục tiêu chiến dịch; tốc độ cơ động cao; sử dụng lực lượng khôn khéo và thực hiện cách đánh linh hoạt, sáng tạo...
Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào giành toàn thắng đã khẳng định một nhận thức: bất ngờ luôn là yếu tố thường xuyên, quan trọng trong chiến tranh nói chung, trong chiến đấu nói riêng; bất ngờ có thể đạt được trong mọi cuộc chiến tranh, trong các loại hình tác chiến từ tiến công, phản công đến phòng ngự, v.v; bất ngờ thực sự là một trong những nguyên tắc của nghệ thuật quân sự mà không một lực lượng vũ trang nào không hết sức coi trọng và "Điều này đã, đang và sẽ vẫn là chân lý trong quân sự"1 (Tôn Ngô binh pháp, Nxb Công an nhân dân - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội, 1994, tr. 39).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #135 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2026, 08:06:24 pm » |
|
TỪ CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO ĐẾN QUÁ TRÌNH GIẢI PHÓNG CAO NGUYÊN BÔ LÔ VEN LẦN THỨ HAI (1971 - 1972) Đại tá SULIVĂN SẺNGCHĂN Phó Cục trưởng Cục Khoa học - Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng Lào Cách đây hơn một phần ba thế kỷ, hai quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào anh em đã cùng nhau liên minh, đoàn kết chiến đấu, tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và tay sai lâu dài, ác liệt, hy sinh, dũng cảm vẻ vang chưa từng có trong lịch sử của nhân dân hai nước chúng ta. Những năm 1968 - 1969, trước sự sụp đổ không thể cứu vãn của chiến lược "chiến tranh đặc biệt" và chiến lược "chiến tranh cục bộ" trên chiến trường Lào và miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai vẫn rất ngoan cố lao sâu vào cuộc chiến tranh xâm lược, sử dụng mọi âm mưu, thủ đoạn chính trị, quân sự nhằm cứu vãn những thất bại nặng nề của chúng. Chính vì thế, đế quốc Mỹ đã thay đổi chiến lược, tiến hành chiến lược "chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào, chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" ở miền Nam Việt Nam và mở rộng chiến tranh xâm lược sang Campuchia. Đầu năm 1971, thời tiết ở Lào vẫn đang trong mùa khô. Chính vào thời đoạn này, đế quốc Mỹ điên cuồng đẩy chiến tranh xâm lược lên cường độ cao nhằm chia cắt và cô lập phong trào cách mạng của ba nước Lào, Việt Nam và Campuchia, đồng thời nhằm chia cắt và cô lập, dập tắt cách mạng Lào trên hai miền Bắc Lào và Nam Lào. Theo đuổi chủ trương đó, cùng với các cuộc hành quân trên chiến trường Tây Nguyên Việt Nam và trên chiến trường Đông Bắc Campuchia, đế quốc Mỹ và tay sai đã mở cuộc hành quân quy mô lớn vào khu vực vĩ tuyến 17° bắc thuộc miền Trung Lào theo Đường 9 tỉnh Xa Van Na Khẹt. Đế quốc Mỹ gọi cuộc hành quân này là "Đêvê Khennhon 2", sau đổi thành cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Đây là bước phiêu lưu mới về quân sự của đế quốc Mỹ và tay sai trong chiến tranh xâm lược Đông Dương. Đế quốc Mỹ đã huy động một lực lượng binh lực hỗn hợp khổng lồ cho cuộc hành quân, bao gồm trong đó cả quân Mỹ và cố vấn quân sự Mỹ, 45.000 quân ngụy Sài Gòn (bao gồm cả số đang tham chiến tại chiến trường Trung Bộ Việt Nam), 2 Binh đoàn cơ động (GM) quân ngụy Lào, lực lượng đặc biệt Vàng Pao, hơn 2.000 máy bay, gần 800 xe tăng và xe bọc thép, hơn 120 khẩu pháo các loại... Trên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào, quân và dân hai nước Việt Nam - Lào sát cánh chiến đấu đánh bại các thủ đoạn tác chiến trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn. Cùng thời gian cuối năm 1970 đầu năm 1971, nhằm chi viện cho cuộc hành quân "Lam Sơn 719", đồng thời với việc huy động quân đội Sài Gòn và quân phái hữu Lào gồm 5 tiểu đoàn đổ bộ chiếm các vị trí chiến lược quan trọng trên địa bàn Đường 9 - Nam Lào, đế quốc Mỹ sử dụng 3 tiểu đoàn "đặc biệt" đánh chiếm khu vực Táthay, Tumlan (Xa Ra Van), sử dụng 11 tiểu đoàn chiếm giữ các vị trí quan trọng ở khu vực núi Lăng Kẹo, bản Xok, In Thi trên hướng cao nguyên Bô Lô Ven thuộc Hạ Lào. Đến thời điểm này, quân địch đã huy động lực lượng lên tới 20 tiểu đoàn quyết chiếm giữ toàn bộ Nam Lào, một địa bàn chiến lược quan trọng, một trung tâm trong thế chiến lược của cách mạng ba nước Đông Dương, đặc biệt trong đó là cao nguyên Bô Lô Ven là địa bàn chiến lược quan trọng của cách mạng Lào. Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai diễn ra trong hơn 50 ngày đêm. Quân và dân hai nước Việt Nam - Lào sát cánh chiến đấu đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" quy mô lớn của địch, tạo điều kiện tiến lên đánh bại các cuộc hành quân khác của chúng tại Nam Lào và trên cả nước. Trước thất bại thảm hại trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719", cuối năm 1971, đế quốc Mỹ và tay sai chia lực lượng thành hai bộ phận lớn, tiếp tục mở các cuộc hành quân chiếm đóng các địa bàn chiến lược trên hai miền Bắc Lào và Nam Lào. Ở miền Bắc Lào, đế quốc Mỹ và ngụy tay sai tiếp tục mở các cuộc hành quân nhằm vào khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Tại miền Nam Lào, chúng huy động tối 30 tiểu đoàn, trong đó có 4 tiểu đoàn lính đánh thuê, được không quân Mỹ chi viện, liên tục tiến công nhằm chiếm giữ cao nguyên Bô Lô Ven Lào Ngam tỉnh Xa Ra Van và một phần phía Tây tỉnh A Tô Pơ... Chủ động ứng phó với tình hình tại Nam Lào, Trung ương Đảng Nhân dân Lào, Trung ương Mặt trận Lào yêu nước (Neo Lào Hắc-xạt) và Bộ chỉ huy tối cao chủ trương và quyết định thành lập "Mặt trận 23 miền Nam Lào" để hiệp đồng với lực lượng chủ lực của Bộ chỉ huy tối cao, với quân tình nguyện Việt Nam mở đợt hoạt động quân sự mang tính chất chiến dịch tiến công và phản công dịch ngay trong mùa mưa và mùa khô 1971-1972. Đợt hoạt động quân sự này nhằm giải phóng cao nguyên Bô Lô Ven, A Tô Pơ và các vị trí quan trọng trên địa bàn chiến lược Nam Lào, tạo điều kiện nối liền các chiến trường miền Nam, miền Trung và miền Bắc Lào, nối liền chiến trường Lào với chiến trường miền Nam Việt Nam và chiến trường Campuchia. Để tạo sức mạnh tiến công giải phóng cao nguyên Bô Lô Ven, Bộ chỉ huy tối cao Quân giải phóng nhân dân Lào thống nhất với Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ thị cho các lực lượng quân tình nguyện Việt Nam và Quân khu Nam Lào sáp nhập, thống nhất trong Mặt trận Y. Theo đó, "Mặt trận 23 miền Nam Lào" thống nhất trong Mặt trận Y. Bộ Tư lệnh Mặt trận Y về phía Việt Nam có đồng chí Hoàng Kiện - Phó Tư lệnh Đoàn 559 làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, đồng chí Hoàng Biền Sơn và Nguyễn Ngọc Sơn; về phía Lào có đồng chí Khămchăn, đồng chí Kalăng và các đồng chí bí thư tỉnh ủy, chỉ huy trưởng các tỉnh Nam Lào. Quán triệt sâu sắc các chỉ thị, mệnh lệnh của Trung ương Đảng và Trung ương Mặt trận Lào yêu nước, các tỉnh Nam Lào đẩy mạnh phong trào đấu tranh. Các cấp ủy đảng, các căn cứ chiến đấu, các tổ chức quần chúng cách mạng sau nhiều năm khó khăn gian khổ, đến đây đã được củng cố, tăng cường về tổ chức và lực lượng,... tạo nên sức mạnh tổng hợp để đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai trong chiến dịch. Thực hiện kế hoạch chiến dịch, Bộ Tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ cho các đơn vị Quân khu miền Nam Lào phối hợp với các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam tiến công cứ điểm 38 (bản In Thi), cứ điểm 165 (Năm Tiêng), cứ điểm 22 (Huội Lực),... Phối hợp với các hướng, các lực lượng trong cuộc phản công chiến lược Đường 9 - Nam Lào, quân dân Việt - Lào trên Mặt trận Y đã chiến đấu dũng cảm, kiên cường, giải phóng toàn bộ cao nguyên Bô Lô Ven miền Nam Lào ngày 21 tháng 2 năm 1971. Trong phong trào đấu tranh giải phóng đất nước, quân và dân các tỉnh Nam Lào đã cùng với quân và dân cả nước kết hợp chặt chẽ với quân tình nguyện Việt Nam, với quân và dân Campuchia đoàn kết chiến đấu giành thắng lợi. Sự kết hợp chặt chẽ đó đã mang lại những thắng lợi to lớn cho phong trào đấu tranh của chúng ta. Những thắng lợi tiêu biểu nổi bật trên địa bàn chiến lược Nam Lào đó là: Các đợt hoạt động quân sự ở Thàteng (cuối năm 1968 - 1969), ở A Tô Pơ (4-1970), tại Xa Ra Van (6-1970), ở cao nguyên Bô Lô Ven (cuối năm 1970 đến tháng 6-1971), đợt phối hợp hoạt động trong chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân chiến lược "Lam Sơn 719" tại Đường 9 - Nam Lào (1971), đợt tiến công giải phóng thị trấn Không Xê Đôn (Xa Ra Van)... Những thắng lợi đó đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của phong trào đấu tranh giải phóng đất nước ở các tỉnh Nam Lào. Đặc biệt, khu vực Xa Ra Van - cao nguyên Bô Lô Ven, một địa bàn chiến lược quan trọng, nơi tranh chấp giữa ta và địch, đồng thời cũng là khu vực nối liền với vùng giai phóng Quân khu 5 (Việt Nam), địch tìm mọi cách để chiếm giữ thế trận ở miền Nam Lào. Trong những năm đó mặc dù lực lượng địch đang ở thế yếu, thế thất bại, đi xuống nhưng chúng vẫn ngoan cố tung quân tiến công để làm chủ địa bàn chiến lược quan trọng này. Một mặt, chúng tăng cường hoạt động quân sự lấn chiếm các vị trí trong địa bàn và xây dựng công sự trận địa mang tính chất phòng ngự. Mặt khác, chúng sử dụng lực lượng lớn lấn chiếm các vùng giải phóng, càn quét, đàn áp tàn khốc nhân dân các bộ tộc vùng nông thôn rừng núi. Trước những thủ đoạn chiến tranh mới của địch, Quân giải phóng nhân dân Lào cùng với quân tình nguyện Việt Nam và nhân dân các bộ tộc miền Nam Lào đã thắt chặt tình đoàn kết, chiến đấu anh dũng, đập tan các thủ đoạn, kế hoạch chiến lược của đế quốc Mỹ, góp phần làm phá sản bước đầu "Học thuyết Níchxơn" ở Lào và Đông Dương. Quân dân Nam Lào cùng với quân dân cả nước, với quân tình nguyện Việt Nam liên tiếp đánh bại âm mưu và thủ đoạn chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay sai, nhất là từ Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đến đợt hoạt động quân sự giải phóng cao nguyên Bô Lô Ven lần thứ hai (1971 - 1972) với những thắng lợi to lớn. Những thắng lợi to lớn đó trước hết là thắng lợi của tư tưởng chỉ đạo chiến tranh nhân dân, chỉ đạo đường lối chiến lược, sách lược của hai Trung ương Đảng, của Mặt trận Lào yêu nước, của Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ chỉ huy tối cao hai quân đội Việt Nam - Lào, của quan hệ đặc biệt, liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong những năm 1971 - 1972, trong quá trình quân và dân hai nước tiến lên đánh bại đế quốc Mỹ và tay sai trong chiến lược "chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" tại miền Nam Việt Nam.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #136 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2026, 08:10:22 pm » |
|
PHẦN III SỰ PHỐI HỢP NHỊP NHÀNG, HIỆU QUẢ CỦA LIÊN QUÂN VIỆT - LÀO CHIẾN THẮNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971 - DẤU MỐC QUAN TRỌNG CỦA SỰ HỢP TÁC LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU GIỮA QUÂN ĐỘI VÀ NHÂN DÂN HAI NƯỚC LÀO - VIỆT NAM, VIỆT NAM - LÀO TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐỂ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC Thiếu tướng VỈXÂY CHĂNTHAMẠT Cục trưởng Cục Khoa học - Lịch sử quân sự Bộ Quốc phòng Lào Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai của nhân dân ba nước Đông Dương, của nhân dân hai nước Lào - Việt Nam trong những năm (1968 - 1971) đã diễn ra rất gay go, quyết liệt và phức tạp, nhưng giành được những thắng lợi vô cùng to lớn. Thắng lợi điển hình và trở thành dấu mốc quan trọng của sự hợp tác liên minh chiến đấu giữa quân đội và nhân dân hai nước Lào - Việt Nam Việt Nam - Lào trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai trong giai đoạn chiến tranh ác liệt này là "Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971". Đó là một chiến thắng mang tầm chiến lược, có ý nghĩa quốc tế to lớn và để lại những bài học lịch sử sâu sắc. Thực hiện sự thỏa thuận giữa Trung ương Đảng Nhân dân Lào và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, nhằm đập tan âm mưu và kế hoạch chiến lược "chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở nước Lào, chiến lược "chiến tranh cục bố và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" ở miền Nam Việt Nam của đế quốc Mỹ và tay sai, Quân ủy Trung ương Lào đã phối hợp rất chặt chẽ với Quân ủy Trung ương Việt Nam để đề ra quyết tâm, tăng cường chi viện, hợp tác, liên minh chiến đấu giữa Quân đội nhân dân Lào 1 (Thời điểm đó gọi là Quân giải phóng nhân dân Lào) và Quân đội nhân dân Việt Nam, giữa nhân dân hai nước Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào liên tiếp mở các chiến dịch tiến công và phản công với quy mô ngày càng lớn trên các chiến trường, trên các địa bàn chiến lược tại đất nước Lào, đập tan các bước phiêu lưu quân sự, leo thang chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai, tạo ra sự phát triển đột biến trong cuộc kháng chiến của nhân dân hai nước Lào - Việt Nam nói riêng, của nhân dân ba nước Đông Dương nói chung. Những tháng mùa khô 1968-1969, sát cánh chiến đấu bên nhau, quân đội và nhân dân hai nước Lào - Việt Nam đã đập tan các âm mưu và các thủ đoạn chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay sai trong chiến lược "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam Việt Nam, trong chiến lược "chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào. Tại Việt Nam, quân và dân trên chiến trường miền Nam tiếp tục cuộc Tổng tiến công và nổi dậy; quân và dân ở hậu phương lớn miền Bắc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, tiếp tục chi viện chiến lược cho tiền tuyến lớn miền Nam và cho cách mạng của nhân dân Lào anh em. Tại Lào, quân và dân các bộ tộc Lào trên cả ba miền Thượng Lào, Trung Lào và Hạ Lào cùng quân tình nguyện Việt Nam kề vai sát cánh liên tiếp đánh bại đế quốc Mỹ và quân đội phái hữu tay sai phản động trong các cuộc hành quân "Samakhi" (Đoàn kết), các cuộc hành quân trên địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng... tăng cường thế và lực mới cho sự phát triển vững chắc của cách mạng Lào. Đứng trước những thất bại nặng nề trên chiến trường ba nước Đông Dương, nhất là những thất bại về quân sự, đế quốc Mỹ và tay sai buộc phải thay đổi chiến lược, chính sách theo đuổi chiến tranh xâm lược đối với Đông Dương nói chung, đối với hai nước Lào - Việt Nam nói riêng. Năm 1969, Níchxơn lên làm Tổng thống Hoa Kỳ. Níchxơn đề ra một chiến lược toàn cầu mối mang tên "Học thuyết Níchxơn" dựa trên ba nguyên tắc "sức mạnh của Mỹ", "chia sẻ trách nhiệm" và "thương lượng trên thế mạnh". Thực hiện "Học thuyết Níchxơn" ở Đông Dương, đế quốc Mỹ quyết định mở rộng chiến tranh xâm lược sang Campuchia, tiến hành chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" ở miền Nam Việt Nam và chiến lược "chiến tranh đăc biêt tăng cường" ở Lào. Theo đuổi các chiến lược chiến tranh đó, thực chất đế quốc Mỹ nhằm biến cuộc chiến tranh xâm lược bán đảo Đông Dương thành "chiến tranh của người Đông Dương, lấy người Đông Dương giết người Đông Dương". Đối với hai nước Lào và Việt Nam nói riêng, đế quốc Mỹ kỳ vọng tạo ra một thế liên minh khu vực bền vững va sự tương hỗ lẫn nhau giữa chiến lược "chiến tranh dăc biệt tăng cường" ở Lào và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" tại miền Nam Việt Nam. Đến đây, quân và dân ba nước Đông Dương, quân và dân hai nước Lào - Việt Nam anh em đang đứng trước một tình hình mới, những khó khăn và thử thách mới. Trung ương Đảng Nhân dân Lào và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã phân tích tình hình, đánh giá âm mưu, thủ đoạn chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay sai; đồng thời tập trung chỉ đạo quân và dân hai nước tăng cường liên minh hợp tác, chủ động chuẩn bị, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu đập tan các bước leo thang chiến tranh, nhất là các hành động quân sự của chúng. Tháng 6 năm 1970, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Nhân dân Lào xác định nhiệm vụ cho quân và dân cả nước, trước mắt là cho mùa khô 1970 - 1971, trong đó chỉ rõ: "Ra sức củng cố vùng giải phóng vững mạnh, duy trì thế liên hoàn và mở rộng có trọng điểm ở những địa bàn chiến lược quan trọng và vùng đông dân khi có thời cơ thuận lợi", "tích cực chuẩn bị mọi mặt để chuyển hướng đấu tranh khi tình hình chuyển biến có lợi cho ta, nhằm phát huy thắng lợi, đưa cách mạng tiến lên một bước mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước", "phát huy thế chủ động tiến công địch về mọi mặt", "tăng cường đoàn kết với nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia anh em trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai phản động". Đặc biệt, về quân sự, Thường vụ Trung ương Đảng Nhân dân Lào đã xác định hướng hoạt động trong hai năm tối là Trung - Hạ Lào, vì đây là một trong những địa bàn chiến lược quan trọng liên quan trực tiếp đến chiến trường ba nước Đông Dương, đặc biệt trong đó là tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn. Cùng với sự chuẩn bị của quân và dân Việt Nam, tháng 10 năm 1970, Quân ủy Trung ương Lào ra nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch quân sự mùa khô 1970 - 1971, trong đó chỉ rõ "chuẩn bị sẵn sàng đánh bại mọi cuộc tiến công quy mô lớn của quân ngụy Sài Gòn và một số quân Mỹ, quân Thái Lan vào Trung - Hạ Lào và Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, phối hợp chặt chẽ với chiến trường miền Nam Việt Nam và Campuchia, sẵn sàng đón thời cơ giành thắng lợi lớn". Bộ chỉ huy tối cao Quân giải phóng nhân dân Lào đẩy mạnh củng cố kiện toàn quân đội và lực lượng vũ trang nhân dân, quyết định thành lập 5 cụm chiến đấu (mỗi cụm tương đương trung đoàn), bố trí sẵn ở các khu vực quan trọng, trong đó ở địa bàn chiến lược Nam Lào có 2 cụm; đồng thời chỉ đạo quân và dân cả nước, trực tiếp là quân và dân các tỉnh Trung Lào và Hạ Lào chuẩn bị sẵn sàng, liên minh phối hợp chiến đấu cùng quân và dân Việt Nam trên địa bàn chiến lược Nam Lào. Đầu năm 1971, Trung ương Đảng Nhân dân Lào một lần nữa xác định "nhiệm vụ trung tâm số một của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Lào trong lúc này là đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai, giành thắng lợi to lớn cho cách mạng Lào và hoàn thành nghĩa vụ quốc tế vẻ vang của mình". Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thi đua thực hiện khẩu hiệu "Tất cả vì tiền tuyến", "Tất cả để đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai".
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #137 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2026, 08:12:33 pm » |
|
Đúng như nhận định của hai Trung ương Đảng Lào và Việt Nam, nhằm thoát khỏi thất bại nặng nề và cố gắng tìm kiếm một chiến thắng quân sự hòng làm chuyển biến tình thế và cục diện chiến tranh, đế quốc Mỹ đã mở rộng và đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ba nước Đông Dương, trong đó chúng đã đẩy cường độ "Chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào lên đến đỉnh cao. Theo đó, trong nửa cuối mùa khô 1970 - 1971, đế quốc Mỹ đồng thời mở ba cuộc hành quân quy mô lớn trên các chiến trường Nam Lào, Tây Nguyên (Việt Nam) và Đông Bắc Campuchia.
Trên chiến trường Nam Lào, đế quốc Mỹ và tay sai mở cuộc hành quân quy mô lớn vào vùng vĩ tuyến 17 độ bắc thuộc Trung Lào dọc theo Đường số 9 chạy qua tỉnh Quảng Trị (Việt Nam) và tỉnh Xa Van Na Khẹt (Lào). Chúng gọi cuộc hành quân này là "Đêvê Khennhon 2" (Dewey Canyon II), sau đổi thành cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Đế quốc Mỹ và tay sai mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" một mặt nhằm thử nghiệm vai trò của các đội quân tay sai và lính đánh thuê, nhất là quân ngụy Sài Gòn, nhằm phô trương sức mạnh quân sự của chúng,... trong chiến tranh xâm lược ba nước Đông Dương nói chung, đối với hai nước Lào - Việt Nam nói riêng theo "Học thuyết Níchxơn". Mặt khác, mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719", mục đích và các mục tiêu chủ yếu của đế quốc Mỹ và tay sai là nhằm cắt đứt tuyến đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn, triệt phá cơ sở kho tàng hậu cần chiến lược của lực lượng cách mạng hai nước Việt Nam - Lào, chặn đứng nguồn tiếp tế từ miền Bắc Việt Nam đi các chiến trường Đông Dương, lập tuyến ngăn chặn cắt đôi Đông Dương, cô lập hai miền Bắc Lào và Nam Lào...
Đế quốc Mỹ đã tập hợp, huy động vào cuộc hành quân "Lam Sơn 719" cả một lực lượng quân sự khổng lồ, gồm có cố vấn quân sự Mỹ, lính ngụy Sài Gòn hơn 45.000 tên, kết hợp với lực lượng lính ngụy Lào gồm 2 GM (binh đoàn cơ động của địch, tương đương trung đoàn), cùng với vũ khí trang bị gồm máy bay các loại hơn 2.000 chiếc, phương tiện vận tải quân sự gần 800 xe các loại, pháo binh hơn 320 khẩu, lực lượng lính ngụy đang tham chiến ở miền Trung Việt Nam và lực lượng lính đánh thuê đặc biệt của Vàng Pao. Các lực lượng được tung vào cuộc hành quân này được sự chi viện hỏa lực tối đa của pháo binh và không quân Mỹ.
Giữ vững quyền chủ động chiến lược, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương Việt Nam cùng Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương Lào đã quyết định sử dụng một bộ phận binh lực lớn của Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào tiến hành Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai.
Đế quốc Mỹ và tay sai đã tiến hành cuộc hành quân "Lam Sơn 719" trong hơn 50 ngày đêm (từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 23 tháng 3 năm 1971) với âm mưu, kế hoạch và thủ đoạn tác chiến rất thâm độc. Sử dụng binh hỏa lực mạnh, sức cơ động và hành động nhanh, chúng hy vọng và huênh hoang tuyên bố sẽ nhanh chóng làm xoay chuyển tình thế nhanh như "trở bàn tay".
Thực hiện kế hoạch tác chiến của Bộ Tư lệnh chiến dịch, các đơn vị tham gia chiến dịch của quân đội Việt Nam - Lào trên thế trận đã chuẩn bị sẵn, kề vai sát cánh đánh trả các cánh quân địch trên các hướng. Quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn, quân ngụy Viêng Chăn và lính đặc biệt Vàng Pao bị chặn đánh, bị tiêu hao, tiêu diệt nặng nề trên khắp mặt trận. Chúng không thể nào đạt được mục tiêu hành quân vượt qua được ranh giới Bản Đông (ở Lao Bảo) để tiến vào Sê Nô - Xa Van Na Khẹt, Nam Lào. Cuộc hành quân trong từng ngày của chúng đều bị quân đội nhân dân hai nước Lào và Việt Nam giáng cho những đòn mạnh mẽ, đánh cho thất bại nặng nề. Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai đã đi đến kết cục thảm bại, đã bị đập tan.
Những điểm nổi bật trong chiến thắng vĩ đại của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào của quân đội nhân dân hai nước Lào và Việt Nam anh em đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai là:
Thắng lợi to lớn rực rỡ đã giành được trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai ở Nam Lào, trước hết là do có đường lối, chủ trương lãnh đạo đúng đắn, khôn khéo, mưu trí, sáng tạo kết hợp với nghệ thuật chỉ đạo tác chiến rất tinh nhuệ, dứt khoát về mặt chiến lược và chiến thuật của hai Trung ương Đảng, hai Quân ủy Trung ương và của hai Bộ chỉ huy mặt trận trong chiến dịch. Đó chính là nhân tố quan trọng quyết định thắng lợi của chiến dịch. Đó cũng còn là yếu tố quan trọng làm cho các lực lượng chiến đấu của Lào và Việt Nam có sức mạnh vượt qua được mọi khó khăn, gian khổ, phức tạp trong chiến đấu, có điều kiện phản công lại kẻ thù, đánh bại được từng bộ phận, tiến tới đánh bại toàn bộ lực lượng địch, làm tiêu tan mục đích chiến lược trong cuộc hành quân quy mô lớn của đế quốc Mỹ và tay sai.
Chiến thắng của quân và dân hai nước Lào - Việt Nam trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai thể hiện sự tiến bộ vượt bậc và nổi bật trong sự hợp tác và liên minh chiến đấu đặc biệt của nhân dân, của các lực lượng vũ trang nhân dân, của quân đội nhân dân hai nước Lào - Việt Nam. Sự hợp tác liên minh chiến đấu đặc biệt đó đã từng được và ngày càng được tôi luyện, thử thách, nhất là về mặt ý chí chiến đấu lâu dài qua nhiều trận chiến đấu trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Điều đó khẳng định sự thành thạo trong tác chiến, sự tập trung vật lực, sức mạnh tổng hợp trong chiến đấu không ngừng được tăng cường bằng chính nội lực của bản thân để tiêu diệt lực lượng quy mô lớn của kẻ thù. Điều đó cũng chứng tỏ chúng ta có đủ khả năng để bảo vệ, giữ vững được địa bàn chiến lược về mặt quân sự; đồng thời cũng khẳng định sự mưu trí sáng tạo của quân đội nhân dân, của các lực lượng vũ trang nhân dân, kể cả lực lượng chính quy và lực lượng địa phương hai nước Lào - Việt Nam anh em, đặc biệt trong đó là sự lãnh đạo chỉ đạo, chiến dịch bằng niềm tin chiến thắng, khả năng vận dụng nghệ thuật chiến tranh nhân dân một cách tài giỏi để giành thắng lợi quyết định vượt bậc cho các lực lượng vũ trang cách mạng hai nước.
Các trận chiến đấu đầy gay go quyết liệt, vô cùng dũng cảm và anh dũng hy sinh trong suốt hơn 50 ngày đêm của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 của quân đội và nhân dân hai nước Lào - Việt Nam anh em, trước đó chưa từng có trong lịch sử. Trong cuộc chiến đấu đầy hy sinh gian nan vất vả đó, quân và dân hai nước đa giành được thắng lợi rất to lớn bằng sự hợp tác liên minh chiến đấu đặc biệt ở địa bàn chiến lược dọc Đường 9 - Nam Lào. Cuộc chiến đấu đó một lần nữa khẳng định quân và dân hai nước luôn kề vai sát cánh bên nhau, cùng phối hợp chiến đấu hiệu quả giữa quân đội và nhân dân ba nước Lào - việt Nam - Campuchia anh em trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược trên bán đảo Đông Dương.
Thắng lợi rất to lớn của quân và dân hai nước Lào - Việt Nam anh em ở Đường số 9 - Nam Lào năm 1971 băt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Trước hết, giành được thắng lợi to lớn đó là do đường lối chính trị và quân sự đúng đắn; sự mưu trí, khôn khéo, sáng tạo trong lãnh đạo về mặt chiến lược và chiến thuật; sự tài tình mưu trí, khôn khéo trong nghệ thuật quân sự hơn hẳn kẻ thù của hai Đảng chúng ta. Mặt khác, thắng lợi to lớn đó đã và luôn xuất phát từ lòng yêu nước mãnh liệt, lòng căm thù địch tận gốc của quân đội và nhân dân hai nước Lào - Việt Nam anh em.
Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân Lào nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia là một sự kiện lịch sử trọng đại. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai của nhân dân ba nước Đông Dương đã đi vào lịch sử hơn một phần ba thế kỷ. Cuộc chiến đấu hào hùng của quân và dân hai nước Lào - Việt Nam anh em trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai đã đi vào lịch sử tròn 40 năm.
Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971 để lại nhiều bài học lịch sử cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay trên hai đất nước Lào và Việt Nam anh em. Nổi bật lên trong các bài học lịch sử đó là bài học về không ngừng vun đắp phát huy mối quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào; về hợp tác, liên minh chiến đấu giữa quân đội nhân dân hai nước anh em.
Luôn khắc sâu, nhớ mãi không bao giờ quên những hình ảnh về tinh thần chiến đấu rất quả cảm anh hùng của quân đội và nhân dân hai nước Lào - Việt Nam, về những nụ cười phấn khởi và những tiếng hoan hô mừng chiến thắng của cán bộ, chiến sĩ Lào và Việt Nam, về sự giúp đỡ nhau với nghĩa tình trong sáng thủy chung, thấm đẫm mồ hôi xương máu của biết bao đồng chí, đồng đội, cán bộ, chiến sĩ Lào và Việt Nam đã kề vai sát cánh bên nhau cùng chung một chiến hào chiến đấu.
Tất cả những hình ảnh đó vẫn luôn khắc sâu, in đậm trong lịch sử vẻ vang của hai dân tộc, trong trí nhớ của nhân dân, quân đội hai nước Lào - Việt Nam anh em mãi mãi không bao giờ phai mờ.
Với tầm vóc, ý nghĩa và những bài học kinh nghiệm lớn lao như vậy, chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971 đã trở thành một cột mốc quan trọng của sự hợp tác liên minh chiến đấu giữa quân đội và nhân dân hai nước Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #138 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2026, 08:15:44 pm » |
|
CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971, MỘT MINH CHỨNG CHO MỐI QUAN HỆ ĐẶC BIỆT, TÌNH ĐOÀN KẾT LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU BỀN CHẶT, THUỶ CHUNG GIỮA HAI DÂN TỘC VIỆT NAM - LÀO TS. TRƯƠNG MINH TUẤN Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân hai nước Việt Nam - Lào đã đi vào lịch sử như bản anh hùng ca của mỗi dân tộc, đồng thời đánh dấu bước phát triển mới của quan hệ đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt Việt Nam - Lào. Trong cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ ấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào, quân dân hai nước đã luôn sát cánh bên nhau, thực hiện nhiều chiến dịch giành thắng lợi to lớn, tạo ra bước ngoặt phát triển của cuộc kháng chiến. Chiến thắng lịch sử Đường 9 - Nam Lao năm 1971 là một trong những chiến dịch như thế. Nó sẽ mãi mãi được khắc ghi trong tâm thức toàn dân hai nước anh em Việt Nam - Lào. Đầu năm 1971, Mỹ và chính quyền Sài Gòn huy động đến 88 tiểu đoàn bộ binh (trong tổng số 214 tiểu đoàn), 15 thiết đoàn cùng các lực lượng pháo binh, không quân... mở 3 cuộc hành quân lớn đồng loạt đánh vào tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn của ta - cuộc tiến công mang mật danh cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào; cuộc tiến công mang mật danh "Toàn thắng 1-71" đánh lên vùng Kông Pông Chàm Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia); cuộc tiến công với quy mô khoảng 1 sư đoàn đánh ra vùng ngã ba biên giới (vùng Tà Xẻng, Pa Kha, Sê Sụ) thuộc A Tô Pơ, Nam Lào. Trong ba cuộc hành quân đó, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là lớn nhất. Địch đã tung vào cuộc hành quân này 42.000 quân (33.000 quân đội Sài Gòn, 9.000 quân Mỹ), trong đó có những đơn vị thiện chiến nhất thuộc lực lượng dự bị chiến lược (sư đoàn dù, sư đoàn thủy quân lục chiến) và lực lượng chủ lực cơ động của Vùng I chiến thuật. Phối hợp với bộ binh là hai thiết đoàn thiết giáp với 464 xe tăng, xe bọc thép, 16 tiểu đoàn pháo binh với 250 khẩu các loại 1 (Lúc cao nhất (từ ngày 10-3-1971), địch huy động tới 55.000 quân, gồm 15 trung đoàn bộ binh, ba thiết đoàn thiết giáp với 587 xe, 21 tiểu đoàn pháo binh với 318 khẩu pháo các loại. Dẫn theo Bộ Quốc phòng - Viện lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Tập VI - Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.250)... Cuộc hành quân được sự yểm trợ tối đa của hậu cần, hỏa lực của pháo binh và không quân Mỹ (kể cả máy bay ném bom chiến lược B-52). Ngoài ra ở phía Tây Đường số 9, chính phủ phái hữu Lào đã huy động 9 tiểu đoàn của hai binh đoàn (GM30, GM33) tham gia phối hợp với cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Có thể nói, đây là cuộc hành quân lớn nhất và điển hình theo công thức "Đông Dương hóa chiến tranh", là nỗ lực cao nhất của Mỹ nhằm cắt tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn, cắt đôi chiến trường Đông Dương, tạo sức ép trên bàn đàm phán. Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai đã đặt tình đoàn kết liên minh chiến đấu quân dân hai nước anh em Việt Nam - Lào đứng trước thử thách rất ngặt nghèo, có ảnh hưởng quyết định đến cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân ba nước Đông Dương cho đến thời điểm ấy. Ngay từ đầu năm 1970, khi đế quấc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh trên bộ ra toàn chiến trường Đông Dương, Trung ương Đảng ta đã sớm nhận định rằng địch sẽ tiếp tục có những hành động phiêu lưu quân sự mới trong thời gian tới. Ta đã dự đoán chính xác trong mùa khô 1970-1971, phương hướng tiến công của địch là hành lang vận chuyển chiến lược của ta, đặc biệt là khu vực Đường 9 - Nam Lào - nơi tập kết khối lượng hàng hóa lớn trên tuyến vận tải Trường Sơn. Trung ương Đảng ta và Trung ương Đảng bạn Lào đã bàn bạc và thống nhất lãnh đạo quân dân hai nước sẵn sàng đánh bại mọi hành động quân sự của địch. Từ mùa hè 1970, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam bắt đầu vạch kế hoạch tác chiến, điều chỉnh lực lượng và chỉ đạo chuẩn bị chiến trường ở khu vực Đường 9 - Nam Lào. Tháng 10 năm 1971, Binh đoàn 70 - binh đoàn chiến lược đầu tiên của quân đội ta được thành lập, gồm 3 sư đoàn bộ binh (304, 308, 320) và các trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng. Ở khu vực Đường số 9, lực lượng của các mặt trận: B5 (Đường 9 - Bắc Quảng Trị), B4 (Quân khu Trị - Thiên) và Đoàn 559 cũng được lệnh gấp rút điều chỉnh, sẵn sàng phối hợp chiến đấu. Các đơn vị hậu cần nhanh chóng củng cố đường vận tải, mở thêm một số tuyến đường mới. Đến tháng 1 năm 1971, ta đã vận chuyển được trên 6.000 tấn vật chất, đảm bảo cho 6 vạn bộ đội chiến đấu trong vòng 4-5 tháng. Các mạng thông tin liên lạc, quân y, kỹ thuật... từng bước được kiện toàn phục vụ chiến dịch, về phía Lào, trên cơ sở thống nhất chung với Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, ngày 25 tháng 6 năm 1970, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Lào họp đã có nhận định: hướng Trung, Hạ Lào trong thời gian tới sẽ càng trở nên đặc biệt quan trọng, địch sẽ tăng cường đánh phá vì liên quan trực tiếp đến tuyến vận tải chiến lược 559. Tiếp đó, tháng 10 năm 1970, Quân ủy Trung ương Lào đã ra nghị quyết về phương hướng nhiệm vụ, kế hoạch quân sự mùa khô 1970 - 1971, trong đó nhấn mạnh: "Phải chuẩn bị sẵn sàng đánh bại mọi cuộc tiến công quy mô lớn của quân ngụy Sài Gòn và một số quân Mỹ, quân Thái Lan vào Trung, Hạ Lào và Cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng... Phải phối hợp chặt chẽ với chiến trường miền Nam Việt Nam và Campuchia sẩn sàng đón thời cơ giành thắng lợi lớn hơn..." 1 (Đảng Nhân dân cách mạng, Lào - Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930-2007), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 462). Đầu tháng 1 năm 1971, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Lào họp hội nghị và ra nghị quyết: "Nhiệm vụ trung tâm số một của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Lào trong lúc này là đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai, giành thắng lợi to lớn cho cách mạng Lào và hoàn thành nghĩa vụ quốc tế vẻ vang của mình" 2 (Ban chỉ đạo nghiên cứu lý luận và thực tiễn Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng: Lào Lịch sử Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 155). Trên cơ sở dự đoán âm mưu của địch, từ nửa cuối năm 1970 đến tháng 1 năm 1971, bộ đội Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với Quân giải phóng nhân dân Lào mở nhiều cuộc tiến công vào các vị trí phòng tuyến của địch trên đất Lào, giải phóng nhiều vùng phía Đông Bô Lô Ven, Huội Sài, Pha Lan, Sê Săng Soi...; đồng thời tổ chức theo dõi nắm chắc tình hình, đẩy mạnh các hoạt động sau lưng địch nhằm phá bước chuẩn bị chiến trường của chúng. Để đẩy mạnh phối hợp với hướng chính của chiến dịch, ngay từ khi địch chuẩn bị mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719", Bộ Tổng chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ chỉ huy Quân giải phóng nhân dân Lào đã chỉ đạo một số đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam và các đơn vị vũ trang Quân khu Nam Lào thành lập Mặt trận Y (mặt trận Xa Ra Van) do đồng chí Hoàng Kiện - Phó Tư lệnh Đoàn 559 trực tiếp chỉ huy. Tham gia Mặt trận Y, về phía Lào có các đồng chí là Bí thư Tỉnh ủy, Tỉnh đội trưởng các tỉnh Nam Lào. Ngày 30 tháng 1 năm 1971, Mỹ và quân đội Sài Gòn bắt đầu cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Từ 30 tháng 1 đến 7 tháng 2 năm 1971, địch đã chuyển một bộ phận lớn lực lượng tập trung tại khu vực biên giới Việt Nam - Lào, triển khai chiếm lĩnh các khu vực tập kết tiến công. Ngày 8 tháng 2 năm 1971, hàng chục trận địa với hàng trăm khẩu pháo các loại cùng hàng chục tốp máy bay phản lực địch đã bắn phá dữ dội vào các mục tiêu dọc hai bên Đường 9 - Nam Lào, yểm trợ cho 3 mũi tiến công bộ binh vượt biên giới. Trước âm mưu và hành động của địch, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở Chiến dịch phản công Đường số 9 - Nam Lào. Ngày 8 tháng 2 năm 1971, Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 được thành lập, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Quốc phòng, do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu phó làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 5 sư đoàn chủ lực (304, 308, 320, 324, 2), các đơn vị vũ trang của mặt trận B5, B4, Đoàn 559, cùng nhiều đơn vị binh chủng khác. Trong thời gian này, các chuyên gia Đoàn 565 đã cùng với Đoàn 968 Quân tình nguyện Việt Nam tập trung giúp Quân khu Trung Lào huy động toàn bộ lực lượng Quân khu và tỉnh Xa Van Na Khẹt (địa bàn chủ yếu của chiến dịch) nhanh chóng triển khai thế trận, bố trí sẵn lực lượng tại các khu vực được phân công theo phương án tác chiến chung, phối hợp với bộ đội Việt Nam tiến công quyết liệt địch ngay từ đầu. Quân dân Việt Nam - Lào đã sẵn sàng bước vào cuộc đọ sức quyết liệt. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Hỏa lực pháo binh, không quân địch bắn phá dữ dội vào các mục tiêu đánh chiếm. Khói lửa bom đạn bốc lên trùm kín cả một vùng trời Đường 9 - Nam Lào. Với tinh thần chiến đấu ngoan cường, quân dân Việt - Lào từng bước đánh bại các cuộc tiến quân, bẻ gãy từng hướng tiến công của địch. Từ ngày 12 tháng 2 đến 3 tháng 3 năm 1971, bộ đội chủ lực Việt Nam tiến công dồn dập, diệt gọn các cụm cứ điểm then chốt trên nhiều điểm cao (500, 543), đập tan các cuộc phản kích của lính dù, lính thủy quân lục chiến quân đội Sài Gòn, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, thu giữ và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng, ở phía tây Đưồng 9, Quân giải phóng Lào đã tiến công các binh đoàn cơ động GM31, GM33 của quân đội phái hữu Lào khi chúng từ Huội Mun, Tùm Lan tiến về Mường Noòng, từ Mường Pha Lan tiến về Đồng Một - Huội Xa Lan..., không cho chúng phối hợp với quân đội Sài Gòn. Trên hướng đông, các đơn vị bộ đội Lào cũng tích cực tham gia phối hợp chiến đấu vô cùng quả cảm, giành giật từng mét đất, tiêu diệt dịch và làm chủ nhiều vị trí quan trọng (điểm cao 723, điểm cao 560...). Những cuộc chiến đấu của bộ đội Lào đã làm đảo lộn kế hoạch phối hợp chiến đấu của địch, tạo điều kiện để các đơn vị bộ đội chủ lực Việt Nam đẩy mạnh tiến công.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #139 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2026, 08:17:14 pm » |
|
Vượt qua mưa bom bão đạn của quân thù, lực lượng phục vụ chiến đấu cũng nêu cao quyết tâm cùng bộ đội đánh giặc. Trên các nẻo đường chiến dịch, nhân dân Việt Nam cùng nhân dân các bộ tộc Lào hăng hái tham gia gùi lương, tải đạn phục vụ bộ đội Lào - Việt chiến đấu, vận chuyển, cứu chữa thương binh. Tình đoàn kết chiến đấu Việt - Lào được phát huy cao độ. Nhiều gia đình dem bán các vật dụng thường ngày đổi lấy lương thực phục vụ chiến dịch, sẵn sàng cho con em mình theo bộ đội kháng chiến xung phong nơi tuyến lửa. Nhiều đồng bào, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trên đường chiến dịch. Tình đoàn kết chiến đấu Lào-Việt càng thêm gắn bó. Đồng chí Đồng Sĩ Nguyên - nguyên Tư lệnh Đoàn 559 đã nói rất cảm động về Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào: "Trong cuộc chiến này, khi mà đối phương huy động tối đa sức mạnh tổng lực, hòng xóa đường Trường Sơn; khi mà biết bao đồng chí, đồng bào ngã xuống, nằm lại vĩnh viễn với những đồi lau xơ xác, những bìa rừng khuất nẻo... vì sự sống của con đường, vì sự toàn thắng của chiến dịch, nếu như ai đó thi vị hóa hết thảy sẽ là tội lỗi. Nhưng nếu không tìm thấy cội nguồn chiến thắng từ những bước chân nhún nhảy của những chàng trai, cô gái Pa Cô trên đường tải đạn trong âm vang réo rắt tiếng đàn Ta-lư, hay điệu Lăm-vông của những nam nữ chiến sĩ Quân giải phóng Lào sau từng trận đánh..., thì cũng khó lý giải hết tầm thế của chiến công này..., và vì sao ta chiến thắng!''1 (Đồng Sĩ Nguyên, Đường xuyên Trường Sơn (Duy Tường và Ký Văn thể hiện), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 224).
Cuộc chiến đấu dần đi vào những bước quyết định. Do bị thương vong nhiều, nội bộ quân địch nảy sinh mâu thuẫn, tinh thần chiến đấu giảm sút. Nắm bắt thời cơ, ngày 4 tháng 3 năm 1971, Quân ủy Trung ương đã điện chỉ thị cho quân dân Mặt trận Đường 9 - Nam Lào nêu rõ quyết tâm của ta tập trung nỗ lực giành toàn thắng trong chiến dịch này. Từ ngày 8 tháng 3 năm 1971, quân ta trên các hướng chiến dịch đồng loạt phản công địch. Phối hợp với các hướng chính của chiến dịch, quân dân các tỉnh Nam Lào cùng với Quân tình nguyện Việt Nam đồng loạt tiến công vào nhiều vị trí của địch ở các cứ điểm 38 (In Thi), cứ điểm 165 (Nậm Tiêng), cứ điểm 22 (Nậm Lực)... Tính đến cuối tháng 3 năm 1971, quân dân các tỉnh Nam Lào đã chiến đấu 116 trận, loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn địch, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch.
Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Qua hơn 50 ngày đêm chiến đấu (30-1 đến 23-3-1971), ta loại khỏi vòng chiến đấu trên 21.000 dịch, bắn rơi, phá hủy và thu giữ trên 500 máy bay, hàng ngàn xe bọc thép, hàng trăm khẩu pháo của chúng, giữ vững tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn, giải phóng một vùng rộng lớn ở Nam Lào. Qua chiến đấu, trình độ tác chiến của bộ đội ta được nâng cao một bước rõ rệt...
Về phía địch, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là một thất bại nặng nề, làm "rung động" cả cơ sở học thuyết Níchxơn áp dụng ở ba nước Đông Dương; điều đó cho thấy: "Quân đội Việt Nam Cộng hòa là một quân đội mong manh một cách tuyệt vọng"1 (Gabriel Kolko: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr.446. Còn Henry Kissinger cho rằng cuộc hành quân vào Lào và Campuchia năm 1971 đã hạn chế nhiều sự chi viện của Bắc Việt Nam vào Nam Việt Nam, do đó, tạo điều kiện cho Mỹ và quân đội Sài Gòn chặn được cuộc tiến công chiến lược của Bắc Việt năm 1972. Tuy nhiên, ông ta cũng thừa nhận rằng: "Về phần Nam Việt Nam, cuộc hành quân ở Lào đã để lộ rất nhiều chỗ yếu kéo dài của họ. Việc vạch kế hoạch của họ trở nên trừu tượng. Họ rập khuôn một cách hình thức điều được dạy ở các trường chỉ huy và tham mưu của chúng ta, mà không vận dụng tới những điều kiện của địa phương. Trái lại, tôi đã đi đến nghi ngờ rằng liệu Nam Việt Nam có thực sự hiểu cái mà chúng ta đang cố gắng giành lấy không?". Henry Kissinger: Những năm ở Nha Trắng (1968-1973), Trung tâm thông tin khoa học quân sự - Bộ Quốc phòng sao lục, 1981. Ký hiệu kho VL-485, tr.241-242).
Đánh giá về ý nghĩa thắng lợi ở Đường 9 - Nam Lào, Trung ương Đảng hai nước đã khẳng định: "Thắng lợi ở Đường 9 - Nam Lào đã đánh gục vai trò nòng cốt của quân ngụy Sài Gòn trong âm mưu "dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương" của Mỹ, mở ra triển vọng mới cho cách mạng Lào và toàn bộ chiến trường Đông Dương. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào không chỉ khẳng định sức mạnh to lớn của quân đội và nhân dân Việt Nam, mà còn là sự khẳng định sức mạnh vĩ đại của tình đoàn kết Việt Nam - Lào trong suốt cuộc kháng chiến"2 (Đảng Nhân dân cách mạng Lào - Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Làu - Việt Nam (1930-2007), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.464).
Nhận rõ sức mạnh của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, các thế lực thù địch đã ra sức tuyên truyền những luận điệu sai trái, xuyên tạc, bóp méo lịch sử, gây chia rẽ tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam và hiện nay chúng lại càng gia tăng mạnh mẽ.
Bốn mươi năm đã trôi qua, nhưng chiến thắng lịch sử Đường 9 - Nam Lào 1971 mãi đi vào lịch sử như một minh chứng cho mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam Mối quan hệ đặc biệt này được phát triển từ quan hệ truyền thống do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng Chủ tịch Cayxỏn Phômvihan, Chủ tịch Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp. Trải qua nhiều thử thách khắc nghiệt, đầy hy sinh gian khổ vì độc lập tự do, hạnh phúc của hai dân tộc và nhân dân hai nước, đã trở thành quy luật sống còn và sức mạnh kỳ diệu đưa tới những thắng lợi vĩ đại của Việt Nam và Lào trong đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; tiến hành thành công sự nghiệp đổi mới đưa hai nước cùng phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|